Viêm gan và Ung Thư gan

Viêm gan và Ung Thư gan

Bác sĩ Nguyễn Bích Liên

 

alt

Một trong những bệnh ung thư làm tôi quan tâm nhất là bệnh ung thư gan. Đây là bệnh gây ra cái chết vì ung thư đứng hàng thứ hai cho nam giới người Việt nói riêng và người Đông Nam Á nói chung, chỉ sau ung thư phổi.

Là một bác sĩ chuyên về ung thư, tôi phải đối diện và chiến đấu với sự chết hằng ngày. Có nhiều khi thắng trận, nhưng phải thành thật mà nói là rất nhiều khi thua. Có những trường hợp thua mà tôi không buồn gì lắm vì tuy cuối cùng thua trận nhưng mình đã kéo dài thêm sự sống cho bệnh nhân một cách có ý nghĩa. Chuyện làm tôi buồn khổ nhất là mình đành bó tay vì khi bệnh nhân đến gặp, bệnh đã đến thời kỳ “hết thuốc chữa”. Lại càng đau đớn hơn khi bệnh nhân là một em bé, một thanh niên hay thiếu nữ, hay một ngưòi trung niên còn đang tràn trề nhựa sống. Vì tôi biết rằng những bệnh có thể ngừa được, hay ít ra có thể truy tầm ra sớm và chữa lành được. Thế mà…

Một trong những bệnh ung thư làm tôi quan tâm nhất là bệnh ung thư gan. Đây là bệnh gây ra cái chết vì ung thư đứng hàng thứ hai cho nam giới người Việt nói riêng và người Đông Nam Á nói chung, chỉ sau ung thư phổi. Hơn nữa, người bệnh thường là những thanh niên hay trung niên đang ở vào giai đoạn sung mãn và thường đang, hay sẽ là rường cột cuả gia đình, xã hội và đất nước. Năm ngoái, một thanh niên người Việt vào bệnh viện vì tự nhiên bị đau bụng bất thình lình. Các bác sĩ khám phá ra là gan cuả anh đã bị nhiễm siêu vi viêm gan B và anh đã bị ung thư gan ở thời kỳ cuối cùng. Anh đã không hề biết là anh đã bị siêu vi viêm gan B. Thanh niên này mới có 27 tuổi, vừa học xong đại học và đang nghĩ đến chuyện kết hôn. Anh đã chết không đầy ba tháng sau khi tìm ra bệnh. Đây không phải là một chuyện hiếm hoi, mà là điều rất thường thấy ở cộng đồng Á Châu. Bệnh thường được phát hiện một cách bất thình lình, không có dấu hiệu gì báo trước. Và khi tìm ra thì đã quá trễ.

Một bác sĩ người gốc Trung Hoa tên Mark Lim ở San Francisco mới 30 tuổi, vừa ra trường, chưa kịp nghĩ đến gia đình vợ con, bị đau bụng dữ dội, tưởng là mình bị loét bao tử vì làm việc quá độ. Nhưng không, anh đã bị ung thư gan khắp cả hai bên lá gan và anh đã mất không lâu sau đó. Bốn năm trước, anh đã được cho biết là anh bị viêm gan B, nhưng các bác sĩ điều trị nơi anh đang học y khoa bảo anh đừng lo vì viêm gan còn ở trạng thái “carrier” (nôm na là “ngủ”), và anh không cần phải truy tầm ung thư gan cho đến khi anh ở tuổi 50 hay 60. Những lời khuyên này có thể đúng cho người da trắng bị bệnh gan vì uống rượu hay mới bị viêm gan C, nhưng không đúng cho người Á Châu. Các bác sĩ cuả bác sĩ Mark Lim, và ngay Mark, chính mình là một bác sĩ, đã không biết là đang có một trận dịch ung thư gan gây ra bởi siêu vi B trong những thanh niên gốc Á. Và họ cũng không biết là người gốc Á có cơ hội bị chết vì ung thư gan cao hơn người da trắng gấp 10 lần.

 

Treating lung and liver cancers

Taị sao như vậy? Tại sao bác sĩ Mark Lim, người đã học ra bác sĩ từ một trường đại học y khoa nổi tiếng, và các ông thầy của anh, đã không biết gì về những dữ kiện này? Bác sĩ Samuel So, giám đốc Trung Tâm Bệnh Gan Á Châu taị đại học Stanford, giải thích như sau: “Chỉ trong một thế giới y khoa hoàn toàn lệ thuộc vào khuôn thuớc cuả người da trắng trong việc chẩn bệnh và chữa bệnh, mới có thể có sự sai biệt về sức khoẻ nhiều như vậy”. Nói một cách rõ ràng hơn, những nghiên cứu và quan tâm về các vấn đề y tế cuả người Á Châu có rất ít. Các cơ quan chính quyền cũng như dư luận toàn quốc không quan tâm đến, vì những cuộc nghiên cứu y khoa tại Mỹ hay Âu Châu thường chỉ có sự tham dự của người da trắng. Vì người da trắng ít bị viêm gan và ung thư gan, đây không phải là quan tâm hàng đầu của họ. Người Á Châu thì hoặc không biết hay không quan tâm đến và thờ ơ không muốn biết, nếu chính họ chưa bị mắc phải. Người Á Châu còn có khuynh hướng sợ sệt hay bảo thủ, không muốn tham gia vào các cuộc nghiên cứu để tìm thêm về bệnh, hay các phương pháp chẩn bệnh, trị liệu mới. Do đó, nếu người da trắng không tìm hiểu hay nghiên cứu thì chúng ta cũng đành thúc thủ vậy. Những cách suy nghĩ và thái độ tiêu cực này cần được thay đổi, càng sớm càng tốt.

Ta có thể làm được gì?

Những điều cần biết về bệnh viêm gan B và ung thư gan:

1. Tỉ lệ bị viêm gan B và C ở người Việt và Á châu rất cao. Tỉ lệ cuả B là 16% và cuả C là 10%. Có thể cao hơn vì nhiều người không thử.

2. Đàn ông Việt Nam có tỉ lệ bị ung thư gan cao nhất ở Hoa Kỳ, gấp 13 lần người Mỹ trắng. (Người gốc Đại Hàn gấp 8 lần và người gốc Hoa gấp 6 lần)

3. Nguyên nhân chính gây ra ung thư gan ở người Á Châu là viêm gan B. Với viêm gan B, người bệnh có thể bị ung thư gan khi gan chưa bị chai, và ngay cả khi thử máu không thấy có dấu hiệu siêu vi B đang hoạt động.
4. Viêm gan B cũng gây ra cái chết vì chai gan hay viêm gan cấp tính.

5. Những người bị nhiễm viêm gan B khi còn thơ ấu hay lúc lọt lòng mẹ, có tỷ lệ bị ung thư gan rất cao, đến 40% và có thể ở tuổi rất trẻ như hai trường hợp kể trên.

6. Hiện thời có thuốc để chữa viêm gan B. Tuy nhiên hiệu quả chữa lành cuả các thuốc này còn thấp, chỉ dưới 20%. Do đó, nhiều thuốc mới đang được thí nghiệm.

7. Chích ngừa viêm gan B nếu chưa bị mắc bệnh là cách tốt nhất để ngừa chứng hư gan vì siêu vi B và ung thư gan.

8. Các trẻ em sinh ở Mỹ trong vòng 20 năm qua đều đã được chích ngừa viêm gan B. Ngoài ra trẻ em vào lớp Bảy cũng phải được chích ngừa cho siêu vi B. Tuy nhiên, còn rất nhiều trẻ em chưa được chích ngừa.

9. Viêm gan C thường có tính cách mãn tính và thường 20 đến 30 năm sau mới gây ra bệnh nặng như chai gan, ung thư hay hư gan.

10. Ngưòi bị viêm gan C cũng dễ bị ung thư gan, nhưng thường thì phải bị chai gan trước khi trở thành ung thư gan.

11. Cũng có thuốc chữa bệnh viêm gan C, phải dùng cả thuốc uống và thuốc chích và cơ hội chữa bệnh khoảng 50%.

12. Chưa có thuốc chích ngưà cho viêm gan C

13. Cả viêm gan B và C đều truyền đi qua sự đụng chạm về máu như truyền máu, sử dụng kim chích, dùng dao cạo râu, bàn chải đánh răng, v.v cuả ngưòi bệnh. Sự giao hợp cũng có thể làm lây bệnh viêm gan B và C từ người này qua người khác. Truyền máu ở nước Mỹ rất an toàn trong vấn đề này vì tất cả máu đều đã được thử siêu vi viêm gan B, C và HIV

14. Ăn cùng mâm cùng dĩa không bị lây viêm gan B hay C, nhưng có thể làm lây viêm gan A là một loại viêm gan thường nhẹ và thường không gây những hậu quả tai hại về sau. Tuy nhiên, nếu bị lây bệnh này sau khi đã bị viêm gan B hay C thì gan có thể sẽ bị yếu đi nhiều và gây thêm thương tích cho gan.

15. Uống rượu khi đã bị viêm gan B hay C có thể làm gan yếu hơn, gia tăng cơ hội bị chai gan hơn, và gia tăng cơ hội bị ung thư gan hơn. Vì vậy, nếu muốn uống rượu, xin chỉ uống vừa phải nếu gan cuả quý vị tốt và không bị nhiễm siêu vi B hoặc C hay một bệnh gan nào khác. Nếu bị bệnh gan, nhất là nếu bị siêu vi B hay C, xin tuyệt đối đừng uống rượu. Quý vị nên biết là nguyên nhân gây chai gan và ung thư gan nhiều nhất cho những người không bị siêu vi gan B hay C là rượu.

Những điều nên làm:

16. Tất cả mọi người Á châu nên được thử máu để xem có bị viêm gan B hay C không. Ngoài ra cũng nên thử xem đã được miễn nhiễm viêm gan A và B hay chưa. Xin hỏi bác sĩ cuả quý vị để thử ngay nếu chưa thử bao giờ.

17. Nếu kết quả thử máu có Hepatitis B surface antigen HBsAg (dương tính) (positive), quý vị cần thử lại sáu tháng sau. Nếu vẫn dương tính, quý vị đã bị viêm gan B.

18. Trong trường hợp này, quý vị cần được theo dõi chức năng gan, lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, và siêu âm gan mỗi một năm để truy tầm ung thư gan. Quý vị cũng nên gặp bác sĩ chuyên môn về gan để xem có cần chữa bệnh viêm gan B hay chưa.

19. Nếu không có HBsAg (âm tính), tức là chưa mắc bệnh, thì phải xem Hepatitis B antibody tức HbsAb xem có đủ cao hay không. Nếu trên 10, có nghiã là bạn đã được miễn nhiễm. Nếu âm tính hay thấp hơn 10, bạn cần được chích ngừa viêm gan B.

20. Với viêm gan C, nếu có Hepatitis C antibody tức HCV Ab dương tính, quý vị có lẽ đã bị viêm gan C, chứ không có nghiã là quý vị đã được miễn nhiễm đâu. Nên đi gặp bác sĩ chuyên khoa gan ngay để thử nghiệm xem lượng vi khuẩn có cao không, chức năng gan còn tốt không và quý vị có phải chữa trị hay không vào lúc này.

21. Nếu đã bị chai gan vì bất cứ lý do nào, qúy vị cần được theo dõi kỹ và được truy tầm ung thư gan với lượng AFP (alpha-fetoprotein) trong máu mỗi sáu tháng, và siêu âm gan mỗi năm một lần dù cho quý vị không có triệu chứng gì cả.

22. Nếu máu không có lượng kháng thể IGG hay Total Antibody cuả viêm gan A, thì quý vị chưa được miễn nhiễm viêm gan A và nên nghĩ đến chuyện chích ngưà, nhất là nếu quý vị đã bị viêm gan B hay C, để bảo vệ gan không bị hư haị thêm trong trường hợp nhiễm thêm viêm gan A. Cũng nên chích ngừa nếu qúy vị đi đến vùng có dịch như Việt Nam hay Mexico chẳng hạn.

23. Nên nhớ: chưa có thuốc chích ngưà viêm gan C. Do đó, nếu quý vị đã miễn nhiễm siêu vi A va B, quý vị vẫn có thể bị nhiễm siêu vi C. Xin tránh những hành động có thể gây ra sự truyền nhiễm qua đường máu từ người này qua người khác như dùng kim chích, bàn chải đánh răng, dao cạo chung. Hãy dùng kim mới khi đi xâm mình, châm cứu, hay lễ giác, và dùng đồng xu mới và riêng cho từng người để cạo gió.

24. Hãy xử dụng bao cao su khi giao hợp hay các biện pháp an toàn khác như tránh quan hệ tình dục với nhiều người.

25. Tránh uống rượu. Nếu đã bị viêm gan B hay C rồi thì tuyệt đối không uống rượu.

26. Hãy nhắc nhở con em về những điều trên và loan truyền những tin tức này cho những người khác.

27. Hãy hăng hái tham gia vào những công trình nghiên cứu y khoa nếu hội đủ điều kiện.

Bạn là ai trong 3 kiểu người này?

Bạn là ai trong 3 kiểu người này?

Về thái độ với cuộc sống, có ba kiểu người:

1. Luôn có cái nhìn u ám, bi quan, tiêu cực, nhìn đâu cũng thấy điểm xấu của người khác và tìm cách dè bỉu, chê bôi.

2. Biết ơn một số: biết ơn người sinh ra mình, người dạy dỗ mình, và người giúp đỡ mình.

3. Biết ơn tất cả mọi thứ.

Kiểu thứ hai là những người bình thường, chiếm khá nhiều trong cuộc sống. Họ có đủ niềm vui, nỗi buồn, đau khổ, hạnh phúc, nghèo đói, giàu có…

Kiểu người thứ nhất, cuộc sống của họ luôn chìm ngập trong đau khổ, bởi vì mọi thứ họ nhìn thấy đều gắn liền với đau khổ. Trong mắt họ, không có ai đáng yêu, không có điều gì đáng quý, bởi vì dìm người khác xuống là cách duy nhất đưa họ vươn lên (tiếc là họ lại càng xuống sâu hơn). Kiểu người này, đáng buồn, cũng chiếm không ít trong cuộc sống.

Kiểu thứ ba, dù chỉ chiếm số ít trong cuộc sống, là những người đáng quý nhất. Họ biết ơn tất cả mọi thứ diễn ra trong đời, vì vậy cuộc sống của họ luôn tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, và giàu có.

Họ biết ơn ngay cả những ngày ốm yếu, bệnh tật, vì nhờ đó mà họ thấy quý hơn sức khỏe bản thân, và từ đó không ngừng rèn luyện thân thể, xây dựng cho mình nếp sống lành mạnh.

Họ biết ơn ngay cả những cộng sự đã khiến họ phải bán nhà bán xe trả nợ, bởi vì nhờ đó mà họ biết thận trọng hơn khi xây dựng quan hệ đối tác, hiểu rõ hơn khái niệm đồng tiền là máu của doanh nghiệp, và trân trọng hơn bất kỳ cơ hội nào mà người khác mang đến cho mình để phát triển kinh doanh.
Họ biết ơn ngay cả những lời chỉ trích cay nghiệt của đồng nghiệp, của đối thủ, của những người xung quanh, bởi vì qua đó họ hoàn thiện được bản thân nhanh hơn.

Họ biết ơn ngay cả những sai lầm ngu ngốc của bản thân, bởi vì họ học hỏi được nhiều điều từ đó và biết cách độ lượng hơn với sai lầm của người khác.

Họ biết ơn ngay cả những bất hạnh xảy ra với bản thân, bởi vì nhờ đó họ biết rằng đừng bao giờ nên trông chờ ở may mắn, cuộc sống của mình phải do chính bàn tay mình tạo dựng nên.

Họ biết ơn ngay cả cái chết, bởi vì nhờ cái chết mà họ trân trọng hơn mỗi ngày đang sống, mang đến nhiều giá trị hơn cho mọi người xung quanh và thanh thản hơn với mỗi quyết định của mình.

Họ hiểu rằng, chính sự có mặt của họ trên đời này đã là một ĐIỀU KỲ DIỆU mà cuộc sống mang đến cho họ rồi.

SƯU TẦM

Các lực lượng đặc biệt Việt Nam đang chuẩn bị cho tranh chấp Biển Đông?

Các lực lượng đặc biệt Việt Nam đang chuẩn bị cho tranh chấp Biển Đông?

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.

22.06.2015

‘Quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực’ là hàng tít đăng trên báo Want China Times của Đài Loan hôm nay, trích nguồn tin từ báo Kommersant có trụ sở ở Moscow.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10. Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Cùng lúc, các chiến đấu cơ SU-30 có khả năng được dùng để yểm trợ đội máy bay dội bom SU-22. Tờ Want China Times đưa ra kịch bản là kế đó, Hải quân Việt Nam có thể đổ bộ lên các hòn đảo và bãi đá ngầm hiện do Trung Quốc chiếm đóng. Tàu đổ bộ sẽ được yểm trợ bởi máy bay, các tàu ngư lôi và hộ tống. Bài báo dẫn tin của Hệ thống Quân sự Sina ở Bắc Kinh nói rằng các tàu hộ tống lớp Tarantul được trang bị tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo đặc biệt nguy hiểm đối với các tàu bè của Trung Quốc.

Việt Nam là nước thứ nhì trên thế giới sở hữu loại tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo. Tầm bắn của vũ khí nguy hiểm này là 130km.

Vẫn theo kịch bản này, thì sau đó các lực lượng đặc biệt Việt Nam sẽ tiến hành các cuộc tấn công nhắm vào nhiều mục tiêu, kể cả các thương thuyền, tàu tiếp tế, các trạm radar, và các cơ sở và phương tiện khác của Trung Quốc trên các đảo nhỏ hay bãi đá, nơi mà một số ít binh sĩ Trung Quốc trú đóng.

Theo tờ Kommersant, mỗi đơn vị lực lượng đặc biệt của Việt Nam chỉ gồm từ 3 tới 5 người.

Một bài báo trên tờ Vancouver Sun của Canada viết rằng hiện nay, Việt Nam và Philippines nay đã công khai tranh chấp với Trung Quốc để giành chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Cuộc tranh chấp đã âm ỉ từ lâu lại bùng phát mới đây vì các hoạt động qui mô lớn của Bắc Kinh để lấp biển xây đảo nhân tạo tại vùng biển đang trong vòng tranh chấp này.

Theo tờ báo, chính các hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng đã khiến Washington phải lên tiếng cảnh báo Trung Quốc, và tăng cường các chuyến bay tuần tra trên không phận Biển Đông.

Tờ Vancouver Sun trích lời Tổng lãnh sự Philippines Neil Ferrer nói rằng “Chúng tôi yêu cầu tất cả các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, không chỉ ở Biển Đông, mà trong tất cả các quan hệ quốc tế. Trong nội bộ ASEAN, chúng tôi đã đi đến đồng thuận là chúng tôi mong muốn các nước khác phải tôn trọng. Chúng tôi đang tích cực kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong cuộc tranh chấp, kể cả Trung Quốc”.

Tờ báo trích lời Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vancouver Trần Quang Dũng, đồng tình với phát biểu của tổng lãnh sự Philippines. Ông Dũng nói: “Về vấn đề Biển Đông, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng. Chúng tôi muốn vấn đề này được giải quyết dựa trên Công ước Quốc tế về Luật Biển. Chúng tôi muốn tất cả các bên liên quan tôn trọng luật này, và giúp tạo điều kiện để đạt một bộ Quy tắc Ứng xử với Trung Quốc”.

Tờ báo nhận định rằng có rất ít triển vọng là Trung Quốc sẽ lùi bước trong cuộc tranh chấp để giành chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, làm tăng nguy cơ xung đột quân sự trong khu vực.

Trong khi đó, Philippines và Việt Nam nối lại đàm phán về việc thực thi luật pháp trên biển. Tờ Philippines Star hôm nay loan tin hai nước đang làm việc để thiết lập một cơ chế hầu có thể giải quyết hòa bình các vụ đối đầu trên biển, đặc biệt liên quan tới các vụ đối đầu vì các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp trong các vùng biển thuộc chủ quyền của mỗi nước.

Từ tháng Ba năm nay, Philippines và Việt Nam đã thiết lập đường dây nóng để có thể phối hợp phản ứng trong trường hợp xảy ra các hoạt động bất hợp pháp, cũng như để hợp tác trong các hoạt động cứu nạn trên biển.

Nguồn: Want China Times, Asean Correspondent, The Philippines Star.

Trung Quốc ‘khoe’ lính và rau trên đảo Đá Thập, Trường Sa

Trung Quốc ‘khoe’ lính và rau trên đảo Đá Thập, Trường Sa

Nguoi-viet.com

BẮC KINH (NV) .- Một báo mạng của Trung Quốc phổ biến hơn chục tấm hình để khoe vài khía cạnh trên đảo nhân tạo ‘Yongshu Jiao’ tức bãi Đá Thập mà họ cướp của Việt Nam từ  cuối thập niên 1980.

Một nhóm binh sĩ nam nữ Trung Quốc chụp hình tại bia “Vĩnh Thử Tiêu” tức bãi Đá Thập của Việt Nam. Tấm bia này đã được dựng từ nhiều năm trước. (Hình: sina)

Có tất cả 17 tấm hình dưới tiêu đề “Kết quả đáng mừng trên ‘Yongshu Jiao’ : làm nhà kiếng trồng rau và cây ăn trái.”

“Yongshu Jiao” phiên âm hán Việt là Vĩnh Thử Tiêu khi còn là bãi đá ngầm trên đó, sau khi cướp của Việt Nam, Trung Quốc xây dựng một tiền đồn, rồi sau đó làm thêm bãi đáp trực thăng và một khu nhà kiếng trồng rau, tất cả trên một quy mô vài ngàn mét vuông.

Trước 1988, Trung Quốc không có hiện diện tại khu vực quần đảo Trường Sa. Cho đến năm 1988 mới đưa hải quân đến đánh đuổi một số đơn vị hải quân CSVN đang xây dựng cơ sở tại một số bãi đá ngầm. Trận tấn công tại bãi đá Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988 đã làm 64 lính Việt Nam thiệt mạng.

Từ năm ngoái, Bắc Kinh lập kế hoạch biến 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa thành các đảo nhân tạo tầm cỡ lớn trong mưu đồ khống chế toàn bộ Biển Đông. Đảo nhân tạo ‘Yongshu Jiao’ là một đảo lớn gồm cả phi đạo dài đến 3,000 mét mà các phi cơ quân sự cỡ lớn và chiến đấu cơ có thể lên xuống. Diện tích tổng thể của đảo nhân tạo “Yongshu Jiao” khoảng 1 cây số vuông.

Nhiều nhà bình luận thời sự tin rằng tới một lúc nào đó khi tình hình tranh chấp chủ quyền biển đảo với các nước trong khu vực biến đổi, Bắc Kinh có thể tuyên bố lập “vùng nhận diện phòng không” trên Biển Đông, thách đố chủ quyền không những của Việt Nam và Philippines mà cả Hoa Kỳ và thế giới tại hải lộ bận rộn nhất thế giới với hơn 5 ngàn tỉ đô la hàng hóa được vận chuyển mỗi năm.

Nữ binh Trung Quốc ngồi chụp hình bên luống rau được cho là tại đảo nhân tạo “Jongshu Jiao” tức Đá Thập của Việt Nam. Nhà kiếng trồng rau này không phải vừa mới xây dựng. (Hình: Sina)

Những tấm hình về “Yongshu Jiao” xuất hiện trên mạng Sina không có chú thích là được chụp lúc nào. Nhưng những gì nhìn thấy trên đó có nguồn gốc từ nhiều trang mạng khác ở Trung Quốc mà một số được Sina lấy đăng lại. Một số tấm hình có vẻ như chụp tại “Yongshu Jiao” khi nó còn là một bãi đá ngầm, chưa được ào ạt bồi đắp thành một đảo nhân tạo rộng lớn mà không ảnh thấy có cả phi đạo dài.

Một số nữ binh Trung Quốc chụp hình trước tấm bia “Vĩnh Thử Tiêu” hoặc trước luống rau. Một số tấm hình cho thấy các luống rau, cây cà chua, cà tím trong nhà kiếng, đàn heo.

Đây là những tấm hình chụp gần, không hề có dấu tích gì về các hoạt động làm đảo nhân tạo như các tàu hút cát đá lòng biển, các xe cẩu, và các xe cơ giới xây dựng cũng như lính thợ và vật liệu các loại.

Tuần trước, Bắc Kinh loan báo chương trình xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa sắp hoàn tất tại một số vị trí và tiếp theo là các hoạt động xây dựng cơ sở dùng cho các nhu cầu cả dân sự và quân sự. Thật ra, người ta đã nhìn thấy phi đạo trên đảo Đá Thập, một số tòa nhà cao tầng ở đá Gạc Ma, đá Ga Ven, đá Tư Nghĩa v.v…qua các không ảnh.

Vào các ngày 17 đến 19 tháng 6, 2015 , Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Phạm Bình Minh dẫn đầu một phái đoàn tới Bắc Kinh, họp kỳ họp lần thứ tám của “Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc”.

Nhà kiếng trồng rau mà sina lấy lại từ <<mil.cnr.cn>> không thấy chú thích đích xác ở đâu. (Hình: mil.cnr.cn)

Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) kể lại rằng “Hai bên cũng trao đổi về sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”

Những lời lẽ này là những từ ngữ tuyên truyền rỗng tuếch khi đối chiếu với thực tế. Trung Quốc ngang nhiên tiến hành xây dựng các đảo nhân tạo bất chấp dư luận quốc tế. Chính bộ Ngoại Giao CSVN ngày 11 tháng 6, 2015 đã trao công hàm “phản đối Trung Quốc tiến hành các hoạt động cải tạo phi pháp bãi đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam”. (T.N)

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-06-20

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg7508717-600.jpg

Một sạp báo vỉa hè Hà Nội chụp hôm 26/6/2012

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Chiếc dù mang tên “nhạy cảm”

Ngày Báo chí Việt Nam năm nay được cho là kỷ niệm 90 năm khi tờ báo của chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản tại Quảng Châu vào năm 1925. Giới làm báo Việt Nam nói gì về ngày này khi mà quyền phát biểu trung thực của họ đã bị khống chế từ nhiều chục năm qua dưới chiếc dù mang tên “nhạy cảm”?

Báo chí Việt Nam cũng tương tự với các nước thuộc khối Cộng sản trước khi sụp đổ, được định hướng theo chính sách nhất định của nhà nước và bất cứ tờ báo nào cũng phải tuân theo quy luật này nếu muốn tồn tại. Những định hướng do Ban Tuyên giáo trung ương chỉ đạo xuống địa phương đã làm nhiều tờ báo không thể viết lên sự thật đang xảy ra tại địa phương tờ báo cũng như các trăn trở của xã hội về các diễn biến tiêu cực trong chính quyền đi ngược lại với quyền lợi hay nguyện vọng người dân.

” Ngay trong lý lun dy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương ch đo, v mt ni dung chương trình đào to thì điu tôi trăn tr nht là tính trung thc ca nhà báo.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ báo bị định hướng như con ngựa thồ mang hai miếng che mắt chỉ chạy hay dừng theo giây cương của mã phu và do đó sự trung thực của tờ báo bị triệt tiêu tới mức thấp nhất. Mặc dù ngay khi ngồi tại một ngôi trường báo chí, sinh viên được dạy rằng thiên chức cao nhất của một nhà báo là sự trung thực nhưng khi trình diện để nhận việc tại bất cứ tòa soạn của một tờ báo nào thì người sinh viên ấy hiểu ra rằng sự trung thực là con dao vô hình sẵn sàng kết liễu nghề nghiệp của người làm báo tại Việt Nam.

Đại tá Bùi Văn Bồng, nhà báo quân đội, nguyên trưởng đại diện báo QDND khu vực đồng bằng sông Cửu Long cho biết những nhận định của ông về lý luận và thực tiển của việc trung thực trong báo chí, ông nói:

“Ngay trong lý luận dạy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, về mặt nội dung chương trình đào tạo thì điều tôi trăn trở nhất là tính trung thực của nhà báo. Nhưng khi đào tạo ra xong rồi và trực tiếp làm việc tại các tòa soạn báo và vào biên chế rồi thì người ta lại bị trói buộc. Bởi người ta muốn tính trung thực như trong lý luận báo chí mà nhà nước đã dạy thì không thực hiện được trọn vẹn hay là có tự do để mà thực hiện.

Những chủ trương đường lối, những chỉ đạo của đảng buộc người ta phải né bớt sự trung thực. Vấn đề đặt ra là tính trung thực, tính kịp thời và thời sự của báo chí… tất cả những cái đó đều phải chịu sự bảo đảm một cách chắc chắn: đó là bài báo muốn được đăng thì người ta phải coi trọng cái “tính đảng”.”

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

“Tính đảng” là một khái niệm buộc mọi hoạt động của người sinh hoạt tư tưởng phải tuân theo một cách nghiêm khắc. Đảng ở đây được hiểu là sự chỉ đạo tùy thời điểm và tùy vào vai trò lãnh đạo của mỗi cá nhân. Tính đảng biến thiên nhưng không vượt ra cái khung o ép mọi bài viết, hình ảnh, quan điểm đi ngược lại lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của người dân, kể cả lợi ích của thông tin trung thực.

“Tính đảng này nó không rõ ràng. Tính đảng đúng ra về quan điểm đường lối các mặt hay về thực hiện theo các nghị quyết đảng thì người ta vẫn luôn luôn bảo đảm được. Nhưng tính đảng buộc người ta phải viết mà uốn ngòi bút hoặc là bài báo phải vo tròn nắn vuông để nó phù hợp với sự chỉ đạo của đảng, nhất là đảng bộ đảng ủy trực tiếp quản lý tờ báo đó và sau đó là chỉ đạo chung của Ban tuyên giáo Trung ương để bảo đảm được thì rất là khó! Cái tính đảng nó cứ trùm lên hết mà khi nó đã trùm lên rồi thì các tính khác như tính chân thật, tính thời sự, tính nhân dân rồi tính dân chủ và các thứ nó bị nhạt đi hết. Nếu anh không theo tính đảng thì bài báo không được đăng mà thậm chí nhà báo còn bị phê bình hay mất biên chế không được làm trong tòa soạn nữa mà phải làm nghề khác.”

Khái niệm “nhạy cảm”

Cơ quan báo chí được hiểu là hoàn toàn được sở hữu bởi nhà nước do bài vở của họ chỉ viết theo một chiều duy nhất. Tuy nhiên không phải tờ báo nào cũng chấp nhận sự bao cấp này, tại thành phố Hồ Chí Minh hai tờ báo tiên khởi thoát ra sự khống chế ấy là Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo này được xem là mạnh nhất nước khi con số ấn bản hàng ngày của nó có khi lên tới gần nủa triệu tờ. Nhà báo Nguyễn Công Khế, 23 năm làm Tổng biên tập cho tờ Thanh Niên chia sẻ:

“Phải nói rằng nghề báo ở Việt Nam gian nan nhất. Nếu như tôi để mà tồn tại được cỡ 23 năm trong vai trò Tổng biên tập thì rất gian nan. Phía chính quyền phía những người có quyền kể cả giới quản lý báo chí họ chưa đánh giá hết tác dụng tốt, nhiều mặt của báo chí. Thực ra với tâm huyết và nhiệt huyết phải nói người làm báo Việt Nam tôi nghĩ không thua bất cứ ở đâu. Ở các nước khác nếu khó khăn 1 thì người làm báo Việt Nam khó khăn 10. Điều kiện, tập quán, thể chế đều khó khăn.

” Tính đng buc người ta phi viết mà un ngòi bút hoc là bài báo phi vo tròn nn vuông đ nó phù hp vi s ch đo ca đng, nht là đng b đng y trc tiếp qun lý t báo đó và sau đó là ch đo chung ca Ban tuyên giáo Trung ương.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ Thanh Niên của tôi và tờ Tuổi Trẻ là hai tờ sống được bằng cái đồng tiền của chính mình từ lúc tôi xây dựng cho tới giờ này cũng như tờ Tuổi Trẻ lên trên nửa triệu bản trogn điều khó như Việt Nam mà tụi tôi làm được thì phải nói là một kỳ công. Người đọc họ đánh giá đúng và lịch sử báo chí đánh gái đúng. Phải nói thẳng về cái đối xử, vì báo nhà nước, báo đoàn thể mà, thì cách đối xử của Tổng biên tập nhiều khi bất công. Tôi nói thật, những người trong báo chính thống như vậy thì tôi nghĩ cách xử sự đối với cá nhân những người làm báo nó cũng bất công lắm.”

Tin tức là thực phẩm chính nuôi sống một tờ báo nhưng bị bóp nghẹt qua cụm từ “nhạy cảm” khiến hai chữ “báo chí” không phù hợp với định nghĩa phổ quát của thế giới. Có tờ báo liều lĩnh đăng tải tin tức về Biển Đông có lợi cho người muốn đọc tin nhưng xét thấy có hại cho chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc nên bị ra lệnh gỡ bỏ khỏi bản tin là điều xảy ra thường xuyên trên mọi tờ báo lớn nhỏ của Việt Nam.

Tránh viết tin vì lo nhạy cảm khiến thông tin bị nhiễu qua các tầng số chồng chéo lên nhau khiến người đọc trong nước tìm tới internet và từ đó phát sinh các chuyển biến có tính tự phát khiến nhà nước không thể tìm ra một đối sách toàn vẹn để vừa bao biện nguồn tin vừa tránh cho dân chúng không bị lạc vào những vùng tin tức sai lệch do bóp méo dù vô tình hay hữu ý. Nhà báo Võ Văn Tạo kể lại kinh nghiệm của ông về vấn đề này:

“Cái khái niệm nhạy cảm khi mà tôi chưa làm báo thì tôi đã biết cái khái niệm đó rồi mặc dù không biết từ đâu đưa ra nhưng đã có chữ “nhạy cảm”. Cái đó có lúc thì có văn bản chỉ đạo, có lúc anh em phóng viên cũng như các tòa soạn tự ràng buộc mình với chữ “nhạy cảm” đó cho nên an hem trong giới chúng tôi hay gọi đùa với nhau là “tự thiến”. Tự nhiên cứ nghĩ, à cái việc này nó có đụng chạm gì đây không hài lòng khi bị đề cập tới, trong tòa soạn hay phóng viên cũng lại hay dùng từ “nhạy cảm” với nhau có nghĩa là “né” đi không đụng chạm tới.

Hồi chiến tranh thực ra khi tôi đã trưởng thành bắt đầu đi bộ đội rồi từ hồi đó không đặt ra. Báo chí hồi đó theo tôi biết ở ngoài bắc chỉ có tuyên truyền thôi chảng có vần đề gì khác cả. Tuyệt nhiên không có một ý kiến nào, một bài viết nào phản biện với chủ trương đường lối cả. Trong chiến tranh là như thế.”

Người đọc quay lưng với báo chí chính thống để đọc báo từ các trang lề trái trên mạng phần nào nói lên hiện trạng báo chí Việt Nam trong bối cảnh bị che chắn mọi phía, đã khiến báo chí ngày một lún sâu hơn vào vũng lầy độc quyền mà không một nước văn minh nào trên thế giới chấp nhận cho nền báo chí của nước họ.

Nhiều phóng viên kỳ cựu Việt Nam cho rằng Ngày Nhà Báo Việt Nam mỗi năm ăn mừng một lần trong suốt 90 năm qua nhưng chưa khi nào các nhà báo có cơ hội ngồi lại với nhau để cùng yêu cầu một việc đơn giản và quan trọng nhất: Được phép viết sự thật, và vì vậy Việt Nam vẫn chưa có một nền báo chí đúng nghĩa.

Quảng Ngãi: Xuất hiện nhóm cướp chặn xe tải cướp tiền

Quảng Ngãi: Xuất hiện nhóm cướp chặn xe tải cướp tiền

Nguoi-viet.com

QUẢNG NGÃI (NV) – Một nhóm cướp có hung khí vừa xuất hiện ở huyện Tư Nghĩa đã chặn xe container, xe tải đập phá và hăm dọa sẽ giết chết tài xế nếu không đưa tiền mãi lộ.

Tài xế Du chỉ vết chém của băng cướp trước cabin xe container. (Hình: Người Lao Động)

Chiều 19 tháng 6, ông Huỳnh Hoàng Tích, trưởng công an xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa xác nhận, công an huyện đang truy bắt nhóm cướp có hung khí chuyên chặn xe container, đập phá và hăm dọa sẽ giết chết tài xế nếu không đưa tiền tại đoạn đường qua cánh đồng vắng thuộc xã Nghĩa Phương.

Báo Người Lao Động dẫn lời tài xế Đinh Văn Du (40 tuổi), ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, khoảng 1 giờ 15 sáng 19 tháng 6, ông Du lái xe container chở trái vải từ tỉnh Hưng Yên vào Sài Gòn, khi đang lưu thông trên quốc lộ 1, đoạn qua xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa thì bất ngờ gặp một nhóm năm người bịt mặt đuổi theo, cầm mã tấu chặn trước đầu xe.

“Tôi lập tức phanh xe lại. Nhóm này lao lên xe đạp cửa kính la hét, yêu cầu đưa hết tiền cho họ thì mới cho đi. Khi đó trên xe có ba tài xế, chúng tôi hết sức hốt hoảng định rồ ga chạy thì nhóm này vây lấy xe đập kính, thùng nước và tìm cách nhảy vào cabin. Lúc đó ba chúng tôi cầm cờ lê cố thủ trên xe. Nếu bọn cướp mở cửa xe vào thì chúng tôi chống trả,” ông Du kể.

Cùng lúc chặn xe container của ông Du cầm lái, nhóm cướp trên còn chặn thêm một xe tải chở trái vải cũng xuất phát từ tỉnh Hưng Yên. “Nhưng may mắn là công an đã có mặt tại hiện trường kịp thời, nếu không xe tải đó cũng sẽ bị nhóm này đập phá rồi,” ông Du kể.

Chứng kiến vụ việc, một người dân cho biết, “Tôi nghe tiếng hò hét ở khu vực vắng người cứ nghĩ có tai nạn nên chạy ra xem thử. Khi ra đến nơi thì thấy nhóm này đang đập phá một xe tải. Bọn chúng hét: Nếu không đưa tiền thì giết hết.”

Theo ông Tích, ít nhất có bốn xe container, xe tải chạy trên quốc lộ 1 qua xã Nghĩa Phương đã bị nhóm cướp này chặn lại đòi cướp và đập phá xe. (Tr.N)

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-22

06222015-budget-transparency-people.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi

Minh bạch ngân sách là một trong những biện pháp điều hành công cần phải có. Tuy nhiên tại Việt Nam điều này lâu nay vẫn chưa được thực hiện.

Vừa qua trước phiên họp thứ 9, quốc hội khóa 13 diễn ra, một chiến dịch góp phần thúc đẩy minh bạch ngân sách Nhà nước tại Việt Nam có tên ‘Tớ đố cậu biết ( Todocabi)’ được tiến hành. Mục tiêu của nhóm là kêu gọi các bạn trẻ trong nước quan tâm ký tên vào một bản kiến nghị để gửi đến quốc hội.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh là một trong những chuyên gia kinh tế được nhóm điều phối chiến dịch mời tư vấn. Vào ngày 15 tháng 6 vừa qua, ông dành cho biên tập viên Gia Minh cuộc nói chuyện liên quan chiến dịch Todocabi hướng đến việc thúc đẩy cộng đồng quan tâm và cùng lên tiếng về quyền lợi của bản thân trong việc minh bạch ngân sách Nhà nước.

Trước hết tiến sĩ Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định về chiến dịch Todocabi.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam.

Tôi thấy đó là một việc rất có ích. Tôi đánh giá cao và tôi cũng đã gặp gỡ các bạn đó và giúp đỡ cho họ. Tôi nghĩ rằng quyền của người dân biết được mức thu ngân sách thế nào và chi ngân sách vào việc gì, và những tiêu chuẩn về công khai minh bạch trên thế giới như thế nào là những điều rất quan trọng. Bởi vì những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam.

” Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Gia Minh: Qua tiếp xúc và tiến sĩ nói có giúp đỡ cho họ thì tiến sĩ thấy sự hiểu biết của họ đến đâu và sự giúp đỡ của tiến sĩ cho họ thế nào rồi?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi gặp các bạn ấy cách đây độ hai tháng, lúc ấy các bạn mới bắt đầu và các bạn đó có được một số số liệu ban đầu và đưa lên. Tôi thấy các bạn đó có nhiệt tình rất lớn và tôi nghĩ đó là điều rất hoan nghênh và các bạn ấy có thể tìm hiểu thêm, tôi hy vọng các bạn ấy có điều kiện để có thể học thêm để biết thực trạng thu chi ngân sách của chúng ta hiện nay như thế nào.

Gia Minh: Theo đánh giá của tiến sĩ thì thực trạng đó ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về mức thu thế trên tổng GDP thì Việt Nam là nước thu nhập trung bình thuộc nhóm thấp nhất nhưng thu ngân sách của Việt Nam hiện nay đã lên đến khoảng 23% GDP. Như vậy cao hơn mức bình quân của các nước trong nhóm. Bình quân của các nước trong nhóm chỉ độ 18% thôi. Ngay cả Trung Quốc hiện nay họ cũng thu thấp hơn Việt Nam. Họ thu khoảng 17-18% ngân sách thôi mặc dù GDP cũa họ cao hơn Việt Nam rất nhiều;  hiện nay GDP của họ vào khoảng 6.800 đô la một đầu người nếu như tôi nhớ không nhầm.

Và có một số ví dụ để chúng ta có thể so sánh: ví dụ thuế thu nhập cá nhân ở Hong Kong là 9%, thuế thu nhập cá nhân ở Singapore là 0%; nhưng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam lũy tiến có thể lên đến 38%. Đấy là một mức thuế khá cao. Ngoài ra những mức thuế khác cũng là mức thuế cao.

Todocabi trên Facebook

Todocabi trên Facebook

” Những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Tuy vậy tình trạng thất thu và lạm thu đang còn khá phổ biến. Tình trạng thất thu và lạm thu có thể thể hiện qua con số này: tức là hộ gia đình của Việt Nam đóng góp 33,2% vào GDP nhưng tỷ lệ nộp thuế của khu vực này chỉ là 2% của tổng thu ngân sách. Như vậy có khoảng cách rất lớn. Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần. Người bị thiệt hại nhiều nhất là ngân sách Nhà nước. Đó là một số điều sơ sơ có thể nêu lên được.

Còn việc chi ngân sách thì tình trạng là thiếu minh bạch và còn nhiều lãng phí cả chi thường xuyên cho đến chi đầu tư. Và mức độ công khai minh bạch của quá trình soạn thảo ngân sách, việc công bố dự toán ngân sách, cũng như việc công bố quyết toán ngân sách và có những bước điều chỉnh là rất thấp.

” Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần

TS Lê Đăng Doanh”

Ví dụ như hiện nay chi thường xuyên lên đến 71% tổng số chi là một mức chi quá cao về chi thường xuyên nuôi bộ máy của Nhà nước. Đó là điều cần có điều chỉnh sớm. Tình hình thu chi ngân sách của Việt Nam hiện nay đang có cá tín hiệu khá khẩn trương. Bởi vì như năm nay, mức phải nộp nợ công, trả nợ công là 31% của chi ngân sách. Như vậy tức 71% chi thường xuyên + 31% trả nợ công, thì ngân sách đã thâm hụt 0,2%.

Toàn bộ số tiền đầu tư phải nhờ vào trái phiếu chính phủ và vay mượn. Đó là tình trạng khá khẩn trương, và tôi nghĩ Quốc hội cần phải có biện pháp để điều chỉnh tình trạng này.

Gia Minh: Trong cuộc họp quốc hội sắp kết thúc thì vấn đề có được nêu ra không và có đề cập đến những giải pháp gì không?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về thảo luận thì các đại biểu có chất vấn và có nêu lên rất nhiều vấn đề. Còn về việc kết luận và hành động thì cho đến nay tôi chưa được thấy. Tôi mong rằng đến khi kết thúc thì quốc hội sẽ có những nghị quyết về vấn đề quan trọng và cũng là rất cấp bách này.

Gia Minh: Nói một cách nôm na thì đây cũng như chuyện thu chi trong một gia đình, theo tiến sĩ cách để giải quyết tình trạng này thì ngoài việc như những nhóm người trẻ đòi hỏi quyền được biết; nhưng biết rồi thì cần phải có biện pháp ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi nghĩ rằng điều này sẽ giúp ích cho người trẻ là có quan tâm hơn, có trách nhiệm hơn đối với tình hình chung của đất nước. Và nó sẽ góp phần làm cho tình trạng công khai minh bạch của thu chi ngân sách của Việt Nam sẽ được cải thiện. Bởi vì nếu như người trẻ đã lên tiếng thì tôi chắc sẽ có nhiều tầng lớp khác của nhân dân cũng sẽ quan tâm.

Gia Minh: Cám ơn tiến sĩ dành cho những thông tin vừa rồi.

NIỀM VUI TUỔI CAO NIÊN

NIỀM VUI TUỔI CAO NIÊN

​(Ai đang ở tuổi cao niên, người ta còn gọi là Tuổi Vàng, hãy nên đọc kỹ bài viết​

​ này, vì nó nói lên những thực trạng cao quí nhất của tuổi cao niên,​

​ mà nhiều người​ ​ không hề để ý đến thực​ ​ trạng cao quí này của Thượng Đế ban cho con người, trước khi nhắm mắt vĩnh viễn, buông xuôi hai tay để trở về với cát bụi)​

​.​
Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống.  Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la.
Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì.
Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi.  Nếu đã nghỉ hưu, thì học  thêm làm chi.  Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng  các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình.  Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy  Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn.  Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi.

Đời sống tình cảm  của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng.  Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện giấu giếm mà nhà tan cửa nát.  Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật.  Hồi hộp, đau tim.  Các bà  khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc  làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó.  An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.

Cũng có một số ít  những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều  trở thành khó tính.  Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng  như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình.  Vì còn sống bao lâu  nữa mà lo lắng chi cho nhiều.  Xa được ông chồng khó tính, độc tài là  mừng.  Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng.  Khỏe trí.

Tuổi già, cố giữ  cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có  lý.  Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc  cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu  ngày nữa.

Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an  ủi nhau trong tuổi xế chiều.  Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt  gánh nửa đường.  Chồng chết, vợ chết, ly dị.  Vấn đề là không sao tìm  được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia sẻ như người phối ngẫu cũ.

Tình già cũng nhẹ  nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung.   Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.  Nhiều  người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh  bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc.  Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác.  Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu  khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào.

Tuổi già biết giá  trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng,  và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già  rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần giấu diếm, không cần sụt đi năm  bảy tuổi làm chi.  Sướng lắm.  Vì có sụt tuổi, cũng không giấu được  những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì.  Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ  quá, và họ mơ ước được như mình.

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình.  Con  người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai  mà không có khi thiếu sáng suốt.  Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn  giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm.  Bởi vậy, các  ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau.  Tuổi nầy các bà cũng  thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ  là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.

Đàn bà có chồng  hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu  nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung.  Biết kềm chế hơn,  và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.

Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau.  Không còn thấy khó chịu nhiều nữa.  Dễ dung thứ  cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người  bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác.

Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn.   Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối.  Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân.  Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.

Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường.  Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác.

Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn.  Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận.  Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh.  Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê.  Chê thì chê, khen thì khen.  Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.

Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc.  Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện.  Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.

Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ.  Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa.  Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình.  Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được.  Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều.  Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa.  Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận.  Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên,thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người.  Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn.  Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước.
Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí.  Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi.  Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn.

Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao.  Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc giục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa.  Thế thì sao mà không sung sướng?

Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén.  Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ.  Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá
nhiều.  Vả lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả.

Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm.  Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe.  Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu.  Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn.  Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ  không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm.  Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn.  Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm.  Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn.  Người trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết.  Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì.  Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi.

Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết.  Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva  xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”.  Đó là câu nguyền rũa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn.  Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ.  Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm.  Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng.  Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể.  Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa.  Có sinh thì có diệt.  Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi.  Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó …
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …

Khi tuổi già, thì xem cái chết như về.  Ai không phải chết mà sợ.  Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm.  Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi.Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai.

Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc.  Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước.  Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão.  Chết là về.  Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường.  Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ.  Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.

Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” (Kevokian — THD) phải không? Cái tên gần gần như vậy.  Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội.  Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó.  Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có.  Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết.  Trừng phạt người ta hay sao?

Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa.  Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ.  Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn.  Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được.  Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…

Bài trên viet-studies

Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San gởi

Tình Cha Cho Con

Tình Cha Cho Con

Thu Oanh

Khi đặt bút viết về cha tôi, tôi thấy sao mà khó quá, bởi không biết nên bắt đầu từ đâu!

Tôi thấy văn, thơ, và nhạc ca ngợi về mẹ nhiều quá, nhưng văn, thơ và nhạc để ca ngợi tình phụ tử thì thật là hiếm hoi. Giải thích cho hiện tượng thiếu quân bằng này, có người nói bởi mẹ thì ngọt ngào và hiền dịu, nhưng cha thì lại khô khan, cứng ngắc… Cho nên thông thường văn thi sĩ không được giàu có với dòng tư tưởng và luồng cảm xúc, khi chuẩn bị đặt ngòi bút bắt đầu nắn nót trên giấy trắng những dòng chữ viết về cha.

Tôi thì không nghĩ như vậy, tôi không biết bắt đầu từ đâu khi viết về cha, là vì tôi có quá nhiều điều, nhiều kỷ niệm mà cha đã cho chị em tôi. Cha đã cho chị em tôi tình thương yêu, lời dạy bảo, và chính đời sống của cha đã trở thành một mẫu gương tốt cho chị em chúng tôi nhìn vào và sống theo như một ngọn hải đăng vươn cao dẫn lối cho những con thuyền nan bập bềnh trên sóng nước đại dương vào một ngày biển động.

Rất tiếc những ngày sống động và vui tươi đó giờ này đã qua mau!!!

Trước mặt tôi hiện bây giờ là một người ngồi ngơ ngẩn, đôi mắt đã mất hết sự tinh anh, tâm trí như đang ở một cõi vô định. Cha tôi đó! Cha tôi bây giờ như một cái bóng trong nhà với không ý niệm về thời gian và không gian. Ngày được bác sĩ báo cho biết cha tôi bị bệnh Mất Trí Nhớ, cả gia đình tôi bàng hoàng đau đớn. Tôi nhớ, ngày hôm đó, trong khi đang khám bệnh cho cha tôi, ông bác sĩ hỏi cha tôi một câu hỏi:

— Ông có bao giờ bị té nặng, đầu bị đập vào đâu, hoặc đau buồn chuyện chi hay không?

Cha tôi nhìn ông bác sĩ, yên lặng không nói chi. Nhưng tôi nhớ, vào lúc đó, tôi đã nhè nhẹ gật đầu hộ cho cha tôi, và tôi muốn hét to, hét lớn cho cả thiên hạ cùng nghe,

— Có, cha tôi đã từng té, cha tôi đã từng đau đứt ruột đứt gan bởi gia đình của cha tôi bị bỏ rơi lại sau một trận bão cuốn trôi cả một nửa nước Việt Nam …

Ngày đó…

Ngày mà cuộc chiến Nam Bắc tương tàn cuối cùng dẫn đến hỗn loạn với cảnh người sống, kẻ chết, chia lìa, tang tóc.

Ngày đó, ngày 30 tháng 4.

Ngày cha tôi bị bứt lìa khỏi gia đình, quê hương, bước chân lên tàu để lánh nạn cộng sản, bỏ lại sau lưng ông bà nội, mẹ và bảy chị em chúng tôi. Là trụ cột chính trong gia đình, giờ này lại bỏ đi, cha tôi đã lo âu cho cha mẹ già, vợ dại và con thơ! Rồi những ngày đầu tiên xa lạ trên đất khách quê người, cha tôi phải lao vào cuộc sống lạ với nhiều phương cách mưu sinh mới. Tiếng Anh thì cha tôi không biết nhiều, văn hóa xứ người thì xa lạ, lòng người của vùng trời xứ tuyết cũng lạnh băng như bão tuyết vào những ngày giữa đông… Nhiều lần cha tôi đã muốn quỵ ngã nơi xứ người, muốn buông xuôi bỏ cuộc. Nhưng rồi cha vẫn đứng dậy, bởi người biết bên kia cả một đại dương vẫn là một gia đình bị bỏ rớt lại với bảy đứa con, đứa lớn nhất mới mười bốn tuổi, thêm tôi thân gái èo uột yếu đuối.

Trước biến cố 75, bởi tôi bệnh tật, cha mẹ đã gởi tôi học tại trường của các Nữ Tử Bác Ái, Sài Gòn. Năm một lần, tôi được phép quay lại về nhà nghỉ hè. Tôi làm sao quên được lần đó, sau hai tháng nghỉ hè với gia đình tại Vũng Tàu, cha đưa tôi quay lại về trường. Hôm đó xe đò hành khách thả hai cha con xuống tại ngã tư Bẩy Hiền. Cha tôi vẫy tay đón xe xích lô về số 215 đường Hiền Vương của trường Nữ Tử Bác Ái. Đối với một người bình thường, đi bộ thì không bao xa, nhưng cha và tôi còn vác thêm cái valy quần áo của tôi nữa. Thấy vậy, ông xích lô đòi thật nhiều tiền cho một quãng xe ngắn. Thấy vậy, cha tôi nhỏ nhẹ cám ơn bác phu xe, rồi một tay cha bế tôi lên, một tay cha xách cái valy, vừa đi cha vừa thở nặng nhọc. Tới cửa trường, trước khi giao tôi cho các sơ, cha hôn lên trán tôi một cái hôn thiết tha, cười và nói,

— Thôi, con ở lại với các sơ, vâng lời sơ và học giỏi nghen, đầu tháng tới ba lên Sài Gòn thăm con.
Giọng cha lúc đó tự dưng chùng xuống, âm thanh nghẹn ngào làm cặp mắt tôi long lanh giọt vắn, giọt dài. Tôi không còn biết nói chi nữa, nhưng tự dưng nỗi cảm xúc dâng cao cuồn cuộn trong lòng. Tôi thương cha tôi quá!

Tôi nhớ, khi chị em tôi còn bé, nếu có thời gian rảnh rỗi, cha hay chơi đùa với chị em chúng tôi. Có khi cha bế đứa này trên tay, có khi cha cõng đứa kia trên lưng, còn không thì cha kiệu đứa khác trên cổ. Cha tôi còn có tài may quần áo, mà may quần áo đẹp lắm. Nào là áo đầm cổ tròn hình lá sen điểm nơ màu hồng, vải ren xếp tay phồng cho mấy đứa con gái. Nào là quần đùi ca rô cho thằng em trai tôi. Nào là áo bà ba vải lụa và quần tuyết nhung dành riêng cho mẹ tôi mặc. Mấy đứa bạn thấy tôi mặc áo đầm đẹp, cứ hay chạy theo hỏi,

— Ai may cho mày vậy?

Tôi ngẩng cao mặt, hãnh diện khoe,

— Ba tao may cho tao đó, chỉ cho một mình tao mà thôi.

Mỗi lần cha ngồi may, cha tôi ưa cất giọng hát, “Anh còn, còn có mỗi, mỗi cây đàn, anh đem là đem bán hết, anh theo là theo cô nàng, tình tính tang, là tang tính tình…” Vào những giây phút bất chợt đó, nếu có mẹ tôi xuất hiện đâu đó, thế nào bà cũng sẽ nguýt, lườm, và nói mát,

— Theo cô nàng là cô nàng nào?

Hình ảnh, lời ca, và hoạt cảnh giữa cha và mẹ tôi đã đi sâu vào tâm trí tôi thật sâu.

Cuối cùng, nhờ ơn trời cao, gia đình tôi cũng được đoàn tụ nơi đất khách quê người. Sau 15 năm xa cách, được gặp lại người cha của ngày xưa, mẹ và chị em chúng tôi rất vui mừng. Riêng tôi, có đôi lúc tôi thoáng lo sợ, bởi nghe nói trên vùng đất lạ, có rất nhiều người, sau khi bảo lãnh vợ con qua Mỹ, lại không chịu ở chung, nhưng bỏ đi để vui vầy duyên mới với vợ bé. Tôi chép miệng, mà cũng khó trách được họ, bởi nếu đặt mình vào trong hoàn cảnh của những ngày đầu tiên nơi đất khách quê người, ngày thì đến hãng, đến sở, đêm về lủi thủi một mình với ngày đông tháng giá. Đàn ông mà, làm sao họ có thể sống nổi với nỗi cô đơn trống trải. Vì thế, tôi biết có một vài người đàn ông nơi đất khách quê người đã âm thầm tự lên đường đi tìm cho riêng mình một sự ấm áp, một mái nhà khác mà quên đi tất cả trước đấy. Tôi lo lắng và hy vọng cha tôi sẽ là một ngoại lệ. Tôi cứ chờ, chờ mãi, và tạ ơn trời, tôi vẫn không thấy điều chi xảy đến cho mái ấm của gia đình tôi. Ngày lại ngày bóng của cha tôi vẫn đổ dài trên bốn bức tường của căn nhà thân quen. Sáng sớm tinh sương cũng như khi đêm tối buông màn, cha tôi vẫn như ngọn đèn hải đăng chiếu rọi sáng cả căn nhà thân thương ngọt ngào.

Ngày gặp cha, tôi vui mừng đến rơi nước mắt, bởi nhìn thấy cha to trông như ông Mỹ, cha đã cao sẵn nay cha mập ra nữa, nhìn hồng hào đẹp đẽ. Cha ôm từng đứa con, hôn lên má. Rất tiếc, bởi chúng tôi đã lớn hết rồi, nếu không, cha đã bế lên vai hay kiệu từ cổng của phi trường ra đến chỗ lấy xe.

Về đến nhà cha đã làm sẵn tiệc tùng mời mọi người đến chung vui ngày cha đón mẹ và chị em chúng tôi. Đời sống hạnh phúc tưởng là đã mất đi, nay lại tiếp nối nơi vùng trời Portland với bao nhiêu là sự dạy dỗ của cha. Cha luôn luôn nhắc nhở chúng tôi câu nói: “Các con hãy cẩn thận, đời nhiều cạm bẫy lắm!”. Có lần cha thấy em trai tôi hút thuốc, người nói: “Mới đầu một hai điếu không là gì, nhưng sau thành thói quen, rồi đi vào cần sa ma túy lúc nào không hay!”.

Rượu, trà và cà phê cha tôi không nghiền một thứ nào. Cha tôi ghét nhất lời nói tục tĩu cho nên trong nhà mọi người phải “chấp hành lệnh nghiêm chỉnh”. Tôi chỉ thấy một lần trong đời cha tôi lỡ miệng nói một câu nặng nề. Hôm đó gần ngày 30 tháng 4, khi nghe đài phát thanh tuyên bố ông Dương Văn Minh lên làm tổng thống, cha tôi bật miệng nói một câu với những lời khá cay chua!!!
Cha tôi ít nói. Có tiệc tùng hay nhậu nhẹt chi với các bác, các chú, về tới nhà, cha nói láo xáo vài câu tếu tếu rồi đi nghỉ, không rượu vào lời ra chửi mắng mẹ và chị em chúng tôi bao giờ.

Tôi cũng như chị em tôi đã học được nhiều nơi lòng đạo đức, tính nết hiền lành, và tinh thần tự lập của cha. Cha dậy chúng tôi phải biết thương người hoạn nạn và làm ăn liêm chính không gian dối. Người đã dậy cho chúng tôi tính tự lập, bởi người hay nói, “Sống thì phải sống như cây tùng, cây bách, không nên sống gởi gấm như loài cây tầm gửi”.

Trong ngày Lễ Từ Phụ năm nay, chị em chúng tôi lại về quây quần bên cha, tuy cha không còn biết chi nữa. Tôi luôn cầu mong cho cha được thêm tuổi thọ để chúng tôi phụng dưỡng cha, để người tiếp tục ngồi đó sáng sớm đêm khuya như một ngọn đèn hải đăng, mặc dù giờ này lửa đã bắt đầu nhạt nhòa, nhưng ngọn hải đăng vẫn sừng sững vươn cao trên nền bầu trời như là một điểm mốc cho chị em chúng tôi nhắm đến, nhìn vào, và tiếp tục đi tới.

Mỗi đêm thắp ngọn đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Thu Oanh

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Song Chi.

+Nhân ngày Báo chí “cách mạng” VN 21.6.

Đặc điểm của báo chí trong một chế độ độc tài: không đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên mà phải đặt quyền lợi của chế độ đang cai trị đất nước trên tất cả, “ông chủ” của những nền báo chí ấy không phải là nhân dân, bởi vì nó không phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân, nhất là những con người bé nhỏ không thể cất tiếng nói trong xã hội như tầng lớp lao động, những người nghèo, bất hạnh, phận con sâu cái kiến… mà phục vụ trước hết là giai cấp cầm quyền, sau đó là những kẻ có tiền.
Báo chí ở VN dưới chế độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm quyền suốt bảy thập kỷ qua, là một nền báo chí như vậy. Nó phải phục vụ cho sự tồn tại của chế độ, của đảng cộng sản, chịu sự kiểm duyệt, cầm tay chỉ việc của Ban Văn hóa Tư tưởng, Ban Tuyên giáo Trung ương.…
Ngay cả bây giờ, ở thời điểm năm 2015, so sánh với báo chí của chế độ VNCH đã bị “bức tử” từ 40 năm trước, báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN vẫn thua xa hàng dặm về mức độ tự do, dân chủ.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, báo chí “cách mạng” VN nhìn chung đã thừa hưởng, tiếp thu được nhiều tố chất của nền báo chí ở miền Nam, nếu so với báo chí ở miền Bắc trước năm 1975 không chỉ sặc mùi tuyên truyền đậm đặc mà còn khô cứng, nghèo nàn, đơn điệu, quê mùa từ phần trình bày, kỹ thuật in ấn, phông chữ, cung cách đưa tin, viết bài. Báo chí sau 1975 hiện đại hơn từ kỹ thuật, cho đến cung cách làm báo. Sau khi ‘đổi mới” và đời sống kinh tế có khá lên thì báo chi càng “khởi sắc” hơn với đủ loại báo ngày, tập san, nguyệt san, tạp chí, báo ảnh… đẹp đẽ bắt mắt về hình thức, và “tự do” hơn trong việc khai thác những khía cạnh đời thường của các nghệ sĩ, những người nổi tiếng, những khía cạnh vật chất của cuộc sống-một điều hoàn toàn không hề có so với báo chí miền Bắc trước năm 1975.
Nhưng sự thay đổi bề ngoài ấy không hề thay đổi cái bản chất, cái mục đích chính của báo chí trong chế độ cộng sản. Đó là phải tuyên truyền, bảo vệ chế độ, có tính định hướng rõ ràng, phải là “vũ khí” của đảng.
Chỉ có điều, báo chí bây giờ lại có thêm một khía cạnh tệ hại thứ hai là xu hướng “lá cải hóa” tràn lan, nhất là những tờ báo mạng, tập san, tạp chí, báo ảnh, phụ trương…Hoặc khai thác tỉ mỉ những yếu tố giật gân trong những vụ án cướp giết hiếp xảy ra hàng ngày trong xã hội và cả trên thế giới, hoặc chạy theo khai thác đời tư những người nổi tiếng, giới showbiz…
Hãy thử lướt qua hàng chục, hàng trăm tờ báo mạng, hoặc cầm trên tay hàng chục những tờ phụ trương, tạp chí bắt mắt bày đầy trên các sạp báo, chúng ta sẽ thực sự lo ngại, thậm chí rùng mình vì kinh hãi. Vì sao người ta có thể vô lương tâm, vô trách nhiệm đến thế khi cho ra đời những bài báo, tờ báo như vậy, và mức độ ‘lá cải’ này chỉ có tăng lên trong những năm qua chứ không hề có dấu hiệu giảm sút, mặc cho dư luận nhiều lần lên tiếng bất bình, phẫn nộ, mặc cho nhiều cuộc hội thảo của người trong nghề về tình trạng này.

Là một người cũng từng nhiều năm làm báo trong môi trường VN trước khi rời nước ra đi và bây giờ vẫn tiếp tục viết lách với tư cách một người viết tự do, tôi không lạ gì bầu không khí làm báo ở VN, những giới hạn “đèn vàng” mà người làm báo không thể vượt qua, sức ép đối với những người làm báo chân chính khi muốn viết lên sự thật, và một sức ép khác là phải bảo đảm yêu cầu có người đọc.
Trừ những tờ báo đảng như Nhân Dân, Quân đội nhân dân…báo chí VN nói chung cũng phải tự cân đối, tự thu tự chi bằng nguồn bán báo và nguồn thu từ quảng cáo, nhất là những tờ báo online chỉ sống hoàn toàn bằng quảng cáo, nên phải tính đến yếu tố “câu khách”. Từ sự thúc bách phải có người đọc, nhiều tờ báo đã chạy theo khai thác tối đa những đề tài giật gân như vừa nói trên.
Các nước tự do dân chủ cũng có báo “lá cải”, kể cả báo khiêu dâm. Nhưng ở các nước ấy có những quy định rất chặt chẽ về đạo đức nghề báo, có luật pháp rõ ràng, và nếu nhà báo vượt quá giới hạn hoặc viết ẩu, viết bậy thì cá nhân hoặc tập đoàn nào là “nạn nhân” sẽ kiện ra tòa và không chỉ phóng viên mà cả ban biên tập, chủ bút, cả tờ báo đó cũng bị phạt một cách xứng đáng. Còn ở VN, nếu một cá nhân hay một công ty nào bị một phóng viên vì lý do nào đó viết ẩu, viết sai, thậm chí vu khống, bôi nhọ, lắm khi cũng chẳng muốn kiện vì có kiện cũng chưa chắc đã được gì, mà chỉ mất thì giờ, mệt mỏi thêm. Với tâm lý ấy người ta thường đành là cho qua, và các nhà báo vô lương tâm hoặc yếu kém về tay nghề cứ vậy mà tồn tại, tiếp tục viết bậy!
Từ khi internet phát triển, rồi blog, các trang mạng xã hội và những tờ báo ngoài luồng, những tờ “dân báo” ra đời, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của dòng báo chí ngoài luồng và các trang mạng xã hội này đối với một bộ phận người dân và ngay cả đối với báo chí “chính thống” ra sao. Nhiều người đã được “mở mắt” thức tỉnh từ khi đọc báo bên ngoài, biết được những sự thật về lịch sử, về xã hội, về chế độ mà đảng và nhà nước cố tình bưng bít, bóp méo bao lâu nay. Con số người bỏ không đọc, không tin vào báo đảng, ngược lại theo dõi thường xuyên các tờ báo bên ngoài, các trang mạng xã hội ngày càng nhiều. Ngay báo chí “chính thống” của nhà nước cũng bị tác động bởi báo ngoài luồng.
Bất cứ một thông tin dối trá, một bài viết tuyên truyền sặc mùi tuyên giáo, một hành động phản cảm hay một lời phát biểu dốt nát, ngu xuẩn của một ông quan bà nghị nào đó, những chi tiết sai sót, phi lý của một vụ án oan hay một vụ án có tính chất chính trị, một điều luật, chính sách ngớ ngẩn mới được thông qua…tất cả đều nhanh chóng bị đưa ra mổ xẻ trên các tờ “dân báo”, các trang mạng xã hội. Không chỉ một hai lần, báo chí “chính thống” phải điều chỉnh hoặc âm thầm gỡ bài khi bị báo ngoài luồng “bóc mẽ” những sự dối trá, sai sự thật.

Không ít nhà báo đang ăn lương ở một tờ báo nào đó vẫn theo dõi báo bên ngoài và nhiều khi lấy tin từ các báo, blog bên ngoài hoặc lặng lẽ thay đổi quan điểm trong một bài viết của mình. Còn các quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước VN, không rõ họ có bao giờ dám đọc báo ngoài luồng không, nhưng có một điều chắc chắn là họ hiểu được “tác động” của dòng báo chí đó dối với chế độ và họ lo ngại. Ngược lại, con số blogger, nhà báo tự do bị xách nhiễu, bị hành hung, bị tống giam vào tù với những bản án cực kỳ khắc nghiệt vì những bài blog, bài báo của mình ngày càng nhiều, đã đưa VN vào trong danh sách những quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất, là kẻ thù của internet. Những blogger, nhà báo tự do ấy đã phải trả một cái giá không hề rẻ cho việc viết lên sự thật, với khao khát cung cấp những thông tin đa chiều cho người dân VN.
Họ là những anh hùng. Còn những nhà báo anh hùng khác nữa, là những nhà báo vẫn đang làm việc cho một tờ báo của nhà nước, nhưng cố gắng không trở thành bồi bút hoặc không góp phần “ xả rác” vào xã hội bởi những tin bài của mình.
Tôi vô cùng khâm phục những nhà báo tử tế, chân chính còn sót lại giữa làng báo thiếu vắng tự do dân chủ và tràn ngập những cướp, giết, hiếp, mông đùi hở hang…như ở VN.
Những nhà báo ấy đã phải xoay sở tìm cách “lách” sao cho thông tin thuộc loại “nhạy cảm” về mặt chính trị xã hội có thể đến được với người đọc, hoặc ít nhất, viết cách nào đó để người đọc có thể đọc và hiểu giữa hai hàng chữ những gì người viết thực sự muốn nói. Họ đã phài tận dụng những cơ hội hiếm hoi khi báo chí được “thả lỏng” giây lát. Ví dụ như trong mối quan hệ phức tạp và bất tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung, đôi khi quan hệ giữa hai bên trở nên xấu đi và nhà cầm quyền VN cảm thấy cần phải để báo chí “xả” một chút, hoặc để báo chí chuyển tải thông điệp về tình trạng xấu đi đó đến nhà cầm quyền Trung Quốc. Báo chí được dịp đưa những thông tin như tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí VN, tàu TQ rượt đuổi, cướp bóc, đánh chìm tàu cá của ngư dân Việt, hay Trung Quốc đang cấp tập xây cất, biến các bãi đá ngầm trên biển Đông thành những hòn đảo nhân tạo và những căn cứ quân sự nguy hiểm trong tương lai như thế nào…
Những lúc ấy báo chí khởi sắc hẳn lên, nhiều bài báo mạnh mẽ lên án Trung Quốc, các nhà báo lúc ấy đang thực sự đứng về phía người dân VN, nói lên tâm trang uất ức, phẫn nộ, tình cảm thật sự của người dân VN đối với nhà cầm quyền Trung Quốc và những chinh sách bành trướng, xâm lược, mưu mô thâm độc của họ.
Tất nhiên, những lúc mở xả như vậy rất hiếm hoi và có thể lại đóng lại bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền cảm thấy có thể làm cho Bắc Kinh tức giận hoặc nếu những người lãnh đạo Trung Nam Hải lại tìm được cách nào đó vừa xoa dịu vừa khống chế đám lãnh đạo cao cấp nhất của VN.
Lảm báo ở VN khốn nạn như vậy đấy.
Bên cạnh đó là rất nhiều người cũng mang danh nhà báo nhưng không hề mảy may động lòng trước hiện trạng đất nước, dân tộc cũng như viễn cảnh không mấy sáng sủa của VN trước tham vọng ngày càng rõ và quyết tâm ngày càng sắt đá của Bắc Kinh. Những dạng ấy nhiều lắm. Hoặc tiếp tục bưng bô nịnh bợ chế độ, tuyên truyền những điều dối trá về đảng và nhà nước cộng sản, về lịch sử, hiện tại và cả tương lai, điên cuồng chống lại con đường tốt đẹp hơn cho VN là thoát khỏi chế độ độc tài độc đảng lạc hậu và gây hại cho đất nước cho dân tộc như lâu nay. Hoặc chỉ chăm chăm khai thác những đề tài “cướp, giết, hiếp”, mông đùi, đời tư người nổi tiếng, cổ vũ cho lối sống chạy theo bản năng của con người, chạy theo vật chất, nhà lầu, xe hơi, thời trang hàng hiệu khi suốt ngày viết “thiếu gia” này mới tậu con xe tiền tỷ, diễn viên kia sắm nhà lộng lẫy, người mẫu nọ có bồ là đại gia tiêu tiền như nước, hoa hậu kia khoác lên người bộ cánh hàng chục ngàn USD, đeo chiếc nhẫn kim cương “khủng”…
Không ai hồ nghi gì về sức mạnh của báo chí. Sức mạnh ấy nếu được đặt vào những nhà báo chân chính có tài có đức, trong một môi trường báo chí tự do dân chủ, có thể tạo ra những thay đổi biến chuyển theo chiều hướng tích cực cho xã hội, cho đất nước. Và ngược lại. Trong một xã hội độc tài và tôn thờ đồng tiền như VN hiện nay, báo chí không thể làm tốt được chức năng tôn trọng sự thật, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân, ngược lại ngày càng biến tướng và tệ hại.
Nhiều người làm báo không lương tâm khi đưa ra một vụ án chưa thực sự khởi tố, người bị tình nghi vẫn chưa bị kết tội đã thay mặt tòa kết án người ta, giết chết người ta về mặt uy tín xã hội. Có những bài báo khi viết về những vụ án hiếp dâm, đã không thèm che mặt nạn nhân hoặc có làm mờ và ghi tắt tên nhưng lại đưa những thông tin về trường học, cơ quan hoặc đưa hình ảnh nhà cửa khiến những người nào biết nạn nhân có thể dễ dảng đoán ra. Nhất là những vụ án mà nạn nhân hay người phạm tội là trẻ vị thành niên, cuộc đời vẫn còn dài trước mắt, sẽ sống ra sao sau khi vụ án đi qua.
Có những bài báo khai thác nhiều kỳ một vụ án giết người không chỉ từ lúc kẻ thủ phạm ra tay thủ ác mà cả quãng đời trước đó và sau đó trong trại giam, thông tin về cha mẹ người yêu hay vợ, chồng được đưa tuốt lên mặt báo. Hay vụ những người mẫu bán dâm, báo chí khai thác tối đa, phỏng vấn cả chồng, mẹ chồng tương lai của một người mẫu trong số đó, cuộc đời người mẫu này coi như không còn có cửa làm lại, cho dù sau khi mãn hạn tù. Và vô số những ví dụ về những cách đưa tin bài thiếu lương tâm như vậy mà chúng ta có thể bắt gặp tràn ngập trên báo chí VN.
Chưa nói đến khía cạnh lớn hơn là dối trá, bóp méo sự thật. Biết bao nhiêu sự dối trá trong suốt chiều dài nắm quyền của đảng cộng sản mà nhờ có internet, báo chí bên ngoài, người dân VN mới biết được, nhưng vẫn còn rất nhiều thông tin nằm trong bóng tối chưa bị lộ ra.
Một môi trường làm báo thiếu vắng tự do, đầy nghịch lý, những kẻ bồi bút bưng bô chế độ thì leo cao, hưởng mọi vinh quang phú quý, những người viết sự thật thì bị xách nhiễu, buộc thôi việc, hoặc bị tù; những kẻ viết tin bài vớ vẩn lá cải thì sống khỏe còn những nhà báo chân chính thì đau khổ vì không thể viết được theo đúng lương tâm mình.

Trong một môi trường như vậy, những người làm báo chỉ còn lại sự đối diện với chính mình. Rằng trước khi đặt bút viết bất cứ cái gì, tự hỏi mình bài viết ấy sẽ phục vụ cho ai, cho đất nước, nhân dân hay cho nhà cầm quyền, có lợi cho đất nước hay có hại; đối với những bài viết có liên quan đến số phận con người cụ thể, thì cuộc sống của họ sẽ ra sao sau khi bài báo được đưa ra. Nếu làm được như thế tin rằng những bài viết dối trá, bóp méo sự thật lịch sử, nhằm nịnh bợ chế độ và làm ngu dân, hay những bài viết dễ dãi khai thác phần bản năng của con người, sẽ có thể bớt đi.
Mọi vinh hoa phú quý, danh hiệu nhận được từ chế độ chả có nghĩa lý gì. Sự phán xét lâu dài của lịch sử, của nhân dân mới là sự phán xét mà không một ai có thể tránh được.