Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Học sinh VN: Quang Trung và Nguyễn Huệ là ‘bạn chiến đấu’

Nguoi-viet.com
HÀ NỘI 13-7 (NV) – Các học sinh được đài truyền hành nhà nước VTV1 phỏng vấn trắc nghiệm kiến thức lịch sử đều không biết Quang Trung Nguyễn Huệ là ai, thậm chí còn nói các điều làm người ta ngỡ ngàng.

Học sinh này cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Báo Dân Trí hôm Chủ Nhật 12/7/2015 thuật lại kèm theo video clip của đài VTV1 phát hình phóng sự phỏng vấn kiến thức học sinh trong mục “Chuyển động 24h” hôm Thứ Bảy trước đó. Các câu trả lời về kiến thức sử học của 7 học sinh cấp trung học cơ sở tại Việt Nam sây sốc cho mọi người khi được phóng viên hỏi “Quang Trung và Nguyễn Huệ có mối quan hệ gì với nhau?”

Một học sinh trả lời cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Học sinh này còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung.” Một học sinh nói hai ông Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu.” Một học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là bố con. Chỉ có một học sinh hiểu đúng Quang Trung Nguyễn Huệ là … một.

Sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam ở các cấp từ tiểu học, đều nhắc đến trận chiến thắng lẫy lừng tại Ngọc Hồi – Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ (vua Quang Trung) chỉ huy đánh tan tành quân nhà Thanh xâm lược vào thế kỷ 18.

Môn sử học từ bậc Tiểu học đến Trung học ở Việt Nam từng bị đả kích rất nhiều về sai lầm đầy ngập trong sách giáo khoa do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo CSVN độc quyền in ấn phát hành, đến cách dạy máy móc buồn ngủ của các ông bà thày giáo. Các điều này dẫn đến hệ quả là học sinh không ưa môn sử.

Học sinh nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em. Em còn nói “Ông Nguyễn Du chính là ông Quang Trung” (Hình Dân Trí- cắt từ video clip)

Tờ VietnamNet hôm 13/7/2015 dẫn các con số thống kê từ kỳ thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông vừa diễn ra và năm 2014 cho thấy rất ít học sinh chọn môn sử (thi nhiệm ý).

“Số liệu thống kê của hai năm gần đây nhất cho thấy, trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014 toàn quốc có 910,831 học sinh đăng ký dự thi, có số lượng thí sinh đăng ký thấp nhất trong 4 môn thi tự chọn là môn lịch sử với 104,959, chiếm 11.52%. “ Vietnamnet kể. “Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2015 vừa qua, môn Lịch sử cũng có số lượng thí sinh chọn thi thấp nhất, với 153,688 em đăng ký (chiếm 15,3% trong tổng số gần 960 nghìn thí sinh đăng ký dự thi).”

Dẫn ra những chi tiết đáng ngao ngán hơn, Vietnamnet cho biết “Trường Lương Thế Vinh (Hà Nội), chỉ có 1 học sinh chọn môn Lịch sử. Trường THPT Việt Đức (Hà Nội) có 3% Trường THPT Đinh Tiên Hoàng có 6% học sinh đăng ký thi môn này… Trong buổi sáng ngày 4/7, các điểm thi ở Yên Thành và thị xã Thái Hòa (Nghệ An) do Hội đồng thi của Sở GD-ĐT Nghệ An chủ trì, chỉ có duy nhất 1 thí sinh thi môn Lịch sử…”

Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, phân tích trên Vietnamnet về sự sai lầm của những ông quan quản lý giáo dục: “Quan niệm hiện nay không đúng từ rất nhiều phía, khi cho rằng lịch sử chỉ là một môn học, mà quên đi nó còn là thứ để dung dưỡng tâm hồn, lòng yêu quê hương đất nước. Nếu nhìn nhận như vậy, thái độ của chúng ta đối với môn lịch sử sẽ khác chứ không phải như chúng ta đang làm hiện nay. Đây là lỗi của nhà quản lý.”

Học sinh cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là “bạn chiến đấu”. (Hình: Dân Trí – cắt từ video clip).

Đồng thời, ông nói “Nếu không cẩn thận, việc đưa các sự kiện, con số, ngày tháng vào chương trình dạy học lại thành ra mớ kiến thức cực kỳ khó nhớ. Dạy học theo phương pháp tiếp cận nội dung như hiện nay là một cách bắt học sinh phải nhớ những thứ khó nhớ đó, làm khô cứng một thứ lẽ ra rất sinh động. Đây là lỗi của chương trình”

Sách giáo khoa các cấp của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo CSVN độc quyền phổ biến từng bị đả kích rất nhiều lần về những sai sót đầy ngập từ chính tả văn phạm đến kiến thức khoa học, lịch sử.

Hai năm trước, ngày 15/10/2013, tờ báo Người Lao Động trong bài “Sách giáo khoa đầy sạn” từng viết “Không phải chỉ một lần các chuyên gia lịch sử, thậm chí cả Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đã lên tiếng về những sai sót …này. Tuy nhiên, đến lần tái bản thứ 11 năm 2013, những “hạt sạn” nêu trên vẫn giữ nguyên.” (về sách lịch sử lớp 6).

Nạn chạy chọt, mua bán bằng cấp rất phổ biến tại Việt Nam, nhưng giữa Tháng 5-2015 vừa qua, hệ thống thông tin tuyên truyền tại Việt Nam dựa vào một phúc trình của Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD) tung hô rằng giáo dục Việt Nam xếp hạng thứ 12, vượt xa nhiều nước tân tiến trên thế giới.

Trong cách phân tích của OECD, giáo dục của nước Anh đứng thứ 20, Pháp thứ 23, Mỹ thứ 28 và Thụy Điển chỉ xếp thứ 35. Không thấy học sinh sinh viên các nước vừa kể đổ xô nhau đến Việt Nam xin học, chỉ thấy những gia đình giầu có, quan quyền tại Việt Nam cho con sang Mỹ và các nước Âu Tây du học ngày một nhiều hơn chứ không ở lại Việt Nam. (TN)

Lời khuyên đáng ghi nhớ!

Lời khuyên đáng ghi nhớ!

  • 1. Người bạn quí mến của tôi…
  • 2. Xin hãy bảo trọng và giữ gìn sức khỏe…
  • 3. Dù bận bịu thế nào đi chăng nữa cũng phải quan tâm tới bản thân mình.
  • 4. Bạn bè tuy không thường xuyên liên hệ với nhau, nhưng vẫn cứ nhớ tới nhau.
  • 5. Hãy uống ít trà sữa, không nên ăn nhiều đồ ngọt và tránh xa nguồn điện cao thế.
  • 6. Ban ngày hãy uống nhiều nước vào, buổi tối cần uống ít đi. Không uống quá 2 cốc cà phê một ngày.
  • 7. Hãy ăn ít thức ăn có nhiều dầu và thường xuyên đi bộ.
  • 8. Sau 5 giờ chiều không ăn nhiều, ăn no. Mỗi ngày không uống quá 1 ly rượu.
  • 9. Nửa giờ trước lúc đi ngủ mà uống thuốc thì cần tránh uống thuốc xong là đi nằm ngay.
  • 10. Trung bình cần ngủ đủ 6 giờ, nếu bạn cảm thấy khó ngủ, hãy xem nằm là ngủ.
  • 11. Không sử dụng điện thoại di động khi chỉ thị nguồn điện giảm xuống còn 1 vạch. Bởi bức xạ lúc này lớn gấp 1.000 lần so với lúc bình thường.
  • 12. Nhớ là nghe điện thoại bằng tai bên trái, bởi nghe ở tai bên phải sẽ trực tiếp làm tổn thương đến đại não.
  • 13. Hai điều nên nhớ: Gặp phải sự việc không vui hãy bình thường hóa nó một chút. Nhìn thế giới lờ mờ một chút.
  • 14. Hãy “Quên đi” 3 thứ: – Quên đi tuổi tác, – Quên đi quá khứ, – Quên đi ân oán.
  • 15. “ Cần có” 4 thứ: – Có người yêu bạn chân thành, – Có bạn tri kỷ, – Có ý tưởng hướng lên, – Có nơi ở ấm áp.
  • 16. “ Cần” làm được 5 thứ: – Cần ca hát, – Cần nhảy múa, – Cần sự đẹp đẽ, – Cần cười vui, – Cần tha thướt, mềm mại.
  • 17. 6 thứ “Không thể được”: – Không để đói rồi mới ăn, – Không để khát rồi mới uống, – Không để nhíp mắt lại rồi mới đi ngủ, – Không để mệt rồi mới chịu nghỉ ngơi, – Không để phát bệnh rồi mới đi khám, – Không chờ đến quá muộn rồi mới ngồi ân hận.
  • 18. Tiếp nhận được tập tin này rồi, xin hãy chuyển nó tới từng bạn hữu mà mình quý mến! Đừng quên nhé…
  • 19. … Chúc bạn luôn luôn vui vẻ!
  • Anh chị Thụ Mai gởi

NỘI TÂM

NỘI TÂM
Nội tâm sâu thẳm như bầu trời bao la. Nội tâm là cốt lõi. Làm sao chúng ta có thể đụng chạm tới đáy cùng của nội tâm. Nghe kể câu truyện: Có một người đàn bà khôn ngoan, trong khi đi du ngoạn nơi vùng đồi núi, đã nhặt được một viên ngọc qúi bên dòng suối. Hôm sau, bà ta gặp một người bộ hành đang đói khát và bà đã mở túi chia sẻ thức ăn cho ông ta. Người bộ hành đói khổ nhìn thấy viên ngọc quí và đã hỏi xin bà. Bà cho ông viên ngọc, không chút do dự. Ông cầm lấy và rời đi rất vui mừng, vì vừa nhận được một kho tàng quí báu. Ông biết viên ngọc này có giá trị lớn để ông có một cuộc sống bảo đảm trong tương lai. Nhưng vài ngày sau, ông trở lại và trả viên ngọc quí cho người đàn bà khôn ngoan này. Ông nói: Tôi đã suy nghĩ và tôi biết viên ngọc này rất có giá trị, nhưng tôi muốn trả lại, với hy vọng bà có thể cho tôi cái gì đó quí hơn: Bà hãy cho tôi cái gì đó trong nội tâm của bà, điều mà bà có thể cho đi viên ngọc quí này.’
Mầu nhiệm của sự sống con người kết nối cả nội tâm lẫn ngoại hình. Chúng ta thường suy xét và đánh giá con người qua những hình thức lộ diện bên ngoài. Mặt nổi của đời sống giống như một tảng băng nổi, với chín phần chìm sâu dưới nước. Nội tâm như là phần chìm. Con người khác nhau nhiều ở chính cuộc sống nội tâm này. Chúng ta có thể suy nghĩ rằng người sống nội tâm là người hay lo âu, trầm tư và ít nói. Người sống nội tâm cũng có thể hay suy tư về các vấn đề như sự hiện hữu của vũ trụ và con người, về ý nghĩa cuộc đời, về sự sống, sự đau khổ và sự chết… Nhưng không luôn hẳn là như thế, người sống nội tâm là người học biết chính mình. Biết mình là đầu mối của sự khôn ngoan để tìm về nguồn chân, thiện, mỹ.
Không ai có thể đo lường đời sống nội tâm. Tục ngữ ca dao có câu: ‘Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nham hiểm) sâu thẳm ai đo cho cùng’. Đúng vậy, không ai đo được lòng người. Người ta có thể đo lường mọi cơ động lưu hành trong ngoài thân xác, nhưng sẽ dừng lại trước thế giới của lương tâm, lý trí, ý chí, trí khôn và linh hồn. Mỗi con người là một thụ tạo linh thiêng huyền bí. Thường chúng ta rất ngại để lắng đọng tâm hồn nhìn vào sự linh thiêng của chính mình. Chúng ta hướng ngoại nhiều hơn là hướng nội. Chúng ta chạy đua với cuộc sống bon chen ồn ào. Tìm vui sống với phần nổi của hiện hữu hơn là đời sống nội tâm.
Chúng ta tự hỏi: Tại sao người đàn bà khôn ngoan dám cho đi viên ngọc quí? Bà biết giá trị của viên ngọc chứ. Bà cất nó trong túi sách. Bà dám cho đi viên ngọc mà không hối tiếc. Như thế, đối với bà, viên ngọc chỉ là một tặng vật có thể làm vui thỏa ước muốn của lòng người. Nhưng bà có niềm vui lớn lao hơn ngự trị trong thâm tâm của bà. Bà cho mà không do dự. Bà có một thái độ vượt trên giá trị của kho tàng của cải vật chất. Niềm vui của bà là tinh thần tự do và không bị ràng buộc vào những nhu cầu thể chất. Bà đang thực hành một đời sống nội tâm cao.
Ai trong chúng ta cũng có đời sống nội tâm riêng tư và ẩn dấu. Người ta thường nói rằng cây tốt thì sinh trái tốt. Nội tâm tốt sẽ phát sinh công việc tốt và lời nói tốt. Lòng đầy miệng mới nói ra. Nếu chúng ta gieo trồng những hạt giống xấu trong thâm tâm, thì ắt sẽ sinh ra những trái đắng đót cộc cằn. Nét đẹp của con người phát xuất từ nội tâm. Người ta nói: ‘Cái nết đánh chết cái đẹp là thế.’ Có nhiều biểu tỏ của đời sống nội tâm nơi con người như lòng từ tâm, an tâm, đại tâm hoặc cũng có thể ngược lại là nhẫn tâm, vô tâm, ác tâm và tiểu tâm…
Tâm thường đi với tính. Cha ông nói: ‘Cha mẹ sinh con, trời sinh tính’. Tính khí thì mỗi người mỗi khác. Con người cần được tu tâm luyện tính cho thuần để đối nhân xử thế. Tu tâm là cần phải trở về với chính mình để biết mình. Có khi nào bạn đã ngồi thật lâu trong khoảng thinh lặng để trở về nhận biết chính mình chưa? Chúng ta có thể thử. Hãy tránh xa chỗ ồn ào đô hội và tìm một nơi thật thanh tịnh để lắng đọng tâm hồn. Nhắm mắt và thở hít đều đặn. Thả hồn đi sâu vào tâm trí và sự hiện hữu của chính mình. Chúng ta sẽ đụng chạm vào khoảng không bao la huyền nhiệm. Để hồn đắm chìm trong sự kết hợp với Đấng Vô Hình đang hiện diện nơi tâm hồn và vũ trụ muôn loài.
Có nhiều bài hát đạo có lời tha thiết khẩn nài ‘Chúa Ở Nơi Đâu?’ Theo giáo lý công giáo, trả lời Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Vậy tại sao chúng ta lại hỏi Chúa ở nơi đâu? Lời tự thuật của thánh Augustinô cho chúng ta một kinh nghiệm của đời sống nội tâm sâu xa: “Con yêu Chúa quá muộn màng, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa, vừa mới mãi, con yêu Chúa qúa muộn. Này Chúa vẫn ở trong con, mà hồi ấy, con cứ ở ngoài và cứ tìm Chúa bên ngoài. Con thật xấu, khi cứ mải chạy theo vẻ đẹp nơi các thụ tạo của Chúa. Chúa từng ở với con, mà con chẳng ở với Chúa. Những sự vật vẫn giữ con xa Chúa. Chúa gọi con. Chúa la to và đã phá tan sự điếc lác của con. Chúa rực sáng. Chúa chiếu tỏa và xóa tan sự mù lòa của con. Chúa đã chạm đến con và con nóng lòng tìm sự bình an nơi Chúa.”
Trở về với nội tâm là trở về với Chúa. Có biết bao lần chúng ta cầu nguyện mà lòng trí sao lãng lang thang khắp chốn. Chúng ta hát to gào thét làm như Chúa bị nặng tai. Đôi khi chúng ta giống như các tiên tri giả thờ thần Baal la hét, xé áo và rạch mình, khẩn nài các thần minh nhận của lễ hiến dâng. Chúng ta cần có đời sống nội tâm kết hợp sâu xa với Chúa. Cầu nguyện chính là những tâm tình kết hợp với Thiên Chúa trong đời sống nội tâm, “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1Sm 16, 7b).
Lạy Chúa, đã bao lần chúng con mải mê tìm kiếm Chúa bên ngoài. Chúng con đã không gặp được Chúa, vì hồn chúng con trống rỗng. Chúa luôn ẩn ngự trong tâm hồn chúng con. Xin cho chúng con nhận biết Chúa luôn hiện diện trong chúng con. Chúa chính là nơi chúng con nương tựa và là chỗ chúng con ẩn thân. Chúng con cảm tạ tình yêu Chúa mãi muôn ngàn đời.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-13

07132015-rich-communis-woul-pushi-politi-reform.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 201

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 2015.

AFP

Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam được nhiều người quan sát trong và ngoài nước quan tâm. Sau đây là nhận định của nhà báo Ngô Nhân Dụng, từ Hoa Kỳ về chuyến viếng thăm này cũng như phỏng đoán của ông về tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Việc ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ đánh dấu một sự thay đổi quan trọng, trong cái chính sách của đảng cộng sản Việt nam cũng như trong việc giao thiệp giữa Việt nam với Mỹ. Nguyễn Phú Trọng là vị Tổng bí thư đầu tiên sang Mỹ. Chưa bao giờ có một người gọi là đai diện cho đảng sang Mỹ. Với vai trò là Tổng bí thư đảng khi sang Mỹ ông Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt cho tất cả đảng cộng sản. Và khi mà ông Nguyễn Phú Trọng nói, làm những cái việc như là ký những thỏa hiệp với Tổng Thống Mỹ, hoặc là khi ông nói rằng Việt nam (… nghe không rõ)… sự có mặt của nước Mỹ ở vùng biển Đông của nước ta để mà bảo vệ trật tự an ninh và quân bình của vùng đó, thì đó không phải là ý kiến của một cá nhân mà là chính sách của một đảng cộng sản.

Gần đây chính phủ Trung quốc hay nhắc đi nhắc lại rằng nước Mỹ không nên dính tới vùng biển Đông, vì nước Mỹ không phải là một nước ở vùng đó. Bây giờ ông Tổng bí thư đảng cộng sản lại nói rằng Việt nam hoan nghênh sự có mặt của Mỹ để giữ gìn trật tự và hòa bình ở biển Đông thì rõ ràng đây là một sự thay đổi quan trọng trong chính sách của đảng cộng sản.

” Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Kính Hòa: Như vậy nó có ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ Việt nam Trung Quốc hiện nay?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Chắc Trung quốc thế nào họ cũng phản ứng chống lại. Tờ Hoàn cầu thời báo, một ấn bản của Nhân dân nhật báo đã lên tiếng cảnh cáo rằng cái việc mà Việt nam tìm cách liên kết với Mỹ để chống Trung quốc thì chỉ có hại cho Việt nam mà thôi. Đó là một lời đe dọa. Tất cả những điều mà chúng ta chờ đợi bây giờ là phản ứng của đảng cộng sản Việt nam như thế nào trước lời đe dọa đó. Hoặc là họ sẽ có lời tuyên bố ngược lại một cách mạnh mẽ, hoặc là họ cứ để yên cho mọi chuyện cứ tiến hành. Việt nam sẽ từ từ thay đổi, Trung quốc tấn tới đâu thì sẽ phản kháng lại tới đó.

Đó là chuyện diễn tiến sau này, nhưng chắc chắn mối bang giao Việt nam với Trung quốc, hay là mối quan hệ giữa đảng cộng sản Việt nam và đảng cộng sản Trung quốc từ đây sẽ thay đổi chứ không còn như trước nữa.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Kính Hòa: Trong tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt nam và Mỹ lại không có một câu nào về vấn đề nhân quyền. Phải hiểu chuyện này như thế nào?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Ông Obama có nêu ra vấn đề nhân quyền với ông Nguyễn Phú Trọng chứ không phải là không. Tuy nhiên hành động của ông Tổng thống là dựa trên quyền lợi lâu dài của nước Mỹ. Và họ muốn thay đổi tình trạng của thế giới này cho phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ, và những giá trị mà nước Mỹ vẫn tuân theo. Và đó là chuyện lâu dài. Họ biết là họ không thể thay đổi tình trạng nước khác với những áp lực thường xuyên được, và không thể nào mà không chơi với người ta mà khiến cho người ta thay đổi được. Họ là cái nước mạnh, cái nước giàu, và họ sẳn sàng chơi với tất cả mọi người, và họ nghĩ rằng khi mà họ giao thiệp với những nước khác thì họ sẽ giúp những nước khác thay đổi, chứ không nên làm những cái áp lực làm mất hòa khí. Theo tôi hiểu thì nước Mỹ nó không hề thay đổi gì cả.

Kính Hòa: Chuyến đi của ông Trọng có làm thay đổi chính trị nội tại của Việt nam hay không? Và có thúc đẩy sự thay đổi của Việt nam sắp tới hay không?

” Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Cái chính trị nội bộ của đảng cộng sản Việt nam thì tôi nghĩ là không được quyết định từ những can thiệp từ bên ngoài. Nhưng cái việc mà đảng cộng sản thay đổi chính sách với nước Mỹ và với cả Trung quốc, thì cái đó có ảnh hưởng quan trọng đối với chính trị Việt nam, nhưng mà đây là cái chính trị hiểu theo nghĩa là sự tương quan giữa người cầm quyền và người dân Việt nam.

Tất cả những cái đó sẽ qua ngã kinh tế để tạo nên một áp lực lên giới cầm quyền Việt nam. Họ sẽ thấy rằng nếu họ thay đổi theo cái chiều hướng mở rộng dân chủ tự do cho đất nước thì chính họ và con cháu của họ sẽ được hưởng.

Trong thời gian mà đảng cộng sản đổi mới kinh tế đến giờ, thực chất là họ dựa vào cơ cấu thị trường và lợi dụng điều đó để làm giàu. Họ đã trở nên những đại gia giàu có lắm rồi.

Nhưng mà họ có thể bảo vệ được khối tài sản sau mấy chục năm làm giàu đó, có bảo vệ được hay không? Điều đó tùy theo tương lai của đất nước Việt nam sẽ như thế nào.

Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ. Không ai biết chắc là tài sản của mình được giữ đến bao giờ. Không ai biết là cái người sắp lên cầm quyền sẽ làm gì để tước đoạt tài sản của mình.

Chúng ta xem cái cảnh ông Chu Vĩnh Khang bên Tàu. Ông ấy là một người giàu nứt đố đổ vách, thế mà ông Tập Cận Bình ông ấy tước bỏ gần hết.

Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.

Con thường đau khổ vì những gì
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.

Tạ ơn Cha vì những gì
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

http://dongten.net/noidung/2674

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Ngụy Hi – người được xưng là “Thanh sơ tam đại gia” (một trong ba nhà văn lớn hàng đầu của triều đại nhà Thanh) đã từng nói:

“Ta không hiểu biết như thế nào là người quân tử, nhưng nhìn vào khả năng “chịu nhận phần thiệt” trong mỗi sự việc của người ấy là sẽ biết. Ta không biết được như thế nào là kẻ tiểu nhân, nhưng nhìn vào việc “tranh giành phần lợi” của người ấy là sẽ biết.”

Suy ngẫm kỹ càng, thật đúng nó là quanh co như vậy. Có thể chịu thiệt quả là không phải một việc dễ dàng. Cần phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn mới có thể chịu thiệt thòi một cách cam tâm tình nguyện. Tiêu biểu là phải khoan dung độ lượng, chịu nhẫn nhục, co được giãn được (tức là biết ứng phó thích hợp với tình hình cụ thể) thì chính là một quân tử. Chẳng trách mà người xưa dùng tiêu chuẩn “có hay không có khả năng chịu thiệt” là yếu tố đầu tiên để nhận biết người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Ngày xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy đàn. Lúc ông ta sắp lâm chung, con cháu quỳ gối trước mặt ông xin thỉnh cầu lời giáo huấn. Lâm Thoái Trai nói: “Ta không có lời nào khác, chỉ khuyên bảo các con học “chịu thiệt” là được rồi”.

Những người già Trung Quốc cũng thường hay nói “chịu thiệt là phúc”, bởi vì họ biết rõ “Phúc, Lộc, Thọ” ở thế gian con người đều là đổi từ đức mà ra, mà chịu thiệt lại có thể tích đức. Xưa nay, rất nhiều anh hùng, cũng đều do có thể chịu nhịn nhục, chịu thiệt mà làm nên đại sự. Nổi danh nhất chính là Hàn Tín có thể chịu nhục chui háng, có thể nói đó là “chịu thiệt” đến cực điểm, bởi vậy sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.

Trái lại, nếu như luôn luôn khiến cho người khác phải chịu hại chịu thiệt, như thế thì người này chẳng phải là mất đức rồi sao? Làm nhiều việc xấu còn bị trời trừng phạt, thật sự là cái được không bù nổi cái mất.

Biên dịch: Mai Trà

Việt Nam lại ca ngợi chuyện cầm súng chống Trung Quốc

Việt Nam lại ca ngợi chuyện cầm súng chống Trung Quốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Lần thứ hai báo chí Việt Nam tiếp tục đưa tin về việc tưởng niệm những người lính tử trận năm 1984 khi phản công để giành lại các cao điểm bị Trung Quốc chiếm giữ ở Hà Giang.

Hình ảnh những cựu chiến binh của sư đoàn 356 tưởng niệm đồng đội đã tử trận ở Vị Xuyên, Hà Giang vào ngày 12 tháng 7 năm 1984 được đăng trên tờ Tuổi Trẻ.
(Hình: Tuổi Trẻ)

Có tờ báo như Tuổi Trẻ còn cử phóng viên thực hiện một phóng sự liên quan đến sự kiện đẫm máu mà Việt Nam từng tìm mọi cách để làm cho công chúng quên lãng.

Vào ngày 17 Tháng Hai, 1979, Trung Quốc xua quân tràn sang Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học,” bởi bỏ Trung Quốc theo Liên Xô. Sau khi phá sạch, đốt sạch nhiều làng mạc, thị trấn ở các tỉnh tiếp giáp với biên giới của mình, ngày 16 Tháng Ba, Trung Quốc tuyên bố đã rút toàn bộ quân đội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Tuy nhiên, xung đột giữa hai bên tại khu vực biên giới Việt-Trung vẫn còn kéo dài cho đến năm 1989. Trong đó có sáu đợt giao tranh lớn vào các năm: 1980, 1981, 1983, 1984, 1985, 1986 và đợt giao tranh được xem là đẫm máu nhất xảy ra hồi Tháng Bảy, 1984.

Ngày 12 Tháng Bảy, 1984, sư đoàn 356 của Việt Nam đã phản công để giành lại một số cao điểm thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang – lúc đó đã bị Trung Quốc chiếm giữ từ Tháng Tư, 1984. Trong ngày đầu của cuộc phản công này, có ít nhất 600 người lính Việt Nam tử trận. Rất nhiều người cho đến nay không tìm được xác.

Sau khi Việt Nam “bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc” vào năm 1990, cuộc chiến với Trung Quốc trở thành đề tài cấm kỵ. “Tinh thần bốn tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) mà giới lãnh đạo Trung Quốc đề nghị, trở thành kim chỉ nam của giới lãnh đạo Việt Nam trong ứng xử. Không còn ai đả động đến những người lính đã tử trận khi chống Trung Quốc, bảo vệ lãnh thổ.

Bia ghi công sư đoàn 337 của quân đội CSVN đẩy lui quân Trung Quốc hồi
tháng 2 năm 1979, tại đầu cầu Khánh Khê, trên quốc lộ 1B bị đục bỏ những
chữ “quân Trung Quốc xâm lược.” (Hình: Thanh Niên)

Đầu thập niên 2010, do Trung Quốc càng lúc càng càn rỡ và Việt Nam càng ngày càng tỏ ra bạc nhược, hèn yếu, người Việt trong nước bắt đầu đề cập đến họa mất nước và cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược trong giai đoạn từ 1979 đến 1989 được xới lên, nhắc lại như một bằng chứng về dã tâm của Trung Quốc.

Đến lúc đó, người ta mới sửng sốt và phẫn nộ khi phát giác tại khu vực biên giới Việt-Trung, bia ghi công những người lính “thắng quân xâm lược Trung Quốc” và bia tưởng niệm những thường dân bị “quân xâm lược Trung Quốc thảm sát” đã bị đục bỏ.

Cho đến những năm 2012, 2013, các cuộc tưởng niệm những người lính đã tử trận trong các cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược hoặc bị Trung Quốc giết tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa vẫn bị an ninh Việt Nam theo dõi chặt chẽ, sách nhiễu và bị hệ thống truyền thông vu cáo là những hành động nông nổi vì “bị các thế lực thù địch kích động.”

Kể từ năm ngoái, bất kể đã rất cố gắng nhằm chứng tỏ “thiện chí” trong việc gìn giữ nghiêm cẩn “tinh thần bốn tốt” và “16 chữ vàng” nhưng Trung Quốc vẫn lấn tới và trước sự phẫn nộ càng ngày càng lớn của dân chúng, chính quyền Việt Nam bắt đầu nới lỏng chuyện chỉ trích Trung Quốc. Báo chí Việt Nam lại bắt đầu ca ngợi những người lính đã tử trận trong các cuộc chiến chống Trung Quốc như họ đã từng làm lúc chính quyền Việt Nam cần nhiều người cầm súng. (G.Đ.)

Rồi thì cũng phải tin

Rồi thì cũng phải tin

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Trần Phan

Ngày hôm trước, xem một video clip do các trang báo mạng tung ra. Video clip quay cảnh một phụ nữ, do không chịu giao đất cho chính quyền với cái giá rẻ mạt là 65 ngàn VNĐ/m2 để làm khu công nghiệp, trong khi ngăn cản đơn vị thi công đã bị chiếc xe máy xúc cán qua người. Nạn nhân nằm hẳn dưới bánh xích của chiếc xe.

Dù các trang báo mạng này có uy tín, thường đăng tin đúng sự thật, tôi cũng không thể tin nổi. Cảnh tượng quá dã man, và quá mất nhân tính để có thể tin.

Hi vọng về tính người và tình người còn rớt lại trong nước Việt Nam hiện nay đã bị vỡ vụn khi sáng nay đọc tin trên tờ Tuổi Trẻ số 183/2015 (8008), ngày 11/7/2015, trang 3: “Tranh chấp đất đai, máy xúc chèn 1 người dân”. Rốt cuộc rồi cũng phải tin một chuyện như thế này là sự thật!

Người viết rất mong sự thật được chính quyền minh bạch cho công chúng. Dựa theo tin tức của VOA và của báo Tuổi Trẻ về sự kiện thảm khốc trên, người viết xin thảo luận các điểm sau:

1) Ở các nước vẫn có sự kiện thảm sát dã man. Các sự kiện thảm sát do cá nhân tiến hành, chính quyền đứng về phía nạn nhân bị thảm sát và truy tìm, truy tố hung thủ. Trong sự việc đã xảy ra ở nước Việt Nam, chính quyền đứng về phía đối đầu với người dân bị mất đất. Chính quyền tiến hành cưỡng chế tịch thu đất, cho đơn vị thi công tiến vào vùng đất đang tranh chấp, và “chiếc máy xúc lao đến người dân đang đứng chặn, mọi người tán loạn lùi lại phía sau nhưng bà Châm bị ngã xuống đống cát gần đó nên không kịp tránh và bị bánh xích máy xúc chèn lên người”. Cho dù sự việc do đơn vị thi công tiến hành, chính quyền không thể né tránh là người chịu trách nhiệm chủ chốt, bởi vì hung thủ là người của chính quyền, do chính quyền và vì chính quyền.

2) Không chỉ vô trách nhiệm, tính chất mất nhân tính còn khủng khiếp hơn nhiều. Bài báo viết:

Ông Nguyễn Văn Công, phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dDân huyện, và ông Nguyễn Trọng Hiển, phó Trưởng Công an huyện, khẳng định không có chuyện máy xúc chèn qua người bà Châm. Ông Công còn nói: “Những hình ảnh trong clip của người dân không đúng, có thể do góc họ quay hay làm cách gì để ra như thế”. Dân chúng còn có thể tin cậy gì ở những người vô cảm tới vậy!

Ai cũng có thể phạm sai lầm. Cách mà một người xử lí hậu quả sẽ cho biết người đó thực tâm muốn sửa đổi sai lầm hay vẫn tiếp tục sai lầm đó trong tương lai. Phản ứng của chính quyền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương tới lúc này cho thấy họ vẫn sẽ tiếp tục đối đầu với người dân tội nghiệp bị tước đoạt tài sản và cả mạng sống.

3) Huống chi, việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân, có nguồn gốc từ việc “đất đai sở hữu toàn dân và do nhà nước quản lí”, đã xảy ra quá nhiều lần, trên rất nhiều địa phương từ Bắc vào Nam, và đã có quá nhiều hậu quả thương tâm mà người viết thấy không cần nhắc lại. Chỉ muốn hỏi Chính quyền của dân, do dân và vì dân này còn muốn thử nghiệm sức chịu đựng của dân tới bao giờ?

4) Một kinh nghiệm nhân loại mà nhiều người biết: giềng mối và đạo đức đất nước được giữ từ trên cao xuống (from the top), từ chính quyền trung ương ra. Giá trị sống Nhân (có tình người) và Hậu (để đức về sau) là tài sản vô hình và vô giá do đời trước để lại đời sau. Giá trị sống Nhân Hậu không chỉ được riêng dân tộc, mà cả nhân loại xem là giá trị sống cao quí nhất. Với cách cai trị như thế này, giá trị sống Nhân Hậu sẽ tồn tại trong xã hội Việt Nam được bao lâu nữa?

Đại Sứ Ted Osius họp sôi nổi với cộng đồng Việt tại Little Saigon

Đại Sứ Ted Osius họp sôi nổi với cộng đồng Việt tại Little Saigon

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Những hàng ghế tại hội trường của Coastline Community College, Westminster, chiều Chủ Nhật, 12 Tháng Bảy, đầy kín người Mỹ gốc Việt đến tham dự buổi tiếp xúc gặp gỡ cộng đồng của Đại Sứ Hoa Kỳ Ted Osius, chỉ vài ngày sau cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Đại Sứ Ted Osius rút thẻ “nhân quyền” trong túi ra, trong buổi nói chuyện
với cộng đồng Việt Nam ở Little Saigon. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhiều người cho biết đã lái xe từ San Diego, từ Pomona đến từ sáng để kịp có mặt trong buổi gặp gỡ hiếm có và đúng thời điểm này, do văn phòng Dân Biểu Alan Lowenthal tổ chức hết sức chu đáo. Cùng ngồi bàn chủ tọa với Đại Sứ Ted Osius, còn có các dân biểu Ed Royce, Loretta Sanchez, Dana Rohrabacher và dĩ nhiên, Dân Biểu Alan Lowenthal, cùng đến để gặp gỡ cử tri gốc Việt.

Ông Alan Lowenthal được Thị Trưởng Trí Tạ của Westminster giới thiệu là một “Freedom Fighter,” cho biết, “Kể từ ngày Đại Sứ Ted Osius được bổ nhiệm làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông đã hứa là sẽ làm việc chặt chẽ với tôi để đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam được cải thiện.”

Ông nói thêm, “Năm nay, đánh dấu một thời điểm đặc biệt, 40 năm sau khi Sài Gòn thất thủ, là một ‘bắt đầu mới’ (new beginning) cho hai quốc gia, và Việt Nam hiểu rằng, nếu họ muốn thắt chặt bang giao với Hoa Kỳ, thì cần phải cải thiện nhân quyền.”

Dân Biểu Ed Royce nói, “Tôi tin rằng nếu cộng đồng này (cộng đồng người Mỹ gốc Việt) tiếp tục quan tâm, thì tự do tôn giáo và tự do phát biểu sẽ xẩy ra tại Việt Nam. Chúng ta hãy cam kết làm tất cả những gì có thể để điều đó xảy ra!”

Đến phần phát biểu của mình, Dân Biểu Loretta Sanchez đề cập đến việc một phụ nữ biểu tình phản đối việc đền bù giải tỏa bất công, đã bị xe xúc cán lên người, nói “sự kiện này làm tôi rùng mình!” và nhận định, “Nhân quyền tại Việt Nam còn cần phải cải thiện nhiều. Sở dĩ cộng đồng chúng ta (người Mỹ gốc Việt) phải đấu tranh đòi nhân quyền cho Việt Nam là vì người thân của chúng ta còn ở đó.”

“Dĩ nhiên, là người Hoa Kỳ, chúng ta muốn nhân quyền cho tất cả mọi người trên thế giới, nhưng khi đấu tranh cho người thân thì chắc chắc chúng ta sẽ sốt ruột hơn,” bà Sanchez nói thêm.

Thị Trưởng Garden Grove Bảo Nguyễn (phải) đặt câu hỏi với
Đại Sứ Ted Osius. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Dân Biểu Dana Rohrabacher nói rằng ông đồng ý với tất cả những gì các đồng viện của mình đã trình bày, và đề nghị với Đại Sứ Ted Osious, “Trong tiến trình kết thân thêm với Việt Nam, chúng ta hãy đi từng bước một, và đòi hỏi họ đưa ra những cải thiện cụ thể, chẳng hạn yêu cầu họ công bố chính sách mới, trong đó họ cho phép sự có mặt của những tờ báo đối nghịch, cho phép những đảng đối nghịch được hoạt động…”

“Hãy đừng giả vờ là nhân quyền Việt Nam sẽ thay đổi, nếu chúng ta thấy là họ không thể thay đổi!” Dân Biểu Dana Rohrabacher khuyến cáo.

Đại Sứ Ted Osius gần như chiếm ngay được thiện cảm của mọi người khi ông chào hỏi cử tọa và phát biểu khoảng 5 phút bằng một thứ tiếng Việt khá chuẩn. Ông cho biết giờ đây nói được tiếng Việt bằng giọng Bắc, dù khi mới học tiếng Việt chỉ biết nói giọng Nam. Nhiều người bật cười khi ông “khoe” có thể hiểu được người Việt nói với ông bằng bất cứ giọng gì, Nam Trung Bắc.

Nhưng những tiếng cười khá hiếm hoi này nhanh chóng nhường chỗ cho những lời phát biểu hết sức trang nghiêm và mục hỏi đáp sôi nổi.

Về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius bày tỏ rằng ông “lạc quan” vì nhiều lý do. Rồi rút túi đưa ra một cái thẻ to bằng hai danh thiếp chập lại, hai mặt chi chít chữ, khẳng định, “Tôi là một viên chức nhân quyền. Tại tòa đại sứ, nhân viên của chúng tôi đều mang theo cái thẻ này, để nhắc nhở là mỗi nhân viên tòa đại sứ là một viên chức nhân quyền, để nhắc nhở mỗi nhân viên về những điều chúng ta đang yêu cầu chính phủ Việt Nam thực hiện.”

“Trong mọi thảo luận với chính phủ Việt Nam, cải thiện nhân quyền với chúng tôi là một cột trụ then chốt. Chúng tôi đã đề nghị với chính phủ Việt Nam nên cải tổ luật. Chúng tôi sẽ có thành công không? Tôi không biết. Nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng.”

Từ trái, Dân Biểu Dana Rohrabacher, Dân Biểu Alan Lowenthal, Dân Biểu
Ed Royce, và Đại Sứ Ted Osius trong buổi gặp gỡ truyền thông Việt Ngữ.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Đại Sứ Ted Osius đã bắt được chính xác mạch của cộng đồng khi ông nói ngay về nhân quyền, và đó cũng là trọng tâm của buổi hội thảo. Buổi họp kéo dài hai tiếng đồng hồ hào hứng ngay từ câu phát biểu đầu của ông. Lòng quan tâm và nỗi ưu tư sâu xa về đất nước bên kia bờ đại dương của các đồng hương gốc Việt được biểu lộ qua những câu hỏi đủ loại được đưa ra liên tục.

Tại sao nước Mỹ luôn đặt vấn đề nhân quyền với Việt Nam ở mọi mốc quan trọng của quá trình đến gần nhau hơn của hai quốc gia, mà Việt Nam cho đến giờ vẫn chưa có nhân quyền? Phải làm gì để Việt Nam có nhân quyền, có tự do tôn giáo, có tự do phát biểu? Có chắc là Mỹ càng giúp Việt Nam được sung túc, càng giúp Việt Nam bảo vệ được an ninh quốc gia, thì nhân quyền của người dân Việt Nam càng được bảo đảm?

Có câu hỏi được đặt ra như một lời than, câu khác nghe như một lời trách nhẹ nhàng. Đại Sứ Ted Osius đáp trả mọi thắc mắc của cử tọa bằng kiến thức sâu rộng, bằng sự am tường của ông về tình hình Việt Nam, và bằng sự thẳng thắn, trả lời “tôi không biết” khi ông không có câu trả lời, nhưng quan trọng hơn cả, bằng sự cảm thông, ân cần của một nhà ngoại giao tinh tế, nghe được cả tâm tư trĩu nặng của người hỏi.

Các vị dân cử mở đầu phần hỏi đáp.

“Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào bởi những nhóm đấu tranh cho dân chủ cả ở trong nước lẫn hải ngoại?”

“Câu hỏi rất hay!” Đại Sứ Ted Osius nói trước khi trả lời câu hỏi trên của Thị Trưởng Bảo Nguyễn của Garden Grove.

Rồi ông trình bày, “Ảnh hưởng lớn nhất, theo tôi, là khiến giới trẻ Việt Nam mở mang được tầm nhìn của họ. Đó là công việc của các blogger, các cá nhân trên trang Facebook của họ. Những người này cho giới trẻ Việt Nam thấy được một thế giới trong đó người dân có thể chọn được chính phủ, và một nơi họ được phát biểu một cách tự do, bàn thảo với người đồng trang lứa với họ mà không sợ bị kiểm duyệt. Tôi đặt niềm hy vọng lớn vào xã hội dân sự ngày càng phát triển ở Việt Nam, và chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ sự phát triển của các xã hội dân sự.”

Đông đảo người Việt đến nghe đại sứ Mỹ tại Việt Nam nói chuyện.
(Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Một người trong cử tọa đặt vấn đề về tù nhân lương tâm, hỏi rằng làm thế nào để không còn tù nhân lương tâm nữa, chứ không phải chỉ là thả người này rồi bắt người kia.

Đại Sứ Ted Osius đáp, “Hơn lúc nào hết Việt Nam muốn được thịnh vượng và an ninh quốc gia được bảo đảm, Hoa Kỳ là nước duy nhất có thể mang đến cho Việt Nam điều đó. Vì thế theo tôi đây cũng chỉ là vấn đề thời gian. Tôi hỏi họ (chính quyền Việt Nam) quý vị muốn chọn điều gì? Muốn nhốt thêm người vào nhà tù hay muốn có một nền kinh tế thịnh vượng? Muốn nhốt thêm người vào nhà tù hay muốn giới trẻ được đào tạo đúng mức? Theo những cuộc thăm dò của chúng tôi, 92% người được hỏi muốn thân hơn với Mỹ, chỉ khoảng một nửa số đó muốn thân hơn với Nhật, và rất ít những người được hỏi trả lời là muốn thân hơn với Trung Quốc.”

Rồi ông nhấn mạnh, “Đây là thời điểm rất đặc biệt để thúc đẩy sự thay đổi, chúng ta phải cùng nhau nắm lấy cơ hội này, bỏ lỡ cơ hội là lơ là với trách nhiệm.”

Theo sau cuộc gặp mặt với cộng đồng, Đại Sứ Ted Osius có cuộc gặp gỡ riêng với báo chí.

Trả lời câu hỏi là chuyến đi này đã cho ông thấy được điều gì rõ nhất và cuộc tiếp xúc này sẽ ảnh hưởng ông như thế nào trong vai trò một đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius bày tỏ, “Tôi đã nghe được nhiều điều mà trước chuyến đi này cũng đã biết, nhưng phải tiếp xúc, phải gặp gỡ, mới hiểu rõ hơn được tâm tư của người Mỹ gốc Việt, mới cảm nhận được những vết đau vẫn còn đó, mới thấy sự quyết tâm của những người muốn đấu tranh cho nhân quyền cho Việt Nam, và tôi sẽ trở về Việt Nam tích cực hơn trong vai trò xúc tiến việc cải thiện nhân quyền cho Việt Nam.”

Về câu hỏi việc một thành phố Hoa Kỳ kết nghĩa với một thành phố Việt Nam là điều nên hay không nên làm, vẫn với mục đích hỗ trợ nhân quyền cho Việt Nam, Đại Sứ Ted Osius trả lời, “Theo tôi thì khi chúng ta có nhiều người dân ở hai nước qua lại với nhau, đó là điều tốt. Khi chúng ta có nhiều du học sinh giữa hai bên, đó là điều tốt, nói tóm lại quan hệ giữa hai quốc gia không chỉ là quan hệ giữa hai chính quyền, mà còn là quan hệ giữa những người dân với nhau.”

Một nhà báo khác đặt vấn đề về giao thương giữa hai quốc gia, nói rằng mậu dịch giữa hai nước thiếu cân bằng, Việt Nam xuất cảng nhiều hàng qua Mỹ hơn Mỹ xuất cảng hàng qua Việt Nam, và hỏi chúng ta phải làm gì để thay đổi tình trạng đó.

Đại Sứ Ted Osius trả lời, “Chúng ta đã làm cho giao thương cân bằng thêm trong thời gian gần đây. Chúng ta đã ký kết hai thỏa thuận, hàng không Việt Nam sẽ mua của Boeing $7 tỷ tiền máy bay, và VietJetAir sẽ mua của Boeing một số máy bay trị giá $6 tỷ. Hai hợp đồng này tạo nhiều công ăn việc làm cho người Mỹ. Ngoài ra ngành nông nghiệp của chúng ta hơn 50% qua Việt Nam, gồm đậu nành, thịt gà, và nhiều thứ khác. Dĩ nhiên cũng có những sự thiếu quân bình, và chúng ta đang tìm cách giải quyết.

Một nhà báo nhắc đến quan điểm vẫn rất khác nhau giữa Hoa Kỳ và Việt Nam và nhân quyền, và yêu cầu Đại Sứ Ted Osius giải thích tại sao ông có thể “lạc quan” khi một mặt Tổng Thống Obama khi gặp ông Nguyễn Phú Trọng, đã khéo léo nhắc đến việc phải cải thiện nhân quyền thì mới có thể có một quan hệ thân thiết hơn với Mỹ, trong khi đó, ông Nguyễn Phú Trọng, ngay sau đó đã nói rằng người dân Việt Nam chưa bao giờ được hưởng một nền dân chủ tốt hơn bây giờ.

Đại Sứ Ted Osius giải thích, “Tôi đã làm việc trong tương quan của hai quốc gia trong vòng 20 năm qua, và tôi đã thấy có nhiều cải tiến. Những cải tiến này, tuy thế chưa đủ, nhưng tôi vẫn xem là có cải tiến, đó là điều khiến tôi lạc quan. Tôi nghĩ rằng xu hướng hiện giờ đang đi đúng chiều. Tôi cũng tin là quyền của công dân sẽ được cải thiện vì sự có mặt của các công ty Mỹ. Tôi sẽ không đính chính lời phát biểu của ông Nguyễn Phú Trọng hay của bất cứ ai khác. Chứng cớ của những cải thiện trong thời gian qua khiến tôi phấn khởi.”

Dân Biểu Alan Lowenthal tiếp lời Đại Sứ Ted Osius, “Khi đến thăm Việt Nam, tôi có nêu vấn đề với một số lãnh đạo về tù nhân lương tâm. Tôi nói với họ, nếu các ông muốn chúng tôi hỗ trợ thì phải thả hết các tù nhân lương tâm. Họ nói, chúng tôi không có tù nhân lương tâm, đó toàn là những người phạm luật, nhưng rồi họ lại nói có thể luật của chúng tôi cần phải thay đổi. Chính vì thế tôi nghĩ là có thể cơ hội để thay đổi. Đó là một điểm để chúng ta hy vọng.”

Liên lạc tác giả: hagiang@nguoi-viet.com

Việt Nam ‘đồng ý lấp ao trên biên giới với Campuchia’

Việt Nam ‘đồng ý lấp ao trên biên giới với Campuchia’

Quan hệ giữa hai quốc gia Đông Nam Á nóng lên thời gian qua sau khi phe đối lập Campuchia cùng các sư sãi xuống đường phản đối việc Việt Nam

Quan hệ giữa hai quốc gia Đông Nam Á nóng lên thời gian qua sau khi phe đối lập Campuchia cùng các sư sãi xuống đường phản đối việc Việt Nam “cướp đất”.

Hà Nội đã chấp nhận lấp 3 trong số 8 cái ao lớn đào trên biên giới với Campuchia, và sẽ điều tra số còn lại, chính quyền Phnom Penh cho hay.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã “ngưng xây dựng một đồn quân sự trên biên giới với Campuchia”.

Việt Nam chưa có phản ứng trước thông tin được Bộ Ngoại giao Campuchia công bố cho báo giới nước này hôm qua, 10/7.

Thông tin này được công bố sau khi đôi bên kết thúc cuộc họp của Ủy ban Biên giới Hỗn hợp kéo dài 3 ngày.

Cả hai phía không tiết lộ đã thảo luận những vấn đề gì trong cuộc họp, nhưng giới quan sát cho rằng căng thẳng từ các cáo buộc “Việt Nam chiếm đất của Campuchia” chắc chắn nằm cao trong nghị trình.

Một bài báo trên trang web của Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 9/7 viết rằng cuộc họp “diễn ra trong bầu không khí hữu nghị, chân thành, thẳng thắn và hiểu biết lẫn nhau”.

Cuối tháng trước đã xảy ra một vụ xô xát giữa gần 400 người trên vùng biên giới giáp ranh tỉnh Svay Rieng của Campuchia và tỉnh Long An của Việt Nam.

Hơn 200 người Campuchia tới biên giới vì nghi ngờ chính quyền nước láng giềng lấn chiếm đất.

Các bức ảnh chụp tại hiện trường cho thấy nhiều người Việt đội mũ bảo hiểm, cầm gậy gộc và cả súng đứng đối diện với nhiều người Campuchia cầm quốc kỳ và trong số đó có nhiều sư sãi mặc áo cà sa.

Báo chí Campuchia dẫn lời các nguồn tin nói rằng có 10 người Campuchia và 8 người Việt bị thương trên một phần của đường biên giới kéo dài hơn 1.000 km với Việt Nam.

Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình lên tiếng kêu gọi “cơ quan chức năng của Campuchia có biện pháp xử lý thỏa đáng vụ việc, không để những hành động tương tự tái diễn, bảo đảm cho công tác phân giới cắm mốc được tiến hành thuận lợi vì lợi ích chung của nhân dân hai nước”.

Theo The Cambodia Daily, The Phnom Penh Post, MOFA

Báo Việt Nam viết về mặt trận Vị Xuyên

Báo Việt Nam viết về mặt trận Vị Xuyên

Trong khi cuộc chiến biên giới 1979 được nhắc tới nhiều hơn, ít người biết về xung đột 1984

Ngày 12/7 nhiều báo trong nước đã có bài về cuộc chiến biên giới với Trung Quốc năm 1984 tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang.

Trong tháng 4 và tháng 5/1984, Trung Quốc đã mở nhiều chiến dịch dọc biên giới từ Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang đến Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh và chiếm nhiều điểm cao mà trước đó Việt Nam nắm giữ.

Cuối tháng 6/1984, Việt Nam quyết định tổ chức tiến công để giành lại những cao điểm bị Trung Quốc chiếm đóng. Việt Nam đã điều sáu trung đoàn tham gia.

Trong đó trận đánh nhằm giành lại Núi Đất (Trung Quốc gọi là Lão Sơn) ngày 12/7/1984 được cho là một trong các trận đánh đẫm máu và khốc liệt nhất ở Á châu nhiều thập niên trở lại đây tuy nhiên một thời gian dài không được nhắc tới nhiều ở trong nước.

Núi Đất là cao điểm thuộc về Việt Nam sau chiến tranh biên giới 1979, cùng với một cao điểm khác là Núi Bạc (Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn).

Trận đánh giành lại Núi Đất (Cao điểm 1509) cùng một số điểm cao khác do sư đoàn 356 thực hiện đã kết thúc với tổn thất lớn về binh lính cho phía Việt Nam, có tài liệu nói là do bội phản “từ một sỹ quan quân báo cao cấp”.

Núi Đất lúc đó nằm trong lãnh thổ Việt Nam, thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên, nay là tỉnh Hà Giang.

Các tài liệu nói trận đánh bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài tới 17 tiếng đồng hồ.

Con số lính Việt Nam tử trận các nguồn đưa ra không thống nhất, một số nguồn chính thống nói khoảng 600 cán bộ chiến sỹ sư đoàn 356 hy sinh, bên cạnh 400 cán bộ chiến sỹ sư đoàn 316 và 312.

Nguồn nước ngoài thì nói riêng trận Núi Đất con số người thiệt mạng phía Việt Nam là 3.700.

Phần lớn các hài cốt của họ chưa quy tập được.

Tới năm 1992, quân chính quy Trung Quốc mới rút khỏi Núi Đất và Núi Bạc.

Thông tin về giai đoạn xung đột Việt – Trung sau cuộc chiến 1979 ít được nhắc tới ở Việt Nam cho đến bây giờ.

Một số tường thuật năm nay còn gọi cuộc chiến 1984 là do “Trung Quốc xâm lược”.

Hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền vào năm 1999 nhưng mãi tới năm 2009 mới thống nhất được đường biên.

Quá trình đàm phán biên giới đất liền được nói kéo dài hơn 35 năm.

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN

TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA (In       Remembrance of Over 20 Years Serving Prisoners in Federal & State Penitentiaries of Oklahoma

PT. Nguyễn Mạnh San

Thời gian thấm thoát trôi mau như một cơn gió thoảng, vì mới ngày nào đây tôi lãnh nhận nhiệm vụ là một Tuyên Úy Trại Tù (Prison Chaplain), do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Oklahoma City Eusebius J. Beltran chỉ định tôi và kể từ ngày đó đến nay, tôi đã được phục vụ Anh Chị Em tù nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, màu da, liên tục hơn 20 năm qua và trong công tác Mục Vụ Tông Đồ Trại Tù này đã được thi hành một cách tốt đẹp, là nhờ một phần tình nguyện, góp công góp sức, tận tình chung vai sát cánh với tôi trong nhiều năm qua của ông Nguyễn Văn Cường, cựu Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng, thời chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trong nhiêm vụ là Thừa Tác Viên Trại Tù (Prison Minister), cũng do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Beltran chỉ định ông. Rất may mắn nhờ vào thời gian dài liên tục phục vụ tù nhân, mà bản thân tôi đã học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm sống quí giá trên đời, giúp tôi hiểu thấu thế nào mới thực sự là con người có lòng bác ái nhân từ? Thế nào mới thực sự là kẻ gian ác, nguy hiểm cho xã hội? Thế nào mới thực sự là tình ngay lý gian? Tất cả những câu hỏi vấn nạn này, qua sự tâm tình riêng tư của các tội nhân với tôi, cho tôi nhận biết có nhiều điều bí ẩn, éo le, gay cấn, mà cá nhân tôi chưa từng thấy có sách vở nào ghi chép lại những điều này, cho dù sau mấy chục năm tôi ngồi ghế nhà trường từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ.

blank

Phải nói có 2 điều quí trọng và quí giá nhất trong đời tôi, mà tôi đã học hỏi được và rút kinh nghiệm từ Anh Chi Em tù nhân, qua những năm tháng liên tục tôi vào trại tù thăm nom họ, đã tạo cho tôi được 2 đức tính: Kiên Nhẫn và  Im Lặng. Tôi học được tính kiên nhẫn là vì mỗi lần tôi vào thăm tù nhân, nhiều khi tôi phải ngồi chờ đợi hàng nửa giờ, cho tới khi nào cai tù (Rover) đem tù nhân từ xà lim (Cell) đến cho tôi gặp và sau khi tôi hỏi thăm sức khỏe, an ủi tinh thần, rao giảng Lời Chúa và đọc kinh cầu nguyện cho họ xong, thì nhiều khi tôi lại phải chờ đợi thêm hàng nửa giờ nữa, cho tới khi nào người cai tù quay trở lại, để đem họ trở về xà lim. Nhờ vào sự chờ đợi qua nhiều năm tháng vừa kể, nên đã giúp cho bản thân tôi đức tính kiên nhẫn ngoài sức tưởng tượng của tôi. Hơn thế nữa, nhiều khi tôi phải ngồi im lặng từ 10 cho đến 15 phút, để lắng tai nghe nữ tù nhân tâm sự, kể lể cho tôi nghe những nguyên do nào mà họ bị bắt giam, nhất là nhiều khi tôi phải ngồi im lặng rất lâu, đối diện với những nữ tù nhân, mà đương sự chỉ biết thút thít khóc, nghẹn ngào không nói được lời nào, vì đây là lần đầu tiên trong đời bị bắt giam, làm đương sự quá xúc động, nên tôi phải đợi chờ cho đương sự nín khóc, tôi mới có thể bắt đầu khuyên giải đương sư; chắc mọi người cũng thừa biết, là ai cũng thích nói cho người khác nghe, chứ chẳng có ai lại thích ngồi yên lặng để phải nghe người khác nói tràng giang đại hải hay phải ngồi im lặng để nghe tiếng khóc nức nở của người ngồi đối diện với mình, cho dù mọi người vẫn biết rằng: Nói ít nghe nhiều là một điều tốt nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Do vậy, nhờ những trường hơp thường xuyên phải ngồi im lặng như tôi vừa kể trên đây, nên đã tạo cho tôi thành một thói quen, là nói ít nghe nhiều. Hơn thế nữa, tôi còn học được bài học về lòng trung thành, sống chết có nhau của những Anh Chị Em Tù Nhân, trong giới giang hồ tứ chiến, chẳng hạn bây giờ cả hai người đã bị ngồi tù rồi, hay một người ở trong tù, còn người kia còn tại đào, nhưng họ vẫn tìm mọi cách để có thể liên lạc được với nhau, giúp đỡ người bạn trong tù bằng nhiều phương cách kín đáo. Có một điều đặc biệt nhất cho tôi, là được nghe những lời tâm sự nhiệt thành của nhiều Anh Chi Em Tù Nhân, mà họ không sợ nói ra những sự thật vê các hành động tội phạm của họ cho tôi nghe, có thể sẽ bị tiết lộ cho chính quyền biết, để làm bằng chứng buộc tội họ, vì họ hiểu rõ rằng, theo luật lệ hiện hành, những vị tuyên úy trại tù, như Linh Mục, Mục Sư, Phó Tế, chính quyền không được quyền mời những vị này ra trước tòa làm nhân chứng (Witness), để phải khai ra những điều gì mà tù nhân đã tâm sự cho họ nghe ( by US current law, a Prison Chaplain cannot be a witness to testify against a prisoner before the Court). Đối với những phạm nhân hình sự (Criminals), như phạm các tội: Cướp của giết người, tổ chức quy mô đi ăn cướp nhà băng, hiếp dâm, biển thủ, buôn bán sì ke ma túy, trồng cần sa tại tư gia, in bạc giả, giết vợ hay giết chồng với kế hoạch tinh vi vì hận thù hay ghen tuông, sáng chế tại tư gia những viên thuốc kích thích tình dục (Estercy) v.v.., mà người ta thường nói: Đi đêm có ngày gặp ma, hoặc không qua được lưới trời, nên những tội nhân này mới bị bắt vào tù. Thật sự, nếu ai đã từng có thời gian lâu dài gần gũi tù nhân, đều nhận thấy trong số những loại tội phạm vừa kể, có khá nhiều tội nhân có trình độ bằng cấp văn hóa cao, như đã từng là Thẩm Phán, Luật Sư, Bác Sĩ, Kỹ Sư v.v.., có một trí óc thông minh tinh xảo, bằng những mưu kế sắc bén, tính toán kỹ lưỡng trước khi họ hành động, chứ không giống như những tội nhân phạm tội ăn cắp vặt (Shop lifter) trong các cửa tiệm buôn bán quần áo hay trong các siêu thị bán đồ ăn, lái xe say rượu ngoài đường phố (DUI), mua dâm trong các ổ mãi dâm (Prostitute) , tổ chức cờ bạc bất hợp pháp (Illegal gambling) tại tư gia, hối mại (Bribery) nhân viên công lực  v.v..  Do đó, tôi đã thu thập được rất nhiều những câu chuyện tội phạm có thật xẩy ra, về những tệ đoan trong xã hội, giúp tôi am tường nhiều về những mặt trái cuộc đời của Anh Chị Em Tù Nhân, thuộc đủ mọi loại tội phạm; đặc biệt về những Anh Chị Em Tù Nhân trẻ tuổi gia nhập các băng đảng, nên tôi rất thông cảm họ vì nhận thấy đa số tội nhân thuộc thành phần này, trước kia họ là những trẻ mồ côi, không Cha không Mẹ, không có ai dậy dỗ họ hoặc là nạn nhân của những gia đình đổ vỡ, bị Cha hay Mẹ ghẻ đánh đập tàn nhẫn khi còn bé, lớn lên họ trở thành những kẻ mất niềm tin vào những người sống chung quanh họ, nên họ chỉ muốn trả thù đời bằng những hành động côn đồ, gian ác, vô lương tâm, hoặc khi còn trẻ tuổi, họ bị ảnh hưởng bởi chơi với những bạn bè xấu, tụ họp thành những băng đảng, sống ngoài vòng pháp luật, chỉ chuyên môn đi ăn cướp giết người lấy của. Do đó, tất cả những kinh nghiệm trong nhiệm vụ là một tuyên úy trại tù tình nguyện, phục vụ tù nhân liên tục vào những ngày nghỉ cuối tuần, trong suốt thời gian dài hơn 20 năm qua, đã cho tôi những bài học kinh nghiệm cụ thể, quí giá, để nhận biết rõ thế nào là một cuộc sồng tốt lành, hữu ích cho gia đình và cho xã hội. Nhờ vào những kinh nghiệm quí giá này, đã giúp cho tôi vượt qua được những sự khó khăn, trở ngại trong suốt hơn 32 năm tôi phục vụ trong Ngành Tư Pháp Hoa Kỳ, tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ của tiểu bang Oklahoma, đặc trách Luật Sư Đoàn Liên Bang và Nhập Tịch, cho đến ngày tôi về hưu vào lúc tuổi đời đã xế chiều, mang nhiều kỷ niệm đẹp trong tâm tư, nhưng giờ đây chỉ còn là những dư âm muôn vàn nỗi tiếc nhớ.

Tôi tin chắc rằng, trong những ngày còn lại của cuộc đời tôi trên trần thế này, tôi sẽ không bao giờ có thể quên được một vài vụ án tử hình (Death Rows) của người Mỹ, mang nhiều tình tiết éo le, ngang trái, mà trong đó có một vụ tử hình người Việt Nam duy nhất tại Oklahoma City và một vụ các tù nhân VN nổi loạn (Uprising) trong trại tù, mà trong những vụ này, tôi là người được may mắn, trực tiếp tư vấn về tinh thần (Spiritual counseling), chỉ dẫn các thủ tục pháp lý (Legal Procedures) cho các tù nhân. Sau đây tôi xin tuần tự tường thuật lại những chi tiết đặc biệt, đáng ghi nhớ nhất trong suốt hơn 20 năm qua tôi phuc vụ tù nhân, xin được chia sẻ cùng đọc giả về những gì tôi nghe tận tai, thấy tận mắt về Anh Chị Em Tù Nhân. Lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ hoàn toàn đóng vai trò đưa tin (Massenger) đến cho quý đọc giả biết những dữ kiện đã xẩy ra trong mỗi vụ án, đã được liệt kê tội trạng rõ ràng trong hồ sơ truy tố bị cáo (Defendant) ra trước tòa xét xử, do Công Tố Viên (District Attorney) đệ nạp tại Phòng Tố Tụng (Court Clerk Office) và thuật lại những lời tâm sự của tù nhân và những lời tư vấn của tôi đối với các tội nhân trong cuộc, chứ hoàn toàn tôi không hề có ý định phân tích pháp lý của mỗi vụ án (Legal analises for each case), bênh vực cho bị cáo (Defense for the defendant) hay phê phán vụ án (Criticism on the case) đúng hay sai. Trước khi thuật lại những vụ án tử hình, mang nhiều tình tiết éo le ngang trái, tôi xin lược thuật lại vắn tắt một vụ án đánh cướp ngân hàng, mà bị cáo là một người được coi là thông minh, nhanh trí (Smart & quick-minded) với đầy ý chí cương quyết là sau khi mãn hạn tù, anh sẽ ghi tên đi học luật, để trở thành một luật sư với ý nguyện để giúp đỡ tù nhân nào nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư, phải nhờ cậy đến luật sư công như sau:

Anh này vừa học xong bậc trung học, anh bị bạn bè lôi kéo ra nhập một băng đảng, chuyên đi ăn cướp nhà băng. Vì anh là người có ăn học, thông minh lại nhanh trí, anh dược anh em trong băng đảng tín nhiệm, bầu anh lên làm lãnh tụ và 2 lần anh điều nghiên kế hoạch đánh cướp nhà băng đều thành công, nhưng tới lần thứ 3 bị thất bại và bị bắt giam, lãnh án 10 năm tù ở, cộng thêm 5 năm án treo. Khi tôi gặp anh ở trong tù, thì chỉ còn hơn 1 năm nữa là anh mãn hạn tù. Trong thời gian nằm tù, anh cảm thấy bất mãn về lối làm việc chậm chạp, thiếu thiện chí của một số luật sư công (Public Defendant) bào chữa cho tù nhân nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư (Private Attorney), anh liền nẩy ra ý định, là sau khi mãn hạn tù, anh nhất quyết theo học luật để trở thành một luật sư, cãi thí cho tù nhân nghèo. Tôi có hỏi anh lấy tiền đâu ra để học luật, thì anh cho biết là 2 lần anh đánh cướp nhà băng thành công, nên anh đã bỏ số tiền gần 4 trăm ngàn đồng cướp được của nhà băng vào trong một cái chum (Jar), đem chôn dấu cái chum đó xuống sâu dưới lòng đất, đằng sau vườn nhà anh, khi mãn tù anh sẽ đào nó lên. Khoảng 8 năm sau, tình cờ tôi gặp lại anh tại một tiêm ăn, anh cho tôi biết là anh đã lấy được bằng tiến sĩ luật khoa, nhưng anh không hội đủ điều kiện hạnh kiểm, để thi lấy bằng hành nghề luật sư (Bar Examination), vì anh là cựu tù nhân hình sự đang còn nằm trong tình trạng án treo và anh cho biết, anh đang làm việc cho một hãng luật sư tư (Law firm), vì không có bằng hành nghề luật sư nên anh chỉ chuyên ngồi nghiên cứu (Research) các vụ án đã xử, để viết những bài lý đoán (Pleadings) đưa cho luật sư ra tòa bào chữa cho thân chủ. Tôi cũng có hỏi anh ta là làm sao lấy được tiền trong chum đó ra, như anh đã nói với tôi khi anh còn bị giam giữ trong trại tù, vì nhà của anh đã bị tich thu và chính quyền đã cho đem đấu giá căn nhà của anh trước khi anh mãn hạn tù. Anh cho biết anh nhờ người bạn thân của anh đứng tên, mua lại căn nhà này cho anh và anh đã đào cái chum đó lên, trích ra một số tiền để trả nợ số tiền mà bạn anh đã ứng trước mua căn nhà này lại cho anh. Nhờ vậy, anh không cần phải mượn tiền nhà trường, để đi học lấy bằng luật, như ước vọng của anh khi còn ở trong tù và tiếp theo sau đây là Vụ án tử hình người Mỹ thứ nhất:

Người tử tội tên John, có vợ 1 con. Ông là một tín đồ Công Giáo rất ngoan đạo. Ông làm việc cho một hãng thương mại tư, chuyên sản xuất những thuốc diệt trùng sâu bọ và vì ông là một chuyên viên giới thiệu các sản phẩm hóa học của hãng mới chế tạo, nên thường xuyên ông phải đi xa ngoài tiểu bang, vắng nhà mỗi lần ít nhất từ 1đến 2 tuần lễ, để giải thích về sự công dụng tối đa của từng sản phẩm mới được chế tạo này, cho các đại lý của hãng ở những tiểu bang khác biết. Cứ mỗi lần vắng nhà như thế, vợ ông ở nhà với đứa con trai 5 tuổi, lại dẫn trai về nhà ngủ với bà và để giấu kín hành động ngoại tình này của bà, bà cho tiền đứa con đi mua kẹo bánh ăn và dặn nó đừng nói cho bố biết chuyện này khi bố nó trở về nhà. Đúng là đi đêm cho lắm thì cũng có ngày gặp ma. Một hôm ông nhận được lệnh phải trở về hãng gấp vì cần phải có mặt ông ở hãng, ông liền đáp máy bay trở về trình diện hãng trước tiên và giải quyết xong mọi việc, ông lái xe từ hãng trở về nhà, nhưng lại quên không gọi điện thoại báo tin cho vợ biết trước là ông đang trên đường về nhà, khi ông mở cửa bước vào nhà, nhìn vào trong phòng ngủ, thì thấy một tên trai trẻ đang nằm ôm vợ ông trên giường. Ông cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, đi ra ngồi phòng khách, chờ đợi vợ ông ra gặp ông để hạch hỏi tội, trong khi đó tên trai trẻ kia, vội vàng mặc quần áo, lặng lẽ chuồn đi cửa sau mất dạng. Vì bị bắt quả tang với hành động ngoại tình, nên người vợ liền quỳ gối xuống trước mặt ông, khóc lóc thảm thiết, xin ông tha thứ và hứa sẽ không bao giờ dám tái phạm hành động này lần thứ hai nữa, ông đồng ý tha thứ cho vợ lần đầu. Thế nhưng khổ một nỗi là vợ ông đã ăn quen nhiều nhưng nhịn không quen và mới chưa đầy một tháng sau, ông trở về nhà bất thình lình, lại bắt gặp quả tang cảnh tượng vợ mình y hệt như lần trước, nhưng với thằng trai trẻ khác, cũng diễn ra trong phòng ngủ của hai vợ chồng ông. Ông cho tôi biết, đáng lý lần này ông định rút súng, tặng một phát đạn ân huệ cho đôi gian dâm phụ này về chầu diêm vương, nhưng bất chợt ông bình tâm suy nghĩ lại, vì thương đứa con trai còn nhỏ dại, không muốn cho nó bị mồ côi Cha Mẹ, phải đi ở với Cha Mẹ nuôi, vì ông suy đoán trước, là sau khi giết vợ và tình địch rồi, thì chắc chắn ông sẽ bị lãnh án tối đa tử hình hoặc chung thân khổ sai trong nhà tù, nên ông đành phải quyết định ly dị vợ và mặc dầu vợ ông phạm tội ngoại tình, nhưng tòa án vẫn phán quyết cho vợ ông được nuôi con, còn ông được quyền đón con về nhà ông vào những ngày cuối tuần.

Sau hơn 10 năm sống cảnh độc thân tại chỗ và lúc này con trai ông đã 16 tuổi, bất chợt ông nhớ lại một câu nói trong Kinh Thánh: Đàn ông sống một mình không tốt, nên trong một chuyến đi công tác xa tại tiểu bang California, ông gặp một cô gái gốc Mỹ lai Mễ, cô này mới 18 tuồi, xinh đẹp như nàng tiên giáng trần, có thân hình gợi cảm như nữ thần tình ái Venus, vì mê sắc đẹp tự nhiên, không trang điểm phấn son của cô, ông liền ngỏ lời muốn cưới cô làm vợ. Cô cho ông biết là cô đã có một người bạn trai rất thân, hơn cô 2 tuổi, cũng tỏ tình yêu cô và anh ta muốn cô chờ anh 2 năm nữa khi anh ra trường, anh sẽ cưới cô làm vợ, nhưng cô vẫn chưa nhận lời đề nghị này. Nay mới gặp ông lần đầu tiên, cô đã cảm thấy yêu mến ông, mặc dầu ông lớn hơn cô tới 2 con giáp, nhưng ông là người hào hoa phong nhã, giầu có, nên cô bằng lòng lấy ông làm chồng, nhưng với điều kiện cho phép cô thỉnh thoảng được giao tiếp với người bạn trai này của cô trước mặt ông, chỉ trong tình bạn hữu mà thôi. Ông bằng lòng ngay với điều kiện này của cô đưa ra và ông còn nói thêm, là người bạn trai này gặp cô trước mặt ông hay vắng mặt ông ở nhà, cô cứ việc thù tiếp anh ta, ông sẽ không ghen tuông gì cả, nhưng ông nhấn mạnh ngoài người bạn trai này ra, cô không được phép giao tiếp với bất cứ người đàn ông già trẻ lớn bé nào khác. Ông tâm sự cho tôi biết, thực ra ông lấy cô này hoàn toàn chỉ vì sắc đẹp quyến rũ mê hồn của cô như một pho tượng sống động, tuyệt tác lõa thể, biết thốt ra những lời yêu đương chìu mến bên tai ông, sau những giờ ông đi làm về nhà mệt mỏi; chứ thực sự không phải ông lấy cô ta vì ham muốn tình dục, vì sau ngày ông ly dị người vợ đầu tiên, không hiểu tại sao ông bị mắc chứng bệnh liệt dương (Impotent), kéo dài cho tới nay đã hơn 10 năm rồi. Vậy giả thử sau khi lấy cô về làm vợ, nếu cô ta có ăn nằm với người bạn trai trẻ này, thì ông cũng cảm thông cho hoàn cảnh sinh lý đòi hỏi của lứa tuổi dậy thì và sẵn sàng tha thứ cho cô, trong khi thể xác ông ở trong tình trạng bất lực, không thể nào đáp ứng nhu cầu tình dục đòi hỏi của cô được, nhưng miễn sao cô không được phép ngủ chung chạ với bất cứ những tên già trẻ nào khác, ngoại trừ người bạn trai của cô mà ông đã cho phép, ông mong rằng đừng giống như trường hợp người vợ đầu tiên của ông, đã lỗi phạm nhiều lần ăn nằm với nhiều tên trai trẻ, nên ông đành phải ly dị và nếu cô cũng lỗi phạm như vậy, thì ông không thể nào cứ tiếp tục tha thứ cho cô được.

Thế rồi chỉ một tháng sau, ông tổ chức đám cưới với cô thật linh đình, ở một nhà hàng sang trọng, nhưng không được tổ chức Nghi Lễ Hôn Phối lần thứ hai trong Thánh Đường, vì nghi thức hôn phối với người vợ trước của ông chưa được Tóa Án Hôn Phối Công Giáo ban bố án lệnh triệt tiêu. Ông tặng  cho cô dâu một chiếc nhẫn cưới hột xoàn và một chiếc xe hơi convertible sport đắt giá mới toanh. Nhưng cuộc tình duyên lần thứ hai này của ông kéo dài mới được gần một năm, thì 2 lần ông đi công tác xa về nhà bất thình lình, đều bắt quả tang vợ ông ngủ với trai và mỗi lần như thế với tên trai trẻ khác nhau, chứ không phải là cậu trai trẻ bạn của vợ ông trước khi cô lấy ông, mà ông đã cho phép được quyền đến thăm vợ ông, như mới kể ở trên đây. Lần đầu tiên ông bắt gặp vợ ngủ với tên thứ nhất, ông đã định tặng cho nó một phát đạn, nhưng đến khi bắt gặp vợ ngủ với tên thứ hai, thì khiến ông suy nghĩ lại, là làm sao có thể bắn chết một lúc cả hai tên được, vì bắn tên thứ nhất chết, chưa kịp bắn tên thứ hai, thì có thể ông đã bị bắt giam vào tù rồi, nên ông quyết định là phải giết vợ mình, để trừ tận gốc tội ngoại tình của vợ, ai bảo nàng ham mê tình dục với những chàng trai trẻ. Ông đặt kế hoạch giết vợ bằng cách cho tiền người bạn trai của vợ ông đến giết nàng, trong khoảng thời gian ông đi công tác xa nhà 2 tuần. Ông nghĩ làm như thế, chính quyền không biết ông là kẻ chủ mưu giết vợ và lại dễ dàng cho anh chàng bạn nàng, đến nhà tỏ tình thân mật như mọi khi với vợ ông, mà nàng sẽ không hề có ý nghi ngờ anh này âm mưu đến giết nàng. Sau phút ái ân với vợ ông, thừa lúc cô ngủ thiếp đi, anh dùng túi nylon chụp kín từ đầu đến cổ nàng, rồi kéo 2 đầu sợi giây, đã gắn sẵn vào túi nylon, xiết thật chặt, làm nàng nghẹt thở, từ từ rẫy chết trong im lặng, không ai nghe thấy tiếng nàng la lên kêu cứu. Chỉ vài ngày sau, nhà chức trách tìm ra manh mối, cà hai người đều bị bắt giam và qua lời thú tội của chàng trai này, kẻ chủ mưu giết vợ là người chồng, nên ông bị lãnh án tử hình.

Gần 10 năm trời, ông ở trong tù chờ kết quả kháng cáo lên các tòa án liên bang cấp cao hơn, để hy vọng được giảm án xuống còn chung thân, nhưng cuối cùng các đơn kháng cáo của ông đều bị tòa án tối cao Hoa Kỳ bác bỏ và gần đến ngày ông bị hành quyết bằng cách cho chich thuốc độc (Injection), thì ông bị đau nặng và chết một cách nhanh chóng, có lẽ nhờ sự ăn năn sám hối thật lòng của ông suốt gần 10 năm trong trại tù và suốt hơn 2 năm ông bi giam cầm trong trại tạm giam (Jail) là nơi tôi phục vụ, cứ mỗi lần tôi đến an ủi ông, đọc Phúc Âm cho ông nghe, cho ông rước Mình Thánh Chúa, thì ông đều tập họp được ít nhất từ 5 đến 10 anh em tù nhân khác, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc đến nghe tôi thuyết giảng Lời Chúa, trong số này có một anh thanh niên người Ấn Độ theo đạo Phật, xin tôi lập thủ tục cho anh được rửa tội theo đạo Công Giáo, rất tiếc chưa kịp hoàn tất thủ tục rửa tội cho anh, thì anh bị thuyên chuyển đến trại tù liên bang ở tiểu bang Pennsylvania.

Khoảng vài tháng trước khi ông lìa trần vì bệnh, tôi được gặp lại ông một lần chót. Trong dịp này tôi có tỏ bầy lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với ông, vì trong suốt thời gian hơn 2 năm ông bị giam cầm trong trại tạm giam Oklahoma County jail, mỗi cuối tuần tôi vào thăm tù nhân tại đây, chính ông là người đã quy tụ được một số anh em tù nhân khác đến nghe tôi rao giảng Lời Chúa, nhờ thế những anh em này đã tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình, để cùng nhau đọc kinh cầu nguyện xin Chúa tha tội cho họ. Nhân dịp này, ông cũng tâm sự cho tôi biết, giá ông cứ coi vợ ông như một bông hoa hồng xinh tươi, tỏa ra mùi hương ngào ngạt, mọc trong vườn hoa công cộng, để bất cứ ai muốn đến ngắm nhìn bông hoa và muốn thưởng thức mùi hương thơm của bông hoa thì đến, như ông đã cho phép chàng trai trẻ bạn của vợ ông được độc quyền đến thưởng thức mùi hoa thơm của nàng, thì ngày nay đâu đến nỗi ông phải lãnh bản án tử hình. Có một điều đau đớn hơn nữa cho ông, là trong khi ông ở tù được 5 năm, thì người con trai yêu quí duy nhất của ông 21 tuổi và là con trai của người vợ đầu tiên mà ông đã ly dị, cũng bị ở tù cùng trại tạm giam với ông, về tội bán cần sa ma túy, mà tôi đã viết lại câu chuyện tình cảm rất ly kỳ của cậu con trai ông, yêu một nữ tù nhân là một thiếu phụ đã có 2 con, hơn cậu 9 tuổi, ở cùng trong trại tạm giam với cậu, nhưng chưa bao giờ hai người thấy mặt nhau, mà chỉ nói chuyện hàng đêm với nhau qua ống thoát nước cầu tiêu, từ lầu 5 xuống lầu 4 và từ lầu 4 lên lầu 5. Câu chuyện này có tựa đề là: Tình Đầu Cũng Là Tình Cuối, trang 311, trong cuốn Tuyển Tập Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng (Sách tặng không bán) và trên trang mạng điện tử cũng như trên một số báo chí cách đây hơn 2 năm. Rồi sau 3 năm ông qua đời, cậu con trai ông, không biết vì lý do bí ẩn gì, cậu đã treo cổ tự vận trong trại giam, trong khi người yêu của cậu vẫn còn trong tù. Có một điều đặc biệt tôi cần nói ra đây, là cậu con trai này đẹp trai như nam tài tử James Dean và người yêu của cậu cũng có giáng điệu đẹp hồn nhiên như nữ tài tử Julie Andrews, Tuy hai người chưa bao giờ thấy mặt nhau, nhưng nhờ sự thăm viếng nhiều lần của tôi với cặp tình nhân không chân dung này, họ đã yêu cầu tôi miêu tả hình dáng của mỗi bên cho họ nghe và họ đã hứa hẹn với nhau qua ống tháot nước cầu tiêu là, sau khi mãnh hạn tù, họ sẽ làm đán cưới với nhau. Thôi cũng là điều phúc đức cho ông John, đã được Chúa gọi ông về sớm với Ngài trước khi bị hành quyết, chứ nếu ông còn sống tới khi ông nghe được tin con mình treo cổ tự vận, thì có lẽ ông sẽ bị đứng tim (heart attack), chết theo con mình, vì khi ông còn sống, ông vẫn thường nói với tôi và với các bạn tù nhân của ông trong trại tạm giam Oklahoma County Jail, là cậu con trai duy nhất này của ông, ông coi nó là một bảo vật quí giá nhất trên đời ông.