Ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm VN

Ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm VN

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2015-07-25

Ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm VN Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

HN5-622.jpg

Ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm VN

Nhiều người tại Hà Nội hưởng ứng ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm trong nước hôm 25/7/2015.

Courtesy DLB

Your browser does not support the audio element.

Nhiều người tại Việt Nam hôm nay hưởng ứng ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm trong nước. Thực tế diễn ra thế nào tại các địa phương ở Việt Nam?

Hưởng ứng

Sau khi có kêu gọi tiến hành ngày tổng tuyệt thực, một số nhà hoạt động ở Việt Nam công khai địa điểm sẽ tiến hành tuyệt thực trên khắp ba miền.

Cụ thể tại khu vực Hà Nội có thông báo từ 8 giờ sáng ngày 25 cho đến 8 giờ sáng ngày 26 tháng 7 hoạt động tuyệt thực kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm tại Việt Nam sẽ được tiến hành tại công viên Bách Thảo, đường Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình. Tại Nha Trang là ở công viên bờ biển Trần Phú, và tại Sài Gòn là tại văn phòng Công Lý- Hòa Bình, Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng.

Ngoài ra còn một số người ở các địa phương khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng cho biết tiến hành tuyệt thực tại gia.

Tuyệt thực – tọa kháng

Đúng ngày giờ đã thống nhất những người tham gia tuyệt thực để kêu gọi trả tự do cho những tù nhân lương tâm tại Việt Nam thực hiện kế hoạch của họ; dù một số bị an ninh ngăn chặn không cho ra khỏi nhà. Ngoài ra một số người cho biết công viên Bách Thảo, cũng như vườn hoa Mai Xuân Thưởng tại Hà Nội vào sáng ngày 25 tháng 7 bị lực lượng chức năng phong tỏa.

” Chúng tôi chỉ là 19 người trong số hằng trăm người tham gia ngày tuyệt thực tại Việt Nam. Vì vẫn biết sự sách nhiễu của nhà cầm quyền Việt Nam nên chúng tôi phải chia ra từng nhóm nhỏ. Nhóm này do chị Sông Quê và tôi khởi xướng có tên là ‘Tuyệt thực và Dã ngoại’.
-Anh Trương Minh Tam”

Anh Trương Minh Tam, một cựu tù nhân, tham gia ngày tổng tuyệt thực ở khu vực Hà Nội cho biết hoạt động tại đó vào lúc gần 11 giờ như sau:

“Chúng tôi chỉ là 19 người trong số hằng trăm người tham gia ngày tuyệt thực tại Việt Nam. Vì vẫn biết sự sách nhiễu của nhà cầm quyền Việt Nam nên chúng tôi phải chia ra từng nhóm nhỏ. Nhóm này do chị Sông Quê và tôi khởi xướng có tên là ‘Tuyệt thực và Dã ngoại’. Vào buổi sáng chúng tôi đến dâng hương cho các bậc tiền nhân là đền thờ An Dương Vương; chúng tôi hy vọng những suy nghĩ của chúng tôi sẽ được linh nghiệm bởi những bậc tiền nhân. Chúng tôi thấy đúng là có sự linh nghiệm vì sáng hôm nay ở Hà Nội trởi đổ mưa rất lớn; nhưng khi chúng tôi bước vào đền làm lễ thì thời tiết bên Đông Anh, tại di tích Cổ Loa thời tiết rất tốt. Chúng tôi đã tiến hành căng băng rôn thể hiện tinh thần chia sẻ với các tù nhân lương tâm, kêu gọi – thúc giục chính quyền Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do biểu đạt của chúng tôi.

Chúng tôi thực hiện đúng cam kết với ban tổ chức cuộc tuyệt thực là đúng thời điểm từ 8 giờ cho đến nay chúng tôi chỉ sử dụng nước sạch. Chúng tôi chuẩn bị đầy đủ hậu cần cho đoàn gồm nước sạch, khăn ướt, khăn khô.

Chúng tôi rất vui khi chúng tôi thực hiện chương trình tuyệt thực thì tại Cổ Loa cũng đang có lễ hội, và rất nhiều người tò mò quan tâm đến sự kiện của chúng tôi và chúng tôi hy vọng tinh thần đó sẽ lan tỏa trong nhân dân.

Cũng giống như tại các khu vực khác thì có một số an ninh từ Hà Nội hay khu vực kéo sang; tuy nhiên chúng tôi cũng ghi nhận là đến thời điểm này họ cũng đối xử với chúng tôi hết sức ôn hòa, chưa có động thái sách nhiễu nào với chúng tôi.”

aT-SG2-400.jpg

Nhiều người tại Sài Gòn hưởng ứng ngày tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm trong nước hôm 25/7/2015. Courtesy DLB.

Bốn nhà hoạt động tại khu vực trung miền trung cũng tiến hành tuyệt thực và tọa kháng tại tư gia của anh Nguyễn Đức Quốc ở thị trấn Lăng Cô. Chủ nhân cho biết:

“Chúng tôi tuyệt thực tại tư gia của tôi là 284 Lạc Long Quân thị trấn Lăng Cô, Huế. Cuộc tuyệt thực của chúng tôi gồm 4 anh em: Nguyễn Đức Quốc, kỹ sư-blogger Nguyễn Văn Thạnh, kỹ sư – blogger Lê Anh Hùng và bạn trẻ Nguyễn Thái Sơn ở Đà Nẵng. Chúng tôi bắt đầu cuộc tuyệt thực vào lúc 8 giờ sáng nay, 25 tháng 7, 2015 cho đến sáng ngày mai 26 tháng 7.

Chúng tôi tọa kháng tại tư gia và chuẩn bị tất cả nếu có điều gì xảy ra với chúng tôi thì sẽ có tiếng nói của mình để phản ánh sự làm khó của nhà cầm quyền nhưng thực sự hôm nay chúng tôi không bị làm khó.”

Những người tham gia tuyệt thực tại thành phố Nha Trang gồm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trương Hoàng Anh, Nguyễn Phi Tâm, Võ Trường Thiện, Phạm Văn Hải bị lực lượng an ninh ngăn trở và thậm chí hành hung.

Anh Phạm Văn Hải cho biết khi đang có mặt tại Phường Lộc Thọ:

“Khi tôi ra chỗ công viên ở đường Trần Phú thì có công an hình sự, cảnh sát giao thông chặn xe lại đưa tôi về công an phường Lộc Thọ làm việc. Ban đầu họ hỏi thì tôi cung cấp một số thông tin cần thiết; nhưng từ 10:30 giờ thì tôi tuyên bố không nói chuyện nữa để tiết kiệm năng lượng còn lại cho ngày tuyệt thực. Tôi sẽ tuyệt thực tại đây.”

Tại Sài Gòn, những người thoát được sự ngăn trở của lực lượng an ninh không cho ra khỏi nhà đến được tại Văn phòng Công Lý- Hòa Bình, Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế cũng tiến hành được cuộc tuyệt thực như lời kể của ông Đinh Quang Tuyến sau đây:

” Nói chung rất nhiều thành phần. Không khí rất vui, có thể nói so với một số nơi khác thì Sài Gòn yên ổn hơn. Ai bị ngăn rồi thì ở nhà, còn ai không bị ngăn, thoát được thì đến được Nhà thờ là nơi an toàn không bị quấy nhiễu.
-Ông Đinh Quang Tuyến”

“Hiện tại bên hông Nhà thờ có hơn 40 người, hồi sáng khoảng 30 nay tăng thêm mười mấy người nữa, có cả dân oan. Nói chung rất nhiều thành phần. Không khí rất vui, có thể nói so với một số nơi khác thì Sài Gòn yên ổn hơn. Ai bị ngăn rồi thì ở nhà, còn ai không bị ngăn, thoát được thì đến được Nhà thờ là nơi an toàn không bị quấy nhiễu. Dù cho đến bây giờ lực lượng an ninh ngồi trước Nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế cũng chừng mười mấy-hai chục người nhưng họ không dám manh động so với những nơi khác.

Chúng tôi chỉ chào hỏi, nói với nhau về nhân quyền, nói với nhau về vấn đề tù nhân lương tâm và nói với nhau về ý chí cũng như dự định tương lai. Hôm nay chúng ta gặp nhau một cách hữu cơ và chúng ta nên không chỉ làm một lần mà làm đi, làm lại nhiều lần vì lúc này chúng ta có sự quan hệ hữu cơ rồi, tạo được niềm tin, tạo được sự hứng khởi ban đầu rồi; trong tương lai cứ thế mà phát triển.

Không khí ở đây rất thân thiện, rất lạc quan. Hiện có nghệ sĩ Kim Chi, toàn bộ Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng ở đây; rồi nhiều người lắm.”

Thông tin kịp thời lên mạng xã hội

Những người tham gia cuộc tổng tuyệt thực toàn cầu kêu gọi trả tự do cho tù nhân lương tâm tại Việt Nam vào ngày 25 tháng 7 đã đưa những hình ảnh cuộc tuyệt thực lên các trang mạng xã hội cũng như các mạng truyền thông công dân để chia sẻ việc làm của họ.

Ngoài việc tuyệt thực, khi tập trung lại với nhau những người tham gia còn trao đổi với nhau về kinh nghiệm đấu tranh, cách thức luyện khí công để bảo toàn sức khỏe khi tuyệt thực…

“Đến giờ trưa bình thường là mọi người ăn cơm thì nghệ sĩ Kim Chi sẽ chia sẻ phương pháp khí công – thở để điều tiết cơ thể giúp thích ứng được việc tuyệt thực không có hại cho sức khỏe.”

Nhà hoạt động Đinh Quang Tuyến ở Sài Gòn cho biết những người tham gia nhận thức rõ ràng các quyền tự do, dân chủ không phải tự trên trời rơi xuống mà phải đấu tranh hy sinh xương máu để có được.

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Ăn cắp ở Thụy Sĩ sao bằng ở Hà Nội

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Khi đọc bản tin hai du khách người Việt bị bắt vì ăn cắp ở mấy đôi kính mát ở Zurich, Thụy Sĩ tôi rất buồn. Ðã đi tính ăn cắp tại sao hai cháu không làm ăn “quy mô lớn xã hội chủ nghĩa” mà lại đi ăn cắp vặt như vậy? Về Hà Nội, “phấn đấu vào đoàn,” rồi “phấn đấu vào đảng” để làm những vố lớn có hơn không? Nếu sau này không được như Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, thì ít nhất cũng theo gót được Nguyễn Xuân Sơn chứ?

Sau Nhật Bản, Thái Lan, Ðài Loan, từ nay lại thêm Thụy Sĩ là nơi người ta phải cảnh giác khi thấy du khách người Việt Nam. Sỉ nhục cho cả dân tộc! Nhưng nghĩ cho cùng, không phải mấy cá nhân phạm pháp gây ra mối nhục này; họ cũng là nạn nhân. Chính phạm là một chế độ ăn cắp từ trên xuống dưới, lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ!

Khi trở về Hà Nội, chắc hai cháu đã nghe tin Nguyễn Xuân Sơn. Mấy bữa trước còn chễm trệ trên ghế chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia (PetroVietnam), giờ Sơn đang bị truy tố về tội “làm mất” 800 tỷ đồng (tương đương 36 triệu Mỹ kim) của công ty dầu khí, khi còn làm tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Ðại Dương (OceanBank).

Nguyễn Xuân Sơn đã làm trong ngành dầu khí từ 30 năm. Ông trở thành tổng giám đốc OceanBank sau khi PetroVietnam góp số vốn lớn vào ngân hàng này, có lúc chiếm hai phần ba vốn góp. Một công ty dầu khí lại đi khai thác ngân hàng, cũng như một công ty hàng hải Vinashin đi làm khách sạn, mua địa ốc, vân vân. Ðó là chính sách kinh tế quốc doanh của Nguyễn Tấn Dũng: Chúng mày làm cái gì ra tiền thì cứ làm! Trong một năm từ 2008 khi Nguyễn Xuân Sơn nhậm chức, số nợ xấu của OceanBank tăng gấp 9 lần, lên hơn 100 tỷ đồng! Ðến năm 2012 thì vọt thành 700 tỷ. Nợ xấu là những món tiền ngân hàng cho vay nhưng khó đòi lại được, để lâu “cứt trâu hóa bùn.”

Thế thì 100 tỷ đồng năm trước, 700 tỷ đồng bạc năm sau, chúng chạy đi đâu cả? Chắc chắn nó vào túi những thằng đứng vay cũng như những thằng cho vay! Cái đứa chấp thuận cho vay còn phải “đóng hụi chết” cho những đứa ngồi trên đầu nó nữa, chứ không ai cho ngồi vào những cái ghế béo bở!

Nhưng mà các đồng tiền ấy nguyên thủy chúng ở đâu mà ra? Như trong vụ này, họ lấy tiền của PetroVietnam đưa qua cho OceanBank. Mà PetroVietnam kiếm được tiền nhờ bán dầu của nước Việt Nam, của dân Việt Nam. Ðồng tiền của dân chạy sang một ngân hàng của nhà nước, rồi từ đó chạy qua túi những đứa đứng vay tiền và cho vay tiền! Những người “phấn đấu vào đảng” nới có cơ hội hóa phép cho các đồng tiền chạy lòng vòng, cuối cùng biến chúng lọt vô túi mình một cách dễ dàng như vậy! Ngân hàng chỉ là cái dây chuyền đem tiền của dân vào túi bọn tham nhũng! Hàng ngàn tỷ đồng tiền mất tích! Mà 90 triệu người Việt Nam không ai thấy gì cả, cho tới khi chúng nó đánh lẫn nhau! Ðó là phép lạ kinh tế thị trường theo định hướng ăn cắp!

Nguyễn Xuân Sơn đã trở về PetroVietnam khi nợ xấu mới lên tới 700 tỷ, rồi leo lên đến chức chủ tịch, chứng tỏ cán bộ tài chánh này đã được cấp trên tán thưởng và tin cậy. Nhưng với những món nợ không đòi lại được cao ngất nghểu thì tất nhiên sau khi Sơn chạy rồi, OceanBank chỉ còn đường xuống dốc. Từ cuối năm ngoái, những người kế nghiệp ông ta ở ngân hàng là Hà Văn Thắm và Nguyễn Minh Thu đã bị bắt, bị truy tố. Mới đây, ngân hàng trung ương gọi là Ngân hàng Nhà nước báo tin đã mua lại tất cả vốn và nợ của OceanBank với giá 0, số không, zero đồng! Tức là tất cả số vốn do PetroVietnam góp vô đó tan thành mưa bụi, thành mây khói. Ðây không phải là lần đầu có chuyện này mây mưa như vậy. Năm tháng trước, Ngân hàng Nhà nước mới “mua lại” Ngân hàng Xây dựng với giá cũng zero đồng – chủ tịch cũ Phạm Công Danh với tổng giám đốc Phan Thành Mai đã bị bắt vào năm ngoái!

Ðọc những tin tức trên, chúng tôi tội nghiệp hai cô chú bị bắt ở Zurich, hay những người ăn trộm chó bị bắt ở Ðài Loan, những cô tiếp viên phi hành xinh đẹp bị cùm ở Nhật Bản! Toàn là những món trộm cắp lặt vặt, không bao giờ tiến lên chủ nghĩa xã hội được! Mà bọn họ tất cả đều là nạn nhân, vì họ chỉ nhiễm độc thói sống bằng cách ăn cắp, thăng quan tiến chức nhờ ăn cắp, trong một xã hội mà bọn cầm đầu từ trên xuống dưới đứa nào cũng phải ăn cắp!

Nhắc lại: Phải ăn cắp! Vì không ăn cắp thì không sống được trong hệ thống “đạo kiếp trị” (kleptocracy) đó. Một người cháu sống ở Hà Nội đã giải thích cho tôi tại sao đường sá ở Việt Nam mới làm năm trước năm sau đã hư: “Khổ lắm bác ơi; nước mình nó khác nước Mỹ! Nếu bác làm đường mà cả mười năm không chỗ nào hư hỏng thì chúng nó làm thế nào kiếm ăn được? Không đứa nào nó cho bác trúng thầu đâu! Mỗi năm chúng nó phải kiếm một món về đường sá, một món về trường học, một món nhờ chỗ này, nhờ chỗ khác chớ?”

Ai cũng biết Hồ Chí Minh không phải là tác giả câu “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân.” Nhưng chế độ cộng sản do ông lập ra ở nước ta đã đẻ thêm được một kế mới, Quản Trọng đời xưa không thể nào bịa ra được: “Niên niên chi kế mạc như tu lộ!” Thế là “Người người ăn cắp, ngành ngành ăn cắp,…” Nền văn hóa ăn cắp xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ bản này: Nhìn lên trên thấy đứa nào cũng ăn cắp, những người lương thiện tự hỏi: Tại sao mình “ngu” mãi để cho cái chúng nó thèm thuồng? Thèm từ đôi kính mát Gu gu Chi chi chi đó!

HÃY CHO HỌ ĂN

HÃY CHO HỌ ĂN

AM. TRẦN BÌNH AN

Trích EPHATA 651

Vào một đêm nọ, có một người đàn ông đến nhà chúng tôi và nói: “Có một gia đình với tám đứa con. Họ đã chẳng có gì ăn suốt mấy ngày nay.” Tôi đem theo môt ít thức ăn và ra đi. Khi tôi đến gia đình đó, tôi thấy khuôn mặt của những đứa bé méo xệch đi vì đói. Không có một nỗi buồn đau nào trên những gương mặt ấy, chỉ có vết hằn sâu của sự đói khát. Tôi đưa gạo cho người mẹ. Bà chia túi gạo ra làm hai, rồi đi ra ngoài, mang theo một nửa. Khi trở lại, tôi hỏi: “Chị đi đâu vậy ?” Bà bình thản trả lời: “Sang những người hàng xóm của tôi, họ cũng đang đói !” Tôi không ngạc nhiên vì bà đã san sẻ số gạo ấy, vì quả thực những người nghèo rất hào phóng. Tôi chỉ ngạc nhiên là bà ấy biết họ đang đói. Vì một lẽ tự nhiên, khi chúng ta chịu đựng một nỗi thống khổ nào đó, chúng ta có xu hướng quá tập trung vào bản thân mình, đến nỗi chẳng có thời gian cho người khác.

Cách đây một thời gian, tôi đã có một chuyến đi đến Ethiopia. Các chị em chúng tôi đã làm việc ở đó suốt mùa hạn kinh khủng năm ấy. Khi sắp rời đi, tôi nhận thấy có rất nhiều trẻ em vây quanh mình. Mỗi em đều cầm trên tay một thứ gì đó, nói: “Hãy đem thứ này về cho các em ! Hãy đem thứ này về cho các em !” Chúng có nhiều món quà muốn gửi đến người nghèo của chúng tôi. Rồi một đứa bé, vốn dĩ lần đầu tiên trong đời có được một thỏi sôcôla, đã đến bên tôi nói: “Con không muốn ăn nó, Mẹ hãy đem nó về cho các bạn.” Đứa bé ấy đã cho thật nhiều, vì miếng kẹo ấy là tất cả những gì quý giá mà em có.

Một bữa nọ, tôi nhận được mười lăm đôla từ tay một người đàn ông đã bị bại liệt trong hai mươi năm. Căn bệnh quái ác đã khiến ông chỉ còn dùng được tay phải của mình. Bầu bạn duy nhất của ông là thuốc lá. Ông nói với tôi: “Tôi đã ngưng hút thuốc lá một tuần nay. Tôi gửi cho Mẹ số tiền mà tôi tiết kiệm được nhờ không mua thuốc.” Đó hẳn phải là một hy sinh vô bờ bến của ông ta. Tôi mua bánh mì bằng tiền của ông, đem cho những người đang đói. Thế là cả người cho và người nhận đều có được niềm vui.

Trao tặng là chia sẻ. Tôi không muốn bạn cho tôi thứ mà bạn đã bỏ đi, mà cho đi thứ bạn muốn, thứ bạn cần. Tôi muốn bạn cho đi bản thân mình. Tình yêu mà bạn đặt vào sự ban tặng là điều quan trọng nhất. Cơ hội chia sẻ tình yêu của chúng ta với người khác chính là một món quà của Chúa. ( Bích Nga, Ngọc Sáu, Hoa Phượng, Mẹ Têrêsa, Trên Cả Tình Yêu ).

Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay thuật lại Đức Giêsu làm phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người đàn ông ăn no dư thừa, chưa kể phụ nữ và trẻ em, còn dư mười hai thúng. Đôi bờ đói no của nhân loại hôm nay vẫn còn xa cách vời vợi hơn bao giờ. Nên năm chiếc bánh và hai con cá của cậu bé dâng hiến hẳn âm thầm gửi đến Kitô hữu nhiều thông điệp sâu xa thấm thía.

Chiếc bánh thứ nhất: Yêu thương

Vừa gặp lại các Tông Đồ trở về sau một hành trình Đi Gieo, Đức Giêsu vui mừng thân thương nhắc nhở các ông vào nơi thanh vắng nghỉ ngơi. Nhưng thấy đám người đông lũ lượt tìm đến, thì Người chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” ( Mc 6, 34 ). Tình yêu tha nhân, lòng thương xót của Đức Giêsu, vô cùng mãnh liệt, ưu tiên trổi vượt, lấn át và vô hiệu hóa những chương trình, dự tính, ý muốn riêng tư của ngay chính Người.

Chiếc bánh thứ hai: Trách nhiệm

Đức Giêsu hăng say giảng dạy dân chúng cho đến nhá nhem tối mới tạm ngừng. Người hỏi Philipphê: “Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn ?” Người hỏi như vậy có ý thử ông, vì chính Người đã biết việc Người sắp làm” ( Ga 6, 5 ). Thánh Maccô ghi lại chi tiết khá minh bạch: Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm, làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” Người đáp: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi” ( Mc 6, 35-37 ).

Tuy câu nói của Đức Giêsu qua hai Thánh ghi chép Tin Mừng có khác nhau về hình thức, nhưng cùng chung một ý tưởng. Đó là thay vì để các môn đệ tránh né bổn phận chăm sóc cộng đoàn, thì Đức Giêsu trao trách nhiệm chính thức cho các ông phải quan tâm giải quyết những nhu cầu chính đáng, cấp bách của cộng đoàn, không thể vịn cớ gì lạnh lùng lảng tránh, từ chối.

Chiếc bánh thứ ba: Quảng đại

“Một trong các môn đệ, tên là Anrê, em ông Simon Phêrô, thưa cùng Người rằng: “Ở đây có một bé trai có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng bấy nhiêu thì thấm vào đâu cho từng ấy người” ( Ga 6, 9 ). Đây là điều Đức Giêsu đang trông chờ ngay từ đầu vụ việc. Tuy Chúa quyền năng vô song, tác tạo và biến hóa mọi sự, nhưng Chúa luôn đòi hỏi, cần có sự đồng điệu, hợp tác, dâng hiến của con người, vì Người tôn trọng sự tự do, không ép buộc bất cứ ai.

Cậu bé rộng rãi, quảng đại, nhân ái, đã không ích kỷ giữ bánh và cá cho riêng mình, mà với cả tấm lòng thành, hoàn toàn dâng hiến tất cả, chia sẻ, cho đi mọi sự cho Chúa. Người luôn chờ đợi một tấm lòng hiến dâng trọn vẹn như thế. “Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu” ( Hs 6, 6 ). Chính Đức Giêsu cũng tái xác nhận: “Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” ( Mt 9, 13 ).

“Kitô giáo là cho đi”. Chúng ta phải cho đi, dù phải đến mức đau đớn nhất. Để trở thành một tình yêu thương thật, thì tình yêu thương phải có cái giá của nó. Đối với Chúa Giêsu, cái giá đó là tình yêu chúng ta. Ngay cả Thiên Chúa cũng có cái giá của tình yêu: Ngài đã trao ban con một Ngài cho chúng ta” ( Mẹ Têrêsa Calcutta ).

Chiếc bánh thứ tư: Nhân hậu

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích” ( Ga 6, 11 ). Từ năm chiếc bánh và hai con cá dâng hiến của cậu bé, Đức Giêsu đã biến ra nhiều cho cả vạn người ăn dư thừa. Sự cho đi dẫu nhỏ bé, chẳng đáng kể, lại được tình yêu hồi đáp bằng đại lượng kỳ diệu. Lòng nhân hậu của Chúa khôn lường vô cùng. Người tiếp tục chạnh lòng thương dân chúng đói khát, làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều thêm lần thứ hai ( x. Mc 8, 1-10 ). Bởi vì “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta” ( Tv 103, 8-10 ).

Đức Giêsu giảng dạy và hóa bánh ra nhiều nuôi dân chúng hôm nay, là dấu chỉ Người sẽ còn tận tình chiêu đãi dân chúng bữa tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể sau này. Các Tông Đồ sau khi tham dự sứ mạng rao giảng, cũng được Đức Giêsu trao phó công việc chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên.

Chiếc bánh thứ năm: Công bình

“Bấy giờ Chúa Giêsu cầm lấy bánh, và khi đã tạ ơn, Người phân phát cho các kẻ ngồi ăn, và cá cũng được phân phát như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ thích.” Không phân biệt nam nữ, già trẻ, giầu nghèo, chức tước, địa vị, Đức Giêsu phân phát bánh và cá tùy theo nhu cầu mỗi người. Hết thảy đều no đầy phúc đức. Hồng ân Thiên Chúa luôn phổ quát, công bình và phong phú cho mọi người, như hạt giống gieo vãi, như mưa sa, nắng ấm. Bởi vì “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” ( Mt 5, 45 ).

Con cá thứ nhất: Thanh bần

Trong tinh thần nghẻo khó, thanh bần, Đức Giêsu không muốn hoang phí bỏ đi bánh và cá dư thừa, vì còn bao kẻ đói khát đang còn mong chờ được trao tặng lương thực. “Khi họ đã ăn no nê, Người bảo các môn đệ: “Hãy thu lấy những miếng còn lại, kẻo phí đi”. Họ thu lại được mười hai thúng đầy bánh vụn do năm chiếc bánh lúa mạch người ta đã ăn mà còn dư.” Tần tiện, tiết kiệm để chia sẻ với người cơ nhỡ, cũng như trân trọng dành dụm của ngọc thực để tích cốc phòng cơ, đó chính là một khía cạnh của đức thanh bần.

“Đừng rộng rãi với của người ta, đừng keo kiệt với của riêng con, đừng phung phí với của công cộng” ( Đường Hy Vọng, số 412 ).

Con cá thứ hai: Thiên ​Quốc

“Thấy phép lạ Chúa Giêsu đã làm, người ta đều nói rằng: “Thật ông này là Đấng tiên tri phải đến trong thế gian”. Vì Chúa Giêsu biết rằng người ta sẽ bắt Người để tôn làm vua, nên Người lại trốn lên núi một mình” ( Ga 6, 15 ). Hưởng phúc lợi tràn trề, được chữa bệnh, được cho ăn no nê, dân chúng hăm hở muốn tôn vinh Đức Giêsu làm hoàng đế, vì thấy Người đúng là Đấng Messia mà họ hằng mong đợi, sẽ giải thoát dân Do Thái khỏi ách đô hộ của Rôma. Đó cũng là cơn cám dỗ thứ ba của Đức Giêsu trong hoang mạc, quyền lực thế gian.

Lúc này, Đức Giêsu nhìn thấy rõ tà tâm trong lòng dân chúng háo lợi, thực dụng, chỉ muốn người lãnh đạo cung phụng cho họ, theo ý muốn thấp hèn của họ mà thôi. “Các ông đi tìm tôi, không phải vì các ông đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” ( Ga 6, 26 ). Trong khi Nước Chúa đâu lệ thuộc vào thế gian phù phiếm, mau biến đổi và hư nát. Bơi chưng, “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc Trong Thánh Thần” ( Rm 14, 17 ).

“Với năm cái bánh và hai con cá của em bé, Chúa đã làm phép lạ nuôi năm ngàn người. Chúa vẫn toàn năng, nhưng Chúa yêu thương thiện chí của con” ( Đường Hy Vọng, số 824 ).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thường thiếu lòng quảng đại, không dám cho đi những gì chúng con đang có, chỉ vì sợ mất mát, thua thiệt, chì vì thiếu Tình Yêu, thiếu niềm tin và thiếu lòng cậy trông vào Chúa Quan Phòng. Xin Chúa mở lòng trí chúng con, thấu hiểu ý nghĩa cao trọng của phép lạ hóa bánh ra nhiều, để chúng con sẵn sàng cho đi mọi sự, kể cả bản thân, với tình yêu tha thiết chân tình, như cậu bé dâng hiến tất cả bánh và cá cho Chúa dưỡng nuôi tha nhân.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã dâng hiến trọn đời cho Chúa, xin cầu bầu, dạy bảo, hướng dẫn chúng con noi theo Mẹ, hiến dâng lên Chúa tất cả mọi sự, từ thân xác, tâm hồn đến linh hồn, để có thể phục vụ hữu ích cho tha nhân. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Alan Phan: “Làm ăn ở Việt Nam phải có chống lưng đỡ đầu!”

Nguoi-viet.com

Hà Giang/Người Việt (thực hiện)
LTS: Tiến sĩ Alan Phan là một tên tuổi quen thuộc trong giới kinh doanh, với 43 năm kinh nghiệm về đầu tư vào thị trường Trung Quốc, Hồng Kông và cả Việt Nam. Ông hiện là sáng lập viên của Alan Phan Associates (APA) có trụ sở tại California và Hồng Kông, chuyên tư vấn chiến lược kinh doanh toàn cầu cho các công ty đa quốc. Là tác giả của 11 cuốn sách về kinh tế, xã hội của những thị trường mới nổi, Tiến sĩ Alan Phan còn là một cây bút quen thuộc với nhiều bài phân tích sâu sắc, với thương hiệu “góc nhìn Alan” được nhiều người biết đến. Nhân dịp sắp đến buổi ra mắt hai cuốn sách mới “Doanh Nhân Việt Trong Thế Trận Kinh Tế Toàn Cầu” và “42 Năm Làm Ăn Tại Mỹ Và Trung Quốc -Ấn Bản Usa,” vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, 25 tháng Bảy, 2015, tại hội trường nhật báo Người Việt,  ông dành cho ký giả Hà Giang cuộc phỏng vấn dưới đây:

Hà Giang (NV): Vừa là một người cầm bút, một nhà đầu tư, một giáo sư dậy về kinh doanh, ông tự tả về mình như thế nào?

Alan Phan: Thực tình thì cũng không có gì nhiều để tả. Tôi 70 tuổi, thì đương nhiên là có nhiều trải nghiệm, sống qua bao nhiêu những tình huống, khác hơn là những thế hệ trẻ hơn. Nhưng tôi là con người rất là bình thường: đi học, làm việc, sống cho gia đình, bạn bè, vui chơi. Cũng hưởng thụ nhiều, cũng đau khổ nhiều khi làm ăn. Nhưng nói tóm lại thì cũng là một đời rất là bình thường, không có cái gì đặc biệt. Tôi rất bình an với những gì mình đã có, đă mất, đã thua, đã thắng, nghĩa là cái chuyện nó đã xẩy ra rồi, thế thôi.

Tiến sĩ Alan Phan trong buổi phỏng vấn với ký giả Hà Giang, nhật báo Người Việt (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

NV: Ông có thể nói sơ về Alan Phan Associates có trụ sở tại California và Hồng Kông?

Alan Phan: Tôi làm việc bên Hồng Kông cũng khoảng 14, 15 năm, làm một cái quỹ đầu tư do tôi và ba anh bạn khác, người Trung Quốc và người Hồng Kông sáng lập. Chúng tôi đầu tư vào những công ty nhỏ và đem họ lên sàn chứng khoán, mà mình đồng thời cũng là một nhà đầu tư có lợi trong cái dịch vụ đó. Quỹ đầu tư đó hiện giờ vẫn được những người bạn tôi tiếp tục điều hành, thực tình thì là thế hệ sau của những người bạn tôi. Cách đây hai năm, tôi về lại Mỹ, có thể nói là tìm một cuộc đời an lành khác. Nhiều người bạn vẫn đưa công việc tới cho Alan Phan Associates do tôi và khoảng chừng sáu người chuyên gia tư vấn độc lập. Chúng tôi giúp họ tạo ra chiến lược toàn cầu, giúp họ làm những cái M & A (Merger and acquisition), tức thâu tóm và sát nhập vào những công ty bên Mỹ. Thay vì bỏ sức bỏ tiền lập những công ty ở đây, tôi luôn luôn tôi khuyên họ là lợi dụng những công ty có sẵn thị trường ở đây, có sẵn tên thương hiệu, có sẵn những sản phẩm đặc thù, và mình sát nhập vào với công ty của mình bên Trung Quốc hay bên Việt Nam, thì tương đối chặng đường nó dễ hơn, nhanh hơn, thì đó là chiến lược (M&A) toàn cầu mà tôi luôn luôn chủ trương và cổ võ.

NV: Qua 70 năm thăng trầm của cuộc sống, nếu được làm lại, thì ông sẽ giữ phần nào và thay đổi phần nào? Ông có điều gì hối tiếc không ?

Alan Phan: Thật tình thì tôi ít khi suy nghĩ về quá khứ, những chuyện gì nó qua thì nên để cho nó qua luôn. Có những chuyện mình rất là tự hào, rất là vui thú, thì nhìn lại ở cái điểm khác có thể nó không vui thú, không tự hào như mình nghĩ. Hay là những chuyện ngày xưa mình xấu hổ, mình thua thiệt, thì bây giờ nhìn lại nó lại là cái bài học hay. Thành ra thật tình tôi không quan tâm lắm về chuyện quá khứ. Mình sống thì bây giờ đã hơn bảy mươi năm thì cũng trải qua nhiều, từ đỉnh hạnh phúc đến đáy đau khổ, ông trời đã định như vậy rồi, bây giờ mình ngồi nghĩ là nên giữ cái này, vứt cái này, thì với tôi không cần thiết.

Dĩ nhiên có những cái hối tiếc lặt vặt, nhưng mà rồi mình quên đi. Thực tình theo tôi nghĩ những người mà gọi là thành công, không phải thành công lớn như Warren Buffet hay Bill Gates, mà thành công bình bình như tôi, thì khi về già có nhiều thất vọng mang theo, những điều mà mình chưa thực hiện được. Có khá nhiều hối tiếc, đáng lẽ mình nên làm như này, nên làm như thế kia và thêm một cái nữa là thích khuyên bảo như là để lại một cái di sản gì đó cho thế hệ sau. Nhưng với tôi điều quan trọng là mình sống thực với mình, mình không làm hại ai, không chơi xấu ai, tất cả rất là fair play, theo Mỹ nói. Tất cả những cuộc chơi gì mình vào, lúc mình bước ra ngửng cao đầu, dù thắng dù thua, đó là quan trọng.

NV: Hai nền kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có những điểm gì tương đồng và dị biệt? Liệu rồi kinh tế Trung Quốc có sụp đổ vì thị trường chứng khoán đang bị thụt giá của họ không?

Alan Phan: Chính sách kinh tế của những nhà nước độc tài rất giống nhau, đó không phải là những nền kinh tế thực sự thị trường. Về việc thị trường chứng khoán đang tuột dốc tại Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc sẽ có những biện pháp chống đỡ, có thể sẽ kéo dài năm mười năm. Tại Việt Nam cũng vậy, lúc trước tôi cũng gây nhiều tranh cãi về vấn đề bất động sản tại Việt Nam, tôi cho rằng cứ để cho những dự án này chết, rồi sẽ có nguồn đầu tư khác và sẽ làm lại, nhưng với chính quyền thì họ không thích như vậy. Thà rằng hy sinh kinh tế để giữ cho xã hội ổn định, luôn luôn là phương châm của Trung Quốc và của Việt Nam. Thành ra thị trường chứng khoán của Trung Quốc nó cũng giống như thị trường bất động sản tại Việt Nam, đáng lẽ thì nó phải chết, nhưng chính phủ họ cứ nhất định nuôi. Họ cứ chống đỡ cho càng lâu càng tốt, hy vọng 10 năm sau đó sẽ có phép lạ hay có gì thay đổi, hay những thế hệ sau sẽ giải quyết, phải giải quyết bằng một cách nào đó.

Về dị biệt thì có hai điểm. Thứ nhất là kích cỡ. Trung Quốc, kinh tế của nó phải nói là lớn gấp 15 lần Việt Nam, và nó đi trước Việt Nam khoảng 12, 13 năm, thành ra Việt Nam nghĩa là đang copy những gì Trung Quốc đã làm và đôi khi đã thất bại rồi, nhưng mà mình vẫn cứ làm thế. Và thị trường mình nó nhỏ, không thể phát huy được. Điểm yếu thứ hai là doanh nhân và con người. Tôi đã làm việc với doanh nhân Trung Quốc lẫn Việt Nam thì tôi thấy người Trung Quốc họ chịu khó hơn người Việt Nam nhiều, họ tiết kiệm nhiều hơn, họ cần cù hơn, và họ thủ đoạn hơn, dù là Việt Nam rất là mánh mung không kém ai về mặt thủ đoạn, nhưng để lấy lời ngay lập tức. Người Trung Quốc họ thâm hiểm hơn, họ nghĩ xa hơn, dài hơn, Việt Nam mình so với Trung Quốc thì “mì ăn liền” hơn, còn Trung Quốc thì nó biết nấu nướng, và nó biết đợi.

NV: Ông có lời khuyên gì cho người muốn mang tiền về Việt Nam đầu tư?

Alan Phan: Thật ra thì tôi không dám khuyên, nhưng có hai điều cần yếu quan trọng để thành công ở Việt Nam. Thứ nhất là phải có quan hệ, phải có người chống lưng đỡ đầu thì mới đi xa được. Thứ hai là phải có một sự kiên nhẫn, quan hệ với người Việt Nam mà muốn cho sâu đậm, cũng phải mất vài ba năm, chứ không phải đi vào làm ào một cái mà được, người ta chưa tin mình. Muốn có sự tin cậy cũng phải mất vài ba năm. Sau đó thì là chuyện hên xui may rủi, nếu quan hệ đúng với người đang lên, có quyền lực chính trị quan trọng, thì tiền sẽ vào như nước. Còn đi nhằm một cái ông đang đi xuống, thì có thể bị tù tội dễ như chơi, đó là chuyện rất bình thường ở Việt Nam. Cái thằng đấy mình đang tính là mấy năm nữa nó lên, mà đùng một cái nó qua bên Tây chữa bệnh, hay nó bị ám sát thì điều đó phiền lắm (cười.)

NV: Điều gì khiến ông bắt đầu sự nghiệp viết lách, cho ra đời nhiều bài viết rất được ưa chuộng, và thương hiệu nổi tiếng “góc nhìn Alan?”

Alan Phan: Khi còn ở bên Trung Quốc thì cuối tuần tôi có đi dạy, dạy những lớp MBA cho executives. Dạy thì phải soạn bài, nên tôi bắt đầu viết lách từ đó, nhưng cũng không viết nhiều. Đến năm 2007 thì tôi về Việt Nam thường xuyên hơn. Lúc đó mấy anh bạn, anh Trần Trọng Thức, báo Doanh Nhân, anh Tuấn ở Vietnamnet, họ nhờ tôi viết về Trung Quốc. Bài đầu tiên tôi viết là cái chuyện về  “Con voi Trung Quốc,” khi viết xong lại tạo ra được một luồng sóng thích thú. Thì người viết giống như người nghiện, có một chút thuốc vô rồi lại say, lại viết tiếp tục. Giờ thì lớn tuổi rồi, viết cũng là một lối tiêu khiển, ngày xưa khi mình còn trẻ thì mình lông nhông ngoài đường, bây giờ thì ăn uống cũng sợ, sức khỏe cũng lo, thành ra mình không đi ra ngoài tiệc tùng, ăn uống chơi khuya nhiều nữa. Ở nhà không có gì thì viết đại cho rồi.

NV: Ông có thể kể lại vài kỷ niệm vui, lý thú khi làm việc ở Việt Nam?

Alan Phan: Ở Việt Nam thì luôn luôn nó đi cập với hai vấn đề.  Thứ nhất là mình sẽ có rất nhiều bạn, vì thứ nhất là mình có tiền mà thứ hai là họ có thì giờ, cho nên bất cứ lúc nào, mình không kêu họ thì họ kêu mình, cho nên luôn luôn bao quanh bởi bạn bè, gia đình, muốn hay không muốn, tương đối khá vui. Đi chơi biển, đi chơi núi, tất cả đều dễ dàng hơn ở Mỹ. Ở Mỹ mà muốn tập trung được ba, bốn người đi, mà có thì giờ đi chung với nhau thì là cả một sự xếp đặt. Còn ở Việt Nam thì rất dễ, nếu hứng, thì chỉ 5 phút sau là lên đường thôi. Nghĩa là niềm vui nó tự phát, nhưng đồng thời nó cũng có nhiều cái bực, đi ra xa lộ một tí là tai nạn này, tai nạn kia, rồi ô nhiễm, rồi khói bụi, rồi người này người kia, rồi môi trường hỗn loạn, đôi khi mình muốn bình an cũng không được. Đôi khi mình muốn muốn góc lặng nào đó để đừng ai quấy rầy mà kiếm cũng không ra. Trong khi ở Mỹ thì mình có muốn quấy rầy người ta, người ta cũng không muốn. Đó là cái khác biệt giữa  hai văn hóa và môi trường. Với lại người Việt Nam thì sống rất là open, nhà hàng xóm biết nhau, biết đủ thứ, và ai cũng nhẩy xổm vào. Cái câu hỏi mà tôi được hỏi nhiều nhất là ‘anh có bao nhiêu tiền? Hồi trước anh làm gì, làm gì?’ họ muốn biết tất cả mọi điều về đời mình. Trong khi người Mỹ thì người ta tôn trọng cái riêng tư của mình. Nó hơi khác một tí, nhưng rồi mình ở đâu rồi cũng điều chỉnh được. Vấn đề là mình muốn điều gì.

NV: Đã sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới, tại sao cuối cùng ông lại về Mỹ, mà không nghỉ hưu ở Việt Nam, chẳng hạn?

Alan Phan: Thực tình thì có nhiều tiền thì ở đâu nó cũng vui cả, Việt Nam hay Trung Quốc, hay Mỹ hay là Monaco hay là bất cứ chỗ nào. Thành ra cái yếu tố quan trọng là yếu tố có nhiều tiền. Thực tình trong một lựa chọn của con người, ngoài vấn đề tiền bạc còn vấn đề môi trường sống, còn vấn đề bạn bè, gia đình, còn vấn đề mà mình không muốn phải đối diện hàng ngày, nó cũng đôi khi làm mình bức xúc. Mình muốn tâm mình được an bình hơn. Lúc trẻ thì những điều này không quan trọng lắm, mình thích stress, thích áp lực, thích tất cả những chuyện thử thách, nhưng mà đến khi già rồi thì những áp lực thử thách, những khó khăn phải đương đầu thì mình muốn giảm thiểu tối đa. Tôi nghĩ môi trường Mỹ nó giúp cho tôi được điều đó. Với tôi đó là lý do quan trọng.

NV: Cảm ơn tiến sĩ Alan Phan đã thì giờ cho cuộc phỏng vấn, và chúc ông nhiều thành công trong buổi ra mắt sách vào 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 25 tháng Bảy này, tại hội trường nhật báo Người Việt.

Tàn rồi giấc mơ… Mỹ

Tàn rồi giấc mơ… Mỹ

Nguoi-viet.com

Ngọc Lan/Người Việt

Nàng xinh xắn, giỏi giang, nhưng lại không gặp may trên đường tình duyên.

Chưa đến tuổi 30, nàng đã phải kết thúc cuộc hôn nhân kéo dài 5 năm với người chồng không như ý. Vừa một mình nuôi đứa con trai 5 tuổi vừa một tay coi sóc cửa tiệm mua bán đồ gỗ trang trí nội thất ở ngoại thành Hà Nội, đồng thời nàng cũng phụ gia đình kinh doanh thuốc tây.

Tranh minh họa: Họa sĩ Nguyễn Thanh Vân/Người Việt

Từ ngoài nhìn vào, nàng là một người giàu có trong mắt nhiều người.

Sau đôi năm một mình lẻ bóng, chí thú làm ăn, lo cho mình, cho con, một ngày cuối năm 2009, nàng được một người bạn gái thời hoa niên hiện đang ở Mỹ mai mốt giới thiệu cho một anh Việt kiều tại Quận Cam, lớn hơn nàng 11 tuổi.

Theo thỏa thuận ban đầu thì đây chỉ là sự mai mối cho một cuộc hôn nhân giả. Chàng Việt kiều sẽ ra tay nghĩa hiệp, đứng ra kết hôn và bảo lãnh cho mẹ con của nàng sang Mỹ để hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, sau 3 tháng tìm hiểu, email qua lại, điện thoại tâm tình, chàng Việt kiều quyết định về nước gặp nàng kèm theo câu, “Anh đã yêu em mất rồi nên anh sẽ cưới em thật chứ không phải là giả. Chúng mình sẽ là vợ chồng.”

Chàng cũng không giấu diếm chuyện chàng từng trải qua một cuộc hôn nhân cơm không lành canh không ngọt nên “anh đường anh, em đường em”, vợ cũ chàng nhận phần chăm sóc đứa con trai.

Dĩ nhiên là nàng cảm thấy lòng ngập tràn hạnh phúc.

Chàng về, nàng đón chàng trong tâm trạng của một cô dâu mới. Họ sống bên nhau như đôi uyên ương trong suốt hai tuần chàng Việt kiều có mặt nơi quê nhà. Nếu có điều gì khác lạ, thì chỉ ở chỗ tất cả việc gì có liên quan đến chi tiêu tiền bạc thì nàng là người phải móc hầu bao.

Sau hai tuần chăn gối, chàng Việt kiều trở về Mỹ để thu xếp công việc và tám tháng sau, chàng trở lại quê nhà chính thức làm giấy kết hôn và đám cưới với nàng.
Dĩ nhiên là nàng cảm thấy lòng ngập tràn hạnh phúc.

Vì chàng không có thời gian để lo liệu chuyện đám cưới, cũng không có thời gian đi mua nhẫn cưới cho ngày thành hôn nên nàng chủ động làm người đứng ra tổ chức lo liệu mọi bề.

Nghĩ rằng quan trọng là yêu nhau thật lòng, là để dành dụm chắt chiu tiền sang Mỹ, đâu cần thiết phải nhẫn hột xoàn kim cương, cũng đâu cần phải tiệc cưới rình rang, mời khắp cả họ, nên nàng ra chợ mua cặp nhẫn giả và chỉ mời bà con họ hàng vài ba mâm cỗ tại nhà sau khi được linh mục làm lễ cưới tại nhà thờ.

Nàng cùng chồng Việt kiều cũng có tuần trăng mặt đây đó. Và dĩ nhiên, móc hầu bao cho mọi thứ vẫn không ai khác ngoài nàng.
Sau chuyến đi chơi trở về, chồng Việt kiều hỏi nàng về giá trị của chiếc nhẫn cưới có nạm viên hột xoàn. Nàng nhanh nhẩu, “Ôi, nhẫn dỏm đó anh ạ. Em mua chỉ vài chục bạc ngoài chợ.”

Trả lời xong, nàng nhận ra ngay vẻ cau mày thất vọng của chồng. Ít hôm sau, chàng Việt kiều vào Sài Gòn thăm gia đình rồi bay luôn về Mỹ, kèm theo lời hứa sẽ làm giấy tờ bảo lãnh cho mẹ con nàng.

Ba tháng sau, chồng Việt kiều trở lại Việt Nam lo hậu sự cho ba chàng. Nàng trong vai trò của một người con dâu cũng từ Bắc bay vào Nam làm bổn phận ma chay tang chế.

Cũng như những lần trước, mọi chi phí khách sạn, ăn uống, bất kỳ thứ gì liên quan đến tiền đều do nàng móc hầu bao.

Đến trước ngày trở lại Huê Kỳ, chồng Việt kiều hỏi liệu nàng có thể đưa cho chàng ít ngàn dằn túi được không, bởi công việc làm ăn của chàng ở Quận Cam đang hồi khó khăn nên hơi kẹt tiền. Nàng dịu dàng, “Công việc buôn bán của em dạo này cũng không thuận lợi, thôi anh cầm tạm $200 đi đường vậy.”

Về đến Mỹ, chồng Việt kiều đề nghị nàng gửi tiền sang để chàng lo thủ tục bảo lãnh, bởi tiền trong tài khoản của chàng cũng không dư dả mấy. Nàng nhờ người gửi sang cho chồng $5,000.

Tuy nhiên, đời không như là mơ, tình không như là thơ, chồng Việt kiều bỗng dưng đổi ý, bởi sau bao năm chia tay, giờ chàng muốn quay trở lại với má của con chàng.

Nàng sững sờ. Nhưng vẫn dịu dàng, “Anh muốn trở lại với người xưa để con anh có đủ cha và mẹ cũng là điều tốt. Nhưng anh đã giúp thì giúp cho trót bảo lãnh mẹ con em sang Mỹ rồi em sẽ đi làm kiếm tiền trả lại cho anh.”

Chàng nghe rồi ậm ừ, lần lữa. Một năm trôi qua. Hai năm trôi qua. Ba năm trôi qua. Giờ đã là bốn năm. Nàng chỉ cầu mong nếu không thương, không giúp thì cũng ký dùm nàng một chữ vào tờ giấy ly hôn.
Chàng Việt kiều thì bảo thủ tục ly dị bên Mỹ tốn mất $400. Nàng ngã giá 50-50, đưa chàng $200. Tuy nhiên, chàng nhận thêm lần tiền nữa nhưng vẫn cứ lặng im, không ký không rằng.

Các cuộc gọi thưa dần và đến lúc nàng không thể gọi cho chàng được nữa vì chàng không bắt phone.

Nàng nói trong nước mắt: Đâu có ngờ mang tiếng lấy chồng Việt kiều mà lại phải ngậm trái đắng như thế này. Có thể người ta nghĩ rằng mình có quá nhiều tiền, nhưng thực tế không phải như vậy.

Điều nàng mong muốn bây giờ, chỉ là một chữ ký ly hôn, chấm dứt một giấc mơ có chồng sang Mỹ.

Vợ chồng sống bên nhau 75 năm, chết trong vòng tay của nhau.

Vợ chồng sống bên nhau 75 năm, chết trong vòng tay của nhau.

Bà Jeanette và ông Alexander sống hạnh phúc bên nhau cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời. (Hình Jackie Batts cung cấp báo chí)

SAN DIEGO – Chuyện tình của bà Jeanette và ông Alexander Toczko được mô tả như là một thiên tình sử vừa giản dị vừa vĩ đại.

Cả hai vợ chồng đều sinh ra tại Stamford, tiểu bang Connecticut, vào năm 1919. Hai người gặp nhau khi họ mới lên 8 tuổi, và ngay lập tức bắt đầu hẹn hò. Tám mươi tám năm sau đó, sau gần 75 năm chung sống, cặp này vẫn say mê nhau như ngày họ mới gặp nhau.

Aimee Toczko-Cushman, con gái của đôi vợ chồng này, nói với chi nhánh KGTV của đài ABC, “Cha tôi mang theo trong ví của ông một tấm ảnh của mẹ tôi mặc trang phục Rước Lễ của bà.”
Thấy khó mà xa nhau được một khoảnh khắc, bà Jeanette, 96 tuổi, và ông Alexander, 95 tuổi, đã có một niềm hy vọng chung, khi họ đến tuổi hưu trí: chết trong vòng tay của nhau. Chỉ sắp đến dip kỷ niệm lần thứ 75 hôn lễ của họ, ước nguyện cuối cùng của ông bà Toczko đã được viên thành.

Bà Aimee nói về cha mẹ, “Trái tim của họ đập chung một nhịp, theo như tôi còn nhớ được.”
Kết hôn vào năm 1940, đôi uyên ương này dành những thập niên đầu tiên của cuộc hôn nhân làm việc tại thành phố New York, và đi du lịch vòng quanh thế giới. Cuối cùng họ dời đến ở San Diego vào đầu thập niên 1970.

Dưới ánh nắng California, mối tình keo sơn của họ vẫn tiếp tục, không xảy ra vấn đề nào cả, cho đến tận năm nay.
Ông Alexander vẫn chơi golf hàng ngày, cho đến khi tai nạn xảy ra. Ông Richard Toczko, con trai của cặp vợ chồng này, nói về cha mình, “Hẳn là cha tôi đã bị té. Ông bị bể xương hông. Sức khỏe của ông sa sút nhanh.”
Không muốn tách lìa cha mẹ trong những giây phút cuối cùng họ ở bên nhau, hai người con ông Richard và bà Aimee đã nhờ viện dưỡng lão mang giường của ông Alexander vào trong ngôi nhà của đôi vợ chồng, và đặt chiếc giường này ngay bên cạnh giường của vợ ông. Khi sức khỏe của ông Alexander tàn lụi, bà Jeanette cũng trở nên yếu hơn.

Trong một ngày giữ chồng gần bên mình, bà Jeanette hỏi mấy người con về ngày tháng.
Bà Aimee kể, “Bà cứ hỏi chúng tôi, ‘hôm nay là ngày mấy, hôm nay là ngày mấy?’ Chúng tôi nói là tháng Sáu. Và cụ nói rằng đó có phải là ngày 29 tháng 6, và 29 tháng 6 là ngày kỷ niệm lần thứ 75 đám cưới của họ.”

Mặc dù còn nhiều ngày nữa mới đến dịp kỷ niệm hôn lễ của hai vợ chồng, con cái họ vẫn quyết định giả vờ như thể đó là ngày 29. Họ tổ chức cho cha mẹ tiệc kỷ niệm xứng đáng dành cho ông bà, trưng hoa và treo bong bóng đầy trong phòng ngủ của đôi bạn tâm giao.
Bà Aimee kể, “Chúng tôi nói chúc mừng lễ kỷ niệm vui vẻ. Mẹ tôi mừng rỡ vô ngần, vì đó là dịp kỷ niệm của họ. Bà biết rằng ông sắp ra đi, và biết rằng họ đã sống với nhau trong 75 năm.”
Ngay sau lễ kỷ niệm, vào ngày 17 tháng 6, ông Alexander chết trong vòng tay an ủi vỗ về của vợ mình.

Bà Aimee nói, “Ông qua đời trong vòng tay của bà, đúng y như ý ông muốn. Tôi bước vào trong phòng, và nói với mẹ tôi rằng ông đã đi rồi. Bà ôm lấy ông, và nói với cha tôi: Này, đây là điều anh muốn. Anh chết trong vòng tay của em, và em yêu anh. Em yêu anh, chờ em với, em sẽ sớm tới nơi đó.”
Hai mươi bốn giờ sau đó, bà Jeanette qua đời.

Đôi vợ chồng này được mai táng hôm thứ Hai, 29 tháng Sáu, 2015 vừa qua, đúng ngày kỷ niệm lần thứ 75 thực sự của họ, với một tang lễ chung và lễ mừng kỷ niệm ngày cưới.

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Chương trình H.O. – Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota

Nhớ ơn Tổng Thống Ronald Reagan!

H.O.!

General John W. Vessey, Jr. – The 10th Chairman of the Joint Chiefs of Staff

năm 1997.

Tôi hân hạnh được đọc bức thư của Tướng John W. VESSY, người đã thừa ũy nhiệm Tổng Thống Reagan qua Hà Nội năm 1987 – 1988 để thương lượng và ký kết các điều khoản liên quan toàn thể những “Tù Cải Tạo” ra khỏi trại giam và lần lượt định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình H.O. bắt đầu từ 1990.

Nguyên văn thư nói trên được gởi cho ông Nguyễn Xuân Huấn, Chủ Tịch Hội CTNCT Minnesota, ngày 1-9-1997; trong thư có đoạn viết rõ như sau:

“…Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tôi được Tổng Thống giao phó là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Nam Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là trại cải tạo. Tôi được quyền bảo đảm với chính phủ Hà Nội rằng Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và tiếp đón những người tù cải tạo cùng gia đình sang Mỹ.

Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không có hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “Chiến Dịch Nhân Đạo” (Humanitarian operations – gọi tắt là H.O.).

Do đó danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt Mỹ xữ dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị đang sinh sống trên đất Mỹ” “Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh, tất cả những ai thuộc diện H.O. dều là những anh hùng thật sự của thời đại nầy.”

Thư của Tưởng Vessy gởi Cộng Đồng Minnesota năm 1997. Trích nguyên văn bằng Anh ngữ:

“…When the President Regan called me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, reeducation camps. I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed “humanitarian operations”. Consequently, the term “HO” has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.
To me, the term “HO” is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within that context of the term are among the true heroes of our time…”

Từ khi những H.O. và gia đình được định cư trên đất nước tự do, từng năm tháng làm việc miệt mài, bắt nhịp cầu cho con cháu vượt qua khó khăn, học hành thành đạt, trở thành những nhân tố có ích cho tương lai… thì các H.O. cựu tù đã già; người nào cũng trên sáu, bảy, tám chục tuổi… Có rất nhiều anh H.O. đã ra đi vì những bệnh trạng mang theo từ các trại tù sương lam chướng khí. Nhưng họ cũng ngậm cười nơi chín suối vì đã đưa được vợ con thấy ánh sáng tự do, thoát gông xiềng áp bức. Những ai được định cư Hoa Kỳ theo chương trình H.O. là những người tù cô đơn, không thân nhân bảo lảnh, không có khả năng vượt thoát khỏi bức tường ô nhục của người CSVN.

Kỷ niệm 25 năm riêng cho những “Con Bà Phước” mang danh H.O. là điều đáng làm. Những Cựu Tù Chính Trị đang định cư trên khắp thế giới, không ở trong “CHƯƠNG TRÌNH H.O.” nên khuyến khích và HỔ TRỢ, THAM DỰ, ĐÓNG GÓP vào ngày họp mặt do Anh Chị Em H.O. tổ chức. Mùa Thanksgiving 2015, đúng 25 năm người tù H.O thay da đổi thịt. Chúng tôi sẽ thành khẩn cám ơn nhân dân, chính phủ Hoa Kỳ và những cá nhân có công trong việc hình thành chương trình H.O. một chương trình đã cứu hàng trăm ngàn người TÙ CÔ ĐƠN và gia đình, để họ có điều kiện làm lại cuộc đời mới ấm no, tự do và hạnh phúc trên quê hương thứ hai nầy!

Xin cảm ơn nước Hoa Kỳ – xin cảm ơn mọi người!

letamanh

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại quê tôi

Chuyện xưa chuyện nay (Bài 3)

Nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại quê tôi

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

Làng tôi hồi trước năm 1945 được gọi là xã Cát xuyên, thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Dân số hồi đó vào khoảng 500 người sinh sống trong chừng 80-90 nóc gia. Bà con phần lớn là nông dân mỗi năm cày cấy hai vụ luá, gọi là vụ chiêm gặt hái vào giữa năm, và vụ muà thu hoạch vào cuối năm. Còn một số ít, thì sinh sống bằng nghề làm bánh và chế biến đồ ăn để bán cho khách hàng trong các phiên họp tại Chợ Cát là một loại “chợ phiên” họp định kỳ mỗi tháng 6 phiên vào các ngày mồng 1,6,11,16,21,26 mỗi tháng theo Âm lịch.

Vụ muà vào cuối năm 1944 bị “mất đến 70-80%”, nên thu hoạch rất kém, vì toàn là loại luá lép thôi. Do đó mà gây nên nạn đói kém vào mấy tháng đầu năm Ất Dậu 1945. Tính ra trong làng tôi phải có đến trên 150 người  (tức là khoảng 30% dân số) bị chết đói trong năm đó. Trong số nạn nhân này có rất đông bà con và bạn hữu cuả tôi. Điển hình là chính ông chú út, em ruột cuả cha tôi là chú Thiêm, thì chú ấy phải bỏ nhà đi kiếm ăn mà bị chết mất xác ở đâu, chẳng một ai trong gia đình còn biết được tin tức về chú ấy nưã. Nhiều gia đình chết hết, nên căn nhà với khu vườn cuả họ trở thành hoang phế tiêu điều, trông thấy mà phát sợ luôn.

Tôi nhớ rất rõ chuyện này, vì vào muà hè năm 1945 đó tôi chăn dắt con trâu cho nó đi gặm cỏ trong các khu vườn tại những “thổ hoang” này, thì tôi chứng kiến tận mắt cái cảnh hoang tàn đìu hiu cuả những căn nhà sập xệ vô chủ đó. Và dĩ nhiên là tôi rất buồn vì đã mất đi bao nhiêu bà con đã từng sát cánh chung sống với mình, mà đã bị chết oan uổng trong cái đại nạn đó.

Trong nhà tôi, thì các anh chị lớn đều phải ăn cơm “độn với cám hay với khoai”. Mỗi ngày cha tôi cho thổi thêm ít cơm, rồi đem nắm lại thành những cục nhỏ để ông tận tay mang đến cho mấy bà con là những cụ già trong làng. Sau naỳ, vì còn ít gạo, thì ông cho nấu cháo và đi kêu mấy con cháu các cụ đó mang chén bát đến lấy về cho các cụ.

Điều khó khăn nưã là tại khu chợ Cát, thường mỗi buổi sáng sớm lại có một số người chết đói nằm ở góc chợ. Đó là những người ở xa đến xin ăn, mà vì đói lạnh quá nên đã tắt hơi thở, không có bà con họ hàng biết mà đến nhận xác để đem đi chôn cất. Vì thế mà cha tôi phải kiếm thêm một người trai trẻ còn khoẻ mạnh để phụ với ông đem những xác chết vô thưà nhận này đi chôn ở nghiã trang cuả làng. Ông tự nguyện làm việc này, theo như lời khuyên bảo làm việc bác ái trong một câu kinh cuả đạo công giáo là :”Chôn xác kẻ chết”. Vì việc từ thiện bác ái như vậy, nên sau này Giáo hội Công giáo mới tặng cho ông một “sắc phong” khen ngợi công lao giúp đỡ bà con trong cơn hoạn nạn khốn khổ thời ấy. Và chính cái gương làm việc từ thiện nhân đạo đó cuả ông cụ đã ảnh hưởng sâu xa đến suốt cuộc đời dấn thân phục vụ xã hội sau này cuả tôi vậy đó.

Sau năm 1975, bà con ở ngoài Bắc có vào thăm gia đình tôi ở Saigon, thì có người còn nhắc lại cái “công đức” cuả cha mẹ tôi đã cưú giúp cha mẹ họ lúc đó. Họ còn nói là” bây giờ các anh chị làm ăn học hành tiến bộ thành đạt, đó là nhờ ở phúc đức cuả ông bà xưa để lại “.

Con số thống kê cho biết là có tới 2 triệu người bị thiệt mạng trong nạn đói khủng khiếp này. Và nếu đối chiếu với dân số của đồng bằng sông Hồng hồi đó là khoảng 6 triệu người, thì số người chết đã tới hơn 30% trên tổng số dân trong khu vực, tỉ lệ này cũng tương đương với con số ước lượng tại làng Cát xuyên của tôi.

Bàn qua về nguyên nhân của nạn đói này, thì vì lý do chính trị, nhiều người cứ đổ hết trách nhiệm cho Quân đội Nhật bản đã gây ra cảnh đói kém này, vì họ đã bắt dân phải “phá bỏ ruộng cấy lúa đi, để lấy đất trông đay bố cho nhu cầu quân sự của họ. Rồi họ lại còn tích trữ số lượng thật lớn lúa gạo vào trong kho quân lương của họ. Điều đó không sai, nhưng đây không phải là căn nguyên duy nhất đã gây ra nạn đói. Mà phải kể đến 2 nguyên nhân khác nữa, đó là : 1/ Nạn mất mùa cuối năm 1944 (mất đến 80% như đã ghi ở trên); 2/ Vì lý do chiến tranh, đường giao thông từ Nam ra Bắc bị máy bay đồng minh oanh tạc tàn phá nặng nề, nên số gạo thặng dư ứ đọng khổng lồ ở miền Nam hồi đó (vì không thể xuất cảng được) đã không thể chuyên chở ra ngoài Bắc bằng tàu biển hay xe lửa. Tôi nghĩ 2 lý do này mới thực sự là nguyên nhân chính đã gây ra cái nạn đói kinh hòang đó.

Bây giờ sau mấy chục năm, chúng ta có thể công tâm mà phân định sự việc, chứ không nên giữ thiên kiến quá đáng về phía này, phía khác. Mà vì bản thân mình không phải là một sử gia, nên tôi cũng không dám lạm bàn chi tiết về vấn đề có tầm mức lớn lao này.

Nạn đói tai hại khủng khiếp này đã khiến cho toàn thể khối nông dân ở miền Bắc rất căm thù giận ghét đối với thực dân Pháp và quân phiệt Nhật là những thủ phạm chính yếu đã gây ra  tình trạng đau thương bi đát đó. Vì thế mà vào tháng 8 năm 1945 đó, quần chúng nhân dân đã nhất loạt hăng say hưởng ứng phong trào đòi độc lập do Việt minh khởi xướng, mà họ gọi là “Cách mạng Muà Thu”. Chỉ sau đó mấy năm, khi Việt minh phát động chính sách độc tài chuyên chế với thủ đoạn sắt máu tàn bạo nham hiểm, thì người dân mới lần hồi vỡ lẽ ra. Nhưng đến lúc đó, thì đã quá trễ mất rồi!

Vào năm 2002 gần đây, nhân gặp mấy sinh viên người Nhật tại một Đại học ở Virginia, tôi có hỏi họ xem là họ có biết gì về nạn đói tại Việt nam năm 1945 khi quân đội Nhật chiếm đóng và cai trị ở đó không? Tất cả đều lắc đầu và nói rằng : “Chúng tôi không hề được biết gì về nạn đói này. Và không hề thấy sách báo nào ở Nhật viết về trách nhiệm của quân đội Nhật trong chuyện này…” Tôi bèn nói cho họ biết là : Gia đình và bà con chúng tôi đã là nạn nhân khốn khổ của nạn đói kinh hoàng. Mà quân đội Nhật bản phải có phần trách nhiệm về số 2 triệu nạn nhân đã thiệt mạng, họ đều là bà con đồng bào ruột thịt cuả chúng tôi. Đó là điều suốt đời không bao giờ mà tôi lại quên được. Nghe tôi nói vậy, mấy bạn người Nhật đều tỏ ra vẻ đăm chiêu buồn bã. Có một bạn nói lại với tôi : “ We are very sorry for such an horrible thing!” (Chúng tôi rất ân hận về sự việc khủng khiếp như thế đó!)

Năm 2010 này là năm thứ 65 kể từ ngày nạn đói năm Ất dậu tàn phá toàn thể miền quê tôi tại vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc nước ta. Tôi không thể nào mà quên được cái chết đau đớn, oan ức cuả chú Thiêm và cuả rất nhiều bà con bạn hưũ khác trong cái làng Cát xuyên nhỏ bé cuả tôi. Và tôi cũng thông cảm với các nạn nhân khác đày dãy trên thế giới ngày nay đang bị nạn đói dằn vật vì thiên tai, cũng như vì chiến tranh bạo lực, vì nạn bóc lột cướp phá do chính con người gây ra nưã./

California, cuốí năm Kỷ sưủ 2009

Đoàn Thanh Liêm

THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ

THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ

Thánh Giacôbê, quê quán tại Bethsaida, là con ông Giêbêđê và là anh em với thánh Gioan.  Ngài là một trong ba Tông đồ, ngoài những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa, còn được phúc chứng kiến sự kiện biến hình trên núi Tabor và thảm cảnh trong vườn Cây Dầu.  Lòng nhiệt thành của hai anh em đã khiến Chúa đặt cho cái tên là ‘Con Sấm Sét’.

Thánh Giacôbê đã tiến hành công cuộc tông đồ tại Giuđêa và Samaria.  Theo truyền tụng, thánh nhân đã đến rao giảng Phúc Âm tại Tây Ban Nha.  Khi trở lại Palestine vào năm 44, ngài đã trở thành vị Tông Đồ đầu tiên được phúc tử vì đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa.  Thi hài thánh nhân được cải về Santiago de Compostela bên Tây Ban Nha, và nơi đây đã trở thành một trong những nơi hành hương nổi tiếng thời Trung Cổ, và là một đền thánh đức tin cho toàn thể Châu Âu.

Uống chén của Chúa

Khi đang đi dọc theo bờ biển Galilê, Chúa Giêsu nhìn thấy Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, đang vá lưới, Người đã gọi họ, và đặt cho tên là Boannerges, nghĩa là “con của sấm sét”.

Mọi sự bắt đầu khi một số ngư phủ trên biển hồ Tibêria được Chúa Giêsu thành Nagiarét mời gọi theo Người.  Họ đã đáp lời mời gọi của Chúa Giêsu, đi theo, và sống với Người gần ba năm trời. Họ đã chia sẻ đời sống thường nhật của Chúa Giêsu, làm chứng nhân cho những lời cầu nguyện, cũng như lòng nhân lành và quyền năng của Người dành cho các tội nhân và những người đau khổ.  Họ chăm chú lắng nghe lời Chúa, những lời họ chưa từng bao giờ được nghe.

Suốt ba năm chung sống với Chúa, các Tông Đồ cảm nghiệm một thực tại rồi ra sẽ chiếm đoạt họ mãi mãi, đó là cuộc sống với Chúa Giêsu.  Đó là một kinh nghiệm phá vỡ nếp sống trước kia của họ; họ phải từ bỏ mọi sự – gia đình, nghề nghiệp, và tài sản của họ – để đi theo Người.  Tóm lại, họ đã được dẫn vào một con đường sống hoàn toàn mới mẻ.

Một ngày nọ, Chúa Giêsu mời gọi Giacôbê đi theo Người.  Giacôbê là anh của Gioan, và là con của bà Salômê, một phụ nữ đã dùng tài sản để giúp Chúa Giêsu và sau cùng cũng có mặt trên núi Canvê.  Giacôbê đã biết Chúa Giêsu trước khi được Chúa gọi.  Cùng với Phêrô và em trai mình, Giacôbê được Chúa Giêsu yêu thương cách riêng.  Ngài là một trong ba vị được chứng kiến biến cố Biến Hình trên núi Tabor.  Ngài cũng có mặt khi Chúa cho con gái ông Giairô sống lại, và là một trong ba Tông Đồ cùng đi với Chúa Giêsu vào vườn Cây Dầu lúc khởi đầu cuộc Thương khó.

Phúc Âm ngày lễ thánh Giacôbê kể cho chúng ta một biến cố lạ lùng trong đời Ngài.  Chúa Giêsu loan báo về cuộc Khổ nạn và cái chết sắp đến của Người: “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp vào tay các trưởng tế và ký lục, họ sẽ kết án tử và giao nộp Người cho dân ngoại chế nhạo, chúng sẽ đánh đòn và đóng đinh Người vào thập giá.  Nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại”. Chúa cảm thấy cần chia sẻ những tâm tình sâu lắng nhất đang chất chứa trong lòng cho các môn đệ. Khi ấy, bà mẹ của các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Chúa Giêsu, và bà bái lạy và kêu xin Người một điều: Bà xin Chúa dành cho các con của bà hai chỗ ưu tiên trong nước vinh quang của Người sắp đến.  Chúa Giêsu quay sang hai anh em và hỏi họ có thể chia sẻ số phận với Người không. Chúa đề nghị họ hãy uống chung chén của Người.  Thời xưa, việc trao chén mình cho ai uống là một dấu chỉ của tình thân hữu.  Các vị liền đáp: “Thưa được!”  Những lời ấy nói lên một tấm lòng thuần thục và quảng đại.  Những lời ấy phản ánh thái độ của mọi người trẻ và của mọi tín hữu thành tâm, nhất là của những ai sẵn sàng làm tông đồ để loan báo Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã chấp nhận lời đáp quảng đại ấy và phán bảo: ‘Chén của Ta, các con cũng sẽ uống”, các con sẽ chia sẻ những đau khổ của Ta, các con sẽ hoàn tất cuộc Khổ nạn của Ta nơi thân xác các con.  Không bao lâu sau đó, vào năm 44, Giacôbê đã bị xử trảm tử vì đạo.  Còn Gioan đã chịu bách hại đủ kiểu trong cuộc đời trường thọ của Ngài.

Kể từ khi Chúa Kitô cứu chuộc chúng ta trên thập giá, tất cả đau khổ của các tín hữu là cùng uống chén của Chúa Kitô qua việc chia sẻ cuộc Thương khó, Tử nạn, và Phục sinh của Người.  Nhờ đau khổ, một cách nào đó, chúng ta hoàn tất cuộc Khổ nạn của Chúa, và kéo dài trong thời gian với những hoa trái của công cuộc ấy.  Những đau khổ nhân loại chỉ mang ý nghĩa cứu độ khi được liên kết mật thiết với sự khổ nhục Chúa Giêsu đã chịu.  Với lòng nhân lành, Chúa đã cho chúng ta chia sẻ chén đắng của Người.  Trước những khó khăn, bệnh tật hoặc đau khổ của chúng ta, Chúa Giêsu cũng nêu lên một câu hỏi: “Con có thể uống chén của Ta không?”  Nếu hợp nhất với Chúa, chúng ta sẽ tích cực đáp lại và chịu đựng tất cả những gian khổ về phương diện nhân loại vì danh Người.  Trong sự hợp nhất với Chúa Kitô, ngay cả những đau đớn và thất bại của chúng ta cũng sẽ biến thành niềm vui và bình an.  Cuộc cách mạng vĩ đại của Kitô giáo chính là việc đã biến đau khổ thành đau khổ hiệu quả, biến một điều xấu thành một điều tốt.  Chúng ta đã tước thứ vũ khí này của ma quỉ, và với thứ vũ khí này, chúng ta có thể đạt được sự sống vĩnh cửu.

Đừng chán nản trước những khuyết điểm bản thân – Hãy tìm sức mạnh nơi Chúa

Từ lúc Giacôbê bày tỏ những tham vọng không được cao thượng của Ngài cho đến khi được chịu tử vì đạo là một cuộc biến chuyển nội tâm lâu dài.  Sự nhiệt thành của Ngài trước kia chống lại những người Samaria không muốn tiếp đón Chúa Giêsu – dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giêrusalem – nhưng về sau đã biến nên lòng nhiệt thành vì các linh hồn.  Từng bước một, tuy không làm mất cá tính hăng hái, nhưng Giacôbê biết rằng nhiệt tâm vì quyền lợi Thiên Chúa không thể dính dáng đến bạo lực hoặc chua chát. Chỉ có vinh quang Thiên Chúa là khát vọng duy nhất xứng đáng mà thôi.  Thánh Clêmentê thành Alexandria kể lại khi vị tông đồ nước Tây Ban Nha được điệu ra trước tòa xử, thần thái của ngài liêm chính đến độ kẻ tố cáo ngài sau đó đã đến xin ngài tha lỗi.  Thánh Giacôbê suy tư… và sau đó ôm hôn kẻ tố cáo mình, và nói: “Anh hãy bình an”.  Hai người sau đó cùng được lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Khi suy niệm về cuộc đời thánh Giacôbê tông đồ, chúng ta được lợi rất nhiều khi nhìn thấy những khuyết điểm của Thánh nhân cũng như của các Tông đồ khác.  Các Ngài không can trường, không khôn ngoan, mà cũng chẳng đơn sơ.  Chúng ta thấy các ngài đôi khi rất ham hố, hay tranh cãi, và thiếu đức tin.  Tuy nhiên, thánh Giacôbê là vị Tông đồ đầu tiên được tử đạo.  Như thế, hiển nhiên là sự phù trợ của Thiên Chúa cũng có thể thực hiện những phép lạ nơi chúng ta.  Ngày nay trên thiên quốc, thánh Giacôbê ắt phải tri ân Thiên Chúa rất nhiều vì đã hướng dẫn ngài trên con đường khác với con đường ngài đã mơ tưởng trước đó.  Thiên Chúa là Đấng tốt lành, vô cùng khôn ngoan, và đầy yêu thương vượt quá trí tưởng của chúng ta.  Trong nhiều trường hợp, Người không ban cho chúng ta những điều chúng ta xin, nhưng đó lại là điều thích hợp và lợi ích nhất cho chúng ta.

Theo các trình thuật Phúc Âm, như các Tông đồ, Giacôbê cũng có những khuyết điểm rõ ràng và không thể chối cãi.  Tuy nhiên, bên cạnh những khiếm khuyết ấy, thánh nhân cũng có một tâm hồn và một con tim vĩ đại.  Chúa Giêsu lúc nào cũng nhẫn nại với Ngài cũng như với các Tông đồ khác. Thầy Chí Thánh cho các ngài thời gian để hấp thụ những bài học mà Người đã dùng sự khôn ngoan và tình thương để truyền dạy cho họ.  Thánh Gioan Kim khẩu viết: “Chúng ta hãy xét Chúa đặt câu hỏi tương tự như một lời mời gọi và một lời kích lệ như thế nào.  Chúa không nói: ‘Ngươi có thể chịu thất bại được không? Ngươi có dám chịu đổ máu không?’ nhưng Chúa lại hỏi: ‘Ngươi có thể uống…’ Để khích lệ họ, Chúa còn thêm: ‘… chén Ta sẽ uống hay không?’  Tưởng nghĩ đến việc uống chính chén của Chúa đã đưa các Tông đồ đến sự đáp ứng quảng đại hơn.  Chúa Giêsu gọi cuộc Khổ nạn của Người là ‘phép rửa’ để nhấn mạnh những đau khổ của Người sẽ là nguyên nhân cho cuộc thanh tẩy toàn thế giới.”

Chúa cũng đang mời gọi chúng ta.  Ước chi chúng ta đừng đầu hàng sự chán nản khi những khuyết điểm và yếu đuối của chúng ta trở nên rõ rệt.  Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu để xin phù giúp, Người sẽ ban cho chúng ta ơn can đảm để tiếp tục trung thành dấn bước, bởi vì Chúa luôn nhẫn nại và cho chúng ta thời giờ cần thiết để cải thiện.

Sưu tầm

Hạnh Phúc Thay Ai Kính Sợ THIÊN CHÚA, Ăn Ở Theo Đường Lối Ngài

Hạnh Phúc Thay Ai Kính Sợ THIÊN CHÚA, Ăn Ở Theo Đường Lối Ngài

Ngay từ thơ bé tôi được song thân giáo dục phải luôn luôn chú ý đến tha nhân, đặc biệt người nghèo

Bà Anna Maria Rizzante làm việc tông đồ với tư cách thừa sai giáo dân tại Amazzonia bên nước Ba-Tây thuộc Châu Mỹ La Tinh. Bà cùng với hiền phu Sandro và hai con – một trai một gái – dấn thân phục vụ người nghèo. Thời thiếu nữ, Anna Maria có ý định dâng mình cho THIÊN CHÚA trong Hội Dòng Đaminh thánh nữ Caterina thành Siena. Hội Dòng có một Cộng Đoàn tại Scandolara (Bắc Ý) nơi quê sinh của thiếu nữ. Nhưng THIÊN CHÚA Quan Phòng định liệu cách khác. Không thực hiện được ước nguyện tu trì, Anna Maria dấn thân phục vụ người nghèo, những ai cần sự trợ giúp. Sau khi lập gia đình, bà tiếp tục lý tưởng tông đồ. Bà cùng chồng và hai con tình nguyện đi truyền giáo tại Ba-Tây với tư cách thừa sai giáo dân. Xin nhường lời cho bà Anna Maria Rizzante.

Chính Song Thân gieo vào lòng tôi thiện ý dâng hiến cuộc đời phục vụ anh chị em xa xôi và nghèo khổ. Trước tiên, Cha Mẹ tôi nêu cao gương sáng về cuộc sống vị tha xả kỷ. Ngay từ thơ bé tôi được song thân giáo dục phải luôn luôn chú ý đến tha nhân, đặc biệt người nghèo. Tâm tình trìu mến thương yêu người nghèo theo sát và đưa tôi đến Bologna rồi đến Roma. Nơi thủ đô Roma tôi trải qua 10 năm của thời thiếu nữ trong việc học hành, cầu nguyện và các công tác thiện nguyện. Đó là những năm tuyệt vời để lại nơi tôi những kỷ niệm khó quên.

Từ các năm tháng này, chín mùi nơi tôi ước muốn dấn thân hoạt động tông đồ. Quyết định chung kết đưa tôi từ Roma sang làm việc tại Amazzonia bên Ba-Tây, với tư cách thừa sai giáo dân. Cùng với các tín hữu Công Giáo tại địa phương chúng tôi dành ưu tiên cho các hoạt động nhằm thăng tiến cuộc sống nữ giới. Chúng tôi lắng nghe và chia sẻ cuộc sống của phụ nữ trong một xã hội có nhiều nghèo đói và bất công. Chúng tôi cố gắng làm sao cho cuộc sống của nữ giới có ý nghĩa, diễn ra trong tự do hoàn toàn và mang lại nhiều hoa quả phong phú.

Tôi kết hôn với Sandro và chúng tôi có hai con, một trai một gái. Chúng tôi sẽ hân hạnh trở thành ông bà nội ngoại của các cháu. Tôi là người mẹ người vợ Công Giáo may mắn. Bởi vì, cùng với hiền phu Sandro, chúng tôi chia sẻ trong mọi lãnh vực. Chẳng những chúng tôi hợp tác trên bình diện hôn nhân và gia đình mà còn chung mối hiệp thông sâu xa về lý tưởng và cuộc sống. Thật tuyệt vời! Niềm hiệp thông vợ chồng chúng tôi nhận lãnh với niềm tri ân chân thành như hồng ân cao cả đến từ THIÊN CHÚA. Niềm hiệp thông khuyến khích chúng tôi sống trung tín tình nghĩa phu-thê và trung tín với ơn gọi mà mỗi người được kêu mời thực hiện.

Nhưng trước hết và trên hết, chúng tôi thề hứa trung tín với THIÊN CHÚA của người nghèo và trung tín với người nghèo của THIÊN CHÚA, cũng như trung tín với đất đai của THIÊN CHÚA. Chính trong ý hướng sau cùng này mà chúng tôi dấn thân hoạt động trong lãnh vực Mục Vụ Điền Địa, trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Ba-Tây. Chúng tôi tranh đấu cho dân nghèo có cuộc sống xứng đáng hợp nhân phẩm, thắng vượt bất công, nghèo đói và đàn áp từ nhiều phía.

Tranh đấu của chúng tôi không đi theo chiều hướng chính trị nhưng nằm trong lãnh vực xã hội theo đúng tinh thần Tin Mừng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Hoạt động của các thừa sai giáo dân chúng tôi luôn luôn được Lời Chúa soi sáng hướng dẫn. Cuộc sống của chúng tôi không dễ dàng xuôi chảy nhưng tràn đầy khó khăn. Tấm gương của biết bao thừa sai bị giết vì các hoạt động tranh đấu cho dân nghèo luôn luôn ở trước mắt chúng tôi. Chúng tôi không nao núng sợ hãi. Đôi khi công việc hoạt động tông đồ của chúng xem như vô ích và thất bại. Nhưng chính lúc ấy, chúng tôi cảm nhận sâu xa quyền năng vô biên của THIÊN CHÚA. Chính THIÊN CHÚA sẽ ra tay can thiệp đúng thời đúng lúc. Chính Ngài giải phóng và cứu thoát dân nghèo của Ngài. Chúng tôi – đầy tớ của THIÊN CHÚA – chúng tôi hoàn toàn đặt trọn tin tưởng phó phác nơi Tình Yêu của Ngài.

… ”Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ THIÊN CHÚA, ăn ở theo đường lối của Ngài. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ôliu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn. Đó chính là phúc lộc THIÊN CHÚA dành cho kẻ kính sợ Ngài. Xin THIÊN CHÚA từ Sion xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc. Ước chi trong suốt cả cuộc đời bạn được thấy Giêrusalem phồn thịnh, được sống lâu bên đàn con cháu. Nguyện chúc Israel vui hưởng thái bình” (Thánh Vịnh 128 (127).

(”Allez, Allez Petites”, Quadrimestrale della Congregazione delle Suore Domenicane di Santa Caterina da Siena, Numero 3, Anno II, Santa Natale 2008, trang 13-15)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

CHĂM SÓC CHA MẸ GÌA

CHĂM SÓC CHA MẸ GÌA

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Đang ngồi họp, Vân được cho hay có điện thoại khẩn cấp. Chị vội đứng lên, về phòng. Bà hàng xóm nơi mẹ Vân đang ở, cho hay bà cụ vừa được đưa vào nhà thương. Bà cụ té ngã.

Vân vào cáo lỗi với ông chủ rồi xuống lấy xe lái vào bệnh viện thăm mẹ.

Trên đường đi, nàng dùng điện thoại di động báo cho Huân, chồng nàng hay. Huân hiện đang đi công tác ở miền miền Trung nước Mỹ, tuần sau mới về. Rồi suốt mười lăm phút lái xe, nàng suy nghĩ mung lung, với nhiều lo âu, bối rối. Sự việc mà nàng hằng nghĩ trước sau gì cũng xẩy ra, thì bây giờ nó đã đến, hơi sớm một chút.

Sau khi ba Vân mất cách đây dăm năm, mẹ Vân dọn về ở với vợ chồng nàng. Rồi sau một thời kỳ thích nghi với hoàn cảnh mới, nếp sống mới của người góa phụ, bà cụ dọn ra ở riêng.

Cụ tới khu người già trong khuôn viên chùa Linh Sơn. Cụ nói lên đây ở để đi lễ bái cho gần, lại có mấy cụ già quanh quẩn với nhau cho vui. Nhất là có hai người bạn học từ thuở xưa ở Hải Phòng, mà họ thường hay liên lạc chuyện trò.

Khu người già được lập ra từ hơn mười năm, có 40 phòng, dành cho các cụ độc thân, còn đủ sức khỏe, đi lại được, còn tự chăm sóc nấu ăn, giặt giũ. Các cụ sống hợp quần với nhau rất vui. Ngày ngày các cụ lên Chùa lễ bái, tụng kinh rồi làm công quả. Lâu lâu nhà Chùa tổ chức đi thăm viếng đây đó hoặc đi lễ hội Chùa tại thành phố khác. Đôi khi trời mưa, các cụ ở nhà rủ nhau làm vài hội chắn hoặc bài cào để tiêu khiển giải trí.

Nhưng từ trong thâm tâm thì cụ không muốn phiền con cháu quá lâu. Từ trước tới nay cụ là người rất hoạt động, phải nói là đảm đang nữa. Cùng chồng, cụ đã đôn đáo tìm đường thoát khỏi Sài Gòn vào biến cố 1975, rồi nuôi nấng, gây dựng cho sáu mặt con từ khi còn ở trong nước tới khi sang Hoa Kỳ hơn ba chục năm nay. Cháu nội ngoai các cụ có hơn một tá.

Mọi việc xuôi sẻ cho đến ngày hôm nay.

Thực ra thì từ năm ngoái, cụ đã không được khỏe lắm. Huyết áp lên cao, các khớp xương thì mỗi khi trái gió, trở trời là đau nhức, khiến cụ mất ngủ. Có đêm, cụ chỉ ngủ được có vài ba giờ, nên ban ngày mệt và hay kêu chóng mặt, nhức đầu.

Cách đây ba tuần cụ phải nằm bệnh viện mất mươi ngày vì sưng phổi. Sau khi xuất viện, vợ chồng Vân muốn mời cụ về ở chung một thời gian cho khỏe nhưng cụ một mực từ chối, nói không sao. Vân đã cho anh chị em biết về tình trạng sức khỏe của cụ và mọi người dự định là tháng tới sẽ về để cùng thảo luận coi xem nên làm gì.

Tới bệnh viện, Vân được cô y tá cho hay tự sự.

Số là sáng nay, mấy ông bà hàng xóm sang rủ cụ lên Chùa tụng niệm, như lệ thường. Gõ cửa không có tiếng trả lời, một lão ông bèn đẩy cửa bước vào và thấy mẹ Vân nằm song soài dưới đất, cạnh bàn điện thoại, nét mặt nhăn nhó. Cụ sửa soạn lên Chùa thì bị một cơn chóng mặt, xỉu đi và ngã xuống nền nhà. Cụ cố với tay tới điện thoai để kêu cứu, nhưng đau quá, không lết thêm được.

Bác sĩ đã khám, chụp hình thì thấy cụ bị gẫy xương hông. Cụ hiện đang nằm trong phòng cấp cứu. Bác sĩ chờ thân nhân tới để thảo luận vì cụ cần được giải phẫu.

Vân vào phòng, thấy mẹ nằm thiu thiu mà nước mắt trào ra. Da mặt bà cụ xanh nhợt, vẫn còn phảng phất nét đau đớn. Vân nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, để mẹ tiếp tục ngủ. Nhìn mẹ mà lòng vân bối rối. Cả trăm vấn đề hiện lên trong đầu Vân. Sau giải phẫu, mẹ sẽ ra sao? Liệu có đi lại được không? Huyết áp cao, bệnh phong thấp hoành hành, lại mất ngủ thì sức khỏe chắc là phải sa sút.

Mấy tháng trước, khi vợ chồng Vân đến thăm, thấy cụ cứ than là ăn không ngon miệng, nên đôi khi chẳng thèm nấu cơm, mà chỉ uống ly sữa, ăn miếng bánh khô cho khỏi đói bụng. Coi tủ lạnh, Vân thấy mấy món ăn thiu đã lên men. Vào buồng tắm thấy nước vặn bỏ quên không khóa. Vợ chồng Vân đã lo ngại…

Rồi Vân nghĩ tới hoàn cảnh của mình.

Trong sáu người con, Vân là người duy nhất ở gần mẹ. Mà bà cụ vẫn có cảm tình đặc biệt với Vân, nên trước sau cụ vẫn nói là mai mốt nếu cần “tao chỉ ở với vợ chồng con Vân thôi. Nó bướng bỉnh nhưng có lòng”.

Vợ chồng Vân được hai trai một gái đã vào đại học nên cũng nhẹ gánh. Vân mới được lên chức và trong tương lai gần, sở sẽ cho nàng đi học thêm để lấy bằng chuyên môn. Vân đã sắp xếp như vậy cho mình. Chồng nàng thì cứ vài tháng phải đi công tác xa mươi ngày.

Bây giờ, cơ sự sẩy ra như thế này, mọi dự tính của Vân đều phải xét lại. Để chờ cụ giải phẫu xong rồi tuần sau anh chị em về sẽ tính. Nhưng Vân có linh tính rằng nàng sẽ là người đứng mũi chịu sào. Mẹ mình vẫn muốn vậy, nàng tự nhủ.

Bà cụ chợt tỉnh giấc, mở mắt. Nhìn thấy Vân, Cụ gượng cười. Và trong đôi mắt của mẹ, Vân đọc thấy những nét thất vọng, sợ hãi, chịu thua…

Trường hợp của chị Vân là một trong cả trăm ngàn trường hợp tương tự.

Tuổi thọ con người kéo dài lâu hơn, tới 75, 80 là chuyện thường. Chứ không “Thất thập cổ lai hy” như vào thế kỷ trước. Số những người cao tuổi mỗi ngày mỗi gia tăng. Sức khỏe người già có khá hơn nhờ các cụ biết giữ gìn nếp sống cũng như được cung cấp dịch vụ y tế, thuốc men đầy đủ.

Nhưng một cơ thể lâu đời vẫn có những thay đổi tự nhiên theo chiều đi xuống cộng thêm những bệnh kinh niên, những tai nạn bất ngờ, với hồi phục chậm chạp. Biết bao nhiêu mất mát đã chồng chất lên niên kỷ, những xói mòn làm mong manh thân xác.

Dù vậy nhiều người già vẫn gắng gượng tự lo, chưa muốn phụ thuộc vào các con. Họ cũng có những kiêu hãnh riêng tư, những niềm tự trọng, đôi khi cũng chỉ e ngại “cảnh cha mẹ nuôi con như trời như bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày ”. Nhưng sức gắng gượng chỉ có hạn, rồi một ngày nào đó cũng yếu đi. Như căn nhà tranh vách đất trước gió bão, cần được chống đỡ.

Và cũng là lúc con cái phải suy nghĩ, xem ai sẽ là người lãnh trách nhiệm. Chắc phải là người có thiện chí, có điều kiện, khả năng và hoàn cảnh thuận tiện.

Phục vụ thân nhân cao tuổi là một vinh dự cho con cái đồng thời cũng là vấn đề quan trọng của nhiều xã hội hiện nay. Tại Hoa Kỳ hiện nay có tới cả 40 triệu người cung cấp chăm sóc không lương cho cha mẹ già. Sự chăm sóc này ảnh hưởng dây chuyền tới nhiều lãnh vực khác. Sẽ có nhiều người vắng mặt ở sở hoặc đi làm trễ; sẽ có dùng nhiều điên thoại để lấy hẹn bác sĩ, gọi mua thuốc. Nhiều nhân viên tới sở than phiền mỏi mệt mất ngủ. Tai nạn tại chỗ dễ sẩy ra. Thay đổi việc làm nhiều hơn. Và số người bị trầm cảm, đau ốm sẽ gia tăng.

Trong thực tế thì có rất ít gia đình đã sửa soạn để sẵn sàng giải quyết việc chăm sóc cha mẹ khi về già. Nhiều việc xẩy đến bất thường, đòi hỏi có quyết định ngay.

Ông bố đang có sức khỏe tốt, đột nhiên bị tai biến não, liệt nửa thân, nằm bất động cần giúp đỡ với nhu cầu căn bản, thiết yếu hàng ngày: ăn uống, tắm rửa, đại tiểu tiện, cho uống thuốc…

Con dâu đang vừa đi làm vừa trông nom bà mẹ chồng, giờ đây con dâu cũng thường đau ốm. Ai là người sẽ lãnh trách nhiệm săn sóc ông bố? Ai sẽ tiếp tay với mình trông nom mẹ chồng?

Theo kinh nghiệm thì dù có nhiều anh chị em, nhưng trách nhiệm chăm sóc không đồng đều chia sẻ khi bố mẹ cần. Có thể là người con gái lớn với cả một bầy con hoặc cô út chưa đi ở riêng, hoặc nàng dâu nhà ở gần bố mẹ. Đôi khi là cậu con trai cưng. Nhưng thường ra thì chỉ có một người đóng vai chính, thường xuyên.

Nói như vậy không có nghĩa lã không có chia sẻ về tài chánh, về công việc chăm sóc mà qua người này mọi việc được giáo phó, phối hợp và thông báo cho người khác khi cần. Một tiểu gia đình cộng thêm hai cụ thân sinh. Thế hệ người chăm nuôi được ví như thế hệ của một chiếc “ bánh mì kẹp chả” , với trách nhiệm làm cha mẹ, bổn phận làm con và đời sống riêng tư của mình.

Nói đến người săn sóc thường thường là ta nghĩ đến vai trò của người phụ nữ: con gái, con dâu, chị em, cháu. Theo kết quả thăm dò tại Hoa Kỳ, cứ 10 người chăm sóc thì 6 người là con gái hoặc con dâu. Cũng chẳng ai hiểu tại sao. Có lẽ đó là thiên chức của họ sinh ra với những nét dịu dàng, nhậy cảm, những quan tâm, linh động, nhất là đức tính hy sinh, nhẫn nại, thông cảm để chăm sóc chồng con, bố mẹ. Điều đó cũng đúng vì việc tề gia nội trợ, việc chăm sóc nâng niu thì cũng hiếm đàn ông làm hơn quý bà được.

Cho nên khi một bà cụ khoe “tôi ở với con trai” thì thực ra phải hiểu là bà cụ đang ở với con dâu mới công bằng, chính xác. Đàn ông cũng làm được công việc đó nhưng tổng quát hơn, sắp đặt nhiều hơn là đi vào chi tiết. Mà những chi tiết mới là điều mà người phụ thuộc cần và quan trọng đối với họ.

Người đàn bà có chín tháng mười ngày sửa soạn để đón chào đứa con ra đời, nhưng họ không có một phần mười thời gian đó để sẵn sàng cho trách nhiệm nuôi cha nuôi mẹ .Vì sự việc xẩy ra không lường trước.

Vả lại, nuôi con là thấy mỗi ngày chúng vươn ra khỏi vòng phụ thuộc, còn nuôi bố mẹ già thì nhu cầu giúp đỡ mỗi ngày mỗi tăng, mỗi đi sâu vào sự lệ thuộc. Nhiều người như bơi lội quay cuồng trong vai trò mới của mình. Kinh nghiệm chưa có, làm sao học được cách thức điều dưỡng trong vài ngày. Tài chánh giới hạn. Sức khỏe kém. Công việc trở ngại. Ngoài việc làm kiếm gạo, mỗi ngày cũng phải dành ra vài giờ cho việc săn sóc. Họ cảm thấy cô đơn, buồn chán, nhiều khi bực bội, bất mãn, tuyệt vọng. Không còn riêng tư cho mình. Tương lai như ngưng lại. Họ mủi lòng cho người thân, người mà bạn đường đã sớm bỏ ra đi, sức khỏe đang hao mòn và biết rằng đang là gánh nặng cho con cháu.

Tình nghĩa gia đình, lòng hiếu thảo, mặc cảm chịu ơn là những hỗ trợ để người chăm sóc tiếp tục. Họ nghĩ là có bổn phận phải chăm sóc cha mẹ như cha mẹ đã nuôi nấng, trìu mến họ.

Tuy nhiên dù có cứng nhưng cũng có ngày ngả nghiêng trước gió táp. Những chia xẻ trách nhiệm, những giúp đỡ từ anh chị em, thân nhân đã tới lúc cần có vì việc chăm sóc là trách nhiệm chung của cả gia đình.

Thường thì một người tình nguyện chăm sóc thường xuyên. Còn người khác phụ giúp khi được yêu cầu hay khi có cơ hội thuận tiện. Sắp xếp sao để tránh khỏi một người bị kiệt sức. Hoặc đưa tới bất hòa giữa anh chị em. Một người mẹ có thể chăm sóc cả bầy con mười đứa, nhưng khi cha mẹ già thì mười đứa con không chăm sóc được một mẹ. Kể cũng éo le, tội nghiệp.

Sau một thời gian cố gắng, người chăm nom bắt đầu có những dấu hiệu khó khăn. Đôi khi họ cố tình gạt bỏ những nhu cầu riêng, quên những đau ốm cá nhân để lo cho người thân yêu. Có người từ chối sự tiếp tay của anh chị em hoặc bạn bè, nhóm hội. Họ cứ nghĩ có đủ sức làm mọi việc và nếu nhận sự tiếp tay là thú nhận thất bại, kém khả năng. Có người cho là chỉ có mình mới chăm sóc chu đáo, không tin ở người khác.

Để rồi kiệt sức, ngã bệnh. Thử tưởng tượng một người không có sức khỏe dồi dào, săn sóc một người không khỏe lắm, thì chắc kết quả cũng chẳng được mấy hoàn hảo, như ý muốn của đôi bên.

Theo mấy ông bà thống kê thì người cống hiến chăm sóc bị cao huyết áp gấp đôi người khác, 91% bị trầm cảm, bốn lần bực bội, cau có hơn người nhận. Họ bất mãn vì đã cố gắng hết mình mà tình trạng người thân mỗi ngày mỗi suy kém, nên họ phải cố gắng hơn trong việc chăm sóc. Họ có cảm tưởng như mình là người duy nhất có thể trông nom chu đáo được cho người thân, luôn luôn e ngại rằng sự săn sóc của anh chị em sẽ làm cha mẹ già suy yếu hơn.

Đôi khi họ thấy không có được một thì giờ dành cho mình, một chút riêng tư với chồng con. Rồi tính tình thay đổi, hay cau có, bực tức, giận dỗi vu vơ; cảm thấy khó chịu với người mình đang trông nom, đã chẳng chịu hợp tác lại còn bướng bỉnh, đòi hỏi.

Lâu lâu họ thấy trong người mệt mỏi, ngủ không được. Nhiều sáng họ sợ không dám thức dậy, sợ phải đương đầu với những thường lệ mỗi ngày lại diễn ra.

Ngoài ra, dịch vụ chăm sóc cũng gây trở ngại cho công việc làm ăn, cho đời sống giao tế hàng ngày. Và đôi khi họ không còn thấy vui vẻ kiêu hãnh về trách nhiệm của mình, hoặc cảm thấy tội lỗi về những ý nghĩ không tốt của mình đối với người thân.

Rồi một lúc nào đó ngã bệnh, buông xuôi…

…Để tiếp tục chăm lo cho mẹ, Vân đã dành cho bản thân chị một vài chăm sóc, nhân nhượng. Vân đã như nghe thấy từng thớ thịt kêu gào với Vân, “cho tôi nghỉ chút xíu chứ, bạn đã sử dụng quá sức lao động của tôi để phục vụ bà cụ rồi đó”!

Vân đã sẵn sàng, dễ dãi tiếp nhận sự giúp đỡ của anh chị em.

Cô Lan ơi, tuần sau lên đón mẹ về với em, đỡ hộ chị mươi ngày nhé, anh chị định đi xả hơi ngoài biển.

Anh Hoan ơi, bác sĩ nói mẹ cần uống thêm sữa đậu nành, hay là anh nói với chị làm hộ em mỗi tuần vài lít nhé.

Chị đã xen kẽ xả hơi và chăm sóc để duy trì sinh lực, lấy lại nhiệt tâm. Dạo này Vân để ý đến ăn uống đầy đủ dinh dưỡng hơn. Ngày nào chị cũng dành 15 phút để vận động cơ thể.

Nàng lo nhất là bị rối loạn giấc ngủ. Ban đêm nhiều khi Vân phải thức dậy giúp đưa mẹ vào phòng tắm, lấy miếng nước, viên thuốc cho mẹ. Vân biết là mất ngủ sẽ mau đưa tới nhiều tiêu hao tinh thần thể xác.

Chị cũng đã nghĩ đến một ngày nào đó phải cần đến sự giúp đỡ của các dịch vụ chăm sóc người già của chính phủ, của các tổ chức trong cộng đồng, tôn giáo, xã hội, những nhóm hỗ trợ tư nhân, trung tâm chăm sóc ban ngày. Các dịch vụ này có sẵn tại mỗi địa phương lớn nhỏ tại Hoa Kỳ.

Nhưng quan trọng nhất vẫn là nói chuyện với anh chị em. Để phân chia công việc săn sóc, phụng dưỡng người mẹ cô đơn được chu đáo trong những năm tháng còn lại của Mẹ…

Vì:

“ Mẹ già như chuối chín cây”.

Rụng lúc nào, không biết.

Cũng như Cha đã về nguồn cách đây mấy năm.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.

www.bsnguyenyduc.com

Tác giả: Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.