Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

  • Chuyện có thật mà cứ như đùa ấy.

Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

Đoàn Thanh Liêm

 (Chuyện kể từ một nhà báo và tác giả nổi tiếng quốc tế : Oriana Fallaci).

Oriana Fallaci (1929 – 2006)

Oriana Fallaci sinh trưởng tại thành phố Florence nước Ý Đại Lợi. Bà là một

nhà báo nổi danh quốc tế. Trong suốt mấy chục năm lăn lộn trong ngành báo

chí, Oriana đã phỏng vấn rất nhiều nhân vật có danh tiếng trên thế giới và

gây được tiếng vang trong dư luận khắp nơi. Điển hình như các nhân vật sau

đây : Giáo chủ Ayatollah Khomeini, Đức Dalai Lama, Lành tụ Đặng Tiểu

Bình, Tiến sĩ Henry Kissinger, Lãnh tụ Yasir Arafat, Nữ Thủ tướng Ấn độ

Indira Gandhi, Bà Thủ tướng Do Thái Golda Meir v.v…

Bà còn viết nhiều cuốn sách được rất nhiều độc giả ưa chuộng tìm đọc, cụ

thể như cuốn “Nothing, and so be it ” viết chủ yếu về chuyện chiến tranh ở

Việt nam hồi cuối thập niên 1960. Và nhất là trong mấy cuốn xuất bản gần

đây sau cuộc khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, như : “The Pride and the

Rage ”, “ The Force of Reason “, bà đã thẳng thắn phê bình chê trách số di

dân người Ả rập và Hồi giáo đã gây khó khăn cho nước Ý, cũng như cho

toàn thể Âu châu. Mấy cuốn sách này đã gây ra một cuộc tranh luận gay go,

sôi nổi giữa bên bênh và bên chống đối với lập trường cứng rắn dứt khoát

của bà. Một số tổ chức của người Hồi giáo còn đâm đơn kiện bà ra tòa về tôi

phỉ báng và kỳ thị đối với người theo đạo Hồi.

Chuyện quan hệ giữa người di dân Hồi giáo với người Âu châu rất phúc tạp,

đến nỗi mà vừa mới đây vị Thủ tướng nước Pháp Francois Fillon đã phải lên

tiếng với lời lẽ rất cương quyết đanh thép, để nhắc nhủ người di dân Hồi

giáo như sau : “ Những người di dân không phải là gốc Pháp, thì phải thích

nghi (với xã hội Pháp) “ (nguyên văn tiếng Pháp : “ Les immigrants, non

francais, doivent s’adapter “).

Về chuyện liên quan tới Việt nam vào thời chiến tranh trước năm 1975, ta có

thể ghi lại vài mẩu chuyện như sau đây :

  1. a) Trong cuốn “Nothing, and so be it”, tác giả có kể lại cuộc phỏng vấn

một cán binh trong nhóm “đặc công” cộng sản, mà chuyên đặt mìn

phá hoại và sát hại tại các địa điểm quân sự cũng như dân sự ở Saigon

vào các năm 1964-66, rồi bị cơ quan an ninh của chánh quyền Việt

nam bắt giữ. Anh này khai tên là Nguyễn Văn Hai, người miền Nam.

Nhưng anh ta rất gan dạ, nhất quyết không chịu khai báo một chi tiết

nào về các vụ đặt mìn của mình. Cuối cùng, cơ quan điều tra phải cử

một sĩ quan rất có kinh nghiệm để tiến hành việc thẩm vấn nghi can

 Hai này. Điều tra viên này lập kế, khêu gợi “ bản lãnh anh hùng” của

nghi can, bằng cách dụ dỗ anh ta như sau : “ Chúng tôi đã thâu thập

được đày đủ bằng chứng do chính các đồng đội của anh mà cũng bị

bắt sau anh, thì họ đều xác nhận anh là kẻ chủ mưu chính yếu trong

mấy vụ đặt mìn này. Chúng tôi cần lời khai của anh để anh có dịp xác

nhận cái hành động anh hùng dũng cảm của anh trong khi theo đuổi lý

tưởng cách mạng giải phóng dân tộc. Như vậy, nếu mà anh có bị tòa

án xử thế nào đi nữa, thì mọi người cũng sẽ biết được cái nghĩa khí

anh hùng của anh. Và tổ chức Mặt trận Giải phóng sẽ vinh danh con

người “dũng sĩ cách mạng” của anh. Ngược lại, nếu mà anh cứ nhất

định không chịu khai báo gì cả, thì rồi anh cũng sẽ bị sát hại như “một

kẻ vô danh bị tai nạn xe cán tại một xó xỉnh nào đó” mà thôi…” Nghe

vậy, rốt cuộc nghi can Hai đã khai báo mọi chi tiết về hoạt động đặt

mìn phá hoại của mình. Và cơ quan điều tra đã có thể kết thúc hồ sơ

để truy tố đương sự ra trước tòa án quân sự mặt trận.

Khi Oriana được cho tiếp súc với nghi can để tiến hành việc phỏng

vấn này, thì cuộc điều tra đã hoàn tất. Nên nhà báo muốn khai thác

nhiều chi tiết về đời sống riêng tư của người đặc công gan dạ này. Tác

giả đã ghi lại khá nhiều chi tiết về sở thích cá nhân, về gia cảnh … của

đương sự. Và có chi tiết này rất đáng chú ý, đó là cuối cùng đặc công

Nguyễn Văn Hai tâm sự với nhà báo rằng : “ Tôi thật ân hận là vẫn

còn ham chuộng cái danh vọng hão huyền, để cho mình được ca tụng

như là một “người anh hùng”, nên mới khai báo chi tiết về hành động

của mình khiến cho các đồng chí bị liên lụy và bị bắt giữ, làm cho tổ

chức bị tan rã. Thật là chuyện đáng hối tiếc lắm lắm vậy đó…!”

  1. b) Cuối năm 1968, Oriana ra Hanoi và có dịp phỏng vấn Tướng Võ

Nguyên Giáp lúc đó còn giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Khi về

lại Saigon, Oriana có kể lại chi tiết cuộc phỏng vấn này với Luật sư

Trần Văn Tuyên vốn hồi trước năm 1945 là bạn bè gần gũi thân thiết

với ông Giáp. Tôi được Luật sư Tuyên thuật lại cho nghe về câu

chuyện phỏng vấn này, đại ý như sau : “ Oriana mô tả Tướng Giáp

tiếp bà tại văn phòng Bộ trưởng với một căn phòng rộng mênh mông

(une salle immense), và ông Giáp người thấp lùn với dáng điệu, kiểu

cách giống hệt như là Tướng Napoleon ngày xưa của Pháp ấy. Khi

được hỏi về chiến dịch Tết Mậu Thân ở miền Nam, thì tướng Giáp coi

bộ “sửng sốt, mất bình tĩnh” ( il s’énerve), ông đứng dậy đi đi, lại lại

trong phòng coi bộ suy nghĩ đăm chiêu lắm, và rồi cuối cùng thì ông

Giáp “đổ hết tội cho Phạm Hùng là người chỉ huy Trung Ương Cục

Miền Nam lúc đó (incriminer) đã gây ra những sự tổn thất nặng nề

trong chiến dịch này…” Chuyện Tết Mậu Thân năm 1968 này cho đến

nay vào năm 2010, thì vẫn còn là một bí hiểm, vì dù đã sau 42 năm,

chưa có bất kỳ một tài liệu chính thức nào tại cấp lãnh đạo chóp bu ở

Hanoi mà được đưa ra công khai công bố cho công chúng cả.

  1. c) Về một số nhân vật khác mà Oriana có dịp gặp gỡ trao đổi, thì bà

cũng thuật lại với lời lẽ rất thẳng thắn, chẳng hề dè dặt e ngại gì cả.

Điển hình như chuyện bà mô tả cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc

nằm tại bệnh viện sau lúc bị bắn trọng thương trong vụ chỉ huy phản

công chống lại quân cộng sản xâm nhập đợt hai vào Saigon hồi tháng

5 năm 1968, thì ông tỏ ra là con người chẳng còn một chút dũng khí gì

cuả một ông Tướng chỉ huy ngành cảnh sát quốc gia đày quyền uy và

rất là năng nổ trước đó. Tác giả cũng kể lại cuộc gặp gỡ với ông

Nguyễn Ngọc Linh với lời lẽ không mấy thiện cảm, đại khái như là ăn

diện rất trau chuốt kiểu cách, nói tiếng Anh cũng như tiếng Pháp đều

rất trôi chảy, nhưng mà lại xa rời quần chúng v.v… Nói chung, thì

cũng như nhiều ký giả quốc tế vào hồi đầu thập niên 1970, Oriana

không có mấy thiện cảm với các nhân vật lãnh đạo của chế độ Việt

nam Cộng hòa, trái lại họ có vẻ nghiêng về phía Việt cộng, mà họ cho

là có lý tưởng, có chính nghĩa hơn.

  1. d) Nhưng sau 1975, thì Oriana cũng như nhiều nhà báo thượng thặng

khác như Jean Lacouture của Pháp lại có cơ hội tìm hiểu rõ nét hơn về

thực chất của chế độ cộng sản Việt nam. Và bà đã có sự “đánh giá, xét

lại” về phong trào cộng sản ở Việt nam. Bà đã trao đổi chuyện này với

tác giả David Horowitz là người rất nổi tiếng vì đã thay đổi lập trường

180 độ, từ phía cực tả “thân cộng sản” sang phía “cực hữu”, khiến gây

sôi nổi trong công luận thế giới vài chục năm gần đây. Câu chuyện

xung quanh nhân vật David Horowitz “gây nhiều tranh cãi” nổi cộm

này (controversial figure), cũng như sự thay đổi quan điểm của Oriana

Fallaci kể từ sau thập niên 1980 trở đi, sẽ là đề tài cho một bài tìm

hiểu chi tiết hơn, mà người viết sẽ cống hiến với quý bạn đọc trong

một dịp khác vậy nhé./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

 

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

(Luca 9,28b-36 – CN II MC – C)

 Lm FX Vũ Phan Long, OFM 

1.- Ngữ cảnh

Đây là biến cố cuối cùng trong thời gian Đức Giêsu hoạt động tại Galilê (Lc 3,1–9,50): Người đang ở tại một khúc quanh quan trọng trong sứ mạng; công việc rao giảng tại Galilê đã kết thúc; Phêrô mới đây đã tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (9,20) và nhân dịp đó, Người đã củng cố thêm hiểu biết của các môn đệ bằng cách loan báo cuộc Thương Khó (9,22). Cũng giống như ở Mc 9,2-8, truyện Hiển Dung của Đức Giêsu trong TM III (9,28-36) đi theo sát lời Đức Giêsu nói về đời môn đệ và dường như trả lời một loạt các câu hỏi về chân tính của Đức Giêsu (x. 9,7-9.18-22). Cuộc Hiển Dung cho các môn đệ được thấy trước vinh quang của Đấng Phục Sinh, vinh quang Nước Trời. Truyện giới thiệu tư cách thuộc thiên giới của Đức Giêsu đối lại với hai dung mạo Cựu Ước và thúc bách các Kitô hữu lắng nghe Người như lắng nghe Con Một của Thiên Chúa và Đấng được Thiên Chúa ưu tuyển.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (9,28);

2) Cuộc Hiển Dung (9,29-35):

  1. a) Lý do (cc. 29-32),
  2. b) Cuộc đối thoại (cc. 33-35);

3) Kết thúc cuộc Hiển Dung (9,36).

3.- Vài điểm chú giải

– dung mạo Người đổi khác (29): Cụm từ này đã thay thế cho động từ “được biến hình” (metamorphôthê) trong Mc (9,2) và Mt (17,2) để tránh những truyện về hóa thân, hóa kiếp trong thần thoại ngoại giáo.

– có hai nhân vật (30): Vì được giới thiệu là “hai nhân vật, hai người đàn ông” (andres dyo), ta có thể nghĩ đến “hai người đàn ông y phục sáng chói” trong truyện Phục Sinh (Lc 24,4) hoặc “hai người đàn ông mặc áo trắng” trong truyện Thăng Thiên (Cv 1,10). Như thế, quả thật Môsê và Êlia là hai chứng nhân của Đức Giêsu, nhưng ở đây, hai vị có mặt trong tư cách là những nhân vật thuộc thiên giới, nhằm loan báo vinh quang tương lai của Đức Kitô. Và nếu vậy, quang cảnh này trước hết là một hình ảnh báo trước cuộc Lên Trời (x. Cv 1,9: đám mây).

– Xuất hành (31): Rất có thể tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó – Phục Sinh – Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang của Thiên Chúa (# Đất hứa).

– ngủ mê mệt (32): Dịch sát là “bị đè nặng trong giấc ngủ” (bebarêmenoi hypnô).

– vinh quang (32): Tác giả Lc là tác giả duy nhất sử dụng từ “vinh quang” ở đây. Kiểu ngài nối kết Khổ Nạn với Vinh quang ở đây rất gần với truyện Ga 12,27-28 (vẫn được coi như tương tự với truyện Hiển Dung trong các TMNL).

– thật là hay (33): Hay cho ai? Chúng ta không rõ. Dù sao, ta hiểu là Phêrô không hiểu rõ hoàn cảnh, nhưng cảm thấy vui, nên mơ ước kéo dài tình trạng này.  

– đám mây (34): Phải chăng đám mây bao phủ cả các môn đệ, nên các ông mới sợ (sợ chết?)? Có bao phủ ba nhân vật kia không? Nhưng bản văn lại nói là “từ đám mây có tiếng phán ra”. Vậy có lẽ các môn đệ ở ngoài đám mây. Nhưng dù thế nào, đám mây thường đi liền với cuộc thần hiển (x. Xh 16,10; 19,9.16; 24,15-16; Lv 16,2; Ds 11,25) và được coi như nơi ở (shơkinâh trong sách Talmud, có nghĩa là “sự hiện diện của Thiên Chúa”) của Thiên Chúa. Khi thấy đám mây xuất hiện và dường như còn bao trùm lấy mình, các môn đệ kinh hãi.

– Người được Ta tuyển chọn (35): Xem các “Bài ca về Người Tôi Trung” (Is 42,1; 49,7).

– trong những ngày ấy (36): nghĩa là trong thời gian Đức Giêsu đi hoạt động. Công thức này đối lại những gì được kể sau này, sau khi Đức Giêsu đã sống lại.

4.-Ý nghĩa của bản văn

Khung cảnh của bản văn này như sau: Ngay trước bài tường thuật này là các giáo huấn về đời môn đệ (Lc 9,23-27) và ngay sau bài, là truyện Đức Giêsu chữa lành một em bé bị quỷ ám (9,37-43). So với các Tin Mừng khác, ta thấy tác giả không kèm theo mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ trong khi các ngài xuống núi (x. Mc 9,9-10; Mt 17,9), cũng không có lời nói về ngôn sứ Êlia (x. Mc 9,11-13; Mt 17,10-13).

Độc giả đã thấy giáo huấn về đời môn đệ “vác thập giá” và thị kiến về “vinh quang” được nối kết chặt chẽ trong kinh nghiệm về cuộc Hiển Dung. Không thể hiểu được ý nghĩa của biến cố huyền nhiệm này nếu không đặt nó vào bên trong hai chiều tư tưởng thần học chủ đạo: sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu, yêu cầu đi theo Người trên con đường thập giá, và ánh sáng vinh quang của sự phục sinh của Người.

* Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (28)

Chỉ tác giả Lc xác định biến cố xảy ra vào “khoảng tám ngày sau khi (Đức Giêsu) nói những lời ấy” (c. 28), tức là các giáo huấn về đời môn đệ (cc. 23-27). Cả ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê vừa chứng kiến Đức Giêsu làm cho con gái ông Gia-ia sống lại (Lc 8,51-56), nay Người đưa các ông đi ra khỏi tình trạng ồn áo huyên náo của cuộc sống thường ngày và đưa các ông lên núi (không được xác định), biểu tượng của thế giới Thiên Chúa. Mới trước đó, Người yêu cầu “vác thập giá mà theo” Người, bây giờ Đức Giêsu quyết định “đem theo” ba môn đệ và kết hợp các ông vào sứ mạng của Người, để các ông có thể chia sẻ kinh nghiệm vinh quang nhằm đi tới chỗ hoàn tất trong Ngày Phục Sinh.

Điều đáng ghi nhận: tác giả cho biết mục tiêu Đức Giêsu nhắm không phải là tỏ mình ra cho các môn đệ, nhưng là “cầu nguyện”. Việc cầu nguyện được đặc biệt nêu bật trong TM III.

* Cuộc Hiển Dung (29-35)

Đang khi Người cầu nguyện, thì “dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà” (c. 29): cuộc hiển dung xảy ra như là kết quả của việc cầu nguyện. Tác giả không dùng động từ metamorphousthai (= biến hình) có trong Mc và Mt (x. Mc 9,2; Mt 17,2). Theo một vài nhà chú giải, tác giả Lc muốn tránh làm cho độc giả hiểu đây giống như những cuộc hóa thân của thần thánh ngoại giáo; có những tác giả khác lại cho rằng đây là một gợi nhắc đến biến cố Môsê đã trải qua trên núi Sinai (Xh 24,29-30): trong bản văn này có nói rằng dung mạo Môsê phản ánh vinh quang của Đức Chúa. Tầm quan trọng được gán cho biến cố huyền nhiệm này đưa độc giả đến chỗ nghĩ rằng Đức Giêsu đang tự mạc khải ra như là Đấng sống lại và đang ở trong thế giới siêu việt và vinh quang của Thiên Chúa.

Vậy, vẻ rạng rỡ của dung mạo và nét trắng tinh chói lòa nơi y phục của Người cho biết Người thông dự vào đời sống của Thiên Chúa, Người có bản tính Thiên Chúa, và báo trước cuộc Phục Sinh. Các môn đệ nhận ra rằng dung mạo quen thuộc con người trần gian của Đức Giêsu lâu nay không diễn tả hết tất cả thực tại của Người; các ông hiểu rằng Người không bị khóa kín trong những giới hạn của thực tại trần gian. Đàng sau dung mạo phàm trần của Đức Giêsu, có ẩn giấu thực tại siêu phàm thần thiêng của Người.

Không những các giới hạn của thực tại trần thế bị vượt quá, các biên cương của thời gian cũng bị lướt qua. Bên cạnh Đức Giêsu, xuất hiện hai ông Môsê và Êlia, hai dung mạo nổi bật trong lịch sử dân Israel (cc. 30-31). Môsê nhà giải phóng Dân tộc, cũng là trung gian đón nhận Luật Sinai. Êlia là vị ngôn sứ đã bảo vệ tôn giáo độc thần và tái lập giao ước của Thiên Chúa với Dân. Các ngài đại diện cho mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa và cuộc chiến đấu của Người cho dân tộc này. Các ngài cũng chia sẻ kinh nghiệm bị từ khước và bị bách hại. Nay hai ngài đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành” Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem (c. 31). Tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó–Phục Sinh–Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang (# Đất hứa). Nhưng toàn bộ cuộc Xuất Hành mới này liên hệ đến lịch sử Israel (đại diện bởi Môsê và Êlia); Đức Giêsu sẽ đưa lịch sử của những mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa đối với Dân Người đến chỗ hoàn tất.

Đáng tiếc là các môn đệ nặng nề trong giấc ngủ (c. 32). Khi Thầy làm phép lạ, hoặc khi đám đông hoan hô Người, các ông thức, nhưng khi Người bắt đầu nói đến chương trình của Thiên Chúa, việc hiến dâng mạng sống, phục vụ người nghèo, thì họ từ khước hiểu biết, họ nhắm mắt lại và ngủ. Sau này, tại núi Ôliu, các ông cũng ngủ (Lc 22,45), bởi vì các ông chờ đợi được vỗ tay hoan hô và tôn vinh, chứ không hiểu vai trò của thập giá mà Thầy đang đi tới. Tuy nhiên Phêrô còn tìm ra sức mà lên tiếng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều…” (c. 33). Ông mong muốn kéo dài mãi mãi kinh nghiệm về vinh quang này, tương quan đặc biệt này giữa thiên quốc và trần gian, một nếm cảm trước  sự viên mãn cánh chung, thiết lập tức khắc Triều Đại Thiên Chúa trên mặt đất (G. Rossé). Chi tiết “dựng ba cái lều” vừa có tính lịch sử (Nhà Tạm của Hòm Bia Chứng Ước trong cuộc xuất hành qua sa mạc) vừa mang tính phụng vụ (Lễ Lều: Lv 23,42; Dcr 14,16-19). Thật ra, ông không biết mình đang nói gì” (c. 33). Ông chỉ dừng lại với một khoảnh khắc sống ở bình diện cá nhân chứ không nghĩ đến được số phận cánh chung của toàn thể Dân Giao ước. Ông không hiểu giá trị của cuộc Hiển Dung trong chương trình cứu độ phổ quát.

Quang cảnh hiển vinh đột nhiên bị một đám mây che phủ. Khi đi vào trong hoàn cảnh mới này, các môn đệ hoảng sợ (c. 34), điều này cho hiểu là con người mỏng dòn đang tiếp cận với mầu nhiệm của sự thánh thiêng. Đám mây là sự chấm dứt kinh nghiệm về vinh quang, vừa là nơi phát ra tiếng nói thiên quốc. Đây là vai trò biểu tượng của đám mây (x. Xh 19,9.16; 24,15-18; 40,34t; 2 Mcb 2,8; Cv 1,9). Tiếng nói bảo: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (c. 35). Khẳng định được liên kết với mạc khải trong Phép rửa (Lc 3,22), nhưng khác biệt ở chỗ tại Phép rửa, tiếng nói ngỏ lời trực tiếp với Người Con, còn ở đây, mạc khải được gửi đến các môn đệ, với lệnh vâng nghe lời Người (autou akouete: lưu ý vị trí nhấn mạnh của đại từ. Diễn ra như sau: “Chính Người, anh em hãy nghe lời!”). Mạc khải từ trời đã tổng hợp hai trích dẫn Tv 2,7, nhằm nói về tư cách Con Thiên Chúa của Đức Kitô, và Is 42,1 nhắc đến sứ mạng ngôn sứ của Người Tôi Tớ Đức Chúa, phải chịu đau khổ khi loan báo Lời Chúa. Đức Giêsu vừa có tư cách vừa mang sứ mạng được hai bản văn này giới thiệu. Mạc khải kết thúc với lời kêu gọi rút từ Đnl 18,15 nhắc nghe lời ngôn sứ Môsê (x. Cv 7,37). Từ nay, không còn phải là Môsê hoặc các ngôn sứ mà các môn đệ phải vâng lời, nhưng là chính Con Thiên Chúa, Đấng có uy quyền vượt xa uy quyền của mọi người từ xưa cho đến tận thế.  Cách nào đó lời này phi bác ý muốn của Phêrô là thiết lập ngay từ bây giờ Nước Thiên Chúa trên mặt đất. Cần phải hiểu là sứ mạng Mêsia của Đức Giêsu vượt quá những nỗi niềm chờ mong Đấng Mêsia của dân Israel và những nguyện vọng trần tục của các môn đệ.

Thế rồi bản văn Lc kết thúc đơn giản, so với Mc (Mc 9,8). Tiếng nói đã ngưng, các nhân vật Môsê và Êlia không còn ở đó nữa, chỉ còn lại Đức Giêsu và các môn đệ (c. 36). Tác giả không nhắc đến lệnh im lặng Đức Giêsu truyền cho các môn đệ (x. Mc 9,9; Mt 17,9), nhưng ghi nhận rằng các ông “nín thinh”. Đây là hậu quả của một kinh nghiệm đã ghi dấu sâu sắc trong lòng ba chứng nhân, họ nội tâm hóa biến cố này, họ không để lộ ra bên ngoài bao lâu Đức Giêsu còn ở với họ (“Trong những ngày ấy”).

* Kết thúc cuộc Hiển Dung (36)

Sau đó, các môn đệ giữ thinh lặng, không tiết lộ gì về những chuyện đã xảy ra trên núi. Ghi nhận sự thinh lặng này đúng ra là một câu tóm truyện Mc (Mc 9,9-13). Các ông cứ giữ thinh lặng như thế cho đến khi Đức Giêsu đã sống lại.

+ Kết luận

Biến cố Hiển Dung là trạm trung chuyển giữa ánh sáng loé lên quá mau của Phép Rửa và ánh sáng chói lọi của sáng ngày Phục Sinh. Trong cuộc hành trình lên Giêrusalem, Đức Giêsu thấy mình được tiếng Chúa Cha chuẩn nhận trong sứ mạng Mêsia chịu đau khổ: Người sẽ thực hiện chương trình cứu độ qua thân phận bị sỉ nhục và thất bại. Nhưng qua lời giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta biết Đức Giêsu là Lời mà ta phải lắng nghe, là vị hướng đạo chắc chắn trong cuộc Xuất Hành cuối cùng đưa đến cuộc sống viên mãn. Điều này được làm rõ ở cuối biến cố, khi tác giả nói là “chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu: Mục tiêu của Cựu Ước là dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vâng phục chương trình cứu độ của Chúa Cha. Sau Phục Sinh, biến cố Hiển Dung sẽ có một vị trí quan trọng trong truyền thống Hội Thánh, vì được coi là một trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất trong kinh nghiệm Kitô hữu (x. 2 Pr 1,16-28).

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Tác giả TM III cho biết vì sao Đức Giêsu lên núi: để “cầu nguyện” (c. 28). Người dành nhiều thì giờ mà cầu nguyện. Chỉ nhờ thế, Người mới dần dà hiểu được những gì sẽ xảy ra, đâu là nơi Cha Người đang dẫn Người đến. Giống như ba môn đệ ngày hôm ấy, chỉ khi để cho Đức Giêsu dẫn đưa vào nơi thanh vắng và đến gần Thiên Chúa, chúng ta mới ở trong hoàn cảnh thích hợp, thuận lợi, mà hiểu rõ hơn mầu nhiệm bản thân Đức Giêsu và chương trình của Thiên Chúa. Nhờ có Người làm trung gian, chúng ta biết mọi điều mà Thiên Chúa có ý làm cho chúng ta và chúng ta biết cách xử sự với Thiên Chúa.
  2. Trong khi cầu nguyện, dung mạo của Đức Giêsu “đổi khác” (c. 29). Tác giả không nói là “biến hình” như các Tin Mừng khác. Điều xảy ra trong truyện này không nhắm trước tiên cho Đức Giêsu, nhưng là cho ba môn đệ. Không phải Người là Đấng phải thực hiện một kinh nghiệm hoặc phải biết một điều gì mới, nhưng chính các ông mới phải tiến tới trong việc hiểu biết Người và tin tưởng vào Người. Ánh sáng trên dung nhan Đức Giêsu cho chúng ta hiểu, trong khi cầu nguyện, Người đã hiểu chương trình cứu độ của Cha Người và đã chấp nhận chương trình đó. Hy sinh của Người sẽ không phải là một thất bại, mà là một bước tiến tới sự phục sinh và vinh quang.
  3. Sự kiện Đức Giêsu xuất hiện giữa Môsê và Êlia và hai ông đàm đạo với Người cho các môn đệ một bằng chứng nữa để có thể nhận ra Đức Giêsu là ai: Người thuộc về thế giới Thiên Chúa. Nhưng Người cũng thuộc về lịch sử dân Chúa, một lịch sử được Thiên Chúa hướng dẫn. Người phải đưa sứ mạng của Môsê và Êlia đến chỗ hoàn tất; Người cũng đáng được trân trọng và nhận biết như hai người tôi tớ vĩ đại này. Đức Giêsu không xuất hiện bất ngờ như một sao băng không hề có liên hệ gì với quá khứ, nhưng Người tháp vào trong lịch sử dài gồm những săn sóc ân cần của Thiên Chúa đối với dân Ngài, và đưa lịch sử này đến chỗ hoàn tất.
  4. Quan hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa không phải là một vấn đề lý thuyết, không quan trọng gì bao nhiêu đối với đức tin và lối sống Kitô hữu. Phải nói là chính trong tương quan này mà bản chất của tương quan của Người đối với loài người chúng ta cũng được làm sáng tỏ, cả ý nghĩa của Người đối với chúng ta, những chờ đợi mà chúng ta có thể có nơi Người, những bổn phận phát xuất từ tương quan này đối với chúng ta.
  5. Cho tới nay, Israel đã nghe lời Môsê và Êlia, nay họ phải nghe lời Đức Giêsu. Tất cả Sách Thánh của Israel đều dẫn tới Đức Giêsu. Bằng bản thân, bằng Lời Chúaạt động và bằng lời nói của Người, Đức Giêsu đưa đến cho dân chúng sứ điệp chung kết của Thiên Chúa. Cựu Ước không có ý nghĩa nếu không có Đức Giêsu, còn chính Người, nếu không có Cựu Ước, thì chỉ là một mầu nhiệm đối với chúng ta. Vào ngày Phục Sinh, để cho các môn đệ có thể hiểu ý nghĩa của cái chết và sự sống lại của Người, Người sẽ phải giải thích Cựu Ước cho họ (x. Lời Chúa 24,17).

Lm FX Vũ Phan Long, OFM

Việt Nam cuồng tiền

Việt Nam cuồng tiền

Người Buôn Gió

Ảnh: Cafe F

Ảnh minh họa. Nguồn: Cafe F

Năm 2016, Việt Nam sẽ phát hành trái phiếu 220 nghìn tỷ Việt Nam đồng. Nhà nước Việt Nam coi việc phát hành trái phiếu là một thành công kinh tế, thực ra trái phiếu phát hành cũng như một khoản vay nợ giá cao. Khoản trái phiếu này không nằm trong những khoản vay ưu đãi của các nước tư bản đối với nước chậm phát triền. Vì thế cần phải có lãi suất hấp dẫn mới khiến người mua trái phiếu móc hầu bao mua trái phiếu.

Lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam hiện nay rơi vào khoảng 6,5%  đến 7% một năm. Lãi suất này thấp hơn các nước như Venezuela, Gambia, Ghana, Malawi, Angola, Guinea. Zimbabwe. Những nước này lãi suất đều rơi vào khoảng 8 đến 9%.  Riêng Veuzuela là 12%.

Tiến sĩ Phạm Thế Anh của trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội trả lời phóng viên báo Tuổi Trẻ vào năm 2014 cho biết, tính đến thời điểm năm 2014 mỗi năm Việt Nam phải trả lãi 6 tỷ USD. Đó là ông Anh tính trên con số cống bố của chính phủ tổng nợ công năm 2014 là 90 tỷ USD. Ông Anh nói: “Nếu số chính thức VN công bố thì nợ công hiện nay là 55,7% GDP (tức khoảng 90 tỉ USD). Đây là mức chúng ta coi là vẫn an toàn. Nhưng gánh nặng nợ là không nhỏ. Tôi chỉ tính sơ bộ, khoảng một nửa, tức 45 tỉ USD chúng ta vay trong nước với lãi suất trung bình 10%/năm thì mỗi năm VN phải bỏ ra khoảng 4-5 tỉ USD trả lãi. Khoảng 45 tỉ USD vay nước ngoài, lãi suất trung bình 2,5%/năm thì mỗi năm cần trên 1 tỉ USD nữa trả lãi. Như vậy, chưa tính trả gốc, riêng tiền trả lãi trung bình đã cần khoảng 6 tỉ”.

Ông Anh cũng cho biết đồng hồ thông báo nợ công ở Hoa Kỳ thông báo từng giây, nhưng ở Việt Nam nợ công thường thống kê con số của 2 năm trước. Ông Anh cho rằng, nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước thì số nợ sẽ là 180 tỷ USD. 90 tỷ USD của chính phủ nợ và 90 tỷ USD của doanh nghiệp nhà nước nợ đó là thời điểm của năm 2012.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nguyên vụ trưởng vụ tài khoản thống kê của Liên Hợp Quốc cho RFA biết về nợ công như sau. “Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm”.

Số nợ công của chính phủ Việt Nam được Ngân Hàng Thế Giới cho biết vào năm 2014 là 110 tỷ USD.  Nếu như theo lời tiến sĩ Phạm Thế Anh nói năm 2014 Việt Nam trả lãi 6 tỷ cho 90 tỷ USD vay thống kê năm 2012, thì năm 2015 Việt Nam phải trả khoảng 8 tỷ USD tiền lãi cho số khoản vay 110 tỷ thống kê năm 2014.

Đến năm 2016 này, chúng ta chưa có con số thống kê nợ công của Việt Nam là bao nhiêu. Nhưng mới đầu năm đã có thông báo chính phủ chuẩn bị bán 10 tỷ USD trái phiếu trong năm 2016. Điều đó có nghĩa, số nợ công trước đó không hề giảm và nó đang tiếp tục tăng nhanh chóng đến cả chục phần trăm.

Nếu như 750 triệu USD trái phiếu của chính phủ phát hành đầu tiên vào năm 2006 có kỳ hạn 10 năm, thì lần phát hành 10 tỷ trái phiếu phát hành năm 2016 có đến hơn phân nửa là kỳ hạn không quá 5 năm. Tức 5,5 tỷ USD có thời hạn thanh toán dưới 5 năm kể từ khi bán.

Dường như Việt Nam đã hết cửa vay mượn từ các nơi với lãi suất ưu đãi. Nay chỉ còn nước bán trái phiếu lãi suất cao để mượn tiền từ nước ngoài. Trong hai năm qua, không thấy nói gì đến việc ngân hàng thế giới hay quỹ tiền tệ quốc tế hoặc chính phủ nước nào đó cho Việt Nam vay tiền. Trái lại là một thông báo đến năm 2017, tức chỉ 1 năm nữa Việt Nam có thể bị dừng những khoản vay ưu đãi.

Đến giờ không có cách gì khả dĩ để giảm được nợ gốc. Các phương án của Việt Nam đưa ra bây giờ chỉ là làm sao đi vay được tiền trả lãi, hoãn được trả nợ gốc, kéo dài thời hạn thanh toán thêm năm nào tốt năm đó. Với sự thúc bách như thế thì đương nhiên trái phiếu chính phủ bán ra ngày càng phải nhiều hơn mới đáp ứng được việc trả lãi và xin kéo dài hạn thanh toán.

Có lẽ khi không có phương án nào khác để trả nợ, chắc Việt Nam chỉ còn cách học Miến Điện đổi mới thể chế. Đó là cách giảm nợ công nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nhưng ở đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay vì để được xoá nợ công như Miến Điện thì ông ta, Nguyễn Phú Trọng, TBT ĐCSVN lại làm điều ngược lại là ép Việt Nam đi tiếp con đường bảo thủ. Đó là con đường sẽ khiến những món nợ ngày càng dày thêm trên cổ những người dân Việt Nam.

Việc đưa thống đốc Nguyễn Văn Bình vào Bộ Chính Trị là điều bất đắc dĩ của trung ương đảng CSVN khoá 12, mục đích để Bình tiếp tục cùng với Vương Đình Huệ, Nguyễn Xuân Phúc  chèo lái dây dưa được chuyện nợ nần vài năm nữa. Tránh chuyện vỡ nợ xảy ra trong nhiệm kỳ thứ hai của Trọng làm TBT.

5 năm sau nữa, các món nợ và tiền lãi sẽ càng trở nên kinh khủng. Nhưng Nguyễn Phú Trọng cần gì biết 5 năm sau nữa đổ ra Việt Nam sẽ thế nào. Năm nay ông ta đã 72 tuổi, 5 năm nữa ông ta 77 tuổi. Ông ta chỉ cần biết làm sao để cái chủ nghĩa xã hội mà ông lý tưởng tôn thờ, cái chủ nghĩa mang cho ông quyền lực và danh vọng tột đỉnh ấy sẽ tồn tại với song song với ông 5 năm đó.

Còn khi ông đã 77 tuổi và từ giã chính trường, đất nước nợ bao nhiêu đâu là cái bắt buộc ông phải lo. Ở tuổi 80, một Nguyễn Phú Trọng nếu còn sống sẽ là một ông cụ tóc bạc phơ, nụ cười nhân hâu như một tiên ông, cụ đã thoát tục khỏi phàm trần.

Lúc ấy 15 tỷ USD hay 20 tỷ USD mà đất nước, nhân dân oằn mình trả lãi, không phải là việc của ông.

17.2.1979-17.2.2012.

17.2.1979-17.2.2012.

Song Chi.

RFA

Bài cũ nhưng vẫn còn giá trị.

BBT

17.2.2012. Đúng vào ngày này, 33 năm trước, Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới đường bộ giữa hai nước. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt với hệ lụy kéo dài nhiều năm sau cho phía VN cũng như những trận chiến sau đó giữa 2 bên vào những năm 1984, 1988 đã không bao giờ được nhà nước VN công khai nhắc đến.

Rất nhiều người dân bình thường nếu không theo dõi thông tin từ các nguồn bên ngoài, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau năm 1979, sẽ không biết gì về những cuộc chiến này, kể cả thực tế một số khu vực, vủng đất dọc biên giới mà TQ vẫn còn chiếm giữ từ đó. Vụ Hoàng Sa, Trường Sa cũng chỉ mới được công khai nói đến nhiều vài năm gần đây, sau rất nhiều cuộc biểu tình tự phát phản đối TQ xâm lược Hoàng Sa Trường Sa của người dân tại 2 thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn. Nói một cách ngắn gọn, trong toàn bộ mối quan hệ giữa hai đảng và nhà nước cộng sản VN-TQ từ bao nhiêu năm nay, chưa bao giờ có cái gì được công khai, minh bạch cả. Đất nước là của chung nhưng 85 triệu người dân VN lại không có quyền được biết những gì đã xảy ra với chính đất nước mình, dân tộc mình. Trái ngược hẳn với cách tuyên truyền nhồi sọ nhân dân được đảng và nhà nước VN tích cực áp dụng đối với hai “cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp, chống Mỹ”-cho đến tận ngày hôm nay.

Một cuộc chiến cố tình bị lãng quên. Những trang lịch sử như không hề tồn tại. VN từ ngày đảng và nhà nước cộng sản lên nắm quyền có bao nhiêu ngày tháng, sự kiện lịch sử không tồn tại như thế, hoặc tệ hơn nữa, được viết lại một cách méo mó, sai lệch hoàn toàn?

Thiệt thòi chính là tuổi trẻ VN. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi được hiểu biết đầy đủ, chính xác về chính mình và thế giới, về quá khứ hiện tại lẫn tương lai. Để có thể có được những chọn lựa, những bước đi sáng suốt. Có lần một chị bạn nhà văn của tôi đã nói một câu: bi kịch của dân tộc VN là trước phần lớn những sự lựa chọn có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, họ lại thường có những lựa chọn sai. Và đã phải trả giá quá đắt cho những chọn lựa sai lầm vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch đó.

Còn từ khi có đảng và nhà nước cộng sản, đảng và nhà nước đã giành cho mình cái quyền nghĩ thay, chọn lựa, quyết định thay cho nhân dân, nhưng lại luôn luôn dán cái nhãn nhân dân: nhân dân chọn lựa, nhân dân đồng tình với đảng, nhân dân đứng về phía đảng, nhân dân bất bình chuyện này chuyện kia…

Người dân không cần suy nghĩ, quan tâm gì nữa-chuyện chính trị đã có đảng và nhà nước lo.

Khi một dân tộc bị tước đi quyền suy nghĩ, chọn lựa, dân tộc ấy không thể trưởng thành.

Trước kia, đảng cộng sản VN thắng Pháp, thắng Mỹ-hay ít ra họ tưởng là như thế, (bởi còn phải định nghĩa lại thế nào là thắng, thua, được, mất…), đó là vì ít ra họ không sợ hãi và biết cách tuyên truyền làm cho người dân không sợ hãi.

Chỉ riêng đối với TQ, nhà cầm quyền VN không chỉ sợ mà còn truyền cái nỗi sợ ấy cho nhân dân, làm cho dân tộc VN trở nên hèn yếu đi. Điều này càng nguy hiểm hơn bởi kẻ thù mà chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai gần đã từng là kẻ thù nghìn năm trước, kẻ thù của hôm qua và cả hôm nay, trong cái lớp vỏ tình anh em hữu nghị. Một kẻ thù/người láng giềng mà người VN không thể tránh né. Sau cuộc chiến, Pháp, Mỹ rút đi, nhưng TQ thì luôn luôn còn đó, núi liền núi sông liền sông với VN. Và tệ hại hơn, thâm hiểm hơn gấp nhiều lần những kẻ thù khác. Một nhà cầm quyền khinh thường mọi quy ước, luật lệ của quốc tế và của nhân loại văn minh trong mọi lĩnh vực từ ngoại giao, kinh tế cho đến nhân quyền, sẵn sàng tàn bạo với chính người dân của mình thì có hy vọng gì tử tế với các dân tộc khác?

Trong khi đó thì người VN lại không được công khai học những bài học lịch sử từ trong mối quan hệ giữa hai bên và những cuộc chiến sai lầm trong quá khứ để chuẩn bị cho tương lai.

Trong khi đó thì người VN lại đang bị chính nhà cầm quyền làm cho bạc nhược đi trong sự lãng quên, vô cảm với chính số phận của đất nước.

Như sự lãng quên đang diễn ra ở VN vào đúng cái ngày 17.2 này.

Sự tha thứ khó khăn

Sự tha thứ khó khăn

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Do thời thế chính trị biến động, một người kia không may đã giết chết một quan chức cấp cao, đối nghịch với ông ta.

Vì bị chính đồng đội trở mặt tố cáo, nên người ấy đã bị bắt giữ và bị kết án tử hình. Ông ta thành tâm sám hối tội lỗi của mình, nhưng nhất quyết không tha thứ cho kẻ tố cáo hèn hạ. Linh mục tuyên úy nhà tù ra sức khuyên giục ông xưng tội . Phạm nhân đáp lại: “Không thể được , bởi vì con hối hận về các tội lỗi của con, nhưng con không sao tha thứ được cho người bạn tráo trở kia. Như thế thì xưng tội chỉ tổ phạm sự thánh mà thôi.”

Một nữ tu tốt lành dòng Nữ Tử Bác Ái đã làm cho phạm nhân phải cảm động trước tấm lòng nhân ái và tế nhị của chị. Chị cũng ra sức khuyên giục ông xưng tội, nhưng luống công.

Chiều tối trước ngày tội nhân thụ án tử hình, nữ tu ấy lại hết sức cố gắng để thuyết phục ông.

Chị nữ tu hỏi:

– Ông có biết tôi là ai không ?

Phạm nhân đáp:

– Chị là thiên thần từ trời xuống.

Chị nữ tu lắc đầu:

Tôi không phải là thiên thần từ trời xuống, nhưng là em gái của nạn nhân đã bị ông giết hại. Tôi đã tha thứ cho ông, tôi đã ăn chay, đã cầu nguyện và đã làm tất cả những gì có thể làm được để cứu lấy linh hồn của ông.”

Hết sức ngạc nhiên, phạm nhân đáng thương ấy đã phục xuống, giàn giụa trong nước mắt và hôn kính bàn chân của chị dòng.

-Quả thật , quả thật chị là thiên thần của Chúa, thực sự là một thiên thần . Tận đáy lòng tôi, tôi xin tha thứ cho người bạn tráo trở của tôi và xin chị cũng hãy tha thứ cho tôi.

-Thật vậy hành vi tha thứ của nữ tu ấy là một hành vi thật anh hùng.

Như chúng tôi đã nói, nhiều khi chỉ một hành vi mà thôi đủ chứng minh sự thánh thiện, anh hùng.

Sự dâng cúng của bà góa nghèo đã được Chúa Giê-Su đánh giá cao. Chúa phán: “Bà ấy đã cho đi nhiều hơn tất cả những người khác.” Bà góa chỉ dâng cúng một đồng xèng, nhưng bà đã cho với tất cả tâm hồn.

Lời khẩn cầu của người trộm lành trên thập giá đã xin được ơn tha thứ cho toàn bộ tội lỗi của mình.

Lời cầu nguyện của người thu thuế thật ngắn gọn: “ Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tôi lỗi” nhưng đã làm cho linh hồn của ông trở nên tinh sạch như tuyết.

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Trích sách: “ Con Đường Nên Thánh Dễ Dàng” của Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca(Lc 4, 1-13)

CHÚA NHẬT 1 Mua Chay – C

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca(Lc 4, 1-13)

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa  ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi”. Chúa Giêsu đáp: “Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa”.

Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: “Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!” Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi”.

Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: “Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!” Và còn thêm rằng: “Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá”. Chúa Giêsu đáp lại: “Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!” Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.

Đó là lời Chúa.

TRÒ CHƠI “TRỜI CHO” CỦA MÙA SÁM HỐI

TRÒ CHƠI “TRỜI CHO” CỦA MÙA SÁM HỐI

 

Lm. Giuse QUANG UY, DCCT

 

Tr ích EPHATA 680

 

Mùa Sám Hối 2008, chúng tôi đang đi giảng ở Cali, Hoa Kỳ, buổi tối về nghỉ chợt nẩy ra một ý, và đã viết được một Entry mới cho Blog Yahoo 360 của các bạn trẻ Nhóm Fiat bên Việt Nam…

Thoáng một cái đã 8 năm trôi qua. Mùa Sám Hối 2016 năm nay, chúng tôi đọc và sửa lại một chút cho hợp thời, rồi post lên Facebook của Nhóm, mời tất cả các bạn Fiat gần xa hãy tham gia Trò Chơi… “Trời Cho” đã cũ xưa nhưng chưa lạc hậu ấy, đó là rủ nhau cùng “giữ chay” bằng nhiều cách: chỉ chọn một hoặc hai cách thôi, hoặc làm hết các cách dưới đây, hoặc có thể chế biến thêm nhiều cách khác nữa, càng tốt, miễn là đã chơi thì chơi thật tình, chơi hết mình. Thiết nghĩ, nói là Trò Chơi để người tham gia thấy nhẹ nhàng phấn khởi, không quá ràng buộc áp đặt, chứ thật ra có thể nghiêm chỉnh coi đây như một thực hành rất cụ thể và giản dị cho Mùa Sám Hối. Mà không chỉ các bạn trẻ có thể áp dụng, chúng tôi xin mời tất cả mọi người không trừ ai, cùng tham gia “giữ chay”. Chúng ta sẽ nhận ra nó hội đủ cả ba chiều kích cần thiết để “Metanoia” trong Mùa Sám Hối: Cao lên với Thiên Chúa – Rộng ra với tha nhân – Sâu vào với bản thân. Và hơn nữa, nó không dừng lại ở chỗ khuyến cáo chính mình không được làm điều xấu, mà cố gắng thay vào đó bằng lời mời gọi hãy làm điều tốt. Cái tốt sẽ đẩy dần cái xấu đi. Ánh sang sẽ chiếm chỗ của bóng tối… Vâng, chúng tôi xin mời…

 Nói chay:

Mỗi ngày bớt đi một lời nói không hay về một người vắng mặt nào đấy, ngược lại, hãy tìm ra

được một nét tốt đẹp nào đấy để nói về họ, cho dù là nói sau lưng họ cũng được .

 Nghĩ chay:

Trong ngày, khi có một tưởng tượng… bậy bạ hoặc mờ ám, tiêu cực gì đấy hiện lên trong đầu, hãy thay thế ngay bằng một sáng kiến hữu ích cho nhóm của mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng, cho người nghèo !

Làm chay:

 Tự nhủ hôm nay mình sẽ không lười biếng đùn việc khó chịu cho người khác, nhưng hãy tìm ra một việc dễ thương nho nhỏ để làm ngay một cách âm thầm cho người thân…

 Viết chay:

 Nếu có viết một cái gì đấy, như viết báo, viết nhật ký, viết Blog, Facebook, viết Mail, sẽ không viết tào lao vớ vẩn nữa, nhưng cố gắng viết ra một nội dung tử tế, hoặc tìm đọc một Entry của bạn bè, bấm Like một cách có ý thức và nhớ để lại một comment chân thành khích lệ người ta…

 Đi chay:

 Lúc rảnh rỗi, không chạy lang thang vô định phí giờ phí xăng, tăng thêm ô nhiễm khói bụi ngoài đường phố, hãy gửi xe rồi vào một công viên tử tế, ngồi chơi thong dong, hoặc ghé thăm một người bạn đã lâu không gặp, một thầy cô giáo cũ…

Ngủ chay:

Mỗi tối hãy bớt chát chít, gửi message, inbox với nhau, nhưng ngủ sớm đi nửa tiếng. Rồi mỗi sáng, thay vì ngủ nướng thêm 15 phút, hãy dậy sớm để tập mấy động tác thể dục và cầu nguyện, đến với một Thánh Lễ ban mai ở một Nhà Thờ nào đấy gần nhà càng hay !

 Cười chay:

Thôi không cười cầu tài, cười ngoại giao, cười khinh khỉnh, cười chế giễu, cười mỉa mai, cười

nham nhở, cười thô lỗ, cười vô duyên, cười gượng, cười mếu… Nhưng hãy cười cho ra cười với người mình không ưa hoặc đang bất hòa, cười với một ai đấy đang cần một nụ cười để được vực dậy !

Ăn chay:

 Bớt một tô phở, bớt một dĩa bột chiên, bớt một cốc bia, bớt một ly cà-phê, bớt một que kem, bớt một điếu thuốc độc hại… Mỗi ngày sẽ nhín ra được ít ra cũng 15.000 VND. Cuối tháng kiểm lại sẽ thấy có thêm được mấy trăm ngàn để dành giúp một ai đấy đang gặp hoạn nạn !

Nguyện chay:

 Bớt đọc kinh lê thê ê a một cách máy móc, nhưng hãy tập ngồi ngồi thinh lặng ở trong một Nhà Nguyện, một Nhà Chầu, một Nhà Thờ ấm áp nào đấy, hay bất cứ nơi đâu tương đối thanh vắng, đọc một đoạn Tin Mừng ngắn, rồi dâng một lời cầu nguyện cho một ai đó từ bỏ ý định… phá thai ! Chỉ “chay” vậy thôi, thiết nghĩ đã tuyệt vời lắm rồi !

 Lm. Giuse QUANG UY, DCCT

Mùa Sám Hối 24.2.2008 – 12.2.2016

TIN TƯỞNG VÀO THIÊN CHÚA SẼ CÓ ĐƯỢC CUỘC SỐNG DỒI DÀO

TIN TƯỞNG VÀO THIÊN CHÚA SẼ CÓ ĐƯỢC CUỘC SỐNG DỒI DÀO

(CN I Mùa Chay)

Tuyết Mai

Thật thế khi chúng ta sống tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa thì chỉ có Người là đấng duy nhất đã tác tạo ra chúng ta sẽ luôn ban cho chúng ta cuộc sống thật dồi dào và thanh thản trong khả năng rất giới hạn của từng người nếu chúng ta đừng tham lam và đừng ích kỷ.

Bởi do đâu mà chúng ta ra tham lam và ích kỷ như thế? Thưa có phải vì chúng quỷ xúi biểu và dụ dỗ? Bằng chứng thật rõ ràng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã bị thử thách trong suốt 40 ngày đêm trong Sa Mạc và ai còn nhớ Chúa Giêsu đã phải trải qua những thử thách gì trong những ngày ấy?.

Khuyên để cho đừng bị chúng quỷ dụ dỗ thì chúng ta cần phải sống thật khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa cùng anh chị em và khi chúng ta càng khiêm nhường bao nhiêu thì chúng quỷ sẽ nhả chúng ta ra càng nhanh bấy nhiêu vì Khiêm Nhường là chất khử độc chúng và đọc Kinh Mân Côi là hai cách có hiệu quả nhất.

Bước vào 40 ngày Chay Thánh mong hết thảy chúng ta học hỏi gương của Chúa Giêsu, người Con tuyệt đối sống tin tưởng vào bàn tay quan phòng của Cha Ngài cùng Chúa Thánh Thần là đấng luôn phù trợ cùng an ủi.   Người Việt chúng ta cũng có câu rất hay và rất đúng là “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” và thường những người con này có tánh ngang tàng xấc xược, tự cao tự đại và tự dựa vào khả năng rất có giới hạn của mình!?.

Ngược lại thì thường những người con yếu đuối từ thể xác hay tinh thần thì cũng chẳng bao giờ dám sống rời xa cha mẹ của mình đâu.   Ấy thế mà cuộc đời của những người con này luôn được bình yên vô sự, dư đủ và thoải mái vì tất cả đều được cha mẹ chăm lo cho dù tuổi đời của các anh chị này có đến là bao nhiêu.

Mùa Chay là mùa nhắc nhở hết thảy con cái Chúa ai sống xa Người và xa Ràn thì đây là lúc cần nên Trở Về bên Chúa vì nếu chúng ta cứ đi xa mãi thì sợ rằng chúng ta sẽ chết trong nanh vuốt của thú dữ (quỷ dữ) cách không toàn thây.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

13 tháng 2, 2016

Ba bảy đường hèn

Ba bảy đường hèn
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Ông nhạc sĩ Tô Hải viết tập sách “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” xuất bản năm 2009, ai cũng khen ông là người can đảm, không ai chê ông đã hèn trong một thời gian quá lâu như thế, qua những câu chuyện “hèn” được viết lại. Nhưng qua câu chuyện người ta kể, khi vào Sài Gòn, đi thăm mộ thân phụ ông, thấy cái bia mộ do người “nghĩa tế” trong quân đội miền Nam là một trung tướng “phụng lập,” thì ông nổi giận đùng đùng, bắt phải đập bỏ ngay tấm bia ấy. Hèn đã không phụng dưỡng được cha, ông lại hèn mang mặc cảm của người thắng trận, hèn để chứng tỏ “lập trường giai cấp” quyết tâm triệt hạ tất cả cái gì của miền Nam, dù cái đó là nét đẹp đạo lý của chữ hiếu, chữ nghĩa!

3 monkeys

Người ta có thể tha thứ cái hèn trong thời gian “kháng chiến” của ông Tô Hải nhưng khó có thể chấp nhận được cái hèn khi ông tỏ ra cái “khí phách” của người đi theo nương nhờ súng đạn những người mới thắng thế.

Người ta không chê ai đã cúi đầu trước bạo lực, cường quyền, trong một xã hội công an trị đã làm cho con người tê cứng vì sợ hãi trước gông cùm và song sắt. Chúng ta thành tâm mà nói, ở vào vị trí như thế, chúng ta làm gì hơn được. Trong chuyện Hán Sở Tranh Hùng, Hàn Tín thuở hàn vi, chưa lập nghiệp lớn, lòn trôn thằng bán thịt giữ chợ mà người đời sau không ai gọi là thằng hèn. Hèn cho qua buổi, hèn để nuôi chí lớn.

Trên cõi đời này thường người ta hèn không phải vì một lý do duy nhất mà tới ba lý do: sợ hãi vì thế yếu, không bị ép buộc nhưng vì mưu lợi và cuối cùng là cái hèn trong thế thượng phong, thắng thế. Vậy thì hèn cũng có ba bảy đường hèn!

-Cái hèn thứ nhất thường được người ta tha thứ vì sự yếu đuối của con người. Dưới họng súng, lưỡi lê, tra tấn, nhà tù của những chế độ bạo ngược, người dân đành thúc thủ, câm nín. Thời Việt Minh, chúng dùng thủ đoạn ám sát, chặt đầu, thả trôi sông, gây sự khiếp hãi, nên không ai dám không theo Việt Minh Cộng Sản, không ai dám lên tiếng phê bình hay chống đối. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí của con người, phải hèn cho qua thời buổi khó khăn.

Trong các trại tù tập trung của cộng sản, người ta có thể thông cảm cho phần lớn những người chịu hèn, chịu cảnh “nín thở qua sông,” “giả dại qua ải”… “an tâm, học tập tốt, lao động tốt” chẳng qua cũng vì sợ hãi, sợ trả thù và khổ nhục.

Dưới chế độ kìm kẹp của cộng sản, cũng không ai trách người dân ta hèn vì không dám chống lại bạo lực, nhưng người trách giới văn nghệ trí thức hèn vì không chỉ phải câm nín mà còn theo đường lối chỉ thị, múa môi, múa bút tâng bốc lãnh tụ, ơn đảng là những điều mà chính lòng họ không tin. Trong một chế độ người ta dùng lương thực như một vũ khí để trấn áp người đối nghịch cũng như để nuôi dưỡng lòng trung thành của kẻ thuộc hạ thì chế độ “tem phiếu” quả là hữu hiệu. Ðó là thái độ hèn vì miếng ăn. Những người chưa đói, chưa thấy cảnh vợ con nheo nhóc mà xót xa thì chưa hiểu nổi vì sao cộng sản luôn luôn dùng “chính sách bao tử” để khống chế con người.

Hiện nay tại Việt Nam, chế độ công an trị, roi vọt, giam cầm từ nửa thế kỷ nay, hà khắc hơn cả chế độ thuộc địa, khiến cho người dân phải cúi đầu chịu đựng, chấp nhận cái hèn, biết sợ để sống còn, những con người dũng cảm không hề hèn, thì phải chịu bao nỗi thiệt thòi.

-Cái hèn thứ hai là hèn vì lợi dục. Không ai kê súng vào đầu, không ai bắt buộc, dù không làm cũng chẳng sao, vì nó không cần thiết, bị dồn vào thế ép buộc phải làm.

Không ai bắt một ông bộ trưởng khi vào gặp tổng thống lúc quay ra phải đi giật lùi vì sợ thất lễ, để đến nổi phải vấp và làm bể cái đôn sứ. Cũng không ai bắt chúng ta xu thời, đổi đạo để đổi lấy địa vị chức tước. Cả hai chuyện này không cần phải làm vì không nguy hiểm đến mạng sống của con người, động lực chính chẳng qua chỉ vì chức tước, danh vọng, vì từ chức quyền danh vọng có thể đưa đến giàu sang, quyền lực. Người liêm sỉ không cần phải có chức vụ, quyền lực hay ơn mưa móc nên không cần phải cúi mình.

Trong thời loạn, nhiều kẻ hèn đã tự nguyện dâng vợ cho cấp trên, dắt gái cho cấp chỉ huy, tư cách như một tên “ma cô” để đổi lấy những ân sủng, mà chúng đã những không biết hổ thẹn, mà còn lấy làm hãnh diện vì những ơn mưa móc này.

Trong hoàn cảnh khó khăn tận cùng của đời giam cầm tù tội, cũng có những người tù chấp nhận số phận, nhưng cũng có những thằng hèn thủ đoạn, chịu hèn hạ để tố cáo đồng đội, ton hót bọn cai tù để thêm được một cái phiếu quà, được thêm giờ thăm nuôi hay được tin cậy trong những chức vụ nhằm khống chế, kiểm soát đồng đội. Ðó là hèn để mưu lợi lộc.

Một ca sĩ bỏ nước ra đi rồi trở về nước ca hát để kiếm tiền, đâu cần phải ca ngợi cái chính quyền của đất nước mà họ đã chối bỏ ngày trước, đó cũng là chuyện hèn vì lợi nhuận.

Tố Hữu cũng không cần phải khóc Staline như khóc ông nội hay ca tụng ông Hồ là cha già, nhưng Tố Hữu cũng cần dùng ngòi bút và cái lưỡi để tiến thân mà tiến thân vượt bực. Nhờ đó, dù sở học không bao nhiêu, Tố Hữu cũng lên đến chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế (!)nên Việt Nam có một đồng bạc mà trên thế giới không ai có, đó là đồng bạc $30. Cái hèn của Tố Hữu trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn là sự ganh tỵ, đố kỵ với những người giỏi hơn mình, và muốn làm lãnh tụ văn nghệ vì thực tế tác phẩm của Tố Hữu chỉ là loại truyền đơn phục vụ cho tuyên truyền, không có giá trị lâu dài.

Ai đó đã nói một câu nghe thấm thía: “Muốn sống, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn bác!”

-Còn một cái hèn không biết xếp hạng vào đâu là cái hèn của bọn người mọi rợ. Trong cuộc tranh chấp đảo Ðiếu Ngư giữa Nhật và Trung Cộng vừa qua, dân Trung Cộng không những biểu tình đốt phá khu thương mãi của Nhật, đốt xe Nhật, họ còn bắt một con chó Nhật giống Akita, trói vào gốc cây đánh đập cho đến chết trước sự hoan hỷ của “quần chúng.” Không chơi nổi tàu chiến, máy bay, những dân hèn Trung Cộng này trút đòn thù lên đầu một con chó, chỉ vì đó là một con chó giống Nhật!

Còn “hèn với giặc, ác với dân!” thì ai cũng biết đó là thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dưới sự chỉ đường của đảng cộng sản.

-Cuối cùng là cái hèn của người thắng trận. Cái hèn đáng nguyền rủa nhất là sự trả thù của người thắng trận. Câu chuyện trả thù này chúng tôi đã có dịp nói nhiều rồi. Câu nói “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” là một khẩu hiệu dối trá. Chúng ta thua trận nhưng chỉ tiếc là đã thua những con người dã man, hèn hạ nên nhân phẩm của chúng ta bị chà đạp, quyền sống của chúng ta bị tước đoạt nên để lại bao nhiêu khổ lụy cho gia đình khi chúng ta đang phải vào nhà tù. Không những trả thù những người khác trận tuyến, người cộng sản còn trả thù giai cấp bằng cách tước đoạt tài sản, và đày đọa những người giàu có hơn chúng vì lòng ganh tỵ, để cuối cùng tạo ra một giai cấp mới, thế chỗ, còn tham lam tàn độc hơn là chế độ tư sản cũ, bởi sự bóc lột được nâng đỡ, yểm trợ bằng quyền lực và súng đạn, nhà tù.

Khi người “bộ đội cụ Hồ” chỉ có một bộ áo quần, cái nón cối, đôi dép râu, cái “xắc cột” (sacoche), cái chén ăn cơm, đôi đũa, vợ con ở nhà có hợp tác xã lo, thì dễ nói chuyện lý tưởng. Bây giờ thắng trận, có tài sản có chức phận thì phải giữ.

“Thà mất nước, không thà mất đảng,” vì đảng chính là xôi thịt, nên dù bị chửi bới, xấu hổ cũng phải giữ rịt lấy đảng. Bỏ đảng là mất ghế. Những anh bỏ đảng đều là những người bị thất sủng, vô công rỗi nghề, không còn chức vụ, cái thẻ đảng chẳng còn giá trị, trả lại hay đốt đi cũng chẳng anh hùng gì! Chẳng thấy ai đang có chức quyền, nhà cao cửa rộng, mỗi tháng kiếm năm ba triệu đô la, con đang du học ngoại quốc, mà bỏ đảng?

Tôi cho biểu tượng về “cái hèn” của những con người cộng sản đang cầm vận mệnh đất nước Việt Nam hiện nay là ba con khỉ Mizaru, Kikazaru và Iwazaru bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Bịt tai để không nghe tiếng ta thán của trăm họ, bịt mắt để không thấy cảnh khổ của lê dân, bịt miệng để khỏi phải nói tiếng nói chính trực với giặc. Bịt miệng cũng đồng nghĩa với “ngậm miệng ăn tiền,” bất cố liêm sỉ.

Nhưng người dân Việt Nam đã bắt đầu dõng dạc lên tiếng, lắng nghe tiếng gọi của nước non và mở rõ mắt nhìn thấy bộ mặt thực của chế độ.