THÁNH I NHÃ LOYOLA

  1. THÁNH I NHÃ LOYOLA

Bị bệnh gan nặng nhưng tâm hồn đầy thanh thản, bình yên, cha thánh I Nhã lìa đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 trong căn phòng tĩnh lặng chỉ có chính cha với Thiên Chúa.

Lúc sinh thời, cha I Nhã Loyola tha thiết ước mong đem đến cho mọi người tin mừng về Thiên Chúa và để mọi người nhận biết rằng Thiên Chúa thương con người, đã sai Con Một yêu dấu của Ngài làm người.  Tin Mừng về Chúa Kitô bị đóng đinh chết và sống lại để giải thoát, kêu gọi loài người trở về sự thánh thiện nguyên thủy và mời gọi con người sống mãi với Thiên Chúa.  Giáo Hội cũng chỉ loan báo tin mừng này, nhưng cha I Nhã, dựa vào kinh nghiệm bản thân, có một phương thế đặc biệt để giúp nhiều người nhận thấy Tin Mừng như một kinh nghiệm bản thân.

Chính cha I Nhã có kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa một cách sống động, thân tình, không thể nghi ngờ được.  Kinh nghiệm của cha I Nhã không phải là hình ảnh Chúa hiện ra, hoặc nước mắt sốt sắng hay là một cảm giác lạ lùng khác mà là kinh nghiệm nhận thấy Thiên Chúa hiện diện một cách yên lặng và thật gần gũi.  Một kinh nghiệm khác hẳn với lối suy tư và lý thuyết sâu xa về Thiên Chúa.  Cũng khác với lòng hăng hái dấn thân làm việc tông đồ, kinh nghiệm của cha là một sự gặp gỡ giữa chính mình và Thiên Chúa, trong sâu xa thanh tịnh của cõi lòng, nơi chúng ta cảm thấy bình an, vui sướng, tràn đầy sức sống và tình yêu, là kinh nghiệm gặp Thiên Chúa và bắt đầu từ bỏ chính mình để nhường chỗ cho Thánh Ý và Tình Yêu của Ngài.

Kinh nghiệm này của thánh I Nhã bắt nguồn từ một vết thương ngài bị nơi đầu gối trong một cuộc chiến xảy ra ở thành Pamplona vào năm 1521 giữa quân Pháp và quân Tây Ban Nha.  Lúc ấy, I Nhã là một sĩ quan rất trẻ và anh dũng của hoàng đế Tây Ban Nha.  I Nhã đã đôn đốc, nâng đỡ tích cực tinh thần binh sĩ của mình, một lực lượng bé nhỏ, để kháng cự và đương đầu với quân Pháp đang bủa kín, bao vây thành.  Bị thương nặng, I Nhã trở về Loyola, nơi mà 30 năm trước, I Nhã, con út của một đại chủ vùng Loyola (miền bắc Tây Ban Nha) chào đời.  Trong suốt 6 tháng trời dưỡng thương, I Nhã rất yếu, thập tử nhất sinh nhiều lần.  Trôi theo tháng ngày dưỡng bệnh, các kế hoạch cũ của I Nhã bắt đầu lung lay.  I Nhã là một chàng thanh niên hào hoa, khoáng đạt, tràn tinh thần hiệp sĩ, đầy tham vọng.  Mặc dù song thân muốn I Nhã trở thành linh mục nhưng I Nhã lại có kế hoạch khác: tham vọng của I Nhã lớn lắm: I Nhã thích ăn chơi hơn là đọc kinh, lãnh nhận các bí tích hoặc tuân giữ các giới răn của Chúa.

Ở Loyola và Manresa, năm 1521 và 1522, I Nhã bắt đầu kết thân với Thiên Chúa.  Tình thân mới đã mở mắt I Nhã và, nhờ kinh nghiệm nội tâm, I Nhã bắt đầu hiểu giá trị của các bí tích, lòng sùng kính Ðức Mẹ, mục đích các diều răn Thiên Chúa.  Ngay từ bước đầu trên đường về nhà CHA, Chúa Giêsu là hình ảnh vẹn toàn của Chúa CHA đã giúp I Nhã hiểu tình yêu Thiên Chúa dành cho thế gian và chính mình.  Suốt cuộc sống, cha I Nhã luôn luôn biết tìm hiểu và cảm mến Thiên Chúa mênh mông, bao la qua cử chỉ nho nhỏ, đơn sơ trong cuộc sống Chúa Giêsu.  I Nhã tìm thấy Thiên Chúa bằng cách tìm hiểu và thương mến bước theo chân Chúa Giêsu Nazareth, con của Mẹ Maria.  Ðức Mẹ dẫn I Nhã đến với Chúa Giêsu.  Ðể kết thân với Chúa Giêsu cũng như mỗi lần muốn đạt tới một ơn tối quan trọng (ba lời tâm sự trong Tuần 1, lời tâm sự Hai Cờ Hiệu…) cha I Nhã đã khẩn cầu với Ðức Mẹ trước.

Năm 1524, I Nhã ngồi chung lớp với các trẻ em để học La ngữ và can đảm bắt đầu bước trên đường trở thành linh mục.  Muốn có một căn bản vững chắc về thần học, I Nhã sang Ba-Lê là trung tâm văn hóa nổi danh nhất Âu Châu thời ấy và học đến năm 1535, I Nhã tốt nghiệp hai cấp bằng cử nhân triết học và cao học thần học.  Sau một năm chuẩn bị sốt sắng, ngài thụ phong linh mục và làm lễ mở tay năm 1536.  Cha I Nhã xác tín rằng mọi người đều có thể gặp Thiên Chúa một cách thân tình.  Cha dùng các khóa cấm phòng theo phương pháp Linh Thao để hướng dẫn các vị giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân nam nữ.  Trong các khóa Linh Thao, cha giúp họ mở lòng lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa.  Trong Linh Thao, họ trở về với Thiên Chúa và bắt đầu bước theo Chúa Giêsu như người bạn đường chí ái.

Trong số các thầy cùng học tại đại học Ba-Lê, có một nhóm nhỏ dấn thân theo cha I Nhã.  Năm năm sau, nhóm này thành lập dòng Tên (dòng Chúa Giêsu).  Người thanh niên hiệp sĩ, tự ái cao ngạo I Nhã xưa, nay bắt đầu theo chân Thầy, nghèo và khiêm nhường.  Dòng của cha I Nhã cũng theo nếp sống nghèo, khiêm nhường, xa quyền thế ngoài đời và quyền thế trong Giáo Hội.  Sinh ra trong một gia đình giàu có, qúy phái, quen biết với nhiều người có địa vị cao sang, cha I Nhã có thể được phong chức cao trong Giáo Hội, nhưng ngài không bị ảnh hưởng của quyền thế cao trọng, chức bậc giàu sang lôi cuốn.  Cha luôn luôn theo Chúa Giêsu: nghèo và khiêm nhường.  Ðây là một nét của dòng Tên, hiện tại xem ra hơi thiếu.  Có rất nhiều hình thức quyền thế: tiền bạc, bằng cấp cao, thế lực chính trị, ảnh hưởng… Chúng ta dễ bị tham quyền và lấy cớ cần một chút phương tiện và quyền thế mới để có thể rao giảng Tin Mừng.  Trong khi Chúa Giêsu chỉ xử dụng quyền của sự thật và tình thương, và đã cứu chuộc chúng ta nhờ sự yếu đuối của thập giá.

Cha I Nhã kính nể và thương mến Hội Thánh.  Ngài luôn luôn phục vụ và bênh vực Hội Thánh, nhất là trong thời các giáo phái Tin Lành cảm thấy bất mãn và tách khỏi Giáo Hội Công Giáo.  Năm 1540, Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận dòng Tên để phục vụ Giáo Hội dưới quyền chỉ huy của Ðức Thánh Cha.  Cha I Nhã luôn luôn muốn phục vụ và sống trong lòng Giáo Hội (xem các nguyên tắc sống trong lòng Giáo Hội) nhưng cha không chịu nịnh bợ những người cầm quyền trong Giáo Hội.  Cha phục vụ và thương mến Giáo Hội được Chúa Giêsu lựa chọn và sai đi để mang Tin Mừng cứu rỗi đến mọi người.  Ðối với cha I Nhã các giáo dân, cũng như chủ chiên là nhiệm thể của Chúa Giêsu và Chúa Giêsu là đầu.  Như thánh Phaolô, cha I Nhã tin rằng Giáo Hội, nhờ Chúa Thánh Thần, là cô dâu duyên dáng, tinh tuyền, chung thủy của Chúa Giêsu.

Vì mến Giáo Hội và mong Giáo Hội chu toàn sứ mệnh đem Tin Mừng đến với nhân loại, cha I Nhã luôn luôn mang tinh thần canh tân đến các cộng đoàn.  Cha bị nhiều linh mục và giáo sĩ nhìn với cặp mắt nghi ngờ, ghen ghét.  Cha bị đại diện của Giáo Hội bắt giam tù ở Alcala và Salamanca.  Tại La Mã cha cũng bị vài giáo phẩm cao cấp ghét thậm tệ.  Trong tinh thần canh tân, cha I Nhã có nhiều sáng kiến mới.  Cha luôn luôn muốn đáp ứng những nhu cầu cấp bách của đồng loại: năm 1538 cha mở phòng ăn tại La Mã cho hàng trăm nguời nghèo ăn mỗi ngày để thoát nạn đói.  Mở một cư xá đặc biệt để đón nhận các cô gái hoang đàng, muốn trở về xây dựng lại cuộc sống.  Cha mở lớp huấn nghệ ngay trong thành phố và giúp họ chuẩn bị trở về với đời để trở nên người đàng hoàng hữu ích.  Cha mở cư xá cho người Do Thái và Hồi Giáo muốn học đạo Công Giáo.

Cha I Nhã có tinh thần uyển chuyển, đầy óc sáng tạo để đáp ứng với nhu cầu mới, đồng thời ngài có một tinh thần sâu xa, vững chắc: nuôi dưỡng phát triển đời sống nội tâm; xét mình, nguyện ngắm Kinh Thánh, sùng kính Ðức Mẹ, vâng phục Ðức Giáo Hoàng, có tinh thần khó nghèo, lòng khiêm nhường.  Trên hết, ngài muốn là bạn đồng hành của Chúa Giêsu, phục vụ Chúa và đáp lại các nhu cầu tinh thần của tha nhân.

Julian Élizaldé Thành, SJ
http://www.donghanh.org

Xem thêm:

Inhaxiô nhà Loyola

Bạn học hé lộ vụ cô gái Việt thuê sát thủ giết cha mẹ

Bạn học hé lộ vụ cô gái Việt thuê sát thủ giết cha mẹ

Jennifer Pan, 28 tuổi, bị tuyên án tù chung thân vì tội âm mưu giết cha mẹ.

Jennifer Pan, 28 tuổi, bị tuyên án tù chung thân vì tội âm mưu giết cha mẹ.

VOA Tiếng Việt

Một người bạn thời trung học của cô gái Việt ở Canada bị cáo buộc thuê sát thủ giết cha mẹ mới lên tiếng cho biết rằng Jennifer Pan “từng có một cuộc sống bị kìm kẹp và luôn phải tìm cách làm hài lòng cha mẹ”.

Cô Karen Ho còn cho biết thêm rằng cho tới tận năm 22 tuổi, cô gái gốc Việt này ít khi được đi tiệc tùng với bạn bè và chưa khi nào đi nghỉ mát mà không có cha mẹ và gia đình bên cạnh.

Cô Ho kể với VOA Việt Ngữ:

“Cô ấy nói tại tòa cũng như nói với bạn bè rằng cô ấy bị trầm cảm và bản thân cô ấy cũng có nhiều dấu hiệu của việc đó, như dùng dao tự cứa vào cơ thể mình. Cô ấy cũng nói về chuyện cha đẻ của cô rất hà khắc. Cô ít được đi chơi với bạn bè”.

Viết trên trang Facebook vào tháng Hai năm 2009, Jennifer Pan kể: “Sống trong nhà tôi giống như bị quản thúc tại gia”.

Cô gái này đầu năm nay đã bị kết án tù chung thân vì thuê sát thủ giết chết mẹ đẻ, bà Bích Hà, và khiến người cha bị một vết thương nặng ở đầu.

Ba đồng phạm của Jennifer, trong đó có người yêu cũ, cũng đã bị tòa án Canada kết án tù chung thân và không có cơ hội giảm án trong vòng 25 năm.

Cô Karen Ho cho biết rằng không ai trong đám học cùng trung học với cô có thể tưởng tượng được chuyện này lại xảy ra. Cô nói:

“Khi mới biết tin về chuyện xảy ra đối với cha mẹ của cô ấy, tôi và các bạn cùng trường có viết lên trang Facebook của cô ấy rằng chúng tôi rất lấy làm tiếc về những gì xảy ra, và nếu cần chúng tôi giúp gì thì hãy cho chúng tôi biết. Nhưng khi mọi chuyện vỡ lở, cô ấy bị truy tố vì tội âm mưu giết cha mẹ mình, bất cứ khi nào tôi gặp các bạn cùng trường chúng tôi không thể không nói về câu chuyện này và chúng tôi cảm thấy như bị phản bội. Chúng tôi không còn tin vào những gì cô ấy đã nói với chúng tôi”.

Cô Ho cho biết cô đã nói chuyện với một người không muốn nêu tên và bạn này đã tỏ ra cảm thông với Jennifer về những gì cô gái này đã phải chịu đựng cách giáo dục khắc nghiệt của người cha.

Một độc giả của VOA Việt Ngữ tên là Tạ Tốn viết rằng “suy cho cùng, trách nhiệm thuộc về cha mẹ Jennifer. Họ đã không hiểu thấu đáo về đứa con của họ và đã đặt lên vai nó một gánh nặng mà khả năng nó không mang nổi, đã đẩy nó vào hoàn cảnh phải nói dối nếu muốn tồn tại”.

Nhiều tờ báo Việt Nam cũng đã đăng tải câu chuyện buồn này và lấy đó làm ví dụ cảnh báo cho các bậc làm cha làm mẹ trong nước.

Thời Đại Bịp

Thời Đại Bịp

Nguoi-viet.com

Minh Văn

Lịch sử Việt Nam đã và đang tồn tại một thời đại như vậy, điều mà chúng ta gọi là: Thời Đại Bịp. Mới hay rằng, thế gian này chuyện ngược đời đến mấy cũng có thể xảy ra, sự thể đã 70 năm nay rồi. Có thể nói, dân ta đã chịu đựng nổi bất công nhiều như sao trên trời, dân tộc ta phải hứng chịu một cơn đại hồng thủy phá hủy văn hóa ngàn năm.

Đảng CSVN dùng chế độ ‘công an trị’ để đàn áp những tiếng nói khác mình.
(Hình minh họa: Getty Images)

Nhà nước hiện nay nói rằng, họ đang xây dựng sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Thực tế thì như thế nào?

Họ (nhà nước) lấy của dân 10 đồng, rồi lại chia cho dân 2 đồng. Sau đó hệ thống truyền thông làm rùm beng lên, cho đó là công lao trời biển của đảng. Người dân cho dù nhìn thấy bất công, có phát hiện ra trò bịp thì cũng đành phải im lặng. Đảng sẽ giành một thái độ trìu mến cho những người biết sợ và phục tùng, và đàn áp bất cứ ai dám phản đối. Lâu dần xã hội hình thành một thói quen ứng xử: Nếu người dân chịu để cho đảng bóc lột và lừa dối thì mới được đảng tôn trọng.

Theo họ lý luận, đảng là người đầy tớ trung thành, nhân dân là chủ, nhưng người chủ đó phải chấp nhận các nguyên tắc sau: Đảng nói gì, dân cũng không được cãi lại, đó mới là một công dân tốt. Khi nhà nước ban hành các chủ trương chính sách, dân chỉ việc ngoan ngoãn làm theo, không phản đối và thắc mắc, có như vậy mới không phải là “phản động.” Trung ương bao giờ cũng đúng, chỉ có cấp dưới làm sai và ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa tốt, vì vậy mà đảng không bao giờ phải chịu trách nhiệm. Đảng còn nói rằng, mọi việc người dân không cần phải quan tâm, đã có đảng và nhà nước lo tất cả.

Người dân cúi đầu sợ hãi mà tuân thủ các nguyên tắc do đảng đặt ra, kết quả là dân tình khốn khổ, mất hết nhân quyền, nước mất nhà tan.

Với một sự vô lý to lớn như vậy, đảng biết rằng sẽ có ngày người dân nổi lên để mà đòi tự do đa đảng. Nhằm ngăn chặn quy luật tất yếu đó, đảng tung ra luận điệu “đảng nào cũng giống nhau mà thôi, rồi cũng tham nhũng cả. Thôi thì cứ để cho Đảng Cộng Sản lãnh đạo mãi mãi cho khỏe chuyện. Vả lại, đa đảng thì lộn xộn và phức tạp lắm, khủng bố suốt ngày.” Để minh chứng cho nhận định trên, đảng cho chiếu trên truyền hình nhà nước tin tức khủng bố ở các nước dân chủ, để người dân xem đó thấy sợ mà không dám đòi tự do nữa.

Trong thời đại bịp này, báo chí, truyền hình, phát thanh tư nhân không có, tất cả đều là của nhà nước. Vì vậy mà tiếng nói của người dân vô cùng nhỏ bé, có muốn phản đối cũng không thắng nổi truyền thông của chế độ. Với một hệ thống truyền thông độc quyền hùng hậu như vậy, bao giờ đảng cũng đúng, cũng tốt và vĩ đại, chỉ có nhân dân là có tội. Đảng nắm phần cán dao, nhân dân thì nắm phần lưỡi dao, vì vậy không thể nào mà xoay chuyển tình thế được.

Tình cảnh đó khiến người ta luôn phải sống trong dối trá và bưng bít. Một xã hội không biết đến sự thật thì cũng giống như con người ta bịt mắt cho kẻ khác dắt đi. Dân tộc Việt Nam đã bị Đảng Cộng Sản bịt mắt và dẫn dắt theo ý muốn của họ. Người dân không được biết gì khác ngoài những điều mà đảng cho phép biết, những điều mà đảng tuyên truyền.

Quay lại 70 năm về trước, đó là câu chuyện của những tầng lớp người thấp nhất vùng lên cướp chính quyền và sau đó lãnh đạo toàn bộ xã hội. Một nhà nước “vô sản” được dựng nên, và những người trí thức, bác học, nhà khoa học, kỹ sư, luật sư, giáo viên… phải phục tùng tuyệt đối những người công nhân và nông dân. Đó là một mô hình nhà nước hoang tưởng và ngược đời nhất mà nhân loại từng được chứng kiến, nó hoàn toàn đi ngược lại quy luật tự nhiên. Đó là một chế độ độc tài toàn trị, là kẻ thù không đội trời chung của các giá trị tự do, dân chủ. Là nơi mà con người bị đày đọa và trói buộc một cách có hệ thống nhất, nơi mà cái phí lý trở nên có lý. Rồi những người công nhân và nông dân cũng bị lừa bịp, bị chính chế độ đại diện cho họ phản bội, bị bóc lột và đàn áp hơn xưa. Từ đó mà dẫn đến một thời đại bịp như ngày hôm nay.

Đảng không bao giờ nhận lỗi, mà luôn có những đối tượng chịu trách nhiệm thay, đó là: Các thế lực thù địch, thiên tai, nhận thức yếu kém của người dân, đế quốc Mỹ, bệnh dịch…

Lừa dối nhân dân, biến sai thành đúng, biến trắng thành đen, cho nên nó thật xứng với danh xưng: Thời Đại Bịp.

Không có bất cứ luận điệu nào có thể biện minh cho một chế độ độc tài toàn trị, vì sự tồn tại của nó đã là một tội ác tày trời. Bởi nó tồn tại bằng cách lừa bịp, đàn áp, tham nhũng, và cướp đi các quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Lòng mẹ, tình cha

Lòng mẹ, tình cha

Nguoi-viet.com

Phan Ngọc Vinh
(Viết nhân ngày lễ ra trường của con trai yêu quý)

Trên chuyến bay 6 giờ sáng, từ thành phố New York đến Chicago độ 2 tiếng rưỡi, ngồi trên máy bay với đứa con thứ nhì, lòng tôi bồi hồi khó tả, dù dậy thật sớm từ 3 giờ sáng, nhưng tôi vẫn không tài nào ngủ lại được.

Mẹ (bên phải) cùng con trai lớn (giữa) và con trai nhỏ trong ngày tốt nghiệp.
(Hình: Tác giả cung cấp)

Hôm nay là ngày tốt nghiệp Master của thằng con trai lớn của tôi, thằng nhỏ thì đã lấy Master of Science in Civil Engineering 2 năm về trước, đã có việc làm ổn định, hôm nay dắt mẹ đi dự lễ tốt nghiệp Master của thằng anh.

Sở dĩ thằng lớn lấy Master trễ hơn, vì sau khi tốt nghiệp 4 năm ở trường Business Wharton nó thấy bố mẹ vất vả quá, nên sẵn các hãng đến mời dụ đi làm, nó nghe lời đi làm với mức lương béo bở, sau vài năm dành dụm một số tiền không nhỏ, cộng với những kinh nghiệm làm việc, nó thi và được nhận vào trường Business Kellogg, rồi học thật nỗ lực với 2 môn, mà nó nói với mẹ là hãng trả tiền học.

Xin quý độc giả đừng nghĩ tôi khoe, tôi người Nam, ít học, có sao thì nói vậy, đang vui với hạnh phúc của gia đình tôi, của các con tôi, nên lời lẽ thiệt tình, xin quý độc giả lượng thứ, bao dung, nếu không vừa ý.

Đầu óc miên man suy nghĩ, gợi lại những kỷ niệm cách đây 29 năm…

Ngày ấy, một em bé ra đời, người đàn bà nghèo lớn tuổi cùng chồng ôm đứa con thơ, sống thật chật vật khó khăn, hai vợ chồng nghèo nhường hết tất cả những gì mình có cho đứa con đầu lòng, nhường từ miếng ăn, giấc ngủ, sao cho con được no đủ để trí thông minh nó phát triển toàn vẹn.

Ông nhịn riêng cho mình mọi thứ để mua từng lạng thịt về luộc rồi xé nhỏ, xào khô ông tự làm chà bông cho con ăn (vì “chê” bà làm không đúng cách) để con có chất thịt trong người, bà thì cắt từng cái áo, cái quần của ông và bà để may cho con, sống kham khổ chật vật, tất cả nhường cho con, để nó ăn đầy đủ chất bổ, cho con mặc ấm trong mùa đông khi tiết trời trở lạnh.

Con bị ngộp khi sinh khó khăn nên mẹ bị mổ, khi ra đời , đứa bé bị vấn đề về đường thở, nay ốm mai đau, bao nhiêu tiền dành dụm đổ hết vào tiền bác sĩ, nhà thương, ông làm tất cả những công việc bần cùng nhất khi được ai thuê, ai mướn, hầu có chút tiền mà lo cho con.

Mẹ và con trai 29 năm trước. (Hình: Tác giả cung cấp)

Sống chật vật kham khổ, bữa đói bữa no, rồi thì trời cũng ngó xuống, chương trình HO, đưa những cựu tù đến Mỹ, một chân trời mới mở rộng, đón chào ông bà cùng hai con nhỏ…

Khi sang Mỹ, trình độ tiếng Anh không nhiều, ông theo người Mỹ phụ sửa nhà, đi giao hàng, rồi vào làm hãng. Bà đi bưng đồ ăn, đi babysit cho những nhà có con nhỏ, đi phụ bán hàng, nhận lái xe chở con nít đi học thêm sau giờ học chính ở trường. Con thì còn nhỏ, bằng mọi cố gắng tất cả vì con, làm sao cho hai con thành đạt ở xứ người.

Ngày bay đi dự lễ tốt nghiệp của con, ông không đi được, vì trước một năm ông ngã bệnh, không thể đi xa, bà cùng thằng con thứ hai bay sang tiểu bang này dự lễ.

Trong chiếc lều căn lớn giữa sân trường rộng mênh mông, trường đãi các phụ huynh những món ăn ngon, nhẹ, nhạc êm dịu, tha thiết trỗi lên từ chiếc loa, thật là cảm động, nghĩ đến sự cố gắng, miệt mài học tập của con, quyết chí lấy hai bằng trong trường Business Kellogg, mà con tôi được lọt vào danh sách Top 10% trong số 600 sinh viên ra trường năm nay. Tôi ôm con vào lòng khóc nức nở, vì vui sướng, hạnh phúc và hãnh diện cho những thành tựu mà con của chúng tôi đạt được.

Tôi tưởng như mình đang nằm mơ, khi nghĩ từ một người đàn bà lam lũ nơi quê nhà, giờ được đứng chung với những người Mỹ, những ông bà Mỹ lịch sự, giàu có, sang trọng, giờ được sánh vai ngang hàng với họ, được ăn chung, không phân biệt giai cấp, trưởng giả sang hèn, chỉ có xứ Mỹ này lòng người mới bao la như thế. Ôi! thật khâm phục, cảm ơn tấm lòng của người Mỹ và nước Mỹ.

Được ôm con vào lòng như ôm đứa bé 29 năm về trước, tôi thốt ra tiếng nói trong tiếng nấc nghẹn ngào, “Ôi, con tôi giỏi quá, mẹ vui quá con ơi. Con tôi sao nó giỏi thế này!”

Đúng như ai đó đã nói, “khi buồn quá mình cũng khóc, và khi vui quá mình cũng khóc.” Ngày này tôi vui quá, nên không kiềm được nước mắt mà ôm con và khóc nức nở trên vai con.

LỜI TÔI NGUYỆN CẦU

LỜI TÔI NGUYỆN CẦU

Trích EPHATA 652

Mấy năm trước, tình cờ đọc được bài cha Nguyễn Văn Đông, gốc Kontum, giảng tại Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn, tôi thấy hay quá bèn viết lên báo Văn Nghệ Tiến Phong xuất bản ở Hoa Kỳ. Mấy bà làm việc công quả trong một ngôi chùa ở Toronto đọc bài tôi viết, cũng xúc động như tôi. Các bà Phật Tử ngưỡng mộ lòng bác ái của cha Đông và thương mấy người cùi, đã góp tiền trong chùa rồi nhờ tôi chuyển về cho cha Đông. Việc này làm tôi cảm động và suy nghĩ mãi.

Bài tôi viết về người cùi dài dòng, bắt đầu từ chuyện Đức Cha Cassaigne rồi mới dẫn tới chuyện cha Đông, như sau:

( … ) Đức Cha Jean Cassaigne là người con một, sinh ra trong một gia đình quý phái giàu có bên Pháp, nhưng ngài đã từ bỏ mọi sự sang trọng thế gian mà xin vào Tu Hội Thừa Sai Paris. Lãnh chức Linh Mục xong, ngài xin sang Việt nam truyền giáo. Ngài chọn Việt Nam vì sau khi đọc các bài cha Đắc Lộ Alexandre de Rhodes viết trên báo Journal des Voyages về cánh đồng truyền giáo tại Việt Nam, ngài đã bị Việt Nam thu hút.

Cha Cassaigne tới Việt Nam ngày 5.5.1926 và học tiếng Việt ở Cái Mơn. Ngài chọn tên Việt Nam là Gioan Sanh. Sau đó ngài được bề trên sai đi làm cha sở một Họ Đạo ở Di Linh, miền cao nguyên. Nơi đây ngài gặp những người Thượng bị phong cùi lang thang trong rừng. Đây là những người bị cùi vào giai đoạn tuyệt vọng. Gia đình đem bỏ họ vào rừng, để họ ở đó một mình, sống chết ra sao mặc họ. Gia đình và dân làng coi như đã xong bổn phận. Những người phong cùi này sống trong đói khổ và chết dần mòn. Cha Cassaigne đã đưa họ về và lập thành một làng riêng cho họ. Cha vừa coi Họ Đạo, vừa coi luôn làng cùi. Làng có tên là Kala. Ngài kiêm nhiệm vai y tá băng bó vết thương, kiêm nhiệm chức hỏa đầu quân nấu ăn cho họ, đồng thời kiêm luôn chức ngoại giao đi cầu viện khắp nơi.

Chẳng bao lâu sau, ngài nhiễm bệnh sốt rét và lao phổi. Ngài viết thư gửi bạn bè bên Pháp: ‘Một năm 12 tháng, tôi bị sốt rét 10 tháng, nhưng tôi không thể nằm nghỉ vì không có ai thay thế tôi để lo cho bệnh nhân người cùi’. Ngài rất giỏi tiếng Việt và tiếng Thượng K’Hor. Người Thượng nhất là những người cùi đã coi Ngài như cha ruột của mình. Vì ngài đạo đức thánh thiện nổi tiếng như vậy nên năm 1941, Toà Thánh đã đặt ngài làm Giám Mục Sàigòn. Năm 1943, Ngài phát hiện mình bị mắc bịnh cùi, nhưng ngài vẫn cố gắng tiếp tục coi sóc Giáo Phận Sàigòn cho tới năm 1955. Sau đó ngài trao quyền lại cho Đức Cha Nguyễn Văn Hiền. Đức Cha Cassaigne luôn sống trong khó nghèo. Ngài là vị Giám Mục duy nhất đi xe đạp và Vespa khi còn tại chức ở Sàigòn.

Rời Sàigòn, ngài trở về làng cùi Di Linh và tiếp tục phục vụ những người xấu số. Ngài phát triển làng, mở trường học và bệnh xá. Tới năm 1972 thì ngài kiệt sức, liệt giường. Ngài mắc nhiều thứ bệnh: sốt rét rừng từ năm 1942, bệnh cùi năm 1943, lao xương năm 1957, lao phổi năm 1964. Nằm trên giường bệnh, ngài luôn nói: “Tôi là người Việt Nam”.

Ngài qua đời ngày 31.10.1973 tại Di Linh. Cả làng cùi Kala đã khóc một tuần lễ. Lễ an táng có đông đủ các chức sắc cao cấp đạo đời. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tặng Ngài Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Ngài được an táng ở chân tháp làng Kala, trên bia mộ có ghi hàng chữ: “Jean Cassaigne, 1895-1973, Caritas et Amor”. Caritas et Amor là chữ Latinh, khẩu hiệu Giám Mục của ngài, nghĩa là ‘Bác Ái và Yêu Thương’.

Mấy chục năm sau, có một vị đã theo chân Đức Cha Cassaigne, đó là cha Nguyễn Văn Đông. Cha Đông coi sóc Họ Đạo Sa Thầy ở Kontum. Cha Đông là người sống mộc mạc, đơn sơ và nghèo khó. Ngài được mời về Nhà Thờ Chính Tòa Sàigòn, nơi có ngai tòa của Đức Cha Cassaigne, để giảng mở đầu cho Mùa Chay năm 2001. Bài giảng đơn sơ như thế này:

“Kính thưa ông bà anh chị em,

Thật là xúc động khi tôi được mời giảng bài Tin Mừng đầu Mùa Chay tại Nhà Thờ Chính Tòa. Tôi thú thực với anh chị em là đứng trước cảnh tráng lệ đẹp đẽ và sang trọng trong Nhà Thờ này, lòng tôi bị dao động qúa. Tôi so sánh cảnh này với cảnh nghèo nàn trong xứ Sa Thầy ở cao nguyên nơi tôi phụ trách, tôi thấy đây cách biệt một trời một vực. Tôi thấy bị lúng túng.

Quý anh chị em chắc có biết, nói về tỉnh Kontum, tôi xin tự hào khoe rằng, xứ tôi phụ trách cái gì cũng nhất, lớn nhất, có người dân tộc đông nhất, đồng bào khắp nước đổ về đây nhiều nhất, có nhiều rừng núi nhất, và… nghèo nhất.

Tôi làm Linh Mục đã hơn ba chục năm. Năm nay tôi vừa tròn 61 tuổi. Tôi trẻ nhất so với mấy Linh Mục ở chung. Dù có tuổi nhưng được cái tôi chưa phải vào nhà thương hay uống thuốc nên còn có thể gồng mình cáng đáng nhiều việc. Xứ Sa Thầy nơi tôi phụ trách có 4 cha, cha chính xứ đã 77 tuổi, bịnh tiểu đường đã yếu lắm, còn 2 cha kia thì một ông nằm liệt giường vì bệnh cột sống, một ông ung thư giai đoạn cuối, nên chỉ còn mình tôi chạy ra chạy vô. Công việc nhiều lắm, ờ nhiều mà vui.

Tỉnh Kontum, từ thị xã quét một vòng bán kính xung quanh ra toàn tỉnh là 70 cây số, do vậy xứ tôi rộng tha hồ mà đi, đi mệt thôi. Đi mà rất vui, vui vì giúp đỡ được nhiều người. Anh chị em cũng biết là tỉnh Kontum có số lượng người phong cùi nhiều nhất nước. Tại nhà xứ, tôi là người trẻ nhất, có sức khoẻ nhất nên tôi được giao việc phụ trách người cùi, vì vậy mà tôi hay đi thăm họ lắm.

Tôi xin kể anh chị em nghe. Kontum có đến 70% là người dân tộc, sống rải rắc khắp nơi. Nguyên đi từ Giáo Xứ này sang Giáo Xứ khác đã thấy mệt rồi, huống chi bây giờ đi thăm người bịnh, toàn tỉnh chỉ có tôi. Đồng bào Thượng sống ở đây nghèo lắm, có thể nói họ nghèo nhất nước. Họ gọi tôi là Bab. Tôi nhớ có lần vào thăm một buôn làng, già làng nói: Ơ Bab ơi, Bab nói Bab nghèo ha, Bab mới thấy nghèo thôi, chứ chúng tôi nghèo qúa rồi, nghèo riết rồi nên không thấy mình nghèo nữa, khổ quen rồi cho khổ luôn…

Có lần tôi đi bộ 12 cây số vào thăm một buôn người dân tộc. Ở đây họ có phong tục là hễ ai mắc bệnh phong cùi thì làng sẽ cất riêng một mái nhà trong rừng cho người đó ở, người bệnh này không được ở chung trong làng. Mà vì họ nghèo quá, ngay cái nhà họ ở cũng không ra cái nhà thì mái nhà họ cất trong rừng cho người cùi ở đâu có thể gọi là nhà, phải gọi là cái lều hay cái ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa là nát.

Lần kia tôi tới thăm những mái lều này, tôi phải cúi rạp người xuống mới vào nhà họ được. Thấy tôi đến thăm, họ mừng qúa anh em à. Họ cứ nhìn tôi rồi họ cười. Họ nói Bab đến thăm thì họ sung sướng lắm, qúy lắm. Họ cười mà tôi khóc, anh chị em ơi. Họ đã nghèo lại cùi. Tôi biếu họ món gì thì họ ôm vào ngực như sợ bỏ ra là mất.

Lần khác tôi vừa vào lều thì có ông già nói : Bab ơi, Bab có nylon không, nếu Bab có thì Bab cho con một miếng đi, một miếng thôi, để con che cái chỗ con nằm. Bab ơi, đêm qua mưa lớn qúa, cả nhà con chỗ nào cũng ướt, cũng lạnh, con không ngủ được, Bab ơi.

Anh chị em đã thấy người Thượng cùi khổ đến mức nào chưa ? Họ vừa nghèo, vừa bệnh, lại không được học hành gì cả. Họ chỉ biết đếm đến số 100 là hết. Các anh chị em có thể tưởng tượng nổi không, họ cầm tờ giấy 20 ngàn, mua chai nước mắm 7 ngàn, họ không biết nhận lại là bao nhiêu, người bán hàng đưa lại bao nhiêu họ cầm bấy nhiêu, vậy đó. Đã nghèo lại không được học, sống chỉ bám vào đất mà sống, nên giàu sao được. Cứ mỗi lần từ thị xã lên thăm họ, tôi cố tìm chỗ nào có thức ăn rẻ nhất mà mua cho họ. Ví dụ ở đây một ký ruốc là 20 ngàn, nhưng ở Phan Thiết chỉ bảy ngàn thôi.

Tôi là người Bình Định, dân miền Trung cũng nghèo đói quá mà tha phương đến tận Kontum, nên tôi rành lắm. Ở Kontum đồng bào mình nghèo quá, khắp bốn phương về sinh sống, Bắc có, Trung có, Nam có. Họ đều nghèo như nhau, nhưng lại tốt bụng, nên tôi xin họ giúp gì, dù nghèo họ cũng giúp tôi ngay. Tôi cứ lang thang khắp tỉnh, có cá vụn, cơm khô, muối hạt, tôi cứ xin. Chỗ nào người ta bán rẻ nhất là tôi tìm đến, vừa mua vừa xin cho họ. Có lần một số bạn bè cho tôi một ít tiền và nói với tôi: “Nhờ Cha mua ít đồ tặng cho họ đi cha”. Tôi liền đi mua nhiều thứ rẻ, gói thành từng gói nhỏ. Như cá khô thì tôi gói theo ký. Tôi đem cho họ, họ mừng lắm. Lần đó đến một xã, khi tôi đã phát hết qùa, còn lại trong giỏ mấy kí cá khô, lại gói trong giấy bóng màu vui mắt, trẻ con cứ theo tôi mà nhìn, ánh mắt của chúng tỏ ra thèm lắm, nhưng chúng không dám nói. Tôi hỏi: các con có thích không ? Chúng gật đầu. Tôi xuống xe ngay và phát hết mấy ký cá khô còn lại, đây con một ký, con một ký. Chúng nhìn tôi chăm chăm, hai tay ôm gói cá khô miệng cứ hỏi tôi hoài: Bab ơi Bab cho con thiệt hả Bab ? Tôi nói: Ừ, Bab cho con thiệt mà. Chúng lại hỏi: Bab cho con thiệt hả Bab, Bab cho con thiệt hả Bab ?

Thưa anh chị em, có đến những vùng này mới thấy hết cái khổ cùng cực của người dân ở đây. Tôi cứ tự hỏi là nếu tôi đem mấy kí cá khô này tặng bà con ở Sàigòn, chắc các anh chị sẽ nói ông cha này khùng. Thế đấy thưa anh chị em.Tôi muốn nói rằng, chúng ta nhớ giúp người nghèo người bịnh, trong khả năng của chúng ta, không cần nhiều, mỗi người một ít thôi.

Thưa anh chị em, một ít thôi, một tấm nylon nhỏ, một ký cá khô, giúp cho họ bớt khổ, họ mừng lắm, thưa anh chị em. Tôi mong rằng tất cả quý ông bà và anh chị em sẽ sống đẹp hơn lên trong Mùa Chay này, để xứng đáng với đức hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. Amen.”

Đọc xong bài giảng, tôi có cảm nghĩ này: Ngôn từ bài giảng rất bình dân và đơn sơ. Nó toát ra sự thành thực và thánh thiện, nó toát ra sự vui vẻ tự nhiên. So sánh với nếp sống đầy đủ tiện nghi vật chất của chúng ta hiện nay, tôi thấy người cùi như đang ở trong thời đại hoang sơ ngàn năm trước. Cha Đông đi làm việc bác ái mà khổ cực quá: đi vào làng thượng, chui vào các mái lều lụp xụp và dơ bẩn, tiếp xúc với những người nghèo khổ bệnh tật và dốt nát. Thế nhưng lời nói của cha toát ra sự vui vẻ. Ngài không hề than khổ than cực, không hề nói ra lời nào như đang làm một việc miễn cưỡng. Ngài nói về ngươi Thượng một giọng thân thương, coi những người Thượng này là bà con anh em của mình. Đó là điều làm tôi xúc động.

Việc này làm tôi nhớ tới Mẹ Teresa Calcutta. Mẹ đã từ bỏ nếp sống một giáo sư, một hiệu trưởng, nhà cao cửa rộng, dạy những học sinh con nhà giàu thuộc giai cấp sang trọng ở Ấn Độ, để hạ mình xuống sống với lớp người cùng đinh xã hội. Tôi được may mắn là đã sang sống ở Ấn Độ 2 tháng, cách đây 8 năm. Tôi đã nhìn thấy tận mắt lớp người cùng đinh ở trong giai cấp hèn mạt. Họ không có nhà. Họ sống ở vỉa đường, lấy đất làm giường lấy trời làm màn. Họ che mưa nắng bằng giấy báo. Gia đình nào may mắn lắm mới có một tấm bạt làm mái che. Ở Ấn Độ, con bò được kính trọng. Chúng đi lang thang đầy đường. Người ta hốt phân bò, phơi khô để đun bếp và để sưởi vào những buổi sáng trời lạnh. Họ nghèo mạt rệp mà lại đẻ nhiều. Đẻ con nhưng không có sức nuôi con. Hoặc họ phá thai hoặc họ để đứa bé chết dần mòn.

Mẹ Teresa đã nhìn thấy cảnh nghèo khổ cùng cực này trong suốt 10 năm dạy học. Mẹ không thể rửng rưng được nữa. Mẹ đã xin từ bỏ mọi sự sang trọng, mẹ đã ẵm các hài nhi hữu sinh vô dưỡng này, đã ôm những người bệnh tật đang hấp hối này về chăm sóc. Mẹ làm hết lòng vì Mẹ tin rằng đây chính là con Chúa, là anh chị em của mình. Mẹ đã làm việc này ròng rã 40 năm. Chúng ta có thể làm một vài việc bác ái trong một ngày, hai ngày, một tuần, là đã hết sức rồi. Còn Mẹ Teresa đã làm trong 40 năm.

Mẹ Teresa mất ngày 13.9.1997. Lễ an táng đã được trực tiếp truyền hình đi khắp thế giới. Tại Canada, Linh Mục Philippe Thibodieu đã ngồi trên đài TV ở Toronto để dẫn giải buổi lễ. Chính trong lễ này, ngài đã kể chuyện chính ngài được gặp Mẹ Teresa ở Calcutta trước đó mấy năm. Cha Philippe đã xin Mẹ mấy lời để đem về Canada nói cho bạn bè nghe. Mẹ đã cầm tay cha và nói: Tất cả cuốn Thánh Kinh tóm tắt trong 5 tiếng này “You did it to me”. Mẹ nói từng tiếng và chỉ vào 5 ngón tay của cha. 5 tiếng này lấy từ lời Chúa: Bất cứ việc gì các ngươi làm cho người thấp hèn nhất là đã làm việc đó cho chính Ta ( Mt 25, 40 ). Mẹ Teresa ôm người hấp hối, ẵm trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trên lề đường, vì Mẹ đã nhìn thấy Chúa nơi những người nghèo khổ cùng cực này.

Cha Đông vui vẻ đi thăm người Thượng bị phong cùi và nghèo khổ cùng cực vì đã nhìn thấy Chúa nơi những người anh em đáng thương này. Đức Cha Gioan Sanh ( Cassaigne ) mấy chục năm phục vụ người cùi đã nhìn thấy rõ Chúa nơi những anh em xấu số này.

Rồi tôi nghĩ đến tôi. Nhiều lúc tôi sống mà như không nhìn thấy Chúa trong mình, chứ đừng nói tới việc nhìn ra Chúa nơi tha nhân. Nhiều lúc tôi giống như anh Peter trong truyện đăng trên đặc san Le Monde des Religions tháng 7 năm ngoái. Tôi xin tóm lược chuyện này như sau :

Peter là người nước Anh gốc Do Thái. Anh theo đạo Công Giáo. Vợ anh chết đột ngột, anh đau khổ vô cùng. Không gì có thể làm anh quên được niềm đau to lớn này. Anh không tìm thấy nguồn an ủi trong đạo Công Giáo. Anh nghĩ rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ có thể chữa bệnh đau khổ cho anh. Anh sang Ấn Độ và xin gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma. Người ta chỉ cho phép anh được gặp ngài 5 phút. Vừa gặp ngài, anh òa lên khóc. Anh kể cho ngài nghe về việc mất vợ. Đức Lạt Ma ôm lấy anh và ngài cũng khóc. Anh kể tiếp cho ngài là anh theo Công Giáo, rồi lại oà lên khóc. Ngài liền nói mấy lời bằng tiếng Tây Tạng với viên thư ký. Vị này lấy ra ngay một tấm ảnh Chúa Giêsu vào trao cho ngài. Với một  sự cung kính đặc biệt, Đức Lạt Ma trao tấm ảnh cho anh Peter rồi nói: Đức Phật là con đường của tôi, còn Chúa Giêsu là con đường của anh, anh hãy tiếp tục sống đạo Chúa. Rồi ngài lại ôm lấy anh và cùng khóc với anh. Cuộc gặp gỡ này kéo dài trong 2 giờ thay vì 5 phút. Anh Peter chia tay trong nước mắt. Anh tâm sự: “Ngài đã chữa lành vết thương của tôi. Ngài không bảo tôi theo đạo của ngài mà bảo tôi tiếp tục tin vào Chúa.”

Đọc xong chuyện này, tôi nghĩ rằng ban đầu anh Peter hình như muốn bỏ đạo Chúa và sẵn sàng theo đạo Phật với Đức Lạt Ma. Sở dĩ anh có ý định như vậy là anh đã không nhìn thấy Chúa. Tôi nghĩ Đức Lạt Ma đã nhìn thấy Chúa và nghĩ mình là một ngôn sứ đặc biệt của Á Châu đang đi rao giảng lòng yêu thương cho mọi người theo một cung cách đặc biệt nên mới bảo anh thế.

Tôi không biết sau cuộc gặp Đức Lạt Ma anh Peter có nhìn thấy Chúa chưa. Phần tôi, tôi vẫn cầu xin Chúa cho tôi nhìn thấy Chúa hiện diện thực sự trong tôi mọi lúc, và xin cho tôi nhìn thấy Chúa trong mọi người. Xin được một chút xíu của Đức Cha Cassaigne, của Mẹ Teresa Calcutta, của cha Nguyễn Văn Đông. Tôi còn ghét người này, còn nói xấu người kia, thì rõ ràng tôi chưa nhìn thấy Chúa trong tôi và nơi tha nhân. Tôi mới giữ đạo bằng môi bằng miệng, theo thói quen, cho xong.

TRẦN TRUNG LƯƠNG, Toronto, Hè 2007

THIÊN TAI HAY… NHÂN HẠI ?

THIÊN TAI HAY… NHÂN HẠI ?

Trích EPHATA 652

Báo chí mấy ngày qua đưa tin liên tục về “trận mưa lịch sử” tại tỉnh Quảng Ninh. Cho đến hôm nay, thứ tư 29.7.2015, đã có 17 người chết, 9 người mất tích, trên 1.000 căn nhà bị cuốn trôi, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng.

Những cái chết đột ngột thương tâm như cái chết của một gia đình ba thế hệ, cả ba căn nhà bên cạnh nhau bị lũ bùn đổ ập, cuốn trôi, vùi lấp 9 nhân mạng trong tích tắc, người ta đào bới tìm ra xác một bà mẹ còn đang lom khom trên giường cố gắng che chắn cho đứa con, cả hai đều đã chết. Thật đau lòng !

Nguyên nhân được cho là do mưa quá lớn, đất đá từ các núi đồi kéo xuống theo nước mưa đầu nguồn. Chuyện rừng đầu nguồn bị tàn phá, núi đồi trơ đất nên rất dễ bị phá hoại theo nước mưa kéo xuống đồng bằng là chuyện ai trong chúng ta cũng đều biết. Năm nào cũng vậy, không nơi này thì nơi khác, thiệt hại về của cải đã đành, nhưng mạng sống con người mất đi thì không bao giờ lấy lại được. Đau thương cứ cứa sâu mãi vào trái tim của dân tộc, vậy mà tất cả chỉ là những tiếng thét vô vọng, không mấy ai quan tâm, hô hoán lên rồi bỏ, nhiều phóng sự cụ thể được đưa lên màn hình TV, nhiều thống kê với những hình ảnh cụ thể được cấp báo, nhưng rừng vẫn tiếp tục bị phá, phá một cách thê thảm, lâm tặc hoành hành như chốn không người, một số các bài báo mới đây còn loan tin chính những cán bộ trong ngành lâm nghiệp hoặc bảo vệ rừng lại là những lâm tặc phá rừng hung hăng và tàn hại nhất.

Wikipedia cho biết: “Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ Chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc ( FAO ), Việt Nam là nước có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Nigeria. Tuy nhiên, tổng diện tích rừng tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi: Sau nhiều thập kỷ xảy ra nạn phá rừng thì độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể từ đầu những năm 1990. Vào năm 2005, Khoảng 12.931.000 ha ( tương đương với 39,7% diện tích đất của Việt Nam ) đã được trồng rừng, mặc dù chỉ có khoảng 85.000 ha ( 0,7% của độ che phủ đất ) là rừng nguyên sinh, với nhiều hình thức rừng khác nhau.”

Nếu ai có dịp ngồi xe trên các chặng đường xuôi qua miền Trung và miền Bắc, chắc chắn bằng mắt thường chúng ta nhìn thấy trùng điệp núi đồi trơ đất đá, cây mọc lưa thưa như những cọng cỏ sân nhà. Và đó là nguyên nhân của sự tan hoang nhà cửa, mất mát thương vong, đời sống dân lành điêu linh lầm than khốn khó.

Cũng báo Tuổi Trẻ số ra ngày 29.7.2015, một thông tin khác làm đau lòng về thân phận con người: “Chạy biển”, “chạy sông”. Bảng thống kê cho thấy mỗi năm mất trên dưới 10.000 ha đất do nền đất lún sụt, đất lún kéo theo rừng ngập mặn bị tàn phá, các loại cây rừng gãy đổ, nước mặn xâm thực sâu vào đồng bằng, tác động đến nồi cơm của hàng triệu người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nguyên nhân của việc hạ mực nước ngầm là do khai thác nước ngầm vô tội vạ. Nguyên nhân chỉ ra rồi nhưng không làm sao khắc phục, cứ thế cái phá tăng lên, cái tàn kéo đến.

Và cũng báo Tuổi Trẻ nơi trang 18, một phóng sự về việc bảo vệ voi rừng thật vất vả, nạn săn bắn voi để lấy ngà đã tiêu diệt gần cạn kiệt voi rừng tại Việt Nam. Rừng thu hẹp, thú rừng bị săn bắt, tài nguyên của chúng ta chỉ còn là một vùng đất nghèo nàn, rừng vàng biển bạc chỉ còn trong… sách giáo khoa.

Bây giờ cây cổ thụ trong các thành phố đang bị đốn hạ, bao nhiêu giấy bút, cả mồ hôi và nước mắt đã tiêu tốn. Thành phố này, Thảo cầm viên ( Sở Thú ) đang kêu cứu, chẳng phải góp tiếng than để níu kéo kỷ niệm về một vùng cây cối giữa lòng thành phố gắn liền với tuổi niên thiếu của nhiều thế hệ, hay nuối tiếc một bộ sưu tập về thực vật nhiệt đới mà cha ông đã dày công vun trồng chăm sóc, nhưng là tiếng thét của con người trước nguy cơ thiên tai đang đổ sầm sập vào thành phố, mấy tháng qua nhiệt độ đã nóng lên rất nhiều, chưa bao giờ lại nóng kinh khủng như vậy !

Giáo Hội lên tiếng về bảo vệ môi trường thiên nhiên như một lời loan báo Chân Lý…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 29.7.2015

Người còn đó, Ta còn đây,

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó
Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi
Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi
Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng
Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trể
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó! Tôi còn đây! Phúc lắm!

Sương Lam ,

TÌM KIẾM GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI

TÌM KIẾM GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Cách đây khoảng 10 năm, tại bang California bên Mỹ, có hiện tượng thanh niên tự tử hàng loạt. Tất cả đều là những thanh niên trẻ tuổi, con nhà giàu, có học thức. Nguyên nhân tự tử là vì họ mong về Thiên đàng. Năm ấy có sao chổi xuất hiện. Họ cho rằng sao chổi chính là chuyến xe về Thiên đàng. Mấy mươi năm mới có một chuyến, nên họ vội vàng ra đi, sợ nhỡ chuyến.

Tính tỉ lệ những người tự tử, ta thấy thanh niên các nước giàu tự tử nhiều hơn thanh niên các nước nghèo. Hiện nay trong nước ta, tại các thành phố lớn, đang có hiện tượng các thanh niên đua xe gắn máy, liều lĩnh coi thường mạng sống. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy đó là những thanh niên con nhà giầu có.

Những hiện tượng đó đáng cho ta suy nghĩ. Những người nghèo đói thật vất vả khổ sở. Họ chỉ mong sao cho có đủ cơm ăn áo mặc. Có cơm ăn áo mặc đã là hạnh phúc. Nhưng khi người ta đã có đủ cơm đủ áo, đủ mọi phương tiện, người ta vẫn không hạnh phúc. Nhìn những thanh niên giầu có chán đời đi tìm cái chết; nhìn những thanh niên chán cảnh nhà cao cửa rộng, chăn êm nệm ấm đeo ba-lô đi du lịch bụi đời, ta thấy rằng vật chất không phải là tất cả. Và những khao khát của con người là vô tận. Hôm nay tôi chưa đủ ăn thì tôi mong cho có đủ ăn. Ngày mai đủ ăn rồi, tôi lại muốn ăn ngon hơn. Hôm nay còn đi bộ, tôi mong được một chiếc xe đạp. Có xe đạp rồi tôi mong có xe máy. Có xe máy rồi tôi mong có ô – tô. Có ô – tô rẻ tiền rồi, lại mong có cái tốt hơn, tiện nghi hơn, chạy nhanh hơn, êm ái hơn. Có tất cả rồi, người ta vẫn chưa hài lòng. Cuộc đời vẫn còn thiếu một cái gì đó. Bao tử hết bị hành hạ, thì lập tức tâm hồn cảm thấy những cơn đói khác dày vò: đói bình an, đói tình yêu, đói hạnh phúc, đói ý nghĩa cuộc đời, đói những điều cao thượng. Những cơn đói khát tinh thần này rất mãnh liệt. Nên con người mãi mãi khắc khoải đi tìm. Mà hạnh phúc dường như luôn luôn ở ngoài tầm tay với.

Hôm nay, đứng trước đoàn người hăm hở đi tìm lương thực, Đức Giêsu đã cảnh báo họ: “Đừng lo tìm những thứ lương thực hay hư nát, nhưng hãy tìm lương thực đem lại hạnh phúc trường sinh”. Vì Người đã rõ giá trị tạm bợ của miếng cơm manh áo. Người cũng thấu rõ tâm hồn con người mau chán những gì đạt được. Người đã tạo dựng tâm hồn con người, nên Người hiểu lòng khao khát của con người là vô biên. Chỉ có những giá trị tuyệt đối mới có thể lấp đầy những khát khao ấy. Người đã mở đường để tâm hồn con người thoát khỏi những ràng buộc của vật chất, vươn lên tìm kiếm những giá trị thiêng liêng cao cả, xứng với tầm vóc con Thiên chúa.

Thế nhưng ta tìm đâu ra những giá trị tuyệt đối để lấp đầy nỗi khao khát vô biên?  Ta tìm đâu ra thứ bánh làm dịu được cơn đói hạnh phúc?  Hôm nay, Đức Giêsu giới thiệu cho ta thứ bánh đó.  Đó là bánh đích thực, vì ăn rồi ta sẽ không bao giờ đói nữa.  Đó là bánh ban sự sống, ai ăn sẽ không chết nữa.  Đó là bánh ban hạnh phúc, ăn vào sẽ không còn khao khát điều gì khác.  Đó là bánh Thiên Chúa ban chứ loài người không ban được.  Đó là bánh từ trời chứ trần gian không sản xuất được.  Tấm bánh đó là chính bản thân Người, Đức Giêsu Kitô.

Những người Do thái đã sai lầm khi đi tìm Đức Giêsu để được ăn bánh.  Đức Giêsu đã cảnh tỉnh họ khi cho họ biết rằng không nên tìm bánh, vì như thế họ sẽ thất vọng.  Bánh ăn rồi sẽ lại đói.  Nhưng phải tìm chính Đức Giêsu.  Ở đây ta nhớ tới bài học Chúa đã dậy tổ phụ Ápraham.  Thoạt tiên, Chúa kêu gọi tổ phụ Ápraham đi theo Chúa và hứa cho ông được một đất nước chảy sữa và mật,  và một dòng dõi đông như sao trên trời như cát dưới biển. Nghe theo lời hứa, tổ phụ đã lên đường.  Nhưng khi ông sinh được một người con trai duy nhất trong tuổi già, Chúa lại bảo ông phải sát tế dâng cho Chúa.  Đây là một thử thách lớn lao, nhưng cũng là một lời mời gọi vươn lên.  Ápraham được mời gọi thoát khỏi sự ràng buộc của lợi lộc vật chất.  Theo Chúa chỉ vì Chúa chứ không phải vì lợi lộc vật chất.  Ông hoàn toàn có lý vì ông đã chọn Chúa là sự Thiện tuyệt đối chứ không chỉ lựa chọn một vài sự thiện tương đối.  Ông đã lựa chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc chứ không đuổi theo những ảo ảnh của hạnh phúc.  Đức tin của ông hoàn toàn trưởng thành, nên ông đã trở thành Cha của những kẻ tin.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi, hãy noi gương tổ phụ Ápraham. Đừng tìm những mảnh vụn hạnh phúc, nhưng hãy đi đến nguồn mạch hạnh phúc.  Đừng lo nắm giữ những của cải phù du, nhưng hãy tìm chiếm giữ kho tàng bền vững mối mọt không đục khoét được.  Đừng đuổi theo những giá trị tương đối, nhưng hãy biết tìm kiếm giá trị tuyệt đối là chính Chúa.  Chính Chúa sẽ làm ta no thoả.  Chính Chúa sẽ lấp đầy những khát vọng của ta.  Chính Chúa ban cho ta hạnh phúc tràn đầy, vĩnh viễn.

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với thánh Âucơtinh: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con mãi khắc khoải băn khoăn, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Amen.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

20 năm tiền lương và 3 lời khuyên

20 năm tiền lương và 3 lời khuyên

Một cặp vợ chồng mới kết hôn rất nghèo và sống trong một nông trại nhỏ. Một ngày, người chồng nói với vợ:
“Em yêu, anh sẽ rời ngôi nhà này… Anh sẽ phải đi rất xa, rất xa, tìm một công việc, rồi làm thật chăm chỉ để có thể trở về và cho em một cuộc sống đầy đủ mà em luôn xứng đáng. Anh không biết đôi ta sẽ biệt ly bao lâu, vì vậy anh chỉ đòi hỏi em một điều này thôi: Hãy đợi anh. Khi anh không còn ở đây, em hãy giữ tấm lòng son, hãy bảo toàn sự thủy chung, bởi anh cũng sẽ như vậy với em.”

Sau đó, người chồng rời đi. Ngày lại ngày trôi qua, anh đã đi một quãng đường rất rất xa, cho đến khi gặp một lão nông bên đường. Ông lão cũng đang cần tìm người phò tá mình. Chàng trai trẻ bước đến và tỏ ý muốn trở thành người hầu cận giúp đỡ ông mỗi ngày. Ông lão chấp nhận, sau đó, họ cùng thảo luận với nhau. Anh nói:
“Hãy để tôi làm việc chừng nào tôi còn có thể, và khi tôi nhận thấy đã đến lúc phải trở về cố hương, xin hãy để tôi đi. Tôi không muốn nhận một đồng lương nào trong lúc này – ngài vui lòng giữ lại giúp tôi cho đến ngày tôi rời đi. Vào ngày ấy, xin hãy đưa lại cho tôi toàn bộ số tiền ấy”.
Họ cùng đồng ý với thỏa thuận này. Và thế là người chồng làm việc trong nông trại của ông lão trong suốt 20 năm – không có ngày lễ, và cũng không có ngày nghỉ ngơi. Thấm thoắt 20 năm đã trôi qua, anh đến gặp ông chủ của mình và nói:
“Thưa ngài, đã đến lúc tôi cần phải trở về nhà, xin ngài hãy gửi lại tôi số tiền lương trong những năm qua”.
Ông chủ của anh trả lời:
“Tốt lắm! Sau cùng, ta đã có thỏa thuận với anh và ta sẽ giữ lời. Tuy nhiên, trước khi anh đi, ta muốn anh hãy cân nhắc điều này: Hoặc là ta sẽ trả lại anh tất cả số tiền và để anh đi; hoặc ta sẽ cho anh 3 lời khuyên và để anh đi. Nếu anh chọn túi tiền, ta sẽ không cho anh 3 lời khuyên ấy; và ngược lại, nếu anh chọn lời khuyên, ta cũng sẽ không đưa tiền cho anh. Bây giờ, chàng trai, hãy trở về phòng và suy nghĩ trước khi cho ta biết quyết định của mình”.
Sau hai ngày suy nghĩ, anh quay lại và nói với ông chủ:
“Thưa ngài, tôi muốn nhận 3 lời khuyên của ngài”.
“Đừng quên rằng, nếu ta cho anh 3 lời khuyên này, ta sẽ không đưa tiền cho anh. Anh còn băn khoăn điều gì không?”
“Thưa ngài, tôi muốn nhận 3 lời khuyên…”
Sau đó, ông chủ nói với anh:
“Một là: Đừng bao giờ lựa chọn đường tắt trong cuộc đời. Những con đường nóng vội có thể tiềm ẩn mối hiểm họa khôn lường!
“Hai là: Đừng bao giờ quá hiếu kỳ, bởi cái giá cho hiếu kỳ có thể là quá đắt… “Ba là: Đừng bao giờ quyết định trong cơn nóng giận hay trong lúc tuyệt vọng, bởi những quyết định mù quáng sẽ khiến anh phải hối hận muộn màng.”
Tiếp đó, ông chủ đưa cho anh ba chiếc bánh mỳ và nói:
“Đây là 3 chiếc bánh mỳ dành cho anh: Hai chiếc trên đường, còn chiếc cuối cùng để anh thưởng thức cùng vợ mình khi trở về nhà”.

Tạm biệt ông lão, người đàn ông lên đường trở về. Con đường 20 năm cách trở trải dài ra trước mắt. Anh hồi hộp mong chờ đến giây phút đoàn tụ với người vợ ở quê nhà.
Sau ngày đầu tiên, anh gặp một hành khách trên đường. Người lạ mặt nói:
“Chàng trai, anh đang đi đâu thế?”
“Đến một nơi rất xa, cách đây 20 ngày đường nếu tôi tiếp tục đi về hướng này”.
Người lạ mặt lại nói:
“Ồ, anh bạn trẻ, đường sẽ rất dài và xa xôi! Tôi biết có một ngã rẽ khác giúp anh sớm trở về nhà”.
Anh hăm hở bước theo con đường mới này. Nhưng rồi sau đó, chợt nhớ lại lời khuyên đầu tiên của ông lão, anh bèn quay trở lại con đường cũ lúc đầu. Nhiều ngày sau đó, anh vô tình biết rằng đoạn đường tắt hôm trước có rất nhiều đạo tặc mai phục.
Nhiều ngày nữa lại trôi qua, anh may mắn tìm thấy một nhà nghỉ ven đường. Anh dừng chân dùng bữa tối rồi ngủ một giấc dài… Đến nửa đêm, anh chợt tỉnh giấc vì nghe thấy tiếng la hét thất kinh bên ngoài phòng trọ. Anh bước ra khỏi chăn và toan mở cửa xem điều gì đang diễn ra. Bất giác, anh nhớ lại lời khuyên thứ hai nên nén nỗi tò mò và quay trở lại giường.
Sáng hôm sau, khi dùng điểm tâm, người chủ nhà trọ hỏi rằng, liệu anh có nghe thấy tiếng la hét thất thanh đêm qua không. Anh đáp lại là có. Ông bèn hỏi tiếp:
“Anh không tò mò xem chuyện gì đang xảy ra sao?”
“Không, không hề!”
“Thật may mắn, anh là vị khách đầu tiên có thể sống sót mà rời khỏi đây. Trong làng chúng tôi có một con quỷ. Ban đêm, nó thường la hét để gây sự chú ý. Bất kỳ ai nghe thấy tiếng hét mà chạy tới đều sẽ rơi vào nanh vuốt con quỷ này…”

Anh lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Càng gần tới cố hương, anh lại càng hồi hộp và vui sướng. Ngày lại ngày, đêm lại đêm, đôi chân anh đã mệt mỏi rã rời. Cuối cùng anh cũng thấy thấp thoáng ánh lửa bập bùng trong túp lều thân quen.
Bầu trời đã tối lắm rồi, mà mái nhà của anh vẫn còn một quãng dài phía trước. Qua khung cửa sổ, anh thấy bóng dáng người vợ hiền mà anh luôn yêu tha thiết. Nhưng kìa, nàng không ở đó một mình mà còn xuất hiện một gã đàn ông nào đó… Nàng vuốt tóc hắn ta, có vẻ hai người rất tình cảm bên nhau.
Hình ảnh trước mắt khiến trái tim anh tan vỡ và cay đắng. Trong lòng anh sục sôi một nỗi tức giận và tủi nhục. Anh chỉ muốn chạy ngay đến để trút nỗi giận này. Nhưng rồi anh hít một hơi thật sâu để bình tĩnh lại khi nhớ đến lời khuyên thứ ba.
Anh dừng chân và quyết định ngủ lại bên ngoài. Nằm trên bãi cỏ giữa núi đồi và ngắm nhìn sao trời, anh tự nhủ sẽ chờ đến sáng mai.

Khi ánh bình minh ló rạng cũng là lúc anh lấy lại hoàn toàn bình tĩnh. Anh nói với chính mình:
“Ta sẽ không làm hại vợ ta và người tình của nàng. Ta sẽ trở lại bên ông chủ và yêu cầu ông chấp nhận ta làm việc thêm lần nữa. Nhưng trước khi lên đường, ta muốn gặp nàng để nói rằng ta vẫn luôn thủy chung với nàng…”
Anh ngập ngừng gõ cửa… Khi vợ anh mở cửa, cô đã òa lên hạnh phúc và ôm chầm lấy anh. Anh chỉ nhỏ nhẹ:
“Anh luôn một lòng một dạ với em, nhưng tại sao em lại phản bội niềm tin ấy?”
Lời kết tội như làm trái tim thắt lại, cô nói:
“Làm sao em có thể phản bội anh? Em không bao giờ làm điều gì trái với lương tâm mình. Em đã kiên nhẫn đợi chờ anh suốt 20 năm qua…”
“Vậy còn người đàn ông bên cạnh em đêm qua? Anh ta là ai chứ!”
Đến lúc này, cô mới mỉm cười:
“Đó là con trai chúng ta! Khi anh rời đi, em mới phát hiện rằng mình mang thai. Đến nay, con chúng ta đã 20 tuổi rồi”.

Những lời nói ấy như dòng suối mát lành cuốn trôi nỗi buồn lo trong lòng anh. Anh cầu xin cô tha thứ, rồi bước vào phòng gặp người con trai anh chưa từng biết mặt. Sau đó, cả gia đình đoàn tụ trong bữa sáng mà vợ anh mới chuẩn bị. Anh lấy ra chiếc bánh mỳ cuối cùng và đặt lên bàn.

Khi cắt bánh mì làm ba phần đều nhau, anh bất ngờ khi nhìn thấy toàn bộ số tiền lương của 20 năm qua được giữ kín trong đó. Số tiền không chỉ là 20 năm mà còn vượt xa gấp nhiều lần.
Thiêng Liêng cũng giống như ông chủ trong câu chuyện kể trên. Khi yêu cầu chúng ta cống hiến, ngài còn dành tặng chúng ta nhiều hơn những gì ta đã làm. Ngài muốn những đứa con của ngài có được trí huệ sáng suốt, và có cả những phúc lành xứng đáng…

(Sưu tầm)
Hồng Liên biên dịch

Người Tử Tù

Người Tử Tù

Tại một nhà tù nọ, có một người đàn ông bị kết án tử hình. Nhưng người ta thấy anh không hề tỏ ra nao núng, trái lại lúc nào cũng vui tươi ca hát.

Ngày nọ, các quản giáo bắt gặp anh đang chơi tây ban cầm trong sân chơi của trại tù. Ðám đông bu quanh anh, lúc đầu còn nhút nhát, về sau mọi người cùng hát theo tiếng đàn của anh. Thấy thế, ban giám đốc nhà tù mới ra lệnh không cho anh được chơi đàn nữa.

Nhưng ngày hôm sau, tù nhân đã có bản án tử hình ấy vẫn tiếp tục ra sân chơi và đàn ca như mọi ngày. Ðám đông tù nhân cũng tuôn đến ca hát với anh. Không chịu nổi nữa, những người canh tù sấn đến túm lấy anh và chặt đứt những ngón tay của anh. Họ nghĩ rồi đây anh sẽ không còn chơi đàn được nữa và như vậy đám đông cũng không còn tụ tập được nữa. Nhưng ngày hôm sau, cũng người tử tội ấy, cũng đám đông ấy tụ tập lại trong sân tù và với đôi tay cụt, anh vẫn có thể đàn được những điệu nhạc càng thảm thiết hơn. Lần này, những tên canh tù lôi anh đi và đập nát chiếc đàn.

Ngày hôm sau, con người đáng thương ấy cũng trở lại sân chơi và cất tiếng hát vang. Tiếng hát ca của anh dặt dìu, tha thiết và mời gọi đến nỗi đám đông cũng kéo đến hòa cùng tiếng hát với anh. Lần này, những tên canh tù mới đưa anh đi và họ cắt lưỡi anh. Họ nghĩ rằng tiếng đàn đã bị dập tắt, tiếng ca cũng sẽ bị tắt lịm và như vậy, không còn ai sẽ tụ tập trong sân nữa.

Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người, ngày hôm sau, người tử tội vẫn trở lại sân chơi. Lần này, anh không đàn, không hát, nhưng nhảy múa theo một điệu nhạc câm mà chỉ mình anh mới có thể nghe được. Không mấy chốc, đám đông tù nhân kéo đến và họ nhảy múa xung quanh con người khốn khổ ấy.

Câu chuyện trên đây nhắc chúng ta nhớ đến một vũ công Ấn Ðộ tên là Sudha Chandran. Chính lúc cô đạt đến tuyệt đỉnh của danh vọng cũng là lúc bàn chân phải của cô phải bị cưa. Nhưng người vũ công đầy ý chí này đã không bỏ cuộc… Sau khi bình phục, cô đã ráp chân giả và luyện tập cho đến khi nhuần nhuyễn trở lại như trước. Khi được hỏi: “Làm thế nào để có thể nhảy múa bình thường trở lại?”. Cô trả lời: “Chúng ta không nhất thiết cần có chân mới có thể nhảy múa được”.

Thiên Chúa không ban cho chúng ta một số lượng nén bạc đồng đều. Kẻ được năm nén, người được hai nén, kẻ chỉ được một nén… Một nén đó có thể là một nén của nghèo nàn, bất hạnh, rủi ro, mất mát. Nhưng trong Tình Yêu Quan Phòng của Chúa, nén bạc vẫn có thể sinh lời được những hoa trái của yêu thương, của tin tưởng, của lạc quan vui sống…

Chúng ta không nhất thiết cần có đôi chân mới nhảy múa được. Chúng ta có thể nhảy múa với tâm hồn phấn khởi, chúng ta có thể ca hát với lòng tin yêu, vui sống..

Không gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Chúa. Dù tù đày, dù bệnh tật, dù khốn khổ đến đâu, nếu chúng ta có lòng mến, thì cuộc sống trơ trụi, nghèo hèn của chúng ta vẫn luôn là bài ca chúc tụng, tri ân dâng lên Chúa.

Trích Lẽ Sống

Con phải cố gắng để mà giỏi gấp đôi người ta.

Con phải cố gắng để mà giỏi gấp đôi người ta.

Bài Ghi Ngắn của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Condoleezza Rice sinh năm 1954 tại tiểu bang Alabama là một phụ nữ người Mỹ gốc Phi châu với thành tích xuất sắc trong các chức vụ làm giáo sư về môn bang giao quốc tế tại đại học danh tiếng Stanford California – và nhất là còn làm cố vấn an ninh và làm ngọai trưởng dưới thời của Tổng thống George W Bush từ năm 2001 đến 2009.

Vào năm 2010, bà cho xuất bản cuốn Hồi ký Gia đình (A Family Memoirs) ghi lại rất nhiều chi tiết về sinh họat trong gia đình của bà gồm ba người là cha, mẹ và bản thân bà là người con gái duy nhất mà được gọi với cái tên Condi trong chỗ thân mật riêng tư của gia đình.

Vào các thập niên 1950 – 60, nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn rất khắt khe tàn bạo đối với người da màu (coloured people) tại các tiểu bang thuộc miền Nam nước Mỹ. Vì thế, mà bà mẹ Angelena Rice đã luôn luôn phải căn dặn nhắc nhở con gái Condi rằng : “Con phải cố gắng hết sức mình để mà có thể giỏi giang gấp đôi người khác (twice as good). Vì nếu được như vậy, thì dù người ta có thể không ưa con, nhưng ít nhất họ cũng phải nể trọng con…”

Và đúng theo lời khuyên bảo của bà mẹ như thế, Condoleezza Rice đã hết sức cố gắng trau giồi học tập để trở thanh một phụ nữ chuyên viên với tài năng vượt trội và được mời giữ những chức vụ quan trọng và cao quý nhất trong guồng máy của chánh phủ Liên bang Hoa kỳ vào đầu thế kỷ XXI mới đây thôi. Tên tuổi của Condi Rice đã được tòan thể dân tộc Mỹ và nhiều người khác trên thế giới biết đến và ái mộ.

Sự thành công của Condoleezza Rice có thể được coi như một tấm gương rất tốt đẹp cho lớp người trẻ tuổi là hậu duệ trong các gia đình Việt nam chúng ta hiện di cư tỵ nạn trên đất Mỹ vậy. Quả thật, người Việt chúng ta hiện định cư ở Mỹ cũng là một sắc dân thiểu số (ethnic minority) – nên khó mà tránh khỏi được những chuyện phân biệt kỳ thị thường tình xảy ra trong xã hội ở Mỹ cũng như ở nhiều nơi khác. Vì thế, mà con em chúng ta đều phải cố gắng học tập chuyên cần nghiêm túc – để mà có đủ khả năng chuyên môn hầu vươn lên được trong cái xã hội văn minh vốn đòi hỏi sự tranh đua nhiều khi hết sức gay gắt (extremely tight competition).

Đây cũng là điều mà cha ông chúng ta từ xưa vẫn hay nhắc nhở khuyến khích con cháu trong mỗi gia đình là phải cố gắng để có được tình trạng “Con hơn Cha, Nhà có Phúc”. Và tiền nhân cũng còn luôn khuyên nhủ, đánh giá cao những thành đạt của lớp hậu duệ, cụ thể như câu : “Hậu sinh khả úy”, “Hậu sinh khả ái” v.v… nữa vậy./

Westminster, California Tháng Bảy 2015

Đoàn Thanh Liêm

‘Chân dung quyền lực’ đã chết?

‘Chân dung quyền lực’ đã chết?

‘Chân dung quyền lực’ là trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh.

‘Chân dung quyền lực’ là trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh.

VOA Tiếng Việt

30.07.2015

Trang blog một thời được nhiều người theo dõi, từng đăng tải nhiều bài về các ‘phi vụ làm ăn’ của gia đình Đại tướng Phùng Quang Thanh, đã hoàn toàn im tiếng, trong khi có nhiều đồn đoán về sự can dự của an ninh quân đội Việt Nam.

Những đồn thổi quanh tình trạng sức khỏe của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thời gian qua khiến nhiều người nhớ tới các thông tin cập nhật về lịch trình đi chữa bệnh ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên bí thư Thành ủy Đà Nẵng, hồi đầu năm nay trên “Chân dung quyền lực”, các nhà quan sát ở trong nước cho hay.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam, nói với VOA Việt Ngữ về sự im tiếng này:

“Sự biến mất của trang ‘Chân dung quyền lực’ là một điều tất yếu. Nhưng đây là một sự biến thể, chứ không phải biến mất hoàn toàn trang ‘Chân dung quyền lực’. Một số người kỳ vọng trang này sẽ tung ra các thông tin về tài sản của các quan chức, nhưng trang này cũng là tâm điểm bị chú ý và bị ‘soi’ của giới an ninh, trong đó có an ninh quân đội. Tôi cho rằng người phụ trách trang này có lẽ họ đã thấy đủ nguy hiểm, và đủ mức độ để đóng trang này lại. Có lẽ họ sẽ chuyển sang một trang khác. Vừa rồi cũng có dư luận về sự xuất hiện trên Facebook liên quan tới sức khỏe của Tướng Phùng Quang Thanh. Tôi cho rằng từ đây tới đại hội 12 của Đảng, sẽ có những trang ‘Chân dung quyền lực’ nháy nháy nào đó xuất hiện và xuất hiện liên tục.”

“Một số người kỳ vọng trang ngày [Chân dung quyền lực] sẽ tung ra các thông tin về tài sản của các quan chức, nhưng trang này cũng là tâm điểm bị chú ý và bị ‘soi’ của giới an ninh, trong đó có an ninh quân đội. Tôi cho rằng người phụ trách trang này có lẽ họ đã thấy đủ nguy hiểm, và đủ mức độ để đóng trang này lại…

Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam Nguyễn Chí Dũng.

Tờ Nikkei Asian Review, thuộc sở hữu của một trong những tập đoàn truyền thông lớn nhất của Nhật Bản, từng đăng tải bài viết dài về sự xuất hiện đầy “bí ẩn” của “Chân dung quyền lực”, và nhận định rằng những lời đồn thổi trên mạng có thể gây bất ổn chính trị tại Việt Nam.

Tính từ cuối năm ngoái cho tới nay, theo hệ thống đếm số truy cập, “Chân dung quyền lực” đã thu hút tới gần 26 triệu lượt người truy cập, và có thời điểm, có hàng nghìn người vào đọc trang này cùng một lúc.

Dù trang web này hiện không còn cập nhật, nhưng theo quan sát của phóng viên Việt Ngữ, tối ngày 30/7, vẫn có tới gần 100 người “online” trên đó cùng thời điểm.

Vì sao người dân Việt Nam lại quan tâm tới một trang blog không rõ nguồn gốc với những thông tin giật gân, khó kiểm chứng như vậy? Tiến sỹ Dũng giải thích:

“Thứ nhất là sự tò mò của dân chúng, của xã hội và của dư luận, và thứ hai nữa là dân chúng Việt Nam quen sống trong xã hội thiếu minh bạch thông tin. Vì vậy, bất cứ thông tin nào, dù chưa được kiểm chứng và mơ hồ nhưng nêu ra một số vấn đề của các quan chức thì người dân lập tức đọc. Vừa rồi có những tin đồn, chẳng hạn Tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát. Thậm chí là có những câu chuyện giống như là trinh thám, mô tả cách ám sát Tướng Phùng Quang Thanh. Nghe nói là rất nhiều người dân đọc, và tôi gặp một số người và họ kể lại câu chuyện đó như thật, giống như chính họ sáng tác ra câu chuyện đó vậy.”

Tiến sỹ Dũng nói thêm rằng tình trạng úp mở và thiếu minh bạch thông tin đã dẫn tới việc tin đồn lan rộng, và giúp cho các trang tin đăng tải những thông tin chưa kiểm chứng có “đất” để đua nở.

Vừa rồi có những tin đồn, chẳng hạn Tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát. Thậm chí là có những câu chuyện giống như là trinh thám, mô tả cách ám sát Tướng Phùng Quang Thanh. Nghe nói là rất nhiều người dân đọc, và tôi gặp một số người và họ kể lại câu chuyện đó như thật, giống như chính họ sáng tác ra câu chuyện đó vậy.

Tiến sỹ Nguyễn Chí Dũng nói.

Cũng giống như vụ ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương, đi chữa bệnh ở Mỹ, chính quyền Việt Nam chỉ lên tiếng xác nhận thông tin về bệnh tình của ông Phùng Quang Thanh sau khi các tin đồn về chuyện ông bị ám sát “làm mưa làm gió” trên các trang mạng không chính thống.

Dù chính phủ Việt Nam chưa chính thức lên tiếng bình luận về các thông tin do “Chân dung quyền lực” loan đi, nhưng báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng  đăng tải bài viết trong đó ám chỉ tới trang blog này.

Bài viết trong mục “Bình luận – Phê phán” nói rằng “cứ mỗi khi Việt Nam sắp diễn ra một sự kiện chính trị quan trọng là một số tổ chức, cá nhân lại ráo riết triển khai chiến dịch bịa đặt, vu cáo, tung tin thất thiệt”.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh về Hà Nội hôm 25/7 sau thời gian chữa bệnh ở Pháp. Một bức ảnh chụp ông ở sân bay từ xa vẫn khiến nhiều người đồn thổi đó là “một người đóng thế”.

Chỉ tới khi người đứng đầu quân đội Việt Nam xuất hiện tại một sự kiện có tên gọi ‘Khát vọng đoàn tụ’ được truyền hình trực tiếp, hôm 27/7, cơn bão tin đồn mới lắng lại.