LÀM THINH

LÀM THINH

TIỂU TỬ

Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là ” nhà ông Lê “.

Cách đây mấy năm, ông Lê -người Việt Nam độ 40 tuổi- từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con -vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi- ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng -tên Jean Marie- trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.

Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước v.v… Họ hay nói với nhau: “Vợ chồng ông Lê thật dễ thương”.

Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm. Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài.

Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie -người quản gia- rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.

Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ: “Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy “. Ông Lê giới thiệu: ” Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia”. Sau đó, ông nói: “Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho”.

Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói: “Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm”. Ông Jean Marie hỏi: “Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?”. Ông Lê trả lời như không trả lời: “Mẹ tôi ở Paris”. Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giả người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa ! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con.

Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa long hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc. Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm.

Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già.

Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước -cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản- ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại “biết cách giao du”, thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của Nhà Nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.

Ông thường nói: “Hồi tôi từ Đà Nẳng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hoá Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng, tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẳng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết “.

Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa : “Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !”.

Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói : “Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng”. Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt.

Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975.

Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói :

– Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa !

Ông cười :

– Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, “họ” đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại !

Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu -cũng gốc liên khu năm như ông- đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.

Đâu dè, sau khi cách mạng “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng “bị” mời đi “làm việc” như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của Liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng “lá bùa” đó không linh ! Ông cũng nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để “làm việc”. Mỗi lần làm việc, họ quay ông như con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần “làm việc” cuối cùng, ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa “nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo”. Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc “đổi đời vĩ đại” này, con người đâu còn sống bằng lý trí : con người chỉ sống bằng bản năng thôi !

Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà.

Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói : “Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !”. Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu. Vậy mà bây giờ bây giờ Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một “thứ gì” đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa !

Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.

Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dải nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng.

Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình :

– Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ?

– Họ đâu có đòi. Họ lấy.

– Lấy gì ?

– Lấy hết tài sản của mình.

Giọng bà bỗng cao lên một nấc :

– Lấy hết tài sản ?

Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc :

– Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ?

Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói :

– Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ?

Bà chỉ kêu được một tiếng “Trời !” rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng. Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh :

– Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được.

– Còn luật pháp để đâu ?

– Luật pháp của ai ?

Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói :

– Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ?

Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được để ông nuốt xuống “cái gì đó” đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-long rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng !

Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc :

– Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao.

– Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì.

– Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z toàn là bạn thân của ông không.

Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt :

– Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ?

Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù :

– Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ?

Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết?

Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh :

– Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ?

Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa : ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng !

Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ -có ba dải nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân- và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng?v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông “phải” nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở “chui rút” trong nhà của bếp của bồi. Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng !

Thời gian đi qua. Một hôm bà bỗng nói với ông :

– Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển.

Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng “thần tượng” của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông, ông chỉ là một thứ giây trầu… Đúng là một sự “đổi đời vĩ đại” !

Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó.

Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng : “Cha mày !”. Rồi tiếp : “Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !” Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng tư 1975.

Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng tư, nhứt là ở đoạn “mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần”. Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có “cái gì không ổn”, nhưng ông nghĩ : “Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời”. Rồi ông kể lại những gì mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu “cho tụi nó chết”.

Bổng người con hỏi :

– Còn mấy thằng tướng nguỵ ?

Câu hỏi đó như ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn ! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống ! Tuy nhiên ông vẫn trả lời:

– Mấy người đó thì ba không biết.

– Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun !

Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt ! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp.

Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống “tụi nó” y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu.

Về đến nhà -ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu- ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói :

– Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa.

Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê -giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt- không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư.

Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh.

Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng :

– Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà.

Khi bước qua xa long để uống cà phê, ông Lê hỏi :

– Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ?

Ông Lê Tư châu mày, nhìn bà. Bà trả lời :

– Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi.

Người con ngạc nhiên :

– Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !

Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt : chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi.

Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh :

– Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao ?

– Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày trước giải phóng làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !

Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi.

Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt – thật mệt – và chán chường – thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách “đầy đủ và trung thực” !

Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò. Sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng.

Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói :

– Chị bác sĩ A sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L. Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi.

Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang :

– Ba nói thật : ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao.

Ông nói “xin con cho ba”, đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con.

Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư !

Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời !

Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằng trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này. Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng “cám ơn”, nhẹ như hơi thở.

Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây -đã gần hai tháng- ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi.

Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết ! Ông chỉ thấy toàn là bế tắt. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì : trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờ. Của cải: hết ! Vợ con: hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết !

Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng.

Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn.

Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn : “A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn : ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn”.

Tiểu Tử

KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI

KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI

Xã hội càng văn minh, phụ nữ càng được giải thoát, và ngược lại.  Ðó là thước đo mức tiến bộ nhân loại.  Ngày xưa, ngay trong dân Chúa, số phận phụ nữ cũng không khá hơn các dân khác.  Câu truyện ném đá người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng hôm nay là một điển hình.

Theo Kinh thánh, trong vụ án ngoại tình, cả hai đồng phạm đều phải đưa ra ném đá (Lv 20:10; Ðnl 22:22).  Thế nhưng, những nhà lãnh đạo Do thái đã cố tình coi thường luật này.  Họ chỉ bắt người phụ nữ, mà không tố cáo người đàn ông tòng phạm.  Các người lãnh đạo đã dùng người phụ nữ này như một chiếc bẫy lừa Ðức Giêsu.  Nếu Người không đồng ý ném đá, họ sẽ tố cáo Người vi phạm luật Môsê.  Nếu Người không đồng ý, chưa chắc họ đã nghe theo Người, trái lại có thể họ vịn vào cớ đó để lên án và ném đá cả Chúa lẫn người phụ nữ ngoại tình.  Nếu Người khuyến khích họ xử tử nàng, họ sẽ báo cáo cho quân Rôma biết Người chống lại lệnh cấm người Do thái thi hành án tử hình (Ga 18:31).  Nếu thế, còn đâu hình ảnh nhân hậu của Người trong lòng dân?  Những người lãnh đạo Do thái thâm độc thật!

CHUA VE TREN DAT

Bên ngoài, họ có vẻ là những người tha thiết với Luật Môsê và bảo vệ công lý.  Nhưng thực ra, họ muốn thử thách đức nhân hậu và lòng bác ái của Người.  Làm sao vừa giữ vững công lý vừa duy trì được lòng nhân ái đối với mọi người?  Thật là một bài toán hóc búa.  Vậy mà, Người đã tìm thấy đáp số rất tài tình.  Chỉ cần một câu hỏi gọn nhẹ, nhưng xoáy sâu vô nội tâm, Người đã có thể phá tan hàng rào pháp lý và đám đông dầy đặc đang thét gào chung quanh.  Tất cả lời tố cáo đều im bặt trước câu thách đố: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8:7).  Một tiếng sét xé ngang bầu trời ồn ào hôm đó và đâm thấu tận tim đen đám đông.  Tất cả đã từ từ rút đi sau một giây hồi tâm.  Như thế, Chúa vừa cứu được người phụ nữ ngoại tình, vừa làm cho đám đông, nhất là giới lãnh đạo, trở về với sự thật lòng mình.  Họ lần lượt ra đi như một lời thú tội.  Thế là họ mắc vào bẫy chính mình đã giương lên.  Còn Chúa, Người chẳng cần giương bẫy, nhưng đã bắt được cả hai con chim.
Khi trở thành nạn nhân của những mưu thâm chước độc, con người biến thành phương tiện cho con người.  Người phụ nữ ngoại tình chỉ là một phương tiện được dùng để tố cáo và lên án Ðức Giêsu mà thôi.  Người không bao giờ xử dụng con người làm phương tiện cho mình.  Trái lại, không những lấy con người làm trung tâm cho sứ mệnh của mình, Người còn tự biến mình thành “con đường” (Ga 14:6) cho con người đến với Chúa Cha.  Người đã hy sinh tất cả cho con người.  Con người trở thành mục đích cho toàn thể công trình sáng tạo và cứu độ.  Thật thế, vì là “hình ảnh Thiên Chúa” (St 1:27), con người được Thiên Chúa đặt ở “trung tâm và tột đỉnh mọi loài thụ tạo.” Chúa đã thấy tất cả phẩm giá lớn lao đó nơi người phụ nữ ngoại tình, dù tội nàng có lớn tới đâu.  Trái lại, những nhà lãnh đạo Do thái đã đồng hóa con người với tội lỗi, nên nàng không còn lý do hiện hữu trên cõi đời này nữa.  Tội nhân không còn cơ hội để làm lại cuộc đời.

Trong suốt thời gian căng thẳng giữa rừng người khát máu, Chúa Giêsu luôn bình tĩnh và sáng suốt để tìm đường thoát hiểm cho người phụ nữ nạn nhân và cho chính mình.  Người giúp đỡ cô, nhưng không hề bênh vực cho tội ngoại tình của cô.  Bằng chứng, sau khi “tòa án nhân dân” đã giải tán, Người không quên căn dặn: “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:11).  Còn lời nào cương nghị và đầy nhân ái hơn?

Chính vì thế, tội nhân đã tìm đến với Ðức Giêsu để tìm một cơ hội lớn trở về với Thiên Chúa.  Không còn con đường nào khác!  Không những phẩm giá họ được nhìn nhận, nhưng họ còn được đưa vào mối tương quan với Thiên Chúa.  Vì được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa,” (St 1:27) nên “tự bản chất, con người hiện hữu trong tương quan chủ yếu và sâu xa nhất với Thiên Chúa.”  Như thế, trước sức mạnh tình yêu, tội lỗi không thể hủy diệt bản chất đó của con người.  Tình yêu nối lại mối dây thân tình sâu xa giữa con người với Thiên Chúa.  Tình yêu đó chỉ có thể tìm thấy nơi Con Người Ðức Giêsu trên Thánh Giá.

Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng bằng hành động, Ðức Giêsu đã cứu con người không những thoát khỏi đám đông khát máu, nhưng khỏi bàn tay ác thần hung bạo.  Người giải thoát không những thể xác khỏi cái chết đời này, nhưng cả linh hồn khỏi cái chết đời sau.  Chính vì Người đã chết, toàn thể nhân loại được cứu sống và đi sâu vào tình yêu Chúa Cha.  Cái chết trên thập giá trở thành cần thiết cho sự sống nhân loại.  Khi cứu sống nhân loại, Người không nhìn vào tội ác họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng nhìn vào chính con người với tất cả giá trị cao cả của họ nơi Thiên Chúa.  Chính vì hạnh phúc và phẩm giá con Thiên Chúa của họ, nên Chúa đã chấp nhận tất cả.
Khi thấy nhân loại phạm tội, Người đã không tra cứu sách luật hay Kinh thánh.  Trái lại, Người nhìn sâu vào lòng nhân từ của Chúa Cha và hình ảnh của Cha nơi nạn nhân, để đem lại một chiều kích mới mẻ và toàn triệt cho lề luật.  Con người đã không có được cái nhìn như thế, nên mới dễ bạo động.  Chính Người cũng đã trở thành nạn nhân của đám đông bạo động.

Ðám đông thời ấy và đám đông thời nay có khác nhau không?  Giả sử, đứng giữa “tòa án nhân dân,” Chúa Giêsu cũng đặt vấn đề tương tự như thế, liệu có ai dừng tay và bỏ đi không?  Dầu sao đám đông thời Chúa Giêsu vẫn còn lương tâm và biết nhìn nhận sự thật.  Ðám đông ngày xưa vẫn can đảm hơn đám đông ngày nay.  Còn ngày nay, biết bao người đã chết oan vì lương tâm không còn hoạt động nơi đám đông.  Chẳng hạn, biết bao nạn nhân vô tội đã gục ngã trong những vụ cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc Việt.  Sự thật thuộc về đám đông chuyên môn “lấy thịt đè người.”  Dù biết mình sai, họ vẫn không có can đảm nhìn nhận sự thật và không dám rút lui vì sợ bẽ mặt.  Trái lại, họ còn dựa vào sức mạnh vũ khí, nhà tù, quyền lực để áp đảo tiếng nói lương tâm và chà đạp sự thật.
Cuộc đấu tố ngày xưa ở Bắc Việt và những cuộc bắt bớ các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước hiện nay có khác việc lên án phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng hôm nay không?  Có khác chăng là phụ nữ ngoại tình có tội thật, còn những người bị đấu tố và các nhà đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước có tội gì?  Phải chăng hành động theo tiếng lương tâm là một thứ tội?
Ai dám bênh vực họ đây?  Ngày xưa, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ bênh vực và tìm cách giải thoát phụ nữ ngoại tình, mặc dù biết nàng là người có tội.  Hôm nay, Nhiệm Thể hay Hiền Thê của Người là Giáo Hội không đủ can đảm bênh vực cả những người vô tội hay sao?  Phật Giáo Thống Nhất có những vị lãnh đạo cao cấp như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ dám hy sinh cả đời để tranh đấu cho tự do tôn giáo.  Còn Giáo Hội Công Giáo Việt nam, Hàng Giáo Phẩm đang ở đâu?
Lạy Chúa, từ trước tới nay, con đã làm gì khi anh em xúc phạm đến con?  Con luôn muốn công lý phải được thi hành.  Lúc nào con cũng có đủ lý do biện hộ cho việc phục thù của con.  Chắc chắn hôm nay Tin Mừng đòi hỏi con phải cúi xuống tĩnh niệm, trước khi đụng đến tha nhân.   Xin cho con luôn sẵn sàng dành cho anh em một cơ hội.   Xin hãy mở trái tim con ra để mọi người thấy tình yêu Chúa đang sôi sục trong con.  Amen!

 Đỗ Lực

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

FB Trương Nhân Tuấn

9-3-2016

Đến bây giờ, khi nước mặn xâm nhập ngược dòng sông Cửu Long, vào đất liền, nhiều nơi hàng trăm cây số, thì ông X mới bắt đầu gởi “công hàm” yêu cầu các nước ở thượng nguồn xả nước ở những con đập thủy điện nhằm cứu vãn tình trạng.

Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng vì đời sống hàng chục triệu người dân miền Nam bị đe dọa, cũng như nền kinh tế của đất nước có thể bị sụp đổ.

Hành động của nhà nước CSVN đúng là chuyện chờ nước đến chân mới nhảy. Trong khi nhiều người VN đã cảnh báo tình trạng “sông Cửu Long cạn dòng”, vì hậu quả việc xây đập bừa bãi của các quốc gia trên thượng nguồn.

Cá nhân tôi, từ khoảng 15 năm trước, đã có bài viết cảnh báo. VN không thể ngăn chận các quốc gia xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vì vậy VN bằng mọi cách phải “kiểm soát” nguồn nước này, điển hình là đầu tư xây dựng những con đập ở Lào.

Rốt cục VN đã không thực hiện việc này. Các con đập ở Lào đều do Thái Lan và TQ đầu tư (và làm chủ).

VN đã để vận mạng của đất nước mình cho người ngoài nắm giữ.

Vấn đề là tầm nhìn của lãnh đạo.

Ông X gởi công hàm yêu cầu, điều chắc chắn là các quốc gia này sẽ không đáp ứng. VN không có cách gì, ngoài cách sử dụng chiến tranh để giải quyết. Nhiều nhà tương lai học quốc tế dự đoán, chiến tranh thế kỷ 21 bắt nguồn từ việc tranh chấp các nguồn nước.

VN không có khả năng dùng chiến tranh như là một biện pháp răn đe hữu hiệu.

Tình hình sẽ tệ hại hơn, nếu các quốc gia thượng nguồn dẫn nước sông Cửu Long vào một hệ thống dẫn thủy khác. Lúc đó sông này sẽ cạn. Lúc đó VN cũng không làm gì được.

Hệ quả của việc sông Cửu Long cạn dòng là ruộng vườn ở nhiều tỉnh miền Nam sẽ bị nhiễm mặn. Cái tên gọi là “miệt vườn” ở miền Nam sẽ xóa sổ. Bởi vì khi đất vườn bị nước biển xâm thực, đất này sẽ trở nên vô dụng, không còn trồng trọt được thứ gì. Ruộng nương cũng vậy, khi muối đã thấm nhập vào đất thì ruộng đó cũng bỏ không. Muốn “cải tạo” lại, hàng chục năm sau chưa chắc đã khắc phục.

Nhiều biện pháp đã đề nghị, như đào hồ chứa nước mưa. Vấn đề là các hồ nước này có thể thỏa mãn việc tiêu tưới, nhưng không thể ngăn nước biển chảy ngược vào sông Cửu Long.

Trong khi VN, với trình độ kỹ thuật hiện tại, không thể xây dựng những hệ thống đê, đập trị thủy như ở Hòa Lan.

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong. Về giáo dục, họ đào tạo ra những con người không có giá trị (kinh tế). Về kinh tế họ đã đưa VN xuống hàng chót ASEAN. Về xã hội, họ hứa hẹn thiên đàng nhưng họ xây dựng một đia ngục. Về việc bảo vệ lãnh thổ, họ đã dâng hiến Biển Đông cho TQ…

Về chính trị, những ngươi cộng sản miền Bắc đã sử dụng đảng để loại dân miền Nam ra khỏi cuộc chơi. Theo tập quáng, bí thư tỉnh ủy (hay thành ủy) đều là người địa phương. Bây giờ ông Trọng (và đồng bọn) chỉ sử dụng người miền Bắc, như trường hợp Đinh La Thăng, người Bắc lên nắm Sài Gòn. Sắp tới, ông Trọng (và đồng bọn) sẽ phất ngọn cờ chống tham nhũng để triệt hạ và loại trừ dân miền Nam ra khỏi các vị trí lãnh đạo.

Miền Nam ngập mặn, đe dọa đã hiện hữu từ nhiều thập niên, nhưng ngân sách dành cho miền Nam (nhằm đối phó việc nhiễm mặn) là con số không to tướng. Miền Nam kho gạo thế giới, kho dầu khu vực, kho dự trữ cá mắm… quan trọng… GDP đóng góp thì nhiều, mà ngân sách đầu tư môi trường, giáo dục, hạ tầng cơ sở… thì không có bao nhiêu…

Sắp tới, con số nhỏ nhoi “không có bao nhiêu” cũng không còn. Dân miền Bắc do ông Trọng thống lĩnh chính trị, sẽ thâu tóm tất cả.

Tương lai của dân miền Nam có nên để cho miền Nam tự quyết ? Câu hỏi trở thành cấp thiết đặt ra, nếu chủ trương “thống lĩnh” của chính trị “người Bắc kỳ biết lý luận” tiếp tục áp dụng.

TÔI ĐÃ RA KHỎI TRỤ SỞ CÔNG AN

TÔI ĐÃ RA KHỎI TRỤ SỞ CÔNG AN

Đôi lời: “Xin lỗi cộng đồng vì hôm nay tôi đã nói dối!” Tại sao LS Võ An Đôn phải nói dối? Nếu tôi (Ngọc Thu) là ông thì tôi sẽ nói thật, rằng tài khoản Facebook Đôn An Võ là của tôi, rằng những gì tôi viết trên Facebook không vi phạm bất cứ điều luật nào, rằng đó là quyền tự do ngôn luận của người dân, đã được ghi nhận tại điều 25, hiến pháp mới, năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Những bài viết trên Facebook của tôi không vi phạm pháp luật vì nó nói lên sự thật. Còn nếu có thông tin nào trong những bài viết kia là sai thì hãy cho tôi biết, tôi sẽ đính chính hoặc nghiêm trọng hơn, có thể căn cứ vào luật pháp để xử lý.

Thiết nghĩ, là luật sư, ông Võ An Đôn cần sử dụng luật pháp để biện hộ cho mình, thay vì dùng “thủ thuật” nói dối. Ông cần phải chỉ ra những kẻ vi phạm pháp luật chính là những viên công an kia. Những kẻ vi phạm pháp luật chính là những người đang thực thi luật pháp (law enforcement), không phải ông Võ An Đôn. Còn nếu ông không thể sử dụng luật pháp biện hộ cho chính mình, thì khó có thể tin rằng ông có thể sử dụng luật pháp để biện hộ cho các thân chủ của ông, là những người dân thấp cổ bé họng!

Không nên từ bỏ quyền tự do ngôn luận, cụ thể trong trường hợp này là quyền được viết trên Facebook! Vì cái quyền đó đã được quy định trong hiến pháp và người dân không phải xin phép ai để sử dụng chính cái quyền mà mình có.

____

FB LS Võ An Đôn

7-3-2016

LS Võ An Đôn. Ảnh trên FB cá nhân của tác giả.

Tôi đến trụ sở Công an tỉnh Phú Yên đúng 08 giờ sáng, mới bước vào Phòng an ninh Chính trị nội bộ, tôi đã nhìn thấy 03 cán bộ điều tra an ninh ngồi chờ, cùng với máy camera đặt sẵn quay về phía ghế tôi ngồi.

Sau khi mời tôi ngồi, các anh an ninh điều tra làm việc ngay. Họ hỏi tài khoản Facebook Đôn An Võ có phải của tôi không ? tôi trả lời là không phải. Họ hỏi hiện nay tôi có sử dụng tài khoản Facebook nào không ? tôi trả lời cách đây khoảng một năm tôi có lập một tài khoản Facebook mang tên Luật sư Võ An Đôn, dùng được chừng một tháng thì bị cướp mất mật khẩu. Họ hỏi tiếp còn những hình ảnh, bài viết, lịch trình công việc nếu không phải của tôi thì của ai ? tôi trả lời Facebook là trang mạng ảo, nhiều người có thể làm giả tên tôi. Họ hỏi tiếp Facebook Đôn An Võ mạo danh tôi đăng nhiều nội dung ảnh hưởng đến uy tín tôi, có cần nhờ Công an điều tra ra người sử dụng không? Tôi trả lời là không cần, vì các bài viết không ảnh hưởng đến tôi và bất kỳ ai.

Sau khi hỏi tôi xong, các anh an ninh điều tra cho in toàn bộ các bài viết đăng trên Facebook Đôn An Võ ra đưa cho tôi ký xác nhận với nội dung là Facebook Đôn An Võ và các bài viết không phải của tôi. Đến 10 giờ 30 phút thì kết thúc buổi làm việc, tôi ra về.

Công an tỉnh Phú Yên mời tôi làm việc liên quan đến Facebook của tôi đã vi phạm pháp luật trắng trợn, cụ thể là quyền tự do ngôn luận và tự do bày tỏ quan điểm của mỗi công dân đã được Hiến pháp và pháp luật qui định, cũng như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 mà Việt Nam đã ký kết. Hơn nữa, việc này còn nhằm mục đích giằng mặt vì tôi nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 này.

Tôi là người trung thực không biết nói dối, hôm nay là lần đầu tiên trong đời tôi nói dối, không phải tôi hèn nhát không dám nhận Facebook Đôn An Võ là của mình, mà chính là tôi muốn tiếp tục được làm luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội. Nếu hôm nay tôi thừa nhận Facebook Đôn An Võ là của tôi, thì họ sẽ tìm cách tước Thẻ luật sư của tôi và vĩnh viễn tôi không bao giờ giúp được người dân.

Xin lỗi cộng đồng vì hôm nay tôi đã nói dối !

Ông Trọng chỉ thị cấm cửa các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội

Ông Trọng chỉ thị cấm cửa các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

VOA Tiếng Việt

09.03.2016

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong các ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam sắp tới, nói phát biểu ‘Không để lọt các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội’ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một sự tùy tiện và lạm quyền hết sức nghiêm trọng.

Tiếp xúc với cử tri ở Hà Nội trước kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 13, hôm 8/3, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng được báo chí trong nước trích lời nói: “Không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, nhà nước những phần tử thế này thế khác”.

Phát biểu của người đứng đầu đảng Cộng sản lập tức gặp nhiều chỉ trích và phản ứng trên các diễn đàn mạng xã hội.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động dân sự, cũng là một ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội khóa tới, cho rằng phát biểu của ông Trọng là tùy tiện và lạm quyền nghiêm trọng. Ông nói:

“Tôi nghĩ ông Nguyễn Phú Trọng đã có một phát biểu và chỉ thị cho bộ máy của Đảng Cộng sản Việt Nam làm những việc mà tôi nghĩ là vô cùng tùy tiện. Thế nào là ‘thế này thế kia’? Với chỉ thị của một người đứng đầu đảng như thế thì các đảng viên, có thể tuân theo hoặc có khi buộc phải tuân theo, có thể tùy ý lý giải ‘thế này thế kia’. ‘Thế này thế kia’ là một khái niệm như thế nào? Cho nên tôi nghĩ đây là một sự lạm quyền hết sức nghiêm trọng của ông Nguyễn Phú Trọng và ông ấy coi thường pháp luật. Bởi vì những cái đấy là nó phải theo một tiêu chuẩn nhất định, không thể đưa ra một khái niệm rất tù mù rằng ‘thế này thế nọ’ hay ‘thế này thế kia’. Đây là não trạng của những người mà người ta nghĩ rằng người ta đứng trên hết thiên hạ và không coi pháp luật ra gì thì mới có thể phát biểu một cách rất tùy tiện như vậy.”

Tờ New America Media hôm 7/3 đăng bài viết của nhà báo Đoan Trang nói về những khó khăn, trở ngại mà các ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội tại Việt Nam đang gặp phải, từ các thủ tục đăng ký, hành chính, cho đến việc bị tấn công bởi truyền thông.

‘Thế này thế kia’ là một khái niệm như thế nào? Cho nên tôi nghĩ đây là một sự lạm quyền hết sức nghiêm trọng của ông Nguyễn Phú Trọng và ông ấy coi thường pháp luật. Bởi vì những cái đấy là nó phải theo một tiêu chuẩn nhất định, không thể đưa ra một khái niệm rất tù mù rằng ‘thế này thế nọ’ hay ‘thế này thế kia’. Đây là não trạng của những người mà người ta nghĩ rằng người ta đứng trên hết thiên hạ và không coi pháp luật ra gì thì mới có thể phát biểu một cách rất tùy tiện như vậy.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói.”

Ứng cử viên Nguyễn Quang A nói những khó khăn về thủ tục đăng ký, khai lý lịch là những trở ngại chung mà bất kể ai cũng sẽ gặp phải. Riêng các ứng viên tự ứng cử, họ gặp một số ‘bất lợi’ trong hồ sơ lý lịch khi cơ quan chính quyền tự ‘ghi thêm’ những chi tiết không được yêu cầu trong hồ sơ.

“Họ chỉ xác minh người đó đúng là người đó rồi ký vào, chứ không phải ghi thêm điều này điều kia, nhất là những nhận xét, đánh giá mà thường là nhận xét, đánh giá của bên an ninh người ta đưa vào về thái độ chính trị… mà mẫu làm sơ yếu lý lịch thường không bao giờ yêu cầu như thế cả. Trường hợp đó không xảy ra với tôi mà với một số người khác, chẳng hạn như trường hợp đi biểu tình, rồi người ta kêu là gây rối mất trật tự, phạt hành chính gì gì đấy… chuyện đấy là 4, 5 năm trước cơ, mà trong yêu cầu là chỉ có 1 năm trở lại đây, thì họ cũng cứ ghi vào và ghi thêm những cái khác nữa.”

Ứng viên tự ứng cử Nguyễn Quang A cho rằng việc ‘ghi thêm’ không đúng yêu cầu như vậy sẽ ‘gây khó’ cho các ứng cử viên.

Gần đây, một bài viết mang tựa đề “Quốc hội không phải là phường chèo” của báo Petrotimes đã bị Luật sư Lê Văn Luân, một trong những nhân vật được bài viết đề cập tới, viết đơn khiếu nại gửi đến tòa soạn và đòi kiện vì nội dung ‘quy chụp, vu khống và bịa đặt’.

Riêng bản thân TS. Nguyễn Quang A, còn xuất hiện hẳn một video trong đó phỏng vấn một số người được cho là cư dân cùng khu phố với ông Nguyễn Quang A. Trong 5 người được phỏng vấn, có 3 người là lãnh đạo ở tổ dân phố nơi ông Nguyễn Quang A cư ngụ, 1 phụ nữ tên Hoan và 1 thanh niên.

“Có một người thứ 5 là một anh thanh niên đeo khuyên tai. Người ấy nói rằng anh ta ở tổ dân phố số 13 là nơi tôi đang ở. Nhưng tôi hỏi chính ông tổ trưởng tổ dân phố và ông trưởng ban công tác mặt trận thì họ nói ở trong tổ dân phố này không có một người nào như thế cả.”

Cũng trong cuộc tiếp xúc các cử tri ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng còn được Báo Xây Dựng trích lời dặn dò “phải xử lý chất lượng và cơ cấu đại biểu Quốc hội tinh thần như các cử tri nói là cố gắng làm như tiến hành Đại hội 12 của đảng thật sự dân chủ, công tâm, khách quan, kỹ lưỡng.

Những người đi bầu cử cũng phải lựa chọn, công tâm, kỹ càng, xứng đáng với các tiêu chuẩn chọn những đại biểu xứng đáng với nhân dân”.

Dự kiến, cuộc bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa 14 sẽ diễn ra vào ngày 22/5 tới.

Luật hóa mạng xã hội: Thừa nhận báo chí tư nhân?

Luật hóa mạng xã hội: Thừa nhận báo chí tư nhân?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-03-03

000_8E2CT-620

Biểu tượng khổng lồ được tạo ra với hình ảnh của người dùng Facebook trên toàn thế giới đặt tại Trung tâm dữ liệu Thụy Điển hôm 7/11/2013.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Bất đồng quan điểm với Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam hôm 2/3/2016 xin ý kiến các đại biểu để đưa các trang thông tin điện tử tổng hợp và thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội vào Dự thảo Luật báo chí. Đây là vấn đề từng gây nhiều tranh cãi vì luật hóa các loại hình thông tin vừa nêu là bước vào ranh giới mỏng manh của sự thừa nhận báo chí tư nhân.

Dự luật Báo chí đã được Chính phủ chuyển qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, theo nghị trình thì vào kỳ họp thứ 11 từ ngày 21/3/2016 sắp tới Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua. Tuy vậy Dự luật này được cho là có quá nhiều thiếu sót, mặc dù đây là lần soạn thảo thứ 19. Ngay sau đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu ý kiến, chỉnh lý Dự thảo Luật báo chí theo hướng tôn trọng quyền cơ bản của công dân và theo tinh thần Hiến pháp 2013 việc hạn chế quyền công dân phải được qui định bằng Luật chứ không phải theo Nghị định.

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ ngày 18/2 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phê phán việc Dự luật Báo chí không có nội dung nào liên quan tới các trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Theo báo mạng VnEconomy, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khi đó đã  nói rằng, Hiến pháp qui định quyền dân chủ trong đó có quyền tự do ngôn luận của nhân dân và không thể quan niệm truyền thông xã hội không phải là báo chí. Bộ trưởng Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son lúc ấy đã lập đi lập lại chỉ thị của Bộ Chính trị, là Việt Nam không thừa nhận báo chí tư nhân, do vậy Luật Báo chí chỉ quản lý các loại hình báo chí còn các loại hình khác thì theo Nghị định 72. Ông Son nhấn mạnh, nếu đưa trang thông tin điện tử vào Luật Báo chí thì vô hình chung thừa nhận truyền thông xã hội là báo chí.

Phải thừa nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai vế của một vấn đề. Thực ra khái niệm báo chí thời mới đã khác xa thời cũ.
– Luật sư Trần Vũ Hải

Trả lời chúng tôi vào tối 2/3/2016, Luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội nói rằng cần rõ về hơn Dự luật Báo chí và các nội dung chỉnh lý thì mới có thể bình luận sâu. Tuy vậy ông phát biểu:

“Phải thừa nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai vế của một vấn đề. Thực ra khái niệm báo chí thời mới đã khác xa thời cũ. Báo chí thời cũ thường là báo giấy, báo in, báo hình, báo tiếng. Nhưng hiện nay báo trên mạng xã hội, mỗi một cá nhân có thể tạo được một tờ báo cho chính mình. Cho nên họ lo ngại gì bên trong thì tôi chưa rõ được, nhưng thực sự họ phải thừa nhận là có báo chí tư nhân nhân. Nếu mà mạng xã hội được đưa vào luật thì thừa nhận báo chí tư nhân và báo chí tư nhân cần phải được thể hiện không chỉ qua báo mạng xã hội mà còn ở những lĩnh vực khác.”

Khi chỉnh lý Dự Thảo Luật báo chí do Chính phủ trình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thể hiện quan niệm khá cởi mở. Theo đó, bên cạnh sản phẩm thông tin do cơ quan báo chí thực hiện, còn có nhiều sản phẩm thông tin có tính chất báo chí do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện như đặc san, bản tin, trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội.

Theo báo mạng VnEconomy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan niệm những hình thức thông tin vừa nêu hiện đang được sử dụng phổ biến, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân và là kênh quan trọng để người dân thể hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mình.

Nhận định về việc Bộ trưởng Thông tin Truyền Thông Nguyễn Bắc Son nhất mực dẫn chỉ thị Bộ Chính trị là Việt Nam không thừa nhận báo tư nhân và vì thế không đưa các loại hình truyền thông mạng xã hội vào Luật Báo chí, Nhà báo tự do Phạm Thành từ Hà Nội phát biểu:

Hiện nay báo chí tư nhân mặc dù nhà nước không cho thành lập, nhưng báo chí tư nhân tràn ngập. …trên thực tế bây giờ mấy triệu facebook, hàng chục trang blog cá nhân, nhà nước muốn dẹp cũng không dẹp được…
– Nhà báo tự do Phạm Thành

“Hiện nay báo chí tư nhân mặc dù nhà nước không cho thành lập, nhưng báo chí tư nhân tràn ngập. Thí dụ mỗi một ông chủ facebook, một chủ blog là một tờ báo tư nhân. Trên thực tế những tờ báo đó vẫn hoạt động công khai, cũng tác động dư luận hướng dẫn dư luận, cũng làm vai trò thực như báo chí như của bên lề phải quản lý. Thế thì ông Bắc Son không nhìn thấy thực tế đó mà ông ấy cứ tưởng rằng chỉ có báo chí nhà nước mới làm chức năng thông tin, hướng dẫn dư luận, tổ chức quần chúng…trên thực tế bây giờ mấy triệu facebook, hàng chục trang blog cá nhân, nhà nước muốn dẹp cũng không dẹp được…”

Trong báo cáo chỉnh lý Dự luật Báo chí, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng ràng buộc truyền thông xã hội theo Luật Báo chí và các qui định khác của pháp luật có liên quan của Việt Nam. Theo đó, các trang thông tin điện tử tổng hợp phải trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí, ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan báo chí, thời gian đã đăng, phát thông tin đó. Ngoài ra người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam khi đăng thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội do các tổ chức, các doanh nghiệp nước ngoài hay các cá nhân nước ngoài cung cấp, phải tuân thủ các qui định của Luật Báo chí và các qui định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam…

Nếu như Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành công trong việc chỉnh lý Dự luật Báo chí, thêm vào các nội dung liên quan đến truyền thông xã hội, để cuối cùng được Quốc hội khóa 13 thông qua và thành luật, thì đây sẽ là cải cách lớn lao trong công tác lập pháp ở Việt Nam.

Lần đầu tại Việt Nam: Hai bé sinh đôi có 2 bố khác nhau

Lần đầu tại Việt Nam: Hai bé sinh đôi có 2 bố khác nhau

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Giám đốc Trung Tâm Kỹ Thuật và Phân Tích Gen ở Hà Nội, ông Lê Ðình Lương, xác nhận rằng hai trẻ sinh đôi vừa được nghiên cứu là từ hai ông bố khác nhau.

Hai em nhỏ này được gia đình đưa đến trung tâm và thử nghiệm DNA cho biết kết quả như vậy. Theo lời ông Lương, không có sự lầm lẫn của bệnh viện khi giao hai đứa bé sơ sinh, thử nghiệm xác định là chúng có cùng mẹ nhưng khác cha.


Các em nhỏ mới sinh và mẹ tại một bệnh viện phụ sản ở Hà Nội. (Hình minh họa: Getty Images)

Ông từ chối không cho biết thêm chi tiết gì hơn vì tôn trọng thỏa thuận với gia đình về việc bảo vệ tính cách riêng tư.

Tuy nhiên Thông Tấn Xã Việt Nam tiết lộ gia đình này ở tỉnh Hòa Bình và hai đứa trẻ hiện được 2 tuổi. Ðiều khiến gia đình chúng ngạc nhiên là hai đứa bé sinh đôi nhưng hoàn toàn khác hẳn nhau, không có nét gì giống nhau như thông thường. Một đứa mập và tóc quăn, đứa kia gầy và tóc thẳng.

Ðây không phải là trường hợp đầu tiên được biết trên thế giới. Năm ngoái tại New Jersey đã có một vụ rắc rối như vậy được đưa ra tòa án để giải quyết vấn đề trách nhiệm cấp dưỡng. Thẩm Phán Sohai Mohammed phán quyết rằng đương sự được biết với tên là “A.S.” không phải chi tiền cấp dưỡng cho cả hai đưa bé, chỉ trả $28 một tuần về phần đứa bé qua thử nghiệm DNA được xác định là con của đương sự.

Nghiên cứu của Bác Sĩ Karl-Hanz Wurzinger, chuyên gia DNA, ước lượng rằng trong 13,000 trường hợp sinh đôi có 1 là do từ hai người cha. Tuy nhiên hầu hết những trường hợp như vậy không được biết hoặc không được công bố, và vụ việc New Jersey năm ngoái là trường hợp thứ ba được biết trên thế giới.

Một nghiên cứu khác nói rằng trong 400 cặp trẻ song sinh có thể một cặp có hai người cha khác nhau. Nguyên nhân đơn giản là hai trứng của người mẹ đã thụ tinh từ hai người đàn ông. Nhiều động vật, chẳng hạn như chó có thể rụng nhiều trứng nhưng với con người, thường chỉ có một trứng mạnh khỏe mỗi chu kỳ rụng trứng. Nếu có hai trứng mạnh và cùng thụ tinh cùng một lúc thì đưa đến sinh đôi như bình thường. Nhưng trứng rụng có thời gian sống tới 5 ngày, và do đó hiếm thấy hơn nhiều, là mỗi trứng có đủ thời gian để chờ đợi chấp thuận một người cha khác. (HC)

Ông Nén kháng nghị ‘đòi sự công bằng’

Ông Nén kháng nghị ‘đòi sự công bằng’

Facebook Tran Van Dat

Việc điều tra những người gây oan sai cho ông Huỳnh Văn Nén chưa có kết quả

“Người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén hôm 8/3 vừa gửi đơn lên Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đề nghị giám đốc thẩm tội hủy hoại tài sản trong bản án đối với ông.

Người sát cánh bên ông nhiều năm nay, ông Nguyễn Thận, nói quyết định kháng nghị của ông Nén là để ‘đòi lại sự công bằng’.

Đây là một phần bản án đã tuyên cho ông Nén hồi năm 2000. Theo bản án đó ông bị mức chung thân cho tội giết người (bà Lê Thị Bông), 3 năm tù tội cướp tài sản của công dân và 2 năm tù tội hủy hoại tài sản công dân. Tổng hợp hình phạt là mức án chung thân.

Trước đó ông cũng bị kết án oan trong một vụ giết người xảy ra năm 1993.

Hôm 3/12/2015, cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận đã công khai xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén, ‘người tù thế kỷ’ bị buộc tội, giam oan hơn 17 năm trong hai vụ án giết người.

Hôm 9/3, trao đổi với BBC qua điện thoại từ TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thận, cựu chủ tịch xã Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận, cho hay: “Thực chất của việc kháng nghị đến Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lần này của ông Nén là muốn đòi lại sự công bằng”.

“Thực tế thì hai năm tù tội hủy hoại tài sản công dân thì ông ấy đã thụ án trong số 17 năm tù rồi. Tôi cho là ông ấy muốn làm rõ rằng mình không phạm phải các tội, giết người, cướp tài sản và hủy hoại tài sản công dân như Tòa Bình Thuận đã tuyên”, ông Thận nói thêm.

Cựu chủ tịch xã cũng cho hay: “Cuộc sống của ông Nén đang dần trở lại bình thường. Các luật sư vẫn đang trợ giúp ông ấy về thủ tục để nhận tiền bồi thường nhưng vẫn chưa rõ thời điểm”.

Ông Thận cũng xác nhận đến thời điểm này, những người gây oan sai trong hai vụ án giết người như điều tra viên Cao Văn Hùng không hề liên lạc với ông Nén để gửi lời xin lỗi.

‘Điều chắc chắn phải làm’

Trước đó, báo trong nước đưa tin trong cuộc gặp với Cục Điều tra Hình sự, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao hôm 3/3, ông Nén “giữ nguyên quan điểm đề nghị xử lý 14 cán bộ công an, Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát tỉnh Bình Thuận thiếu trách nhiệm gây oan sai cho ông cũng như cho người nhà của ông.

Hôm 4/3, luật sư Trần Vũ Hải nói với BBC rằng việc điều tra vụ làm oan Huỳnh Văn Nén “diễn ra hơi chậm, do vướng thời điểm Tết Bính Thân”.

“Việc điều tra, làm rõ tội danh của những người gây oan sai cho ông Nén và người nhà là điều chắc chắn phải làm. Bộ Tư pháp cũng thông báo với tôi là họ đang làm rõ lý lịch ông Cao Văn Hùng có thích hợp để tiếp tục hành nghề luật sư hay không”, luật sư nói.

Ông Hải nhấn mạnh: “Trong số 14 người mà ông Nén tố cáo, ông Hùng cùng với ông Đinh Kỳ Đáp, cựu Phó thủ trưởng Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Thuận là hai người đáng bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước nhất, vì họ xử lý cả hai vụ án này”.

Luật sư cũng cho biết thêm là ông Huỳnh Văn Nén đang chữa bệnh và sửa sang nhà cửa, rất cần khoản tiền bồi thường nhưng “việc này muốn nhanh cũng khó, vì những tranh cãi quanh mức bồi thường. Ngay vụ người tù oan Nguyễn Thanh Chấn cũng phải đợi hai năm mới nhận được tiền bồi thường”.

Suy ngẫm về lá thư của một bạn sinh viên quê Sầm Sơn trên Facebook

 Suy ngẫm về lá thư của một bạn sinh viên quê Sầm Sơn trên Facebook

Bauxite Việt Nam

Giải đất hình chữ S nằm về một góc Đông Nam châu Á này bao gồm núi sông, trời biển, rừng suối, gò đồi, đồng ruộng, đầm lầy… tất tật đều là tài sản chung của cả cộng đồng dân lộc Việt từ thuở khai thiên lập địa đến nay. Cả một dân tộc đã chung lưng đấu cật cùng nhau, ngày này qua tháng khác đổ không biết bao nhiêu máu, mồ hôi, góp tay xây dựng, gìn giữ, mở mang suốt mấy nghìn năm mới tạo nên được. Vì thế, ngay dưới thời phong kiến, tuy vua chúa có quyền ban cấp đất đai cho quan lại bề tôi có công nhưng mỗi khi làm việc động chạm đến quyền lợi tối thiêng liêng của dân, triều đại nào cũng nhìn vào lòng dân mà cân nhắc rất kỹ lưỡng. Có loại đất phong cấp trên giấy tờ hàng nghìn mẫu mà không hề có trên thực địa và có loại đất gọi là thực phong, thực cấp thì chỉ giới hạn ở một diện tích rất nhỏ, nhiều lắm là một làng. Và Triều đình cũng chỉ ban phong để các công thần hàng năm thu thêm một khoản ngoài thuế của nhà nước, chứ không phải tự tiện muốn chiếm lấy đất của hộ dân nào thì chiếm, hoặc tự tiện giao đất của gia đình này cho gia đình kia làm cho dân chúng nhiều người trắng tay, lâm vào tình cảnh lầm than đói khát. Nếu cả một vùng không còn yên sống, đi ngược với chính sách yên dân thì sẽ mắc tội lớn với Triều đình. Nghĩa là dù vai trò của ông vua trong chế độ phong kiến được coi là là tối thượng (Thiên tử con trời) thì vẫn không vua chúa nào dám liều lĩnh làm càn đến mức trắng trợn cướp đất của dân.

Dưới thời Pháp đô hộ cũng vậy. Tuy là kẻ xâm lược đến chiếm nước ta, các nhà tư bản Pháp muốn mở đồn điền đều phải có đơn xin Nhà nước Bảo hộ cho phép mình trưng khẩn. Mà trưng khẩn ở đây là khai khẩn đất hoang vô chủ, phần lớn là đất cao nguyên, đồi núi, để biến thành đất trồng trọt, sau một số năm sẽ đóng thuế cho Nhà nước theo luật định. Còn đất đai của dân chúng đang sinh sống và nhiều đời truyền nối cho nhau làm phương tiện sinh sống, nhằm bảo tồn sự sống của gia đình, họ mạc, làng xóm mình, thì ngoại trừ một vài trường hợp hãn hữu, những nhà tư bản Pháp đâu có dại nhảy vào tranh cướp. Ngay pháp luật của chế độ thực dân cũng không cho phép họ cái quyền phi lý kia.

Chỉ có dưới chế độ XHCN Việt Nam ngày nay mới nảy sinh ra một thứ luật, đúng hơn là một thứ quyền, rất lạ: quan chức nhà nước đứng đầu cả nước hay đứng đầu một vùng, mỗi khi nhìn thấy một mảnh đất, một bãi biển, một ngọn núi hay một đầm hồ nào đấy có vẻ ngon mắt, có khả năng sinh lời khi chuyển đổi mục đích kinh doanh, thì họ liền ngỏ lời với “đối tác” – có thể là các doanh nghiệp, nhóm lợi ích, thậm chí là đối tác nước ngoài – và nếu được đối tác tán đồng mua với giá cao để biến thành đất thổ cư, làm khu vui chơi giải trí, làng sinh thái hoặc khu chung cư…, là y như các vị quan lớn nhà ta tự cho mình cái quyền cắm cây cọc gọi là “quy hoạch” vào đấy rồi định một giá rẻ mạt bắt dân phải bán, cũng định ra một thời hạn để xuống lệnh đuổi dân đi. Nếu dân không chịu bán, không chịu đi thì lập tức cho đội quân chức năng – trong đó có cả tầng lớp lưu manh đầu gấu do chính quyền trực tiếp chiêu mộ – đến cưỡng chế bằng đủ mọi cách; cách thường dùng nhất là trấn áp, phá tan nhà cửa ruộng vườn trồng trọt của dân. Rất nhiều người dân tay lấm chân bùn đang yên đang lành bỗng nhiên một sớm tỉnh dậy thấy mình mất đi tất cả. Mất trắng. Họ trở thành dân oan, phải kéo nhau đội đơn đi kêu cứu hết nơi này nơi nọ suốt năm này tháng khác. Có người quá bức xúc kéo đến trụ sở chính quyền phản đối thì bị kẻ cầm luật trong tay “khởi tố”, như trường hợp người dân Sầm Sơn mất bãi biển hành nghề ngư nghiệp cha truyền con nối hàng nghìn năm, rộ lên từ hơn một tuần nay. Tình cảnh của họ đúng là tình cảnh lớp người tha hóa, nhưng tha hóa không phải do quy luật đào thải tự nhiên – mà do chính kẻ cầm cân nẩy mực đẩy họ đến bước đường cùng.

Mà đâu phải chỉ có nông thôn. Một thành phố như Hà Nội, có bao nhiêu chợ cổ truyền như chợ Hôm, chợ Hàng Da, chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Cửa Nam… cho đến hết thời Pháp vẫn để dân yên ổn buôn bán làm ăn, bởi họ biết người Việt vốn còn rất nghèo, tầng lớp tiểu thương đông đảo thường chỉ có một gánh hàng cỏn con ngày ngày tất tả mua từ ngoại ô đem vào phố bán, các loại chợ đó là nơi “hạ gánh” thuận tiện nhất của họ. Mà người mua cũng vậy, với túi tiền vốn không xông xênh gì mấy, các bà phụ nữ nội trợ thường mỗi sáng chỉ đạp xe vào chợ một chốc là ra về với mớ rau, con cá đèo trên giỏ là xong. Ấy thế mà người đứng đầu nhà nước hoặc đứng đầu Kinh đô đã để mắt đến không gian của những chợ cổ truyền nọ từ lâu. Họ chỉ cần ra một cái lệnh giải thể các chợ đó để xây “trung tâm thương mại”, thế là một sớm những chị tiểu thương bừng mắt dậy bỗng không còn đất ngồi bán hàng nữa. Họ phải long tong chạy xuôi chạy ngược khắp các phố phường Hà thành. Đâu có thể ngả gánh ra bán là họ ngả gánh ra. Rồi họ tụ tập nhau lại (phải tụ tập nhau đông đúc thì mới bán được hàng, tâm lý người bán và người mua xưa nay là thế). Và các chợ cóc cứ thế hình thành, chiếm hết vỉa hè của nhiều phố xá, làm cho Hà Nội ngày càng nhếch nhác bẩn thỉu hơn, trong khi diện tích các chợ cũ bán xong, tiền vào túi lãnh đạo rồi lại rơi vãi vào đâu không biết, nhưng các trung tâm thương mại hoành tráng xây lên thì chẳng ma nào thèm vào. Không có tiền để mua một chỗ ngồi bán đã đành, ngay người mua tìm cho được chỗ gửi xe để leo lên các tầng chỉ mua một mớ rau, vài ký gạo là điều quá chừng cực nhọc. Không ít trung tâm thương mại ở Hà Nội trở nên vắng teo. Ấy thế mà chẳng một ai trong các thế hệ ngồi trên đầu dân chịu rút kinh nghiệm, chợ này đuổi dân xong để bán cho nhà doanh nghiệp rồi chợ khác lại đuổi dân tiếp, càng lâu về sau thì đội quân lang thang trong hàng ngũ tiểu thương ngày một thêm đông đảo. Họ chưa đến nỗi là dân oan nhưng cũng mấp mé loại người một sớm phải đứng đường, lúc này lúc khác bị công an bố ráp giật hết các gánh hàng tấm quẳng lên xe đem về đồn…

Thử hỏi, cái việc làm hoàn toàn trái ngược với truyền thống nói trên đây, vừa thất nhân tâm, vừa đẩy dân chúng đến chỗ hết đường sinh sống, có thể gọi tên đúng là gì nhỉ? Xã hội chủ nghĩa chăng? Lấy dân làm gốc chăng? Không được. Đối với những người còn chút lương tri giải thích bằng những lời như thế là không đứng đắn. Đành phải tìm một từ chính xác để gọi cho đúng bản chất, dù rằng lâu nay chúng ta vẫn cố tránh, bởi không phải một ai cũng muốn đóng vai chú bé nói về vị Hoàng đế cởi truồng. Nhưng hiện tại đất nước đang hào hứng với khí thế “dân chủ đến thế là cùng” kia mà. Vậy thì đành xin thưa, chỉ có hai từ đơn giản thôi, hai từ hoàn toàn thích hợp với hành động không tiền khoáng hậu của các vị – ĂN CƯỚP. Và nếu nói như người xưa thì có thể thêm ĂN CƯỚP CÓ MÔN BÀI.

Cực chẳng đã phải gọi tên những việc làm vốn bị nhân loại ghét bỏ này, thực lòng chúng tôi không lấy gì làm thích thú. Nhưng nếu không nói thì chính mình lại tự đánh mất nhân cách, tự mình rơi vào tình thế nuốt nhục. Nói ra, dẫu có thể mang tiếng là lăng mạ những ai ai đó, thì đối với người còn tỉnh táo, mà chúng tôi tin rằng còn, sau khi đã trải qua cú sốc, hẳn sẽ có lúc giật mình về món “thuốc đắng” gửi gắm trong mấy lời thô thiển này. Và chỉ cần giật mình thôi cũng đủ là sự cảnh báo với mình để quyết tâm tìm cách “dã tật”, khi mà khuyết tật đang lồ lộ ra khắp nơi mọi chốn.

BVN

Thư bạn đọc

FB Sầm Sơn – Vẻ đẹp bất tận

Kính gửi: Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cùng các công nhân viên cán bộ trong hệ thống chính quyền tỉnh.

Tôi là: Văn Thị Hương SN 1996
tại: Sầm Sơn-Thanh Hóa
hiện là sinh viên năm nhất Khoa Ngôn ngữ Anh Đại học Đông Đô.

Tôi gửi bức thư này đến Cổng thông tin điện tử của Tỉnh để kính mong cán ban ngành, các đồng chí lãnh đạo xem xét, giải quyết vấn đề quy hoạch bãi biển Sầm Sơn một cách sáng suốt, hợp lý, hợp tình nhất.

Tôi tin rằng, khi đã được ngồi vào các vị trí lãnh đạo ở cấp Tỉnh, hay bất kì cấp nào khác, các đồng chí đã hơn những người dân rất nhiều phương diện từ văn hóa, trình độ học vấn… cho đến công việc, địa vị xã hội. Tôi chắc rằng, các đồng chí cũng hiểu rất rõ về Sầm Sơn, bởi nó đang là mối quan tâm hàng đầu, nóng hổi và bức xúc nhiều ngày qua.

Người dân Sầm Sơn chúng tôi bao đời nay, từ cha ông cho đến thế hệ chúng tôi, tất cả đều nhờ biển mà sống, mà lớn lên, mà học hành, mà thành người. Biển cho chúng tôi cá ăn, cũng cung cấp cá cho các đồng chí và nhiều người khác. Biển cho chúng tôi được đến trường, được học hành, giúp hàng nghìn hộ chúng tôi có công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đóng góp một phần cho Ngân sách Nhà nước. Điều đó tôi không nói, các đồng chí cũng hiểu rõ.

Du lịch Sầm Sơn khá phát triển song là du lịch mùa vụ, là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương song không giải quyết hết số lượng lao động thất nghiệp trong địa bàn thị xã, không xóa đói giảm nghèo cho tất cả các hộ dân. Du lịch phát triển mà không cho ngư dân kiếm sống, các đồng chí có thấy hố sâu ngăn cách nghèo giàu ngày càng lớn?

Nhìn về hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền ở Tỉnh và địa phương Sầm Sơn, các đồng chí nghĩ gì khi mình đang ngồi ở vị trí lãnh đạo, khi đang đảm nhiệm những chức vụ công quyền? Khi mà gần đây nhất, ông Trịnh Huy Triều, nguyên là Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn đã sai phạm hàng loạt trong dự án khu nghỉ dưỡng và Sân Gofl của Tập đoàn FLC cũng như việc xây dựng các ki-ốt kinh doanh du lịch ở địa bàn thị xã đang đương chức ở một vị trí cao hơn – Bí thư Thị ủy? Thân là lãnh đạo cấp cao hơn, các đồng chí tự vấn bản thân mình như thế nào? Trong khi đó, vụ việc về giải phóng mặt bằng ở TX Sầm Sơn đã bao lần người dân có đất bị thu hồi đã gửi đơn kiến nghị đến các đồng chí?

Giờ đây, các đồng chí bất chấp lời kêu van, ý kiến của nhân dân chúng tôi, phớt lờ trước sự an toàn đến thân thể, tính mạng của chúng tôi để quy hoạch bãi biển, các đồng chí thấy thế nào? Hiến pháp 1992 quy định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, xin hỏi, các đồng chí đã thực hiện đúng mực theo Hiến pháp nước ta chưa?

Ngư nghiệp là một nét đặc trưng văn hóa của Sầm Sơn. nhìn về khía cạnh khác, hàng trăm năm nay, họ bám biển, đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ con người. Thử hỏi, khi những cơn bão đến, các đồng chí có ai sẵn sàng xắn tay áo lên, đẩy tàu bè của dân vào bờ cùng họ, có ai bất kể mưa gió, tình nguyện dứt mình trong chăm ấm nệm êm với vợ với con cùng họ đấu tranh với thiên nhiên để bảo vệ tính mạng, bảo vệ tài sản chưa? Hay tất cả chỉ là mím môi thực hiện chỉ đạo suông ở trên? Các đồng chí có thấy hổ thẹn với nhân dân vì không thể cùng họ những thời khắc một mất một còn như thế?

Tôi đồng ý rằng, quy hoạch và xây dựng bờ biển nó làm thay đổi căn bản bộ mặt của thị xã, song, bộ mặt của nhân dân trong thị xã sẽ như thế nào? Có chăng cũng là thay đổi, nhưng là thay đổi tương đồng với bộ mặt thị xã, hay là các tệ nạn, thất nghiệp, thất học, mù chữ?

Tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết? Thử hỏi, các đồng chí lương bổng một tháng bao nhiêu, hay các đồng chí làm những gì mà đi xe ô tô đắt tiền hạng sang, nhà tầng vài ba khu, bữa ăn hàng triệu đồng không sót? Nếu các đồng chí có cách làm ăn gì khấm khá đến thế, sao không chỉ cho dân để cùng làm giàu?

Dân chúng tôi ít học, không hiểu rõ luật pháp, song vẫn biết cái gì là nên, cái gì không được làm. Thử hỏi, các đồng chí có bao giờ quan tâm đến trình độ học thức của từng người dân, tuyên truyền và phổ biến cho họ biết về Hiến pháp và pháp luật nước ta, chủ trương, đường lối của Đảng để từ đó họ biết mà thực hiện? Lấy ví dụ thực tế trong chính bản thân các đồng chí, [nếu dân chài] không chỉ cho các đồng chí cách kéo lưới sao cho đúng, cho an toàn, các đồng chí có làm được không?

Giờ dân chúng tôi đang kêu khóc ngoài cổng trụ sở các đồng chí làm việc, người ở nhà thì bị đánh bị thương nặng, các đồng chí làm gì trước tình hình đó? Chúng tôi bầu các đồng chí lên làm lãnh đạo, không phải chỉ để các đồng chí giải quyết trên bàn giấy, trên lý thuyết mà là để các đồng chí nhìn về thực tế đời sống của người dân chúng tôi mà làm việc. Chúng tôi đánh bắt cá trên biển kiếm sống, phục vụ hàng triệu lượt khách du lịch, thế thì chúng tôi neo đậu tàu thuyền là mất mĩ quan đô thị, là sai trái sao? Như cái xe ô tô của các đồng chí đang đi, các đồng chí có muốn gửi nó ở một nơi cách xa nhà đồng chí 10km khi mà từ nhà đến trụ sở chỉ cách 1km? các đồng chí thử trưng cầu ý dân xem, hình ảnh người ngư dân kéo lưới dưới ánh bình minh đẹp hơn hay là hình ảnh một con đường nhựa trơn nhẵn?

Dọc nhiều tuyến phố tại TP Thanh Hóa, hàng nghìn người dân kêu khóc, từ người lớn đến trẻ nhỏ, người đáng tuổi cha, mẹ các đồng chí, kẻ đáng tuổi con, tuổi cháu các đồng chí, có nhà không thể về, mưa nắng dãi dầu vẫn ở đó đợi chờ sự đồng ý của các đồng chí, các đồng chí có động lòng mảy may? Tôi chắc là không đâu, bởi các đồng chí còn thực hiện cả một kế hoạch khởi tố chúng tôi vì tội “gây rối trật tự công cộng” cơ mà. Thực sự chúng tôi không thể hiểu các đồng chí nghĩ gì khi dân khóc than, nằm vạ vật dọc đường, đấu tranh, biểu tình vì cuộc sống của hàng nghìn người, ấy thế mà, các đồng chí, người ngồi nhà cao chỉ tay năm ngón, kẻ đứng quay phim lấy bằng chứng kiện dân? Các đồng chí sinh ra từ dân, hoạt động cho nhân dân, sống nhờ đồng tiền của nhân dân, các đồng chí không thấy hổ thẹn với chính mình, với nhân dân, với Đảng, với Bác, với các thế hệ cha anh đã hi sinh để cho các đồng chí cuộc sống yên bình như ngày nay sao?

Các đồng trả lời báo giới rằng là vì dân chúng tôi sao? Vì dân chúng tôi mà tính mạng của chúng tôi đang bị đe dọa, cuộc sống bình yên no đủ của chúng tôi đang đứng trước nguy cơ mất đi, là do lời nói của các đồng chí, thế là vì chúng tôi sao? Các đồng chí nói rằng đang tìm ra biện pháp tốt nhất sao? Hàng trăm người, với hàng trăm cái đầu hơn cả hàng chục nghìn cái đầu của dân đen chúng tôi mà vẫn chưa tìm được sao? Để tôi cho các đồng chí một biện pháp thiết thực nhất nhé; các đồng chí có thể quy hoạch tất cả tàu bè lại một điểm đỗ trên tổng số 3,5km bờ biển đó, xây dựng thành một bến đỗ có quy mô, tổ chức và quy định, phát triển điểm đỗ đó thành một trong những điểm tham quan của du khách, chẳng phải là vẹn cả đôi đường sao?

Tôi hy vọng rằng, các đồng chí sẽ tự vấn bản thân mình từ những việc đã qua, tôn trọng ý kiến của dân và đưa ra quyết định đúng đắn nhất.

Tôi xin cảm ơn!

[Văn Thị Hương]

Nguồn:https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=767249210042033&id=443076695792621

Nếu muốn con lớn lên là CEO không phải tử tù, các bà mẹ hãy đọc hai bức thư này…

Nếu muốn con lớn lên là CEO không phải tử tù, các bà mẹ hãy đọc hai bức thư này…

Sự khác biệt giữa hai bức thư, hay nói rõ hơn là hai cuộc đời khiến chúng ta phải suy ngẫm lại về cách giáo dục con cái. 

Người xưa vẫn thường nói “sai một ly, đi một dặm”, giáo dục con cái không đúng cách, có thể khiến cuộc đời của con trôi xa và không cách nào quay đầu lại được nữa…
Dưới đây là bức thư của tử tù viết cho mẹ:

Thưa Mẹ!

Con của mẹ ngày mai là phải ra pháp trường rồi. Con cũng không biết tại sao mình lại đi đến bước đường cùng như thế này, hiện tại con chỉ thấy mọi ký ức như đang trở về và hiển hiện trước mắt con…

Khi con được 3 tuổi, con chạy rất nhanh, vấp phải hòn đá và té ngã. Mẹ đã chạy đến và đỡ con đứng dậy. Mẹ vừa dỗ dành con không khóc vừa mắng hòn đá: “Sao mày lại làm con tao khóc, để mẹ đánh cho hòn đá một trận“. Con đang cố chịu đau để cầm nước mắt, nhưng nghe xong câu nói của mẹ, con đã khóc trong lòng mẹ rất lâu mới chịu nín. Mẹ đã cho con biết rằng, lý do con ngã là do hòn đá, nhưng con lại không hiểu rằng, mẹ chỉ muốn dỗ dành cho con không khóc nữa.

Khi con được 4 tuổi, do con muốn xem tivi nên không muốn ăn cơm tối. Mẹ đã ân cần mang cơm đến và bón cho con ăn. Mẹ đã dạy cho con biết cách tận hưởng cuộc sống, nhưng con lại không hiểu rằng, mẹ sợ con làm vãi cơm làm bẩn quần áo, rồi tự mẹ lại phải đi giặt.

Khi con được 6 tuổi, mẹ đưa con đến trung tâm mua sắm để mua quà giáng sinh, mẹ đã nói với con là chỉ được mua một thứ đồ chơi. Nhưng khi con được mua “người sắt biến hình” con lại muốn mua máy bay. Khi mẹ không đồng ý, con đã nằm xuống đất và khóc cho đến khi mẹ chịu mua cho con mới thôi. Mẹ đã cho con biết dùng chiêu này là con có thể đòi được đồ mà mình yêu thích, nhưng con không biết rằng, mẹ mua cho con, chỉ vì không muốn mất mặt chỗ đông người.

Khi con được 8 tuổi, con muốn tự mình giặt tất, mẹ đã sợ con giặt không sạch, con muốn rửa bát, mẹ đã sợ con làm vỡ, con muốn tự mình xới cơm, mẹ đã sợ con bị bỏng. Mẹ đã cho con thấy, trong cuộc sống này, hóa ra có rất nhiều khó khăn và nguy hiểm mà con không thể đối diện. Nhưng con đã không hiểu rằng, mẹ chỉ không muốn mất công thu dọn và làm các việc do con có thể sơ ý gây ra.

Khi con được 10 tuổi, mẹ đã đăng ký cho con 3 lớp phụ đạo văn hóa, và 2 lớp học năng khiếu. Khi con cảm thấy mệt mỏi đến mức không chịu nổi, mẹ đã nói: “Nếu con không chịu được khổ thì làm sao thành người tài giỏi được“. Mẹ đã cho con biết rằng, học tập là việc rất cực khổ, nhưng con không hiểu rằng, mẹ chỉ muốn con sẽ có ngày thành đạt để có thể mở mày mở mặt trước mọi người.

Khi con được 13 tuổi, con đá bóng, do sơ ý đã làm vỡ của kính của nhà hàng xóm, mẹ đã dùng tiền để bồi thường và dắt con đi xin lỗi họ. Mẹ đã cho con biết rằng, khi gây ra chuyện chỉ cần nói “xin lỗi” là xong, nhưng con đã không biết, mẹ đang oán trách nhà hàng xóm đã đòi mình bồi thường quá nhiều tiền.

Khi con được 15 tuổi, con đòi chơi đàn piano, mẹ đã vay tiền để mua cho con một chiếc đàn. Nhưng chỉ sau một tháng, con đã không còn động đến nó nữa, mẹ đã cho con thấy, hóa ra không có tiền cũng có thể tùy ý sở hữu những đồ mà mình thích. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã phải vất vả làm việc 3 năm mới trả được hết nợ.

Năm 19 tuổi, con chuẩn bị thi vào đại học, mẹ nói rằng, làm luật sư không những có nhiều tiền mà còn có địa vị trong xã hội, và nhất định muốn con học ngành luật. Mẹ đã cho con thấy rằng, chỉ cần con đi theo những gì mẹ sắp đặt là được. Nhưng con không biết rằng, mẹ chỉ muốn thông qua con để thực hiện giấc mơ mà trước đây mẹ đã không làm được.

Năm con 20 tuổi, con muốn thay điện thoại mới, với lý do có thể liên lạc với mẹ thường xuyên hơn. Mẹ đã không cần cân nhắc nhiều và chuyển ngay cho con 10 triệu đồng. Nhưng con chỉ dùng điện thoại để liên lạc với bạn gái, trong vòng 1 năm con chỉ gọi cho mẹ có mấy lần. Mẹ đã cho con thấy rằng, mẹ là một ngân hàng miễn phí mà con có thể lấy bất cứ lúc nào. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã nhiều lần chờ đợi con gọi điện để chúc mừng trong ngày sinh nhật mẹ.

Năm con 24 tuổi, sau khi con tốt nghiệp đại học, mẹ đã dùng tiền để con được vào làm tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Mẹ đã cho con thấy, 4 năm đại học chơi bời, khi ra trường vẫn có thể có được một công việc ổn định. Nhưng con đã không biết rằng, vì con mà mẹ đã phải đi cầu cạnh biết bao người.

Năm con 27 tuổi, quan hệ của con với các bạn gái đều không được lâu dài, các cô gái đều nói con là người không có trách nhiệm, vẫn là một cậu bé chưa trưởng thành. Mẹ đã nói rằng, do duyên chưa đến, các cô gái đó đều không xứng với con. Mẹ đã cho con thấy rằng, những cô gái không lấy được con là do họ kém phúc phận. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã vì con mà đi rất nhiều nơi để dò hỏi cho con người ưng ý.

Năm con 32 tuổi, do con đánh bạc thua, và nợ rất nhiều tiền, mẹ đã rất tức giận đến mức sinh bệnh, nhưng cuối cùng thì mẹ cũng trả hết nợ cho con. Mẹ đã cho con thấy, cho dù con có gây ra tội tình gì đi nữa, thì mẹ cũng đều giúp con gánh vác trách nhiệm. Nhưng con đã không biết rằng, mẹ đã vì con mà tiêu hết đi khoản tiền mẹ dành dụm cho tuổi già của mình.

Năm con 35 tuổi, khi con biết mẹ đã không còn đồng nào trong người, con đã đi cướp của giết người. Khi con nghe thấy họ tuyên án tử hình, mẹ đã khóc và trách ông trời không công bằng, vất vả cả đời vì con, vậy mà cuối cùng lại ra nông nỗi này. Cuối cùng con đã biết, mẹ đã vì yêu con mà hết lần này đến lần khác cướp đoạt đi cơ hội trưởng thành của con, hết lần này đến lần khác bóp chết đi năng lực sinh tồn của con, lấy đi trách nhiệm đối với cuộc đời của chính con. Hóa ra cho đến lúc cận kề cái chết, con vẫn chưa trưởng thành. Mẹ đã dùng phương pháp sai lầm và vất vả cả đời vì con cái, để đổi lấy sự đau khổ cho cả 2 thế hệ. Hóa ra giáo dục con cái không có cơ hội để lặp lại lần thứ 2, hóa ra, mẹ đã tự tay đưa con lên đoạn đầu đài… Mẹ hãy bảo trọng! Ngày mai con phải đi rồi. Hy vọng ở một thế giới khác, con có thể học được cách có trách nhiệm với chính mình, tự mình tìm được hạnh phúc cho chính mình…

TU TU VA CEO

 Dưới đây là bức thư, một CEO viết cho mẹ:

Thưa Mẹ!

Con của mẹ ngày mai sẽ khởi công xây dựng một công xưởng mới. Để con có được thành công như ngày hôm nay, đều là do công dạy dỗ của mẹ. Bỗng nhiên mọi ký ức như đang trở về hiển hiện trước mắt con…

Khi con được 3 tuổi, con chạy rất nhanh, vấp phải hòn đá và té ngã. Mẹ đã để con tự đứng dậy và nói: “Lần sau cần phải cẩn thận hơn“. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước hành động của mình.

Khi con được 4 tuổi, do con muốn xem tivi nên không muốn ăn cơm tối. Mẹ đã nói, nếu không ăn thì phải chịu đói cho đến ngày hôm sau, con đã đồng ý, và nghĩ rằng mẹ chỉ nói vậy thôi. Nào ngờ, đến buổi tối con lục tìm đồ ăn… ngay cả một hạt cơm cũng không còn trong nồi. Mẹ đã dạy cho con biết, phải tự chịu trách nhiệm với sự bướng bỉnh của mình.

Khi con được 6 tuổi, mẹ đưa con đến trung tâm mua sắm để mua quà giáng sinh, mẹ đã nói với con chỉ được mua một thứ đồ chơi. Nhưng khi con được mua “người sắt biến hình” con lại muốn mua máy bay. Khi mẹ không đồng ý, con đã nằm xuống đất và khóc, nào ngờ mẹ quay lưng bước đi để mặc con ở đó. Khi đó con chỉ biết đứng dậy, vừa lau nước mắt vừa chạy theo mẹ. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước sự lựa chọn của bản thân.

Khi con được 8 tuổi, con muốn tự mình giặt tất, mẹ đã dạy con làm thế nào để giặt cho sạch, con muốn rửa bát, mẹ đã dạy con phải cẩn thận để bát không bị vỡ, con muốn tự mình xới cơm, mẹ đã dạy con xới cơm cẩn thận để không bị bỏng. Mẹ đã dạy cho con biết phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình.

Khi con được 10 tuổi, mẹ thấy các buổi học thêm của con kín mít, mẹ nói rằng : “Đến lớp hãy cố gắng học, khi nghỉ hãy chơi cho thỏa thích, nếu còn thời gian thì đọc thêm sách vở, thì con sẽ không sợ thua kém ai cả“. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước sở thích của mình.

Khi con được 13 tuổi, con đá bóng, do sơ ý đã làm vỡ của kính của nhà hàng xóm. Mẹ đã đưa con đến cửa hàng để mua kính, sơn và đinh, sau đó mẹ đã bảo con giúp mẹ cùng lắp lại cửa kính cho họ. Sau đó còn trừ tiền tiêu vặt của con vào tháng sau. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm trước những sai lầm của bản thân.

Khi con được 15 tuổi, con đòi chơi đàn piano, mẹ đã mua cho con kèn ác-mô-ni-ca. Mẹ nói với con rằng: “Thổi được kèn ác-mô-ni-ca đi đã rồi hãy nói đến chuyện mua đàn piano“. Con đã thổi kèn ác-mô-ni-ca cho đến bây giờ, còn nguyện vọng muốn chơi đàn piano, con đã quên từ lúc nào không biết. Mẹ đã dạy cho con biết phải kiên trì và có trách nhiệm với chính kiến của mình. Năm con 19 tuổi, con chuẩn bị thi vào đại học, mẹ đã giúp cùng con phân tích những chuyên nghành mà con yêu thích, và để cho con tự quyết định chuyên nghành mà mình muốn theo đuổi. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự chịu trách nhiệm cho tương lai của bản thân.

Năm con 20 tuổi, con muốn thay điện thoại mới, mẹ nói rằng điện thoại cũ chưa hỏng thì không được đổi. Nếu như con nhất định muốn đổi thì tự đi làm ngoài giờ học lấy tiền mà tự mua. Khi con kiếm đủ tiền để mua điện thoại mới nhờ đi dạy thêm, cái cảm giác vui sướng khi thành công đó vượt xa hơn hẳn giá trị của một chiếc điện thoại mới.

Năm con 24 tuổi, sau khi con tốt nghiệp đại học con đã muốn tự gây dựng sự nghiệp. Mẹ đã khuyên con không nên nóng vội, mà hãy bắt đầu làm những việc mà con yêu thích, khi có kinh nghiệm rồi hãy tính. Hai năm sau, con quyết định mở công ty, mẹ nói, nếu như con có thể chấp nhận một kết quả tồi tệ nhất, thì hãy mạnh dạn và đặt tâm vào mà làm. Mẹ đã cho con vay 300 triệu đồng, và yêu cầu con 4 năm sau phải trả. Con đã vỗ ngực và nói, con không những trả tiền cho mẹ, mà còn tặng mẹ một căn hộ nữa. Mẹ đã dạy con biết có trách nhiệm với sự nghiệp của chính mình.

Năm con 27 tuổi, con đã đưa một cô gái thông minh và xinh đẹp về nhà, đó là lần đầu tiên mẹ khen ngợi con trước mặt cô ấy. Mẹ còn nói, chuyện vợ chồng là tự con quyết định, chỉ cần chúng con thành tâm thành ý thì mẹ đã rất hạnh phúc rồi. Mẹ đã dạy cho con biết phải tự có trách nhiệm với hạnh phúc của bản thân.

Năm con 32 tuổi, con đã đưa chìa khóa của một căn hộ mà con mua để tặng mẹ, khi tay mẹ cầm chìa khóa và lập tức quay lưng ra sau. Nhìn thấy đôi vai mẹ khẽ rung rung, con biết rằng mắt mẹ đang nhòa đi vì hạnh phúc. Mẹ đã dạy cho còn biết phải có trách nhiệm với lời hứa của mình.

Năm con 35 tuổi, công ty của con không ngừng mở rộng, và phải xây dựng nhà máy mới, những người thường trách cứ mẹ nhẫn tâm, nay đã không còn gì để nói. Con vẫn thường dạy cho con của con biết phải có trách nhiệm với bản thân mình, giống như mẹ đã từng dạy con khi xưa. Con hy vọng rằng chúng sẽ làm được những điều còn to lớn hơn nữa.

Con yêu của mẹ!

Theo NTDTV

Luồng gió mới có lay động bức tường công lý?

Luồng gió mới có lay động bức tường công lý?

Xuân Dương

(GDVN) – Tại sao bắt giam người dân vô tội thì rất nhanh, bắt giam cán bộ có tội lại rất chậm?

“Người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén bị bắt vào tháng 5/1998, ngày 28/11/2015, cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận trao quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Nén, chấm dứt 17 năm 5 tháng ngồi tù oan của ông.

Huỳnh Văn Nén là người duy nhất tại Việt Nam 2 lần bị kết án oan trong hai vụ án giết người.

Ngày 18/1/2016 Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã có văn bản xác nhận thụ lý đơn khiếu nại tố cáo của ông Nén.

Ngày 3/3/2016, ông Nén đó có buổi làm việc với cơ quan chức năng bổ sung tố cáo 14 người liên quan đến hai vụ án oan mà ông là nạn nhân.

Trong “Đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự – Đơn tố giác tội phạm” gửi Cục Điều tra hình sự Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Nén viết:

“Những người này đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, sử dụng những biện pháp bất minh để buộc tội và kết án tôi và gia đình tôi.

Họ đã dựa trên những tài liệu lời khai giả mạo, gian dối hoặc có được từ việc bức cung nhục hình đối với tôi và những người thân trong gia đình tôi”[1].

Có những câu hỏi khiến bất kỳ người có lương tri nào cũng phải đặt ra là tại sao các cơ quan tố tụng hình sự không tự khởi tố điều tra những kẻ đã gây nên oan sai cho người vô tội mà phải chờ tố cáo, vì sao khi đã có đơn tố cáo mà sự việc vẫn chưa có kết luận cụ thể.

Điều tra những kẻ cố ý bỏ tù công dân vô tội trong hai vụ án oan Huỳnh Văn Nén có khó không?

Câu trả lời là không hề khó bởi những người này có họ tên, địa chỉ, chức vụ rõ ràng, họ đang sống tại Việt Nam, thậm chí một số trong đó đang đảm nhận những chức vụ trong các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Thu thập chứng cứ để chứng minh hành động tội phạm của những người đó có khó không?

Câu trả lời là quá dễ vì ông Huỳnh Văn Nén đã được minh oan, đã được xin lỗi thì đương nhiên những kẻ cố tình đưa ông vào vòng lao lý phải có tội, họ đã vi phạm pháp luật một cách hết sức nghiêm trọng.

Một khi điều tra không khó, thu thập chứng cứ không khó thì vì sao vẫn còn phải chờ? Có gì uẩn khúc trong việc này? Tại sao bắt giam người dân vô tội thì rất nhanh, bắt giam cán bộ có tội lại rất chậm?

Trong một phiên tòa, tù nhân Huỳnh Văn Nén đã cởi áo quay lưng về phía Hội đồng xét xử để chỉ những vết sẹo do ông bị đánh trong tù.

Những con người đại diện cho pháp luật trong phiên tòa đó phải chăng có khối óc nhưng thiếu lý trí, có trái tim nhưng ít xúc động.

clip_image001
Ông Huỳnh Văn Nén cởi áo, chỉ những vết sẹo mà ông nói là do bị đánh khi ở trong tù. (Ảnh: Laodong.com.vn)

Nói theo ngôn ngữ đời thường, đó là những con người vô cảm thực sự nhưng lại giả câm, giả điếc, giả mù trước nỗi đau đồng loại.

Cùng với vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), Vũ Ngọc Dương (Hà Nội),… Công lý không phải chỉ một lần bị bịt mắt.

Liệu rồi đây Công lý có một lần nữa bị bịt mắt khi xét xử tội trạng của những kẻ phạm tội hiện vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật?

Liệu vụ án Huỳnh Văn Nén có lặp lại với vụ án Nguyễn Thị Bạch Tuyết mà công luận đã nhiều lần lên tiếng?

Các bài báo với những chứng cứ cụ thể cho thấy cơ quan tố tụng đã rất “dễ dãi” khi ra lệnh bắt giam công dân, thời hạn tam giam kéo dài đã hơn 800 ngày.

Tòa án nhiều lần trả hồ sơ vì chưa đủ chứng cứ buộc tội nhưng công dân vẫn bị giam vì Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh vẫn “cố thủ”, vẫn “kiên quyết” buộc tội?

Thậm chí ngay cả Viện trưởng VKSTC cũng đã chỉ ra “hàng loạt những điểm chưa được làm rõ” nhưng VKS TP HCM vẫn cứ phớt lờ, vẫn buộc tội bằng những căn cứ đã bị bác bỏ…

Hơn 800 ngày đưa đẩy giữa tòa án và điều tra, kiểm sát mà chưa thể kết luận, chưa thể xét xử, luật pháp không nghiêm hay tâm đức của người cầm cân nảy mực có vấn đề?

Liệu có chuyện có ai đó cố tình bẻ cong công lý, đứng trên pháp luật?

Chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định bị cáo Nguyễn Thị Bạch Tuyết có tội hay vô tội, vì sao Tòa án nhân dân TP HCM không dám xét xử dựa vào những gì mà bên Điều tra và Kiểm sát cung cấp, sợ oan sai cho công dân, sợ trách nhiệm hay sợ “nhóm lợi ích”?

Không cần hiểu biết nhiều về pháp luật cũng có thể thấy, một khi buộc phải thả người bị bắt giam oan thì tiếp theo đó là phải xin lỗi, phải đền bù oan sai… và đương nhiên uy tín, địa vị của cá nhân, tổ chức gây oan sai sẽ bị ảnh hưởng. Có phải vì thế nên người ta sẵn sàng vứt bỏ lương tâm, trách nhiệm để bảo vệ bản thân và “nhóm thân hữu” của mình?

Trở lại vụ án Huỳnh Văn Nén, có hay không sự tác động nào đó để “câu giờ” dựa vào quy định tại điều 27 Luật Hình sự 2015 “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”, theo đó:

“Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” là: a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện”.

Những người tham gia tố tụng vụ ông Nén đã vi phạm điều 10 Bộ Luật Hình sự 2015 “Cố ý phạm tội” bởi vì:

“1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”.

Vấn đề là hành vi phạm tội của họ thuộc loại tội phạm nào?

Nếu xác định là “tội phạm rất nghiêm trọng” thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 15 năm và đương nhiên sau hơn 17 năm họ sẽ được miễn truy cứu.

Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 4 điều 9 Bộ Luật hình sự 2015 thì: “Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Tội trạng những người gây ra cho ông Nén đã khiến dư luận xã hội phẫn nộ, khiến ngân sách phải bồi thường một khoản tiền lớn, khiến công dân bị kết án tù chung thân và quan trọng hơn là đã khiến người dân mất niềm tin vào hệ thống tư pháp quốc gia, tội đó  phải thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng nghĩa là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 20 năm.

Đài Tiếng nói Việt Nam ngày 5/3/2016 đưa tin: “Ngày 4/3, nguồn tin riêng cho biết TAND tỉnh Bình Thuận vừa có cuộc họp kiểm điểm đối với hai thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân trong HĐXX sơ thẩm xử vụ hủy hoại tài sản, giết người, cướp tài sản đối với ông Huỳnh Văn Nén vào ngày 31/8/2000 (vụ bà Lê Thị Bông bị sát hại).

TAND tỉnh Bình Thuận đã thống nhất áp dụng hình thức phê bình, rút kinh nghiệm đối với HĐXX sơ thẩm kết án oan ông Nén và gửi văn bản về TAND Tối cao để báo cáo”[2].

Phê bình, rút kinh nghiệm với những người xử án (Hội đồng xét xử) là chuyện riêng của Tòa án nhân dân Bình Thuận.

Hình thức “phê bình, rút kinh nghiệm” vốn là “truyền thống” tồn tại trong các cơ quan công quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội từ xưa đến nay đã góp phần vào việc “động viên, cổ vũ” một bộ phận không nhỏ người có trách nhiệm “yên tâm công tác”.

Chỉ có điều với người dân như Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén,… thì ai cho họ quyền được tự phê bình, rút kinh nghiệm hay cứ yên tâm ngồi tù?

Sau Tòa án, liệu Cơ quan điều tra và Kiểm sát có họp, có thống nhất áp dụng hình thức phê bình, rút kinh nghiệm như Tòa án với các đối tượng liên quan đến vụ án?

Hình như luồng gió mới từ chủ trương Đổi mới sau Đại hội Đảng 12 vẫn còn một quãng đường khá dài để thổi tới bức tường công lý?

Hy vọng những người chịu trách nhiệm với lá đơn tố cáo của ông Nén sẽ sớm có câu trả lời khách quan, trung thực, thượng tôn pháp luật với ông Nén và trước công luận.

X. D.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://laodong.com.vn/su…/danh-sach-den-cua-huynh-van-nen-524633.bld

[2] http://vov.vn/vu-an/hdxx-lam-oan-ong-huynh-van-nen-chi-bi-phe-binh-rut-kinh-nghiem-485739.vov

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Luong-gio-moi-co-lay-dong-buc-tuong-cong-ly-post166187.gd