TĨNH LẶNG – QUÀ TẶNG CHO CUỘC SỐNG

TĨNH LẶNG – QUÀ TẶNG CHO CUỘC SỐNG

Một chàng trai trẻ chiều nào đi làm về ngang qua con sông cũng thấy một người đàn ông trung niên chăm chỉ ngồi câu cá.  Anh đến gần và hỏi chuyện:

–   Chào bác, bác câu cá mỗi ngày có được nhiều không?

–   Cám ơn cậu.  Cũng được khá nhiều – người đàn ông đáp.

–   Sao bác không bán cá mua lưới để có thể bắt được nhiều cá hơn – cậu thanh niên gợi ý.

–   Bắt được nhiều cá hơn, rồi làm gì? – người đàn ông thắc mắc.

–  Bác có thể bán cá để có tiền mua tàu và lưới đánh cá, để đánh bắt được nhiều cá hơn nữa – chàng thanh niên nhiệt tình dẫn ý.

–   Bắt được nhiều cá hơn nữa, rồi làm gì? – người đàn ông hỏi tiếp.

–   Để bác trở nên giàu có, để đời sống nhẹ nhàng và hạnh phúc – cậu thanh niên đáp với vẻ tâm đắc.

–   Thế cậu không thấy hiện tại tôi đang sống rất nhẹ nhàng và hạnh phúc với cái cần câu này sao? – người đàn ông hỏi gợi ý cách bình thản.

***********************************

Cậu thanh niên cứ tưởng mình đang đề xuất một cao kiến cho người đàn ông đang câu cá, ai ngờ đề xuất đó chỉ là một con đường lòng vòng để tìm cái ông đang sẵn có: nhẹ nhàng và hạnh phúc.  Tại sao?  Phải chăng cậu không đủ tĩnh lặng để nhận ra điều đó?

Rời bỏ câu chuyện, ta trở về với đời sống thường ngày.  Đường đi xe cộ ào ào; về đến gần nhà tiếng ca hát, loa phát thanh inh ỏi; vào trong nhà cũng rầm rộ vì người lớn lo công việc, trẻ con chơi giỡn la hét; ngồi trong phòng một mình vẫn ồn ào bởi bao tính toán lo toan việc nhà, việc công ty, việc nọ, việc kia kéo đến trong đầu; thậm chí khi đi ngủ cũng vẫn ồn ào bởi những chộn rộn của ngày sống xâm nhập cả vào trong giấc mơ!  Đã bao giờ bạn rơi vào tình cảnh như thế chăng?  Tại sao lại có những vội vã ồn ào quá sức như vậy?

Do môi trường sống và làm việc thay đổi?  Trước đây nhịp sống chậm rãi, yên ả hơn.  Giờ học có, giờ làm có, giờ nghỉ ngơi có, giờ giành cho người thân bạn bè có, giờ phút giành riêng cho mình cũng có.  Thời nay, mọi thứ cứ tất bật trong vòng xoáy của sự thay đổi chảy trôi, khiến đời sống trở nên quá vội vàng gấp gáp.  Đâu đâu cũng có sự xuất hiện của công việc.  Làm việc ở công ty đã đành, làm việc ở nhà, làm việc lúc chuyện trò, lúc xem tivi, trong bàn ăn, thậm chí trước khi ngủ cũng tranh thủ làm thêm chút việc.  Tất cả ưu tiên dành cả cho công việc đến nỗi đôi khi quên mất mình làm việc là để làm gì.  Do vậy, náo động ồn ào cũng nhiều hơn.  Đôi khi quá mệt cũng đành thở vội một hơi để rồi tiếp tục công việc, tiếp tục cuộc sống, nếu không sẽ bị ‘tụt hậu’ so với nhịp sống hiện đại.  Có người chơi chữ cách hóm hỉnh: hiện đại nên hại điện, môi trường hiện đại ấy ngốn hết thời gian tâm trí con người.  Nhưng đâu phải ai cũng nghĩ thế.

Phải chăng do tính cách mỗi người?  Người thiên về hoạt động, ưa thích náo nhiệt thì cho đó là bình thường, thế mới là cuộc sống hiện đại, phải biết tranh thủ thời gian.  Người có đầu óc trầm tư suy tưởng, thích nhẹ nhàng trầm lắng thì cho đó là xô bồ ồn ào.  Thế nhưng, dù thích hoạt náo, dù ưa trầm lặng, ai rồi cũng có lúc thấy mình bị cuốn sâu vào vòng xoáy của môi trường sống hiện đại quá náo nhiệt, vội vã ấy, để rồi có lúc chợt nhận thấy mình bị mất hút trong cơn lốc công việc, cơn lốc thị trường sản xuất và tiêu thụ.  Đến lúc nhận ra thì đã bị cuốn vào quá sâu và quá lâu; mệt nhoài, kiệt quệ, quay trở ra còn tốn công tốn sức hơn, thôi thì “đành theo lao” vậy!  Điều gì khiến họ lâm vào tình cảnh ấy?

Phải chăng họ thiếu những giây phút tĩnh lặng?  Tĩnh lặng đủ để biết mình cần giành thời gian cho những mối tương quan thân tình với con người, với bạn bè, tĩnh lặng đủ để hiện diện cùng người thân, tĩnh lặng đủ để đối diện với chính mình, với cõi lòng của mình.  Tĩnh lặng đủ để nhận ra mình đã hành xử thế nào trong các tương quan, để biết mình đã ưu tiên điều gì trong các chọn lựa, và để thấy đâu là ý nghĩa đích thực của những gì mình đang nỗ lực thực hiện hầu mong mang lại cho đời sống của bản thân, gia đình, người thân, bạn hữu sự ấm êm hạnh phúc.

Nếu bạn thấy nhịp sống của mình quá vội vã, đây là lúc bạn cần giây phút tĩnh lặng; nếu bạn chưa nhận thấy mình đang sống ra sao, hơn lúc nào hết bạn cần giây phút tĩnh lặng để nhìn biết mình đang sống thế nào.  Vì lẽ đó, tĩnh lặng là cần thiết và ích lợi cho đời sống.

Chẳng ai có thể bắt bạn tĩnh lặng được, cũng như bạn chẳng thể tĩnh lặng nếu bạn không muốn, và đôi khi dẫu rất muốn bạn cũng chẳng thể tĩnh lặng.  Vì lẽ đó, tĩnh lặng là một quà tặng.

Thế nhưng, dù bạn có muốn nhận nhưng không được trao, bạn cũng chẳng thể nhận được; trái lại, dù người trao muốn trao nhưng bạn không muốn nhận, bạn cũng chẳng có.  Vì lẽ đó, hãy nhận khi được trao và hãy biết xin để được trao và bạn có thể nhận được.

Bạn đã nhận được món quà tĩnh lặng chưa?  Nếu chưa, vậy hãy mau mắn xin đi.  Nếu đã xin mà vẫn chưa có, hãy mở lòng ra để đón nhận.  Mở lòng bằng cách hãy giành một vài phút giây mỗi ngày để tĩnh lặng, nhìn lại ngày sống của mình, xét xem những gì bạn đã nghĩ, đã nói và đã làm có thực sự mang lại ý nghĩa cho đời sống của bạn, của người thân, bạn bè.  Chúc bạn có được những giây phút tĩnh lặng đủ để giúp bạn nhận ra đâu là ý nghĩa của việc mình đang làm, cách mình đang sống và đâu thực sự là hạnh phúc của đời mình.  Chúc bạn gặp được cơ hội để nhận ra ý nghĩa và giá trị đích thực của lối suy nghĩ và cách hành động của mình, như người đàn ông trong câu chuyện trên.

Vinh Sơn Phạm Văn Đoàn, S.J.

http://dongten.net

Hoa Tím Bằng Lăng

Hoa Tím Bằng Lăng

Nguyễn Duy-An

Vì chiều cao “rất khiêm tốn” của mình, tôi cứ phải loay hoay điều
chỉnh cái máy video cầm tay, cố gắng thâu lại hình ảnh của Tuân đang
từ từ bước lên khán đài nhận bằng kỹ sư để mai mốt mang về Việt Nam
“vinh quy bái tổ”. Tuân là đứa con “rất đặc biệt” của chúng tôi. Vợ
chồng tôi mới cưới nhau được 10 năm nhưng Tuân năm nay vừa tròn 22
tuổi! Gia đình bên vợ và người ngoài cứ nghĩ nó là con riêng của tôi
mang theo từ Việt Nam; và chúng tôi nghĩ Tuân cũng tin như thế, vì mỗi
lần gọi điện thoại về Việt Nam nó vẫn gọi mẹ tôi là bà nội.

Tuy nhiên, Tuân vẫn một lòng kính trọng Oanh như mẹ ruột, và vợ tôi cũng rất thương yêu và lo lắng cho nó ngay cả trước khi chúng tôi nên vợ thành chồng.
Sau bao nhiêu lần thử nghiệm và biết chắc chắn tôi không thể có con;
thay vì buồn phiền, Oanh lại săn sóc cha con tôi nhiều hơn. Đã mấy
tháng nay nàng chạy ngược chạy xuôi lo thu tục giấy tờ để tuần sau
chúng tôi về Việt Nam nhận một đứa cháu gái của tôi làm con nuôi. Ngày
nhận được kết quả thử nghiệm xác định tôi không thể có con, Oanh đã âu
yếm nhìn tôi thỏ thẻ: “Ngay từ đầu em vẫn tin anh. Em không buồn đâu
anh ạ! Em chấp nhận số phận, nhất là chúng mình đã có Tuân… Tuy
nhiên, em nghĩ chúng mình cũng nên nhận thêm một đứa con nuôi cho vui
cửa vui nhà. Nếu anh đồng ý, em sẽ lo giấy tờ để chúng mình nhận một
đứa con của chú Khang làm con nuôi. Mình nuôi cháu vẫn tốt hơn…” Đó
là lý do Oanh sắp xếp để ngay sau khi Tuân ra trường, chúng tôi sẽ về
Việt Nam thăm gia đình và nhất là đưa Tuân về thăm lại mộ Trang, người
mẹ ruột của Tuân đã ra đi trong tủi nhục ngày nó mới được 3 tháng
tuổi, và Tuân trở thành “con trai” của tôi từ hơn hai mươi năm về
trước tại Bình Giả, Việt Nam.

o0o

Ngày đó tôi cũng khoảng tuổi của Tuân bây giờ… Tôi trở về Bình Giả
năm 1979, sau mấy năm gồng mình cầm cự với nghề “gõ đầu trẻ” tại một
trường tiểu học ở vùng kinh tế mới thuộc tỉnh Sông Bé. Tôi thương đám học trò nghèo đói nhiều lắm nhưng chính tôi cũng không chịu nổi cảnh
đói nghèo vì lương không đủ ăn nên đành phải bỏ trường về quê ăn bám
gia đình sống qua ngày. Sau mấy năm vừa dạy học, vừa làm rẫy sống lây
lất qua ngày, sức tôi đã kiệt quệ! Tôi đã “cắt hộ khẩu” ở trường cũ,
nhưng không xin “nhập hộ khẩu” tại Bình Giả vì tôi trở về với ý định
tìm đường vượt biên. Đã mấy năm rồi, bà con trong làng ai cũng biết
tôi đi dạy học ở vùng “Kinh Tế Mới”, và thỉnh thoảng vẫn về quê thăm
cha mẹ cũng như xin thêm gạo, bắp… nên không ai thắc mắc hay hỏi han
giấy tờ tạm trú. Mùa mưa năm đó, ngoài việc chuẩn bị dầu nhớt cho
chuyến vượt biên chung với một số bạn bè ngoài Láng Cát, tôi vẫn theo
các em làm rẫy, làm ruộng, và nhất là vào rừng kiếm măng tre. Trong
một dịp mò mẫm giữa rừng tre, tôi đã gặp lại anh Thành, một người trốn
trại cải tạo, đang lẩn trốn trong rừng để tìm cách liên lạc với người
vợ mới cưới được mấy tuần trước ngày anh đi học tập. Hôm đó trời trở
cơn giông đột ngột, tôi chạy vội tới một gốc cây bằng lăng để trú mưa
vì lúc đi rừng tôi quên không mang theo áo mưa. Lúc tới được gốc “cây
cổ thụ”, tôi đã “hồn vía lên mây” khi nghe tiếng gọi tên mình vọng
xuống từ ngọn cây:

– Toàn. Toàn phải không?

Tôi ngơ ngác kiếm tìm xem ai đã gọi mình, nhưng trời đã tối mịt vì cơn
mưa trong rừng nên chẳng thấy gì. Tôi sợ quá, đang định chạy trốn thì
một sợi giây thòng xuống từ một cành bằng lăng rậm rạp phía trên
đầu… Một bóng người trùm kín trong chiếc áo mưa cũ kỹ, vừa tuột
xuống vừa lên tiếng:

– Mình đây. Thành đây.

Anh Thành đã xuống đất. Tôi đứng chết sững ngó đăm đăm người “đàn anh”
nổi tiếng đẹp trai và hào hùng của mấy năm về trước, bây giờ ốm yếu da
bọc xương, đen đủi hốc hác đang run cầm cập vì đói và rét. Tôi ngập
ngừng:

– Trời ơi! Đúng là anh Thành đây mà. Sao anh ra nông nỗi này?

– Mình trốn trại cải tạo về đây đã mấy tuần rồi nhưng không dám về nhà
vì sợ bị bắt lại. Trời xui đất khiến cho mình gặp được Toàn ở đây.
Đúng là số mình chưa chết.

– Anh đừng nói gở. Bây giờ anh tính sao?

– Toàn có gì ăn không? Hơn hai tuần nay mình…

Tôi chỉ định đi kiếm măng vài tiếng đồng hồ nên chẳng mang theo gì
ngoài con dao cán dài để đào măng. Cũng may trong túi còn gói thuốc lá
và mấy miếng kẹo cao-su (chewing gum). Sau khi kể cho tôi nghe sơ qua
về cuộc đào thoát từ trại cải tạo, anh bẻ một cành hoa bằng lăng mầu
tím, khắc một dấu hiệu đặc biệt lên đó và nhờ tôi mang về cho Trang,
vợ anh, đang ở với cha mẹ chồng trên Xuân Mỹ, Làng Ba. Tôi vội vàng
trở về, hẹn hôm sau sẽ dẫn người nhà của anh vô rừng sớm. Thấy tôi trở
về với một cành hoa bằng lăng mầu tím, mẹ và em gái tôi ngạc nhiên
lắm, nhưng tôi cũng chẳng giải thích. Tôi dò hỏi đứa em gái về Trang,
vợ của anh Thành. Lúc đó tôi mới biết chuyện anh Thành trở về Bình Giả
sau năm 1975 với một cô gái người miền Nam, bổn đạo mới. Gia đình anh
Thành không chấp nhận nhưng cũng đành xin cha xứ làm phép cưới cho hai
người mấy tuần trước ngày anh ấy lên đường đi “học tập”. Năm đó Trang
mới 17 tuổi, nhưng vì loạn lạc, gia đình chẳng còn ai nên đã theo
người yêu là anh Thành trở về Bình Giả. Niềm vui chưa trọn vẹn thì
hoàn cảnh ngang trái đã chia cách đôi vợ chồng trẻ hơn bốn năm nay.
Trang ở với gia đình cha mẹ chồng như một chiếc bóng cô đơn bên đường,
mòn mỏi đợi chờ ngày chồng trở lại!

Tôi mang cành hoa bằng lăng mầu tím lên Xuân Mỹ tìm nhà anh Thành. Hai
bác tỏ vẻ khó chịu khi tôi hỏi thăm và muốn gặp Trang. Về sau tôi mới
hiểu là ở Bình Giả đâu có ai mang hoa tới nhà cho con gái; hơn nữa,
nàng lại là một người con gái đã có chồng! Từ nhà bếp đi lên, nhìn
thấy tôi cầm cành hoa bằng lăng mầu tím trong tay, nàng đứng sững sờ
nhìn tôi, miệng ấp úng nói không nên lời. Tôi vội vàng lên tiếng:

– Có người nhờ tôi trao cành hoa này cho Trang. Có dấu hiệu khắc trên đó.

Trang cầm cành hoa rồi bật khóc nức nở:

– Trời ơi! Anh Thành! Anh đã gặp anh Thành…

Bác gái vừa đỡ Trang ngồi xuống bên cạnh, vừa dồn dập hỏi tôi:

– Cậu Toàn gặp thằng Thành nhà tôi ở mô rứa? Công an đang truy nã nó
mấy tuần nay. Trang nín đi con. Tai vách mạch rừng. Chết! Chết cả nhà
bây giờ! Ngày nào cũng có người tới nhà hạch hỏi về nó. Ông đóng cửa
lại mau đi. Khổ thân con tôi!

Tôi thầm thì kể lại cuộc gặp gỡ anh Thành trong rừng hồi chiều cho hai
bác và Trang nghe. Cuối cùng cả nhà quyết định sẽ chuẩn bị một số thức
ăn và thuốc men rồi tờ mờ sáng hôm sau Trang xuống nhà tôi đi vào rừng
tìm gặp anh Thành. Nếu có ai hỏi thì nói là gia đình tôi thuê nàng đi
làm cỏ lúa ở Đồng Tròn. Bác trai cũng muốn đi theo nhưng không dám vì
sợ hôm sau công an lại tới nhà làm việc.

Suốt một tuần liền, ngày nào Trang cũng “đi làm thuê” cho tôi để vào
rừng gặp gỡ anh Thành. Cám cảnh trước hoàn cảnh hiện tại, sau mấy ngày
bàn bạc cùng gia đình, tôi đã quyết định nhường chỗ trên ghe cho anh
Thành. Chúng tôi cũng sắp xếp cho anh Thành theo xe bò của một người
quen ở Hòa Long đi lấy cọc tiêu để tránh gặp gỡ những người quen, rồi
tôi đón anh ấy ra Long Hương “ở nhờ” nhà một người bạn thân của tôi để
chờ ngày ra đi. Hơn hai tháng trời, tôi và Trang trở thành những người
đi buôn chuyến. Thực ra, tôi chỉ chở Trang ra Long Hương gặp chồng, có
khi ở đó một hai ngày trong lúc tôi đi Hố Nai, Gia Kiệm… lo việc
riêng. Người trong làng đã bắt đầu đồn đãi về việc tôi và Trang đi
buôn chung với nhau, nhất là còn đi qua đêm nữa! Mẹ tôi buồn lắm! Mặc
dầu tin tôi, nhưng “lời ong tiếng ve” đồn thổi nhiều chuyện ly kỳ hấp
dẫn về chúng tôi nên bà rất khổ tâm. Cha mẹ của anh Thành có vẻ bình
tĩnh hơn vì nghĩ rằng những lời đồn đãi đó sẽ làm người ta quên dần
chuyện anh Thành trốn trại cải tạo. Tôi vẫn xem Trang như một người
bạn thân vì tôi cũng chỉ hơn nàng một tuổi, còn anh Thành thì xem tôi
như một đứa em ruột, “một vị cứu tinh” đã dám liều mình cưu mang và
giúp đỡ anh trong cơn hoạn nạn.

Anh Thành và một số bạn bè của tôi đã ra đi đột ngột trước ngày dự
tính vì công việc “bến bãi” bị đổ bể. Sau một tuần không thấy tin tức
gì về chiếc ghe đó, chúng tôi yên chí anh Thành đã ra khơi bằng yên.
Tôi lại theo bạn bè tìm cách mua lại một chiếc ghe cũ ở Cần Giờ, đút
lót xin giấy tờ tạm trú và bắt đầu công việc sửa chữa chuẩn bị một
chuyến đi mới. Công việc bề bộn nên gần ba tháng sau tôi mới trở về
thăm gia đình. Mẹ tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của
Trang. Nàng đã có thai, bụng càng ngày càng lớn. Anh Thành coi như mất
tích vì không có tin tức gì. Bà con trong họ chất vấn nàng nhiều lần
về đứa bé trong bụng. Lúc đầu cha mẹ anh Thành tin Trang, nhưng không
biết làm sao để giải thích. Mọi người đổ tiếng xấu cho tôi và nàng.
Dần dà cả gia đình nhà chồng cũng tin lời đồn đãi của thiên hạ, nhất
là chờ mãi không thấy tin tức gì của anh Thành nên bắt đầu hạch hỏi và
coi khinh nàng. Hai bác đã xuống nhà nói chuyện với mẹ tôi, có vẻ
trách móc và đặt vấn đề tại sao chính tôi cũng trốn biệt từ mấy tháng
nay. Mẹ tôi chỉ biết ngồi khóc vì tủi nhục! Em gái tôi cũng nửa tin
nửa ngờ nên đã tìm gặp Trang để hỏi cho ra lẽ. Nó tin lời giải thích
của Trang nên càng ngày càng thân với nàng.

Tuổi trẻ bồng bột và nhiều tự ái nên tôi đã lên gặp cha mẹ anh Thành
đôi co và cãi vã với cả gia đình và giòng họ anh ấy để bênh vực cho
Trang, nhưng rồi mọi người lại càng khinh bỉ và ghét bỏ Trang nhiều
hơn trước. Quá tủi nhục và hổ thẹn, Trang đã liều mình tự tử! Cũng may
người nhà phát giác kịp thời và cứu chữa cho nàng và bào thai trong
bụng. Mặc dầu được cứu sống nhưng Trang trở nên lầm lì ít nói, sống
vật vờ như một cái xác không hồn giữa sự khinh ghét của giòng họ nhà
chồng.

Lúc bấy giờ em gái tôi cũng mới mang thai nên đã bàn với mẹ xin cho
Trang về ở chung cho đỡ buồn và cùng đỡ đần giúp đỡ nhau trong lúc bầu
bì cho có chị có em. Chính vì lòng tốt của em gái tôi mà cả làng đều
nghĩ đứa con trong bụng Trang là của tôi. Mỗi lần tôi về thăm, Trang
khóc nức nở không phải vì nỗi tủi nhục khi bị mọi người phỉ báng,
nhưng nàng khóc vì đã làm hại danh dự của gia đình tôi. Lại một lần
nữa, mẹ tôi gọi hai đứa lên hỏi han ngọn nguồn, và khi nghe chúng tôi
thề thốt không hề có tà ý với nhau, mẹ tôi đã “ngồi xổm trên dư luận”
để nhận Trang làm con tinh thần trong khi mọi người nghĩ rằng mẹ tôi
làm thế để tránh tiếng vì bà đã biết chắc chắn bào thai trong bụng
Trang là cháu nội của bà. Mẹ tôi âm thầm ngậm đắng nuốt cay để an ủi
vỗ về Trang, mong cứu vớt một linh hồn vì mẹ tôi sợ rằng Trang lại
liều mình tự tử như mấy tháng trước. Ôi! Mẹ đã hy sinh chịu nhục vì
con và vì thương một người côi cút trong cơn hoạn nạn. Con xin cúi đầu
bái phục lòng can đảm của mẹ cho đến trọn đời.

Trước ngày ra đi, tôi đã trở về để từ giã gia đình. Ngay khi biết tin
tôi sắp sửa ra đi, Trang đã khóc nức nở và chuyển bụng sinh con. Vì
bao nhiêu biến cố xẩy ra dồn dập suốt thời kỳ mang thai, Trang đã trải
qua một đêm dài đau đớn, quằn quại đến kiệt sức nên y tá trong làng đề
nghị phải đưa nàng đi cấp cứu ở bệnh viện để mổ. Đáng lẽ sáng hôm sau
tôi phải trở lại Cần Giờ để chuẩn bị ra đi, nhưng tôi đi không đành
nên đã lỡ một “chuyến đò”. Tôi theo mẹ và Trang ra bệnh viện. Trong
lúc làm thủ tục giấy tờ trước khi đưa Trang lên bàn mổ, người ta đòi
phải có thân nhân ký tên trong giấy tờ nên tôi đã đứng ra lo liệu…
Cũng có thể vì lầm lẫn, và cũng có thể do số phận an bài nên các bác
sĩ và y tá đã ghi tên tôi là “chồng” của Trang trong hồ sơ bệnh lý. Đó
là lý do tại sao Tuân trở thành con tôi! Khi nghe tin Trang đi mổ, cha
mẹ anh Thành cũng ghé thăm và xin lỗi mẹ tôi vì những hiểu lầm trước
đây. Mẹ tôi cũng không chấp nhất gì nên mọi người đều vui vẻ.

Sau hai tuần Trang được xuất viện, trở về nhà với mẹ tôi. Mẹ tôi bàn
qua với hai bác việc lên cha xin rửa tội cho cháu, và chính tờ giấy
bệnh viện ghi tên tôi là cha đứa nhỏ đã gây nên sóng gió ồn ào cả xứ
đạo. Cha xứ lắng nghe, nhưng Ban Hành Giáo và bà con trong họ anh
Thành quyết liệt phản đối. Họ đến nhà hạch hỏi mẹ tôi đủ điều. Tuổi
trẻ háo thắng nên tôi đã nổi nóng đuổi hết mọi người và quyết định
chẳng thèm xin rửa tội cho Tuân nữa! Tôi chỉ muốn mọi người để cho
chúng tôi yên nhưng miệng người không phải dễ “khóa”! Tôi ngang tàng
chấp nhận sự dèm pha của mọi người và cứ hiên ngang ngẩng đầu tiếp tục
chạy mánh tìm ghe lo chuyện vượt biên lần nữa. Lần này tôi quyết định
sẽ đưa mẹ con Trang cùng đi.

Tôi có thể “đạp dư luận xuống bùn đen” để sống, nhưng Trang phải âm
thầm than khóc từng đêm, nức nở đè nén “nỗi oan Thị Kính” từng giờ
từng phút nên đã bị băng huyết cho đến chết, và chết trong tủi nhục
vào một đêm tôi vắng nhà! Tôi trở về nhìn xác Trang nằm im bất động mà
thấy lòng muốn nổi loạn. Tôi biết chắc chắn những phút cuối đời Trang
đã phải quằn quại trong đớn đau tủi nhục! Tôi đã thực sự thù ghét mọi
người trong xứ khi biết tin “người ta” không muốn cho tôi chôn Trang ở
nghĩa trang giáo xứ vì bà con trong làng nghĩ rằng Trang đã tự tử! Tôi
không hiểu tại sao cả xứ lại lên án và “trừng phạt” thân xác một người
đã chết trong khi hằng tuần ở nhà thờ vẫn đọc kinh “Thương Người Có 14
Mối, Thương Xác 7 Mối”, trong đó có ghi rõ việc “chôn xác kẻ chết!”
Đâu có ai hiểu được nỗi đau đớn và tủi nhục đã gặm nhấm tim gan Trang
từng giây từng phút vì bị cả làng, cả xứ kết tội oan ức, và nhất là sự
dằn vặt nàng phải gánh chịu vì đã “gieo họa” cho gia đình tôi! Đâu có
ai ở gần kề bên Trang trong những giây phút cuối đời của nàng để “kết
án” nàng đã “liều mình tự tử”!!! Mẹ tôi muốn lên xin cha xứ giúp đỡ
nhưng tôi đã điên lên phản đối. Tôi nhờ bạn bè ở xa về đào huyệt chôn
Trang trong một góc rẫy của gia đình tôi ở mép rừng. Tôi đã bỏ xưng
tội, bỏ lễ cả mấy năm trời vì lòng thù hận vẫn chưa nguôi! Đã nhiều
đêm tôi gục đầu dưới tượng chịu nạn van xin lòng nhân từ hay thương
xót của Chúa thay đổi trái tim “thù hận” của tôi, và tôi cũng xin Ngài
thương tha cho những người đã kết tội “oan” cho chúng tôi! Tôi chỉ
thật sự trở về với Chúa như “một con chiên lạc” mấy tuần trước ngày
vượt biên…

Cháu Tuân tuy mồ côi mẹ nhưng được bú nhờ sữa của em gái tôi cũng mới
sinh được vài tháng nên cháu vẫn lớn lên theo ngày tháng trong tình
thương yêu đùm bọc của gia đình tôi. Tôi vẫn đi đi, về về tìm mối làm
ghe vượt biển. Những hôm ở nhà, thỉnh thoảng tôi bế Tuân ra rẫy, đến
ngồi bên mộ Trang khấn nguyện. Công việc làm ghe càng ngày càng khó
khăn nên mãi 4 năm sau tôi mới thành công. Trước khi lên đường, tôi đã
vô rừng tìm kiếm và đào được một cây bằng lăng nhỏ đem trồng bên mộ
Trang để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ Tuân đã chạy nhanh, nói sõi và lúc
nào cũng quấn quít bên tôi những ngày tôi về quê.

Cuối cùng tôi quyết định sẽ dẫn Tuân cùng đi mặc dầu mẹ tôi can ngăn
nhiều lần. Tôi đã đi và tôi đã đến. Chính nhờ sự liều lĩnh của tôi mà
Tuân có được ngày hôm nay. Tôi hãnh diện vì sự thành đạt của Tuân. Tôi
mang ơn Oanh vì nàng đã tận tình yêu thương săn sóc “cha con” tôi từ
bao nhiêu năm qua. Nếu không có tình yêu và lòng vị tha thông cảm của
Oanh, tôi đã ngã quỵ trong cô đơn nơi xứ lạ quê người, và Tuân lại một
lần nữa thành trẻ “mồ côi”!

Nhìn hình ảnh Tuân hiên ngang bước lên khán đài, tôi cảm động rưng
rưng nước mắt. Tôi không khóc khi Trang chết. Tôi không khóc khi phải
chôn nàng ở mép rừng thay vì chôn ở nghĩa trang của giáo xứ. Tôi không
khóc khi từ giã mẹ già và gia đình ra đi, nhưng giờ này tôi khóc vì
biết chắc chắn Tuân đã trưởng thành, và mấy ngày nữa sẽ về thăm mộ mẹ
đang nằm cô đơn hiu quạnh dưới gốc cây bằng lăng “cha con tôi” đã
trồng trước ngày “biệt xứ”.

o0o

Oanh đứng nép sát vào người tôi, run run cảm động nhìn Tuân đốt
hương cắm lên mộ Trang rồi quỳ xuống gục mặt khóc thật to. Tôi dìu
Oanh đến cạnh gốc cây bằng lăng đã bị đốn từ mấy năm trước, chỉ còn
một số chồi non mới lên được vài mét. Tôi kinh ngạc khi khám phá ra
một cành bằng lăng mới chớm vài nụ hoa mầu tím. Tôi với tay bẻ rồi
cùng Oanh đến quỳ bên cạnh Tuân, nhẹ nhàng đặt cành hoa mầu tím trên
ngôi mộ của Trang. Tuân ngẩng mặt lên nhìn hai chúng tôi khẽ nói: |  |

– Con biết mẹ con đang mỉm cười bên kia thế giới. Con xin thay mặt cha
mẹ quỳ lạy ba má đã nuôi con nên người.

Tuân nhẹ nhàng trao cho tôi tờ giấy thử nghiệm mẫu DNA xác định nó và
tôi không phải “cha con”!

Nguyễn Duy-An

Văn hóa giáo dục Việt Cộng dạy con người tàn ác, mất nhân tính

Văn hóa giáo dục Việt Cộng dạy con người tàn ác, mất nhân tính

Giáo Già (Danlambao)Văn hóa giáo dục Việt Cộng sau thời gian quá dài của 40 năm lộng hành nhồi sọ, “dạy con người tàn ác, mất nhơn tính”, đang bị một học sinh 14 tuổi cho là “cải lùi”, để tuổi trẻ và thế hệ thứ 3 dũng cảm bước lên làm lịch sử “cải tiến”…, để tới lúc, dù có thể là rất lâu, một tỷ lệ cao hơn học sinh Việt Nam có thể công khai, lớn tiếng chỉ trích Bộ Giáo dục và bất kỳ cơ quan nhà nước nào làm ăn tồi tệ…, để cái chính quyền gian ác, bất tài, thất đức… hiện nay bị đẩy lùi vào chỗ dơ bẩn nhứt của lịch sử.

*

Trong bài viết “Tại Sao Họ Lại Hung Ác Đến Vậy”, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc [xem hình], trên blog của đài VOA, ngày 25/8/2015, cho biết (xin trích nguyên văn):

Tối ngày 8 tháng 8 vừa qua, trong một quán karaoke ở Hải Phòng, nghĩ là anh Nguyễn Tuấn Định nhìn “đểu” mình, một số thanh niên dùng tuýp sắt đánh anh đến bị chấn thương sọ não, phải chở vào bệnh viện cấp cứu. Chưa đã cơn giận, các thanh niên này còn chạy đến bệnh viện dùng dao chém chết anh Định ngay trên băng-ca lúc chờ bác sĩ khám và chữa.

Mấy ngày sau, ở Bến Tre, Huỳnh Văn Phương và Lê Văn Tèo, cả hai đều 35 tuổi, đi xe gắn máy, bị đụng quẹt vào xe của anh Phạm Văn Phường, 25 tuổi. Phương và Tèo nhào xuống đánh anh Phường. Chưa đủ, Phương và Tèo chạy vào một căn nhà dọc đường lấy dao ra cắt cổ anh Phường. Nạn nhân chết ngay tại chỗ.

Ra đường thì thế; ở nhà có an toàn hơn không? Không. Cũng trong mấy tháng vừa qua, ở Việt Nam xảy ra mấy vụ giết người, ở đó, cả gia đình đều bị giết.

Như vụ giết người tại Nghệ An, chẳng hạn. Vy Văn Mằn vào vườn của anh Lô Văn Thọ hái trộm mấy trái chanh, bị anh Thọ bắt gặp. Hai người cãi vã nhau. Mằn nhào đến đánh anh Thọ. Chưa đủ. Mằn chụp con dao chém liên tục vào đầu anh Thọ khiến anh Thọ chết tại chỗ. Vợ anh Thọ, chị Lê Thị Yến thấy vậy sợ hãi ôm con chạy trốn. Mằn rượt theo. Gặp bà Chương, mẹ anh Thọ, Mằn chém chết; sau đó, chém chị Yến và cả đứa con chị địu trên lưng, mới một tuổi. Như vậy, chỉ vì mấy trái chanh, Vy Văn Mằn giết cả gia đình anh Lô Văn Thọ, kể cả một em bé sơ sinh.

Vụ giết người ở Nghệ An xảy ra chưa bao lâu thì đến vụ giết người cũng tàn độc không kém ở Bình Phước. Nguyễn Hải Dương, 24 tuổi, bị gia đình người yêu phản đối, bèn rủ bạn đến nhà người yêu cũ, giết sáu người trong gia đình, kể cả người mình từng yêu. Chỉ có một em bé chưa tới hai tuổi là được tha mạng.

Rồi xảy ra vụ án ở Yên Bái. Vì một sự tranh chấp nhỏ trên mảnh đất làm nương, Đặng Văn Hùng, 26 tuổi, xô xát với anh Trần Đức Long. Bị đánh, Anh Long bỏ chạy, Hùng rượt theo, chém tới tấp vào đầu vào cổ anh Long nhiều nhát. Chị Hoa, vợ anh Long, bỏ chạy. Hùng rượt theo, chém chị chết. Chưa hết. Hùng chạy vào nhà anh Long, chém chết em vợ anh Long. Cũng chưa hết. Thấy con trai anh Long, mới hai tuổi, đang đứng trên giường, Hùng “tiện tay” nhào đến chém mấy nhát khiến bé chết ngay tại chỗ.

Sau đó Giáo sư Quốc viết thêm: “Ở trường học, chỉ cần một chút xích mích, học sinh, kể cả học sinh nữ, ẩu đả và hành hạ nhau trước cái nhìn dửng dưng của các học sinh khác”.

Đi tìm nguyên nhơn của sự tàn ác mất nhơn tính đó, không tìm đâu xa, chỉ nhìn từ 40 năm trở lại đây, kể từ ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, ngày 30-4-1975, hẳn ai cũng thấy việc VC giáo dục con trẻ như thế nào, và văn hóa VC thể hiện trong các tác phẩm văn chương như thế nào.

Xin nói qua một chút về chuyện giáo dục. Ở nhà trường, VC đã dạy tuổi thơ tinh thần gian ác ngay từ khi con trẻ vào lớp 1 bậc tiểu học. Trong quyển giáo khoa lớp 1, khi dạy toán cộng chúng đã dùng xác người để dạy học trò: “5 tên ngụy + 2 tên đế quốc bị bắn chết = 7”. Chỉ với bài toán cộng này mọi người nhận ra tính cách tàn bạo của nền giáo dục VC trong mục đích “dùng giáo dục học đường trang bị cho trái tim và khối óc tuổi thơ lên 5 lên 6 chuyện giết người”. Chúng đã nhồi sọ tuổi thơ; dạy tuổi thơ dửng dưng với chuyện giết người.

Trong khi trước đó, ở các lớp học của Việt Nam Cộng Hòa, cô giáo thường cho học sinh làm toán, đại khái như: Bà bán hàng mua 1 con gà $4 và 1 con vịt $3; tổng cộng là 3$+$4=$7; bà đem ra chợ bán, 1 con gà $5 và 1 con vịt $4; tổng cộng là $5+$4 = $9; nhờ đó bà lời được $9-$7 = $2. Nhìn qua bài toán này VC kết luận: “Bà bán hàng tượng trưng cho tư bản, chúng đã bóc lột của nhân dân $2”.

Để rồi từ đó, dạy tuổi thơ căm thù tư bản, căm thù những kẻ đã bóc lột nhân dân, làm cho nhân dân nghèo đói, khiến tuổi thơ ủng hộ cuộc “cách mạng giải phóng nhân dân khỏi bàn tay bóc lột của tư bản, khỏi cảnh nghèo đói, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu đẹp”.

Chưa hết, chính Đinh Thế Huynh (sinh năm 1953, quê Nam Định), Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI; từng là Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam; lúc còn là một kẻ viết văn, trong bài viết “Trâu Cũng Đánh Mỹ”, được cho cô giáo dùng dạy học sinh trong lớp học, có nội dung được sao chụp lại đính kèm.

Trên lãnh vực giáo dục VC đã bịa chuyện để “nhồi sọ nhân dân” ngay từ lúc “nhân dân” còn quá nhỏ, chưa biết “đâu đúng, đâu sai”, chẳng những nghe cô giáo “dạy sao biết vậy”, lại còn hãnh diện về “kỳ tích” đánh Mỹ, giết Mỹ, của trâu; trâu còn biết giết Mỹ, sao em không biết giết Mỹ; trâu còn căm thù Mỹ, sao em không căm thù Mỹ. Trẻ thơ đâu biết “giết Mỹ” là “giết người” và “giết người” là “tàn ác”. Trẻ thơ bị nhồi sọ như vậy đó, khiến cho lớn lên con người mất hết nhơn tính, để rồi xem chuyện “giết người” là chuyện dửng dưng, không chút áy náy.

Bước sang lãnh vực văn học, sự tàn ác còn được thể hiện khủng khiếp hơn nữa. Xin kể qua một chút về kẻ được gọi là nhà văn Tạ Duy Anh, trong tác phẩm của mình ông này viết:

“… Quân ta ào lên, bắt giết, đâm, giẫm đạp. Một mụ nguỵ cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa tắt hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng nguỵ bị mình xọc lê vào bụng, nghe ‘thụt’ một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giãy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ.”

Không cần biết đó là chuyện có thật hay hư cấu, nhưng sự tàn ác của nó đã đến tận cùng của khủng khiếp. Chính cái tàn ác khủng khiếp đó đã tiêm nhiễm vào não trạng của bọn công an và côn đồ xã hội chủ nghĩa, khiến đâu đâu người ta ai cũng thấy sự tàn ác khủng khiếp của bọn cầm quyền xã hội chủ nghĩa, từ tên quản giáo trong các trại tù “cải tạo”, cho đến tên công an trên đường phố trấn áp người biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm đất nước, đàn áp dân oan khiếu kiện, hay ôn hòa bày tỏ nguyện vọng, đấu tranh cho nhân quyền, đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam…, hay nhẹ nhàng như đón chào người tù lương tâm mãn hạn tù.

Điển hình như cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua, ngày 28 tháng 8 năm 2015, đoàn người đón tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật mãn hạn tù trở về bị hành hung (xem hình 1); trong số này có ông Lê Đình Lượng bị đánh đập gây thương tích (hình 2), cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam cũng bị hành hung (hình 3), anh Chu Mạnh Sơn bị đánh đổ máu đầu (hình 4) [Nguồn ảnh: Fb Thúy nga/Trần Khắc Đạt]…

Nhìn lại 40 năm qua, trong thời gian đầu, sự nhồi sọ và bạo lực gian ác của kẻ cầm quyền xã hội chủ nghĩa có khiến người dân Miền Nam sợ hãi; nhưng sự gian dối càng lúc càng lộ liễu và sự sợ hãi cũng càng lúc càng phai lạt, nhứt là kể từ thế hệ thứ hai, ánh sáng “cởi mở” rọi vào các hóc hiểm của lòng tham và ngang ngược ngụy biện xã hội chủ nghĩa đã không còn như trước, người dân đã lần hồi “sáng mắt”. Họ không còn tin nghe những gì VC nói. Họ đã tận mắt thấy những gì VC làm.

Đến thế hệ thứ ba, nhờ cuộc “giao lưu” với hải ngoại; đặc biệt nhờ nếp sống hải ngoại và truyền thông quốc tế dễ dàng truyền vào quốc nội; nhứt là nhờ internet, sự bưng bít và lừa gạt dư luận của VC không còn bị hơn 700 tờ báo và các đài truyền thanh truyền hình nhà nước VC “bịp” được nữa.

Tuổi trẻ ngày nay, nhứt là các blogger, đã nhờ facebook, twitter… dũng cảm tiến lên “làm lịch sử”, vận động quốc tế cùng vạch mặt công an côn đồ lộng hành. Nhờ vậy, các nhà ngoại giao và báo chí thế giới ngày càng râm ran hơn về vai trò của công an và côn đồ trong nỗ lực bịt miệng người dân không chỉ bằng nhà giam mà còn bằng bạo lực đường phố [xem hình Ông Felix Schwarz, tham tán Chính trị và Nhân quyền đại sứ quán Đức đang thăm hỏi anh Nguyễn Chí Tuyến tại nhà riêng – hồi 10:45 ngày 12/05/2015].

Được biết, nói về chuyện “an ninh giả danh côn đồ đánh dân là hạ sách”, ngày 16-6-2015, phóng viên Hoà Ái của đài RFA cho biết [nguyên văn]: “Hiện ngày càng có nhiều các nhà hoạt động ở VN bị côn đồ tấn công và hành hung, điển hình là trường hợp anh Nguyễn Chí Tuyến và anh Đinh Quang Tuyến bị đánh hồi tháng 5 năm nay. Sau đây, Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với 2 anh Nguyễn Chí Tuyến và Đinh Quang Tuyến về những vụ việc liên quan” [Xem hình Anh Đinh Quang Tuyến (trái) và anh Nguyễn Chí Tuyến (phải) sau khi bị đánh hồi tháng 5 năm 2015].

Hòa Ái: Xin được chào 2 anh Nguyễn Chí Tuyến và anh Đinh Quang Tuyến. Câu hỏi trước tiên, xin được hỏi anh Nguyễn Chí Tuyến rằng có phải vụ việc anh bị côn đồ hành hung hồi đầu tháng 5 vừa qua là lần đầu tiên không, thưa anh?

Anh Nguyễn Chí Tuyến: Lần này coi như lần đầu tiên bị hành hung và bị tấn công nặng. Còn những lần trước thì họ sách nhiễu bằng cách bắt bớ và trong lúc đi biểu tình thì chúng tôi coi đấy là bình thường thôi. Nhưng lần này bị tấn công, bị hành hung thì khá nghiêm trọng vì có thể chưa đến mức lấy tính mạng của tôi, tuy nhiên nếu bị nặng hơn một chút thì tôi có thể bị mất trí nhớ hoặc là thành người bị mắt lòa. Cho nên tôi nghĩ rằng đây là lần nguy hiểm nhất đối với tôi, kể từ trước đến nay.

Hòa Ái: Thưa anh Đinh Quang Tuyến, từ khi bị đánh hôm 19/5 và anh nói là “công an mật vụ tấn công”, sau đó anh phải trải qua một cuộc giải phẩu để nâng sụn mũi, hiện nay sức khỏe của anh ra sao?

Anh Đinh Quang Tuyến: Sau khi bị đánh hôm 19, ngày 20,21,22 thì vào bệnh viện. Chiều 22 mổ, 8 giờ tối xong. Sau khi mổ thì đau. Đau đến sáng 23 thì đỡ hơn. May mắn là sau khi mổ không có biến chứng nào hết. Ngày 24 thì tôi cảm thấy khỏe, tháo băng ra được mặc dù bệnh viện kêu để 5 ngày. Uống thuốc chừng 3-4 ngày sau thì cảm thấy không đau nữa. May là rất mau lành…”

Đó là vài trường hợp điển hình, nó không khiến tuổi trẻ nao núng, sợ hãi, vì sau đó cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền của hai anh Tuyến và nhiều bạn trẻ khác vẫn tiếp tục. Nó còn được tiến hành trên bình diện rộng hơn nữa. Trong cuộc đấu tranh đòi “diễn biến”, về mặt giáo dục, nhiều người đã làm gương thực hiện những “diễn biến” cụ thể, như hợp soạn “sách giáo khoa” dùng cho giáo viên dạy và cho học sinh học ở trường, mà không chờ đợi Bộ Giáo Dục và nhà nước CSVN làm.

Thật vậy, trong bài viết được cho đăng trên đài VOA, ngày 14.08.2015, phóng viên Khánh An cho biết: Nhà giáo Phạm Toàn, người lập ra nhóm Cánh Buồm, nói rằng: “Với hơn 10 năm làm việc nghiêm túc, nhóm đã hoàn thành bộ Sách giáo khoa tiểu học và cho ra mắt bộ sách này hôm 12/8. Bộ sách có sự tham gia của nhiều soạn giả nổi tiếng và được thông qua một ban duyệt bản thảo gồm nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ. Nhóm đang bắt tay thực hiện bộ sách dành cho lớp 6 trở lên”.

Trong buổi hội thảo ra mắt “Sách Văn và Tiếng việt lớp 6” của nhóm Cánh Buồm hôm 12/8, đã bất ngờ gây thành tiếng vang sâu rộng trong dư luận. Nó cho biết, trong phần đặt câu hỏi, một học sinh lớp 8 tên Vũ Thạch Tường Minh, 14 tuổi, đã đứng lên phát biểu như sau [trích đoạn ghi âm được đăng tải lên mạng Youtube]: [Xem hình Vũ Thạch Tường Minh học sinh trường Hà Nội – Amsterdam đang phát biểu tại buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm. Ảnh và chú thích: RFA]

“Một điều mà con muốn nói với chính phủ Việt Nam, hay cụ thể hơn là Bộ Giáo dục, theo con, các vị bộ trưởng, thứ trưởng giáo dục không phải là nên áp dụng cả bộ sách này, mà là áp dụng cái lối giáo dục của bộ sách này vào giáo dục Việt Nam, bởi vì bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam, có thể theo đường lối của Cánh Buồm cũng được, các vị có thể thay cả bộ sách giáo khoa cũng được. Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy là thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Phát biểu thẳng thắn, không lập luận, không lý lẽ, của một cậu bé 14 tuổi này, đã gây thành trận “bão” dư luận. Video clip ghi âm cậu bé đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Nó được gần nửa triệu lượt người xem chỉ sau 4 ngày.

Từ một vài sự kiện cụ thể nêu trên, mọi người hẳn thấy những giọt máu trên đầu những nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ hóa Việt Nam…, như Nguyễn Chí Tuyến, Đinh Quang Tuyến…, sẽ là những giọt nước làm đầy cái “ly đấu tranh”, hoàn mãn cuộc đấu tranh, như Giáo Già từng nói, sau 40 năm trầm luân vì độc đảng độc tài Cộng sản “40 bước tới… bước”.

Cũng vậy, nền văn hóa giáo dục Việt Cộng sau thời gian quá dài của 40 năm lộng hành nhồi sọ, “dạy con người tàn ác, mất nhơn tính”, đang bị một học sinh 14 tuổi cho là “cải lùi”, để tuổi trẻ và thế hệ thứ 3 dũng cảm bước lên làm lịch sử “cải tiến”…, để tới lúc, dù có thể là rất lâu, một tỷ lệ cao hơn học sinh Việt Nam có thể công khai, lớn tiếng chỉ trích Bộ Giáo dục và bất kỳ cơ quan nhà nước nào làm ăn tồi tệ…, để cái chính quyền gian ác, bất tài, thất đức… hiện nay bị đẩy lùi vào chỗ dơ bẩn nhứt của lịch sử.

6/9/2015

Nạn nhân chiến tranh VN lên tiếng về bức ảnh bé trai Syria chết đuối

Nạn nhân chiến tranh VN lên tiếng về bức ảnh bé trai Syria chết đuối

Bà Kim Phúc và phóng viên Nick Út đứng trước bức ảnh 'em bé naplam'

Bà Kim Phúc và phóng viên Nick Út đứng trước bức ảnh ’em bé naplam’

LHQ: Khủng hoảng người tị nạn là ‘thời khắc định hình’ cho châu Âu

07.09.2015

Bà Kim Phúc, bé gái trong bức ảnh do nhiếp ảnh gia Nick Ut của hãng AP chụp năm 1972 vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, nói bà hy vọng cái chết của bé trai người Syria sẽ làm ‘cả thế giới thức tỉnh’.

Hãng tin CBC của Canada tường thuật rằng bà Kim Phúc phát biểu như vậy tại Winnipeg hôm qua, Chủ nhật, khi bà đến Nhà Thờ Baptit Grant Memorial để ký tên sách “Girl in the Picture – Cô gái trong bức Ảnh”.

Tại buổi sinh hoạt này, bà Kim Phúc nhắc tới tình cảnh hàng ngàn người tỵ nạn Syria và những hành động tội ác đã buộc họ phải rời bỏ quê hương ra đi tìm đường sống.

Từng là chủ đề của tấm ảnh được ’em bé napalm’ được thế giới biết đến, được cho là đã có tác động tới công luận quốc tế về chiến tranh Việt Nam, bà Kim Phúc nói tấm ảnh chụp xác của Alan Kurdi, cậu bé 3 tuổi người Syria, trôi giạt vào một bờ biển ở Thổ Nhĩ Kỳ, đã đặc biệt gây tiếng vang nơi bà, vì bà từng có kinh nghiệm về tác động mà những bức ảnh chụp các thảm hoạ có thể có đối với lịch sử.

Bà Kim Phúc chỉ mới 9 tuổi khi nhiếp ảnh gia Nick Ut chụp tấm ảnh một bé gái không quần áo với nét mặt kinh hoàng, vừa chạy vừa la hét sau khi bị bỏng bom Napalm trong chiến tranh Việt Nam năm 1972. Từ đó, Kim Phúc đã trở thành một biểu tượng sống của những thảm cảnh chiến tranh.

Nhiều sử gia cho rằng tấm ảnh của nhiếp ảnh gia Nick Ut, chụp 5 đứa trẻ Việt Nam chạy sau một cuộc tấn công bom napalm đã khơi dậy cho phong trào phản chiến. Tấm ảnh mang đã giúp Nick Ut đoạt Giải Pulitzer về ảnh phóng sự năm 1973.

Nghệ sĩ Ấn Độ Sudarsan Pattnaik tạo ra một tác phẩm trên cát ở bãi biển Puri miêu tả cậu bé chết đuối người Syria Alan Kurdi.

Nghệ sĩ Ấn Độ Sudarsan Pattnaik tạo ra một tác phẩm trên cát ở bãi biển Puri miêu tả cậu bé chết đuối người Syria Alan Kurdi.

Hãng tin CBC tường thuật về phản ứng của bà Kim Phúc khi xem bức ảnh của bé trai Syria nói rằng bà đã khóc rất nhiều khi xem tấm ảnh, và tự hỏi “tại sao lại có nhiều đứa trẻ vô tội phải chết như thế. Tôi hy vọng là bức ảnh này sẽ làm cả thế giới thức tỉnh.”

Nay định cư ở Canada, bà Phan Thị Kim Phúc góp tiếng cùng với nhiều tiếng nói khác, kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới hãy làm việc với nhau để giải quyết cuộc khủng hoảng tỵ nạn Syria.

Bà Kim Phúc nói bà hy vọng quê hương thứ hai của bà là Canada, và các nước khác trên khắp thế giới sẽ mở rộng vòng tay và mở cửa biên giới để đón nhận người tỵ nạn Syria.

Theo CBC, Thanh Nien.

Cơ quan hành chính không thể tước quyền hành nghề (*)

Cơ quan hành chính không thể tước quyền hành nghề (*)

Huy Đức

Việc anh Nguyen Thanh Son và chị Nguyen Thi Thao giới thiệu kinh nghiệm của BBC để tham khảo là rất cần thiết (theo anh, chị này thì BBC cấm phóng viên bày tỏ quan điểm chính trị trên mạng xã hội – Nga Pham, Giang Nguyen). Tuy nhiên, nếu bộ quy tắc ứng xử này mà áp dụng ở Việt Nam thì Bộ Thông tin phải… rút thẻ của hơn 20 nghìn nhà báo vì đã ủng hộ đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong một nền chính trị đa đảng, các báo muốn có người đọc, muốn người đọc tin là khách quan thì việc đầu tiên là phải tuyên bố phi đảng phái (cho dù báo Mỹ cũng có tờ ngầm ủng hộ Dân chủ, có tờ ngầm ủng hộ Cộng hòa). Nhưng so sánh báo chí Anh, Mỹ với báo chí Việt Nam thì cũng giống như so sánh một lít với một kilogram, so sánh hai số hạng không cùng đại lượng!

Tuy nhiên, nhầm lẫn hết sức tai hại ở đây là, các anh chị ấy đã chưa phân biệt được mối quan hệ giữa nhà nước – công dân với quan hệ “chủ – thợ”. Bộ quy tắc ứng xử của BBC và phóng viên là quan hệ hợp đồng lao động. BBC có thể “xử lý” một phóng viên bày tỏ quan điểm chính trị trên Twitter hay FB nhưng nếu chính phủ Anh mà “rút thẻ” (tước quyền hành nghề) một nhà báo nào đó chỉ vì họ bày tỏ quan điểm chính trị (có thể là trái với quan điểm của đảng cầm quyền) thì chính phủ đó sụp liền.

Thanh Niên có thể cách chức nhà báo Đỗ Hùng nếu trong hợp đồng lao động (hoặc bộ quy tắc ứng xử) có điều khoản cấm phóng viên… hài hước chính trị. Nhưng, Bộ Thông tin rút thẻ của nhà báo Đỗ Hùng thì lại là một sự lạm quyền. Trong một nhà nước (nếu có) pháp quyền thì một cơ quan hành chính không thể tước quyền hành nghề, cũng như tước quyền tự do ngôn luận (ghi trong Hiến pháp) của công dân (chỉ có tòa án mới có thể áp dụng hình phạt tước các quyền hành một số nghề với những công dân phạm một số tội nhất định nào đó).

Chúng ta có thể không đồng tình với cách viết của nhà báo Đỗ Hùng nhưng nếu chúng ta bào chữa cho quyết định của Bộ Thông tin thì có nghĩa là chúng ta đang bỏ phiếu cho một nhà nước không hiến pháp.

H. Đ.

Nguồn: FB Trương Huy San

Phố bỗng thành sông

Phố bỗng thành sông

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-09-07

Phố bỗng thành sông Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

620.jpg

Đường phố Biên Hòa ngập nước chỉ sau một trận mưa lớn

RFA photo

Your browser does not support the audio element.

Mưa trong vòng một giờ đồng hồ, phố bỗng biến thành sông. Mưa trong vòng một ngày, cả thành phố thành một biển nước. Mưa trong vòng một tuần, cả thành phố bị bế tắc, ngưng trệ vì nước ngập khắp lối… Chuyện này chỉ xảy ra trong thời gian gần đây, khi các con sông nổi giận và khi thành phố trở nên yếu đuối, oằn mình gánh chịu những công trình tốn tiền tỉ nhưng giá trị chỉ tính bằng xu. Những con sông đã thật sự nổi giận.

Sông Đồng Nai nổi giận

Ông Vũ, sống tại Cù Lao Phố, Biên Hòa, Đồng Nai, chia sẻ: “Mưa nó bắt đầu từ Rằm tháng Bảy cho đến tháng Mười, mỗi khi triều cường dâng thì nó ngập thôi. Nước dơ dáy lắm vì nước cống có bao nhiêu trồi lên đường bấy nhiêu mà!”.

Theo ông Vũ, chuyện thành phố Biên Hòa bị ngập nặng chỉ sau chưa đầy một giờ đồng hồ mưa lớn là chuyện chỉ mới có lần đầu. Trước đây thành phố này cũng từng bị ngập nhiều lần nhưng muốn Biên Hòa bị ngập, ít nhất phải mưa kéo dài vài giờ đồng hồ và mưa lớn chứ không như hiện tại.

Trận mưa vào lúc 13h chiều ngày 25 tháng Tám vừa qua chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ nhưng hầu hết các tuyến đường chính ở thành phố Biên Hòa bị biến thành sông. Và nước sông Đồng Nai cũng dâng cao một cách bất thường. Theo ông Vũ, chuyện này không phải tự dưng mà có, đó là hậu quả của việc đắp sông một cách vô ý thức của các doanh nghiệp.

Ông Vũ nói rằng với các doanh nghiệp vừa muốn mau làm giàu lại vừa không có hiểu biết về sông ngòi, chuyện chấp nhận bỏ ra một ít tiền để lấn sông, tạo thêm mặt bằng sản xuất là một cơ hội hái ra tiền. Nhưng với nhà nước, họ không được phép để xảy ra chuyện này. Vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng, không đôn giản chỉ là đắp sông và lấn sông như người ta tưởng.

Bởi với các con sông, dòng chảy, dòng đối lưu và dòng năng lượng thủy triều của bất kì một con sông nào đều phải đòi hỏi cả ngàn năm, thậm chí hàng chục ngàn năm để ổn định. Để tạo ra những vecto ổn định cho dòng chảy, dòng năng lượng như hiện tại, sông Đồng Nai đã từng có sự xê dịch qua lại hai bên bờ với biên độ có khi lên đến cả chục cây số. Sự xê dịch này diễn ra từ năm này qua năm nọ, kéo dài cả ngàn năm, thậm chí cả chục ngàn năm để tạo liên kết bờ, tạo vecto ổn định và tạo trầm tích đáy sông.

Một khi con sông đã đi vào ổn định, đương nhiên là sự ổn định tương đối, điều đó có nghĩa là quá trình xê dịch bờ của nó tạm ngưng trong một thời gian nào đó vì lưu lượng của nó đã phù hợp với liên kết bờ, liên kết đáy. Nhưng có vẻ như nhà nước cũng như doanh nghiệp không hiểu điều này nên mới cho móc hàng chục thủy điện ở thượng nguồn, dưới hạ lưu thì cho đào đắp vô tội vạ. Điều này một lần nữa khiến dòng chảy bị xáo động, vecto của sông cũng như dòng năng lượng thủy triều bị tác động mạnh.

400.jpg

Người dân vất vả di chuyển trên đường ngập nước. RFA photo

Và một lần nữa, sông phải gồng mình tạo ra dòng chảy mới cho phù hợp với địa hình mới sau khi con người đã tác động vào sông bằng cách đào đắp lung tung. Với sông là một sự gồng mình để chữa lành vết thương hai bên bờ. Nhưng với con người, đó là sự nổi giận, cuồng nộ của sông, nó có thể hất bất kì ngôi nhà nào bên bờ sông xuống dòng chảy cuồn cuộn trong một buổi sáng và thậm chỉ sau một trận mưa, nó có thể dâng lũ, xé toạc một bờ bao hoặc hất tung một con đường xuống nước.

Đây không phải là chuyện tưởng tượng mà là kinh nghiệm đáng sợ về sự nổi giận của nhiều con sông trên thế giới, đặc biệt là các con sông tại Việt Nam đã trở nên cuồng dữ, chảy xiết trong mùa mưa vài năm trở lại đây bởi nạn hút cát, đào đắp manh mún để nuôi cá hai bên bờ và xây dựng công trình, nhà cửa trên cơ thể sông.

Ông Vũ đưa ra kết luận, sông có sự sống và có linh hồn, sông sẽ là người bạn thiết và nên thơ của một thành phố, sông làm cho thành phố trở nên xanh mát, sạch sẽ, tươi đẹp. Nhưng đồng thời sông cũng có thể biến thành phố trở thành nơi bất an, nguy hiểm nếu như con người không biết đối xử tử tế với sông. Rất tiếc, những con sông tại Việt Nam hầu như là bị đối xử rất tệ!

Ăn của rừng và ăn của sông

Một cư dân Biên Hòa, Đồng Nai tên Khái, chia sẻ thêm: “Ví dụ mùa mưa thì nước nó dâng lên chừng một hai tiếng thì nó cũng rút chứ nó không ngập lâu. Nói chung thì chưa đến mức ngập nhiều. Nhưng nước nó dơ lắm, bây giờ nếu có tiền mua đất thì nên mua những nơi cao ráo chứ đừng mua chỗ ngập, dơ lắm, mưa ngập mệt lắm…!”.

Theo ông Khái, hậu quả của những trận ngập lụt thành phố không nhỏ chút nào. Bởi ngoài yếu tố vật chất, yếu tố tâm lý xã hội mới đáng sợ. Lấy Sài Gòn và Biên Hòa làm ví dụ, ông Khái nói rằng nếu như những năm trước 1975, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” vì ngoài yếu tố xanh, sạch, đẹp, thịnh vượng và lịch sự, Sài Gòn không phải chìm trong những trận ngập lụt mỗi khi mưa tới và Sài Gòn là miền đất hứa của nhiều người tha phương.

Hiện tại, với đời sống lộn xộn, nhiều nơi nhếch nhác bởi mưa ngập, đời sống của đại bộ phận người có thu nhập thấp trở nên bấp bênh… Và Sài Gòn chẳng còn đủ sức để làm cho người dân nơi đây tin rằng mình đang sống giữa một thành phố giàu có, năng động nữa. Thành phố Biên Hòa cũng vậy, sau một trận mưa, mọi thứ trôi lỏm ngõm, xe hơi lấn lướt xe máy, cả phố trở thành sông, nhiều đồ đạt của dân bị ngập ướt và nguy cơ chập điện rất cao.

Ông Khái nói thêm là với đà xây dựng thiếu qui hoạch tổng thể, xử lý chất thải công nghiệp cẩu thả và hệ thống thoát nước hỏng hóc, không đủ tiêu chuẩn khoa học như hiện tại, hầu hết các thành phố trên cả nước đều đối diện với nguy cơ ngập lụt khi mùa mưa tới. Và với đà này, không chừng vài năm nữa, các vùng thôn quê lại tổ chức cứu trợ cho người thành phố mỗi khi sông nổi giận. Đây là chuyện rất có thể xảy ra!

Ông Khái cho rằng sở dĩ các thành phố hiện tại trở nên nhếch nhác, ngập ngụa là bởi người ta đã ăn rừng đến độ rừng không còn máu để chảy, ăn hết rừng, người ta chuyển sang ăn các con sông đến độ sông oằn mình với những vết thương. Việc ăn rừng diễn ra trong các dự án thủy điện, khai thác gỗ lòng hồ vô tội vạ và lâm tặc, kiểm lâm thi nhau tùng xẻo rừng. Việc ăn sông diễn ra trong các dự án nạo vét, cải tạo sông và xử lý nước thải công nghiệp gian dối, hệ thống cống rãnh liên tục đào lên lại đắp xuống… Tất cả những trường hợp này đều do lỗi quản lý mà ra, đây là một loại lỗi hệ thống trong một hệ thống bị lỗi!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Bùi Thanh Hiếu: Nói Trong Im Lặng

Bùi Thanh Hiếu: Nói Trong Im Lặng

Tường An, thông tín viên RFA
2015-09-07

Bùi Thanh Hiếu: Nói trong im lặng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

620.jpg

Bìa sách Nói Trong Im Lặng của Bùi Thanh Hiếu

Photo by Tường An

Sau quyển « Đại Vệ Chí Dị » được nhà xuất bản Trẻ phát hành tại hải ngoại. « Nói Trong Im lặng” là quyển thứ hai của tác giả Bùi Thanh Hiếu (tức blogger Người Buôn Gió) được Eva Tas Foundation xuất bản. Thông tín viên Tường An giới thiệu quyển sách này đến quý thính giả qua phần phỏng vấn tác giả và nhà xuất bản sau đây:

«Nói trong im lặng»  là tiếng thét của những ngòi bút bị bẻ gẫy trong đêm đen Việt Nam, những tiếng thét đã được mang đến thế giới bên ngoài bởi một người vừa thoát khỏi vũng đen ấy : Bùi Thanh Hiếu.

Viết về những thủ đoạn của chế độ công an tại Việt Nam không phải là một đề tài mới lạ, mỗi ngày tràn đầy trên các mạng xã hội những bản tin tố cáo những hành động đàn áp của công an bằng mọi hình thức, từ đánh đập đến gây thương tích bằng những tai nạn giả.

Quyển « Nói trong im lặng » của Bùi Thanh Hiếu góp vào những tiếng kêu cứu trong vô vọng đó một ánh đuốc, soi sáng một khoảng đêm đen Việt Nam. Quyển sách nhỏ kéo cao hơn nữa tấm màn sân khấu của những gương mặt được nguỵ trang dưới cái tên « công an nhân dân » hay là những ngôn từ cao quý khác. Qua những nhân vật hư cấu, Bùi Thanh Hiếu đã diễn tả lên những con người thật giữa đời thường.

Quyển sách nói về một cựu bộ đội tên B. về hưu, chủ một blog mang tên Tiếng Quê Hương, hiền lành, chân chất, nhìn mọi việc quanh mình bằng cái nhìn đơn giản, hiền hoà, tin vào một chính sách mà ông đã phục vụ suốt cuộc đời cho tới ngày nhận giấy về hưu. Vẫn với một niềm tin son sắt, ông sông yên bình với những bài viết blog . Cho đến một ngày có một người dân oan tìm đến ông kể lể. Cảm thương cho hoàn cảnh của bà, ông B đã giúp bà tìm kiếm những hình ảnh, chứng cứ rõ ràng để tố cáo việc uỷ ban xã thông đồng với uy ban giải toả mặt bằng để trưng thu đất của bà bằng giá rẻ mạt. Ông đã giúp bà Nguyễn làm đơn nộp lên phường với niềm tin son sắt vào guồng máy hành chánh như khi ông còn là một chiến binh lăn lội ở Trường Sơn:

“Ông B cảm thấy họ thật dễ mến. Dù sao trong bộ máy công quyền còn những con người có tâm huyết với dân, tận tụy với công việc như thế này. Ông cảm thấy mình đã làm những việc có ích giúp người cô thế như bà Nguyễn. Chắc thấy tờ biên nhận này bà Nguyễn sẽ mừng lắm.”*

Và sau đó, ông thu thập chứng cứ, viết bài vạch trần việc gian tham đưa lên trang blog của ông và cũng từ đó, bi kịch của gia đình ông bắt đầu mà ông vẫn chưa hề biết

“Ông lấy xe ra về, trong lòng khoan khoái niềm vui. Ông không biết rằng những tờ đơn ấy sẽ chẳng bao giờ đến ủy ban nào cả,  nó sẽ nằm trong két hồ sơ dưới dạng một tập hồ sơ riêng có tên ông ở một cơ quan an ninh bí ẩn trong hàng hà vô số những cơ quan an ninh bảo vệ chính trị, bảo vệ Đảng trên khắp đất nước này.. ít người dân thường nào hay kể cả cán bộ nhà nước biết đến những cơ quan bí ẩn đó.”*

“ Cuốn sách này chỉ nói lên sự thật, những dữ kiện có thật được giả tưởng hoá, một câu chuyện tưởng tượng nhưng hoàn toàn dựa trên những dữ kiện có thật. Điều đó làm chúng tôi cảm thấy rất thú vị
– ông Rudolf Geel “

Hệ thống an ninh của nhà nước Việt Nam như một mạng nhện vây bủa trên cao treo những mắt cáo nhìn xuống kiểm soát từng hành động, từng suy nghĩ của mỗi con người và bằng mọi thủ đoạn tàn nhẫn, sẵn sàng bẻ gẫy bất cứ ai không khuất phục họ, những thủ đoạn rất hèn mà một cơ quan nhà nước chính trực không bao giờ dùng với người dân của họ. Những bài viết của Ông B đã lọt vào những mắt cáo đó, lời của Tiến, một côn đồ đội lốt công an:

« Xong rồi đây anh, cái con mụ này được thằng C nó dẫn đến nhà thằng B, nhờ thằng B viết bài. Mụ đấy khai là gặp tại nhà thằng B, đưa đơn từ, kể chuyện. Thằng B có quay clip phỏng vấn mụ ấy. Mụ bảo tại chính quyền không giải quyết nên gặp ai là mụ ấy nhờ. »*

Một kế hoạch thật bài bản được đặt ra để cho ông B. vào tròng, trong khi đó, ông B. vô tư vui mừng với ý nghĩ mình đang làm một điều tốt , Thành, một cán bộ an ninh thuộc phòng bảo vệ tư tưởng chính trị nội bộ thuộc khối 5 bộ Công an báo cáo thành tích:

« Báo cáo sếp, đã cho người nắm bắt thông tin về B. Trước tiên em định lựa một số bài viết của hắn có cơ sở pháp lý, để triệu tập hắn đến làm việc. Bước đầu để hắn xác định blog của hắn. Vì vậy em sẽ không nhắc đến những bài viết gay gắt chỉ trích chính quyền của hắn ngay. Đây là những bài của hắn em lựa ra để gọi hắn làm việc. Những bài viết này thì hắn có đủ lý để biện minh, như thế hắn sẽ xác nhận là chủ của blog ….buổi sau nữa khi hắn xác nhận rồi thì làm việc đến các bài khác. »*

Và họ không từ bỏ cả thủ đoạn dùng thân nhân để áp lực cá nhân « phạm tội » một thủ đoạn rất tâm lý thường được áp dụng để làm nhục ý chí những người hoạt động, vì bản thân mình có thể chịu khổ những không thể nhìn thấy thân nhân vì mình mà liên luỵ . Lời của  nhân vật Thành:

Rudolf-Geel_Tong-thu-ky-Eva-Tas-Foundation-350.jpg

Ông Rudolf Geel, Tổng thư ký Eva Tas Foundation

«Nắng nôi đi vất vả nhỉ. Làm tốt đấy, mai xuống chỗ trường vợ thằng B hỏi trường nó về nhân thân vợ nó, quá trình công tác, tư tưởng. Rồi nói thế nào để hiệu trưởng ở đó bắn tin lại cho vợ nó biết là có cơ quan an ninh đến hỏi rồi đấy, nói hiệu trưởng bảo vợ nó về nói nó làm gì thì làm đừng ảnh hưởng vợ  con. »*

Quyển sách nhỏ vẽ lên một xã hội bất ổn với bạt ngàn mưu kế, thủ đoạn của mạng lưới an ninh chằng chịt mà những người đối kháng không một tấc sắt trong tay như những con chim đang vẫy vùng trong mạng lưới đó. Với những nhân vật giả tưởng, Bùi Thanh Hiếu đã ráp những mảnh vụn của một xã hội đầy bất trắc để dựng lên một cảnh đời nghiệt ngã cho những người cầm bút. Tác giả Bùi Thanh Hiếu chia sẻ suy nghĩ của mình khi viết quyển sách này:

« Điều mà tôi muốn thường thì tôi viết tôi để cho độc giả, người ta cảm nhận, tôi chỉ diễn tả lại nỗi khổ, cái khó khăn, những cái mà những người cầm bút viết lên sự thật ở Việt Nam họ phải chịu đựng như thế nào. Tức là tôi muốn đưa đến độc giả cái nhìn về số phận của họ, những cái khó khăn của họ, tức là những cái rất là tế nhị mà họ không thể nói ra, viết ra để mọi người khác nhìn được họ và thông cảm, hiểu cho những người viết phản kháng ở trong nước”.

Quyển «Nói trong im lặng”  69 trang được nhà xuất bản Eva Tas Foundation xuất bản bằng tiếng Anh. Tổng thư ký của Eva Tas Foundation, ông Rudolf Geel cho biết cảm tưởng của ông khi đọc cuốn sách này:

«Cuốn sách này chỉ nói lên sự thật, những dữ kiện có thật được giả tưởng hoá, một câu chuyện tưởng tượng nhưng hoàn toàn dựa trên những dữ kiện có thật. Điều đó làm chúng tôi cảm thấy rất thú vị ».

Qua từng trang sách, những người viết blog, những tiếng nói bất đồng chính kiến sẽ nhận ra mình trong từng con chữ : anh bộ đội về hưu tập tành viết lách, chị công nhân xuất khẩu lặn lội giúp dân oan, người thanh niên công giáo bị côn đồ đánh cho tơi tả ngoài đường phố…v.v…và còn nhiều thủ đoạn để cả một hệ thống công quyền của nhà nước trấn áp những người không cùng quan điểm với họ. Bùi Thanh Hiếu nói:

« Thực ra những gì tôi viết đều dựa trên nguyên mẫu của  sự thật, ngay cả trong quyển sách này thì những nguyên mẫu đó thật đến mức độ tôi không muốn đổi tên họ thành một người khác mà tôi muốn đặt họ là A, là B. Đây là những nhân vật kể cả người viết, kể cả người an ninh, những người công quyền hoặc là những người hàng xóm, tất cả đều trong sự thật mà ra. Tất nhiên laf trong những nhân vật đấy thì tôi lấy một nhân vật cơ bản, nhưng mà trong những sự kiện mà ông ấy phải chịu đựng thì không phải chỉ mình ông ấy thôi maf tôi nhặt của người này, của người kia tôi gom lại thành số phận của ông ấy để mọi người hiểu cái mà ông ấy chịu đựng cũng là những cái mà những người khác phải chịu đựng. Cho nên những người cầm bút họ đọc thì họ sẽ thấy bản thân họ được phản ảnh qua đấy một cách trung thực.”

Và chính những xúc tác rất thật đó đã làm cho ông thực hiện quyển sách này chỉ trong vòng 2 tháng. Tác giả  Bùi Thanh Hiếu cho biết :

«Thực sự là nó ở trên những sự kiện có thật và tôi chỉ cần ngồi tôi hình dung lại, tôi chấp nối lại và cứ thế tôi viết ra thôi chứ nó không phải là một điều gì khó khăn. Với người khác có thể khó khăn nhưng với một người đã trải qua rồi thì như là một chuyện kể lại. Tất cả những người bạn người quen, rồi những cảnh mà họ hoặc bản thân mình phải chịu đựng hiện về rất là nhiều và chính nó tạo cho tôi cái cảm xúc mà tôi hoàn thành nhanh cuốn sách này theo yêu cầu của nhà xuất bản đấy. »

Eva Tas Foundation là một tổ chức tư nhân tại Hoà Lan, được lập ra theo ước nguyện của một phụ nữ  Do thái đến từ Đức và sau này sống tại Hà Lan (1933-2007), bà chủ biên một tạp chí về các nạn nhân của trại tập trung Auschwitz , đồng thời bà cũng là một người  công sản giàu có, đó là lý do bà không được cảm tình của một số thành phần. Những năm cuối của thập nên 90, bà tham gia vào chi nhánh của PEN ở Hà lan và mong muốn sau khi bà mất đi Eva Tas Foudation sẽ xuất bản sách của những nhà văn, nhà thơ trong các nước mà tự do truyền thông bị bóp nghẹt. Eva Tas Foudation đã xuất bản sách của các nhà văn từ Ethopia, Honduras, China, Việt Nam ….v.v…các tập thơ của nhà thơ Bùi Chát và Lý Đợi cũng đã từng được Eva Tas Foundation xuất bản.  Mục tiêu của nhà xuất bản này là phá tan bức màn kiểm duyệt của các nước độc tài, ngăn cấm tự do thông tin bằng cách giúp đỡ tài chánh, xuất bản sách cho những bloggers, nhà văn, nhà thơ tại các quốc gia đó. Ông Rudolf Geel cho biết:

«Chúng tôi mong muốn mọi người biết những gì xảy ra trên thế giới trong lãnh vực kiểm duyệt, nó diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, ở Trung Quốc diễn ra một cách khác và ở Việt Nam lại diễn ra theo một cách khác.  Chúng tôi có nhiều quan hệ với nhà văn bất đồng chính kiến hoặc những nhà văn bị theo dõi, chúng tôi giúp họ về tài chánh và chúng tôi giúp những nhà văn trong những quốc gia như thế xuất bản sách của họ.

“ Tôi không biết là tôi sẽ gặp những khó khăn hay không nhưng mà trách nhiệm của tôi trong khi tôi đang an toàn như thế này thì tôi phải viết hộ cho mọi người.
– Bùi Thanh Hiếu ”

Và nếu chúng tôi có thể xuất bản hàng loạt những cuốn sách như thế thì chúng tôi có thể có một hình ảnh tổng quát về cách cai trị trong một quốc gia, cách họ kiểm soát tự do ngôn luận của người khác và  chúng tôi muốn phổ biến nó đến với những người quan tâm đến quyền tự do bày tỏ tư tưởng, vì thế điều quan trọng là chúng tôi không bán, chúng tôi phát miễn phí những quyển sách này »

“Nói trong im lặng”  là phần thứ nhất của quyến sách thứ hai của Bùi Thanh Hiếu, một thanh niên giang hồ của ngõ Phất Lộc, được biết nhiều qua blog Người Buôn Gió của anh. Quyển thứ nhất “Đại Vệ chí dị “cũng thuộc dạng lịch sử giả tưởng, do nhà xuất bản Giấy Vụn xuất bản và Trẻ phát hành ở hải ngoại. Ông Bùi Thanh Hiếu cho biết đang tiếp tục cho phần 2 của quyển “Nói trong im lặng” phần này sẽ nói về số phận của những luật sư, ông Bùi Thanh Hiếu nói:

«Trong cuốn sách này thì tôi nói về người cầm bút, phần 1 tôi nói về người cầm bút. Phần thứ hai thì tôi nói về một nhân vật là luật sư, tức là ở Việt Nam thì có những nhân vật nhà văn, nhà báo, luật sư, họ gặp rất nhiều khó khăn, phần thứ hay này thì tôi viết về luật sư và vẫn là cái bộ máy của an ninh công quyền kia họ đàn áp, ở phần 2 này tôi viết về những luật sư. Nếu tôi tìm được người nào tài trợ xuất bản hoặc tôi sẽ dành dụm tiền tôi tự xuất bản lấy. Tôi sẽ dùng số tiền bán được giúp đỡ các anh em trong nước. Ngay như cuốn sách này được bản quyền 5000 € thì tôi cũng gửi mấy món tiền về cho một số người dân oan, dân nghèo trong nước cũng hết. »

Được một tổ chức ở Đức mời sang Đức để sáng tác, với những quyển sách như thế này,một ngày nào đó, phải trở về Việt Nam thì những gì sẽ chờ đợi ông, Bùi Thanh Hiếu nói :

«Tôi không biết là tôi sẽ gặp những khó khăn hay không nhưng mà trách nhiệm của tôi trong khi tôi đang an toàn như thế này thì tôi phải viết hộ cho mọi người. Mình ở trong nước mình đã sợ mình không dám xuất bản, mà nếu ở bên ngoài mình cũng sợ nốt thì bao giờ mình mới viết được ? bao giờ mình mới xuát bản cho độc giả hiểu được ? “

Luật sư, nhà văn, bloger, dân oan……đều cùng mang những chiếc còng vô hình trên quê hương của chính họ, nhà tù sẵn sàng đón rước họ xuyên qua những nghị định oan nghiệt. Tiếng nói của họ rơi vào khoảng không im lặng của hàng rào kiểm duyệt. Liệu họ có đủ nghi lực để thực hiện giấc mơ được biến suy nghĩ thành lời nói mà không bị bất cứ một hành động đàn áp nào ? Hay là rồi họ cũng phải khuất phục trước mạng lưới trùng trùng thủ đoạn của cơ quan an ninh đầy quyền lực để rồi trở thành như ông B. ở cuối đời :

Trong viễn cảnh về một tương lai gia đình yên ổn, mỗi lần ở thành phố ra, đi qua vườn hoa trước cửa dinh thủ tướng. Ông B cúi đầu không dám nhìn những người dân oan gầy còm, xơ xác đang trải chiếu nằm vỉa hè kêu oan vì mất đất.
Không phải riêng mình ông B cúi đầu. Có nhiều người viết như ông đã từng nhắm mắt để khỏi nhìn những cảnh trái ngang. Có người viết ra sự thật rồi lại chỉnh sửa năm bảy lần đến khi sự thật thành một điều mơ hồ……. Mỗi người viết ra sự thật đều phải đắn đo cái giá của mình phải trả, mỗi lần như thế, sự thật cứ vơi dần… ” *

Những người cầm bút những người bất đồng chính kiến, những người biết nói và dám nói lên tiếng nói của mình ở Việt Nam không bao giờ biết được số phận của mình sẽ trôi về đâu. Họ sẽ không bao giờ có một cuộc sống thanh thản như bao người an phận khác, mạng lưới an ninh bao trùm lên đời sống của họ, theo họ trên từng con hẻm.  Người cựu chiến binh B cuối cùng cũng đã khép mình trước những thủ đoạn tinh vi của bộ máy an ninh khi ông đặt bút ký vào tờ biên bản rút lại lời khai, để vợ ông được tiếp tục đi dạy và để cánh cửa đại học cho đứa con gái được rộng mở.

Hồ sơ ông B. được đóng lại và số phận nghiệt ngã một nạn nhân khác lại âm thầm bắt đầu khi «Thành mở tủ lấy ra một bìa hồ sơ mới, nắn nói ghi tên hiệu hồ sơ… »*

* :  Trích đoạn trong bản tiếng Việt của quyển «Nói Trong Im Lặng » Bùi Thanh Hiếu (bản tiếng Anh Eva Tas Foundation xuất bản)

Kẻ thù của người Tàu

Kẻ thù của người Tàu

Bá Dương

(Bài do một trí thức Tàu DAILOAN viết.)​

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.

​Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương – thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: “Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa”. Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.

Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!

​ Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn “chối tai”, có một người đứng dậy nói: “Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?”. Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!” Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: “Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!” Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: “Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!”

Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời ? Đến đời nào thì mới thật khá lên được ? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú

Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.

Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?

Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?

Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:

” Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi ! Đi học bài đi ! ”

Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: “Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử”. Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?

Người ta thường nói: “Mình nắm tương lai mình trong tay mình”. Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.

Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.

Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: “Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu”. Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.

Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.

Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?

Nguyên do vì sao?

Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.

Có người sẽ bảo: “Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!”. Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng “Quần ma” (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: “Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à ? ” Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.

Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!

Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: “Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!” (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: “Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?” Cô ta đáp: “Làm sao nổi!”  ​​

Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: ” Chúng tôi đang thì thầm với nhau”.

Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.

Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi – nơi không cần quan hệ với người khác – thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.

Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: “Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!” Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.

Ở Trung Quốc có câu: “Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống”. Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học – anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước… – Ngày hôm sau tôi bảo:

“Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!”. Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: “Anh đưa tôi đi một lát nhé!”. Anh ta bảo: “Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!”.

Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa. Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: “Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?”. Người kia bảo: “Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?”

Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.

Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói “người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù”. Điều này phải chia làm hai phần:

Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.

Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: “Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau”, nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử.

Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.

Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: “Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!”

Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.

Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: “Chết cũng không chịu nhận lỗi”. Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: “Việc này tôi đã sai lầm rồi!” Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.

Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: “Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!” Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.

​Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: “Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm” (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương.

Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: “Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!”. Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?

Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.

Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v…Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.

Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu “Em yêu, em cưng” [Bá Dương dùng chữ “đường mật” và “ta linh” để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là “kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc” (sát thiên đao đích).

Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: “Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?”

Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: “Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!”. Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là “Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!” Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.

Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: “Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!” Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.

Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.

Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?

Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: “Bỏ qua cho rồi!”

Mấy chữ “bỏ qua cho rồi” này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.

Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.

Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.

Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở “Tư trị thông giám” (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.

Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được?  Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật “thích xem” (người khác đau khổ), hoặc “chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác”.

Họ luôn mồm “nhân nghĩa” mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: “Phải tử tế với người và súc vật!”, trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.

Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?

Bá Dương