6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN 21-8 (NV) .- Một hãng máy bay ở Việt Nam kêu rằng chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, có 1,515 hành khách của họ đã bị Singapore từ chối cho nhập cảnh, gây phiền phức và tốn kém.

Nhiều cô gái Việt Nam sang Singapore để bán dâm ‘chui’ là nguyên nhân khiến hải quan Singapore làm khó dễ phụ nữ Việt khi nhập cảnh nước này. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Giao Thông của Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN hôm Thứ Sáu 21/8/2015 cho hay Hãng hàng không Vietjet vừa có ‘văn bản khẩn’ gửi khắp nơi, gồm cả Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ GTVT, Cục Hàng không VN, Đại sứ quan VN tại Singapore “đề nghị hỗ trợ đối với hành khách quốc tịch Việt Nam bị từ chối nhập cảnh Singapore”.

Văn bản của hãng VietJet kêu rằng từ khi họ bắt đầu mở đường bay tới Singapore từ Tháng 5/2014 đến nay, hãng này đã “gặp phải khó khăn khách quan, nằm ngoài khả năng thu xếp và giải quyết của một hãng hàng không”.

Họ kể rằng chỉ từ trong vòng 6 tháng đầu năm 2015, đã có đến 1,515 hành khách người Việt Nam của Vietjet từ Việt Nam sang Singapore “bị từ chối nhập cảnh mà không được giải thích rõ ràng dù xuất trình được hộ chiếu và giấy tờ tùy thân hợp lệ do các cơ quan có thẩm quyền cấp.”

Hãng máy bay vừa kể kêu rằng “Thực tế này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh của Việt Nam, của Hãng hàng không Vietjet cũng như gây thiệt hại lớn cho hãng, khi phải chi trả các khoản chi phí phát sinh gồm chi phí phòng tạm giữ chờ xuất cảnh (17 SGD/giờ và chi phí cho nhân viên giám sát 32 SGD/giờ)”.

Vietjet cho hay đã phải chi trả hơn 1 triệu SGD cho các chi phí này kể từ khi chính thức khai thác đường bay Sài Gòn – Singapore. Riêng 6 tháng đầu năm, con số này là 450 nghìn SGD. Ngoài ra, Vietjet cũng phải chịu toàn bộ chi phí vé máy bay trở về Việt Nam cho những hành khách kể trên.

gái đang đưa tay che mặt là người mai mối cho nhiều cô gái trẻ Việt Nam sang Singapore tìm chồng. Họ đang ngồi chờ vài cô gái khác còn đang bị nhân viên ICA thẩm vấn bên trong. (Hình: Thanh Niên)

Việt Nam và Singapore đã thỏa thuận hai bên miễn chiếu khán nhập cảnh cho công dân hai nước từ lâu nên việc công dân Việt Nam bị Singapore cấm nhập cảnh những tháng gấn đây, phần lớn là phụ nữ, dấy lên những dấu hỏi.

Khi bị giữ ở cơ quan di trú, bị thẩm vấn và buộc quay trở lại Việt Nam, những du khách này còn bị bắt đóng tiền từ tạm giữ “lưu kho” đến tiền công cho nhân viên canh giữ. Phần lớn hành khách không chịu trả nên nhà cầm quyền Singapore ép hãng máy bay phải gánh chi phí phát sinh đó.

Hồi tháng trước, các hãng hàng không của Việt Nam kêu cứu với nhà cầm quyền Hà Nội về những rắc rối và thiệt hại vì số lượng hành khách đi từ Việt Nam tới Singapore bị từ chối nhập cảnh rất lớn. Họ đề nghị can thiệp với Singapore giải thích lý do và giải quyết.

Trước phản ứng của phía Việt Nam, Cục Quản Lý Cửa Khẩu và Nhập Cư Singapore (ICA) giải thích rằng “Nhiều công dân nữ Việt Nam sử dụng các hộ chiếu khác nhau, cá biệt có trường hợp dùng đến 3 hộ chiếu với nhân thân khác nhau để nhập cảnh Singapore làm chuyện bất hợp pháp” (tức làm gái mại dâm).

Giải thích thêm về những trường hợp bị từ chối nhập cảnh khác, cơ quan vừa kể nói những người đó không giải thích được lý do đến Singapore, chẳng hạn phụ nữ đi một mình, hoặc đến Singapore tìm việc làm chui.

Trong một bài viết trên tờ Thanh Niên ngày 26/7/2015, tác giả Lê Tư viết rằng “Hiện nay, số lượng các cô gái Việt Nam sang bán dâm tại quốc đảo này rất lớn. Tất cả họ đều đi theo diện du lịch và hoạt động một cách chui lủi. Theo luật pháp Singapore, hành vi tổ chức mua bán dâm “chui” là phạm pháp. Để ngăn chặn việc này, các nhà chức trách Singapore đã dựng lên hàng rào kỹ thuật nhằm giảm thiểu những người vi phạm pháp luật tiềm năng. Trong đó, cấm nhập cảnh là một biện pháp hợp lý.”(TN)

Tại sao chúng ta nghèo?

Tại sao chúng ta nghèo?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong cuộc gặp gỡ với 40 doanh nhân trẻ vào chiều 12 tháng 8 vừa qua, sau khi nghe những lời than thở về những bất cập trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại Việt Nam của họ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” Rồi ông nhấn mạnh: “Nhất định phải đổi mới mạnh mẽ hơn.”

Trong câu hỏi của Vũ Đức Đam có một nhận định chính xác: Việt Nam nghèo. Chúng ta không những nghèo hơn các nước phát triển trên thế giới mà còn nghèo hơn hầu hết các quốc gia trong khu vực. Trong khu vực, chỉ giới hạn trong khối ASEAN, chúng ta nghèo hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Miến Điện và Thái Lan, đã đành. Chúng ta còn có nguy cơ bị hai nước láng giềng vốn thường bị xem là nghèo hơn và yếu hơn, Campuchia và Lào, qua mặt.

Nhưng toàn bộ câu hỏi của Vũ Đức Đam, “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” lại sai.

Sai ở nhiều điểm.

Thứ nhất, cách đặt vấn đề sai. Chuyện tốt hay xấu không có quan hệ gì đến chuyện giàu nghèo. Để giàu, người ta cần óc sáng kiến, năng lực lao động, sự cần cù cùng với một số điều kiện thuận lợi và may mắn nữa chứ không dính líu gì đến tính cách hay đạo đức. Trên thế giới, không ai đặt vấn đề như vậy với các tỉ phú hay với các cường quốc kinh tế.

Thứ hai, sai ở mệnh đề “chúng ta tốt”. Cái gọi “chúng ta” ở đây là ai? Là những người tham dự cuộc hội thảo ư? Căn cứ vào đâu để khẳng định họ tốt? Rộng hơn, “chúng ta” đây là người Việt Nam nói chung chăng? Lại càng mơ hồ. Không có dân tộc nào là tốt cũng như không có dân tộc nào là xấu. Dân tộc nào cũng bao gồm những người tốt và những kẻ xấu. Một sự khái quát hoá, cho dân tộc này tốt hơn những dân tộc kia không những sai lầm về logic và thực tế mà còn dễ có nguy cơ dẫn đến những thái độ kỳ thị chủng tộc, điều mà giới học thuật Tây phương cho là cấm kỵ.

“Chúng ta” ở đây là đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền chăng? Khẳng định như thế không những sai mà còn là sai lầm một cách lố bịch. Từ sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, khi những sự tàn ác của các đảng Cộng sản ở những nơi ấy bị vạch trần, người ta thấy rõ là không có chế độ cộng sản nào là tốt cả. Tất cả đều giả dối, độc tài và tàn bạo. Số nạn nhân bị giết chết hoặc đoạ đày cho đến chết dưới tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhiều hơn tổng số người bị giết chết dưới tay phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Riêng ở Việt Nam, chế độ cộng sản cũng đã gây ra biết bao nhiêu tang thương, từ các chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc đến các phong trào đánh tư sản mại bản và xua người dân đi kinh tế mới ở miền Nam, từ các vụ thảm sát ở Huế trong Tết Mậu thân đến các trại cải tạo sau năm 1975. Đó là chưa kể đến cuộc chiến tranh kéo dài cả hai mươi năm mà họ gây ra đã khiến cho ít nhất ba triệu người bị mất mạng ở cả hai miền. Như vậy là tốt ư?

Nếu cái nghèo của Việt Nam hiện nay không xuất phát từ chuyện tốt hay xấu, nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời, thật ra, với đa số người dân Việt Nam, khá hiển nhiên: do chế độ Cộng sản. Điều này đúng không những chỉ ở Việt Nam mà còn ở phạm vi toàn thế giới: Có quốc gia cộng sản nào thực sự giàu có? Rõ nhất là ở những quốc gia bị chia đôi: Đông Đức nghèo hơn hẳn Tây Đức; Bắc Hàn thua xa Nam Hàn. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, điều kiện sinh sống ở miền Nam cũng bỏ xa miền Bắc.

Nhưng điều gì khiến chế độ Cộng sản làm kiềm hãm sự phát triển đất nước? Có ba lý do chính: các chính sách sai lầm, tham nhũng và độc tài.

Trước phong trào đổi mới, các chính sách sai lầm về kinh tế và xã hội, đặc biệt cái gọi là chính sách giá – lương – tiền, đã biến Việt Nam thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Lạm phát tăng cao. Dân chúng bị ngập chìm trong đói khổ, không có đủ cơm ăn; trong nhiều năm liền, phải ăn bột mì và bo bo do Nga viện trợ. Sau thời đổi mới, được ít nhiều cởi trói, kinh tế phát triển khá nhanh, nhưng không nhanh đủ để giúp Việt Nam tiến bộ so với các quốc gia láng giềng. Các đại công ty hay tập đoàn kinh tế quốc doanh liên tục thua lỗ, có khi bị phá sản, để lại những gánh nợ nặng nề kéo dài tận đến các thế hệ mai sau. Ngay trong cuộc gặp gỡ với các doanh nhân trẻ ngày 12 tháng 8 vừa qua, trước mặt Vũ Đức Đam, nhiều người cũng lên tiếng phê phán các chính sách sai lầm của chính phủ khiến công việc làm ăn của họ gặp rất nhiều khó khăn. Những sự sai lầm trong chính sách này khiến các nỗ lực gọi là đổi mới tại Việt Nam chỉ là những sự vá víu, lẩn quẩn, từ cái sai này đến cái sai khác theo kiểu tổng kết của dân gian: “Sửa sai rồi lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.”

Nguyên nhân thứ hai làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế tại Việt Nam là tham nhũng. Tham nhũng thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, mọi quyết định về kinh tế đều không xuất phát từ lợi ích chung mà chỉ tập trung vào quyền lợi của một số cá nhân. Phong trào xây tượng đài hoặc các công trình kiến trúc ào ạt ở Việt Nam là một ví dụ: Người ta xây dựng như vậy không phải vì công việc ấy thực sự cần thiết mà chỉ vì, với những công trình xây dựng ấy, người ta có thể kiếm chác để bỏ tiền vào túi mình. Lớn hơn, chính sách đề cao vai trò của các công ty quốc doanh mặc dù hiệu quả kinh tế của chúng rất kém cũng xuất phát từ cùng một lý do: để dễ chia chác quyền lợi. Hai là, với tệ nạn tham nhũng, người ta khai khống và rút ruột các công trình xây dựng để cuối cùng, tất cả các công trình xây dựng đều có kết quả cực kém: Nhiều con đường mới xây xong đã lún; nhiều công trình mới dựng xong đã bị đổ, v.v… Hậu quả của nạn tham nhũng tràn lan này là cán bộ càng lúc càng giàu trong khi đất nước thì càng lúc càng nghèo nàn và kiệt quệ.

Nguyên nhân thứ ba và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là độc tài. Giành độc quyền lãnh đạo, chế độ Cộng sản loại trừ hai yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Một là, loại trừ những trí tuệ và tài năng không nằm trong hệ thống đảng trị. Hai là, nó cũng loại trừ sự minh bạch và cùng với nó, sự phản biện của các trí thức độc lập. Hậu quả của cả hai sự loại trừ này là, một, chính quyền chỉ quy tụ được những kẻ bất tài, hoặc phần lớn là những kẻ bất tài; và hai là, nó mất khả năng tự điều chỉnh và đổi mới thực sự.

Nói một cách tóm tắt, để trả lời cho câu hỏi của ông Vũ Đức Đam, “tại sao chúng ta nghèo?”, chúng ta có thể khẳng định dứt khoát: Chúng ta nghèo, cứ nghèo mãi là vì sự thống trị độc tài và độc đoán của đảng Cộng sản. Biện pháp khắc phục, do đó, không phải là “đổi mới” mà là dân chủ hoá.

Một bài học hiển nhiên trên thế giới: Không có quốc gia dân chủ thực sự nào mà nghèo cả.

Cựu TT Jimmy Carter ‘không lo lắng’ khi chống chọi với ung thư

Cựu TT Jimmy Carter ‘không lo lắng’ khi chống chọi với ung thư

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.

Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter.

Cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter cho hay những cuộc thử nghiệm một khối u ở gan của ông cho thấy ông bị chứng ‘ung thư hắc bào’ thường là một hình thức ung thư da, đã di căn từ gan lên đến não.

Ông Carter cho biết: “Thoạt đầu, tôi nghĩ nó chỉ giới hạn ở gan và phẫu thuật đã hoàn toàn cắt bỏ khối u, vì thế tôi rất an tâm.” Nhưng ông Carter nói sự lạc quan của ông đã thay đổi ngay sau đó trong ngày khi một cuộc thử nghiệm khác phát hiện những khối u trong não. “Tôi sực nghĩ tôi chỉ còn sống vài tuần nữa thôi, nhưng tôi cảm thấy thoải mái một cách không ngờ. Tôi đã sống một cuộc đời đầy đủ, tôi có hàng ngàn bạn bè…Vì thế mà tôi thoải mái không ngờ, thoải mái hơn nhiều so với vợ tôi.”

Báo chí khắp thế giới đã đồn đại nhiều về tình trạng sức khỏe của ông Caarter sau khi có thông báo ngày 12 tháng 8 là ông đang chống chọi với bệnh ung thư.

Người vợ đã chung sống 69 năm với ông, cựu đệ nhất phu nhân Rosalynn Carter, ngồi ở hàng ghế đầu hôm thứ năm tại thính đường Trung tâm Carter ở Atlanta khi vị tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ trả lời nhiều câu hỏi về sức khỏe của ông, và về quan điểm của ông khi bắt đầu một chương trình xạ trị, và hóa trị để chống chọi với căn bệnh ung thư.

“Rõ ràng là tôi thực sự không thể nói trước tôi sẽ cảm thấy ra sao, những tôi sẽ phải tùy thuộc rất nhiều vào các vị bác sĩ về vấn đề điều trị.”

Quyết định của ông Carter công khai thảo luận các vấn đề sức khỏe của ông là điều hiếm thấy nơi các vị cựu tổng thống. Nhưng ung thư đã từng là một chẩn đoán biết trước được đối với các thành viên khác trong gia đình ông.

Thân phụ ông, người anh em trai của ông và hai người chị em gái đã chết vì căn bệnh này, và chính thân mẫu ông cũng đã bị bệnh vào lúc cuối đời. Ông Carter viết về những cuộc chống chọi với căn bệnh này của gia đình ông trong cuốn sách mới nhất có tựa đề “Một cuộc sống toàn vẹn.” Ông đã hoàn thành một chuyến đi quảng bá cho cuốn sách vào tuần lễ ngay trước khi các bác sĩ cắt bỏ khối u ở gan của ông.

Cựu Tổng thống Carter nói ông biết về khối u này ngay sau khi ông phải cắt ngắn chuyến đi thanh sát bầu cử của Trung tâm Carter đến Guyana hồi tháng 5, sau khi bị cảm lạnh. Ông đã hoãn cuộc giải phẫu gan cho đến sau chuyến đi ra mắt sách.

Trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt với đài VOA nhân chuyến đi đó, Tổng thống Carter đã suy ngẫm về cuộc đời lâu dài của ông, và vì sao ông viết cuốn sách.

“Điều tôi cố gắng làm trong cuốn sách là nói lên những điều tôi chưa từng kể trước đây. Như việc tôi suýt chết trên một chiếc tàu ngầm, và cả những bài học tôi đã học được, một số có tính cách rất tiêu cực vào lúc đó, và một số rất tích cực.

Ông Carter nói một trong những nguyên tắc chỉ đạo của ông trong cuộc đời là một điều mà một giáo viên trung học của ông ở Plains, bà Julia Coleman đã dạy cho ông, mà cũng là điều ông nhắc đến trong bài diễn văn nhậm chức.

“Thích nghi với thời thế thay đổi, nhưng hãy suy nghĩ theo những nguyên tắc không thay đổi, đó là một thái độ cơ bản khác đã nhiều lần đem lại lợi ích cho tôi.”

Trước mặt các phóng viên tại Trung tâm Carter, Tổng thống Carter suy ngẫm thêm về “cuộc đời toàn vẹn” của ông và nói ông không hối tiếc gì về thời kỳ rất dài sau khi làm tổng thống của ông. 4 năm ông trải qua tại Tòa Bạch Ốc lại là một vấn đề khác.

“Tôi ước gì đã phái thêm một chiếc máy bay trực thăng để cứu các con tin.” Đó là lời ông Carter, người mà nhiệm kỳ tổng thống một phần đã gắn liền với vụ các con tin Mỹ bị giam giữ ở Iran, và sứ mạng đi giải cứu họ đã bị thất bại. “Tôi nghĩ có thể tôi sẽ tái đắc cử. Nhưng nếu tôi phải chọn phục vụ thêm 4 năm hay chọn Trung tâm Carter, tôi nghĩ tôi sẽ chọn Trung tâm Carter.”

Tuy Tổng thống Carter có nhiều hy vọng là chế độ điều trị của ông sẽ giúp kéo dài đời sống củ ông, căn bệnh của ông diễn ra vào một thời điểm mà Trung tâm Carter đang tích cực tham gia vào nhiều nỗ lực nổi bất trên khắp thế giới, trong đó có việc chuẩn bị cho một sứ mạng thanh tra bầu cử ở Myanmar, và nỗ lực xóa bệnh xán Guinea trên toàn cầu, mà hiện giờ chỉ còn chưa đầy một tá các ca bệnh, phần lớn là ở Chad và Nam Sudan.

Việc điều trị bệnh ung thư cho Tổng thống Carter cũng diễn ra trước dự án công tác thường niên “Jimmy and Rosalynn Carter về môi trường cho nhân loại, dự trù vào tháng 12 này ở Nepal đã hứng chịu nạn động đất. Các dự án thiện nguyện thường niên của ông với cơ quan xây dựng nhà từ thiện này được nhiều người chú ý và là một trong những phần được biết đến nhiều nhất về thời gian sau khi làm tổng thống của ông.

Cuộc điều trị theo kế hoạch của ông có thể khiến ông không tham gia được vào dự án đó và các công việc khác của Trung tâm Carter, nhưng ông vẫn tỏ ra lạc quan.

Ông nói, “Hãy hy vọng vào điều tốt nhất, chấp nhận những gì sắp đến. Tôi nghĩ tôi đã được hưởng nhiều ơn phước như bất cứ con người nào trên thế giới này.”

Tổng thống Carter bắt đầu tiến hành xạ trị vào chiều nay. Ông cho biết ông vẫn dự định tham gia buổi thuyết giảng ngày chủ nhật vào cuối tuần này tại giáo hội của ông ở thị trấn quê nhà là Plains.

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Nguoi-viet.com

Minh Văn/Người Việt

NGHỆ AN (NV) – Cánh cổng khép hờ hững, khu vườn đang tu sửa với những đất đai lổn nhổn, ngay cả ngôi nhà cũng còn sơn dở, mọi thứ dường như bê trễ, dở dang. Thấy có người đi vào trong sân, đàn chó xộc ra sủa nháo nhác.

Chúng tôi đến thăm nhà Nguyễn Viết Dũng sau hơn ba tháng anh bị bắt tại Hà Nội, với tội danh “gây rối trật tự công cộng.”


Một bức họa vẽ hình Nguyễn Viết Dũng được lan truyền trên Internet.

Thời gian không ngừng trôi, căn nhà của anh ở xã Hậu Thành, huyện Yên Thành vẫn yên bình và rợp bóng cây, nhưng tin tức về người anh hùng của chúng ta thì bặt vô âm tín. Vậy là cha mẹ xa con, anh em ly biệt trong nổi mong chờ mà chưa có lời giải đáp.

May quá, mẹ Dũng có ở nhà. Nhận ra khách quen, chị ra đón và mời chúng tôi vào chơi.

Rót mấy cốc nước chè xanh mời khách xong, mẹ Dũng ngồi xuống ghế trong tâm trạng lo lắng, đôi mắt quầng thâm bởi nhiều đêm mất ngủ vì thương nhớ con. Chị biết chúng tôi đến chơi là để hỏi thăm tin tức về Dũng và động viên gia đình như mọi lần.

Với một giọng buồn rầu, chị kể:

– Anh nhà (bố của Dũng) đã ba lần ra Hà Nội để thăm con nhưng vẫn không được gặp, cho nên không biết sự thể ra sao cả. Cảm thấy bất lực, anh tìm thuê luật sư nhưng khó khăn vất vả lắm, người ta đòi nhiều tiền, vả lại còn sợ vì không muốn tham gia vào những vụ án “nhạy cảm”…

Tôi cảm thông với chị:

– Thời buổi này, những người luật sư có tâm và vì công lý hiếm lắm, ngoài ra họ còn sợ bị chính quyền đàn áp nữa.

Rồi tôi kể tên những luật sư vì bào chữa cho các nhà đấu tranh dân chủ mà bị sách nhiễu và tước thẻ hành nghề.

Chị mỉm cười chua chát, tiếp lời:

– Nghe nói có Luật Sư Võ An Ðôn là người dám xả thân đấu tranh cho công lý, hôm nọ anh nhà đã lặn lội vào tận Phú Yên để tìm. Cũng may là gặp được ông tại nhà riêng. Luật sư có tác phong giản dị và nhiệt huyết lắm, ông hứa là sẽ ra Hà Nội để bào chữa miễn phí cho vụ án của Dũng…

Chị ngừng một lúc, vẻ mặt xúc động, rồi chắp tay như thể cầu nguyện:

– Ơn Trời! Vậy là cũng gặp được những người có tâm cứu giúp. Coi như số Dũng vẫn còn may mắn!…

Rồi chị nhìn ra ngoài sân, như mong ngóng một điều gì đó xa xăm. Dạo này sắp vào Thu, thời tiết xứ Nghệ đã trở nên mát mẻ, mây kéo về xám xịt bầu trời, những hạt mưa đang lắc rắc rơi trên vườn cây trước nhà. Người bạn gái đi cùng tôi, sau khi lắng nghe câu chuyện của chị, cũng tỏ ra cảm thông cho hoàn cảnh lắm, khuôn mặt cô luôn lộ vẻ xúc động.

Chân dung Nguyễn Viết Dũng

Còn nhớ năm ngoái – đúng ngày 30 tháng 4, 2014 – Nguyễn Viết Dũng là người đầu tiên ở Nghệ An treo cờ vàng ba sọc đỏ ngay trước nhà mình.


Bà Hồng, mẹ Nguyễn Viết Dũng. (Hình: Minh Văn)

Hành động đó nhắc nhở cho người dân không được quên lá cờ di sản của dân tộc, đồng thời phản đối cái gọi là ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” mà nhà cầm quyền vẫn hằng tuyên truyền bấy lâu nay.

Sau đó thì công an huyện đã phối hợp với địa phương đến nhà còng tay Dũng rồi giải ra ủy ban xã. Dũng và cô em gái của mình đã đấu tranh gay gắt, trước lý lẽ xác đáng của hai anh em, họ buộc phải thả Dũng về nhà sau đó.

Chị Hồng – mẹ Nguyễn Viết Dũng – cho biết, cả nhà lo lắng mong chờ tin tức từng ngày. Anh chị chỉ có mỗi Dũng là người con trai duy nhất, lại là anh cả trong gia đình. Dưới Dũng còn ba em gái nữa, cô thứ hai lấy chồng và đi dạy trong huyện. Hai con gái út thì một cô đang đi làm tận Thái Nguyên, một cô đang đi học ở Vinh (thành phố Vinh-Nghệ An).

Trong lúc trò chuyện, chị cố tươi cười để chúng tôi yên lòng, nhưng tôi hiểu đằng sau đó là nỗi buồn vô hạn của một người mẹ vô cớ bị người ta bắt đi đứa con trai yêu quý của mình.

Không giấu được nỗi bức xúc trong lòng, chị xua tay:

– Nói thật là gia đình chị không còn ai tin tưởng vào cái gọi là “tự do,” “dân chủ” ở cái đất nước này nữa cô chú ạ!

Nỗi lòng của một người mẹ, tôi hiểu lắm chứ, ai cũng thương, cũng yêu những đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra và nâng niu chăm sóc tháng ngày.

Rồi trong nỗi nhớ con, chị kể cho chúng tôi những kỷ niệm về Dũng khi còn đi học phổ thông.

“Dũng là một đứa ngoan và sáng dạ, nó sống tình cảm lắm. Còn nhớ hồi lớp 6 lớp 7 gì đó, có hôm đi học về, nó chào tôi rồi lại đạp xe vòng trở ra, lại đi vào và chào lần nữa, cứ như thế cho đến khi tôi phải phát cười lên mới thôi. Nó muốn trêu cho tôi cười, để động viên mẹ.

Cả nhà ai cũng hy vọng vào khả năng học tập của Dũng, mong sẽ có nhiều thành tựu, vì nó học rất giỏi. Cái lần nó bị trường Bách Khoa đuổi học (năm 2006) vì có tham gia các phong trào chính trị gì đó, anh và chị lo lắng lắm. Chị hỏi Dũng có muốn thi và học vào một trường nào khác không, nó suy nghĩ rất lung rồi nói rằng, tương lai của con sẽ do con quyết định. Từ đó nó lựa chọn con đường đấu tranh dân chủ cho đến nay. Gia đình thì cho rằng những việc Dũng làm là đúng, và cũng ủng hộ để nó vượt qua, dẫu biết rằng khó khăn nguy hiểm. Cũng phải có những người đấu tranh như vậy, nếu không thì đất nước này sẽ đi đến đâu, không lẽ lại phải chịu đựng bất công như vậy mãi hay sao?…”

Chị còn muốn kể nhiều nữa, vì những dòng hoài niệm về đứa con yêu của mình thì có bao giờ dứt. Tôi thực sự cảm thông cho tình cảm một người mẹ, và càng cảm phục hơn cái ý chí bảo vệ lẽ phải của chị.

Ngoài trời mưa vẫn rơi, ánh mắt chị lại hướng về chốn xa xăm, có lẽ là nơi mà đứa con trai yêu quý của mình đang bị người ta bắt giam một cách bất công vô cớ. Quả thực không một ai có thể hiểu Dũng bị bắt vì lý do gì, và tại sao người ta lại có thể bỏ tù một người vô tội mà không có bằng chứng nào cả?

Trong niềm thương nhớ con, chị Hồng nói như người mộng du:

– Dũng muốn có sách ngoại ngữ và những sách nó yêu thích để đọc trong tù, nhưng bên an ninh người ta chỉ cho đọc báo công an và báo đảng mà thôi. Gia đình đang nhờ bạn bè tìm giúp sách cho Dũng, không biết công an họ có cho gửi vào không nữa?…

Chuồng chim Bồ Câu trước nhà lúc này rộn lên những tiếng cúc cu gọi bạn. Người ta vẫn nói rằng, Bồ Câu là giống chim biểu tượng cho đoàn tự do và đoàn tụ. Ngay cả loài chim cũng được như vậy, nhưng cả hai thứ đó đều thiếu đối với những con người trong ngôi nhà mà chúng tôi đang ngồi đây.

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Blog RFA

Lê Diễn Đức

19-08-2015

H1

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, công chức Hà Nội được lệnh của Khâm Sai Phan Kế Toại tổ chức một cuộc mít tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Hàng ngàn người với lá cờ vàng ba sọc đỏ (có sọc giữa dứt quãng, cờ Quẻ Ly) xuống đường mừng ngày độc lập, sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam”.

Hoàng đế Bảo Đại trong ngày 11 ttháng 3 năm 1945 đã tuyên bố độc lập và thành lập chính quyền mới, với chính thể quân chủ lập hiến do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Tên nước được gọi là Đế quốc Việt Nam.

Bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ ban công của nhà hát xuống, một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh và hát bài Tiến Quân Ca. Cuộc biểu tình của công chức biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

Nhạc sĩ Tô Hải, một người còn sống ở Sài Gòn, nhân chứng sống cho sự kiện ấy, mô tả lại, như thế.

Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh lớn, cũng ở trước nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, đoàn người đến chiếm phủ Khâm sai đại thần. Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng, cờ quẻ Ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim ở Huế nộp đơn xin từ chức.

Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Bảo Đại chấp nhận và tuyên bố “Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban cách mạng, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban (Việt Minh) sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.

Hoàng đế Bảo Đại lúc bấy giờ đã nói một câu nổi tiếng: “Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị”.

Thế là cách mạng tháng 8 thành công! Một cuộc cách mạng không có xung đột vũ trang, chẳng có tên thực dân Pháp hay phát xít Nhật nào trên đường phố Hà Nội, không một người chết. Việt Minh đã cướp chính quyền dễ như trở bàn tay, bằng lợi dụng được tình thế giao thời hỗn loạn của lịch sử khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện và đang lúng túng chờ quân đồng minh tới giải giáp.

Và chỉ sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh cùng với các nhà lãnh đạo khác của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới từ Tân Trào trở về Hà Nội và ngày 2 tháng 9 độc tuyên ngôn độc lập. Nhà nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.

Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, mang tiếng là Chính phủ thân Nhật, bù nhìn, nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim đã làm được những quan trọng như :

– Thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó bao gồm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái quốc gia, đồng thời cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.

– Tuyên bố nước Việt Nam đôc lập, và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ 1884 (Hòa ước Patenôtre).

–  Thống nhất về mặt danh nghĩa, đưa đất Nam Kỳ trở lại với nguồn cội Việt Nam.

– Thay chương trình học bằng tiếng Pháp chuyển sang học bằng tiếng Việt. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ…

Việt Minh là tên gọi tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh, liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán để đối phó với chủ trương tiêu diệt đảng của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc và các đồng minh của họ, nhưng thực chất vẫn nắm vai trò lãnh đạo. Đến tháng 3 năm 1951 khi Việt Minh bị giải tán và Đảng Cộng Sản trở lại đúng với vị trí của họ.

Mục đích của Việt Minh trong sáng, rõ ràng đã đánh đúng vào lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, Nhật, nên tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo. Khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh tiếp tục cuộc vận động, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Theo Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam bị chia thành hai phần, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc Cộng Sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc Việt Nam Cộng Hoà.

Đảng Cộng Sản Việt Nam giành độc quyền cai quản trên toàn miền Bắc, thực hiện Cải cách Ruộng đất vô nhân đạo làm chết oan hàng trăm ngàn người, bắt nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, thực thi chính sách kiểm duyệt, quản lý hộ khẩu, phân phối lương thực, chất đốt, cải tạo công thương, v.v… Một nhà nước không được dân bầu ra thông qua bầu cử tự do như Cương lĩnh của Việt Minh đã xác định.

Một chế độ bạo lực và khủng bố ngự trị trên toàn miền Bắc. Tất cả những tiếng nói bất đồng chính kiến hay phản kháng chế độ đều bị vùi dập và đàn áp dã man. Một bộ máy tuyên truyền, giáo dục khổng lồ của chế độ sử dụng hết công suất nhồi sọ con người ngay từ khi còn bé.

Giờ đây người ta mới hiểu ra rằng, tại sao ngay từ cuộc cách mạng tháng Tám, Việt Minh đã lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Rõ ràng đây một cuộc khởi nghĩa cướp đoạt quyền lực và tiếm quyền có ý thức nhằm áp đặt hệ thống chinh trị cộng sản chuyên quyền.

Cũng với chế độ này, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhuộm đỏ toàn quốc. Với chiêu bài đánh đuổi ngoại xâm, họ đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến đẫm máu và dai dẳng và cưỡng chiếm miền Nam.

Cụ Lê Hiền Ðức, một người đi theo cách mạng từ lúc còn nhỏ, một công dân chống tham nhũng nổi tiếng, đã viết bài “Phản cách mạng đã rõ ràng” sau khi chứng kiến vụ cưỡng chế đất đai của nông dân Văn Giang, Hưng Yên:

“Cuộc cách mạng mà lớp người chúng tôi đã tham gia 60-70 năm trước nay đã bị phản bội một cách trắng trợn, triệt để. Công hữu, sở hữu toàn dân chỉ là chiêu bài để tư hữu hoá, tư nhân hoá, biến của chung thành của riêng”.

“Ðảng Cộng Sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam thừa nhận ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai rất tròng tréo, rắc rối, có nhiều thiếu sót và mâu thuẫn nhau. Nhưng ai là tác giả của chúng? Chính là họ. Ai được hưởng lợi từ chúng? Cũng chính là họ”.

Ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đã phải cay đắng nói: “Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay“.

Công nhân, giai cấp mà ĐCSVN gọi là đội quân tiên phong, trở thành lực lượng bần cùng của xã hội, bị các ông chủ tư bản bóc lột nặng nề, đồng lương không đủ sống, điều kiện làm việc khắc khổ.

Cuộc cách mạng tháng Tám trở nên vô nghĩa và mục đich của nó bị đảo ngược. Những kẻ cầm quyền mặc sức tham nhũng, ăn chặn. Bằng đồng tiền ăn cắp và ăn cướp, họ sống xa hoa trên sự nghèo đói của người lao động. Bất công, bất bình đẳng và suy thoái đạo đức xã hội nghiêm trọng, tệ hại còn hơn chế độ thực dân cũ.

Giống như đất nước Ba Lan sau Chiến tranh Thế giới II, thoát hiểm hoạ phát xít Đức thì bị hoạ cộng sản chụp xuống. Chế độ cộng sản dối trá, tàn nhẫn, tước đoạt quyền tự do của con người đến mức sau khi lật đổ nó vào năm 1989, Hiến pháp dân chủ cấm mọi hình thức tuyên truyền và hoạt động của chủ nghĩa Cộng sản.

Tất cả những điều tôi phân tích trên đây tương tự như nhận định của luật sư Nguyễn Văn Đài (trên trang Facebook), một nhà hoạt động dân chủ, đang sống ở Hà Nội:

“Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm”.

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

Nghiên cứu Quốc tế

19-08-2015

Nguồn:Soviet hard-liners launch coup against Gorbachev,” History.com (truy cập ngày 18/8/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Ảnh: Một chiếc xe tăng T-80 đứng trước Quảng trường Đỏ, đằng sau là Tháp Nabatnaya của Điện Kremlin. Nguồn: Wikimedia Commons.

Vào ngày này năm 1991, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev bị đặt dưới sự quản thúc tại gia trong một cuộc đảo chính do các thành viên cấp cao trong chính phủ cùng lực lượng quân đội và cảnh sát tiến hành.

Kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản năm 1985 và Tổng thống Liên Xô năm 1988, Gorbachev đã theo đuổi nhiều cải cách toàn diện trong hệ thống Xô viết. Kết hợp perestroika (cải tổ) nền kinh tế – trong đó chú trọng hơn vào các chính sách thị trường tự do – và glasnost (cởi mở hay công khai hóa) trong ngoại giao, ông đã cải thiện đáng kể quan hệ với nhiều nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Nhưng trong khi đó, trong nội bộ Liên Xô, Gorbachev phải đối mặt với nhiều chỉ trích mạnh mẽ, trong đó có các chính trị gia thủ cựu theo đường lối cứng rắn và các quan chức quân sự, những người cho rằng Gorbachev đang đưa Liên Xô đến bờ vực sụp đổ và đánh mất quyền lực của đất nước. Mặt khác, những nhà cải cách thậm chí còn cấp tiến hơn – đặc biệt là Boris Yeltsin, tổng thống của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa quyền lực nhất là Nga – cũng chê trách rằng Gorbachev hành động không đủ nhanh.

Cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 được tiến hành bởi những người có đường lối cứng rắn trong chính quyền Gorbachev, cũng như các lãnh đạo quân đội Liên Xô và Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), hay cảnh sát mật. Trong căn nhà nghỉ dưỡng của mình ở Crimea, Gorbachev bị quản thúc và ép phải tuyên bố từ chức, nhưng ông đã từ chối. Tuyên bố rằng Gorbachev bị bệnh, các lãnh đạo cuộc đảo chính, đứng đầu là cựu Phó Chủ tịch Gennady Yanayev, ban bố tình trạng khẩn cấp và cố gắng kiểm soát chính phủ.

Sau đó Yeltsin và những người ủng hộ ông trong Quốc hội đã can thiệp, kêu gọi người dân Nga tấn công và phản đối cuộc đảo chính. Khi quân đội cố gắng bắt giữ Yeltsin, họ đã vấp phải sự phản kháng của người dân có và không có vũ trang đang phong tỏa các con đường dẫn tới Quốc hội. Yeltsin leo lên một chiếc xe tăng và nói qua loa phóng thanh, đề nghị quân đội không quay lưng chống lại người dân và lên án cuộc đảo chính là “triều đại khủng bố mới.” Quân đội đã rút lui, một số người lính chọn tham gia phe phản đối đảo chính. Sau khi hàng ngàn người tràn lên các đường phố để phản đối, cuộc đảo chính sụp đổ chỉ trong ba ngày.

Gorbachev được thả và bay về Moskva, nhưng chế độ của ông đã bị giáng một đòn chết người. Trong ít tháng sau đó, ông giải tán Đảng Cộng sản, cho phép các nước Baltic độc lập, và đề xuất một chế độ liên bang lỏng lẻo hơn, dựa nhiều hơn vào cơ sở kinh tế giữa các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa còn lại. Tháng 12 năm 1991, Gorbachev từ chức. Tranh thủ sự ủng hộ sau khi đập tan cuộc đảo chính, Yeltsin nổi lên từ đống đổ nát của Liên Xô cũ như một nhân vật quyền lực nhất ở Moskva và trở thành lãnh đạo của Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) mới được thành lập.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu
(Chỉnh đọc theo bản Nôm và Quốc ngữ xưa của Nguyễn Văn Sâm 2013)
.
Hỡi ơi!

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn, tên nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, tuy rằng mất, tiếng vang như mõ.
.
Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn; riêng lo nghèo khó.
Chẳng quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chĩn biết ruộng trâu, ở trong làng hộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói Mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen nầy xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến nầy nguyện ra uy bộ hổ.
.
Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thơ, đâu chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
Hỏa hổ đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém đặng thằng quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống thúc, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Ma-tà Ma-ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng pháo nổ.
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà làm binh đánh giặc cũng cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
.
Bỡi nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo của đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.
Sống làm chi theo quân t ả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính Ma tà, chia rượu chát, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Chẳng thà còn mà chịu chữ hàng Tây, ở với man di rất khổ.
.
Ôi thôi thôi!
Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong nhà;
Não nồng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
.
Ôi!
Một trận khói tan;
Ngàn năm tiết rõ.
Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Thác đặng trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mến.
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.
.
Hỡi ôi!Thương thay!
Ai ôi! Thảm thay!.

 

Sắp có trường đại học Harvard tại Việt Nam

Sắp có trường đại học Harvard tại Việt Nam

Khuôn viên của trường Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ

Khuôn viên của trường Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ

20.08.2015

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa cấp 2,5 triệu đôla cho trường đại học danh tiếng Harvard để chuyển chương trình giảng dạy về chính sách công của trường này tại Việt Nam thành một trường đại học độc lập, phi lợi nhuận, chi nhánh của trường đại học tại Mỹ ở TP HCM.

Trường đại học mới, có tên Fulbright University Vietnam, được mở rộng ra từ chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hiện tại, vốn là một chương trình thạc sĩ về chính sách công do trường đại học Harvard lập ra vào năm 1994 cùng với Trường đại học Kinh tế TP.HCM. Một phần kinh phí của chương trình học bổng Fulbright là do Phòng Giáo dục và Văn hóa của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ.

Trường đại học mới của Harvard, sẽ được xây dựng tại Khu Công nghệ cao TP HCM và dự kiến khai trương vào tháng 9/2016, bao gồm 3 trường là trường Quản lý và Chính sách công, trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng và trường Fulbright đào tạo các chương trình cử nhân khoa học xã hội và nhân văn.

Tờ The Crimson trích lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Elaine Clayton cho biết chương trình thạc sĩ về Quản lý và Chính sách công dự kiến sẽ bắt đầu cho sinh viên ghi danh vào học kỳ Mùa Thu năm 2016.

Trường đại học của Harvard đã được Việt Nam cấp phép vào năm ngoái nhưng các nhà quản lý vẫn đang tìm kiếm kinh phí cho dự án này. Mục tiêu gây quỹ là 100 triệu đô-la và sẽ tuyển sinh 2.000 sinh viên trong 5 năm đầu tiên. Tính cho đến lúc, đã có 40 triệu đô-la cam kết tài trợ cho trường.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nói trường đại học mới của Harvard tại Việt Nam là một bước phát triển quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao và hợp tác giáo dục giữa hai nước. Chương trình học bổng Fulbright được lập ra một năm trước khi Hoa Kỳ và Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ vào năm 1995.

Trong chuyến thăm Việt Nam hôm 6/8, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng nói việc có được trường đại học Fulbright Việt Nam là một điều phi thường và ông cam kết sẽ hỗ trợ hết lòng để biến điều này sớm thành hiện thực.

Theo The Crimson, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

Nữ sinh Việt Nam bị bắt ở Nhật vì bỏ rơi con mới sinh

Nữ sinh Việt Nam bị bắt ở Nhật vì bỏ rơi con mới sinh

Nữ sinh Việt bị cảnh sát Nhật bắt giữ vì bị cáo buộc bỏ rơi con gái mới sinh.

Nữ sinh Việt bị cảnh sát Nhật bắt giữ vì bị cáo buộc bỏ rơi con gái mới sinh.

Cảnh sát Nhật Bản đã bắt giữ một thiếu nữ người Việt bị tình nghi bỏ rơi con trên phố sau khi sinh.

Người phụ nữ họ Trương đang theo học tại một trường dạy nghề ở Tokyo, thủ đô Nhật Bản và làm việc bán thời gian vào buổi tối.

Truyền thông Nhật Bản trích dẫn lời cảnh sát cho biết, cô gái 21 tuổi này đã tự sinh nở một mình trước cửa một căn nhà ở Tokyo. Khi đó, cô đang trên đường về nhà từ nơi làm việc vào lúc 2 giờ sáng ngày 6/8.

Một người đưa thư đã phát hiện ra em bé sơ sinh 4 giờ sau đó và đưa bé gái này vào bệnh viện.

Trong đoạn video được đăng tải trên NTVNews, người phụ nữ trẻ với gương mặt phờ phạc và lo lắng bị cảnh sát dẫn đi. Nơi bé gái bị bỏ rơi trước cửa một ngôi nhà nhỏ và nằm ở vị trí khá khuất, ít người qua lại.

Bé gái sơ sinh hiện đang được chăm sóc và bảo vệ.

Người mẹ trẻ nói với cảnh sát rằng cô đã che giấu việc mình mang thai và không có tiền để nuôi đứa trẻ.

Thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ việc liên quan tới sinh viên người Việt ở Nhật Bản. Tháng trước, một nam sinh viên 21 tuổi cũng bị bắt vì thực hiện vụ tấn công mạng qua phương thức Tấn công từ chối dịch vụ (DoS).

Nhiều người Việt khác cũng bị bắt vì trộm cắp trong các siêu thị ở Nhật Bản, khiến giới hữu trách phải viết biển cảnh cáo cấm ăn cắp vặt bằng tiếng Việt.

Theo TBS, NTVNews, Thanh Nien News

Chủ nhà kho bị nổ ở Thiên Tân đã móc nối để có chứng nhận an toàn

Chủ nhà kho bị nổ ở Thiên Tân đã móc nối để có chứng nhận an toàn

  • VOA

Truyền thông nước Trung Quốc cho biết các ông chủ có quan hệ lớn của kho chứa hóa chất bị cháy nổ ở thành phố Thiên Tân thuộc miền đông bắc Trung Quốc đã móc nối với các giới chức để có giấy phép an toàn.

Tin tức về cáo buộc tham nhũng này xuất hiện hôm thứ Tư, và chắc chắn sẽ khiến cho công chúng thêm phẫn nộ về vụ cháy nổ đã làm ít nhất 114 người thiệt mạng và mấy trăm người bị thương.

Cựu giám đốc Sinochem, ông Vu Học Vĩ và ông Đổng Xã Huyên, con trai của một giám đốc công an đã qua đời, là hai cổ đông lớn của Công ty Kho vận Quốc tế Thụy Hải, tức là công ty sở hữu nhà kho Thiên Tân, nơi vụ nổ xảy ra.

Trả lời phỏng vấn Tân Hoa Xã, ông Đổng và ông Vu thừa nhận đã dùng quan hệ riêng với các giới chức địa phương để có được “các chứng nhận an tòan về cháy nổ và môi trường.”

Ông Đổng nói: “Tôi có quan hệ riêng với công an và phòng cháy.  Khi cần có chứng nhận kiểm tra an toàn phòng cháy, tôi đến gặp các giới chức cơ quan phòng cháy ở cảng Thiên Tân, đưa hồ sơ cho họ và họ cấp chứng nhận an toàn cho tôi.”

Theo Tân Hoa Xã, ông Đổng và ông Vu cũng tìm cách che giấu việc họ làm chủ công ty bằng cách để tên bạn bè và người thân trên danh sách cổ đông thay vì tên của chính họ.

Hai người này nằm trong số 10 giới chức Ruihai bị cảnh sát câu lưu, trong lúc giới hữu trách điều tra nghi vấn về các tiêu chuẩn an toàn yếu kém có thể đã góp phần gây ra vụ cháy nổi.

Tờ Nhân dân Nhật báo hồi tuần trước nói rằng công ty Ruihai hoạt động không có giấy phép làm việc với các hóa chất nguy hiểm nhờ vào một lỗ hổng trong quản lý của chính quyền.

Hôm thứ Ba, cơ quan theo dõi chống tham nhũng của Trung Quốc nói rằng người đứng đầu cơ quan giám sát an toàn của Trung Quốc đang bị điều tra về việc cho phép những công ty hoạt động với các hóa chất độc hại mà không cần giấy phép.

CÂU CHUYỆN CÁI TÂM CỦA CON NGƯỜI

CÂU CHUYỆN CÁI TÂM CỦA CON NGƯỜI

Buổi trưa, tại sân ga của một thành phố lớn, một người phụ nữ tầm ngoài 30 tuổi đang mướt mồ hôi để vác lên vai túi hành lý lỉnh kỉnh của mình. Trên khuôn mặt của người phụ nữ ấy hằn lên sự vất vả, cực nhọc của một người lao động thấp kém. Chị đang đưa ánh mắt dường như vô vọng của mình khắp sân ga như để tìm kiếm một thứ gì đấy nhưng sau đấy lại tỏ vẻ thất vọng. Trông chị rất đáng thương.

Trên sân ga, người qua lại tấp nập. Ai đi qua người phụ nữ ấy đều ném về phía chị những cái nhìn ái ngại và thương cảm. Không ai có ý định dừng lại để giúp đỡ chị. Ðặc biệt là những người ăn mặc sang trọng, họ đều đi qua chị với tốc độ rất nhanh, dường như là họ nghĩ nếu đi chậm lại thì chắc chắn người đàn bà đó cũng kéo họ lại để lạy lục, nhờ vả việc gì đó.

– Anh để ý đấy nhé, không biết chừng chị ta sẽ nài nỉ xin tiền hoặc sẽ tìm cách kết bạn với mình để bị chị ta tra tấn trên suốt chuyến đi bằng những câu chuyện vừa dài vừa vô duyên, hoặc như chị ta sẽ mượn mình chiếc khăn mùi xoa để lau mồ hôi mà lau xong thì mình không dám xin lại hay như mượn bình nước uống rồi tu ừng ực thì vài ngụm đã hết veo. Ðúng là người nhà quê.  Một người phụ nữ ăn mặc trông có vẻ sang trọng bĩu môi và nói với người đàn ông cũng có vẻ sang trọng bên cạnh mình.

– Xin chào… xin…

Quả nhiên người phụ nữ tiến lại gần đám đông đang đứng đợi tàu. Nhưng dường như không đợi chị nói hết câu, mọi người đều xua tay và lắc đầu và nhanh chóng lảng ra chỗ khác. Không nản chí, người phụ nữ này lại men theo các cánh cửa sổ của các toa tàu rồi nhảy hẳn lên các toa chưa đến giờ xuất phát. Ði đến toa nào chị cũng mang một khuôn mặt như muốn cầu cứu, trông thật đáng thương và câu duy nhất thốt ra từ miệng người phụ nữ đáng thương này là: “Xin mọi người giúp đỡ cho tôi.”

Những người ngồi trên tàu tỏ ra rất khó chịu với người phụ nữ này. Có người thì xua tay ra hiệu xua đuổi, có người vừa thấy bóng dáng chị ở đầu toa vội lấy tờ báo che mặt giả vờ ngủ. Trên khuôn mặt của người đàn bà ấy lộ rõ vẻ thất vọng, chán nản.

“Mình đâu phải là thằng ăn trộm mà sao mọi người lại xử sự như thế nhỉ?” Người phụ nữ xót xa nghĩ.

Chị ta lại đi qua các toa tàu nhưng không ai muốn nghe chị trình bày hoàn cảnh của mình. Ðúng lúc đó, chị nhìn thấy một chàng trai có dáng vẻ rất thư sinh đang ngồi đọc báo. Chàng trai đang đọc báo rất chăm chú và dường như cậu ta không để ý đến mọi thứ xung quanh.

Nhẹ nhàng đi về phía chàng thanh niên, người phụ nữ cất tiếng nói:

– Xin lỗi cậu, cậu có thể giúp đỡ tôi được không?

Chàng trai bỏ tờ báo xuống, nhìn quanh một lúc rồi nhìn người phụ nữ nông thôn nọ:

– Xin lỗi, chị đang hỏi tôi ạ?

Người phụ nữ gật đầu.

– Xin anh giúp đỡ tôi với, tôi lên thành phố để tìm người bà con, nhưng tìm không ra, tiền bạc lại bị kẻ gian móc hết rồi. Muốn về quê nhưng không biết làm thế nào, cậu có thể mua giúp một tấm vé để tôi về quê không?

Sau khi nghe người phụ nữ đáng thương nói xong, nét mặt chàng thanh niên trông rất lưỡng lự. Dường như anh ta vừa muốn giúp vừa lại không muốn giúp người đàn bà đáng thương đó. Sau một thời gian im lặng, chàng trai bèn đưa tay vào túi quần của mình, khó khăn lắm mới móc ra được một đống tiền lẻ, ngại ngùng đưa cho người phụ nữ.

– Chị cầm lấy đi. Tôi… tôi chỉ còn có chừng này, không biết đủ hay không. Tôi cũng vừa mua vé để về quê nên không còn nhiều. Tôi lên thành phố này để kiếm việc, hy vọng tìm được một công việc kiếm được kha khá, nhưng khi lên thành phố, với tấm bằng trung cấp trong tay thì tôi không thể tìm ra được một việc gì để làm. Chị cầm tạm vậy.

Người phụ nữ rưng rưng cầm lấy những đồng tiền lẻ của chàng trai, khó khăn lắm chị mới thốt lên được hai tiếng “Cám ơn”.

Vừa quay gót đi về phía cuối toa thì chị nghe tiếng gọi với theo của chàng thanh niên nọ. Cậu ta hớt hải đi về phía chị và nói:

– Như thế này vậy, chị cùng quê với em, hay chị lấy tấm vé của em đi vậy.

– Thế còn cậu thì sao? Người phụ nữ ngạc nhiên hỏi.

– Số tiền em vừa đưa cho chị chỉ có thể mua đủ tấm vé xuống ga thứ ba xuất phát từ ga này, như vậy cách nhà em cũng không xa lắm, em có thể đi bộ mà. Chị cứ cầm lấy vé đi, em là con trai, thế nào mà chẳng được. Còn phụ nữ như chị thì không thể đi bộ về nhà trong đêm tối được. Thôi, chúc chị thuận buồm xuôi gió. Nào, đưa cho em đống tiền lẻ nào!

Nói xong, không kịp để người phụ nữ phản ứng gì, chàng trai vội cầm lại số tiền lẻ trong tay người phụ nữ và đưa lại cho chị tấm vé của mình. Sau đấy anh vội vàng đi ra khỏi tàu và đến quầy bán vé. Rất nhanh sau đó, chàng thanh niên lại lên tàu.

Người phụ nữ tiến lại gần phía chàng trai và cất tiếng hỏi:

– Sao cậu lại làm như thế, cậu không hối hận à?

Chàng trai lắc đầu:

– Không, chị ạ.

Trong ánh mắt của người phụ nữ đáng thương nọ ánh lên một niềm vui khôn xiết. Chị cầm tay chàng trai và nói:

– Anh bạn trẻ, xuống đây với tôi một lát.

Người phụ nữ kéo chàng trai ra khỏi nhà ga, vẫy một chiếc taxi, tự động mở cửa xe và quay lại nhìn chàng trai:

– Cậu lên xe đi. Hôm nay cậu chính thức là nhân viên của tôi.

Hoá ra, người phụ nữ này là con gái của một ông chủ tập đoàn sản xuất đồ chơi nổi tiếng. Ðể đi tìm một người trợ lý đáng tin cậy, chị đã phải hoá trang và đứng ở sân ga suốt 3 ngày qua.

Chị nói rằng: “Các bạn cho rằng tôi thật ngốc nghếch khi phải làm khổ mình như thế, nhưng thật ra nó thật sự xứng đáng. Khi đứng ở sân ga trong 3 ngày đó, tôi mới nhận ra rằng: Tìm được một người thực sự tốt trong cuộc sống xô bồ này quả là khó. Có thể, chàng thanh niên đó không có trình độ, hiểu biết nhiều như những người tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn nữa. Nhưng điều đáng quý nhất và đáng trân trọng nhất là cậu ấy có cái ‘tâm’. Có cái ‘tâm’ trong cuộc sống thì mới có cái ‘tâm’ trong công việc được. Ðấy là thứ mà công ty tôi cần”.

Các bạn thấy đấy, một tấm vé để đổi lấy cả một sự nghiệp sáng lạn. Có thể nhiều người nghĩ đây chỉ là việc ngẫu nhiên, nhưng thực ra trong sự ngẫu nhiên đó lại có tính tất yếu của nó. Rất nhiều người đã có mặt ở trên sân ga, nhưng chỉ có chàng trai đó mới nhận được niềm hạnh phúc bất ngờ như vậy. Không phải ngẫu nhiên mà anh ta có được một cơ hội tốt đẹp đến như thế mà điều quan trọng là anh đã biết chia sẻ chữ ‘tâm’ của mình cho mọi người xung quanh.

Ðây là một câu chuyện hoàn toàn có thật mà tôi đã nghe được từ giám đốc của tôi.

Quang Ngọc

BỎ “ TIÊN HỌC LỄ” THÌ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI SẼ RA SAO?

BỎ “ TIÊN HỌC LỄ” THÌ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI SẼ RA SAO?

Nguyễn Văn Nghệ

Trước ngày “giải phóng” 30/04/1975 ở các phòng học của Trường Tiểu học Tư thục Cây Vông ( nằm cạnh nhà thờ giáo xứ Cây Vông, xã Diên Sơn, quận Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) đều treo câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ và Văn là nền tảng đào tạo nên một con người tốt cho xã hội. Sách Luận ngữ có viết: “bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ” (dùng văn chương mở rộng kiến thức của ta, dùng lễ để ước thúc hành vi bản thân ta).

Sau “giải phóng” câu khẩu hiệu “Tiên học lễ ,hậu học văn” biến mất trong tất cả các trường học và mãi đến những năm cuối của thập kỷ 80 và đầu những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ trước mới thấy xuất hiện lại trong tất cả các trường học trên cả hai miền Nam và Bắc của đất nước ta. Biển hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” được ngành giáo dục cho sơn phết thật to được treo ở mặt trước của mỗi trường học.

Bổng dưng vào năm 2014 Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng (Hà Nội) đã đi tiên phong bỏ biển hiệu “Tiên học lễ hậu học văn”. Bài viết: “ Đại học,học…đại và yêu nước có học” được đăng trên Vietnam.net ngày 18/05/2014 đã đăng tải sự kiện ấy: “…Không chỉ tổ chức chào cờ, xếp nghi thức, Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng ở Hà Nội đã có cách biểu thị tinh thần tự tôn dân tộc “dài hơi” khi thể hiện tư tưởng thoát khỏi cái bóng ám ảnh của Khổng giáo trong trường học. Từ năm học này, trường đã thay biển hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” (của Khổng tử), bằng các câu của người Việt ( “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”) và UNESCO (“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”)” (vietnamnet.vn/vn/giao-duc/175887/dai-hoc–hoc—-dai-va-yeu-nuoc-co-hoc.htlm).

Giữa các quốc gia trên thế giới luôn có sự tiếp thu văn hóa lẫn nhau không phân biệt Tây hoặc Tàu. Văn hóa hay chúng ta tiếp thu, văn hóa đồi bại thì chúng ta chối từ. Để có câu nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, ông Thân Nhân Trung cũng phải miệt mài tiếp thu những tinh túy từ Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo mới đúc kết ra như vậy.

Bỏ “Tiên học lễ” thì đạo đức xã hội sẽ ra sao? Để trở thành một con người có văn hóa , thì phải có “Lễ”. Lễ là trật tự là khuôn phép. Lễ là cốt để giữ chừng mực cho sự hành vi của người ta : “ Đạo đức nhân nghĩa, phi lễ bất thành; giáo huấn chính tục, phi lễ bất bị; phân tranh biện tụng, phi lễ bất quyết; quân thần , thượng hạ, phụ tử ,huynh đệ, phi lễ bất định; hoạn học sự sư, phi lễ bất thân; ban triều , trị quân, lỵ quan, hành pháp, phi lễ uy nghiêm bất hành; đảo từ, tế tự, cung cấp quỷ thần, phi lễ bất thành, bất trang thị dĩ quân tử cung kính tổn tiết, thoái nhượng dĩ minh lễ” ( Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới, cha con, anh em, không có lễ không định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt vị thứ trong triều, cia trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh, không có lễ, không uy nghiêm; cầu khẩn ,tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính. Bởi thế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng để làm sáng rõ lễ – Lễ kí: Khúc lễ thượng).

Lễ khiến cho hành vi của người ta hợp với đạo Trung dung : “ Cung nhi vô lễ tắc lao; thận nhi vô lễ tắc tỷ; dũng nhi vô lễ tắc loạn; trực nhi vô lễ tắc giảo” (Cung kính mà không có lễ thì phiền; cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi; dũng mà không có lễ thì loạn;trực mà không có lễ thành ra vội vã – Luận ngữ: Thái Bá VIII , 2).

Sự giáo hóa của lễ tinh vi lắm và có hiệu quả rất sâu xa: “Lễ chi giáo hóa dã vi, kỳ chỉ tà dã ư vị hình, sử nhân nhật tỷ thiện, viễn tội, nhi bất tự tri dã” (Sự giáo hóa của Lễ rất cơ mầu, ngăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra, khiến người ta ngày càng đến gần điều thiện, tránh xa điều tội, mà tự mình không hay biết – Lễ kí: Kinh giải, XXVI).

Sách Quản tử viết: “ Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ thị vi tứ duy” (Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ là bốn giềng mối chính). Không có Lễ thì không có Nghĩa, Liêm, Sỉ.

Đầu năm 2008, báo động tình trạng nhiều học sinh trên cả nước bỏ học. Nhân sự kiện này tác giả Bút Bi có đăng mẩu chuyện “Vì sao con bỏ học?” trên báo Tuổi trẻ ra ngày 12/03/2008. Mẩu chuyện như sau:

“ Con là Nguyễn Văn Tèo. Nay con rấm rứt viết thơ này để bày tỏ nỗi niềm vì sao con nghỉ học, cái việc mà hổm rày người lớn bàn tán tùm lum.

Vì sao con nghỉ học? Mấy cô chú nói đúng rồi đó: Nhà con nghèo, con phải đi làm kiếm ăn; con học yếu,con nản… Nhưng đâu chỉ có vậy. Con nghỉ học còn vì nhiều chuyện phát ớn…

Hồi con học lớp 2, thầy dạy vẽ cho cả lớp chủ đề “ Vẽ về quyền thiếu nhi”. Nhà con nghèo, con thèm được ăn no nên con vẽ hai bát cơm to. Thầy nói con vẽ sai, phải vẽ trẻ em vui chơi, có chim bồ câu và trái địa cầu mới đúng. Con bị 1 điểm.

Lên lớp 3, con được dự thi “vở sạch chữ đẹp”. con mừng lắm nhưng té ra lại khổ cái thân: con không được đưa cuốn vở mình đang học để đi thi mà trường bắt mua một cuốn vở mới, chép lại y chang cuốn vở đã học để đi thi cho nó sạch và đẹp. con thấy thi thố kiểu này chẳng sạch và đẹp chút nào!

Mới đây trường chúng con có đoàn thanh tra dự giờ. Trường gom hết học sinh xịn nhứt khối về một lớp, tụi con giải toán rẹt rẹt, đọc bài re re làm mấy thầy thanh tra khen quá trời đất! Tụi con mắc cười bể bụng luôn…Và nhiều chuyện nữa mắc cười lắm.

Con kể mấy chuyện này với ngoại. Ngoại buồn lắm. ngoại nói học hành kiểu đó thì khó thành người. Con sợ quá, chẳng thà con làm con người không biết chữ chớ biết chữ mà thành con khác thì con không chịu.

Vì vậy mà con nghỉ học!”

Câu kết của mẩu chuyện rất là thâm thúy!

Mấy năm gần đây ngành giáo dục luôn ra rả “ nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Bệnh thành tích là bệnh trầm kha dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn xuất hiện câu: “ Lập thành tích chào mừng ngày lễ…” cho nên làm sao có thể “nói không” được!

Do không quan tâm đến việc học Lễ nên “nạn mất dạy” đang trong tình trạng báo động ở thủ đô Hà Nội: “một bộ phận các bạn trẻ là học sinh trung học, các ca sĩ, người dẫn chương trình…có những lời nói thô tục, những ứng xử không có văn hóa nơi công cộng làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của thành phố”. UBND Thành phố Hà Nội có công văn số 3802/VP-VX do Phó Chủ tịch Thành phố Hà Nội Lê Hồng Sơn chỉ đạo gửi đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND quận,huyện, thị xã kiểm tra, xem xét có biện pháp xử lí‎ cụ thể, nhằm hạn chế cao nhất những hành vi thiếu văn hóa trong nhà trường và ngoài xã hội. Trước đó nhiều tờ báo và trang tin đã có phản ánh về nạn “mất dạy” tràn lan ở Thành phố Hà Nội- trái tim, Thủ đô của cả nước khiến dư luận bất xúc (petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/pho-chu-tich-ha-noi-yeu-cau-xu-ly-nan-mat-day-o-thu-do.htlm).

Nạn “mất dạy” ở Thủ đô Hà Nội hiện nay là không phải một sớm một tối mà có như Kinh Dịch từng viết: “Thần thí kỳ quân, tử thí kỳ phụ, phi nhất triêu, nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hỹ, do biện chi bất tảo biện dã” (Tôi giết vua, con giết cha không phải là cớ một sớm một tối, cái mà nó đã bởi đó mà đến vẫn là dần dần[tiệm tiến], vì kẻ phân biệt ,không phân biệt sớm đó thôi).

Cô giáo Nguyễn Thị Thuận- Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Tô Hoàng (từ năm 2008)- cho biết khi trường quyết định bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ ,hậu học văn” : “ ở mình có những cái đã quá lâu, quá cũ nhưng nhiều người vẫn ngại thay đổi khi đã cần phải thay đổi”.

Những ai cho rằng câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” là cũ, là lỗi thời cần phải thay đổi thì cũng giống như “ Người nào cho những bờ đê cũ là vô ích và phá bỏ đi thì một ngày kia sẽ bị tai hại của nạn lụt lội” (Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb Văn hóa Thông tin, trang 342)

Người xưa có nói: “ Bất học lễ , vô dĩ lập” (không học lễ , không thể đứng thẳng với đời ) hoặc “ Bất tri lễ ,vô dĩ lập” (không biết lễ, không thể đứng thẳng với đời ).

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây I ,Thị trấn Diên Khánh –Khánh Hòa