ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Posted on 01.08.2011 by hongoccan2015

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975) theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết rằng viết về những địa hình địa vật của một thời xưa cách nay năm, sáu chục năm bằng vào trí nhớ kém cỏi của cái tuổi gần thất thập cổ lai hi là cả một khó khăn trùng điệp nhưng lòng hoài cổ trong con người tôi vẫn cố vượt mọi trở ngại nhất là với sự góp ý bổ túc đầy nhiệt tình của quý niên trưởng và các bạn nên công việc đã hoàn thành cho dù chưa được hoàn hảo. Chỉ mong ước nhỏ nhoi là qua tài liệu nầy, chúng ta tìm lại hình ảnh ngày xưa của chính chúng ta trên khắp nẻo đường của Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi ! Và hơn nữa chúng ta có thể chỉ dẫn cho đàn con cháu nghe thấy về thủ đô Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi mà cha mẹ, ông bà chúng đã từng một thời sinh sống và biết đâu chừng cũng là nơi đã từng gặp gỡ của ba má sắp nhỏ qua mối tình đầu.

Cũng xin chân thành cảm tạ sự đóng góp quý báu của nhiều anh chị nhất là chị Đỗ Thanh Vân (Đức Quốc), niên trưởng Trương Thới Lai (Canada), anh Cao Thiếu Lang (Canada), anh Nguyễn Đình Phúc (Canada), anh Bùi văn Tâm (Canada), anh Trần Kiêu Bạc (Mỹ), anh Trương Thúy Hậu (Mỹ)… Chính nhờ những sự bổ túc đó mà hành trình tìm về con đường của dư hương ngày cũ bớt nhiều thiếu sót. Và chúng tôi hy vọng vẫn còn tiếp tục nhận được những góp ý của quý bằng hữu bảng sưu tầm chúng ta thêm hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành đa tạ.

Bây giờ mời các bạn cùng chúng tôi đi dạo một vòng quá khứ (back to the past) của một thời hoa mộng trên thủ đô yêu dấu từng đườc mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông.

Nguyên Trần

Tên thời Pháp thuộc – Tên thời Đệ II Cộng Hòa

Boulevard Bonard – Lê Lợi (Trụ sở Quốc Hội – Nhà Hát Lớn, bệnh viện Sài Gòn, nhà sách Khai Trí, nước mía bò bía Viễn Đông, rạp Vĩnh Lợi, quán cơm Thanh Bạch, quán giải khát Pôle Nord, Hà Nội ice cream, quán kem Mai Hương, Thư Viện Abraham Lincoln, Nhà hàng Kim Sơn, Bồng Lai)

Boulevard Chanson – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở xuống (Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công, Chợ Đủi, trụ sở Tòa Đại Sứ Miên, nơi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu góc Phan Đình Phùng, rạp Nam Quang – ngã tư Trần Quý Cáp, rạp Kinh Đô sau là văn phòng Usaid, trường trung học tư thục Trường Sơn, Câu Lạc Bộ Kỵ Mã Sài Gòn) – CMT8

Boulevard Charner – Nguyễn Huệ (rạp Rex, rạp Eden, passage Eden, Thương xá Tax, bánh mì pâté Đô Chính, phòng trà Queen Bee, Tổng Nha Ngân Khố, Kỹ Thương Ngân Hàng, Hôtel Palace,Hãng Charner)

Boulevard Galliéni – Trần Hưng Đạo (Bộ Lao Động, Nha Cảnh Sát Đô Thành, Sở Cứu Hỏa Đô Thành, rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo, rạp Đại Nam, vũ trường Tour d’Ivoire, Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Đại Hàn, Bộ Tổng Tham Mưu cũ, sân bóng rổ Tinh Võ, Khiêu vũ trường Vân Cảnh, Arc en Ciel, Đêm Màu Hồng, trường tiểu học Tôn Thọ Tường, Nhà thờ Tin Lành)

Boulevard Kitchener – Nguyễn Thái Học trường tiểu học Trương Minh Ký, trường tư thục Huỳnh Thúc Kháng, rạp Nam Tiến, rạp cải lương Thành Xương, Chợ Cầu Ông Lãnh)
– Boulevard Norodom – Thống Nhất (Toà Đại Sứ Mỹ, Phủ Thủ Tướng, Rạp Norodom-Thống Nhất – xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi – Trần văn Trạch, hãng nhập cảng xe Peugeot Jean Compte, Bộ Tư Pháp, hãng xăng Shell, Esso) – Lê Duẩn

Boulevard Paul Bert – Trần Quang Khải (Đình Nam Chơn, rạp Văn Hoa)

Boulevard de la Somme – Hàm Nghi (Đài Pháp Á, Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín,BanqueFranco-Indochinoise, Tổng Nha Thuế Vụ, chợ Chó,chợ Chim,trung tâm Cờ Tướng, tiệm incils quân đội Phước Hùng)

Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)- Nguyễn Hoàng (bến xe lục tỉnh, cư xá hỏa xa)– Trần Phú

– Abattoir – Hưng Phú (Lò Heo Chánh Hưng)

– d’Adran – Võ Di Nguy Phú Nhuận (Chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm, rạp Cẩm Vân, cư xá Phú Nhuận) – Phan Đình Phùng

– Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng (Sân vận động Hào Thành – Hoa Lư – Citadelle, Tổng Nha Thanh Niên, Asam Đakao, mì Cây Nhãn, Chè Hiển Khánh)

– Alexandre de Rhodes – Lục Tỉnh (trung tâm quân báo Cây Mai, bò 7 món Ngân Đình), đường Alexandre de Rhodes tới thời Cộng Hòa thay thế đường Paracels trước dinh Độc Lập – Alexandre de Rhodes

– Alexandre Frostin – Bà Lê Chân (hông chợ Tân Định, rạp Moderne sau đổi là Kinh Thành)

– Alsace Loraine – Phó Đức Chính (biệt thự chú Hỏa – Hui Bon Hoa)

– Amiral Dupré – Thái LậpThành (Phú Nhuận)Phan Xích Long

– Amiral Roze – Trương Công Định (Chùa Chà, chạy xuyên qua vườn Tao Đàn – Vườn Pelouse) – Trương Định

– d’Arfeuille – Nguyễn Đình Chiểu

– Armand Rousseau – Hùng Vương (Trường Trung Học Chu văn An,cư xá sinh viên Sài Gòn)

– d’Arras – Cống Quỳnh (Bệnh viện Từ Dũ, rạp Khải Hoàn, trường trung học tư thục Hưng Đạo-Giáo Sư Nguyễn văn Phú)

– Arroyo de l’Avalanche – Rạch Thị Nghè

– Audouit – Cao Thắng (rạp Việt Long, rạp Đại Đồng Sài Gòn, Chùa Tam Tông Miếu, bánh mì pâté Phò Mã, tư gia nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lâm Tuyền)

– d’Ayot – Nguyễn văn Sâm(rạp Kim Châu) – Nguyễn Thái Bình

– Ballande- Nguyễn Khắc Nhu

– Barbier – Lý Trần Quán (chả cá Thăng Long)

– Barbé – Lê Quý Đôn (Trung Học Lê Quý Đôn-Chasseloup Laubat) – Hồng Thập Tự Nguyễn Thị minh Khai

– Blan Subé – Duy Tân (Viện Đại Học Sài Gòn, Đại Học Luật Khoa, công trường Chiến Sĩ, Con Rùa, Vương Cung Thánh Đường) – Phạm Ngọc Thạch

– Bourdais – Calmette

– Catinat – Tự Do (Bộ Nội Vụ, bánh mì pâté Hương Lan, Nhà Hàng Caravelle, Nhà Hàng Continental Palace, La Pagode, Brodard, Vũ trường Maxim’s, Hotel Restaurant Majestic, rạp Majestic, Tiệm quý kim Đức Âm, nhà may Cát Phương, Adam,Tân Tân, Phòng Thông Tin cho các cuộc triễn lãm) – Đồng Khởi

– Chaigneau – Tôn Thất Đạm (khu Chợ Cũ, rạp Nam Việt)

– Champagne – Yên Đổ (Cư xá Đắc Lộ, trường Anh Ngữ Khải Minh) – Lý Chính Thằng

Charles de Coppe – Hoàng Diệu (hiệu giày Gia, quán nhậuTư Sanh Khánh Hội – cari dê)

– Charles Thomson – Hồng Bàng (bệnh biện Hồng Bàng, đại học Nha Khoa) – Hùng Vương

– Chasseloup Laubat – Hồng Thập Tự (Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Rạp Olympic, bàn ghế Phan văn Nhị, khu quán cháo vịt, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chánh, Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương, Hông vườn Tao Đàn – vườn Ông Thượng – vườn Bờ Rô-Pelouse, Hông Dinh Độc Lập, Hông Thảo Cầm Viên, trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ) – Nguyễn Thị minh Khai

– Colonel Budonnet- Lê Lai (Rạp Aristo – nhà hàng Lê Lai – tiệm bánh trung thu Tân Tân, cơm chay Vạn Lộc)

– Colonel Grimaud – Phạm ngũ Lão (Chợ Thái Bình, tòa soạn nhật báo SàiGòn Mới – bà Bút Trà, rạp Thanh Bình, ga xe lửa, quày bán vé Hàng Không Việt Nam)

– Cornulier – Thi Sách (nhà in Ideo)

– Danel – Phạm Đình Hổ – Denis Frères – Ngô Đức Kế (Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam)

– Dixmude – Đề Thám

Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thảo Cầm Viên, hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tổng Nha Trung Tiểu Học & Bình Dân GiáoDục, trường Trung Học Trưng Vương, Võ Trường Toản, Nha An Ninh Quân Đội)

– Docteur Yersin – Ký Con

– Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng (Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng, khu chợ Trời)

– Douaumont- Cô Giang (chợ, rạp hát Cầu Muối)

– Dumortier – Cô Bắc (hãng cao su Labbé)

– Duranton – Bùi thị Xuân (trường trung học Nguyễn Bá Tòng, trường Les Lauriers)

Eyriaud des Verges – Trương Minh Giảng (Chợ Trương Minh Giảng, rạp Văn Lang – Minh Châu -, cổng xe lửa số 6, Viện Đại học Vạn Hạnh) – Lê Văn Sĩ

– l’Église – Trần Bình Trọng( Hôtel Massage Hồng Tá)

– d’Espagne – Lê Thánh Tôn (Tòa Đô Chánh, Cửa Bắc Chợ Bến Thành, tiệm vàng Nguyễn Thế Tài -Thế Năng, tiệm incils quân đội An Thành, Rạp Lê Lợi, nhà may Văn Quân)

– Faucault – Trần Khắc Chân

– Frère Louis – Nguyễn Trãi từ Ngã Tư Cộng Hoà đổ vô Chợ Lớn (trung tâm đào tạo huấn luyện viên thanh niên thể thao, Nhà thờ Chợ quán)

– Frère Louis – Võ Tánh (Sài Gòn) từ Ngã Tư Cộng Hòa đổ xuống Ngã Sáu (cổng chính Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, rạp hát Quốc Thanh, phở 79, nhà mồ Á Thánh Matthew Gẫm, trường nữ trung học tư thục Đức Trí) – Nguyễn Trãi

Frère Guilleraut – Bùi Chu (Nhà thờ Huyện Sĩ) – Tôn Thất Tùng

Filippiny – Nguyễn Trung Trực (Nhà hàng Thanh Thế với tuyệt chiêu suôn, nhà hàng Quốc Tế, Bồng Lai, Kim Sơn, rạp Les Tropiques, Văn Khoa cũ, Pháp Đình Sài Gòn)

Fonck – Đoàn Nhữ Hài

– Gallimard – Nguyễn Huy Tự (Chợ Dakao, chùa Ngọc Hoàng)

Gaudot – Khổng Tử (Chợ Bình Tây)

Georges Guynomer – Võ Di Nguy Sài Gòn (Khu Chợ Cũ)

– Guillaume Martin – Đỗ Thành Nhân (Q4, cầu Calmette)

Hamelin – Hồ văn Ngà

Heurteaux – Nguyễn Trường Tộ

Hui Bon Hoa – Lý Thái Tổ (Phở Tàu Bay, quán Hạ Cờ Tây)

– Jaccaréo – Tản Đà (khu tiệm thuốc Bắc)

– Jauréguiberry – Hồ Xuân Hương (Bệnh viện da liễu – Bạc Hà)

Jean Eudel – Trình Minh Thế – Ng(thương cảng Sài Gòn, kho 5, kho 10) – Nguyễn Tất Thành

Lacaze – Nguyễn Tri Phương ( Mì vịt tiềm Lacaze, hủ tiếu Mỹ Tiên, hủ tiếu Cả Cần, bánh bao bà Năm Sa Đéc, quán sò huyết lề đường)

– Lacotte – Phạm Hồng Thái (toà soạn nhật báo Dân Ta – ông Nguyễn Vỹ)

– Lacaut – Trương Minh Ký (Lăng Cha Cả – Linh mục Bá Đa Lộc – Pigneau de Béhaines) – Hoàng Văn Thụ

– De Lagrandière – Gia Long (Dinh Gia Long, Bộ Quốc Phòng, Thư viện Quốc Gia, rạp Long Phụng – phim Ấn Độ, tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, tiệm Đồ da Cự Phú, tiệm quần áo trẻ em Au Printemps, tòa soạn nhật báo Tiếng Chuông – ông Đinh văn Khai, nhật báo Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long 1936, nhật báo Tiếng Dội, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền của ông Trần Tấn Quốc và nhiều nhật báo khác) – Lý Tự Trọng

– Larclause – Trần Cao Vân (bộ Thông Tin)

– Lefèbvre – Nguyễn công Trứ

– Legrand de la Liraye – Phan Thanh Giản (Bệnh viện Bình Dân, Chợ 20, Trường Nữ Trung Học Gia Long, bệnh viện St Paul, Trường tư thục Phan Sào Nam, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Hộ, cư xá Đô Thành, rạp Long Vân, bánh xèo Đinh Công Tráng) – Điện Biên Phủ

– Le Man – Cao Bá Nhạ

– Léon Combes – Sương Nguyệt Ánh (văn phòng bác sĩ quang tuyến Lý Hồng Chương, võ trường Hàn Bái Đường ở góc Sương Nguyệt Ánh – Lê văn Duyệt 1954)

– Lesèble – Lý văn Phức

– Loucien Lecouture – Lương Hữu Khánh (đường rầy xe lửa Mỹ Tho, miền Trung)

– Luro – Cường Để (thành Cộng Hòa, Trường Đại Học Y, Dược Khoa,Văn Khoa, Nông Lâm Súc) – Đinh Tiên Hoàng

– Mac Mahon – Công Lý (Dinh Độc Lập, Dinh Hoa Lan, Phủ Phó Tổng Thống, Chùa Vĩnh Nghiêm, trường tư thục Quốc Anh,Thương xá Crystal Palace – Tam Đa, rạp Hồng Bàng) – Nam kỳ Khởi Nghĩa

– Marchaise – Ký Con

– Maréchal Fox – Nguyễn văn Thoại ( trường đua ngựa Phú Thọ, bệnh viện Vì Dân) – Lý Thường Kiệt

– Maréchal Pétain – Thành Thái (trường trung học Bác Ái) – An Dương Vương

– de Marins – Đồng Khánh (tửu lầu Á Đông, Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel – Đại Thế Giới) – Trần Hưng Đạo B

– Martin des Pallières – Nguyễn văn Giai

Massiges – Mạc Đĩnh Chi (Hội Việt Mỹ, Ty Cảnh Quốc Gia Quận Nhứt, nhà hàng thịt rừng Trường Can, phở Cao Vân, trường trung học Les Lauriers, bộ Canh Nông)

Mayer – Hiền Vương (Nguyễn Chí Nhiều dược cuộc, trung tâm phở gà, giò chả Phú Hương, rạp Casino Đa Kao) – Võ Thị Sáu

– Miche Phùng – Phùng Khắc Khoan (tư dinh đại sứ Mỹ trước đó là tư dinh của tướng Năm Lửa Trần văn Soái)

Miss Cawell – Huyền Trân Công Chúa

– Nancy – Cộng Hoà (Trung Học Pétrus Ký, Đại Học Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, cửa hôngTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) – Nguyễn Văn Cừ

Nguyễn tấn Nghiệm – Phát Diệm – Trần Đình Xu

Noel – Trương Hán Siêu

Ohier – Tôn Thất Thiệp (hủ tiếu Thanh Xuân, Tài Nam Restaurant với món đuôn chà là chiên bơ rất mắc, Chùa Chà Và)

d’Ormay – Nguyễn văn Thinh (tòa soạn nhật báo Thần Chung – ông Nguyễn Kỳ Nam, Restaurant Admiral) – Mạc Thị Bưởi

– Paracels – Alexandre de Rhodes (Học ViệnQuốc Gia Hành Chánh cũ, Bộ Ngoại Giao)

Paris – Phùng Hưng (chợ thịt quay vịt quay)

– Pavie- Trần Quốc Toản (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Viện Hóa Đạo – Việt Nam QuốcTự, trường tư thục Hồng Lạc, cục Quân Cụ, chợ cá Trần Quốc Toản) – Đường 3 tháng 2

– Paul Blanchy – Hai Bà Trưng (Chợ Tân Định, Tổng Cuộc Điện Lực, BGI – Brasseries et Glacières de l’Indochine, Phở An Lợi, cà phê Quán Trúc, vũ trường Mỹ Phụng, công trường Mê Linh,nhà thờ Tân Định)

– Paulin Vial – Phan Liêm

Pellerin – Pasteur (Viện Pasteur, Khu Phở Gà, Phở Minh, Nhà sách Khai Trí, rạp Casino Sài Gòn sau đổi thành rạp Rạng Đông, nước mía bò bía Viễn Đông)

Pierre Flandin- Đoàn thị Điểm (hông trường Nữ Trung Học Gia Long, hông Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện)

– Laregnère – Bà Huyện Thanh Quan (Cư xá nữ sinh viên Thanh Quan, Chùa Xá Lợi)

– Renault – Hậu Giang

René Vigerie – Phan Kế Bính

– Résistance – Nguyễn Biểu (Cầu chữ Y)

Richaud – Phan Đình Phùng (Tổng Nha Kiến Thiết và Thiết Kế Đô Thị, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Bảo sanh viện Hồng Đức, Kỳ Viên Tự, Trường Rạng Đông, chợ Vườn Chuối, Restaurant Sing Sing, nhà hàng La Cigale, sân vận động PĐP) – Nguyễn Đình Chiểu

– Roland Garros – Thủ Khoa Huân

– Sabourain – Tạ Thu Thâu (cửa Đông chợ SàiGòn, Nhà thuốc tây Nguyễn văn Cao, nhà sách & xuất bản Phạm văn Tươi)

– Sohier – Tự Đức

– Taberd – Nguyễn Du (Sở xuất nhập di trú, Nhà thương Đồn Đất- bệnh viện Grall, trung tâm văn hóa Pháp – Centre Cul turel Francais) – Lý Tự Trọng

– Testard – Trần Quý Cáp (Vũ trường AuBaccara, Đại Học Y khoa cũ, Trường Âu Lạc) – Võ Văn Tần

– Tong-Kéou – Thuận Kiều (bệnh viện Chợ Rẫy)

– Turc – Võ Tánh (Phú Nhuận)  (Văn Phòng Quận Tân Bình, Phở Quyền, Lăng Cha Cả, bệnh viện Cơ Đốc) – Hoàng Văn Thụ

– Verdun – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở lên (Ngã Ba Chợ Ông Tạ, rạp Thanh Vân) – CMT8

Vassoigne – Trần văn Thạch

– Yunnam – Vạn Tượng (Q5) bên cầu Ba-Lê Cao

– Quai de Belgique – Bến Chương Dương (Thượng Nghị Viện- Hội Trường Diên Hồng,Tổng Nha Kế Hoạch) – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Marne – Bến Hàm Tử – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Myre de Vilers – Bến Bạch Đằng (Hotel Restaurant Majestic, Phủ Đặc Ủy Trung ƯơngTình Báo, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, bến đò Thủ Thiêm, Cột Cờ Thủ Ngữ – Point des BlagueurS, tư dinh Thủ Tướng, Sở Ba Son – Arsénal – Hải Quân Công Xưởng)

– Quai de Fou-Kien – Bến Trang Tử

Tài liệu tham khảo : – Đặc Trưng Net – Đa Kao trong tâm tưởng

MÀU NẮNG SÀI GÒN

(Cảm đề khi sưu tầm bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn)

Tôi nhớ Sài Gòn nắng chói chang

Những hàng cây ngả bóng bên đàng

Ngựa xe xuôi ngược về muôn nẻo

Tà áo thướt tha đưới gió ngàn

Cờ kéo (1) taxi bung rãi rác

Chuông reo (2) xe điện nhịp rình rang

Bồn Binh thổ mộ qua xe kéo

Hợp tấu rộn ràng vui ánh quang

Nguyên Trần (Toronto)

(1) Cờ kéo : khi lên taxi (hầu hết là chiếc Renault 4 có hai màu : xanh nửa phần dưới và vàng nhạt nửa phần trên), tài xế bẻ cờ đồng hồ tính tiền.

(2) Chuông reo : xe điện (tramway-street car) Sài Gòn reo chuông khi dừng lại ở các trạm. Nếu tôi nhớ không lầm thì thời bấy giờ có hai lộ trình chính :

– Thứ nhất là lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) chạy suốt con đuờng Trần Hưng Đạo từ Chợ Lớn vô Sài Gòn mà hai trạm chính là ga Nancy và ga Arras

– Thứ hai lộ trình Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) chạy trên đường Hàm Nghi ngừng ga Chợ Cũ rồi quẹo xuống bến Bạch Đằng rẽ vô Hai Bà Trưng chạy tới chợ Tân Định.

Hai bên thành xe điện có nhiều mẫu quảng cáo khác nhau nhưng nổi bật nhất là 4 hiệu : – Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân của ông bầu bóng tròn Võ văn Ứng – Thuốc dưỡng thai Nhành Mai – Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiến Tín – Kem Hynos anh Bảy Chà.

Lúc đó tôi rất thích nhìn cần câu điện trên nóc xe chạm vào hệ thống dây điện xẹt lửa màu xanh xanh tím tím rất lạ và đẹp mắt. Bây giờ ở Toronto xe điện cũng chạy đầy đường và cũng xẹt lửa sáng ngời nhưng tôi thấy nó vô vị làm sao, có lẽ tâm lý là cái gì đã mất đi, đã vào kỷ niệm thì đều quý cả.

SÀI GÒN CỦA TA ƠI !

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay

Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa

Niềm đau nói mấy cho vừa

Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

Đâu còn những buổi hoàng hôn

Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu

Tự Do rực rỡ muôn màu

Maxim dìu bước em vào thiên thai

Duy Tân bóng mát trải dài

Queen Bee vang tiếng hát ai dặt dìu

Đường Trần quốc Toản thân yêu

Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng

Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền

Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương

Đường về Gia Định muôn phương

Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều

Đa Kao xe cộ dập dìu

Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy

Lăng Ông Bà Chiểu giờ đây

Còn đâu hương khói những ngày đầu Xuân

Từ Cây Thị đã bao lần

Loanh quanh đưa lối mãi gần Cây Mai

Qua Cầu Khánh Hội chia hai

Lối đi Thương Cảng dấu hài còn in

Quán ăn Chợ Lớn linh đình

Phú Lâm ngả rẽ tâm tình từ lâu

Nguyên Trần (Toronto một ngày nhớ về Sài Gòn)

Bài “Tên đường phố Sài Gòn xưa và nay” của Nguyên Trần là một công trình nghiên cứu công phu và rất  thú vị. Bài đã được bổ sung nhiều lần cho thật hoàn chỉnh. Nhóm chủ trương xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc version mới nhất của anh. Kính.

Yên Huỳnh post

Lời kêu gọi khẩn cấp: Tư vấn cho Kim Dâng Un

Lời kêu gọi khẩn cấp: Tư vấn cho Kim Dâng Un

nguyenhuuvinh

RFA

(Truyện vui cuối tuần)

Hỡi tất cả các đảng viên Cộng sản

Nhận thấy rằng:

Ngay từ khi đi học, tôi và các bạn – chúng ta đã được hệ thống giáo dục của “Đảng ta” giáo dục rằng: Trong thế giới ngày nay, tinh thần Quốc tế Cộng sản là hết sức cao cả. Tinh thần đó phải được coi là lớn lao nhất, quan trọng nhất của những người con yêu nước – tức là yêu Chủ nghĩa xã hội. Với tinh thần đó, dù phải hy sinh lợi ích của quốc gia, của dân tộc, thì cũng phải hy sinh cho tinh thần quốc tế vô sản cao cả.


Trong suốt thời kỳ cầm quyền, lãnh đạo dân tộc những năm qua, “Đảng ta” đã thực hiện một cách xuất sắc đầy vinh quang. Về vai trò, “Đảng ta” đã tự nhận trách nhiệm cho mình là “Tiền đồn của phe XHCN” của toàn thế giới. Về mặt tuyên truyền, “Đảng ta” đã cho nhân dân ta biết rằng: Đó là sứ mạng cao cả mà lịch sử đã “chọn chúng ta làm điểm tựa” – Tố Hữu.

Về vị trí, “Đảng ta” đã không ngần ngại tự xưng Việt Nam là một tên lính gác cho Hòa bình thế giới. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã từng nói: “Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ“. (Phát biểu trong chuyến thăm Cuba năm 2009). Vì vậy, hiện nay Cuba hình như đang ngủ hẳn, thì Việt Nam chúng ta lại một lần nữa được “lịch sử giao phó” nhiệm vụ gác cả ngày cả đêm, không thể rời bỏ vị trí.

Chẳng hạn trước đây, khi bạn vàng Saddam Husein bị nguy ngập trước sự nổi dậy của người dân và cuộc tấn công của đồng minh, trên mạng đã xôn xao tin Phó Chủ tịch nước ta Nguyễn Thị Bình đã khẩn cấp sang thăm Iraq có thể là để tư vấn về vấn đề chiến tranh du kích. Tuy nhiên, việc sang đó hơi chậm nên Saddam Husein đã bị người dân lật đổ và dẫm giày lên mặt. Cuối cùng đã phải chịu án treo cổ. Lần này, càng cần rút kinh nghiệm làm sớm hơn.

Trước tình hình bán đảo Triều Tiên căng thằng, phía Triều Tiên đã chuẩn bị tinh thần giải phóng Miền Nam. Việc giải phóng miền Nam Triều Tiên là nhiệm vụ to lớn của người Cộng sản Triều Tiên. Nhằm thể hiện tinh thần yêu thương đối với người dân Miền Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đang sống trong tủi nhục của nạn ngoại xâm, mất nước và chính phủ bù nhìn…

Tuy nhiên, trên mạng ít tìm thấy thông tin của phía Bắc Triều. Vì thế, các bạn đảng viên Cộng sản, các đoàn viên là cánh tay đắc lực của Đảng, cần có những đề xuất và ý kiến với đảng ta và đảng bạn. Hồ Chí Minh đã chẳng để lại di chúc rằng: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình” đấy thôi?

Nếu là cố vấn cho Kim Dâng Un bạn sẽlàm gì?

Riêng tôi, dù không là đảng viên Cộng sản, nhưng nếu là cố vấn cho Un, tôi sẽ tư vấn những việc sau:

Về quân sự, vũ khí:

– Lập lại (nếu chưa có) hệ thổng “Ủy” trong quân đội, để đảm bảo quân đội chỉ trung thành với đảng cộng sản, nhân dân là cái đinh, chết thì nó đẻ. Tuyên truyền rõ trong nhân dân rằng: “Quân đội trước hết phải trung thành với đảng. Bởi đảng đẻ ra quân đội trước khi có đất nước này”. Nếu trường hợp nào không thông, không tiêu diệt được để bịt mồm, thì mời chuyên gia ở Báo Quân đội Nhân dân của ta sang giải thích.

– Tiêu chí là: Thắng lợi là quan trọng. Khẩu hiệu là “Dù phải đốt cháy cả Dãy núi Taebaek (Thái Bạch sơn mạch – là một dãy núi kéo dài trên cả hai miền nam và bắc bán đảo Triều Tiên. Đây là dãy núi chính của bán đảo Triều Tiên) thì cũng phải giành cho được độc lập”.
(Lưu ý: Cấm tuyệt đối không cho thằng nào hỏi lại hoặc không trả lời câu hỏi: Đốt hết thì giành độc lập để làm gì?)

– Chuẩn bị đầy đủ cung nỏ, loại có thể bắn và tiêu diệt máy bay như Việt Nam đã từng có. Loại này nếu không có, thì sang mua của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Tăng cường huấn luyện nữ dân quân, cụ già, thiếu nhi dùng súng trường CKC bắn phát một để bắn rơi máy bay F105 của Mỹ khi chiến đấu. Cách huấn luyện có thể học tập ở Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Quân đội nhân dân Việt Nam cần cử ngay các anh hùng, dũng sĩ đã từng dùng súng trường CKC phát một bắn rơi máy bay địch như anh hùng Đinh Cà Méo ở Quảng Bình, Đinh Thị Hồng Thương ở Hà Tĩnh, các đội dân quân nữ… sang để giúp bạn. Loại này dù ta rất nhiều nhưng vẫn phải cử đi gấp không thì chết hết lại không có người mà huấn luyện.

– Tổ chức nhiều Công ty Quân đội làm kinh tế, thả cửa cho đám sỹ quan tham gia và kiếm tiền. Chúng nó có nhiều tiền thì mới cố giữ quân đội. Đặc biệt, trong các Công ty đó, duy trì chế độ cha truyền, con nối một cách quyết liệt, kệ cha thiên hạ thối mồm.

– Đặc biệt, cần quan tâm là Quân đội phải tham gia chống Diễn biến hòa bình trong nhân dân, đối tượng chính là nhân dân. Nhất là khi có mâu thuẫn giữa nhân dân và các nước anh em trong Phe XHCN.

– Công an có thể làm bất cứ việc gì mà không cần tuân theo luật pháp. Những đứa dân khó trị đưa vào đồn Công an cho tự tử.

– Công an cần nêu cao khẩu hiệu: “Còn đảng, Còn mình” khắp mọi nơi để củng cố tinh thần bảo vệ đảng cho họ.

– Lập ngay các đội quân khủng bố, giết người, ném lựu đạn không ghê tay mang tên “Đội tự vệ thiếu nhi” hoặc “Biệt động quân”… gửi sang Nam Hàn hoặc tổ chức tại chỗ để chiến đấu trong lòng địch hiệu quả nhất.

Về Chính trị:

– Liên tục kêu gào: Chúng tôi giải phóng miền Nam, nguyện làm tiền đồn cho phe XHCN. Có vậy mới được sự ủng hộ, giúp đỡ của các anh bạn vàng Cộng sản.

– Nhượng bớt (hoặc để chiếm không ý kiến) một số phần lãnh thổ, hải đảo và biên giới. Điều này dễ làm trong điều kiện chiến tranh không ai chú ý. Nhằm để các nước anh em, bạn vàng ủng hộ chắc chắn rằng đảng sẽ tồn tại vĩnh viễn.

– Lập ngay Ban Tuyên Huấn ở mọi cấp (Hoặc cũng có thể là Ban Tư tưởng và Văn Hóa) để hướng dẫn nhân dân được tin ai, tin cái gì… chỉ do đảng nói. Tăng cường việc cho các quan chứ nói văng mạng không cần sự thật, không cần sợ dư luận, không cần việc chịu trách nhiệm… những điều đó đã có đảng lo.

– Bắt giam, không cần xét xử hoặc xét xử lấy lệ những kẻ nào dám yêu Tổ quốc mà không yêu CNXH, dám đòi dân chủ, nhân quyền, dám phản đối đảng bán nước… không khoan nhượng.

– Làm hàng loạt khẩu hiệu nội dung như: Đảng CS Triều Tiên muôn năm, Đảng CS Triều tiên là người tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của dân tộc. Vì miền Nam ruột thịt, vì CNXH, mỗi người làm việc bằng hai, bằng ba”… dán khắp mọi nơi.

– Thu hồi tất cả mọi phương tiện nghe nhìn mà không được kiểm soát. Cấp giấy đăng ký các loại phương tiện đó, với điều lệnh: Cấm nghe đài địch.

– Tăng cường về sự lãnh đạo tài tình của đảng, như đã biết trước vấn đề này, vấn đề kia… Nhưng sở dĩ thất bại là tạm thời vì đảng chủ trương như thế…

– Tăng cường tuyên truyền về cha già dân tộc là thánh sống, là niềm tin yêu tất thắng, là đẹp nhất, là hi sinh nhất, là đạo đức nhất (Nếu có thể thì giấu vợ con đi và tuyên truyền người đã hi sinh đời tư cho Tổ Quốc – Khi cần thiết, có thể hy sinh đám thân nhân của người đi). Khẩu hiệu là “Toàn đảng, toàn quân, toàn dân một ý chí, học tập và làm theo đạo đức tư tưởng Kim Dâng Ủn”, kể cả bệnh viện Tâm thần.

– Thời gian qua, hệ thống tuyên truyền đã dựng lên nhiều hình ảnh đẹp về lãnh tụ, về Cha già dân tộc như: “Khi mới ba tuổi, đại tướng Kim Jong-un đã biết bắn súng. Năm chín tuổi, đại tướng Kim đã có thể bắn trúng mục tiêu di động. Cũng từ năm ba tuổi, đại tướng Kim đã học lái xe. Năm chưa tròn tám tuổi, đại tướng Kim lái chiếc xe tải chở hàng cỡ lớn, vượt qua đoạn đường khúc khuỷu với vận tốc bình quân 120 km/h và tới đích an toàn”. Tuy nhiên đó là những câu chuyện dùng để truyền miệng là chính. Cần có một số tác phẩm do chính người viết ra để ca ngợi mình.

Trong trường hợp cần thiết, kính đề nghị Cha già dân tộc Kim Dâng Un tự viết truyện kể về đời hoạt động của mình để nhân dân đọc mà truyền tụng. (Lưu ý: Có thể để Người lấy tên khác cho đỡ lộ hàng và bỉ mặt).

– Sáng tác ngay các bài hát cho Thiếu nhi, Thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão… cho đủ mọi giới ca ngợi “Bác Ủn” – cha già dân tộc. Chẳng hạn: “Đêm qua em mơ gặp Bác Ùn, dáng bác lùn, tóc bác dựng cao, em âu yếm hôn đôi môi bác…”

– Tăng cường tuyên truyền về nỗi thống khổ của nhân dân miền Nam ruột thịt đang bị bọn Mỹ xâm lược và bọn tay sai bán nước chà đạp và kìm kẹp. Người dân Miền nam đang ngày đêm rên xiết dưới gót giày xâm lược và lưỡi lê của bọn tay sai.

– Sáng tác nhiều tác phẩm về kẻ thù của dân tộc như ăn gan người sống, uống máu trẻ em, giết con trẻ, đầu độc tù nhân, giết cả làng bằng bom đạn… Nếu không có hình ảnh, có thể dùng hình ảnh của những cuộc cưỡng chế bên Việt Nam làm thí dụ.

– Sang Việt Nam, mua ngay Tuyển tập Tố Hữu, về khẩn trương thay tên nhân vật chính thành Kim Dâng Un, mọi nội dung khác có thể để nguyên. Sau đó tổ chức cho các nhà văn, giáo viên, nhà thơ… bình giảnh về nội dung như: “Miền Nam ơi, thuốc độc giấu trong cơm”… hoặc sáng tác các bài hát: “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước, diện Đế Quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước”.

– Đặc biệt, cần phải có ngay những hình mẫu thiếu niên, thiếu nhi anh hùng như Lê Văn Tám ở Việt Nam trong thời chống Pháp, Nguyễn Bá Ngọc trong thời chống Mỹ… để trẻ em noi theo. Tăng cường những bài thơ như: “Ngu xuẩn nhất nhì, là tổng thống Mỹ” – Trần Đăng Khoa – để các em học sinh dễ nhớ, dễ thuộc.

– Trong trường hợp không có hình ảnh Lê Văn Tám, có thể dùng hình ảnh dân Việt Nam bị cướp đất tự thiêu những ngày qua đầy rẫy trên mạng.

Về Kinh tế:

– Thực hiện tập thể hóa toàn bộ nền kinh tế có chủ đạo của nhà nước. Cấp tem phiếu cho từng người dân, quản lý chặt chẽ bằng hộ khẩu. Nhằm giúp cho nhà nước biết nhanh nhất đứa nào có ý định phản loạn, sống ngoài nhà nước, hoặc có ý đồ phản loạn thì cắt ngay lương thực, thực phẩm, tem phiếu thương nghiệp… cho nó đói rã họng phải theo đảng đến cùng.

– Tuyên bố với thế giới: Tiến thẳng lên CNXH không qua tư bản chủ nghĩa. Quyết tâm đi tắt đón đầu, nhảy vọt, hiện đại hóa… Nghĩa là người dân càng nghe càng khoái nhằm thúc đẩy họ tiến lên theo đảng. Trong trường hợp cần thiết, có thể tuyên bố nền kinh tế là “Thị trường định hướng XHCN”. Tuy nhiên, khi đi gặp các nước tư bản, thì nên xin bằng được họ công nhận là Kinh tế thị trường mà không cần cái đuôi thổ tả kia.

– Bán tài nguyên thiên nhiên, tăng cường sự hiện diện của người dân, binh lính và các cơ quan từ các nước anh em xã hội chủ nghĩa để tăng cường đoàn kết và xin viện trợ.

– Thậm chí, khi cần bán bớt một số đảo, quần đảo của Miền Nam đang giữ cho bạn vàng, nhằm giữ bằng được viện trợ vũ khí, ca la thầu, lương thực… để lấy tiền giải phóng miền Nam. Để thực hiện điều này, cần nói với nhân dân là “Bạn giữ cũng như ta giữ”.

– Tăng cường các loại thuế, phí không cần ý kiến khả năng của người dân. Bất cứ người dân nào kêu ca, xếp ngay vào thế lực thù địch.

– Tăng cường các “quả đấm thép” – Tập đoàn kinh tế của nhà nước để khi làm ăn thất bại thì đấm vào mặt nhân dân.

Về Ngoại giao:

– Kiên quyết không đội trời chung với Đế Quốc Mỹ, chỉ có thể đội trời chung với kẻ thù truyền kiếp. Tiến tới lập đường dây nóng và mối quan hệ sắt son “4 tốt, 16 chữ vàng” với bạn của đảng, dù là kẻ thù của nhân dân, dân tộc.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng trong đường lối ngoại giao, quyết tâm làm bạn với tất cả các nước, tuy nhiên, chỉ làm bạn thật với Bạn vàng mà thôi.

–  Kiên quyết không động binh, không làm mất lòng người bạn lớn XHCN Trung Hoa trong mọi trường hợp, kể cả có nguy cơ xâm lược và bị xâm lược. Cần xác định rằng, nếu bạn lớn không ủng hộ, thì đảng không có đất mà chôn.

Về giáo dục:

– Khẩn trương hoàn thiện “một nền giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên” cho các sinh viên, học sinh từ đại học đến nhà trẻ học tập Chủ nghĩa Mác – Lenin và đạo đức Tư tưởng Kim Dâng Un là quan trọng, các vấn đề khác như kỹ thuật, công nghệ, tài năng không quan trọng. Bởi không thấm nhuần được các thứ đó thì “có tài cũng vô dụng”. Bộ môn này được thực hiện bất cứ đâu, kể cả cá trường Tôn giáo.

– Đưa ngay vào chương trình giáo dục những câu chuyện dù là truyền thuyết, dù là tự kể, hoặc đặt ra… nhưng phải có tính đảng, nghĩa là phải chứa đựng bạo lực càng nhiều càng tốt. Chẳng hạn: “Bạn An giết được 10 tên địch, bạn Bình giết được hơn 6 tên, hỏi cả hai bạn giết được bao nhiêu tên?”. Hoặc những câu chuyện cỡ như Tấm hiền dịu, xinh đẹp nhưng vẫn giết Cám làm mắm cho mụ dì ghẻ ăn… những tác phẩm đó có tác dụng mãnh liệt tạo nên một xã hội chém giết mà không cần suy nghĩ và run tay. Kinh nghiệm về điều này đã có ở Việt Nam, khi thanh niên va chạm  xe máy là cầm dao cắt cổ luôn, hoặc thảm sát xảy ra thường xuyên  thời gian gần đây.

– Tăng cường “Cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng ở miền Bắc” một cách sâu rộng nhất, xác định rõ mục tiêu là tiêu diệt tôn giáo bằng mọi cách từ thô sơ như phá chùa, phá đền, cướp nhà thờ… đến tinh vi như lập ra và hỗ trợ một số tôn giáo quốc doanh để quần chúng nhân dân ngu xuẩn cứ vậy đi theo.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng khắp mọi nơi mọi chỗ, kể cả trong quan hệ nam nữ, trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình… Đưa ngay một Đại tướng nổi tiếng sang phụ trách vấn đề này cho có uy lực.

– Cấm tuyệt đối việc tụ tập trái phép. Nhưng tăng cường kích động dân Mỹ và miền Nam, nhất là sinh viên đòi quyền tự do biểu tình, tự do tôn giáo, tự do bầu cử. Mục đích là ở các nước đó, họ biểu tình càng nhiều càng tốt.

– Tại miền Nam và các nơi khác ngoài Bắc Triều tiên, tăng cường đòi hỏi tự do tôn giáo. Thậm chí nếu cần, đưa vài sư sãi xuống đường, đổ xăng đốt rồi đưa hình ảnh tự thiêu lên diễn đàn tố cáo. Tăng cường các bài thơ kiểu “Emily con ơi” của Tố Hữu bên Việt Nam với những câu thơ nhức nhối như sau mới có thể kích động được người dân:

Giôn-xơn
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật
Măc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc…

– Liên tục cải cách, cải tiến, cải tổ ngành giáo dục, kiên quyết thực hiện bằng được nền “giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên”.

Thưa các bạn đảng viên cộng sản

Còn nhiều mặt, nhiều vấn đề cần tư vấn cho Kim Dâng Un, nhưng trong một bài viết ngắn, không thể liệt kê hết. Nhất là trong tư cách một cá nhân, không thể lĩnh hội hết bài học từ đảng quang vinh của chúng ta. Vì thế tôi kêu gọi các bạn hãy lên tiếng để ủng hộ Kim Dâng Un trong “Sứ mạnh chính trị to lớn mà lịch sử đã giao phó” là: Tiến hành Giải phóng miền nam, Thống nhất tổ quốc, đưa đất nước “tiến nhanh, tiến mạnh tiếng vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội” như ở Việt Nam ta.

Nếu các bạn không làm kịp điều đó, tôi tin rằng một ngày không xa, trên Thiên đường XHCN chỉ còn mỗi Việt Nam, không có bạn bè láng giềng thì thật là buồn thảm.

Thậm chí, các bạn sẽ có lỗi trước vong linh của người, đã từng hy sinh để đưa Cộng sản vào đất nước này tác oai tác quái cho các bạn được hưởng chế độ thiên đường.

Hãy nêu cao ý chí và tinh thần của người Cộng sản các bạn nhé.

Tiến lên. Toàn thắng ắt về ta.

Hà Nội, 22/8/2015, Ngày Bắc Hàn tuyên bố Chuẩn bị xong hoạt động quân sự chống Hàn Quốc.

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tìm thấy đoàn tàu chở đầy vàng của Đức quốc xã ở Ba Lan

Tìm thấy đoàn tàu chở đầy vàng của Đức quốc xã ở Ba Lan

Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

22.08.2015

Hai người cho biết đã phát hiện ra một đoàn tàu mất tích bí hiểm của Đức quốc xã ở Ba Lan, chở đầy vàng, kim cương và súng đạn, từng biến mất trong Thế Chiến II, và hai người này muốn 10% giá trị hàng hóa thì mới chịu tiết lộ nơi tìm ra đoàn tàu.

Một công ty luật ở Walbrzych, tây nam Ba Lan, nói hai người đàn ông phát hiện ra đoàn tàu bọc thép với hàng hóa trị giá tới 1 tỷ đôla đã liên hệ với họ.

Trong khi đó, quan chức địa phương tỏ ra nghi ngờ về thông báo phát hiện đoàn tàu, nhưng sẽ theo dõi các diễn biến.

Các trang web địa phương nói rằng hai người tìm thấy tàu một người là công dân Ba Lan còn người còn lại mang quốc tịch Đức.

Hội đồng thành phố Walbrzych đã lập một ủy ban khẩn cấp do thị trưởng thành phố đứng đầu để điều tra thông tin trên. Các trang tin ở địa phương cho biết đoàn tàu dài 150 mét và có thể chở tới 300 tấn vàng.

Trong khi đó, sau khi tin trên loan đi, hiện những người săn tìm cổ vật đang từ khắp châu Âu đổ tới nơi nghi tìm thấy đoàn tàu ở Ba Lan.

Trong Thế Chiến II, các đoàn tàu của Đức quốc xã thường chở các đồ vật lấy được từ Đông Âu tới Berlin.

Đoàn tàu của Đức quốc xã đã mất tích gần nơi mà hiện là thành phố Wroclaw ở Ba Lan, khi các lực lượng của Xô Viết ập tới năm 1945.

Người ta từng tiến hành tìm kiếm đoàn tàu này, nhưng không phát hiện ra manh mối nào.

Theo Reuters, UPI, Guardian

Trung Quốc: Cá chết hàng loạt sau vụ nổ lớn ở Thiên Tân

Trung Quốc: Cá chết hàng loạt sau vụ nổ lớn ở Thiên Tân

Cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân, 20/8/2015.

Cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân, 20/8/2015.

Vụ nổ kinh hoàng ở Thiên Tân

22.08.2015

Một số lượng lớn cá chết được phát hiện gần khu vực xảy ra vụ nổ Thiên Tân. Tuy nhiên, chính quyền thành phố Thiên Tân cho biết đã xét nghiệm và không có hợp chất xyanua trong cá.

Mặc dù vậy, mức độ xyanua trong vùng tâm vụ nổ cao gấp 356 lần so với tiêu chuẩn an toàn quốc gia.

Các khu vực bên ngoài được giám sát chất lượng không khí và nước nhưng cũng không tìm thấy dấu hiệu ô nhiễm tăng bất thường.

Chính quyền cũng đã gia tăng giám sát ô nhiễm đất.

Hình ảnh cá chết hàng loạt bên bờ sông Hải Hà lan truyền trên mạng trực tuyến và có suy đoán rằng chất độc từ vụ nổ đã gây ô nhiễm nguồn nước.

“Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì giống như vậy”, ông Vương Lôi, 47 tuổi, một người quản lý công ty vận chuyển hàng hóa đeo một chiếc mặt nạ khảo sát cá chết làm tắc nghẽn vùng nước nông của con sông nói. “Phải có một mối liên hệ giữa việc cá chết và vụ nổ. Có lý do nào khác để giải thích cho việc cá chết hàng loạt này? ”

Ông Nhan Siêu, một người dân sống ở Thiên Tân 15 năm, nói trước khi kết quả xét nghiệm nước được công bố, rằng ông thấy cá chết hàng năm nhưng không nhiều như năm nay. “Cũng dễ hiểu khi chúng tôi lo lắng về sự ô nhiễm sau vụ nổ. Tôi tin sẽ sớm có kết quả chính thức”, ông nói.

Ông Đặng Tiểu Văn, người đứng đầu bộ phận giám sát môi trường của Cục Bảo vệ Môi trường Thiên Tân, cho biết trong buổi họp báo hôm 20/8 rằng các chuyên gia đã đến khu vực trên thu thập mẫu nước để xét nghiệm.

8 giờ tối cùng ngày, chính quyền thành phố cho biết không có chất độc xyanua trong mẫu nước.

Ông Đặng nói các chuyên gia giám sát môi trường đã phát hiện một số hợp chất xyanua trong nước biển từ năm trạm quan trắc ở gần khu vực vụ nổ, nhưng vẫn trong giới hạn bình thường so với mức trung bình những năm qua.

Nhà chức trách đã thừa nhận rằng ít nhất 700 tấn natri xyanua được lưu trữ ở các kho trong vụ nổ ngày 12/8 ở Thiên Tân, giết chết hơn 100 người và làm bị thương hàng trăm người khác.

Ít nhất 65 người vẫn mất tích và được cho là đã chết. Hầu hết trong số họ là nhân viên cứu hỏa.

Theo China Daily, NYTimes

Những năm tháng còn lại trong cuộc đời …

Những năm tháng còn lại trong cuộc đời …

Không rõ tác giả.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, ta lang thang trong khuôn viên mái trường , vui cười vô tư và bây giờ đã gần 50 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già!

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Vì qua một ngày, ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết sẽ còn vui được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt x​ẩy ra trong đời sống.

Hạnh phúc chỉ là những gì hiện đang ở chung quanh ta, trong tầm tay ta.

Về tiền bạc, Ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi  ta cũng không thể mang nó theo.

Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn, nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.

Đồng tiền giúp ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .

Không trách móc ai làm gì nữa. Họ làm sai với ta thì họ cũng đã bị lương tâm cắn rứt, và theo thời gian họ cũng đã biết ăn năn, hối hận rồi.

Vào trong internet , fb để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin mới, một chuyện vui, một bản nhạc hay, một bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rỗi đi làm những việc từ thiện ngoài xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưỡng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa”.

Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.
Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu hay  người tình của ta. Hãy luôn trân trọng họ.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc ta để lại cho người khác xài.

Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưỡng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. nhưng sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời rồi.

Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú.

Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Ta cần tránh đi những sự cãi vả, tranh dành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cãi vả, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi của ta, nhất là những người đang đau yếu. Ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giữ bình an trong tâm hồn.

Ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít , kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.Sinh, Lão, Bệnh, Tử

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi Tử Thần gọi đến thì vui vẻ mà đi. Cốt sao sống thanh thản,không hổ thẹn với lương tâm…

Và cuối cùng hãy luôn nhớ rằng cuộc đời của một người cũng chỉ là một con số không to lớn.

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

Alan Phan

image

Trung Quốc đối diện với biến động xã hội – VN Đồng mất hơn 10% giá trị – Suy thoái toàn cầu làm các dòng tiền lưu thông chậm lại.

(GNA: Sau đây là bản gốc của bài viết. Nhiều tờ báo khác đăng tải, nhưng đã biên tập kiểm duyệt nhiều ý chính)

Đầu năm nay, một người bạn cũ từ Thượng Hải ghé qua California thăm. Anh là đại gia có tiếng, liên quan đến nhiều dự án rầm rộ,  từ công nghệ cao, sản xuất hàng gia công đến bất động sản, chứng khoán. Dĩ nhiên, sự thành công của anh giống như các tư bản đỏ khác đều dựa vào một mạng lưới quan hệ rất chặt chẽ với chính quyền địa phương. Trong khi đó, chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình đang lan rộng khắp nước, nhất là từ khi Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang bị bắt.

Trong bữa ăn, hai vợ chồng tỏ vẻ lo âu, thiếu thần sắc. Dù tôi cũng đang bị cái bệnh suy thận hành hạ, nhưng ngoài việc sụt cân, tôi vẫn nghĩ mình may mắn hơn khi so với cặp tỷ phú đô la này. Sau những cập nhật về tin tức, bạn bè, cùng thời sự nóng bỏng của Trung Quốc, anh đi thẳng vào vấn đề…Anh đã chuyển ra khỏi Trung Quốc gần 40 triệu USD nhưng các tài sản khác còn kẹt lại trong nước vẫn lên đến cả chục tỷ (dĩ nhiên phải trừ đi số nợ nần và vốn góp từ nhiều người khác). Anh hỏi có cách gì để “internationalize” (quốc tế hóa) các tài sản này để đặt chúng ngoài tầm tay của chính quyền. Niêm yết sàn chứng khoán Âu, Mỹ…có khả thi?

Tôi không thể tiết lộ chi tiết những chiến lược và chiến thuật tái cấu trúc của một khách hàng; nhưng nói về vĩ mô, tôi nói với anh là “time is running out” cho anh, trong một bối cảnh Trung Quốc sẽ gặp nhiều hỗn loạn kinh tế và xã hội trong vài năm tới. Tôi nói đây chỉ là cảm nhận (perception) của một doanh nhân; không phải là một dự đoán (prediction) chính xác về bất cứ kịch bản nào. Nhưng chắc “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên cái miệng ăn mắm muối, nói bậy bạ của tôi, lại thể hiện một tiên tri “chó ngáp phải ruồi”, khá hiện thực, nhất là trong vài tháng qua, với sự sụp đổ của sàn chứng khoán Trung Quốc và sự phá giá của đồng nhân dân tệ.

Trước hết, xin nói rõ hơn về khác biệt giữa “dự đoán” và “cảm nhận”. Dự đoán từ các chuyên gia, giới hàn lâm…thường dựa vào số liệu, sự kiện, phân tích rồi dự phóng theo nguyên tắc khoa học (định lượng hay định phẩm- quantitative or qualitative). Cảm nhận cũng dựa trên vài yếu tố đó, nhưng pha trộn khá nhiều cái trực giác mà người làm ăn gọi là “gut feeling”, một may mắn hay rủi ro có thể đẩy bạn lên cao hay chôn bạn xuống bùn.

Và tôi giải thích với người bạn Thượng Hải của tôi những nguyên nhân tôi cho rằng time is running out cho anh ta và có lẽ cho khá nhiều nền kinh tế trên thế giới. Hôm nay, cập nhật thêm tình hình kinh tế Trung Quốc hiện nay, tôi có thể kết luận hơi “shocking” với cảm nhận của mình.

a. Tôi nghĩ rằng cái gọi là “cuộc chiến tiền tệ” chỉ là một thủ thuật mà các lãnh đạo kinh tế thế giới vẫn dùng hàng ngày, dưới nhiều hình thức khác nhau. Âu Mỹ Nhật…thường kết tội Trung Quốc là cố tình giữ tỷ giá nhân dân tệ quá thấp, rồi quá cao… để thu lợi cho cán cân thương mại. Nhưng chính các quốc gia này cũng đã hành xử tương tự khi cần.

Sự phá giá của tiền Trung Quốc trong tuần qua chỉ là một cú đánh bắt buộc của chính quyền để cứu những công ty xuất khẩu và tạo thế cạnh tranh về giá cả. Tuy vậy, tôi nghĩ là chính sách này sẽ bị giới hạn nhiều về hiệu quả vì các nước có mặt hàng xuất khẩu tương tự cũng biết phá giá bản tệ của mình để giữ thị phần.

Sự can thiệp của chính quyền Trung Quốc trong việc tỷ giá cũng giống như những can thiệp vào thị trường chứng khoán…nó có thể giúp ổn định trong một thời gian ngắn, không thể áp dụng lâu dài. Một hậu quả nghiêm trọng mà lãnh đạo Trung Quốc chịu hy sinh là niềm tin của nhà đầu tư, đối tác nước ngoài…về dài hạn. Đây sẽ là một “tử huyệt” , khó hồi phục, khi so với bong bóng tài sản (chứng khoán, bất động sản, hàng tồn kho…) hay so với nợ công địa phương, nợ xấu, tín dụng đen…

b. Ảnh hưởng lớn hơn có thể làm phần lớn dân số trên thế giới “nghèo” đi một chút là đồng USD sẽ tăng giá mà cơ quan Fed không cần phải hạ lãi suất. Tôi nghĩ rằng tỷ giá nhân dân tệ với Mỹ kim sẽ “xuống” thêm khoảng 12% cho đến cuối 2016. Các bản tệ khác của Châu Á cũng sẽ mất khoảng 7% giá trị trong thời gian này (so với USD). Riêng Việt Nam, vì một nền kinh tế quá buộc chặt vào Trung Quốc, VN đồng sẽ lao dốc xuống hơn 10%, mặc cho nỗ lực hay lời cam kết của Ngân Hàng Nhà Nước. Những số nợ thanh toán bằng USD sẽ chịu thêm phí tổn và nhiều doanh nghiệp sẽ lao đao với tình huống mới.

c. Có thể nói lần này Trung Quốc sẽ xuất khẩu “giảm phát” toàn cầu. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa sẽ không tăng trưởng dù giá có rẻ hơn chút đỉnh, vì người dân đã bị giảm thu nhập và nạn thất nghiệp sẽ gia tăng. Kỳ vọng vào đầu tàu Mỹ cũng sẽ không hiện thực vì hiện nay, kinh tế Mỹ đã có nhiều dấu hiệu mệt mỏi. Dow Jones và S&P indices đang chờ một điều chỉnh mạnh, có thể đến với việc “nổ bong bóng IT” của Silicon Valley.

Tuy không tệ hại và sâu đậm như cuộc khủng hoảng kinh tế của Châu Á năm 1997 hay thế giới năm 2007, kinh tế toàn cầu sẽ chuyển qua một chu kỳ suy thoái, rất khác biệt với những năm go-go của thập niên vừa rồi. Giống như các cuộc khủng khoảng trước đây, các dự án FDI và dòng tiền IDI sẽ ngưng chảy về các kinh tế mới nổi; mà tìm chỗ trú ẩn an toàn ở Âu, Mỹ, Nhật.

d. Khó tiên đoán hơn là những biến động xã hội và chính trị có thể xẩy ra ở Trung Quốc. Khế ước xã hội của Mỹ với người dân là một hệ thống pháp trị, tự do, bình đẳng với cơ hội thăng tiến cho mọi người, không kỳ thị chủng tộc, mầu da hay giàu nghèo. Khế ước xã hội của Trung Quốc (đảng cầm quyền) với người dân là nếu bạn được no cơm ấm cật thì phải tuyệt đối nghe lời chính quyền, cấm phê phán hay đòi hỏi dân chủ.

Nếu bây giờ chính quyền không có khả năng cung cấp phần cam kết của họ, thì việc gì sẽ xẩy ra? Chỉ những vụ cướp đất, ô nhiễm, thực phẩm độc hại, khoảng cách giàu nghèo… đã tạo nên những biểu tình phản kháng khắp nơi, thì chuyện mưu sinh đủ ăn đủ chơi…có thể là một ngòi thuốc súng để thay đổi toàn diện xã hội.

&&&&&

Sau bữa ăn tối đó, tôi và người bạn Thượng Hải tình cờ gặp một quản lý quỹ đầu tư Mỹ khi ra về. Sau phần nắng mưa rồi giới thiệu , ông Mỹ hỏi tôi,” hai anh thấy các khoản đầu tư ở Trung Quốc của tôi có an toàn không?” Tôi cười, nửa đùa nửa thật,” Stay out of China”….rồi nhớ là anh bạn Mỹ này có một cô bồ người Nga rất quyến rũ, tôi tiếp,” and Russia, too…”

Rồi quay lại anh bạn Trung Quốc,” Tiền chỉ là một công cụ. Nó sẽ đưa bạn đến chỗ nào bạn ước muốn; nhưng nó không thể thay bạn để lái xe ( Money is only a tool. It will take you wherever you wish, but it will not replace you as the driver – Ayn Rand) ….

Alan Phan

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-08-21

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ tị nạn thứ hai Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

site_197_Vietnamese_424689-700.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here ra mắt tại Úc năm 2015

Photo courtesy of sbs.com.au

Your browser does not support the audio element.

Nguyễn Cát Thảo, luật sư trẻ Australia gốc Việt, ra đời trong trại tị nạn Sikiew ở Thái Lan sau  khi ba mẹ cô vượt đường bộ từ Việt Nam sang Kampuchia rồi đến được Thái Lan năm 1979.

Ba tháng sau khi cô chào đời, gia đình Nguyễn Cát Thảo được Australia nhận cho định cư. Năm 2004, khi đang còn học Trung Học, Nguyễn Cát Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn được chọn làm đại diện giới trẻ Australia đến diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New York.

Năm 2015, kỷ niệm 40 năm người Việt bỏ xứ đi tị nạn, Nguyễn Cát Thảo ra mắt cuốn tự truyện We Are Here mà cô ấp ủ bao năm:

Đó là giọng đọc của Nguyễn Cát Thảo với đoạn văn mở đầu mà cô nghĩ có thể nói lên lý do thôi thúc cô phải viết tập truyện We Are Here bằng Anh ngữ này:

Gia đình Thảo định cư ở Sydney, tiểu bang  New South Wales. Hiện Thảo là một luật sư. Từ nhỏ tới lớn Thảo đã chứng kiến sự hy sinh của cha mẹ. Những khó khăn không phải thuộc  về gia đình Thảo thôi nhưng mà thuộc về rất nhiều gia đình Việt Nam ở bên Úc và  cả cộng đồng Việt Nam mình ở khắp nơi trên thế giới.

Thảo đã chứng kiến sự đau khổ của những người phải rời khỏi quê hương mình và đến một xứ lạ mà mình không biết ngôn ngữ. Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã  hội của một nước khác.

Lúc Thảo lớn lên rồi, tốt nghiệp cử nhân luật và cử nhân thương mại thì Thảo không biết bây giờ phải trả ơn cha mẹ như thế nào. Thế hệ sau này sinh ra  lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình? Thảo viết cuốn sách We Are Here,  dịch ra tiếng Việt là Chúng Ta Đã Đến, để giữ lại cho thế hệ sau.

Thanh Trúc: Thảo có thể nói rõ hơn không, vì Thanh Trúc nhận thấy sau chương đầu trở đi  hình như Thảo chú trọng khá nhiều  đến tâm trạng của người trẻ lớn lên giữa nền văn hóa Việt trong gia đình và văn hóa Úc ở học đường cũng như xã hội?

Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã hội của một nước khác.
Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Chương đầu tiên kể lại hành trình của cha mẹ Thảo đi vượt biên khỏi Việt Nam. Nhưng mà chủ để chính của cuốn sách We Are Here là về một thế hệ sau này chính là thế hệ của Thảo. Lớn lên ở Úc, ngôn ngữ Việt không rành bằng tiếng Anh, cái khó khăn cho thế hệ này là những giây phút cô đơn, là mình thấy tuy rằng mình đang lớn lên ở một môi trường rất tây phương nhưng mà những sự mâu thuẫn về văn hóa, những đòi hỏi bởi xã hội bởi gia đình, những giây phút mình không biết bản thân mình như thế nào. Thảo muốn chia sẻ với độc giả sự khó khăn của một đứa em là Thảo và lớn lên trong môi trường như vậy là như thế nào. Thảo hy vọng cuốn sách We Are Here có thể chia sẻ và là nguồn thảo luận thêm với gia đình mình.

Thanh Trúc: Năm 2007 Nguyễn Cát Thảo khởi sự cuốn tự truyện We Are Here, mãi đến 2014 mới hoàn tất, có thể cho biết vì sao phải mất những 7 năm như thế?

Nguyễn Cát Thảo: Tại vì thứ nhất viết lại tất cả, nói chung là những khó khăn của một gia đình, là có nhiều ký ức mà cha mẹ Thảo đã bỏ quên, đã không muốn nhớ, vì nó quá đau khổ. Cho nên, để tìm những ký ức đó, Thảo phải đi hỏi không những cha mẹ không nhưng cũng hỏi bà con, ông ngoại, bà nội và những người còn sống. Cái đó cũng mất rất nhiều thời gian.

Hình ảnh của cha mẹ, lúc mẹ may đồ đến 3 giờ sáng, những cái kim đâm vào ngón tay mẹ, mẹ ngủ gục tại máy may vì làm quá sức. Ba thì về từ nhà máy lúc 2, 3 giờ sáng, thì cũng rất khó  khăn cho Thảo để sống lại những hình ảnh đó trong quá trình viết cuốn sách này.

Nếu mà những ký ức đó đơn giản thì Thảo nghĩ Thảo có thể viết trong một thời gian  ngắn, nhưng vì phải sống lại là quá đau khổ đi nên nó mới kéo dài bảy năm trời.

Thanh Trúc: Trong cuốn We Are Here, viết lại cuộc sống của những người Việt Nam đến định cư bên Australia có khó như là đào bới trong ký ức của gia đình mình hay không?

Nguyễn Cát Thảo: Thảo nghĩ kinh nghiệm của gia đình Thảo cũng là kinh nghiệm của rất nhiều gia đình Việt Nam ở Úc nói riêng và cộng đồng Việt hải ngoại nói chung. Tuy rằng có nhiều khó khăn, như vậy mà ba mẹ Thảo và những gia đình Việt Nam lúc nào cũng giữ tư cách, tự trọng và minh bạch. Thảo thấy những quan điểm sống về  trách nhiệm bản thân, gia đình và xã hội,  hành động của mình là đại diện cho dân tộc của mình, thì Thảo thấy phải ghi lại. Thảo viết cuốn sách Chúng Ta Đã Đến là chúng ta đã đến nơi có tự do và mình có thể được yên bình.

site_197_Vietnamese_412363-400.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here

Thanh Trúc: Trong lúc viết tập tự truyện này, như Thảo nói, Thảo cũng phải nghiên cứu tìm tòi số liệu phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Xem lại thống kê của những người được sống sau hành trình vượt biên là không có nhiều, nhất là những người đi đường bộ. Sau khi nghiên cứu Thảo người đi vượt biên bằng thuyền cỡ 50% sống, vượt biên bằng đường bộ như cha mẹ Thảo là 10% sống, vậy là 90%  đã chết, Thảo  mới thấy  10% sống này mới là phép lạ, cái phép lạ là chúng ta đã đến nơi này.

Thanh Trúc: Cuốn sách We Are Here, Chúng Ta Đã Đến, được nhà xuất bản nào ở Australia phát hành cho Thảo?

Nguyễn Cát Thảo: Nhà xuất bản ALLEN&UNWIN,  cũng là nhà xuất bản rất uy tín đã xuất bản cuốn sách Harry Potter rất nổi tiếng. ALLEN&UNWIN   hợp tác với Thảo vì họ nhận xét câu chuyện này đáng để  kể và chia sẻ.

Thanh Trúc: Tập  truyện Anh ngữ về đời tị nạn và hội nhập của thế hệ thứ nhất, dưới ngòi bút của người thuộc thế hệ thứ hai như Thảo, được những bạn đồng trang lứa đón nhận ra sao?

Thế hệ sau này sinh ra lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình?
– Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Rất là nhiệt tình, Thảo thấy rất xúc động là những người thế hệ thứ nhì, thế hệ như Thảo, đã đọc đã viết email cho Thảo. Những email đầy cảm xúc nói với Thảo là sự khó khăn về ngôn ngữ đã tạo ra một bức tường giữa cha mẹ và con cái, và mối quan hệ  giữa cha mẹ với con cái trở thành một quan hệ về giao dịch, không có chiều sâu. Ví dụ “ăn  cơm chưa”, “đi học thế nào”  vậy thôi. Họ cũng chẳng hỏi cha mẹ về cái lai lịch của mình, về câu chuyện của mình ở Việt Nam, hồi thời trẻ cha  mẹ mình như thế nào như là Thảo kể trong cuốn sách We Are Here.

Thanh Trúc: Vậy là We Are Here đã đóng góp phần nào trong việc đưa hai thế hệ thứ nhất và thứ nhì lại gần nhau, hiểu nhau hơn, phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Thì sự đóng góp nhỏ của Thảo thông qua cuốn sách này là mới là đầy ý nghĩa và Thảo cũng rất là xúc động. Ở Úc thì Thảo đã nhận được rất nhiều email từ những người trẻ, sinh ra  và lớn lên ở Úc, nói với Thảo rằng  cuốn sách của Thảo thúc đẩy họ mong muốn, thúc đẩy họ tìm hiểu chính cái lịch sử của gia đình họ, tạo cách có thể gần gủi và hiểu cha mẹ của họ hơn.

Thanh Trúc: Thảo sinh ra trong trại tị nạn Thái Lan, lớn lên rồi đi học ở Úc, làm cách nào mà Thảo nói tiếng Việt giỏi như vậy?

Nguyễn Cát Thảo: Thứ nhất Thảo vô cùng cám ơn ba mẹ vì ba mẹ giáo dục Thảo là Uống Nước Nhớ Nguồn, tuy rằng sống ở hải ngoại mà luôn luôn mình phải nhớ nguồn của mình ở đâu. Mình là người Việt Nam nhưng cũng phải biết là mình đang sống ở Úc. Thảo là người Úc nhưng Thảo cũng là người Việt Nam, ba mẹ đã hướng dẫn cho Thảo biết những cái tốt đẹp của văn hóa Việt Nam như thế nào để mình luôn luôn tự hào về dân tộc Việt Nam của mình. Thảo giữ được ngôn ngữ và phong tục Việt Nam vì cha mẹ của Thảo.

Thanh Trúc: Hãy kể lại một chút về chuyện Nguyễn Cát Thảo từng đại diện giới trẻ Australia đến Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc ở New York 11 năm về trước, khi đó Thanh Trúc đã phỏng vấn em rồi, nhớ không?

Nguyễn Cát Thảo: Năm 2004 Thảo được chọn là người đại diện cho tuổi trẻ người Úc ở diễn đàn Liên Hiệp Quốc tại New York. Năm đó Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn và người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào vị trí này. Đó cũng là cơ hội rất đặc biệt và Thảo đã học hỏi  được rất nhiều lúc làm việc cho Liên Hiệp Quốc ở New York.

Thanh Trúc: Bây giờ Thảo là luật sư, Thảo có nghĩ mình đã thành công trong cuộc sống hay chưa, những chuyện gì Thảo sẽ làm trong những ngày tới?

Nguyễn Cát Thảo: Hiện tại Thảo cũng là thành viên tư vấn hoặc là giám đốc vài tổ chức từ thiện hoặc tổ chức phát triển cộng đồng. Nhưng cái điều ba mẹ dạy cho Thảo và Thảo muốn nhấn mạnh rằng một cuộc sống ý nghĩa và sự thành công là một cuộc sống mình có thể đóng góp cho xã hội.

Thảo nghĩ Thảo có tham vọng làm những chuyện lớn nhưng mà thật ra những việc Thảo muốn thực tập hàng ngày là phải luôn luôn có một tư tưởng giúp người khác, đóng góp cho xã hội và sống không phải cho riêng mình. Có thể một chuyện rất nhỏ nhưng mình phải thường xuyên làm, giống như cái consciousness (ý thức) cái practice (tập luyện) hàng ngày. Điều quan trọng là cách sống hàng ngày có trách nhiệm cho bản thân, cho  cộng đồng, cho xã hội hay không.

Thanh Trúc: Cảm ơn Nguyễn Cát Thảo về bài phỏng vấn nhân đề cập đến tập truyện We Are Here Chúng Ta Đã Đến mà Thảo mất 7 năm để viết xong.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org

Hãy Sống Với Lòng Biết Ơn

Hãy Sống Với Lòng Biết Ơn

Hãy biết ơn Mặt Trời đã cho ta sự sống.

Hãy biết ơn từng vạt nắng đang lung linh nhảy múa trong vườn để ta cảm nghiệm được sự ấm áp của thiên nhiên.

Hãy biết ơn Mặt Trăng kia đã cho ta bao đêm dài thơ mộng mà qua đó bao bài hát, bài thơ trữ tình nảy nở.

Hãy biết ơn từng con suối nhỏ để cho ta nghe được tiếng thủ thỉ của núi rừng.

Hãy biết ơn từng cơn gió nhẹ làm lòng ta tươi mát.

Hãy tạ ơn biển đã cho ta nguồn dinh dưỡng, từng chuyến viễn du đầy thi vị và những cuộc phiêu lưu mạo hiểm làm phong phú hóa tình cảm con người.

Hãy biết ơn cả tiếng chim ca vì đó là tiếng nhạc của Trời.

Hãy tạ ơn cả những con sông đang ôm ấp những bờ kênh thửa ruộng, cho phù sa tuôn tràn màu mỡ, cho lúa tốt trổ bông, cho tôm cá đầy đồng, cho xóm làng tụ hội, cho chợ búa mọc lên, cho thương buôn trên bến dưới thuyền, cho giao thông thuận tiện, cho mạch sống làng quê ngày thêm phong phú.

Hãy biết ơn từng bài ca dao, từng tiếng chuông chùa êm ả để thấy hồn dân tộc vẫn còn năm sâu trong tâm khảm.

Hãy tạ ơn tiếng ru của mẹ để con biết rằng vòng tay đó chính là Thiên Đường.

Hãy cám ơn mẹ già:

Cho dù áo rách sởn vai,

Cơm ăn bát vơi bát đầy

mà vẫn  kiên trì nuôi con cho đến ngày khôn lớn.

Hãy cám ơn các bậc Thầy vì những vị đó đã khai mở trí tuệ cho ta “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

Hãy tạ ơn đời.

Hãy cám ơn cả những người đã dối gạt ta để ta hiểu được thế nào là lòng trung tín.

Hãy cám ơn cả người xỉ vả, chụp mũ, bôi lọ, đánh phá ta để ta có dịp huân tập hạnh nhẫn nhục và hiểu được thế nào là sự tha thứ.

Hãy biết ơn những gì gọi là bạo lực vì qua đó ta liễu ngộ đước chân lý vĩnh cửu của tình thương.

Hãy biết ơn cả những thiên tai, thảm họa để cho thấy cuộc sống này qúy giá.

Hãy tạ ơn những người đã nằm xuống để cho ta được sống.

Hãy biết ơn người chiến sĩ đang ngày đêm canh gác, xả thân nơi chiến địa, biển đảo để ta được sống yên bình, mưu cầu hạnh phúc.

Hãy cám ơn sự vấp ngã vì qua đó ta trưởng thành.

Hãy biết ơn cả những người thợ vì họ là những vị thần sáng tạo.

Hãy tạ ơn cả những đang phục vụ ta, những người đang làm những nghề nghèo hèn nhất vì không có họ ta phải chân lấm tay bùn.

Hãy cám ơn người nông phu đã:

Vài ngàn năm đứng trên đất cày

Minh đồng da sắt không thay màu (Phạm Duy)

để dân tộc này có chén cơm hạt gạo.

và cũng:

Dã ơn cái cối cái chày.

Đêm khuya giã gạo có mày có tao (Ca Dao)

Hãy biết ơn cả tiếng gà gáy trong những buổi trưa hè, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng sáo diều ngân, tiếng trẻ nói bí bô, tiếng con sáo hót, tiếng ai hát đúm, hát dân ca, hát văn, hát ru, hát hò quan họ để thấy hồn Việt Nam thiêng liêng, bất tử.

Hãy cám ơn cây Đa đã cho ta bóng mát, là nơi dừng chân trên con đường làng dài mệt mỏi.

Hãy cám ơn cả cái Đình để xóm làng mở hội, văn hóa lưu truyền, gái trai hò hẹn.

Hãy cám ơn cả cái Miếu vì qua đó ta thấy các tiên hiền, liệt sĩ, danh nhân vẫn còn ở với chúng ta.

Hãy cám ơn mái Chùa đã đứng đó qua vài ngàn năm để lưu giữ hồn dân tộc.

Hãy cám ơn cả những chuyện thần tiên “Tấm Cám” để con trẻ hay ăn chóng lớn, người già quên đi bao nỗi nhọc và gái trai nuôi bao mộng đẹp.

Hãy cám ơn cả chiếc nón đã che mưa nắng cho cả dân tộc. Thuơng thay “chiếc nón bài thơ” đã lưu giữ hồn thi ca của dân tộc mà bây giờ vẫn còn đây:

Qua đình ngả nón trông đình,

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao)

Hãy biết ơn tất cả dù là một hạ mưa, hạt cát, hạt muối, bó rau, miếng khoai, miếng cà, miếng sắn, con tôm, con tép…

Hãy biết ơn và tạ ơn tất cả.

Lòng biết ơn là lòng Từ Bi là bài Kinh Sám Hối sâu xa và mầu nhiệm.

Kẻ sống với lòng biết ơn chính là kẻ sống với Chân Hạnh Phúc và là kẻ có tâm hồn cao thượng nhất.

Đào Văn Bình

(California Tháng 11, 2008)

Giải cứu binh nhì Ryan

Giải cứu binh nhì Ryan

ĐÀO HIẾU

01

Bà Lê Thị Nghê, hiện còn sống

Tất nhiên tôi không có ý định kể lại câu chuyện trong phim Giải Cứu Binh Nhì Ryan của đạo diễn Steven Spielberg, do diễn viên Tom Hanks thủ vai chính.

Và tôi cũng không muốn làm công việc của một người phê bình điện ảnh để phân tích xem phim hay, dở thế nào.

Nhưng từ lâu tôi vẫn ôm ấp ý định viết về bộ phim nổi tiếng này, bởi vì ở Việt Nam, thời chiến tranh chống Mỹ cũng từng có một câu chuyện mang một thứ triết lý nhân bản kiểu như vậy nhưng lại là một thứ nhân bản lộn đầu. Nó bị đẻ ngược, với hai chân ra trước. Nó là một thứ nhân bản màu máu, mang diện mạo của “chiến tranh nhân dân” trong khi thứ nhân bản trong phim Giải Cứu binh Nhì Ryan có màu xanh của biển cả và bầu trời.

Chuyện giải cứu binh nhì Ryan xảy ra vào giữa năm 1944 trong Thế chiến thứ 2 khi quân Mỹ đổ bộ lên vùng Normandy nước Pháp. Một biệt đội gồm 8 người do đại uý Miller chỉ huy được thành lập chỉ để đi giải cứu một anh binh nhì tên là Ryan theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa kỳ, tướng Marshall.

Ryan là đứa con cuối cùng còn sống sót của một bà mẹ đã có ba đứa con trai chết trận. Vì thế bằng mọi giá phải đem Ryan trở về với người mẹ đau khổ ấy.

Trong cuộc giải thoát này, sáu người trong số tám người của biệt đội do đại uý Miller chỉ huy đã chết, trong đó có Miller. Biệt đội chỉ còn lại 2 người nhưng họ đã đem được người chiến sĩ dũng cảm: binh nhì Ryan về với mẹ.

Câu chuyện ở Việt Nam thì ngược lại. Nó xảy ra trong một hang đá ở xã Quế Tân thuộc tỉnh Quang Nam mùa đông năm 1969.

Trong cái hang đá kinh hoàng ấy cũng có một người mẹ tên Lê Thị Nghê 32 tuổi và một đứa con trai tên Lê Tân, 3 tháng tuổi.

Lính Mỹ càn quét qua làng Quế Tân. Thông thường thì trong những trường hợp như thế người dân thường bồng bế nhau chạy về thành phố lánh nạn. Nhưng hôm đó những người du kích Việt cộng đã buộc dân cùng họ chạy trốn vào hang Hòn Kẽm ẩn núp. Bé Lê Tân (con của bà Lê Thị Nghê) đói sữa khóc liên tục không cách gì dỗ cho nín.

Sợ bị lộ, những người du kích đã gây áp lực để bà Nghê giết chết con mình.

Nếu những người lính Mỹ trong biệt đội của đại uý Miller đã hy sinh để bảo vệ đứa con trai của một bà mẹ đau khổ, thì ở cái hang Hòn Kẽm này, những người du kích đã buộc người mẹ phải giết con mình để cho họ được sống.

Đó là thứ đạo lý gì vậy? Sao nó lại từng được ca ngợi như một “huyền thoại mẹ”, được “cải biên” thành một sự hy sinh thần thánh của người mẹ Việt Nam anh hùng “vì đại nghĩa mà giết chết con mình”?

Báo Tuổi Trẻ Online số ra ngày 09/6/2008 đã viết lại vụ này ở góc độ là: Chính dân làng trốn trong hang đã khuyên bà Nghê hy sinh đứa con để cứu mọi người.

Nhưng đoạn văn sau đây đã để lộ sơ hở:

“Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”.

Bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m, mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.”

Sơ hở thứ nhất:

-Rõ ràng là bà Nghê không tự nguyện giết con mà là dân làng “đành nghe theo các anh du kích” làm áp lực buộc bà Nghê giết con.

Sơ hở thứ hai: ác

000-mat dat

Bà Nghê hoàn toàn có thể “ra khỏi hang 100 mét để dùng tay móc đất đào huyệt chôn con” điều đó chứng tỏ bà không sợ lính Mỹ giết (vì họ giết bà để làm gì?).

Từ khi bà Nghê bồng xác con ra khỏi hang, đi 100 mét, cho đến khi đào xong một cái huyệt bằng tay không xong, cũng mất ít nhất một tiếng đồng hồ. Điều đó chứng tỏ lính Mỹ còn ở xa. Và rõ ràng rằng lúc ấy, thay vì giết con, bà hoàn toàn có thể bế con đi ẩn náu một chỗ khác để tiếng khóc của cháu bé khỏi gây nguy hiểm cho mấy anh du kích. Hơn nữa, với đứa bé 3 tháng tuổi trên tay, bà hoàn toàn có thể đi về làng, chẳng những không bị ai giết mà có khi mẹ con bà còn được giúp đỡ.

Vậy thì tại sao bà phải giết con?

Đó chỉ có thể là do một quyết định man rợ.

Đó là một quyết định hèn nhát và phi nhân tính.

Và sự kiện ấy đã nói lên một chi tiết rất cay đắng, đó là: những người du kích không dám cho dân làng bỏ đi vì họ cần một đám đông quần chúng để trà trộn vào.

Người mẹ “huyền thoại” ấy đến nay vẫn còn sống: quắt queo, tàn héo và đói rách. Không một ai đoái hoài, không một chút tiền trợ cấp, không một lời xin lỗi.

Bài báo nêu trên cũng đã viết về gia đình người mẹ ấy hiện nay như sau:

“Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, có một con trai, bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng, miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.”

*

Câu chuyện “Giải cứu binh nhì Ryan” và câu chuyện “Đêm kinh hoàng ở Hòn Kẽm” là hai bi kịch chiến tranh rất thảm thương và khốc liệt. Nhưng triết lý nhân bản trong hai câu chuyện đã khác nhau như ánh sáng và bóng tối.

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên mặt đất này, trách nhiệm của người lính là bảo vệ dân chứ không phải là buộc dân giết con để bảo vệ mình.

Và tự cổ chí kim, người lớn luôn đùm bọc, bảo vệ trẻ em chứ không phải trẻ em phải chết để bảo vệ người lớn.

Những người “giải phóng” Việt Nam đã không hề thấy xấu hổ về câu chuyện ở Hòn Kẽm mà còn ca ngợi nó như một thứ “lương tâm của thời đại”.

Đó là thứ lương tâm của loài sinh vật nào vậy?

ĐÀO HIẾU

(Trích trong tập tiểu luận “MẶT ĐẤT VẪN RUNG CHUYỂN”)

ĐẠP XÍCH LÔ

ĐẠP XÍCH LÔ

Tiểu Tử

Trung đã cao lớn lại ham chơi thể thao và tập thể dục đều đặn nên anh ta rất “đô” con. Đi với tụi bạn đồng nghiệp người Pháp hay người da đen, Trung là người Việt Nam mà vóc dạc ngang ngửa với tụi nó. Có đứa nói giỡn: “Thằng này, nó ăn phở không mà nó lớn con như vậy. Nếu nó ăn bánh mì “xúc xích – phô mai” như mình chắc nó thành ông khổng lồ quá!”.

Cách đây mấy năm, Trung về thăm Việt Nam. Đó là lần đầu tiên anh về. Tôi không có dịp gặp anh để hỏi thăm. Mãi đến gần đây tình cờ gặp nhau ở khu 13 Paris, anh mới kể cho tôi nghe chuyến về Việt Nam của anh lần đó. Tôi xin ghi lại chuyện nhỏ sau đây:

… Con qua Pháp với ba mẹ hồi con mới năm tuổi, bây giờ về, thấy cái gì cũng lạ! Cho nên con dành mấy ngày đầu để đi vòng vòng cho biết Sài gòn. Con nhờ anh tiếp viên của khách sạn kêu cho con một anh xích lô bao chạy một ngày.

Vậy là sáng hôm sau, đúng theo lời con dặn, anh tiếp viên gọi con dậy bằng điện thoại cho hay xích lô đang đợi, đồng thời cho biết luôn số tiền thuê bao. Con đếm số tiền rồi để riêng vào một túi quần, con muốn tránh móc bóp đếm tiền trước mặt mọi người sợ bọn lưu manh nó giựt. Con xuống tới quầy thì anh tiếp viên vui vẻ chỉ ra phía trước. Con cám ơn rồi bước ra ngoài.

Thấy con, ông xích lô đang ngồi chồm hổm trên vỉa hè vội vã đứng lên chấp tay chào. Tự nhiên, con khựng lại, mặc dù ông ta đang đón con bằng một nụ cười rạng rỡ.

Bác biết không? Ổng già khú, ốm nhom, nhỏ xíu. Cái nón vải đen ổng đội, đã rách bươm. Còn bộ đồ trên người ổng, con không biết tả làm sao cho bác thấy. Nó là cái áo bà ba xanh dương vá chầm vá đụp và không còn hai ống tay! Còn cái quần ka-ki là loại quần dài đã bị xé mất hai khúc ống cỡ ngang đầu gối, một bên cao một bên thấp.
Đó! Ông xích lô của con đó! Bác coi: con như vầy thì nỡ lòng nào lên ngồi cho ông già ốm nhom đó đạp xe đưa con đi. Mà liệu ổng có đạp nổi một ngày cho con xem chỗ này chỗ nọ không?

Con định hồi không đi nhưng nghĩ lại tội nghiệp ông già. Cái cười tươi rói của ổng cho thấy là ổng đang “ trúng mối lớn ”.
Con bước lại bắt tay ổng, móc túi đưa tiền, nói :
– “Đây, tiền công của bác trọn ngày nay đây!”.
Ổng mừng rỡ, móc trong lưng ra một túi vải miệng có dây rút, run run tay mở ra cho tiền vào.
Con hỏi :
– “Bác không đếm sao?”.
Ổng cười, nhìn con :
– “ Khỏi ! Hổng lẽ cậu như vầy mà đi ăn gian tui sao?”.
Rồi ổng xăng xốm chạy lại kềm phía sau xe, mời:
– “Cậu lên ngồi, đi !”.
Con lắc đầu:
– “Không! Bác lên ngồi đi, để tôi đạp!”.
Nụ cười của ổng tắt mất:
– “Ủa! Gì kỳ vậy?”.
Con giải thích:
– “Tôi như vầy mà để cho bác đạp, coi sao được!”.
Ổng vỗ vỗ lên yên xe:
– “Tôi đạp được! Bảo đảm! Cậu đừng lo! Cậu lên ngồi đi!”.
Con nghĩ chắc ổng sợ con chê ổng rồi không đi, lấy tiền lại, nên con ôn tồn nói:
– “Bác yên tâm. Bác cứ giữ số tiền tôi đưa, rồi lên xe ngồi. Tôi đạp từ từ”.
Ổng bắt đầu nhìn con nửa ngạc nhiên nửa hốt hoảng. Để khỏi cù cưa, con bước lại đưa hai tay cặp eo ếch của ổng nhấc bổng lên đặt vào chỗ ngồi của khách. Ổng nhẹ đến nỗi cái xe không nhúc nhích! Rồi con trèo lên đạp đi. Ông già cứ nhìn ngược về phía sau, lo lắng:
– “Cậu liệu được không cậu?”.
Con vui vẻ trả lời cho ông yên tâm:
– “Được mà … Dễ ợt hà!”.

Con men theo lề đường đạp chầm chậm để tránh luồng xe chạy ồ ạt trên lòng đường. Thiên hạ nhìn con chở ông già, cười nói chỉ trỏ. Ông già ngồi không yên, lâu lâu ngoáy nhìn lại coi con ra sao! Có lẽ vững bụng nên không nghe ổng nói gì hết.

Một lúc sau bỗng ổng la lớn:
– “Quẹo mặt! Quẹo mặt! Khúc này cấm xe xích lô!”.
Từ đó, ổng chỉ cho con chạy:
– “Từ từ … Đằng trước có xe đậu. Khi nào kềm bằng chân không nổi thì kéo thắng ở dưới đít…”
Có lúc thấy con xiên xiên định quẹo vô một con đường nằm ngang, ổng la lên:
– “Đừng! Đừng! Đường cấm xe xích lô!” …
Và như vậy, con đạp đi loanh quanh, nhìn ngang nhìn ngửa, yên chí có ông già coi chừng đường nhắc trước con phải làm gì … làm gì … Gần trưa, con tấp vô một quán phở, nói:
– “Mình vô ăn cái gì đi”.
Ổng nói:
– “Cậu vô ăn đi, tôi không đói”.
Con kéo tay ổng để cùng đi vào tiệm, ổng rị lại:
– “Thôi mà cậu! Tôi lạy cậu mà cậu! Cậu để tôi ngồi ngoài này giữ xe!”. Rồi ổng gỡ tay con ra, bước lại vệ đường ngồi chồm hổm bên cạnh xe xích lô, vấn thuốc hút. Trong quán, con nhìn ông già mờ trong khói thuốc sao bỗng nghe bất nhẫn vô cùng. Không còn lòng dạ đâu để ăn phở, con kêu tách cà phê uống đại rồi đi ra.
Thấy con, ổng quăng điếu thuốc, đứng lên vẻ ngạc nhiên:
– “Ăn gì mau vậy cậu?”.
Con nói trớ:
– “Thấy không ngon nên không ăn”.
Rồi con nói tiếp:
– “Bây giờ, tôi trả xe lại cho bác đó! Bác cứ giữ nguyên số tiền tôi đưa hồi sáng, đừng thắc mắc. Tôi đi bộ chơi lanh quanh được rồi”.

Nói xong con bước đi, lâu lâu ngừng coi cửa hàng này cửa hàng nọ. Thấy ông già cứ đạp xe rề rề đi theo, con bèn gọi một xe Honda ôm đang đợi khách ở ngã tư đường, trèo lên “ôm” đi thẳng!

Kể xong, Trung hỏi:
– “Nhà Nước có lịnh cấm sử dụng xe xích lô xe ba gác, không biết bây giờ ông già đạp xích lô sẽ sống làm sao, hả bác?”.

Tôi nói: “Ờ … ”. Rồi nín luôn. Một cách trả lời để không trả lời !

Tiểu Tử

NGHE TIẾNG CHÚA NÓI

NGHE TIẾNG CHÚA NÓI

Tĩnh tâm là những ngày nhìn lại linh hồn mình, xét xem tôi đang đi về đâu, ý nghĩa cuộc đời, để rồi chìm sâu hơn nữa trong đời sống tìm kiếm ơn thánh.  Trong những ngày này, người tĩnh tâm thường đặt câu hỏi làm sao tôi có thể nghe tiếng Chúa nói.

Trong cuộc sống, người ta rất thường phân vân, đâu là tiếng Chúa, đâu là tiếng của chính mình.  Khi phải quyết định một vấn đề gì đó hệ trọng, họ tới nhà thờ cầu nguyện, mong nghe được tiếng Chúa dạy.  Họ cầu nguyện nhưng phân vân, rồi vẫn không biết làm sao quyết định.

Nghe là một nghệ thuật không dễ.  Học một ngôn ngữ bao giờ cũng cần có thời gian.  Phải nghe nhiều lần mới quen.  Nghe trong định nghĩa bình thường là âm thanh vật lý vang lên, rồi truyền qua những làn sóng mà đến các thần kinh của tai.  Thần kinh ghi những ký hiệu này, cất trong ngăn kéo của máy tính não bộ.  Khi gặp lại âm thanh ấy thì não bộ cho nó một nhận định và một giá trị.  Việc nhận định càng dễ nếu bão bộ càng quen âm thanh này.  Nghĩa là âm thanh ấy được lập đi lập lại nhiều lần.

Tập nghe để phân biệt âm thanh này với âm thanh khác cũng đã khó.  Nhưng nghe âm thanh là tiếng nói của lòng thì bước sang một chiều sâu hơn nữa rồi.  Vì tiếng nói của lòng không là âm thanh vật lý, nó thiêng liêng, vô hình.  Cũng tiếng cười, nhưng ý của nó có thể không làm vui, mà là mỉa mai, riễu cợt.  Hiểu tâm hồn nhau là một tiếng nghe đòi nghệ thuật trong đó có yêu, có hy sinh, có tế nhị, có mình muốn thuộc về người đó.  Vì thế mà có khi sống bên nhau chẳng hiểu ngôn ngữ của nhau.

Mẩu đối thoại giữa ba người, Đức Kitô, ông Tôma và Philipphê cho thấy sự lúng túng về loại ngôn ngữ này.

Chúa nói: “Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi”

Ông Tôma thưa: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?”

Đức Kitô đáp: “Thầy là đường, là sự thật, là sự sống.  Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Ông Philipphê đáp: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chũng con mãn nguyện.”

Đức Kitô đáp: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư?” (Yn 14:1-9).

Chúa nói là Chúa đi đâu thì các ông ấy biết đường rồi.  Nhưng tôma lại thưa các ông ấy không biết Chúa đi đâu.  Các ông muốn biết Chúa Cha, Chúa Yêsu lại bảo ở với nhau lâu vậy rồi mà chưa biết được ư.

Cuộc đối thoại cứ như mỗi người nói một nẻo.

Đọc lại mẩu chuyện đối thoại ấy để thấy nghe là một công trình phải luyện tập, phải có thời gian, phải quen nhau nhiều.  Nghe người nói với người đã không dễ, bây giờ nghe Chúa nói là tiếng nói vô âm thanh thì làm sao nghe.

Khó, nhưng không có nghĩa là không nghe được.  Tiếng nói tình yêu thường là tiếng nói bằng con tim hơn bằng ngôn ngữ.  Khi hai người thương nhau, họ nói một thứ ngôn ngữ riêng, không theo định nghĩa của tự điển nữa.  Họ nói bằng ánh mắt.  Họ hiểu bằng tâm tư.  Họ ngỏ ý bằng một chút hờn.  Họ muốn người khác bắt ý bằng một chút giận.  Đó cũng là một thứ ngôn ngữ không có âm thanh.  Như vậy, ngôn ngữ của Chúa cũng có thể nghe, cũng có thể hiểu.  Một biến cố đau khổ xẩy đến có thể như cái trách của Chúa gởi cho ta một nhắc nhở.  Một chút cắn rứt lương tâm có thể so sánh như một sự dỗi hờn của hai người đang thương nhau.

Trở lại vấn đề nghe là một nghệ thuật phải luyện tập, ta thấy yếu tố quan trọng nhất là phải quen với ngôn ngữ ấy.  Vì thế, cứ đợi khi có một vấn đề gì đó rồi mới hỏi Chúa thì e rằng khó hiểu được ngôn ngữ của Ngài.  Dụ ngôn người chăn chiên và đàn chiên cho ta hình ảnh khá rõ về nghệ thuật nghe này. Ta có thể chia đàn chiên làm ba loại: Một loại không quen ngôn ngữ của chủ, một loại chỉ nghi ngờ tiếng nói của chủ, một loại nhận ra tiếng chủ ngay.

Không Quen Ngôn Ngữ

Tiếng gọi trong đêm là tiếng gọi gian nan.  Không biết ai gọi.  Không biết từ đâu đến.  Một lúc nào đó bất ngờ có tiếng gọi tên mình.  Trong đêm tối, con chiên này bừng dậy.  Kẻ cắp giấu mặt cho khỏi bị nhìn.  Tên trộm nào cũng ưa bóng tối.  Bầy chiên đang ngủ ngon, bỗng có tiếng gọi.  Hạng chiên không quen ngôn ngữ của người chăn là loại không khi nào gần chủ, không nói chuyện với chủ.  Trong đàn chiên, chúng là những con chạy ở cuối đàn.

Đúng ra, nó không phải là những con chiên theo chủ mà là chỉ lẽo đẽo theo đàn chiên để sống nhờ.  Bởi đó, trong đêm, khi kẻ trộm giả vờ tiếng người chăn mà gọi thì chúng không thể phân biệt được.

Một người không có đời sống cầu nguyện nhiều cũng giống như vậy.  Trong đêm tối của xã hội, họ không phân biệt được đâu là tiếng nói của sự thật, đâu là ngôn ngữ nguỵ biện đánh lừa lương tâm.  Hạng chiên không bao giờ gần chủ thì khi gặp thử thách trong tiếng gọi giữa đêm khuya chúng sẽ bị kẻ cắp đánh lừa.  Một linh hồn thiếu đời sống nội tâm kết hiệp qua cầu nguyện, họ cũng dễ bị lừa như thế trong những phán quyết của tiếng nói lương tâm.  Loại lương tâm này khi thấy một lời mời quyến rũ, say mê là hành động ngay, không phân biệt được phải trái.

Nghi Ngờ Tiếng Người Chăn

Loại thứ hai này khá hơn.  Những con chiên này phân vân nhiều khi nghe tiếng gọi.  Chúng sẽ suy nghĩ chứ không vội chạy theo, nhưng rất khó mà quyết định.  Loại chiên này đôi khi gần chủ nên cũng nghe tiếng chủ, nhưng vì không gần chủ nhiều, nên lúc nghe, lúc không.  Có nói chuyện với chủ, nhưng ít thôi.  Không quen tiếng chủ lắm nên trong đêm khuya chúng phân vân, lưỡng lự, khó phân biệt nổi.  Giống người mới bắt đầu học một ngôn ngữ, hiểu lầm, hiểu không hết ý của người nói là chuyện thường.  Nếu con chiên này nghe tiếng gọi trong đêm mà vẫn ở lại trong đàn cũng là cầu may, chứ không có một thái độ tri thức dứt khoát.

Người lâu lâu mới cầu nguyện, có việc mới chạy tới Chúa cũng giống như vậy.  Có nghe tiếng Chúa mà không rõ lắm.  Họ phân vân không biết có phải tiếng Chúa hay là mình nói mà thôi.  Vì thế, những quyết định của họ rất nửa chừng.  Tâm hồn họ không hẳn là muốn ở lại trong tội, nhưng cũng chẳng hân hoan lên đường.  Một khi không dứt khoát thì không đủ năng lực hành động, nên đời sống thiêng liêng mệt mỏi.

Nhận Ra Tiếng Chủ

Không tên trộm nào lừa được loại chiên sau cùng này.  Tiếng gọi bất chợt vang lên trong đêm.  Nó giật mình dậy, nghe xong, nó nhận định rồi tiếp tục giấc ngủ bình an.  Nó biết ngay tiếng giả đó là của bóng tối.  Loại chiên này ngày nào cũng nói chuyện với chủ, ngày nào cũng nghe âm thanh người dẫn mình đi, nên chúng quá quen rồi.  Không tiếng nói nào bắt chước tiếng chủ được.  một tiếng gọi vang lên, nó phân biệt ngay đấy là tiếng chủ hay tiếng người lạ.

Ma quỷ cũng như những tên trộm chiên, chúng đợi đêm tối là lúc lương tâm phải lựa chọn những hướng đi mà đến xúi giục ta.  Bóng tối có những luận cứ tinh vi, những lý do xem ra rất chính đáng. Người có đời sống kết hiệp với Chúa thì nhận ra ngay đâu là con đường phải đi.  Họ có những quyết định chính xác, đúng.  Bóng tối khó mà lừa được những tâm hồn này.

Để nghe tiếng Chúa, yếu tố đầu tiên phải lưu tâm là một trái tim sạch tội.  Điều này ta cảm nghiệm rõ là sau mỗi lần nhận bí tích hoà giải, ta thấy tâm hồn thanh thản, vui tươi.  Vì thế, nếu một tâm hồn muốn hỏi Chúa, muốn nghe tiếng Ngài, linh hồn đó cần phải thanh tẩy linh hồn, đến gặp gỡ Chúa trong bí tích hoà giải trước đã.  Giữ một trái tim sạch tội, rồi sau đó mới hy vọng dễ nhận định tiếng Chúa nói qua lương tâm.

Trước một quyết định quan trong trong đời sống, như ngày truyền chức, ngày nhận một sứ vụ quan trọng, Giáo Hội khuyên những người này phải tĩnh tâm.  Các tu sĩ theo luật, hàng năm phải tĩnh tâm.

Tĩnh tâm là những ngày cầu nguyện đặc biệt hơn, nhiều hơn.  Cứ hàng tháng, hàng năm lập đi lập lại nhiều lân tĩnh tâm như thế để tâm hồn ấy quen cách nói chuyện.  Khi quen rồi, lúc phải quyết định một điều gì trong đời sống, tâm hồn này dễ vững tâm, bình an.  Khi cuộc sống đi sai đường sẽ dễ nhận ra.

Tĩnh tâm là phương pháp sư phạm học nghe ngôn ngữ thiêng liêng, vì thế ai cũng cần.  Nhiều người không nhận định rõ nên đếm xem mình đã tĩnh tâm bao nhiêu lần để so sánh với người khác và tự cho mình một thứ “tốt nghiệp” qua những lần tĩnh tâm ấy.

Có người đi tĩnh tâm để cho biết là gì rồi sau đó thôi không tĩnh tâm nữa.

Tĩnh tâm không phải là chỉ để giải quyết một vấn đề mà là hành trình tập nghe.  Tiếng Chúa có sức mạnh.  Chẳng ai nghe đủ và nghe hết, bởi đó, không thể có vấn đề tĩnh tâm như một thứ “tốt nghiệp”, một thứ chứng chỉ là tôi đã đi tĩnh tâm rồi, tôi biết rồi, tôi không cần đi nữa.

Chúa dành một thời gian rất dài, 40 ngày trong sa mạc để cầu nguyện.  Trong đời sống hoạt động, Chúa tiếp tục tìm nơi thinh lặng để cẩu nguyện.

“Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện” (Mt 14:23).

“Trong những ngày ấy, Đức Yêsu đi ra núi cầu nguyện, Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6:12).

Chúa cũng bảo các tông đồ phải cầu nguyện.

“Anh em phải tỉnh thức và cầu nguyện, hầu đủ sức thoát khỏi điều sắp xẩy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21:36)

Nghe là một nghệ thuật không thể qua một buổi sớm, đến một buổi chiều mà quen.  Vấn nạn con không cầu nguyện, chỉ khi cần đến Chúa, con mới đên hỏi Chúa đôi câu.  Không quen ngôn ngữ của Chúa nên con cho rằng Chúa không nói.

Lạy Chúa, vấn đề là con phải học nghe, chứ không phải là Chúa có nói hay không?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J