Mississippi: Đại học khóa cửa vì đe dọa của Phu Qui Cong ‘Bill’ Nguyen

Mississippi: Đại học khóa cửa vì đe dọa của Phu Qui Cong ‘Bill’ Nguyen

Nguoi-viet.com

ATLANTA, Georgia (NV)Một sinh viên 22 tuổi thiệt mạng trong một vụ nổ súng đêm Thứ Năm tại trụ sở ban đại diện sinh viên thuộc trường Savannah State University, theo tin của Washington Post.

Cảnh sát có mặt tại khuôn viên trường Savannah State University ngay sau khi báo động có nổ súng. (Hình: AP/WTOC-TV)

Trường công lập này lập tức đóng cửa ngay sau khi xảy ra biến cố.

Phát ngôn viên trường Savannah State University hôm Thứ Sáu loan báo, anh Christopher Starks, sinh viên của trường, bị trúng đạn chết. Các lớp học tạm ngưng dạy cho đến 10 giờ sáng.

Đây là trường đại học thứ hai báo động vì có đe dọa đến an ninh trong cùng một ngày.

Cũng trong ngày Thứ Năm tại trường Mississippi State University, sinh viên và ban giám hiệu phải tự khóa cửa bên trong các phòng, sau khi một sinh viên dọa sẽ làm hại chính bản thân và cả người khác.

May thay không xảy ra vụ nổ súng nào và cũng không có ai bị hại.

Sinh viên gốc Việt tên Phu Qui Cong “Bill” Nguyen, 20 tuổi, bị bắt vào sáng Thứ Năm, sau khi có báo động trong trường.

Vào đầu niên học, giới chức các trường cho biết họ muốn làm thế nào để có thể phản ứng càng nhanh càng tốt mỗi khi xảy ra bạo hành.

Ông Mark Keenum, viện trưởng trường Mississippi State University, nói: “Với tư cách viện trưởng, ưu tiên hàng đầu của tôi là an toàn cho tất cả sinh viên và nhân viên nhà trường.”

Đề cập đến vụ bắn chết hai phóng viên ở Virginia khi họ đang hành sự hôm Thứ Tư, ông Keenum nói: “Biến cố vào sáng Thứ Tư ở Virginia nhắc nhở chúng ta rằng, các học viện như của chúng ta cần phải cảnh giác và chuẩn bị đối phó như chúng ta đã làm hôm nay. Đó là nhanh chóng, quyết tâm và không do dự, nhằm bảo vệ cho sinh viên và nhân viên nhà trường.” (TP)

Chuyện BI KỊCH!

Chuyện BI KỊCH!

Một người phụ nữ 28 tuổi làm việc cho một công ty ở thành phố, chồng cô và đứa con trai 10 tuổi ở quê nhà, cô hàng ngày đều đến công ty làm việc rất chăm chỉ để kiếm tiền gửi về cho gia đình.

Nhưng một ngày nọ bỗng xảy ra biến cố. Giám đốc công ty để mắt đến vẻ đẹp của cô. Ông ta đã nghĩ đủ mọi cách để theo đuổi, cũng nói với cô rằng dẫu cho cô đã kết hôn và có con đi nữa, ông ta cũng vẫn một lòng yêu cô.

Lúc vừa mới bắt đầu, cô đã thẳng thừng cự tuyệt những lời đường mật

Về sau, ông giám đốc đó luôn tặng hoa và thường xuyên dẫn cô đi ăn. Còn hứa rằng ông sẽ ly dị vợ của mình để có thể được chung sống với cô. Cô đã tin nhưng vẫn không từ bỏ được người chồng và đứa con của mình.

Cô thường mang rất nhiều tiền về nhà. Và chồng cô đã bắt đầu nảy sinh nghi ngờ, anh thường hay âm thầm theo dõi cô. Ngày kia, khi anh đến trước cửa phòng công ty thì nhìn thấy vợ mình đang nằm trong vòng tay của người đàn ông khác.

Cô đã xao động, bỏ rơi người chồng và đứa con

Anh vội xông đến muốn hỏi cho rõ ràng mọi chuyện. Cô im lặng, không nói một lời. Ông giám đốc kia nói: “Anh có thể cho cô ấy cái gì, anh chẳng cho được cô ấy cái gì cả nhưng tôi thì lại hoàn toàn có thể. Cái tôi có chính là tiền”.

Khi anh nghe xong, không nói được lời nào, liền lặng lẽ rời đi.

Đứa con trai còn nhỏ, thực sự không hiểu được tại sao mẹ không về nhà nữa

Anh trở về ngôi nhà cũ. Cũng từ ngày hôm đó, cô không có gọi điện về nhà hỏi thăm, và cũng không gửi tiền về nhà.

Có một ngày, đứa con trai 10 tuổi hỏi ba nó: “Sao mẹ không gọi điện thoại về nhà nữa”.

Anh nói với con rằng mẹ sẽ không bao giờ trở về nữa, bây giờ cô đang sống một cuộc sống giàu sang, hạnh phúc với một người đàn ông giàu có khác rồi.

Đứa con nghe xong tưởng rằng anh đang gạt nó bởi vì mẹ rất thương yêu nó, tình cảm hai mẹ con rất tốt kia mà.

Câu chuyện này chẳng mấy chốc đã đồn ầm lên, mọi người trong làng đều biết hết cả. Thằng bé đến trường cũng bị bạn bè trong trường chọc phá.

Nó tức giận không thèm đến trường nữa, mà cầm bức ảnh chụp gia đình và 350 đồng của ba nó đi mất…

Dốc hết tâm tư, quyết đi tìm mẹ

Nó lén lén gọi điện thoại cho mẹ, nói rằng nó muốn viết thư cho mẹ nên muốn xin hỏi địa chỉ.

Nó mới 10 tuổi, căn bản vốn không biết gì cả, chỉ là muốn đích thân đi gặp mẹ để hỏi rằng có phải là mẹ nó không còn cần nó nữa không.

Nó đứng ở bến xe, đưa ra mảnh giấy có ghi địa chỉ của mẹ cho nhân viên bán vé xem, bảo vệ trạm xe đã đưa nó lên xe.

Xe đưa nó lên thành phố nhưng thực là không biết đến đâu để tìm, nó cầm mảnh giấy đến hỏi cảnh sát giao thông.

Cảnh sát giao thông đưa nó lên xe tắc-xi. Chiếc xe đã chở nó đến trước cổng công ty của mẹ nó. Thằng bé ngồi ở bên ngoài đợi mẹ tan ca.

Năm giờ rưỡi chiều, nó đã nhìn thấy mẹ nhưng bên cạnh còn có một người khác nữa, nó liền chạy đến, gọi một tiếng “mẹ ơi!”

Mẹ nó bị sự xuất hiện bất ngờ này làm cho suýt ngất.

Đứa con lòng đã tan nát, thất vọng tràn trề đối với mẹ…

Nó liền hỏi người đàn ông bên cạnh mẹ nó là ai.

Ông giám đốc đó liền nói thẳng rằng ông là chồng của cô.

Lúc đó, thằng bé vừa khóc òa lên vừa nói: “Tôi không có người mẹ như bà!”. Nói xong, liền cắm đầu cắm cổ bỏ chạy.

Nó đau đớn, tuyệt vọng cứ nhắm mắt mà chạy qua một ngã tư đường, bỗng có một chiếc xe đang chạy như bay lao đến tông nó văng xa mấy mét, tài xế sợ quá, vội vã chạy xuống xe xem thử.

Kết quả nhìn thấy là một đứa bé, máu từ trong miệng nôn ra.

Mọi người chung quanh đều chạy đến xem, có người tốt bụng liền gọi 119. Người tài xế cũng đã gọi cho cảnh sát.

Xe cấp cứu đến nơi liền ôm nó lên xe.

Trên xe, nó cố dốc hết sức xin hỏi mượn điện thoại của bác sĩ. Nó gọi vào số của ba nó rồi gắng sức nói với ba rằng:

“Ba, kiếp sau con vẫn sẽ là con trai của ba nhưng con không cần người mẹ đó nữa”.

Cứ như vậy, đứa bé đó đã chết

Khi ba nó chạy đến nơi thì nó đã nằm trong bệnh viện rồi. Ba nó chạy đến trước cửa bệnh viện, vừa trông thấy đứa con của mình, chân anh khụy xuống, mềm nhũn hẳn ra, khó khăn lắm mới bò được đến bên cạnh giường đứa con đang nằm, anh đưa tay vuốt ve đầu của nó.

Lúc đó, tất cả y tá trong bệnh viện đều khóc chảy nước mắt, cảnh sát đứng bên ngoài cửa cũng ngấn lệ.

Khi anh muốn ôm con về nhà. Mẹ thằng bé đã đến nhưng anh không nói câu nào cả, vừa ôm lấy đứa con vừa lẩm bẩm một mình mà đi.

Mẹ nó khóc lóc thảm thiết, nói rằng: “Mẹ sai rồi…….mẹ sai rồi…..”

Ba nó nói: “Cô không sai. Chỉ là tôi vô dụng. Chúc cô hạnh phúc!”

Nói xong liền bỏ đi.

Anh ôm đứa con về ngôi nhà cũ

Mọi người trong làng đều đã nghe nói cả rồi nên đều kéo đến xem.

Khi mọi người trong làng nhìn thấy anh ôm thi thể của đứa con trai, mọi người trong làng đều không cầm nước mắt.

Ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại đều khóc rất thương tâm.

Khi mọi người còn đang chìm trong nỗi đau đớn cùng cực, mẹ của thằng bé đã trở về.

Người trong làng đều dùng ánh mắt khinh thường để nhìn cô

Ông ngoại thằng bé vừa nhìn thấy, liền đi sang đánh cô một bạt tai, nói: “Tao không có đứa con gái như mày”. Còn mắng cô không biết xấu hổ, là đồ hạ tiện, vì tiền mà chồng con cũng không cần.

Cô vẫn nhất quyết muốn nhìn đứa con trai mình lần cuối nhưng không ai cho cô vào xem. Hết thảy mọi người đều ra sức xua đuổi cô. Ngay đến cha mẹ vốn là người thương yêu cô nhất cũng đuổi cô đi.

Khi cô xoay người đi, đứa em trai ruột của cô chạy đến trước mặt cô, nói: “Sao tôi lại có người chị không biết xấu hổ đến như vậy, thật khiến cho cả nhà chúng tôi cảm thấy vô cùng nhục nhã”.  Mỗi một câu tựa như một nhát dao đâm thẳng vào tim, cô vừa khóc vừa đi khỏi đó.

Trở về công ty để tìm người đàn ông đó, nhưng…

Khi cô đến cổng công ty, bảo vệ liền ngăn cô lại, nói cô đã bị đuổi việc rồi, không cần phải đến công ty nữa.

Lúc đó, cô đã hiểu. Gọi điện thoại của người đàn ông đó đều là khóa máy.

Cô đã biết người đàn ông đó chỉ là đùa cợt với cô, cô liền ở trước cổng công ty đợi ông ta đi ra.

Giờ tan ca đã đến, người đàn ông đó đã xuất hiện.

Cô bước đến, hỏi: “Anh không còn yêu em nữa sao?”

Người đàn ông đó trả lời: “Tôi không thể ly hôn với vợ tôi được, đây là 100 vạn, cô đi đi, từ giờ trở đi đừng đến làm phiền tôi nữa”.

Cô đau đớn ngồi bệt xuống đất, ông ta không thèm nhìn cô một cái, liền lái xe bỏ đi.

Cô một mình bước đi trên đường như người mất hồn, nghĩ đến người chồng trước đây luôn đối xử tốt với cô, liền cầm điện thoại gọi điện cho anh, chồng cô vừa nghe, liền hỏi có chuyện gì.

Cô nói ông giám đốc đó chỉ đùa giỡn với cô, dối gạt cô.

Chồng cô nghe xong, không nói gì cả.

Cô biết rằng chồng cô sẽ không tha thứ cho cô. Bảo anh hãy tìm một người phụ nữ khác, mong anh sẽ sống vui vẻ, hạnh phúc, nói xong liền cúp máy.

Nhưng cô lại không hề biết rằng chồng cô đã khóc

Kỳ thực anh vẫn rất là yêu cô.

Cô tự mình đi mua một lọ thuốc bỏ vào trong bình nước uống rồi đi tìm người đàn ông đó nói, “Ông không chịu trách nhiệm thì tôi sẽ tự sát.”

Cô đem đồ uống đựng đầy nồng nặc mùi thuốc độc, bảo vệ nhìn thấy là đồ uống thì không thèm để ý đến.

Cô thật sự đã uống, uống hết tất cả.

Một lát sau, cô từ từ ngã xuống mặt đất, miệng sùi bọt trắng, bảo vệ mới biết là có chuyện. Gọi điện cho 120 nhưng đã muộn mất rồi.

Cảnh sát gọi anh đến nhận thi thể. Anh nhận thi thể về nhà. Anh chôn cô cùng với cậu con trai.

Anh đã mất đi người vợ và đứa con trai mà mình thương yêu nhất

Anh ngồi trước mộ cô và con 5 ngày 5 đêm, mãi đến ngày thứ 6, anh cảm thấy đầu óc choáng váng, rồi ngã lăn xuống đất.

Khi tỉnh lại thì thấy mình đang ở trên giường trong ngôi nhà của mình.

Anh ngồi dậy, một mình chạy ra ngoài. Anh đi tìm ông giám đốc đó để tính sổ, anh thủ sẵn một con dao, đợi ông ta ở bãi đậu xe. Đợi suốt mấy tiếng đồng hồ, cuối cùng ông ta đã đến lấy xe.

Khi nhìn thấy anh, ông ta vô cùng hoảng sợ, hỏi anh muốn làm gì. Anh cầm con dao ra, chém 3 nhát vào cánh tay của ông ta, nói: “Ba nhát dao này chính là thay cho một nhà ba người chúng tôi”.

Lúc này, cảnh sát đã đến nơi. Thì ra lúc anh đến đây, anh đã gọi điện cho cảnh sát rồi.

Khi cảnh sát chuẩn bị dẫn anh đi, anh tự sát bằng cách cầm con dao đâm liên tiếp 7 nhát vào người mình.

Anh nói với ông ta rằng: “Tôi không có tiền, nhưng tôi rất yêu cô ấy. Tôi sẽ mãi ở bên cạnh cô ấy. Tôi bằng lòng chết vì cô ấy. Ông có thể làm được không?”.

Chuyện này đã xôn xao dư luận. Vợ của ông giám đốc cũng biết chuyện, liền ly hôn với ông ta. Người đàn ông đó cũng đã biết ân hận về những việc làm của mình.

Khi thi thể anh được đưa về quê nhà, người dân trong làng đều đứng đợi trước cổng làng,

Vào thời khắc cảnh sát xuống xe ấy, nhìn thấy mọi người trong làng đều đang chảy nước mắt tiếp nhận thi thể.

Còn cha mẹ anh khóc đến chết đi sống lại.

Ngày hôm sau, thi thể của anh được chôn cất.  Ngày hôm đó dướng như ông trời cũng đang khóc vì anh. Trời đã mưa rất to nhưng mọi người trong làng không thiếu một người, chẳng có ai che dù, tất cả đều dầm mưa để đưa tiễn anh.

Tro cốt của anh do một người cháu ôm. Đoàn người đều đi về hướng nghĩa địa.

Trước huyệt mộ của anh là ba của anh và người ba vợ, còn có ba người anh trai đầu đội mưa, khóc lóc thảm thiết mà đào lên.

Một nhà ba người đều chôn cùng một chỗ.

Mọi người trong làng nhìn ba ngôi mộ này, vừa ngoảnh đầu lại nhìn vừa quay trở về. Tất cả đau thương đều bắt nguồn bởi một chữ “tiền”.

Cuối cùng, xin gửi một vài lời đến mọi người.

Làm người phải sống đúng với lương tri, đạo đức của một con người

Tiền có thể từ từ mà kiếm, có tiền bạn có thể ăn ngon, mặc đẹp, có đời sống sung túc. Không có tiền, thì ăn không  được ngon, mặc cũng không được đẹp nhưng quan trọng nhất vẫn là vui vẻ, hạnh phúc.

Thông qua bài viết này, cũng xin gửi đến những người có tiền nhưng không có đức, đừng có nghĩ rằng bản thân mình có tiền thì có thể tùy ý đùa giỡn với người khác, nếu không thì tình cảnh sẽ càng thê thảm hơn.

Tiền có thể mua được căn nhà nhưng không mua được “ tổ ấm” !

Mong sao câu chuyện này sẽ có ích cho bạn.

Câu chuyện được dịch từ cmoney.tw

(Tinh Hoa)

Vấn đề xử dụng điện thoại di động

Vấn đề xử dụng điện thoại di động

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Điện thoại di động đã trở thành một phương tiện cần thiết cho con người trong mọi xã hội năng động, di chuyển hiện nay. Nó được sử dụng trong nhiều liên lạc, từ dịch vụ thương mại, giao tế nhân sự, tới hẹn hò yêu đương hoặc băng đảng tội lỗi. Với điện thoại di động, ta có thể nói chuyện được với khắp nơi trên trái đất, từ chốn thâm sơn cùng cốc tới vùng biển cả xa xôi, miễn nơi đó có máy.

Cho tới nay, theo ước lượng, có khoảng gần 700 triệu người dùng điện thoại di động trên thế giới, và con số có thể tăng lên đến một tỷ rưỡi vào năm 2005. Ở Mỹ, cứ 10 người, có 4 người sử dụng điện thoại di động, và vào năm 2000, đã có trên 100 triệu người sử dụng, so với 5 triệu vào năm 1990. Theo ước đoán của David Pearce, Chủ biên tạp chí The Futurist, chỉ mươi mười lăm năm nữa, 80% dân chúng Mỹ sẽ có cell phone và họ chỉ dùng điện thoại không dây này mà thôi. Có người còn hài hước nghĩ, với đà này, trong tương lai khi sanh ra, mỗi đứa bé sẽ được cho một số điện thoại, như số thẻ căn cước, thay cho Số An Ninh Xã Hội.

Cell phone phổ biến, công dụng như vậy, song vài năm gần đây giới tiêu thụ đã trở nên rất bối rối vì những tin tức khác nhau về sự có hoặc không nguy hại của máy. Đã có nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng xấu cho sức khỏe do phóng xạ của điện thoại di động. Nhưng giới tiêu thụ, vì nhu cầu, vẫn dùng mặc dù cho tới nay chưa có giải đáp dứt khoát nào về vấn đề này.

Điện thoại di động

Điện thoại di động mà ta còn gọi là cell phone, điện thoại cầm tay handies hoặc cellular phone, là loại điện thoại có gắn antenne trong máy, với bộ phận phát điện và thu phát tín hiệụ Máy phát ra một lượng rất nhỏ vi ba phóng xạ. Khi nói, toàn bộ máy được áp sát vào tai.

Khái niệm về cell phone đã manh nha từ thập niên 1950. Tới năm 1977 thì công ty AT&T làm ra một cell phone mẫu. Năm 1979, máy được bán ở Nhật. Năm 1981, công ty Motorola Hoa Kỳ cho ra một loại cell phone tối tân hơn. Hiện nay cell phone được trang bị dưới dạng digital. Chỉ mới hơn ba chục năm mà cell phone đã có một thị trường vững vàng trên khắp thế giới. Nhưng bão tố cũng bắt đầu đến với cell phone.

Sóng gió trên cell phone

Câu chuyện bắt đầu với một chương trình của đài BBC Luân Đôn, cách đây mấy năm, công bố kết quả nghiên cứu của bác sĩ Lennart Hardel bên Thụy Điển: một bệnh nhân bị ung thư não, về phía đầu mà người này thường xuyên áp điện thoại di động để nói và nghe. Vị bác sĩ này cho hay rằng điện thoại di động có tác dụng không tốt tới sức khỏe con người và vấn đề cần được làm sáng tỏ bằng các nghiên cứu khoa học khách quan. Trong khi chờ đợi kết quả, ông ta đề nghị mọi người nên giới hạn sự tiếp cận với nguồn phóng xạ từ điện thoại di động. Trong chương trình này, kết quả một nghiên cứu tương tự ở Mỹ về liên hệ giữa phóng xạ từ điện thoại di động với tổn thương của nhiễm thể tế bào cũng được đài công bố.

Bác sĩ Goerge Carlo, trước đó hợp tác với American Cellular Industry, quả quyết rằng, kỹ nghệ cell phone hiện đang ở vào tình trạng báo động và không còn là lúc đưa ra những lời tuyên bố lững lờ, nước đôi về sự an toàn của cell phone.

Tháng 5 năm 1999, bác sĩ Mild công bố kết quả một nghiên cứu từ Thụy Điển cho hay sử dụng điện thoại di động đưa đến nhiều triệu chứng như nhức đầu, mệt mỏi, chóng mặt, mất trí nhớ, nóng bỏng trên da và lắng nghe khó khăn. Theo ông ta, người dùng cell phone 30 phút mỗi ngày thì hay than phiền là mau quên nhiều gấp đôi so với người chỉ dùng dưới hai phút; người dùng ba bốn lần trong ngày thì bị nhức đầu gấp ba người chỉ dùng hai lần trong ngày. Điều cần ghi nhớ là thiếu niên bị các triệu chứng trên nhiều hơn người lớn.

Trước đó, vào tháng 5 năm 1998, các nghiên cứu tại Thụy Điển, Na Uy và công ty điện thoại Scandinavian cũng đưa ra các nhận xét tương tự.

Nhiều người nghe điện thoại tự động áp vào tai than phiền trên da nổi lên một vết đỏ, đau, cứng có bề lớn bằng chiếc điện thoại mà họ đang dùng. Công ty sản xuất Microshield kể trường hợp một người máng điện thoại vào hông và bị ung thư cột sống lưng, ngay chỗ mang điện thoại.

Những giải thích

Theo viện Ung Thư Hoa Kỳ, các đồ điện trong nhà như T.V, microwave oven, chăn và nệm điện, máy sấy tóc, quạt trần, đồng hồ điện báo thức cũng phát ra từ trường điện tương tự như cell phone.

Theo giải thích của World Health Organization (WHO), thì các phóng xạ từ cell phone rất nhỏ, khoảng 0.2-0.6 watt, thuộc loại không gây ra xáo trộn cho tế bào con người như quang tuyến X.

Phóng xạ này tan biến trong không gian, tùy theo khoảng cách giữa máy và cơ thể. Cũng theo WHO, phóng xạ này khi xâm nhập cơ thể, sẽ tạo ra một sức nóng rất nhẹ mà cơ chế điều hòa thân nhiệt có thể hóa giải dễ dàng. WHO cũng nhận rằng có nhiều nghiên cứu nói phóng xạ của cell phone làm thay đổi sinh hoạt điện năng não bộ, giảm thời gian phản ứng, gây vài xáo trộn giấc ngủ, nhưng rất ít và không tạo ra khó khăn gì cho người sử dụng cell phone. WHO kết luận là các phóng xạ đó chưa chắc đã gây ra ung thư não và sẽ tài trợ để các khoa học gia nghiên cứu thêm.

Các nhà sản xuất cell phone cho hay là điện thoại di động an toàn vì đã được làm đúng theo tiêu chuẩn do chính quyền đưa ra. Tiêu chuẩn đó gồm ảnh hưởng của nhiệt do cell phone phát ra và các vi ba từ trường được phân phối ra hết cả đầu. Chương trình truyền hình ABC 20/20 cho hay là tiêu chuẩn của chính quyền có nhiều kẽ hở mà các nhà sản xuất điện thoại di động qua mặt dễ dàng.

Trong khi đó thì Chủ tịch công ty điện thoại di động vĩ đại Ericsson khẳng định rằng sẽ có nhiều người sử dụng điện thoại di động để nối tiếp với mạng lưới, thay vì dùng điện thoại có dây trong nhà, vì tiện lợi hơn.

Cơ quan Federal Communication Commission Hoa Kỳ cho hay là cho tới nay, chưa có bằng chứng nào kết luận rằng điện từ trường có hại cho sức khỏe. Chuyên viên Ed Mantiply của cơ quan này cho hay, là cơ quan đã đặt ra một tiêu chuẩn cho phóng xạ từ điện thoại di động, giống như giới hạn tốc độ lái xe tự động. Không có gì bảo đảm là dưới giới hạn đó chúng ta sẽ an toàn và trên giới hạn đó là nguy hiểm. Cơ quan khuyên dân chúng áp dụng nguyên tắc là cầm xa máy một inch nếu máy phát ra một watt năng lượng, nếu máy phát ra 10 watts thì ở cách xa máy mười inches. Nhưng các nghiên cứu cho hay, ngoài sức nóng, cell phone còn phát ra các phóng xạ có hại, đồng thời các phóng xạ này phát ra từng lúc mạnh yếu khác nhau nên có hại hơn là phát ra liên tục.

Cơ quan Food and Drugs Hoa Kỳ có trách nhiệm về sự an toàn thực và dược phẩm, các mỹ phẩm, trang bị điện tử trong nhà thì nói: cell phone phát ra một lượng điện từ trường không đáng kể và kết quả nghiên cứu chưa xác định nó có hoặc không có hại. Và cơ quan khuyên dân chúng áp dụng các phương pháp đề phòng thường lệ.

Tập san International Journal of Oncology tháng Năm 1999, đăng kết quả nghiên cứu trên 600 người dùng điện thoại di động cho hay không có bằng chứng gì về vụ gây ung thư não vì phóng xạ từ điện thoại này.

Ảnh hưởng trên sức khỏe

Nhưng phe quan tâm tới ảnh hưởng phóng xạ từ điện thoại di động vẫn không hài lòng với giải thích của chính quyền và của các công ty sản xuất cell phone. Họ vẫn quả quyết là phóng xạ này rất hại cho cơ thể.

Phóng xạ điện từ trường thoát ra từ điện thoại di động khi mở máy và khi điện đàm. Vi ba phóng xạ xâm nhập xương sọ, vào não bộ, mắt, mũi và các tế bào trên mặt. Một bác sĩ Đan Mạch có nói: “Chắc không có ai muốn đút đầu vào lò hâm thực phẩm vi ba, nhưng nhiều người lại hân hoan áp chiếc điện thoại di động sát vào tai, vào đầu”. Microwave oven cũng phát ra những vi ba phóng xạ như điện thoại di động.

Bác sĩ Bruce Hocking đã tường trình trước Thượng Viện Úc Đại Lợi rằng, người sử dụng điện thoại cầm tay có thể bị tổn thương da chung quanh vành tai với cảm giác khác thường ở trong đầu, mấy phút sau khi họ quay số điện thoại và kéo dài có khi cả mấy tiếng đồng hồ. Ngoài ra họ còn cảm thấy buồn ói, rối loạn thị giác cũng như có vài dấu hiệu thần kinh khác. Theo ông, đây không phải là do tưởng tượng, mà là có thực vì được phát hiện ở nhiều người khác nhau, trên khắp thế giới khi họ dùng cell phone.

Cơ Quan Y Tế Thế Giới cũng đề cập tới vấn đề tia phóng xạ của điện thoại di động trên sức khỏe và khuyên dân chúng nên giới hạn sử dụng, nên dùng hands free devices, giữ điện thoại xa cơ thể. Cơ quan này đã tài trợ 4 triệu mỹ kim để nghiên cứu ảnh hưởng của tia phóng xạ từ điện thoại di động.

Các nghiên cứu gia bên Anh Quốc báo động là trẻ em dùng nhiều điện thoại di động có thể gặp khó khăn trong vấn đề tăng trưởng với đầu nhỏ. Công ty Hỏa xa Nhật yêu cầu khách giảm dùng điện thoại di động trên xe lửa để tránh ảnh hưởng tới các y cụ mang trên cơ thể một số hành khách trên tầu như pacemaker, trợ thính cụ… Theo kết quả điều tra bên Đức thì phóng xạ vi ba từ cell phone làm tăng huyết áp vì các mạch máu co thu dưới tác dụng của phóng xạ. Báo Daily Mail ngày 13 tháng 12 năm 1999 đăng tin các nghiên cứu bên Anh cho hay sử dụng cell phone có thể đưa tới thất thoát chất huyết cầu tố từ hồng huyết cầu và gây ra bệnh tim và sạn thận.

Phóng xạ từ điện thoại di động có thể làm giảm trí nhớ ngắn hạn và đột nhiên mất định hướng. Phóng xạ từ cell phone cũng ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch, theo khoa học gia Roger Cogwill. Các khoa học gia của Karolinska Institute bên Thụy Điển đang nghiên cứu về hậu quả này.

Người mang kính mà dùng cell phone thì ảnh hưởng của phóng xạ vào mắt tăng 20%, vào đầu tăng 6%, lý do có thể là do khung kính đeo mắt bằng kim loại thu hút nhiều chất phóng xạ hơn. Nhiều người có răng trám bằng kim loại than phiền có cảm giác nóng nóng trong miệng và đau nhức răng khi nói chuyện trong cell phone. Theo báo Úc Sunday Telegraph ngày 2 tháng 5 1999, phóng xạ từ điện thoại di động gây ra khuyết tật cho trên 10.000 con gà con vì trứng tiếp cận với chất phóng xạ này.

Hội nghị về ảnh hưởng phóng xạ từ cell phone, họp tại Vienne vào tháng Giêng năm 1999, đi đến một nghị quyết chung là ảnh hưởng sinh học phát ra từ radio wave, microwave là có thực và cần được khoa học kiểm chứng.

Các bác sĩ Henry Lai và NP Singh, University of Washington, Seattle, cho hay khi sử dụng cell phone, có tới 50% DNA bị hư hao vì chất phóng xạ từ máy và ông ta cáo giác là các nhà sản xuất cell phone đã yêu cầu ông thay đổi kết quả của nghiên cứu tới hai lần. Nghiên cứu lại do chính các công ty điện thoại tài trợ, nhưng khi thấy kết quả bất lợi họ yêu cầu ông ta thay đổi.

Vấn đề với các trụ phát tín hiệu cho điện thoại di động ở vùng dân cư đông đúc cũng được nêu lên. Bên Anh, nhiều nghiên cứu cho hay, sống gần và dưới ảnh hưởng của đường dây điện có nhiều nguy cơ ung thư phổi vì các tia phóng xạ ô nhiễm dính với nhau và đọng trong phế nang. Theo tổ chức nghiên cứu các loài chim ở Thụy Sĩ, ngay cả chim khi bay quanh quẩn trụ phát tuyến cũng bị lạc đường vì mất định hướng dưới ảnh hưởng của điện từ trường.

Công ty bảo hiểm với cell phone

Vào tháng Bẩy năm 2000, một bác sĩ chuyên khoa thần kinh Hoa Kỳ đã kiện công ty Motorola và các công ty điện thoại di động khác, đòi bồi thường 800 triệu mỹ kim vì ông ta bị ung thư não gây ra do phóng xạ từ điện thoại di động. Kỹ sư Robert Kane làm việc cho Motorola kiện công ty vì bị ung thư óc trong thời gian thử nghiệm antenne cell phone cho công ty. Một vụ kiện Motorola khác do Dean Vincent Rittman bị ung thư não vì điện thoai di động cũng đang được thụ lý tại Texas.

Các công tư bảo hiểm từ chối bán bảo hiểm về hậu quả có thể xẩy ra do cell phone, vì họ cho rằng vấn đề này cũng tương tự như vấn đề chất cách nhiệt abestos, thuốc lá và dân bảo hiểm sẽ phải bồi thường nhiều tỷ mỹ kim. Theo công ty bảo hiểm Thụy Sĩ Swiss Re, căn cứ vào các dữ kiện hiện có thì các nạn nhân của cell phone có nhiều hy vọng thắng trong các vụ kiện. Công ty bảo hiểm lớn Lloyd bên Anh đã từ chối bán bảo hiểm liên can tới điện thoại di động.

Dụng cụ giảm phóng xạ

Trước sự lo ngại của giới tiêu thụ, nhiều trang bị che chở cơ thể, nhất là não bộ với phóng xạ từ cell phone đã được tung ra thị trường. Các công ty sản xuất mobile phone Hitachi, Ericsson, Alcatel tung ra các trang bị phụ hands free devices, Microshield để làm giảm phóng xạ phát ra từ điện thoại di động, ngõ hầu bảo vệ sức khỏe người dùng máy này. Chính các công ty sản xuất máy cũng phân phát Microshield cho nhân viên khi dùng điện thoại tự động, vì theo họ, dù chưa có bằng chứng xác đáng nhưng mọi người đều e ngại, che chở đề phòng thì cũng nên làm. Cảnh sát Luân Đôn được lệnh giới hạn dùng điện thoại di động dưới năm phút, đồng thời cũng được cung cấp dụng cụ che chở.

Các trang bị giảm phóng xạ này chẳng biết có công dụng gì không, nhưng theo nhiều người, lại có thể làm sự truyền tín hiệu thay đổi, khó nghe, điện thoại phải tăng cường độ, đưa dến nhiều phóng xạ hơn là làm giảm. Hands free devices thường dùng gồm có một cực nghe gắn vào lỗ tai, một cực thu âm thanh, nối với điện thoại bằng sợi dây điện. Khi máng ống nghe vào tai, chất phóng xạ cũng thất thoát ra ngoài đồng thời người nghe cũng có nhiều vấn đề trong lỗ tai.

Theo thống kê, có tới trên 60% người sử dụng điện thoại di động mua dụng cụ ngăn phóng xạ vì sợ chất này phát ra từ máy. Công ty sản xuất trang bị Microshield cho hay dụng cụ này thu hút tới 90% chất phóng xạ, mà nếu không có nó, sẽ chạy tuốt vào não của con người.

Nhãn hiệu báo động

Do sự đòi hỏi của dân chúng và với con số gia tăng mỗi ngày dùng điện thoại di động, các nhà sản xuất điện thoại Mỹ Motorola, Thụy Điển Ericsson, Nokia Phần Lan sẽ dán nhãn hiệu trên điện thoại ghi rõ số lượng chất phóng xạ do điện thoại di động phát rạ Phát ngôn viên Mikael Westmark của công ty Ericsson cho hay đây là vấn đề mà khách hàng rất quan tâm và công ty sẽ cung ứng các thông tin xác thực.

Cần phải làm gì?

Vấn đề của điện thoại di động đang được tranh luận, nghiên cứu. Chưa có kết luận nào xác quyết là cell phone tạo ra ảnh hưởng không tốt thì cũng chưa có chứng minh rằng cell phone an toàn. Người sử dụng cell phone bây giờ vô tình được dùng như là để thử nghiệm coi nó có nguy hại hay không. Cũng như thuốc Thalidomides cách đây mấy chục năm, vì không được nghiên cứu tính cách an toàn trước khi dùng, nên đã gây ra đau khổ cho nhiều gia đình với con khuyết tật. Hoặc như chất cách nhiệt abestos, đã gây ra biết bao nhiêu trường hợp ung thư phổi, mà cao độ phải mấy chục năm sau mới xuất hiện. Ung thư thường cần vài chục năm để phát sinh. Hoặc như ảnh hưởng của thuốc lá với ung thư phổi.

Nếu cơ thể có sức đề kháng mạnh thì vi ba phóng xạ từ cell phone không làm gì được, nhưng nếu yếu thì, mỗi ngày một ít, phóng xạ sẽ hủy hoại tế bào và trong trường kỳ, đưa tới bệnh hoạn. Không giống như khói thuốc lá, từ trường phóng xạ là chất vô hình, không mầu sắc, không mùi vị. Chúng âm thầm xâm nhập cơ thể nơi có tiếp cận và tạo ảnh hưởng xấu.

Nên khi đã có người nêu ra vấn đề, thì lúc sử dụng cell phone, ta cũng cần có một thái độ khôn ngoan, dè dặt:

– Không dùng cell phone khi có điện thoại loại thường.

– Dùng điện thoại thường bất cứ lúc nào có thể.

– Dùng trang bị phụ để khỏi áp điện thoại vào tai.

– Nói trên điện thoại di động càng ngắn càng tốt.

– Dùng loại điện thoại di động có antenne ở ngoài máy, xa đầu và não bộ.

– Ở nhà hoặc văn phòng, khi có ai kêu trên cell phone, thì kêu lại bằng điện thoại thường.

– Sử dụng tối đa máy nhắn tin pager.

– Mang máy điện thoại trong túi xách tay, chứ đừng bỏ trong túi áo, túi quần.

– Giới hạn sự sử dụng cell phone ở thiếu niên dưới 16 tuổi vì giới này bị ảnh hưởng xấu từ điện thoại di động nhiều hơn người trưởng thành.

Nhiều người cho rằng, sống trong xã hội hiện tại, con người có nhiều nguy cơ gặp hiểm nghèo thường xuyên. Lái xe nửa giờ mỗi ngày còn nhiều cơ hội xấu tới sức khỏe hơn là 10 phút nói trên điện thoại di động; vận động đi bộ có thể bị du đãng cướp bóc, đánh đập; uống thuốc chữa bệnh có thể bị phản ứng chết người; ăn tiệm có thể trúng độc; làm tình có thể thượng mã phong… Ôi đủ thứ nguy cơ!

Nhưng phòng bệnh hơn chữa bệnh mà.

An toàn lái xe

Một khía cạnh khác của điện thoại di động cũng đáng lưu tâm. Đó là việc điện đàm tâm sự ba hoa khi lái xe đã gây ra nhiều tai nạn chết người cho người lái và người khác. Số tử vong này có lẽ còn cao hơn là do phóng xạ và quá rõ ràng, khỏi cần tốn tiền nghiên cứu chứng minh lôi thôi.

Bài học căn bản lái xe là cần luôn luôn cảnh giác, thận trọng và ứng xử lịch sự. Đầu hướng về phía trước, mắt vừa nhìn đường, vừa ngó kính chiếu hậu và quan sát người lái chung quanh. Tôn trọng luật đi đường, giới hạn tốc độ và mang nịt an toàn. Nếu lại dùng cell phone, thì cũng tốt thôi, vì phương tiện này có nhiều ích lợi thực tiễn: giúp ta liên lạc với nhau, làm đời sống giản dị hơn, mang lại cấp cứu cho ta khi cần cũng như giúp người khác khi hoạn nạn. Tiện đấy nhưng cũng hại đấy. Nên cần đề phòng.

1.- Điện thoại bây giờ nó nhiều nút, nhiều cách dùng phức tạp, nhưng nếu làm quen được với chúng thì lại rất có lợi. Chẳng hạn nút kêu khẩn cấp, nút kêu lại tự động, nút số điện thoại thường kêu… mà khi cần, chỉ việc nhấn nút là điện đàm được.

2.- Sắm thêm trang bị phụ để khỏi phải lấy tay cầm áp điện thoại vào tai, dành hai tay cho bánh lái.

3.- Để điện thoại gần ngay chỗ mình ngồi, dễ lấy, không phải quay mình ra sau, đảo mắt tìm kiếm.

4.- Đang điện đàm mà thấy có bất an lưu thông như tai nạn trước mặt, mưa to chợt tới, nhiều xe cộ… thì ngưng ngay.

5- Giới hạn quay số điện thoại khi đang lái xe. Quay số khi xe ngừng đèn đỏ hoặc trước bảng stop. Nếu cần lắm, thì quay một nửa, nhìn đường rồi quay tiếp.

6.- Không ghi chép, tìm số điện thoại trong khi lái xe.

7.- Tránh nói chuyện gây nhiều xúc động mạnh trong lúc vừa lái vừa nói, vì ta rất dễ bị chia trí, gây ra tai nạn.

Phải chi mà ai ai, ngay cả mình, cũng cẩn tắc như vậy, thì đỡ việc cho Ông Tobia biết mấy!

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC

ĐẦU GIOAN TẨY GIẢ

ĐẦU GIOAN TẨY GIẢ

Ngày sinh nhật của một người lại dẫn đến cái chết của một người khác.  Nếu sự kiện xảy ra đúng như truyền thống mà Máccô nhận được và ghi lại thì thật là khủng khiếp.  Ai có thể tưởng tượng nổi chuyện trong bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê, một cô bé dám bưng mâm, trên có cái đầu vừa bị chặt của một người, máu còn chảy ròng ròng, mắt đang nhắm hay mở?  Cô bưng và vui vẻ trao cho mẹ cô.  Mẹ cô sẽ bưng và trao cho ai cái đầu của Gioan, người mà bà căm ghét?

Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta một số kinh nghiệm của Hêrôđê.  Trước hết là kinh nghiệm bị giằng co giữa cái tốt và cái xấu.  Hêrôđê Antipas đã bắt ông Gioan tẩy giả và xiềng ông trong ngục.  Lý do vì Gioan đã cản trở cuộc hôn nhân sai trái của ông với Hêrôđia.  Dầu vậy Hêrôđê vẫn biết Gioan là người công chính thánh thiện, vẫn sợ ông và che chở ông khỏi sự trả thù của Hêrôđia (cc. 19-20).  Hêrôđê còn lương tâm khi ông thích nghe Gioan nói, dù rất bối rối khi nghe.

Kế đến là kinh nghiệm về sự thiếu chín chắn của Hêrôđê khi thề hứa.  Cái gì đã xui khiến ông nói câu dại dột này với cô bé Salômê: “Con xin gì ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (c. 23)?  Bầu khí cuồng nhiệt của bữa tiệc sinh nhật, hay điệu vũ đẹp mê hồn, hay rượu đã ngà ngà say, hay muốn chứng tỏ mình đầy quyền lực?  Hay sự cộng hưởng của mọi yếu tố trên?  Có những lời nói vội vã mà sau đó ta phải hối tiếc và trả giá.

Cuối cùng là kinh nghiệm về sự mất tự do trước khi quyết định.  Khi cô bé xin cái đầu của Gioan, Hêrôđê hẳn đã sửng sốt ngỡ ngàng.  Ông buồn hết sức vì mình đã lỡ thề hứa như vậy (c. 26).  Ông có thể rút lại lời đã nói không?  Dĩ nhiên là có.  Nhưng nỗi sợ đã khiến ông không dám làm.  Sợ từ chối cô bé, làm cho cô buồn và mẹ cô nổi giận, sợ bị mang tiếng là nuốt lời trước mặt bá quan văn võ.  Nói chung ông sợ mất danh dự của mình, mất thiện cảm của người khác.  Bởi vậy, dù Hêrôđê thấy việc giết Gioan là điều sai trái, ông vẫn không dám xin rút lại lời thề thiếu suy xét của mình.  Cần can đảm để giữ lời hứa, nhưng có khi cần can đảm hơn để không giữ.  Danh dự hão của Hêrôđê được mua bằng máu của một vị ngôn sứ lớn.

Hêrôđê đã can dự vào cái chết của Gioan.  Ông chịu áp lực từ khách dự tiệc và mẹ con Hêrôđia.  Philatô đã can dự vào cái chết của Đức Giêsu.  Ông này chịu áp lực từ dân chúng và các thượng tế.  Cả hai ông đều không có tự do, không có can đảm để tha cho người vô tội.  Cả hai ông đều nghĩ đến mình, cái ghế của mình, danh dự của mình.  Quyền lực được sử dụng như bạo lực, khiến người lành phải chết oan.  Chúng ta xin cho mình luôn có tự do, để mọi quyết định phù hợp với ý Chúa.

************************************************

Lạy Chúa Giêsu,
sám hối không phải là điều dễ dàng,
bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn
để nhận mình lầm lỗi.

Chúng con ngỡ ngàng
khi thấy Chúa là Đấng vô tội
mà lại đứng chung với các tội nhân,
chờ Gioan ban phép Rửa.

Chúa đã muốn nên bạn đồng hành
với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh
lối nghĩ và lối sống của mình,
tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng,
thành thật để khỏi tự dối mình.

Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải,
dám đi đến những hành động cụ thể,
và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con
niềm vui của Giakêu,
hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Một Tử Tội Người Việt Đã Bị Hành Quyết:

Một Tử Tội Người Việt Đã Bị Hành Quyết:

Hồi Ký PT. Nguyễn Mạnh San

Trên 20 năm trong nhiệm vụ là một Tuyên Úy Trại Tù tình nguyện, tôi đã có dịp tư vấn trực tiếp cho 3 vụ án tử hình, mà trong đó có một vụ người Việt, còn hai vụ kia là người Mỹ. Vụ tử hình người Mỹ thứ nhất là ông John, thì tôi đã có dịp trình bầy chi tiết về vụ này trong bài viết mới đây của tôi, trên một vài tờ báo nguyệt san và trên trang mạng điện tử. Câu chuyện người Mỹ tử hình thứ hai là một phụ nữ, chưa bị hành quyết vì còn phải chờ đợi kết quả của đương sự kháng cáo lên Tòa Án Tối Cao Pháp Viện của tiểu bang phán quyết, nên tội nhân tạm thời được đình hoãn ngày bị hành quyết và vụ án này sẽ được trình bầy kế tiếp sau bài viết này. Sau cùng là vụ thứ 4, thuật lại câu chuyện của các tù nhân Việt Nam nổi loạn (Uprising) trong trại tạm giam (Jail). Vậy, trước khi đi sâu vào nội vụ án tử hình người Việt này, như tôi đã có dịp thưa cùng đọc giả trong bài viết mới đây về vụ án tử hình của ông John, nay tôi xin phép được nhắc lại cùng đọc giả thêm một lần nữa, là mọi hành động xẩy ra của mỗi can phạm (Defendant), được thuật lại trong 4 đề tài hồi ký của tôi, hoàn toàn đều được trích ra từ những hồ sơ cá nhân, có liệt kê các tội phạm, do Văn Phòng Công Tố Viên (District Attorney Office) đại diện pháp luật, đệ nạp tại Văn Phòng Tố Tụng (Court Clerk Office), để truy tố các can phạm ra trước tòa án công khai xét xử hoặc là tôi chỉ nhắc lại những lời tâm sự của các can phạm, mà những lời tâm sự này được tôi kể lại, hoàn toàn không mang tính chất tiết lộ đời tư hay những hành động bí mật cá nhân, có thể gây ra sự bất lợi cho những người có liên hệ trực tiếp với các can phạm trong câu chuyện. Hơn thế nữa, những gì tôi thuật lại trong 4 bài hồi ký của tôi, hoàn toàn không hề có ý định bênh vực hay phê phán bất cứ một nhân vật nào trong những câu chuyện tôi kể và những câu chuyện này đều sự thật, thường xẩy ra trong Cộng Đồng Người Việt cũng như trong Cộng Đồng Người Mỹ.

Theo bản cáo trạng của văn phòng Công Tố Viên (District Attorney) đệ nạp tại Văn Phòng Tố Tụng (Court Clerk Office), có ghi rõ 5 tội danh của hung thủ, giết người trong vụ án xẩy ra vào ngày 12 tháng 11 năm 1992 và tất cả sự việc xẩy ra trong cùng một ngày như sau:

Tội thứ nhất (Count 1) : Hung thủ tên Hùng đã cố sát một người tên Hải với khí cụ nguy hiểm, bằng con dao cắt thịt (Butcher), đâm vào người nạn nhân, làm cho nạn nhân bị thương nặng và chết sau đó.

Tội thứ hai (Count 2) : Lấy chìa khóa hộp thư riêng của nạn nhân tại ngân hàng (Safe deposit box key), chìa khóa xe hơi của nạn nhân và một số đồ cá nhân của nạn nhân.

Tội thứ ba (Count 3) : Hành hung và cưỡng bức nạn nhân với ý định giết chết nạn nhân, cùng với hành động dùng dao đâm trúng vào tay trái của người vợ nạn nhân.

Tội thứ tư (Count 4) : Hung thủ lấy cắp chiếc xe hơi Honda Accord 1988 của nạn nhân, để dùng làm phuong tiện di chuyển cá nhân của hung thủ.

Tội thứ năm (Count 5) : Vào ngân hàng, dùng chìa khóa riêng của nạn nhân, để mở hộp thư riêng của nạn nhân (Safe Deposit Box), lấy cắp tiền mặt khoảng 36 ngàn đồng và nữ trang của nạn nhân cất giữ trong hộp thư riêng này.

Tiếp theo bản cáo trạng trên đây của Văn Phòng Công Tố Viên là lời tâm sự của hung thủ:  Thưa Thầy Sáu, cả hai chúng con quen thân nhau từ trong trại tỵ nạn, chúng con lúc đó còn độc thân và trước khi chúng con được ra khỏi trại tỵ nan, mỗi người chúng con được đưa đến với người bảo trợ ở hai tiểu bang khác nhau, anh Hải được tái định cư ở Oklahoma, còn con ở Ohio, hai chúng con đã kết nghĩa làm anh em với nhau khi còn ở trong trại tạm cư, vì anh Hải lớn tuổi hơn con, nên con coi anh Hải như người anh của con. Anh Hải mở tiệm hớt tóc ở Oklahoma City, còn con là kỹ sư điện toán (Computer engineer) cho một công ty lớn ở  tiểu bang Ohio. Sau nhiều năm chăm chỉ làm việc, con dành dụm được một số tiền khá lớn và con đưa số tiền này cho anh Hải, để chúng con hùn hạp chung với nhau, dự trù sẽ mở một cơ sở thương mại chung với nhau tại Việt Nam, là anh Hải sẽ dùng số tiền này của con để mua những chiếc máy computer cũ mang về VN và con sẽ là người chịu trách nhiệm sửa chữa những máy computer bị hư hại, đã được bán ra cho khách hàng, trong thời gian bảo hiểm máy bán ra vẫn còn hiệu lực. Nhưng khi anh Hải tới California thì lập gia đình với một thiếu nữ trẻ đẹp, đã có một con với đời chồng trước và anh liền bỏ ý định về VN làm thương mại với con, như chúng con đã thỏa thuận với nhau trước kia, và sau đó anh Hải đưa người vợ mới cưới trở về Oklahoma City, để mở lại tiệm hớt tóc như trước đây. Khi biết được anh Hải đã đổi ý định này, con đành phải chờ đợi thêm một thời gian khá lâu, con mới dám đến thăm gia đình anh Hải và vợ chồng anh Hãi đã niềm nở tiếp đón con như một người thân trong gia đình, cho phép con được tá túc ngay tại trong nhà anh Hải.

Con ở nhà anh Hải khoảng gần được một tuần lễ, thì vào một hôm trước ngày con lên đường trở về nhà ở Ohio,  con ngỏ lời với anh Hải, tại vì anh không còn muốn làm thương mại với em ở Việt Nam nữa, nên xin anh hãy trao lại cho em số tiền mà khi trước em đã đưa cho anh, để anh mua mấy cái máy computer cũ đem về Việt Nam, mở tiệm bán computer và sửa chữa computer, nay em rất cần đến số tiền này, để em sẽ chung vốn mở dịch vụ thưởng mại với một người bạn em tại Việt Nam. Vừa nghe con nói xong, anh Hải tỏ thái độ rất tức giận, cầm cái chầy đánh base ball dơ cao lên, hét to lên: Mày phải quỳ xuống đất, chắp tay lạy tao, xin tao tha tội cho mày, vì mày đã có những hành động tằng tịu với vợ tao, thì tao mới tha tội cho mầy và sẽ hoàn trả lại sô tiền đó cho mày, bằng không, tao sẽ đập chết mày ngay bây giờ. Con bình tĩnh trả lời anh Hải: Em luôn luôn kính trọng vợ anh như người chị ruột của em, em không hề có hành động hay lời nói nào bất kính hay tình ý gì đối với chị Hải như anh vừa mới buộc tội em, nên em không thể quỳ gối xuống, xin anh tha tội cho em được, vì em không có phạm tội gì hết. Thế là anh Hải hai tay nắm chặt cái chầy base ball, dơ cao lên, tiến bước tới gần con, đập xuống đầu con, may thay con né tránh được, con lùi bước, chạy nhanh vào trong nhà bếp, anh Hải cũng chạy theo sau con với cái chầy base ball trong tay anh, tới nha bếp con vội vàng mở ngăn kéo ra, lấy con dao thái thịt trong ngăn kéo ra, chĩa con dao thẳng vào mặt anh Hải và hô to: Anh không được quyền đánh em, anh mà tiến tới sát gần em nữa, em sẽ đâm anh, nhưng anh Hải vẫn cứ tiến tới, dơ cao cái chầy đập xuống đầu con, con né tránh và con dao con cầm trong tay trong tư thế tự vệ, đâm vào ngực anh Hải và đang trong lúc cả hai người sô sát nhau trong tư thế nguy hiểm, thì chị Hải xông vào can ngăn, chẳng may con dao mà con đang cầm trên tay, đầu con dao đâm trượt vào tay chị Hải, làm tay chị bị chảy máu, chứ con hoàn toàn không cố ý đâm chị Hải; liền ngay sau đó, con lấy chìa khóa xe hơi của anh Hải và chìa khóa hộp thư an toàn (Safe Deposit  Box) của anh Hải để ở ngân hàng, con lái xe ra đó mở hộp thư, lấy lại đủ số tiền mà anh Hải nợ con. Kể tới đây, tôi xin thưa củng đọc giả là còn rất nhiều điều uẩn khúc khác nữa, mà anh Hùng đã tâm sự với tôi, nhưng tôi không thể tiết lộ những điều đó ra đây được và tôi cũng không có nhiệm vụ phải kiểm chứng những điều tâm sự đó của anh Hùng có thật sự đúng hay sai, nhưng để tôn trọng linh hồn thiêng liêng của người chết, cũng như để giữ uy tín cá nhân cho những người có liên hệ với anh Hùng còn sống, và là một Phó Tế Công Giáo, tôi có bổn phận phải tuyệt đối giữ kín những điều anh Hùng tiết lộ sự bí mật này cho tôi nghe. Tôi chỉ có thể thuật lại những điều tâm sự gì, mà tôi nhận thấy không gây phương hại đến danh dự cá nhân của những người chết hay những người còn sống có liên hệ mật thiết với các nhân vật trong chuyện.

Anh Hùng cũng cho tôi biết thêm một chi tiết rất quan trọng, là anh bị buộc tội cố sát anh Hải vì anh đã đâm 3 nhát dao vào người anh Hải, một nhát vào đằng trước ngực, sát bên cạnh con tim và 2 nhát dao đâm đằng sau lưng. Nhưng anh xác nhận là ngay sau khi nhát dao đâm vào ngực anh Hải, làm anh Hải ngã gục xuống đất, anh liền bỏ đi ngay, lấy xe của anh Hải, lái đến ngân hàng để lấy tiền, hai nhát dao đâm đằng sau lưng không phải là của anh đâm, anh không biết 2 nhát dao đó là của ai? Sau khi anh Hải đã được chôn cất hơn 1 năm, luật sư của anh có cho anh biết, là nếu muốn giảo nghiệm xem 2 vết dao đâm sau lưng có phải cùng một con dao anh cầm trong tay đâm anh Hải hay không? Và có cùng vết tay của anh trên con dao đó hay không? Vậy, nếu muốn thế, anh phải trả tốn phí đào xác anh Hải lên, cộng với tốn phí giảo nghiệm y khoa DNA, thì ít nhất phải tốn 15 ngàn Mỹ kim, trong khi anh không còn một đồng xu dính túi, nên cuộc giảo nghiệm này không thể thực hiện được như điều anh mong muốn.

Đọc tới đây, nếu đọc giả nào đã có sẵn trong đầu một khái niệm tổng quát về pháp lý thông thường (Legal common sense), theo khả năng suy luận của mỗi người, để chúng ta thử phân tích xem bản án tử hình này có quá cay nghiệt hay thiếu sự công minh buộc tội bị cáo (Defendant) hay không? Xin quý vị hãy duyệt  lại bản cáo trạng về các hành động tội phạm của bị cáo, do Văn Phòng Công Tố Viên (DA) đệ nạp tại tòa án để chờ phiên tòa xét xử và hãy đối chiếu với những lời tâm sự của bị cáo, thì chúng ta có thể tìm ra được những câu trả lời Giải Đoán một cách tương đối khá hữu lý (Comparatively logical guessing answers) cho vụ án tử hình này; chứ không phải là chúng ta tìm ra được những câu trả lời Giải Đáp khá chính xác (Exact answers) cho vụ án tử hình này. Suốt gần 10 năm liên tục, tôi đóng vai trò tư vấn tinh thần (Spiritual counseling) cho bị cáo, tôi nhận thấy đúng là số phận của bị cáo phải chết, mà bên Phật Giáo gọi là nghiệp chướng, bên Công Giáo gọi là Chúa an bài vì những dữ kiện diễn tiến sau đây:

Điểm thứ nhất: Vụ án tử hình của bị cáo đã được vị nữ luật sư tư rất giỏi, không phải là luật sư công (Public defender) tình nguyện đứng ra bào chữa miễn phí cho bị cáo, hy vọng có thể đổi bản án tử hình xuống thành chung thân, trước một Ủy Ban Tái Xét Bản Án (Case Review Committee), gồm 5 hội viên do Thống Đốc tiểu bang bổ nhiệm 5 vị này. Bà luật sư này đã tận tình trình bầy cặn kẽ những lý lẽ xác đáng, là thân chủ của bà không hề có ý định cầm dao muốn đâm chết nạn nhân, mà thân chủ của bà cầm dao chỉ để tự vệ sinh mạng của mình và để cảnh cáo đối phương không được tiến gần sát bị cáo và để tránh không bị đối phương dùng chiếc chầy base ball đập chết bị cáo khi nhìn thấy đối phương đang tiến sát mình và dơ cao cái chầy lên đập vào vào người bị cáo, nên phản ứng tự nhiên trong tư thế tự vệ sinh mang của mình, bị cáo phản công lại bằng con dao đã có sẵn trong tay và bị cáo đã có lời cảnh cáo đối phương trước là nếu anh tiến sát vào người tôi, thì tôi sẽ đâm anh để bảo toàn sinh mạng của tôi. Do đó hành động bị cáo dùng dao đâm vào người đối phương hoàn toàn không có ý chủ mưu giết người, mà chỉ trong tư thế tự vệ của bị cao mà thôi, vì nếu bị cáo không có hành động tự vệ như vậy, thì chắc chắn 100% bị cáo sẽ bị đối phương dùng chiếc chày base ball đập chết tại chỗ. Sau khi Ủy Ban Tái Xét Bản Án nghe xong những lời bào chữa của luật sư cho bị cáo, Ủy Ban bỏ phiếu, có 4 phiếu thuận đệ trình lên Thông Đốc, xin giảm án tử hình xuống còn chung thân cho bị cáo và chỉ có 1 phiếu chống mà thôi. Nhưng vị Thống Đốc tiểu bang đã bác lời đề nghị của Ủy Ban và ra lênh y án. Tôi được luật sư của bị cáo cho biết, đây là một trường hợp ngoại lệ chưa xẩy ra bao giờ, vì thông thường từ trước tới nay, chỉ cần 3 phiếu thuận trên 2 phiếu chống của Ủy Ban Tái Xét, cũng được Thống Đốc cho giảm án; đằng này có tới 4 phiếu thuận đế nghị cho bị cáo được giảm án, chì có 1 phiếu chống mà vẫn không được giảm án, vì quyền quyết định tối hậu cho phép giảm án hay y án, là hoàn toàn tùy thuộc vào vị Thống Đốc tiểu bang.

Điểm thứ hai: Sau khi được biết tin Thống Đốc bác bỏ lời đề nghị xin giảm án cho bị cáo của Ủy Ban Tái Xét, bà luật sư và một số ít người trong Cộng Đồng Người Việt địa phương ở đây, vì bị cáo không phải là cư dân địa phương,  nên có ít người đi ủng hộ, đã cùng với chúng tôi đến gặp vị Thống Đốc, xin Ngài xét lại bản án tử hình, khoan hồng cho bị cáo được giảm án xuống còn chung thân, như lời đề nghị trước đây của Ủy Ban Tái Xét Bản Án đã trình lên Ngài, nhưng Ngài trả lời vì bị cáo không phải là công dân Hoa Kỳ, mà chỉ là thường trú nhân, nên vẫn là công dân của nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản, nếu  Đại Xứ Việt Cộng ở Washington DC viết thư yêu cầu giảm án cho bị cáo, thì Ngài sẽ chấp thuận cho giảm án, nếu ĐSVC từ chối thì Ngài vẫn y án như cũ.

Điểm thứ ba: Bà luật sư nói với tôi theo lời khuyên của Thống Đốc, là bà sẽ viết thư yêu cầu ĐSVC viết thư cho Thống Đốc bằng lòng xin giảm án cho bị cáo. Tôi có giải thích cho bà luật sư hiểu rõ là bà có viết thư cũng vô ích, vì bố của bị cáo là cựu quân nhân VNCH/ Biệt Kích Dù nhầy ra ngoài bắc mà vc coi lả kẻ thù không đội trời chung với họ, thì làm sao ĐSVC có thể bằng lòng viết thư cho Thống Đốc để xin giảm án cho bị cáo là con trai của kẻ thù vc được? Nhưng bà luật sư nhấn mạnh với tôi: Còn Nước Còn Tát, đâu có mất mát gì. Đúng như lời dự đoán trước của tôi, ĐSVC trả lời một cách né tránh với vị Thống Đốc là vấn đề này tùy thuộc vào Thống Đốc, chúng tôi không có ý kiến.

Điểm thứ tư: Chỉ 2 tuần lễ trước ngày hành quyết bị cáo, bà luật sư có mời bác sĩ pháp lý tâm thần (Forensic)  Lê Đình Phước đến trại tù khám bệnh tâm thần cho bị cáo. Bác sĩ LĐP là bác sĩ người Việt đầu tiên hành nghề pháp lý tâm thần ở Hoa Kỳ, nhưng vì không đủ thời gian cho bác sĩ chẩn bệnh tâm thần ở mức độ nào cho bị cáo, nên không giúp được gì cho bị cáo.

Đây là những điều nhận xét hoàn toàn khách quan của cá nhân tôi về bị cáo:

Anh Hùng là một thanh niên trên 30 tuổi, độc thân, theo đạo Công Giáo, tính tình vui vẻ, hiền hòa, điển trai, ưa thích nói chuyện khôi hài làm người nghe không nhịn được cười và tôi vẫn còn nhớ là 24 tiếng đồng hồ trước giờ bị hành quyết, anh được chính quyền cho phép ăn một bữa cơm cuối cùng miễn phí trên đời này (free last supper on the earth), muốn ăn gì thì ăn, cơm Tàu, cơm Nhật, cơm Đại Hàn, cơm Thái, cơm Việt Nam, v.v… Trước đó mấy ngày, anh nói với tôi là gần 10 năm nay anh chưa bao giờ được ăn phở, anh rất thèm ăn phở, nên tôi nhắc anh là nhân dịp này, tôi sẽ order món phở cho anh ăn, anh vui vẻ trả lời tôi: Thôi Thầy ơi! dại gì mà ăn phở, vì ăn phở chỉ được ăn có một món phở, trong khi ăn cơm Tầu ít nhất có 4 món trở lên, xin Thầy cứ order cơm Tàu cho con. Anh là người rất thông minh và nhậy cảm (theo nghĩa nhậy cảm của người quốc gia, chứ không phải theo nghĩa nhậy cảm của người cs). Chính anh sáng chế ra phương pháp thoát nước cầu tiêu trên máy bay, làm cho nước không bị ứ đọng tràn ra ngoài bồn cầu tiêu khi có quá nhiều người dùng cầu tiêu trên máy bay. Anh là người có nhiều năng khiếu, trong gần 10 năm anh sống trong trại tù, anh xé những chiếc áo hay cái quần của tù nhân mặc thành những sợi nhỏ, rồi anh dùng chiếc que, đan thành những bức tranh tuyệt đẹp, anh đan hình Đức Mẹ bế Đức Chúa Guêsu, hình Mẹ bồng con v.v.. trông như bức tranh sơn dầu thật tuyệt đẹp.

Trong giớ phút bị cáo bị hành quyết, ngoài sự có mặt người em trai và vợ chồng cô em gái của bị cáo ra, tử tội yêu cầu Cha Phùng Chí và tôi ngồi phòng bên tay trái dành cho thân nhân của bị cáo, nhìn qua cửa kính, ở phòng giữa là nơi bị cáo nằm trên cái giường, có tấm vải trắng phủ kín từ dưới chân lên đến cổ của bị cáo, mỗi bên chân bị khóa chặt vào thành giường, hai tay hai bên cũng thế, trên phía đầu bị cáo có một cái bình như bình nước biển, đã được pha trộn nước với thuốc độc giết người, chảy qua những ống plastic chằng chịt, để chuyền nước thuốc độc xuống vào hai cánh tay và vào hai ống chân của bị cáo, trông giống như bệnh nhân đang nằm trong phòng cấp cứu (intensive care). Phòng đối diện phía bên tay phải là nơi dành cho thân nhân của gia đình đương cáo (plaintiff), trông cũng giống hệt như phòng bên tay trái  bị cáo, nhưng trong phòng không thấy có một ai bên đương cáo hiện diện.

Trước khi bác sĩ ra lệnh bấm nút cho thuốc độc chạy qua ống plastic vào người bị cáo, trước mặt bị cáo có treo lủng lẳng chiếc mico phone, để bị cáo nói câu từ biệt thân nhân của hai bên lần cuối: Con xin Bố Mẹ hãy tha thứ cho lỗi lầm của con đã phạm và em cũng xin chi Hải tha thứ cho lỗi lầm của em đã làm cho chồng chi chết, cũng xin hai bên gia đình đừng thù oán nhau vì lỗi làm này của con và của em gây ra và cuối cùng xin vĩnh viễn từ biệt các thân nhân hiện diện nơi đây. Câu nói này của bị cáo vừa chấm dứt thì vị bác sĩ cho lệnh bấm nút, nước thuốc độc từ từ chảy qua ống plastic vào người bị cáo, da mặt của bị cáo trở nên thâm tím và đen dần dần, tới lúc này, tôi và một vài người khác thấy cảnh tượng diễn tiến như thế rất lấy làm xúc động, cúi mặt xuống đất, không dám nhìn lên bị cáo nữa, cho tới khi nghe tiếng tuyên bố cuộc hành quyết đã hoàn tất, chúng tôi mới dám đứng dậy ra khỏi phòng. Thân nhân bị cáo cho biết là xác của bị cáo sẽ được thiêu đốt để được đem về Ohio chôn cất, theo như di chúc của bị cáo trước khi chết. Đây là lần đầu tiên và hy vọng cũng là lần cuối cùng trong đời tôi, được chứng kiến tận mắt cuộc hành quyết một thanh niến đồng hương trẻ tuổi, thông minh, diện mạo khôi ngô, ăn nói nhỏ nhẹ, dí dòm, đáng mến đã ghi sâu trong tâm hồn tôi một ấn tượng bi thảm, mà trong suốt đời tôi không bao giờ có thể quên được.

(Xin đón đọc một tử tội người Mỹ giết chồng trong kỳ tới.)

PT. Nguyễn Mạnh San

Cựu Tuyên Úy Trại Tù Liên Bang và Tiểu Bang

Thuộc Tòa Tổng Giám Mục Công Giáo Oklahoma City

 

Nghèo đói vẫn cao, đất đai rơi vào tay nhà nước tại nông thôn VN

Nghèo đói vẫn cao, đất đai rơi vào tay nhà nước tại nông thôn VN

Theo khảo sát, có 27% các hộ nông thôn đã bị mất đất trong năm 2014, tức tăng 10% so với 2 năm trước đó. Trên 98% đất nông dân bị mất trong thời gian 2012-2014 là vào tay nhà nước.

Theo khảo sát, có 27% các hộ nông thôn đã bị mất đất trong năm 2014, tức tăng 10% so với 2 năm trước đó. Trên 98% đất nông dân bị mất trong thời gian 2012-2014 là vào tay nhà nước.

Trà Mi-VOA

Đời sống ở nông thôn Việt Nam còn ‘ảm đạm’ theo một nghiên cứu mới công bố ngày 26/8 tại Hà Nội được Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online trích dẫn hôm nay.

Cuộc khảo sát mang tên ‘Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam: Kết quả điều tra hộ gia đình nông thông năm 2014 tại 12 tỉnh’ được thực hiện trên 3648 hộ gia đình từ Bắc chí Nam do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, và Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn phối hợp thực hiện trong năm 2014.

Báo cáo cho biết tình trạng nghèo khó ở các vùng nông thôn Việt Nam vẫn còn cao dù tỷ lệ đói nghèo có giảm từ 27,1% năm 2012 xuống còn 13,2% trong năm ngoái.

Vẫn theo báo cáo, tuy tỷ lệ nghèo giảm, người nông dân Việt Nam chưa thể thoát nghèo ‘một cách bền vững’, khả năng bị nghèo trở lại còn rất cao.

Bị giải tỏa đất đai thiệt thòi quá lớn. Tôi không nói dân nữa, tôi nói ngay tôi bây giờ bị thiệt thòi quá lớn. Con cái giờ không có nhà ở, còn phải đi thuê nhà ở. Nói sự thật thì chúng tôi khó nói mà nói giả dối thì không nói được…Chúng tôi là gia đình cách mạng, chúng tôi đang chiến đấu vì cuộc sống này, đấu tranh chống tham nhũng vì cuộc sống này.

Ông Út Long, nông dân ở Hà Tây.

Các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Lào Cai và Điện Biên có tỷ lệ nghèo cao nhất, với 44,3% và 37,3%.

Nông dân ở Lào Cai và Lai Châu có thu nhập trung bình hằng năm thấp nhất, tương ứng từ 16 đến 17 triệu đồng/người. Dân nông thôn ở Phú Thọ, Long An, và Hà Tây được đánh giá có lương bình quân cao nhất, từ 35 đến 38 triệu đồng/năm.

Dù Long An là một trong ba tỉnh nông dân có thu nhập hằng năm cao nhất theo cuộc khảo sát, nhưng bà Nguyễn Thị Bảy, một nông dân trong vùng cho biết đời sống kinh tế của bà con địa phương càng ngày càng eo hẹp, xuống dốc:

“Nói chung đời sống kinh tế của nhân dân eo hẹp hơn mấy năm trước dữ lắm, mùa màng giờ buôn bán bị thất giá chứ không được như mấy năm trước. Đời sống mình thấy cũng tạm ổn thôi chứ cũng chật hẹp lắm. Thấy càng ngày càng khó khăn hơn. Chế độ độc tài cộng sản đâu để cho người dân được thoải mái đâu. Mình cũng tạm mà sống thôi.”

Bà Bảy nói các chính sách hỗ trợ của nhà nước dành cho gia đình nghèo chưa công bằng và không hiệu quả vì nạn tham nhũng và truyền thống ưu tiên cho các hộ ‘có công với cách mạng’:

“Hộ nghèo không giảm, mấy hộ nghèo theo cộng sản thì có giảm. Gia đình nghèo của họ, họ mới giảm thôi. Số người nghèo không tham gia, không thuộc diện chính sách thì đâu được hưởng gì đâu. Họ ưu tiên cho gia đình chính sách không à. Gia đình thường không được ưu tiên.”

Báo cáo nói dù thu nhập trung bình và tiêu chuẩn sống của cư dân nông thôn Việt Nam có cải thiện, nhưng vẫn còn khoảng cách lớn về mặt thu nhập, tiếp cận các dịch vụ công, và có được lương thực đầy đủ giữa các gia đình khá giả với các hộ kém may mắn.

Tình trạng thất nghiệp ở nông thôn, theo báo cáo, cũng chưa được giải quyết tận gốc.

“Hộ nghèo không giảm, mấy hộ nghèo theo cộng sản thì có giảm. Gia đình nghèo của họ, họ mới giảm thôi. Số người nghèo không tham gia, không thuộc diện chính sách thì đâu được hưởng gì đâu. Họ ưu tiên cho gia đình chính sách không à. Gia đình thường không được ưu tiên.

Bà Nguyễn Thị Bảy, nông dân ở Long An, nói.

Khảo sát cũng cho biết người dân ở nông thôn Việt Nam còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách liên quan đến đất đai và rằng đa số đất canh tác của nông dân bị rơi vào tay nhà nước.

Theo khảo sát, có 27% các hộ nông thôn đã bị mất đất trong năm 2014, tức tăng 10% so với 2 năm trước đó. Trên 98% đất nông dân bị mất trong thời gian 2012-2014 là vào tay nhà nước.

Nghệ An và Hà Tây là hai tỉnh có tỷ lệ nông dân bị mất đất cao nhất, theo cuộc nghiên cứu. Ở hai nơi này, cứ 10 hộ dân có tới gần 5 hộ bị nhà nước tịch thu đất đai, phương tiện sinh kế chủ yếu của họ.

Ông Út Long, nông dân ở Hà Tây, là một nạn nhân bị nhà nước trưng thu đất. Gia đình ông ròng rã đi khiếu kiện từ năm 2004 tới nay nhưng chưa được giải quyết dù ông là một cán bộ hưu trí thuộc diện ‘có công với cách mạng.’ Ông Long chia sẻ tình cảnh của mình:

“Bị giải tỏa đất đai thiệt thòi quá lớn. Tôi không nói dân nữa, tôi nói ngay tôi bây giờ bị thiệt thòi quá lớn. Con cái giờ không có nhà ở, còn phải đi thuê nhà ở. Nói sự thật thì chúng tôi khó nói mà nói giả dối thì không nói được. Nói tóm lại, bị giải tỏa đất đai đời sống sa sút quá lớn. Chúng tôi là gia đình cách mạng, chúng tôi đang chiến đấu vì cuộc sống này, đấu tranh chống tham nhũng vì cuộc sống này.”

Những mặt tiến bộ được phản ánh trong phúc trình vừa công bố về đời sống nông thôn Việt Nam bao gồm việc tiếp cận nước sạch, vệ sinh môi trường, và chất lượng nhà ở.

Tình trạng di cư ở nông thôn được xem là có cải thiện. Tỷ lệ dân nông thôn di cư trong năm 2012 là 22%, nhưng tới năm ngoái đã giảm xuống còn 15%, theo cuộc khảo sát.

Truyền thông trong nước trích dẫn nhận định của các chuyên gia cho rằng dân nông thôn Việt Nam dễ bị tác động bởi các yếu tố môi trường xung quanh và ‘thiếu các biện pháp phòng vệ.’

Khảo sát đầu tiên được thực hiện vào năm 2002 và kể từ năm 2006 tới nay được tiến hành mỗi hai năm một lần. Các câu hỏi đặt ra trong cuộc nghiên cứu tập trung về thu nhập, tiền để dành, sở hữu đất đai, di cư, và giáo dục của người dân nông thôn.

Vì sao công an dùng vũ lực với dân?

Vì sao công an dùng vũ lực với dân?

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ
2015-08-28

Vì sao công an dùng vũ lực với dân? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg9497762.jpg

Công an giữ trật tự tại phiên xử LS Lê Quốc Quân hôm 18/2/2014

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Một số nhà hoạt động tại Việt Nam hôm nay sau khi đến thăm cựu tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật mới mãn án tù vào ngày hôm qua bị chặn đánh trên đường trở về.

Gia Minh hỏi chuyện một trong những nạn nhân là chị Trần Thị Nga vào lúc11 giờ sáng ngày 28 tháng 8 và chị kể lại sự việc:

Chúng tôi là những người bạn đến nhà Trần Minh Nhật để đón anh ra tù vào ngày 27 tháng 8 năm 2015; hôm nay chúng tôi đón xe để về nhà thì trên đường từ nhà Trần Minh Nhật đến xã Nghĩa Thắng, tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi bị một lực lượng công an tỉnh Lâm Đồng, huyện Lâm Hà đi theo chúng tôi và dừng chúng tôi lại tại xã Nghĩa Thắng. Họ mặc thường phục và trèo lên xe đánh chúng tôi. Bên ngoài họ mặc thường phục nhưng bên trong vẫn là quần áo công an xã. Trong số những người đánh chúng tôi hôm nay, hôm qua tại ủy ban nhân dân xã chúng tôi có quay phim, chụp ảnh được mặt của những người đó. Hôm qua tại ủy ban xã họ cùng đàn áp mẹ, chị và em gái của Trần Minh Nhật khiến bị ngất xỉu ngay tại ủy ban xã.

“ Chính những người công an- những người thi hành nhiệm vụ, thi hành pháp luật lại chà đạp lên pháp luật một cách trắng trợn như thế là không thể chấp nhận được.
– Chị Trần Thị Nga”

Chúng tôi có 3 đoàn đi theo ba hướng khác nhau: một đoàn đi Daklak đến giờ này chưa bị vấn đề gì, một đoàn đi Sài Gòn trên nửa đoạn đường cũng bị công an giả dạng côn đồ đánh đập rất dã man, trong đó có cô giáo Bích Hạnh và cháu bé cũng bị đàn áp trong đoàn đó; còn đoàn chúng tôi gồm 10 người, trong đó có giáo sư Phạm Minh Hoàng, cựu tù nhân lương tâm Chu Mạnh Sơn, cựu tù nhân Trương Minh Tam và tôi là Trần Thị Nga, những người bị đánh nhiều nhất. Họ đánh và lục đồ của chúng tôi.

Khi chúng tôi bị đánh có một số người dân ở đó ra hỗ trợ chúng tôi và nói họ biết những người đánh chúng tôi: đó là công an huyện Lâm Hà. Tôi có quay phim người nhân chứng xác nhận điều đó.”

Chính quyền vi phạm pháp luật

Gia Minh: Tình hình đến lúc này thế nào rồi? Họ vẫn cho mọi người đi?

Chị Trần Thị Nga: Sau khi họ đánh chúng tôi và người dân đi đường vào can thiệp thì lực lượng công an giả dạng côn đồ đã bỏ đi. Hiện nay một số người vì công việc nên phải về nhà, còn chúng tôi đang trên đường đến một hiệu thuốc hoặc một chỗ để chăm sóc vết thương cho bạn Chu Mạnh Sơn vì bị chảy máu rất nhiều và dưỡng sức một chút rồi chúng tôi mới có quyết định làm gì tiếp. Nhưng đặc biệt chúng tôi cần phải đưa vụ việc công an giả dạng côn đồ đánh chúng tôi như thế này thứ nhất ra công luận, ra quốc tế và đặc biệt ra pháp luật của Việt Nam. Chính những người công an- những người thi hành nhiệm vụ, thi hành pháp luật lại chà đạp lên pháp luật một cách trắng trợn như thế là không thể chấp nhận được.

Gia Minh: Bản thân chị cũng từng có những lần bị đánh như vậy và việc khiếu nại trước hết với cơ quan công quyền ra sao và được trả lời như thế nào?

Chị Trần Thị Nga: Ngày 25 tháng 5 năm 2014, khi tôi đang bế con trên tay và đặc biệt đang cho con bú, thì tôi bị 5 công an dùng hung khí là những tuýt khung sắt đánh tôi gãy chân. Hình ảnh những người đánh tôi đều có quay phim, chụp ảnh được những tên côn đồ đó. Tôi đã làm đơn gửi công an Thành phố Hà Nội cũng như nơi tôi bị đánh là công an huyện Thanh Trì, và Bộ Công an, Viện Kiểm sát Tối cao. Ông Nguyễn Duy Thuần, vào năm 2014, sau khi xem đơn cũng như các bằng chứng video, hình ảnh những kẻ đánh tôi, ông ta nói không nhận đơn củng như bằng chứng vì ‘tôi đi đấu tranh nhân quyền công an đánh cho là phải’.

Phía công an huyện Thanh Trì và công an Hà Nội đưa cho tôi quyết định đình chỉ điều tra vụ án vì không xác minh được hung thủ. Tôi hỏi tại sao không xác minh được hung thủ khi mặt được cung cấp đầy đủ, chính người công an thụ lý hồ sơ của tôi nói ngay tại công an huyện Thanh Trì rằng ‘mày câm mồm đi, mày có biết bố mày đánh mày không’.

Vì sao họ dùng vũ lực?

Gia Minh: Sự việc đã xảy ra với bản thân chị và lại tiếp tục xảy ra, thì chị thấy tiếp tục cách khiếu nại, làm đơn gửi chính quyền như vậy có hữu hiệu không?

Chị Trần Thị Nga: Tôi biết những việc làm của ngành công an vi phạm pháp luật đối với bản thân chúng tôi. Điều đó cho thấy chính ngành công an và chính quyền cộng sản hiện nay họ đang thua về pháp lý nên họ dùng vũ lực với chúng tôi liên tục như thế. Việc họ đánh đập tôi và trả lời không thụ án hồ sơ vụ án như vậy, tôi thấy việc làm của tôi vẫn có giá trị vì vào tháng 7 năm 2015, Liên Hiệp Quốc có làm việc với chính phủ Việt Nam về quyền của người phụ nữa và trẻ em.

Khi đó phó ban Liên Hiệp Quốc về quyền phụ nữ và trẻ em có lên tiếng chất vấn chính phủ Việt Nam về vụ án của tôi liên tục bị đánh và chính quyền Việt Nam nói không hề biết đến vụ việc của tôi. Lúc đó tôi cung cấp cho phái đoàn Liên hiệp quốc những bằng chứng về vụ việc ông Nguyễn Huy Thuần, Viện Kiểm sát Tối cáo trả lời và những bằng chứng, những giấy tờ, công văn bên phía công an, cũng như Viện Kiểm Sát trả lời tôi về vụ án đó. Cho đến nay phía chính phủ Việt Nam vẫn chưa trả lời cho Liên Hiệp Quốc vè vụ việc của tôi.

“ Chính ngành công an và chính quyền cộng sản hiện nay họ đang thua về pháp lý nên họ dùng vũ lực với chúng tôi liên tục như thế.
– Chị Trần Thị Nga”

Tôi thấy chúng tôi làm vấn đề pháp lý mặc dù công an, tòa án có vụ trả lời tôi là ‘chị không được phép kiện công an vì công an là cơ quan hành chính của nhà nước, công an có quyền cướp tài sản, đánh đập người dân nhưng người dân không có quyền khiếu kiện.’ Đó là câu của chánh án tòa án Phủ Lý và tôi có ghi âm được.

Gia Minh: Tất cả những hành động bị sách nhiễu, đánh đập đến thương tích như vừa qua đối với nhiều người hoạt động và bản thân chị có tác động gì?

Chị Trần Thị Nga: Là con người chúng tôi bị đánh đập thương tích, đó là những vết thương trên cơ thể, và cũng có thể nói đó là những vết thương về tâm hồn; bởi vì một con người không ai muốn cơ thể của mình bị hành hạ và tâm hồn của mình bị căng thẳng. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản đã dùng vũ lực để đàn áp người dân cũng như chúng tôi những người dám dấn thân đâu tranh cho công lý và sự thật mà không lên tiếng nói lên sự thật này thì còn nhiều người dân Việt Nam còn bị đánh đập, bị cướp đi quyền của mình. Tôi thấy mình cần phải lên tiếng không phải để bảo vệ quyền căn bản của mình mà bảo vệ quyền căn bản của những đứa trẻ, những người già không đủ khả năng để bảo vệ quyền của họ.

Gia Minh: Xin chân thành cám ơn chị Trần Thị Nga.

Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo họp báo về hiện tình giáo hội

Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo họp báo về hiện tình giáo hội

Nguoi-viet.com

Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, vừa tổ chức một cuộc họp báo về hiện tình giáo hội, tại nhật báo Việt Báo, Westminster, hôm Thứ Năm, 27 Tháng Tám.

Tham dự của họp báo có Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng và Hội Ðồng Quản Trị Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo.

Cụ thể, vị thượng tọa công bố việc từ chức quyền chủ tịch Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo, bạch hóa tài chánh và chủ quyền pháp lý của chùa Phật Quang, Huntington Beach.


Từ trái, ông Mai Thanh Châu, Luật Sư Steven Dieu, Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng, và ông Trần Ðình Minh tại cuộc họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Hôm nay chúng tôi xin trình bày ba điều trước quý vị. Thứ nhất là những khó khăn của giáo hội và cá nhân chúng tôi. Chúng tôi đang làm gì và sau cùng là tìm phương cách nào tốt đẹp nhất để giải quyết,” Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng tuyên bố trước giới truyền thông và đồng bào tham dự.

Thượng tọa nói tiếp: “Tâm nguyện của Ðức Tăng Thống Thích Quảng Ðộ là có được một nơi để Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo thi hành Phật sự và chúng tôi mời gọi sự gánh vác của mọi giới đồng bào. Từ Tháng Sáu đến Tháng Mười Hai, 2014, ngôi chùa Phật Quang thành hình, và kế đến là tờ báo Ðồng Hành để quảng bá tin tức.”

“Trong nước, từ khi Hòa Thượng Thích Như Ðạt ra đi vào Tháng Tư, Ðức Tăng Thống ban hành Giáo Chỉ số 12, nhưng một thông cáo báo chí làm tại Paris ngày 10 Tháng Tám cho biết Giáo Chỉ số 13, ký ngày 5 Tháng Tám ra đời để thu hồi và hủy bỏ giáo chỉ trước đó,” thượng tọa nói.

“Những thông tin như thế đến từ Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế. Nhiều lần tôi nhờ Giáo Sư Võ Văn Ái, giám đốc văn phòng này, nhưng đều gặp khó khăn, cho đến khi gặp ông ở Dallas, mới biết ông không bằng lòng với tờ báo Ðồng Hành,” thượng tọa nói tiếp.

“Sau đó, khi có những bất hòa rất lớn, chúng tôi gởi thư cho Ðức Tăng Thống, xin từ chức và sẽ bàn giao tất cả các giấy tờ liên quan đến Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo,” thượng tọa nói.

“Tuy thế, tình hình vẫn không thấy cải thiện và có nhưng thông bạch nói rằng chúng tôi âm mưu chiếm đoạt chùa Phật Quang. Trong khi đó, Hội Ðồng Quản Trị chỉ gồm tôi, đạo hữu Nguyên Hòa Trần Ðình Minh và chị Ỷ Lan,” thượng tọa giãi bày.

Theo Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng, hội đồng quản trị cần thêm nhân sự, vì thế hội đồng cũng đã mời thêm được sáu người, trong đó có Luật Sư Steven Dieu, để giúp giải quyết những khó khăn, và các món nợ ngắn hạn và dài hạn có nhu cầu ưu tiên.

“Chúng tôi cũng không hề có ý định ly khai khỏi giáo hội, vì chủ trương hộ pháp, hộ dân, thủy chung với sự tôn kính Ðức Tăng Thống. Tôi phải về Houston, vì sau khi từ chức, tôi còn trách nhiệm với đồng bào và chùa Pháp Luân, do Phật tử đóng góp,” thượng tọa nói.

Thượng tọa tiếp: “Trở lại với chùa Phật Quang, dù không còn giữ chức vụ, nhưng tôi vẫn sẽ làm việc với những người có trách nhiệm. Nhìn lại những vấp váp trong quá khứ, Phật tử là những người tâm thành, tôi không muốn họ đau lòng.”

“Khi làm, chúng tôi làm hết lòng. Khi ra đi không hề muốn gây xáo trộn. Vì thế, chúng tôi nhờ đến những người chuyên môn như Luật Sư Steven Dieu, như đạo hữu Mai Thanh Châu,” thượng tọa nói.

Kế đến, ông Võ Ý, người điều hợp chương trình, giới thiệu Luật Sư Steven Dieu, trình bày vấn đề pháp lý, chủ quyền và sở hữu chùa Phật Quang.

“Tôi không phải là thành viên của giáo hội. Tôi nhận lời mời của thượng tọa. Tuy nhiên, tôi xin minh xác danh xưng ‘Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất’ ở đây cùng nghĩa với tên trong tiếng Anh là ‘Unified Bhuddist Church of Vietnam,’ gọi tắt là UBC,” Luật Sư Steven Dieu giải thích.

Ông nói thêm: “UBC có cùng mục tiêu với Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo, nhưng không phải là Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo, và được đăng ký đúng theo luật pháp của tiểu bang Texas. Tôi sẽ giải thích thêm lý do cần có UBC trong chốc lát.”

Ông nói chùa Phật Quang (UBC) coi như một con diều, đang theo gió bay lên cao, nhưng có người muốn cắt dây và muốn con diều rớt xuống đất tan nát. Ðó là lý do ông tham gia Hội Ðồng Quản Trị UBC.

Theo luật sư, chùa Phật Quang đã đăng ký với chính quyền và có sở hữu pháp lý của một hội bất vụ lợi.

Ông kể rằng Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng có tầm nhìn và chẳng riêng mình thượng tọa, Giáo Sư Võ Văn Ái, cô Ỷ Lan và nhiều nhân vật chính của giáo hội, từng nghe ông thuyết trình và đồng ý về mô hình tổ chức trực thẳng hiện tại của giáo hội sẽ gây khó khăn, một khi Ðức Tăng Thống có mệnh hệ gì.

Ông trình bày thêm hai mô hình khác là tam viện phân lập, gồm viện tăng thống, viện hóa đạo trong nước và Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo ở hải ngoại. Mô hình thứ ba gồm viện tăng thống chỉ đạo viện hóa đạo và Văn Phòng 2 Viện Hóa Ðạo, độc lập, nhưng yểm trợ lẫn nhau.

Lý do là để CSVN không thể triệt hạ cả ba cơ chế. Hiện nay, nếu CSVN ảnh hưởng hay bắt buộc viện tăng thống, cứ từ trên đi xuống, không tuân theo là phản, theo vị luật sư.

Ông tiết lộ: “Vài tháng trước, người của tòa đại sứ Mỹ đến chùa Phật Quang, đề nghị đưa Ðức Tăng Thống ra hải ngoại chữa bệnh. Ðây là cơ hội ngàn vàng. Nếu ngài ra đây, tinh thần đồng bào sẽ phấn khởi vô cùng, giáo hội sẽ lớn mạnh.”

Sau cùng, ông Mai Thanh Châu, tổng thủ quỹ Hội Ðồng Quản Trị UBC, giải thích số tiền nợ ngắn và dài hạn cần giải quyết, gồm $94,000 nợ ngắn hạn và $540,500 nợ dài hạn. Số tiền nợ sau cùng khi tạo mãi chùa Phật Quang là $1,310,000.

Ông cho biết, với chuyên môn về kế toán, ông bỏ ra hai tuần qua, nhưng vẫn còn phải tiếp tục làm việc để bạch hóa tất cả chi tiết tài chánh rõ ràng. Mọi thắc mắc, ông nói có thể liên lạc với ông qua số điện thoại (916) 996-2519.

Sau phần trao đổi câu hỏi và trả lời của ban tổ chức, Thượng Tọa Thích Giác Ðẳng cáo lỗi phải ra phi trường để về Texas.

——–
Liên lạc tác giả: LinhNguyen@nguoi-viet.com

Yêu thương và nhường nhịn.

Yêu thương và nhường nhịn.

Có hai ông bà cụ nọ đã sống với nhau hơn 60 năm. Họ chia xẻ ngọt bùi, đủ mọi thứ. Duy chỉ có cái hôp đựng giầy  mà bà cụ để ở  dưới gầm tủ là ông cụ không hề biết trong đó đựng cái gì. Và cũng tôn trọng riêng tư của bà, ông chẳng bao giờ hỏi tới  cái hôp đó.

Năm  này qua năm nọ, một ngày kia cụ bà bỗng bệnh nặng. Biết vợ mình không qua khỏi ,cụ ông chợt nhớ tới  cái hộp giầy bí mật.Bèn lấy đem đến bên giường cụ bà, cụ bà cũng đồng ý  cho ông mở cái hộp ra.

Khi chiếc hộp được mở ra,bên trong chỉ vỏn vẹn  có hai con búp bê bằng len nhỏ va một số tiền là 95.500 đô. Ông cụ ngạc nhiên hỏi vợ” Thế này là sao? “.

“Khi chúng ta mới lấy nhau”, cụ bà nói” Bà nội của em có dặn em rằng: Bí quyết để giữ hạnh phúc gia đình là đừng bao giờ cãi nhau. Nếu lỡ chồng con có làm  điều gì  khiến con bực mình, tức giận. Con nên im lặng và bình tỉnh,đi ra chỗ khác  lấy len đan một con búp bê nha con”. Và anh thấy đó…

Nghe thế, Cụ ông  không cầm được nước mắt. Cả suốt cuộc đời, sống chung với nhau  người vợ thân yêu của mình chỉ giận mình chỉ có hai lần thôi ư ? Ông cảm thấy  hạnh phúc vô cùng.

“Và còn món tiền lớn nay thì sao?” Ông cụ hỏi.
Cụ bà mắt đỏ hoe trả lời:” . Và đó là.. số tiền  em đã bán những con búp bê mà em đã đan..”

Câu chuyện có một kết thúc bất ngờ đầy thú vị. Nó khiến người đọc mỉm cười nhưng dư âm của nụ cười là một sự cảm động sâu sắc. Số tiền khá lớn thu được từ việc bán những con búp bê cũng chính là số lần những nhịn nhục âm thầm mà người vợ phải chịu trong suốt thời gian chung sống với chồng mình. Người vợ đã cho chúng ta một gương sống yêu thương và nhẫn nhịn chịu đựng những lầm lỗi của người chồng. Bà ta tìm một lối thoát rất tích cực mỗi khi người chồng làm mình bực mình, tức giận, tránh những cãi vã tranh chấp có thể gây mất hạnh phúc cho gia đình đó là lấy len ra ngồi đan búp bê. Một việc làm xem ra rất bình thường, rất đơn giản nhưng với một tình yêu sâu sắc, sự cảm thông, chấp nhận những bất toàn của người chồng trong yêu thương, hành động đó đã trở nên một phương cách hữu hiệu trong việc gìn giữ hòa khí trong gia đình. Sự nhẫn nhịn đó thực sự là kết quả của một tình yêu rất mạnh mẽ và khả năng chiến thắng cảm xúc nóng giận của bản thân rất tuyệt vời.

Tuy nhiên, đa số mỗi người trong chúng ta lại là hình ảnh của người chồng, tức là chúng ta cứ vô tình gây khổ, làm đau lòng người thân của mình mà không hề hay biết.

Khi một cặp vợ chồng khủng hoảng về tình cảm đưa nhau tới văn phòng tư vấn hôn nhân của Williams Harley ở Mỹ, ông thường tách họ ra hai phòng khác nhau và yêu cầu mỗi người trả lời trên giấy câu hỏi sau đây: “Người bạn đời của bạn có thể làm cho bạn điều gì thì bạn hạnh phúc?”. Ông thường nhận được câu trả lời đó là sự quan tâm chăm sóc cho nhau. Nếu người chồng thực sự quan tâm đến cảm xúc của vợ mình sẽ nhận ra sự nhẫn nhịn âm thầm của bà ta ngay trong thời gian còn chung sống, chứ không phải chỉ phát hiện ra điều ấy khi người vợ sắp qua đời. Có phải đã quá muộn màng khi ông hiểu ra sự hy sinh của người vợ trong việc chấp nhận những tật xấu của mình để bảo vệ hạnh phúc gia đình từ bao nhiêu năm qua? Có phải đã quá trễ để có thể chăm sóc vợ mình thật nhiều như để bù lại sự vô tâm mà mình đã gây ra?

Anh chị Thụ Mai gởi

CÁI GIÁ CỦA HẠNH PHÚC

CÁI GIÁ CỦA HẠNH PHÚC

Ai trong chúng ta cũng mong cầu hạnh phúc. Có người cho rằng: Hạnh phúc khi tâm bình an, không lo sợ, không mong cầu, không hối hận, không bứt rức, không hận thù, không ghen ghét. Có người lại cho rằng: Hạnh phúc là đoá hoa của thời gian, nở rồi diệt, diệt rồi nở, có như vậy mới thực sự hạnh phúc. Nếu đoá hoa thời gian ấy cứ trường tồn, người ta sẽ không cảm nhận hạnh phúc nữa, mà đôi khi biến thành bất hạnh. Có người lại cho rằng: Cái gì chỉ mình có được, người khác không bao giờ với được, đó là hạnh phúc. Lại có người cho rằng: Họ chỉ hạnh phúc, khi mọi người cùng hạnh phúc. Có cái hạnh phúc là cho, có cái hạnh phúc là nhận….

 

Nhưng hầu như người ta không thể có một định nghĩa chung về hạnh phúc. Mỗi người cảm nhận hạnh phúc một khác, mỗi thời cảm nhận hạnh phúc một khác. Người đang nóng bức, được ngâm mình trong làn nước mát là hạnh phúc. Người đang lên cơn sốt rét, bị ngâm mình trong làn nước mát có cùng nhiệt độ lại “bất hạnh”. Người ăn được cay, có trái ớt hiểm cay xè dằm nước mắm, bữa cơm sẽ đậm đà hơn lên, hạnh phúc cũng qua đó mà sanh ra. Người không hề ăn được ớt, “vô phúc” cắn nhằm một mẩu ớt, nước mắt nước mũi đã ròng ròng khốn khổ. Người đã lập gia đình, có kinh tế khả dĩ ổn định, tin người vợ thọ thai là hỉ tín (tin mừng) trọng đại. Anh chàng sinh viên chưa sẵn sàng thành gia thất, tương lai chưa định mà nghe bạn gái báo “hung tin” thai nghén, quả là điều bất hạnh.

 

Vậy định nghĩa chung của hạnh phúc là gì? Thật khó, nhưng ta thử định nghĩa như vầy: Hạnh phúc là cảm thọ an lạc, sung sướng… khi những mong cầu của chúng ta được thoả mãn. Với định nghĩa như vậy, sẽ có nhiều người phản đối, người tu không có mong cầu, nhưng họ rất tự tại, ung dung và an lạc. Theo đức Đạt Lai Lạt Ma thì hạnh phúc là khoảng khắc thời gian ta cảm nhận. Khoảng khắc ấy như một hạt trai trong xâu chuỗi. Muốn cả đời hạnh phúc, người ta phải biết tạo ra những khoảng khắc ấy liên tục, người ta phải tìm cách xâu các khoảng khắc cảm nhận hạnh phúc lại với nhau, càng gần nhau… người ta càng hạnh phúc.

Cảm nhận hạnh phúc chỉ có cá nhân người ấy hiểu. Niềm hạnh phúc của một người nông dân chân lấm tay bùn khi nhìn đồng lúa trổ bông, trĩu hạt có thể to lớn không thua gì Michael Schumacher thắng giải đua xe thể thức I ở Monaco, một khoa học gia khám phá ra thuốc phòng chống HIV, hay nhà quân sự chiến thắng trên trận địa. Tuy giá trị vật chất của những khoảng khắc hạnh phúc ấy khác nhau, song biên độ cảm thọ không hề khác.

Ta tạm gọi hạnh phúc là cảm thọ an lạc, sung sướng, khoảng khắc đời lên hương, khiến cho ta mãn nguyện, êm ấm, thanh lương.

Vậy cái giá của hạnh phúc là gì ? Liệu hạnh phúc có thể là của “giời cho” chăng? Hay hạnh phúc là quá trình góp nhặt, vun trồng, tỉa tót và đánh đổi?

Về cái giá của hạnh phúc, ta cũng chẳng thể tính ra bằng đơn vị tiền tệ, đo lường. Có người cho rằng hạnh phúc là “của giời” “giời cho ai nấy hưởng”… Có người cho rằng yếu tố con người mới là yếu tố chính, tự ta có thể hoạch định được cuộc sống của ta. Tùy theo đức tin, căn bản lý luận mà người ta nhận biết hạnh phúc là do trời hay do người. Nếu bảo do trời thì tại sao vị chúa tể muôn loài lại không công bình, cho người này hạnh phúc, bắt người kia bất hạnh. Nếu bảo do người thì tại sao có người sanh ra đã đầy đủ mọi yếu tố để hạnh phúc? Người sinh ra đã tràn đầy nỗi khổ? Nghiệp quả chăng? Luân hồi chăng? Mấy tín hữu của Ki Tô Giáo làm sao tin được chuyện nghiệp quả luân hồi? Ý Chúa chăng? Tín hữu Hindu, Phật Giáo… làm sao thuyết phục?

Thành ra ta chỉ bàn đến cái hạnh phúc mà con người có thể ảnh hưởng được. Thứ hạnh phúc nhân tạo, chính con người có thể tạo ra. Hạnh phúc này nằm vỏn vẹn trong mấy chuyện: Thân thể khỏe mạnh, gia đạo êm ấm, kinh tế sung mãn, xã hội xung quanh bình an, tự do sống trong khuân khổ đạo đức truyền thống xã hội và pháp luật, cảm nhận sự hiện diện của mình trong đời không thừa thãi…

Để có thân thể khỏe mạnh thì con người ta phải điều độ, năng luyện tập, bỏ bớt những thú vui độc hại như nhậu nhẹt, chích choác, trác tán, đâm chém… Cái giá hạnh phúc ở đây là làm việc khó (năng luyện tập, điều độ), bỏ việc dễ (nhậu…)

Để có gia đạo êm ấm, người ta phải biết nhẫn nhịn, có những lúc phải nuốt vào bụng những thứ rất khó nuốt, phải hi sinh để lo cho người thân, bỏ bớt ích kỷ của bản thân, tạo được mối giao hoà, tin tưởng giữa các thành viên trong gia đình. Cái giá của hạnh phúc nơi đây chính là sự nhẫn nhịn, kiềm chế và không ích kỷ.

Để có kinh tế sung mãn, ta có hai cách. Một là: Kiếm được thật nhiều tiền, đủ sức chi tiêu thoả mái. Hai là: Phải hạn chế số chi trong khuân khổ thu có hạn. Nếu ta muốn kiếm thật nhiều tiền, ta phải có tài, phải có thời, phải siêng năng. Muốn tiết kiệm, ta phải từ bỏ bớt những khoản chi tiêu không hợp lý. Ai cũng muốn có thể chi tiêu như mình muốn, nhưng liệu khả năng của mình có đáp ứng đủ số chi ấy chăng? Nếu công sức của mình bỏ ra, không đáp ứng nổi số nhu cầu mình thoả mãn, vô hình chung ta đã mang nợ. Chẳng món nợ nào dễ chịu cả. Nợ nào cũng phải trả, không chóng thì chầy! Cái giá của hạnh phúc là phép tính : Thu – Chi = ++ (còn là số dương).

Để xã hội xung quanh bình an, ta phải trả thuế đóng góp vào bộ máy bảo vệ an ninh của quốc gia, của thành phố. Phải sử dụng quyền công dân của mình để định hướng cộng đồng xung quanh. Muốn định hướng cộng đồng theo hướng tốt, phải có đóng góp phục vụ cộng đồng.

Để cảm nhận được sự hiện diện của mình trong đời là không thừa thãi, thì con người ta phải đầu tư thời gian để tạo cho mình khả năng, khả năng ấy có thể nuôi sống mình và còn chút nhiều thặng dư phụng sự cho xã hội. Có thể một phát minh khoa học, có thể là khúc bánh mình đỡ đói lòng… trong cái tương tác trùng trùng của xã hội xung quanh, ta không là kẻ ăn bám. Phải như vậy, ta mới thấy mình không thừa thãi. Không ăn hại cơm giời, uống hại nước sông. Không sống chật đất, chết chật nghĩa trang.

Còn bao nhiêu khía cạnh của hạnh phúc, ta có thể bàn mãi mãi, khi nào còn có loài người trên thế giới này, người ta còn bàn về hạnh phúc. Nhưng ta có thể cả quyết rằng hạnh phúc là một sản phẩm siêu vật chất được hình thành bởi nhiều yếu tố (từ vật chất đến tinh thần) và có cái giá nhất định của nó! Ai hỏi tại sao anh phải làm việc vất vả thế? Ta có thể trả lời: Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh tiết kiệm, sống đơn giản thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh/chị nhẫn nhịn, dịu dàng với vợ/chồng con cái thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh đối xử tử tế với tất cả mọi người xung quanh thế? Để mưu cầu hạnh phúc! Sao anh ngu thế? Để mưu cầu hạnh phúc, vì nhiều lúc dư khả năng khôn mà không dám khôn, dư thế lực thắng thế mà không dám thắng! Sao anh/chị sống khắc kỷ, không phóng túng theo trào lưu của xã hội? Mưu cầu hạnh phúc! Sao anh/chị chung thủy chung tình? Mưu cầu hạnh phúc !

Quảng Diệu, Trần bão Toàn

Anh chị Thụ Mai gởi

Hai tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật và Thái Văn Dung mãn án tù

Hai tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật và Thái Văn Dung mãn án tù

RFA

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

08272015-new-release-2-prison-of-concien.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Vào lúc 11 giờ trưa ngày 27 tháng 8 năm 2015, tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật được tự do tại UBND xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng sau 4 năm tù giam.

Vào lúc 11 giờ trưa ngày 27 tháng 8 năm 2015, tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật được tự do tại UBND xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng sau 4 năm tù giam.

Hai tù nhân lương tâm trẻ Trần Minh Nhật và Thái Văn Dung thuộc nhóm thanh niên Công giáo- Tin Lành bị kết án tù về tội ‘âm mưu lật đổ chính quyền’ theo điều 79 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam vừa mãn án tù.

Sau khi ra khỏi nhà giam họ chia sẽ lại một số điều trong thời gian bị bắt, bị tù tội và những suy nghĩ lúc này với biên tập viên Gia Minh, Đài Á Châu Tự Do trong phần sau.

Không nhận tội

Phiên tòa sơ thẩm xử nhóm hơn chục thanh niên Công giáo- Tin Lành diễn ra tại thành phố Vinh trong hai ngày 8 và 9 tháng giêng năm 2013. Họ bị buộc tội có hoạt động nhằm lật đổ chính quyền Hà Nội hiện nay và là đảng viên của Đảng Việt Tân trụ sở chính tại Hoa Kỳ.

Các phiên xử sơ thẩm hay phúc thẩm đều được nói là công khai, thế nhưng rất ít người thân của những thanh niên bị đưa ra xét xử được cho vào phòng xử án; bởi vậy đó thông tin về việc họ nhận tội ra sao cũng không được nhiều người tường tận.

Theo các cựu tù nhân sau khi ra khỏi nhà giam thì suốt thời gian từ khi bị bắt cho đến lúc đưa đi thụ án và trước ngày mãn án, họ đều bị áp lực phải ký giấy nhận tội; nhưng điều này không được đáp ứng như lời của anh Trần Minh Nhật sau khi về đến nhà từ trại Gia Trung vào trưa ngày 27 tháng 8 như sau:

“ Tôi không phạm tội gì cả mà tôi không phạm tội thì không ai có thể ép tôi ký nhận tội cả. Dĩ nhiên trước đó họ có đưa vào một bản cam kết không tái phạm tội; nhưng tôi đã xé bản cam kết không tái phạm tội vì tôi tự hỏi ‘tôi phạm tội gì’; thế nên những đơn đó không có giá trị với tôi”

Cựu tù nhân lương tâm Thái Văn Dung, người mãn án hôm ngày 19 tháng 8 vừa qua cũng nói về điều này:

“ Tất nhiên 3 tháng, 6 tháng, quí xét giảm ản họ đưa ra các bản cam kết để xét giảm án, nhưng tôi ghi trong đó không nhận tội. Tôi không công nhận điều 79 Bộ Luật Hình sự.”

Đấu tranh trong tù

Trong thời gian bị giam giữ, những cựu tù nhân chính trị như các anh Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung …đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho bản thân cũng như những tù nhân khác. Họ từng phải áp dụng biện pháp cuối cùng là tuyệt thực.

Anh Trần Minh Nhật cho biết đáp ứng của trại giam sau những lần tuyệt thực của các anh em tù chính trị như bản thân anh trong nhà tù:

“ Tôi thấy tại những trại giam tôi qua, họ có một số cơ chế trong đó áp bức những người tù, đặc biệt phân biệt đối xử một số đối tượng. Họ không tôn trọng và không bảo đảm những qui định đã cam kết. Chúng tôi không đòi hỏi gì nhiều mà chỉ đòi hỏi con người cần được tôn trọng và nhân quyền cần được bảo đảm. Thế nhưng họ đã phớt lờ. Chúng tôi làm đúng thủ tục đến cùng rồi mới phải dùng đến hình thức tuyệt thực. Thật đáng tiếc khi người ta không cư xử với nhau bằng trái tim thì họ có những cách hành xử không đúng mực. Đó là điều tôi rất tiếc về những người thi hành pháp luật. Còn dĩ nhiên sau khi tuyệt thực có những thứ cải thiện mang tính hình thức. Tôi nói hình thức vì ví dụ như Trại Phú Sơn 4, Thái Nguyên, gọi là ‘thay đổi’ nhưng chỉ là hình thức mang tính chiếu lệ thôi!”

Tù nhân lương tâm Thái Văn Dung, một trong 14 Thanh Niên Công giáo và Tin lành, vừa mãn hạn tù 4 năm

Tù nhân lương tâm Thái Văn Dung, một trong 14 Thanh Niên Công giáo và Tin lành, vừa mãn hạn tù 4 năm

Thái Văn Dũng cũng kể lại việc thực hiện biện pháp tuyệt thực và kết quả của những lần đó:

“ Lần tuyệt thực nhiều nhất là vào ngày 1 tháng 1 năm 2015, tức kỷ niệm 1 năm Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra đời, mà quyền tự do tín ngưỡng họ không thực thi cho mình. Hiến pháp chỉ có trên giấy tờ chứ không có tính thực tiễn, áp dụng vào đời sống của mọi người. Lúc đó tôi tuyệt thực 12 ngày đòi hỏi quyền lợi về sách tôn giáo, họ vẫn không cho mình đọc.

Vào tháng 12 năm 2014, họ chuyển từ K5 Trại giam Thanh Hóa, tức là thời điểm trại Thanh Cẩm chuyển về K 3 Thanh Hóa thì trong buồng có TV và quạt điện, còn sách tôn giáo họ vẫn không cho mình đọc.”

Tiếp tục con đường đã chọn

Cựu tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật trong ngày đầu ra khỏi trại giam có những chia xẻ như sau:

“ Có một điều phải nói rằng có một điều mà tôi sẽ không bao giờ đánh đổi những gì mà tôi đã trải qua vì đó là một bài học vô giá. Bài học để tôi có thể nhìn nhận về con người, trong đó tôi nhận thấy rằng một xã hội không đặt nền tảng trên sự bình đẳng, không đặt nền tảng trên công lý và yêu thương giữa con người với nhau thì đừng nói gì đến văn minh hay tiến bộ cả. Tôi nghĩ rằng tôi cần phải trả món nợ đó. Món nợ đối với gia đình của tôi, những người yêu thương tôi, món nợ đối với tổ quốc nơi tôi dã sinh ra trong tư cách một công dân- nơi mà người dân của tôi dường như đang bị những áp bức không cần thiết; và món nợ với niềm tin mà tôi đã sống, và nhờ đó mà tôi vượt qua được những năm tháng tù đày. Tôi nghĩ rằng tôi luôn sống trong tư cách của một người công dân, và với tôi là người có niềm tin, tôi sẽ sống như tôi cần phải sống; tôi thấy rằng tôi sẽ luôn tôn trọng tất cả mọi người như tuân thủ pháp luật, nhưng tôi là một con người tự do nên tôi sẽ hành xử như một con người tự do.”

Thái Văn Dung cũng cho biết hướng công việc hiện nay của bản thân:

“ Mình công khai hoạt động nên bây giờ mình hoạt động một số vấn đề về các tổ chức xã hội dân sự, đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng mà con người chúng ta cần được hưởng.

Tất nhiên sẽ có một số vấn đề, sắp đến họ sẽ tìm cách trù dập mình, họ làm một số vấn đề cho mình nhụt chí. Đối với những vấn đề đó tôi đã chuẩn bi tâm lý sẵn sàng rồi, cần thiết cũng có thể đi vào tù lần thứ hai.”

Xin được nhắc lại anh Phao lô Trần Minh Nhật bị bắt tại Sài Gòn vào ngày 27 tháng 8 năm 2011 và bị kết án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế. Tuy nhiên theo anh này thì tại phiên phúc thẩm, tại tòa Hội đồng xử án chỉ tuyên bố anh bị 4 năm tù giam mà không nói gì đến quản chế, thế nhưng trong văn bản lại có. Anh tỏ ra thắc mắc về cách làm việc này của tòa Việt Nam.

Giaon Thái Văn Dung bị bắt vào ngày 19 tháng 8 năm 2011 tại Hà Nội. Anh bị kết án 4 năm tù giam và 4 năm quản chế.

Trong nhóm những thanh niên Công giáo- Tin Lành bị đưa ra xét xử ở Vinh có 2 người chịu mức án cao nhất 13 năm tù cho mỗi người là Hồ Đức Hòa và Đặng Xuân Diệu.

Nhóm này còn có Nguyễn Đặng Minh Mẫn hiện thụ án 8 năm tù tại Trại giam Yên Định, Thanh Hóa. Đây cũng là nơi giam giữ cô Tạ Phong Tần, bị tuyên án 10 năm tù với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’.

Việt Nam nếu đa đảng sẽ đổ máu?

Việt Nam nếu đa đảng sẽ đổ máu?

Lê Diễn Đức

RFA

Khi nói đến tiến trình tiến tới dân chủ hoá của Việt Nam, mặc dù còn mờ mịt, xa vời, có ý kiến cho rằng, xã hội Việt Nam nếu có đa đảng sẽ đổ máu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) luôn tuyên truyền rằng, khi họ là lực lượng duy nhất giữ độc quyền cai trị thì xã hội ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế. Điều này đánh trúng vào tâm lý của dân chúng vốn sợ chiến tranh, xung đột sau một cuộc chiến đã quá dài và tổn thất sinh mạng và vật chất quá lớn.

Cách nguỵ biện trên rõ ràng là bóp méo hoặc thiếu hiểu biết về khái niệm dân chủ.

Dân chủ về bản chất không chỉ là một mô hình nhà nước, cũng không hoàn toàn giống như người ta viết trong các bản hiến pháp.

Dân chủ là quan điểm sống, dựa trên lòng tin vào con người, vào nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo. Dân chủ là một cuộc thảo luận. Nhưng cuộc thảo luận chỉ thực sự có ý nghĩa nơi mà con người tin cậy lẫn nhau và tìm kiếm sự thật một cách lương thiện. Dân chủ có nghĩa là cuộc nói chuyện giữa những người bình đẳng, sự suy nghĩ của những công dân tự do trước con mắt quan sát của toàn xã hội.

Wiston Churchil, cựu Thủ tướng Anh, đã có lần nói đùa nhưng rất chính xác rằng, “Dân chủ là mô hình nhà nước tệ nhất, ngoại trừ tất cả các mô hình nhà nước được biết cho đến nay”.

Có nghĩa rằng, Dân chủ không phải là phuơng thức hoàn hảo, nhưng là tốt nhất, phục vụ cho nhân loại trong lịch sử.

Chính trị Dân chủ gìn giữ hài hoà giữa sự thống nhất và đa dạng, cũng như sự xung khắc, dựa trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Chính trị dân chủ không phân chia bạn-thù. Vinh quang của nó không phải là chiến tranh, và mục tiêu của nó không phải là tiêu diệt kẻ thù. Trong xã hội dân chủ có ba nhóm người: ủng hộ/dao động/đối thủ. Mục tiêu của Dân chủ là kéo về phía mình những người dao động để nhận được đa số.

Chính trị Dân chủ không phải là vấn đề sống và chết. Dân chủ không cho phép sử dụng các phương tiện chiến đấu, xung đột vũ trang, giết chết đối thủ. Dân chủ tìm cách thuyết phục các chương trình của mình để tìm kiếm sự ủng hộ mới nhằm đạt được đa số, mà nhờ đó sẽ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Dân chủ là một hệ thống chính trị duy trì và phục hồi sự đồng thuận của xã hội và đồng thời giữ gìn, điều chỉnh sự khác biệt và tranh cãi miễn là nó nằm trong khuôn khổ pháp luật. Dân chủ tìm kiếm điểm cân bằng giữa hai xu hướng tương phản, một trong số đó là sự thống nhất, và hướng kia – những khác biệt và mâu thuẫn. Một điểm cân bằng – tức là một sự thỏa hiệp, nhượng bộ, tuy nhiên không loại trừ việc giữ lập trường của mình và thuyết phục các khuynh hướng khác chấp nhận. Trong ý nghĩa này – thỏa hiệp là linh hồn của nền dân chủ.

Từ ngày ra đời đến khi cướp được chính quyền, rồi cưỡng chế miền Nam, giữ vai trò thống trị duy nhất trên đất nước Việt Nam, ĐCSVN luôn luôn chủ trương đàn áp, thủ tiêu mọi lực lượng chính trị khác quan điểm với mình. Một chế độ công an trị được thiết lập. Các nhà bất đồng chính kiến bị tù đày, cô lập. Báo chí truyền thông trở thành công cụ tuyên truyền phục vụ cho mục đích cầm quyền. Sự thống nhất của dân chúng mà như ĐCSVN nói, ví dụ như đi theo đảng và tin chọn đảng làm lãnh đạo, đều là sự áp đặt. Bởi vì cấu trúc nhà nước được hình thành qua sự sắp đặt của các đại hội đảng, chứ không qua bầu cử tự do.

Trong một tư duy dùng bạo lực để tiêu diệt đối thủ/kẻ thù ấy, nói rằng, nếu có đa đảng, ở Việt Nam sẽ đổ máu không có gì là lạ.

Vào năm 1989, khi người dân Ba Lan tập trung trong Công đoàn Đoàn Kết, biểu tình, bãi công dồn dập, làm tê liệt đời sống đất nước, có nghĩa rằng, Đảng Cộng Sản Ba Lan đã nhận thấy một tín hiệu khác. Sự đàn áp cao độ của nhà cầm quyền trong giai đoạn ban hành tình trạng thiết quân luật 1981-1983 với gần 10 ngàn người đối lập dân chủ bị bắt giam và xét xử, đã không mang lại kết quả nào, ngược lại, càng đổ thêm dầu vào ngọn lửa của cao trào cách mạng.

Đảng Cộng Sản Ba Lan, lúc bấy giờ, chấp nhận ngồi vào bàn tròn đàm phán với lực lượng đối lập và kết quả là chấp nhận sự hoạt động của các tổ chức xã hội và tiến hành bầu cử tự do (hạn chế) vào ngày 3 tháng 6 năm 1989. Thắng lợi toàn diện của phe đối lập trong cuộc bầu cử này, đã dẫn đến những thắng lợi tiếp theo trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1990 và bầu cử quốc hội toàn phần năm 1991.

Cuộc chuyển hoá từ chế độ độc tài qua dân chủ đã diễn ra êm ả, hoà bình và không đổ giọt máu nào. Tất cả ai vào sân chơi dân chủ đều tôn trọng một nguyên tắc khắt khe, bất di bất dịch của nó là không triệt hạ nhau bằng bạo lực. Chỉ lá phiếu của người dân là vũ khí duy nhất để loại bỏ nhau trong cuộc tranh đua quyền lực.

Các cuộc chạy đua vào Nhà Trắng ở Mỹ cũng làm nổi bật sự khác biệt giữa hai khuynh hướng Cộng hoà cvà Dân chủ. Trong mỗi kỳ bầu cử, nước Mỹ gần như bị chia thành hai phần tương đương màu xanh (Dân Chủ) và đỏ (Cộng hoà). Người đắc cử Tổng thống thường cũng chỉ nhích hơn người thua cuộc 1-3% số phiếu, điều này cho thấy cuộc tranh đua hết sức quyết liệt.

Cộng đồng người Việt ở Mỹ như người ta nhận xét khá phức tạp và chia rẽ. Trong các kỳ bầu cử địa phương, người ta sôi nổi công kích nhau trên các phương tiện truyền thông, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là sự lựa chọn của dân chúng. Không có bất kỳ mâu thuẫn nào dẫn đến xung đột bạo lực.

Dân chủ là phải biết thất bại, biết nhìn nhận nó một cách sòng phẳng, nhưng có trách nhiệm. Vì thế, người thua trong cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ luôn gọi điện chúc mừng người chiến thắng.

Rất tiếc, Việt Nam hiện nay chưa có một lục lượng đối lập có tổ chức đủ mạnh để buộc ĐCSVN phải ngồi vào bàn thương lượng. Nhưng những người bất mãn với chế độ và có ý thức phản kháng không ít. Các tổ chức dân sự đang nhen nhóm hoạt động là hạt nhân cần thiết cho sự phát triển xã hội dân chủ tương lai.

Một khi tạo được áp lực mạnh mẽ của quần chúng, nhà cầm quyền ắt sẽ thay đổi. Và nếu ĐCSVN can đảm nhận rằng, sân chơi dân chủ là nơi bình đẳng nhất cho cuộc tranh đua, thì chắc chắn chẳng thể nào có đổ máu.

Mặc dù xã hội Việt Nam tồn tại những bất đồng sâu sắc do chính sách của ĐCSVN gây ra, nhưng thiết nghĩ, khi đã chấp nhận dân chủ, đồng ý với luật chơi, tất cả các tổ chức khác sẽ bình đẳng với ĐCSVN trong việc tranh giành lá phiếu của người dân.

Như vậy, đổ máu hay không chẳng phụ thuộc vào việc xã hội Việt Nam có đa đảng mà hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ hành xử của ĐCSVN.

© Lê Diễn Đức – RFA