VẤN ĐỀ CẦU NGUYỆN

VẤN ĐỀ CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là điều rất cần, vì đó là phương thế giúp chúng ta không bị sa chước cám dỗ (Mc 14:38; Lc 22:40; Lc 22:46).  Cầu nguyện còn làm cho chúng ta được “nâng cao.” Nhà vật lý kiêm toán học André-Marie Ampère (1775-1836) nói: “Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện.”  Nhà vật lý kiêm toán học Blaise Pascal (1623-1662) nói: “Con người vĩ đại khi họ cầu nguyện.” Họ là phàm nhân mà còn nói được như vậy đấy!

Image result for image of prayer

Các môn đệ không biết cầu nguyện thế nào cho đúng, thế nên họ xin Sư Phụ Giêsu dạy cách cầu nguyện, Ngài bảo “đừng lải nhải” (Mt 6:7), và Ngài dạy cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha (Mt 6:9-13). Nhưng Ngài “láy” thêm câu này:“Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em.  Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mt 6:14-15).

Ai cũng phạm tội nên ai cũng cần được tha thứ.  Nhưng chúng ta được tha thứ ít hay nhiều là tùy vào mức độ chúng ta tha thứ cho tha nhân.  Đó là “thước đo” chuẩn nhất mà Chúa Giêsu đưa ra.

Thiết nghĩ, thật sai lầm trong cách cầu nguyện khi chúng ta “xin như ý.”  Trong các Thánh Lễ, chúng ta thường thấy linh mục cũng “vô tư” mời gọi mọi người hợp ý cầu nguyện “xin như ý.”  Trong các buổi cầu nguyện (của các hội đoàn, giáo xứ, dòng tu,…) cũng vậy, vẫn thấy nhiều người “xin như ý.”

Có lẽ “quá quen” nên chúng ta coi là bình thường.  Thật ra, “xin như ý” là… nguy hiểm.  Ý chúng ta luôn ích kỷ, muốn gì phải được, thậm chí là phải được ngay lập tức, đồng thời còn những ý xấu đối với người khác, như có người nói: “Chúa nhân từ quá, sao Chúa không cho họ bị nạn nhãn tiền cho họ sáng mắt ra nhỉ?”  Ôi chao, nghe chừng “tốt lành” lắm, thế nhưng lại ngược Ý Chúa, vì Chúa Giêsu bảo: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:28). Nếu Chúa “hỉ xả” mà chấp nhận lời “xin như ý” của chúng ta thì có phải là rất nguy hiểm không? Thậm chí chúng ta còn lỗi đức ái nữa đấy!

Vả lại, chính Chúa Giêsu không hề cầu xin được như ý, dù Ngài cảm thấy “rợn tóc gáy” khi nghĩ đến những gì sắp xảy đến cho Ngài, nhưng Ngài vẫu cầu nguyện chân thành: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Chúa Cha im lặng. Chúa Giêsu nhân biết Ý Cha và bằng lòng: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng Ý Cha” (Mt 26:42).  Và chúng ta cũng nhớ lại lời “xin vâng” của Đức Maria (Lc 1:38).  Đức Mẹ “ngại” lắm, nhưng không muốn “như ý” mình mà chỉ muốn Ý Chúa nên trọn.

Với đức vua chỉ là phàm nhân, thế mà Hoàng hậu Ét-te cũng không hề “xin như ý”, dù đức vua hứa với bà: “Khanh thỉnh cầu gì, ta sẽ ban cho; khanh có muốn xin gì nữa thì cũng sẽ được” (Es 9:12).  Nhưng bà vẫn khiêm nhường thưa: “Nếu đẹp lòng đức vua, xin ban phép cho người Do Thái ở Su-san ngày mai cũng được hành động như sắc chỉ đã cho phép hành động ngày hôm nay; còn mười đứa con của Ha-man thì xin treo cổ chúng lên giá” (Es 9:13).  Và rồi đức vua đã cho bà toại nguyện.

Chúa biết rõ chúng ta hơn chúng ta tự biết chúng ta.  Ngài biết điều gì tốt nhất cho chúng ta thì Ngài ban.  Ngài là Đấng chí thánh, chí minh, chí thiện, Ngài chỉ ban cho chúng ta điều tốt lành nhất.  Cha mẹ là những người đầy sai lầm và có thể có ác ý, thế mà họ còn lo cho con cái mọi điều tốt nhất kia mà.

Còn nữa, chúng ta cũng thường nói rằng chúng ta xin mà chưa được vì “Thiên Chúa thử thách chúng ta.”  Có lẽ “không ổn” đâu! Tác giả Thánh Vịnh nói: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi.  Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.  Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.  Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con” (Tv 139:1-5).  Chúng ta không đủ trình độ nên không thể biết tâm địa của nhau, vì thế chúng ta mới phải “thử thách” nhau để biết đâu là vàng hay thau.  Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Ngài biết rõ chúng ta thế nào từ ngàn xưa, vậy thì Ngài cần gì thử thách?  Có chăng là Ngài muốn tạo “công trạng” cho chúng ta đó thôi.

Gương điển hình mà người Công giáo nào cũng “rành sáu câu” là Thánh nữ Monica.  Bà kiên trì cầu xin Chúa cho con trai là Augustinô quay về đường ngay nẻo chính.  Chúa không cho ngay, không phải là Ngài thích “đùa dai” hoặc muốn “trêu ngươi”, mà Ngài muốn cho người mẹ lập công phúc, và để người con thấy mẹ đau khổ mà “sáng mắt”, rồi phải quay về chính lộ.  Trạng thái đó giống như “triệt buộc”, nhưng chính “thế bí” đó mới khiến con người chúng ta hết “mù tâm linh.”

Ý Chúa nhiệm mầu, chúng ta không thể hiểu thấu.  Điều mà chúng ta cho là “bất hạnh”, là xui xẻo, vì không “như ý” của chúng ta, nhưng chính điều đó lại có lợi cho chúng ta.  Thiên Chúa đã nói qua miệng ngôn sứ Isaia: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9).  Vả lại, “như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình Chúa thương kẻ tôn thờ Người cũng trổi cao” (Tv 103:11).

Thật tuyệt vời với câu nói của Giáo hoàng tiên khởi Phêrô: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68).  Lời của tông đồ Phêrô có vẻ như “miễn cưỡng”, nhưng đó là sự “miễn cưỡng” thật thú vị!

Cầu nguyện là “sức mạnh” của con người và là “sự yếu đuối” của Thiên Chúa.  Ngài chấp nhận như vậy và cho phép như vậy, vì Ngài quá đỗi yêu thương chúng ta.  Chúa Giêsu đã nói:“Ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7:8; Lc 10:11). Và Ngài hứa chắc: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, Thầy sẽ làm” (Ga 14:13).

Lạy Thiên Chúa, xin dạy bảo chúng con về đường lối của Ngài (Tv 25:4), xin chấn chỉnh nếp nghĩ của chúng con để chúng con luôn vui mừng khi tuân phục Thánh Ý Ngài.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

Con đường đổi mới, cải cách đi vào ngõ cụt?!

Con đường đổi mới, cải cách đi vào ngõ cụt?!

Viet-studies

Đặng Kiên Trung

Báo Tuổi Trẻ ngày 29/8 có bài viết ngắn “Không đổi mới, VN sẽ tụt hậu” của Mai Công Thành, ghi ý kiến Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Bùi Quang Vinh phát biểu trong cuộc hội thảo khoa học ngày 28/8 về cải cách thể chế kinh tế VN để hội nhập và phát triển: “Đã đến lúc VN phải đổi mới mạnh mẽ về thể chế kinh tế… để đất nước phát triển tốt hơn, nhanh hơn…”. Trước đó, ngày 12/8 Phó thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu trong cuộc gặp 40 nhà doanh nghiệp tiêu biểu: “Cần đặt câu hỏi tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo. Bây giờ phải làm gì?” và nhấn mạnh: “Nhất định phải đổi mới mạnh mẽ hơn…” (Vietnamnet ngày 29/8).

Những từ ngữ “đổi mới”, “cải cách”… các vị lãnh đạo lớn nhỏ ở trung ương phát biểu trên các diễn đàn người dân nghe đến phát chán nhưng chẳng thấy đâu! Con đường đổi mới, cải cách hầu như đi vào ngõ cụt, nền kinh tế đất nước vẫn  lụn bại, hàng triệu người dân vẫn nghèo đói, văn hóa – xã hội vẫn suy đồi, tội ác vẫn lộng hành, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Đảng vẽ ra vẫn chỉ là giấc mơ; niềm tin người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng không chỉ giãm sút, mà tích tụ thành mâu thuẫn ngày càng gay gắt, tiếng kêu than, nguyền rũa và những hành động chống đối bằng bạo lực của người dân đối với chính quyền diển ra đó đây chưa từng thấy!

Với thể chế chính trị và đường lối kinh tế của Đảng hiện nay như đi trong đường hầm không lối thoát, trong nước nhìn đâu cũng thấy rối ren, trong khi Trung Quốc vẫn hung hăng xâm lấn biển đảo … ! Người dân theo dõi nhất cử nhất động của các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng trông đợi một sự thay đổi, bàn ra tán vào với tâm trạng vui buồn, hoài nghi, hy vọng! Như chuyến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ, người dân đón nhận những gì diển ra như làn gió mát thổi vào lòng đang bức bối trước vận nước, mong chờ ở ông một sự thay đổi, nhưng khi về nước nghe các ý kiến phát biểu của ông thì vẫn là Nguyễn Phú Trọng thuở nào! Hay với Thủ tướng Nguyễn Tán Dũng, khi nghe thông điệp đầu năm 2014 và ý kiến phát biểu đối với Quân đội, Công an trung thành với Tổ quốc trước trung thành với Đảng… người dân lóe lên niềm hy vọng một sự chuyển biến mới nào đó, nhưng khi thấy quan điểm và cách hành xử những vấn đề chính trị hệ trọng trong nước, hay thái độ đối với Mỹ và Trung  Quốc ông thay đổi như màu da tắc kè không biết đâu mà lần, người dân lại thất vọng!

Hiện tình Đất nước thúc bách “Đã đến lúc VN phải đổi mới mạnh mẽ về thể chế kinh tế…” như ý kiến Bộ trưởng Bùi Quang Vinh. Nhưng về đổi mới chính trị thì sao? Tôi cảm thấy các vị lãnh đạo cấp cao trung ương dường như né tránh vấn đề “nhạy cảm” nầy và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng gần như không nghe thấy đề cập có đầu có đũa! Thực tiễn chứng minh cho dù đổi mới thể chế kinh tế với việc tái cấu trúc nền kinh tế và đề ra một số chính sách mới về kinh tế, có thể có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng chừng mực nào đó, nhưng rồi gặp đủ thứ rào cản, vướng mắc trong thể chế chính trị không vượt qua được, nền kinh tế cũng không phát triển suôn sẻ, bền vững! Bài học đổi mới kinh tế từ Đại hội VI năm 1986 của Đảng còn đó, khi ấy có ý kiến đề xuất với Đảng cần đổi mới chính trị song song với đổi mới kinh tế, nếu không như người què đi một chân làm sao đi nhanh và bền vững?

Những tháng ngày nầy trong dịp kỷ niệm 70 năm Quốc khánh và Đại hội XII của Đảng đến gần, tôi đọc một số bài viết của các vị nhân sĩ, trí thức và các bậc lảo thành đầy tâm huyết đăng trên các trang mạng, cảnh báo thực trạng và tương lai u ám của đất nước, chỉ ra con đường đổi thay…! Tôi chú ý bài viết có tên Có lẽ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục của bà Song Chi. Những gì trong bài viết mô tả nhìn từ góc cạnh nào đó chẳng sai, tôi đọc có cảm giác như kim chích vào lòng, muốn thưa với  tác giả đôi điều: Là người trọn đời gắn bó với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất Đất nước, không phải bây giờ, mà nỗi “đau”, nỗi “nhục” của tôi từ khi “non sông liền một dãy” sau năm 1975, khi chứng kiến cảnh đất nước tan thương, lòng dân ly tán, cả triệu người ùn ùn bỏ nước ra đi… do những người nắm quyền sinh sát trong chế độ mới gây ra. Đến nay, nỗi “đau”, nỗi “nhục” của tôi đã lên đỉnh điểm, vì những lý do tôi chưa có thể nói, mà phải cam nén chặt vào lòng, nhưng tôi không vô cảm đối với Đất nước, mà hành xử mối quan hệ đối với Đất nước theo lương tâm của mình mách bảo… Những bạn bè, đồng chí cũ nhiều người cũng như tôi; với cán bộ, đảng viên đương chức cấp thấp hay đông đảo người dân bình thường, họ không phải không biết những gì diễn ra trên Đất nước nầy, nhưng vì chén cơm manh áo họ chịu thúc thủ! Còn với những người cầm quyền cấp cao trung ương, bà nói họ “chưa thấy đủ đau, đủ nhục” ư? Theo tôi, họ quá thấy đi chứ, nhưng vì quyền và lợi họ đang thụ hưởng sợ mất đi nên chấp nhận, không muốn bất kỳ đổi thay nào làm xáo trộn cuộc sống của họ; Tất nhiên không phải không có những người “mũ ni che tai”, chẳng biết “đau”, biết “nhục”, mà còn hãnh tiến trên nỗi “đau”, nỗi “nhục” của đồng loại!

Kết thúc bài viết, tác giả Song Chi mong “… bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động?” như “Những người dân ở các nước XHCN Đông Âu cũ cho tới các nước Bắc Phi đã phải xuống đường thay đổi chế độ…”. Tôi thấy khả năng đó xa vời lắm bà Song Chi ơi, họa hoằng Việt Nam có một Góc-ba-chốp thì có lẽ…, nhưng hy vọng đó cũng mong manh không kém! Cầu trời điều tôi nói sai lầm!

Tháng Tám – Mùa Thu 2015

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 31-8-15

70 năm sau Cách mạng tháng Tám

70 năm sau Cách mạng tháng Tám

Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của Pháp tại Điện Biên Phủ

Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của Pháp tại Điện Biên Phủ

Nguyễn Hưng Quốc

Đầu tháng 9 này, chắc chắn giới lãnh đạo và giới truyền thông Việt Nam sẽ làm ầm ĩ về những thành tựu họ đã đạt được trong suốt 70 năm kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này, chúng ta cũng nên nhìn lại vấn đề công và tội của đảng Cộng sản đối với đất nước.

Công lớn nhất và đáng kể nhất của đảng Cộng sản là cuộc kháng chiến chống Pháp, kéo dài 9 năm, kết thúc với trận đánh oanh liệt tại Điện Biên Phủ vào năm 1954, chấm dứt ách đô hộ kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp. Dĩ nhiên, người ta có thể cho đó là thành tích của cả dân tộc chứ không hẳn của riêng đảng Cộng sản. Người ta cũng có thể phản biện lại: ngay trong điều gọi là công trạng này đã có mầm mống của tội ác qua việc đảng Cộng sản loại trừ những người yêu nước không phải cộng sản hoặc chống lại cộng sản. Tuy vậy, nhìn chung, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản trong việc mang lại độc lập cho Việt Nam.

Điều đáng tiếc là công trạng vừa nêu cũng là công trạng duy nhất mà đảng Cộng sản đã mang lại cho đất nước. Kể từ trận Điện Biên Phủ trở đi, với tư cách đảng cầm quyền độc tôn ở miền Bắc, và sau đó, kể từ năm 1975, trong cả nước, đảng Cộng sản vấp phải hết sai lầm này đến sai lầm khác, sai lầm nào cũng đẫm máu, và vì tính chất đẫm máu ấy, sai lầm biến thành tội ác.

Trước hết, đảng Cộng sản hoàn toàn sai lầm trong việc gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm ở miền Nam. Đã đành mục tiêu khá chính đáng: thống nhất đất nước. Nhưng, như lịch sử gần đây chứng minh, để thống nhất đất nước, người ta không nhất thiết phải chọn biện pháp chiến tranh. Đông Đức và Tây Đức, sau mấy chục năm phân hoá, đã được thống nhất một cách hoà bình. Nam Hàn và Bắc Hàn không may mắn như vậy, cho đến nay, vẫn còn chia cắt, nhưng sự chia cắt ấy cũng không phải là một bất hạnh bởi vì ít nhất một nửa nước, Nam Hàn, cũng được sống một cách sung sướng và đầy tự hào với nền kinh tế phát triển vượt bực. Đảng Cộng sản Việt Nam, do thiếu kiên nhẫn và phần nào, cũng do hiếu chiến, đã chọn biện pháp bạo lực để thống nhất đất nước, dẫn đến hậu quả là một cuộc chiến tranh kéo dài với khoảng ba triệu người, ở cả hai miền, bị giết chết một cách thảm khốc và những chấn thương trong tâm lý, cho đến bây giờ, bốn mươi năm sau, vẫn còn khiến nhiều người nhức nhối.

Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, đảng Cộng sản lại vấp phải một sai lầm nghiêm trọng khác: Thay vì hoà hợp và hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù, hàn gắn các vết thương do cuộc chiến tranh kéo dài mang lại để mọi người an tâm xây dựng lại đất nước, họ lại lập ra các trại cải tạo để giam nhốt và hành hạ những người thuộc phe thua cuộc, hơn nữa, còn có những chính sách kỳ thị nặng nề đối với dân chúng miền Nam, khiến cho đến nay, bốn mười năm sau, các vết thương chia rẽ vẫn còn sâu hoắm.

Có thể kể thêm vô số các sai lầm khác của đảng Cộng sản, trong đó, nổi bật nhất là các chính sách cải cách ruộng đất làm cả chục ngàn người bị chết, các chính sách chống xét lại đẩy hàng ngàn người vào cảnh tù đày, các chính sách đánh tư sản mại bản và ép dân đi kinh tế mới khiến hàng chục ngàn người lâm vào cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, hai sai lầm và cũng là tội ác lớn nhất của đảng Cộng sản là: Một, làm nền kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ và hai, làm băng hoại nền văn hoá truyền thống của Việt Nam.

Trước hết, về kinh tế, hầu như ai cũng biết, vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, kinh tế Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, khá cao so với các quốc gia trong khu vực. Dạo ấy, Sài Gòn vẫn được xem là “hòn ngọc Viễn Đông”, niềm mơ ước của nhiều quốc gia khác. Vài năm sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Hiện nay, tình trạng khá hơn một chút, nhưng Việt Nam vẫn chỉ thuộc quốc gia có thu nhập vào loại trung bình thấp.

Mới đây, trong cuộc hội thảo về kinh tế do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam tổ chức vào ngày 28 tháng 8, các chuyên gia đều thừa nhận Việt Nam thua kém hẳn các quốc gia khác ở Châu Á. Với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng 2000 Mỹ kim hiện nay, Việt Nam chỉ bằng Philippines năm 2010, Indonesia năm 2008, Thái Lan năm 1993, Malaysia năm 1988 và Hàn Quốc năm 1982. Nói cách khác, “GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn Quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.” Người ta cũng tiên đoán nếu mức phát triển kinh tế hiện nay không được cải thiện, khoảng cách nêu trên sẽ càng ngày càng lớn. Hơn nữa, Việt Nam còn có nguy cơ bị Campuchia và Lào qua mặt.

Chuyện kinh tế và phát triển rất dễ thấy, tuy nhiên, theo tôi, lầm lẫn – đúng hơn, tội ác – nghiêm trọng nhất của đảng Cộng sản là phá hoại văn hoá Việt Nam, một yếu tố trừu tượng và mơ hồ, khó nhận biết, nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách sống cũng như quan hệ giữa người với người. Các cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 làm phá nát quan hệ hàng xóm vốn là một nét đẹp trong văn hoá truyền thống của dân tộc. Các cuộc phê bình và tự phê bình làm cho không ai còn tin ai được nữa. Các nỗ lực phá hoại sự hình thành của xã hội dân sự làm cho con người càng ngày càng trở thành vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Các hành động trấn áp những người yêu nước, đặc biệt trong các phong trào chống Trung Quốc, khiến mọi người đâm ra dửng dưng trước số phận của đất nước. Hậu quả của tất cả của những điều vừa kể là con người càng ngày càng trở nên ích kỷ, và hậu quả của sự ích kỷ này là con người càng ngày càng độc ác hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các tội ác trong xã hội càng lúc càng trở thành phổ biến.

Những sự tụt hậu về kinh tế có thể được khắc phục nếu không phải trong vài năm thì cũng vài chục năm, nhưng những sự đổ vỡ trong văn hoá và đặc biệt trong đạo đức và quan hệ giữa người với người thì rất khó hàn gắn và để lại rất nhiều di hại, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế cũng như tiến trình dân chủ hoá của đất nước. Hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng cả đến những nỗ lực chống lại các âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Đó mới chính là điều đáng lo sợ nhất.

Đài Loan: TQ sắp tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông

Đài Loan: TQ sắp tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông

Chiến đấu cơ SU-27 của Trung Quốc bay ngang khu vực Biển Đông.

Chiến đấu cơ SU-27 của Trung Quốc bay ngang khu vực Biển Đông.

Các công trình lấp biển xây đảo của Trung Quốc ở Biển Đông đã thay đổi hoàn toàn cấu trúc chiến lược trong khu vực, và theo hãng tin CNA của nhà nước Đài Loan hôm nay, giờ đây, Trung Quốc sẽ đẩy nhanh tiến trình quân sự hoá và sẽ tuyên bố một khu nhận dạng phòng không trong khu vực.

Trong một phúc trình nộp cho viện lập pháp về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Đài Loan nói vào tháng 9/2013, Trung Quốc đã khởi sự đổ cát lên Đá Gạc Ma, một trong hơn 50 bãi cạn và đá ngầm trong Biển Đông. Trung Quốc sau đó tiến hành lấn biển xây đảo tại 6 bãi đá khác và đang xây một bến cảng, nhiều phi đạo và các cơ sở hạ tầng khác.

Phúc trình này nói rằng nay Trung Quốc đang đẩy nhanh tiến trình quân sự hoá các đảo mới để sử dụng như những tiền đồn trong Biển Đông.

Ngoài việc tuyên bố chủ quyền và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại đây, Trung Quốc sẽ tuyên bố một khu nhận dạng phòng không trong khu vực.

Một bản tin của công ty truyền thông Fairfax Media của Úc hôm nay trích các nguồn tin quân sự cấp cao của Australia, nhận định rằng Trung Quốc đã thắng vòng đầu tiên trong cuộc tranh chấp để giành quyền kiểm soát Biển Đông khi hoàn tất việc xây dựng một quần đảo gồm các đảo mới do họ tạo ra.

Bản tin nói thêm rằng không có vật chướng ngại nào đáng kể thực sự cản trở Trung Quốc tiếp tục thắng vòng tranh chấp kế tiếp, trước sự do dự của chính phủ Mỹ và các đồng minh, trong đó có cả Australia, sẽ thực hiện những lời hứa đưa ra trước đó là sẽ thách thức những tuyên bố bất hợp pháp của Trung Quốc bằng các cuộc diễn tập để bảo vệ “quyền tự do hàng hải”.

Theo Fairfax Media, các nhà phân tích quân sự dự kiến là tới năm 2017, Trung Quốc sẽ trang bị các đảo tân tạo với những bến cảng, các căn cứ quân sự, pháo binh, đường băng và các hệ thống radar tầm xa. Những phương tiện này sẽ cho phép Trung Quốc phóng ra xa sức mạnh quân sự và phi quân sự tới những vùng biển xa xôi nhất, nơi có tranh chấp gay gắt nhất trong Biển Đông.

Những phương tiện đó cũng sẽ giúp Bắc Kinh cản trở các nước tuyên bố chủ quyền khác tại các vùng biển này, và gây gián đoạn các tuyến hàng hải hiện là nơi qua lại của 3/5 thương mại quốc tế.

Công ty Truyền thông Fairfax Media dẫn lời một nguồn tin chính thức nói rằng: “Trung Quốc đã thắng vòng đầu. Hiện rất khó có thể thấy được là họ sẽ bị cản lại, để không thắng vòng kế tiếp”.

Hồi tháng 5, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đòi ngưng tất cả mọi hành động cải tạo đất, và đề ra kế hoạch cho máy bay quân sự và tàu bè đi ngang qua vùng biển tranh chấp trong phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo. Những cam kết này đã được Bộ trưởng Quốc phòng Úc Kevin Andrews mạnh mẽ ủng hộ, nhưng theo Fairfax Media, các chuyến bay ấy, kể cả phi vụ của máy bay trinh sát, diễn ra bên ngoài phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo.

Trong khi Hoa Kỳ và các đồng minh gặp khó khăn trong việc hành động để đi kèm với lời nói của mình, thì hàng đoàn tàu nạo vét của Trung Quốc hoàn tất công tác cải tạo đất, kể cả xây nền móng cho một phi đạo dài 3.000 mét trong khu vực trên bãi Đá Subi, có khả năng phục vụ các phi cơ lớn nhất của Không quân Trung Quốc.

Bản tin nói rằng các công trình cải tạo đất phần lớn đã hoàn tất đúng lúc trước khi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Washington trong 2 tuần nữa, trong khi các hình ảnh vệ tinh cho thấy là việc sử dụng các tàu nạo vét của Trung Quốc trong Biển Đông đã giảm khoảng 90% trong mấy tuần gần đây.

Một số chiến lược gia tin rằng Trung Quốc sẽ được rộng tay hành động cho tới ít nhất là năm 2017, là lúc Lào phải nhường chức Chủ tịch ASEAN lại cho một nước hội viên khác, và một chính phủ mới ở Hoa Kỳ đã lên cầm quyền.

Tuy nhiên một số giới chức Mỹ và Úc nói Trung Quốc chỉ thắng về mặt chiến thuật, nhưng sẽ thất bại về mặt chiến lược, trong bối cảnh các nước trên khắp khu vực sẽ có phản ứng bằng cách thắt chặt các quan hệ với nhau và với Hoa Kỳ.

Theo CNA, Sydney Morning Herald.

Những câu nói đáng nhớ của cố TBT Lê Duẩn

Những câu nói đáng nhớ của cố TBT Lê Duẩn

FB Lịch sử hiện đại: Chiến tranh và CM

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn và những câu nói đáng nhớ:

“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”

“Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô.”

Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ, Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ, ông nói: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”

“Chính trị là nghệ thuật về các khả năng”

Nhân dịp Tết 1976, Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố: “Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh”.
Khi Lê Duẩn yêu cầu thành ủy Hà Nội bán chịu bàn ghế, giường tủ cho công nhân viên, thanh toán bằng cách trừ lương hàng tháng nhưng không được thi hành, ông tức giận nói:“Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Năm 1976, khi về thăm quê ở làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, Quảng Trị, khi thấy người dân đang luộc khoai mì đón Tết ông nói: “Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”

Năm 1976, Phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn tại Hội nghị Trung ương 25: “Chế độ ta là chế độ chuyên chính vô sản. Chuyên chính trước hết phải là đường lối của giai cấp vô sản. Cốt tủy của chuyên chính vô sản là ở đó chứ không phải là ở chỗ sử dụng bạo lực. Đường lối đó là sự kết hợp lý luận Mác – Lê Nin với thực tiễn cách mạng của nước mình. Đường lối đó là khoa học nhất, là đúng quy luật, là bắt buộc. Đường lối đó không hề nhân nhượng với ai, chia sẻ với ai và hợp tác với ai cả. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là: nhất thiết phải xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ chế độ sản xuất cá thể, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhất thiết phải làm thế, không cho phép ai đi ngược lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó nhất thiết phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Không ai được chống lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là đường lối của giai cấp công nhân, không ai được chống lại. Ai chống lại những cái đó thì bị bắt. Đó là chuyên chính.”

Ngày 13 tháng 3 năm 1977, tại trường Nguyễn Ái Quốc, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Loài người cho đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể.”

Ảnh: Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1969. (Sovfoto/Getty Images).

Cổ phiếu Trung Quốc lại xuống giá

Cổ phiếu Trung Quốc lại xuống giá

Cổ phiếu Trung Quốc lại tiếp tục xuống giá trước khi các số liệu kinh tế được công bố, mà người ta dự đoán sẽ cho thấy sự chững lại của nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Chỉ số chứng khoán Shanghai Composite đóng cửa với mức giảm 0,8%, đạt 3.205,99 điểm, mất gần 3% so với phiên giao dịch đầu giờ.

Cổ phiếu Trung Quốc đã trồi sụt đầy kịch tính trong thời gian hai tuần qua, gây xáo trộn các thị trường chứng khoán trên thế giới.

Việc xuống giá hôm thứ Hai làm tiêu tan đi những hy vọng về việc thị trường Trung Quốc sẽ đổi chiều sau thời gian đi xuống.

Số liệu sản xuất

Tâm lý giới đầu tư cũng bị tác động từ các tường thuật trên truyền thông theo đó nói giới chức Trung Quốc quyết định can thiệp ít hơn vào thị trường chứng khoán.

Tình trạng chao đảo gần đây gắn với việc Bắc Kinh có những nỗ lực nhằm ổn định thị trường và trấn an các nhà buôn.

Trung Quốc cũng đã thẳng tay với những người bị cho là loan tin đồn trên mạng, và những người mà giới chức nói là đã “gây bất ổn thị trường”.

Trong hôm thứ Ba, các chỉ số quan trọng hàng tháng về sản lượng đầu ra ở ngành sản xuất của nước này sẽ được công bố.

Chỉ số quản trị mua hàng (PMI) sẽ là một chỉ dấu nữa cho thấy liệu nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới này có vẫn đang chững lại hay không.

Chỉ số Hang Seng của Hong Kong đã rơi vào mức âm trong hầu hết cả ngày, nhưng tăng lên 0,3% vào cuối phiên giao dịch, đóng cửa ở 21.670,58 điểm.

Tại Nhật, chỉ số Nikkei đóng cửa giảm 1,3%, đạt 18.890,48 điểm.

Các nhà buôn tại Tokyo cũng nói tới việc số liệu của kinh tế Nhật đạt mức thấp hơn trông đợi.

Sản phẩm của ngành sản xuất nước này xuống 0,6% trong tháng Bảy so với tháng trước.

Xuất khẩu của Nhật bị ảnh hưởng nhiều do nhu cầu đặt hàng từ Trung Quốc giảm.

Hàn Quốc cũng có những số liệu kinh tế mới công bố cho thấy nước này đang gặp các vấn đề giống như của Nhật.

Chỉ số Kospi của Hàn Quốc đóng cửa ở 1.941,49 điểm, không đổi.

Các thăm dò cho thấy tâm lý kinh doanh không mấy lạc quan về tình hình tháng Chín, và không ai hy vọng gì về việc ngành xuất khẩu sẽ nhanh chóng phục hồi.

Nguyên nhân làm thận suy yếu

Nguyên nhân làm thận suy yếu

banmaihong

Thủ phạm khiến thận  tổn thương nghiêm trọng …

Thận là cơ quan có rất nhiều chức năng như sản xuất hormone, lọc máu, hấp thụ khoáng chất, sản xuất nước tiểu và cân bằng độ pH trong cơ thể.

Không uống đủ nước:

Chức năng quan trọng nhất của thận đó là lọc máu và loại bỏ các chất độc cũng như các chất thải cặn bã. Khi bạn không uống đủ nước lọc trong ngày, các chất độc và chất thải cặn bã bắt đầu tích tụ và có thể gây hại nghiêm trọng cho cơ thể.

https://i2.wp.com/res.vtc.vn/media/vtcnews/2015/01/22/Thu_pham_gay_hai_cho_than_1.jpg.0.570.cache

Ăn nhiều muối:

Cơ thể cần natri (hay chính là muối) để hoạt động một cách chính xác. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều hấp thụ quá nhiều muối, điều đó có thể làm tăng huyết áp và tạo ra nhiều áp lực lên thận. Giống như nguyên tắc của ngón tay cái, chỉ nên hấp thụ không quá 5 gram muối mỗi ngày.

Ăn nhiều muối: Cơ thể cần natri (hay chính là muối) để hoạt động một cách chính xác. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều hấp thụ quá nhiều muối, điều đó có thể làm tăng huyết áp và tạo ra nhiều áp lực lên thận. Giống như nguyên tắc của ngón tay cái, chỉ nên hấp thụ không quá 5 gram muối mỗi ngày.

Uống quá nhiều nước ngọt và nước có ga:

Thận là cơ quan chính để điều chỉnh độ pH của cơ thể, vì thế khi mà cơ thể phải hấp thụ quá nhiều nước ngọt và nước uống có ga trong một thời gian dài sẽ làm tăng gánh nặng cho thận và làm tăng xác suất gây tổn thương thận.

Uống quá nhiều nước ngọt và nước có ga: Thận là cơ quan chính để điều chỉnh độ pH của cơ thể, vì thế khi mà cơ thể phải hấp thụ quá nhiều nước ngọt và nước uống có ga trong một thời gian dài sẽ làm tăng gánh nặng cho thận và làm tăng xác suất gây tổn thương thận.

Uống trà đặc sau khi uống rượu:

Các chuyên gia đã chỉ ra rằng chất theophylline trong trà có tác dụng làm lợi tiểu và nó có thể ảnh hưởng khá nhanh đến thận. Rượu không có thời gian để phân hủy do đó gây ra kích thích ethanol làm ảnh hưởng nghiêm trọng cho thận.

Uống trà đặc sau khi uống rượu: Các chuyên gia đã chỉ ra rằng chất theophylline trong trà có tác dụng làm lợi tiểu và nó có thể ảnh hưởng khá nhanh đến thận. Rượu không có thời gian để phân hủy do đó gây ra kích thích ethanol làm ảnh hưởng nghiêm trọng cho thận.

Nhịn tiểu:

Nhiều người trong chúng ta thường nhịn tiểu bởi vì họ quá bận rộn hoặc muốn tránh phòng vệ sinh công cộng. Nhịn tiểu một cách thường xuyên làm tăng áp suất nước tiểu và có thể dẫn đến suy thận, sỏi thận và tiểu không kiểm soát.

Nhịn tiểu: Nhiều người trong chúng ta thường nhịn tiểu bởi vì họ quá bận rộn hoặc muốn tránh phòng vệ sinh công cộng. Nhịn tiểu một cách thường xuyên làm tăng áp suất nước tiểu và có thể dẫn đến suy thận, sỏi thận và tiểu không kiểm soát.

Thiếu vitamin và các khoáng chất:

Nhiều sự thiếu hụt có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận hay suy thận. Chẳng hạn như vitamin B6 và magie là các chất cực kì quan trọng nhằm giảm bớt sỏi thận.

Thiếu vitamin và các khoáng chất: Nhiều sự thiếu hụt có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận hay suy thận. Chẳng hạn như vitamin B6 và magie là các chất cực kì quan trọng nhằm giảm bớt sỏi thận.

Hấp thụ quá nhiều protein động vật:

Hấp thụ quá nhiều protein, đặc biệt là thịt đỏ làm tăng hàm lượng chuyển hóa trong thận. Vì vậy có nhiều protein trong chế độ ăn của bạn đồng nghĩa với việc thận phải làm việc nhiều hơn và theo thời gian điều này có thể dẫn đến tổn hại thận hay rối loạn chức năng.

Hấp thụ quá nhiều protein động vật: Hấp thụ quá nhiều protein, đặc biệt là thịt đỏ làm tăng hàm lượng chuyển hóa trong thận. Vì vậy có nhiều protein trong chế độ ăn của bạn đồng nghĩa với việc thận phải làm việc nhiều hơn và theo thời gian điều này có thể dẫn đến tổn hại thận hay rối loạn chức năng.

Ăn rau quả không phù hợp:

Chúng ta đều biết rằng ăn nhiều rau quả có lợi cho sức khỏe. Kali có trong rau thường được coi là chất hỗ trợ tốt giúp giảm huyết áp tự nhiên ,tuy nhiên nếu dùng trong thời gian dài nó lại có thể làm tổn thương thận đối với những người có vấn đề về chức năng thận.

Ăn rau quả không phù hợp: Chúng ta đều biết rằng ăn nhiều rau quả có lợi cho sức khoẻ. Kali có trong rau thường được coi là chất  hỗ trợ tốt giúp giảm huyết áp tự nhiên ,tuy nhiên nếu dùng trong thời gian dài nó  lại có thể làm tổn thương thận đối với những người có vấn đề về chức năng thận.

Thiếu ngủ:

Tất cả chúng ta đều đã nghe nói về tầm quan trọng của một giấc ngủ ngon. Sự thiếu ngủ thường xuyên có thể dẫn tới nhiều căn bệnh và các bệnh về thận cũng nằm trong danh sách đó. Trong thời gian ban đêm, cơ thể hồi phục lại tế bào thận đã bị tổn thương, vì vậy hãy cho cơ thể thời gian để tự chữa lành và hồi phục.

Thiếu ngủ: Tất cả chúng ta đều đã nghe nói về tầm quan trọng của một giấc ngủ ngon. Sự thiếu ngủ thường xuyên có thể dẫn tới nhiều căn bệnh và các bệnh về thận cũng nằm trong danh sách đó. Trong thời gian ban đêm, cơ thể hồi phục lại tế bào thận đã bị tổn thương, vì vậy hãy cho cơ thể thời gian để tự chữa lành và hồi phục.

Uống cà phê: Cũng giống như muối, caffein có thể làm tăng huyết áp và gây áp lực lên thận của bạn. Uống cà phê quá nhiều sẽ không tốt cho thận của bạn.

Uống cà phê: Cũng giống như muối, caffein có thể làm tăng huyết áp và gây áp lực lên thận của bạn. Uống cà phê quá nhiều sẽ không tốt cho thận của bạn.

Lạm dụng thuốc giảm đau: Có quá nhiều người dùng thuốc giảm đau mặc dù chỉ là những cơn đau nhỏ, trong khi đó lại có sẵn rất nhiều phương thuốc hoàn toàn từ tự nhiên mà lại an toàn. Sử dụng quá mức hay lạm dụng thuốc giảm đau có thể dẫn đến sự tổn hại nghiêm trọng cho gan và thận.

Lạm dụng thuốc giảm đau: Có quá nhiều người dùng thuốc giảm đau mặc dù chỉ là những cơn đau nhỏ, trong khi đó lại có sẵn rất nhiều phương thuốc hoàn toàn từ tự nhiên mà lại an toàn. Sử dụng quá mức hay lạm dụng thuốc giảm đau có thể dẫn đến sự tổn hại nghiêm trọng cho gan và thận.

Sử dụng đồ uống có cồn: Đồ uống có cồn thật sự là một chất độc hợp pháp nhưng nó lại tạo ra nhiều sức ép lên thận và gan.

https://i1.wp.com/res.vtc.vn/media/vtcnews/2015/01/22/Thu_pham_gay_hai_cho_than_12.jpg.0.570.cache

Bánh mì ngọt: Có một loại phụ gia thực phẩm được gọi là kali bromat trong bánh mì và bánh ngọt làm cho bánh mềm và thơm ngon hơn. Tuy nhiên, ăn quá nhiều chất này có thể gây ra tổn hại cho hệ thống thần kinh trung ương, máu và thận.

Bánh mỳ ngọt: Có một loại phụ gia thực phẩm được gọi là kali bromat trong bánh mỳ và bánh ngọt làm cho bánh mềm và thơm ngon hơn. Tuy nhiên, ăn quá nhiều chất này có thể gây ra tổn hại cho hệ thống thần kinh trung ương, máu và thận.

Ăn nhiều đồ ăn chế biến sẵn: Hàm lượng chất bảo quản thực phẩm có trong các đồ ăn sẵn là rất lớn, nhất là trong đồ hộp. Nếu ăn thường xuyên, các chất bảo quản tích tụ trong cơ thể ngày càng nhiều. Khi đó khả năng đào thải độc tố có trong các chất này của gan và thận sẽ trở thành ‘vô hiệu hóa’

Bác sĩ Eben Alexander

Giảng viên Đại Học Y Harvard

TẨY RỬA TRÁI TIM

TẨY RỬA TRÁI TIM

Thiên Phúc

Văn hào Dostoevski trong tác phẩm “Anh em nhà Karamarov” có kể lại câu chuyện sau đây:  “Vào thời đại của toà phán quan ở Tây Ban Nha, người ta đã dựng những hỏa đài để thiêu sống những kẻ tà giáo.  Đức Kitô dịu hiền đột nhiên đến thăm con cái của Người ở Seville, Người về giữa loài người như một dân thường.  Đức Giêsu bước xuống những con đường sôi bỏng của thành phố phương Nam.  Nơi đây, mới hôm trước, vị phán quan vĩ đại đã cho thiêu sống hàng trăm tên tà giáo “Ad majorem gloriam Dei.”

Hỏa đài ngay trước khán đài danh dự có đông đủ vô số triều đình, các hiệp sĩ, các mệnh phụ xinh đẹp và cả Đức Hồng Y giáo chủ, Đức Giêsu nhẹ nhàng bước trên đường bằng dáng điệu trầm tĩnh, nhưng lạ lùng tất cả đã nhận ra Người.  Dân chúng xô đẩy nhau quấn quít bước chân Người.  Người lặng lẽ  vào giữa đám đông với nụ cười và ánh mắt từ bi.  Một cụ già mù van xin: “Lạy Chúa, xin cho con được sáng để con nhìn thấy Người.”  Một cái vảy rơi xuống và cụ nhìn thấy được.  Dân chúng vui mừng chảy nước mắt, và hôn lên mảnh đất chỗ Người đi qua.  Những em bé tung hoa trên lối Người đi.

Đức Kitô dừng lại trước giáo đường Seville ngay lúc có đám tang một cô bé bảy tuổi.  Cạnh cỗ áo quan màu trắng phủ đầy hoa, người mẹ đang nức nở.  Trong đám đông có người hô lớn: “Con bà sẽ hồi sinh.”  Người mẹ tha thiết: “Nếu đúng là Người xin hãy hồi sinh đứa con của con.”  Đức Giêsu nhắc lại lời thuở trước: “Talitha Kum” và em bé ngồi lên.

Đúng lúc đó, Hồng Y Giáo chủ và phán quan vĩ đại đi ngang qua.  Từ xa ông đã thấy hết.  Ông thấy chiếc áo quan đặt xuống, đứa bé hồi sinh.  Mặt ông xịu xuống, mắt ông chớp tia sáng ghê hồn.  Ông lấy ngón tay chỉ vào Đức Giêsu và ra lệnh cho bọn lính bắt Người.  Thế lực ông quá lớn nên ông khuất phục cả quần chúng.  Phán quan ra lệnh tống giam Giêsu.  Ông vào ngục một mình gặp Người.  Ông thương cảm nhưng “Luật là luật, trật tự của Giáo hội phải được bảo tồn bằng mọi giá.”  Ông tuyên bố: “Tôi chẳng rõ Người là ai.  Hình như Người là Đức Giêsu, nhân danh Giáo hội, Ad majorem gloriam Dei, ngày mai Ngài cũng lên giàn hỏa.”

*************************************

Vị phán quan trong câu chuyện trên cũng chỉ đi theo vết xe cũ của các Biệt phái và Ký lục Do Thái.  Bài Tin Mừng hôm nay chứng minh điều ấy.  Đức Giêsu đang ở Galilê, các Biệt phái và Ký lục từ Giêrusalem tới, nghĩa là họ phải vượt qua 170 km đường bộ để chỉ hỏi tại sao môn đệ Người không rửa tay trước khi ăn.  Điều đó cho thấy người Do Thái rất coi trọng việc tuân giữ các tập tục tiền nhân về vấn đề thanh tẩy.

Thực ra, lúc đầu luật rửa tay trước khi vào nơi thánh dành cho các tư tế.  Mục đích là tẩy rửa các ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng thờ phượng Chúa.  Sau này, dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện.  Với suy nghĩ tương tự họ cũng rửa tay trước khi ăn.  Ý tưởng này rất cao đẹp vì nó làm cho tôn giáo thấm nhập vào hành vi con người trong cuộc sống.

Khốn thay trong quá trình thực thi luật này, tôn giáo đã thái hóa đến chỗ chỉ còn giữ nghi thức bên ngoài.  Nghĩa là ai tuân giữ các nghi thức này thì được xem là đạo đức, là đẹp lòng Thiên Chúa, còn không tuân giữ là phạm tội.  Nói như nhà thần học William Barclay: “Người ta có thể căm thù tha nhân tận xương tủy mà không một chút áy náy vì họ đã tuân giữ chặt chẽ các nghi thức rửa tay và các nghi thức thanh tẩy khác.”  Tôn giáo không phải là một mớ luật lệ.  Tôn giáo là một diễn tả tình yêu, một phát minh của Thiên Chúa nhân từ.

Thế nên, Đức Giêsu mới vạch mặt sự giả hình của họ, vì họ chẳng quan tâm đến chuyện tẩy rửa trái tim.  Họ rửa tay để được an tâm.  Họ rửa tay để khỏi phải rửa tâm hồn.  Rửa tay thì dễ chứ rửa tâm hồn mới thực là khó.  Nhưng cái ô uế thực lại không từ bên ngoài vào, nó ở ngay trong trái tim mỗi người.  Đức Giêsu đã kể ra 12 ý định xấu từ trong trái tim.  Từ ý định xấu xa sẽ dẫn đến những hành vi tội lỗi (x Mc 7, 21-22).  Michael Taeboit nói: “Khi cái dằm tội lỗi ra khỏi mắt ta, tất cả thế giới sẽ tỏa sáng.”

Vậy điều quan trọng là phải đổi mới trái tim.  Đổi được trái tim là đổi được tất cả.  Điều cốt lõi trong đạo không phải là chúng ta làm việc này việc nọ, mà chính là lý do thúc đẩy chúng ta làm những việc ấy.  Việc đọc kinh dự lễ, suy niệm Lời Chúa, làm việc bác ái… tự chúng không bảo đảm rằng chúng ta thánh thiện, nếu chúng ta làm vì một lý do không đúng đắn.  Nó chỉ trở nên thánh thiện trước mặt Chúa khi những hành động ấy phát xuất vì tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.  Thánh Phaolô đã quả quyết:  “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà tôi không có đức ái, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13, 3).

*************************************

Lạy Chúa, xin nhắc cho chúng con nhớ rằng: luật lệ và nghi thức là cần thiết, nhưng đừng quên điều cốt lõi của luật Chúa là yêu thương.  Xin dạy chúng con chỉ biết có một điều: là chúng con làm mọi sự chỉ để kính mến Chúa và yêu thương anh em.  Amen!

Thiên Phúc

Cuộc sống kỳ lạ của cặp song sinh có chung sọ não

Cuộc sống kỳ lạ của cặp song sinh có chung sọ não

Hai bé gái sinh đôi có chung sọ não đã thách thức mọi dự đoán của các bác sĩ khi biết đi đứng, nói chuyện và thậm chí cãi nhau.

alt

Tatiana và Krista Hogan có chung hộp sọ và bộ não. Việc mổ tách hai em là bất khả thi

Tatiana và Krista Hogan, 7 tuổi, bị dính nhau ở đầu, chung sọ não. Hai em có thể nhìn bằng mắt của nhau và có chung cảm xúc. Tuy nhiên, cả hai đều có tư duy độc lập và tự điều khiển được chân tay của mình. Việc mổ tách hai em là bất khả thi vì bộ não đã hòa nhập làm một.

Khi ra đời, các bác sĩ đoán hai em không thể sống được quá một ngày. Nhưng cặp đôi, hiện sống cùng gia đình ở Vernon, British Columbia, Mỹ, đã vượt mọi dự đoán của các bác sĩ và có cuộc sống không khác các bạn cùng trang lứa.

alt

Hai em có bộ não vừa chung lại vừa riêng, vì thế mặc dù có thể điều khiển chân tay của nhau, nhưng các em vẫn cử động được chân tay của mình một cách độc lập.

Mẹ của Tatiana và Krista cho biết hai em vẫn đi học, xem phim hoạt hình và ăn bánh. Hai cô bé luôn vui vẻ và mang lại tiếng cười cho cả gia đình, gồm cha, mẹ và 3 anh chị em khác.

Ngay từ khi mang thai, bố mẹ các em đã biết hai con gái mình bị dính nhau ở đầu và tương lai chưa biết thế nào.

Nhưng họ vẫn quyết tâm sinh con – và khiến các bác sĩ kinh ngạc trước cách thức hoạt động của bộ não chung của hai cô bé.

Hai bé không chỉ nhìn được bằng mắt của nhau mà còn có chung cảm xúc và cũng cảm thấy buồn khi người kia bị cù.

Tuy có thể tự điều khiển được chân tay của mình, song cả hai còn có thể cử động được chân tay của người kia.

Và mặc dù có chung cảm giác song hai em cũng có tính cách khác nhau.

“Sau nhiều năm Tatiana đã trở thành người chỉ huy, còn Krista thì trầm tính hơn và sống nội tâm hơn,” mẹ hai bé chia sẻ.

Bác sĩ phẫu thuật thần kinh Douglas Cochrane, người vẫn đang điều trị cho hai bé gái thừa nhận: “Hai cô bé đã làm tôi ngạc nhiên – làm thế nào mà chúng lại giống nhau và khác nhau như thế, làm thế nào mà hai đứa bé lại sửa chữa được sai lầm của tạo hóa để có một cuộc sống vui vẻ như vậy”.

alt

Hai bé không chỉ học được cách chạy và chơi với nhau mà còn xác định được cả hai có chung suy nghĩ hay không. Mọi người trong gia đình tin rằng hai cô bé chắc chắn có khả năng giao tiếp với nhau ngay trong đầu của mình từ cách mà hai em trêu chọc nhau và có thể chia sẻ một câu chuyện đùa mà không cần nói.

Trong khi hai cô bé luôn tình cảm với nhau, giống như bất kỳ anh chị em ruột nào khác, song cũng hay cãi nhau, và cha mẹ thường phải vất vả để giảng hòa.

“Chúng tôi phải bảo chúng, “Hai con sẽ phải sống cả đời với nhau trong thế giới này, các con cần hợp tác và hòa thuận với nhau.”

“Có những lúc hai đứa có thể đánh nhau, tức giận và thất vọng về nhau và những cuộc chiến đó có thể trở thành bạo lực.”

Hai cô bé sẽ không bao giờ có thể tách ra hoặc sống độc lập vì bộ não hai em đã hòa nhập với nhau, tương tự như một chiếc khóa kéo, tuy là hai nửa riêng biệt nhưng gắn chặt với nhau.

Dáng vẻ của hai em luôn thu hút ánh nhìn của mọi người và những đứa trẻ tò mò thường hỏi tại sao chúng lại dính với nhau như vậy.

Song hai bé gái không mấy bận tâm đến điều đó và luôn vui vẻ giải thích rằng “Khi nằm trong bụng mẹ chúng tớ lớn lên cùng nhau, thế cho nên chúng tớ dính với nhau,” Tatiana nói.

Theo DM

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần

Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần

Nguoi-viet.com

QUẢNG TRỊ (NV) – Một cựu sĩ quan công an đã sử dụng hài cốt của 70 liệt sĩ bị Cộng Sản Việt Nam bỏ quên, làm phương tiện để chiếm đoạt khoảng tám tỷ đồng.

“Cậu Thủy” (trái) tại hiện trường một vụ tìm hài cốt liệt sĩ ở Quảng Trị
hồi tháng 8 năm 2013. (Hình: Tuổi Trẻ)

Viện Kiểm Sát tỉnh Quảng Trị vừa truy tố: Nguyễn Văn Thúy, 56 tuổi, ngụ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Mẫn Thị Duyên, 53 tuổi, vợ ông Thúy; Nguyễn Văn Hoành, 46 tuổi, em ruột ông Thúy; Mẫn Đức Phương, 27 tuổi, em ruột bà Duyên; Nguyễn Trường Sơn, 28 tuổi và Nguyễn Anh Chiều, 32 tuổi, cùng là con rể ông Thúy. Vũ Đức Chung, 69 tuổi, quản trang Nghĩa trang liệt sĩ huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum – về các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” “xâm phạm mồ mả, hài cốt,” “trộm cắp tài sản.”

Năm 2008, ông Thúy, một cựu sĩ quan công an từng ở tù vì “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” tự nhận và được nhiều cá nhân và tổ chức, kể cả báo giới quảng bá là một “nhà ngoại cảm.” Danh hiệu “nhà ngoại cảm” xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 2000, dùng để chỉ những người có khả năng liên lạc với người chết để hỏi han về chỗ họ bị vùi thây cho thân nhân tìm tới cải táng.

Sở dĩ các “nhà ngoại cảm” được nhiều giới tung hô, có “đất dụng võ” vì tại Việt Nam vẫn còn hàng trăm ngàn liệt sĩ từng “hy sinh” để Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn cõi Việt Nam, bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam lãng quên. Thân nhân của họ thì không an lòng bởi không biết họ bị vùi lấp ở đâu.

Việt Nam có hàng chục “nhà ngoại cảm” nổi tiếng và ông Thúy là một trong số này. Từ khi trở thành “nhà ngoại cảm,” ông Thúy được gọi là “cậu Thủy.”

Sau một thời gian giúp nhiều gia đình tìm hài cốt liệt sĩ là thân nhân của họ, tháng 7 năm 2013, “cậu Thủy” chính thức được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam (hoạt động bằng vốn do ngân sách của nhà cầm quyền trung ương cung cấp) hỗ trợ để “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” tại Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Phước, nhân dịp 65 năm “Ngày Thương Binh-Liệt Sĩ.”

“Cậu Thủy” đã tìm được 79 hài cốt liệt sĩ và được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam bồi dưỡng khoảng bảy tỷ đồng. Sau đó người ta mới phát giác, “cậu Thủy” không có khả năng liên lạc với người chết. Dựa trên thông tin về đơn vị, địa điểm thiệt mạng do thân nhân của liệt sĩ cung cấp, “cậu Thủy” cho người đem hài cốt mà “cậu Thủy” tích trữ đi chôn trước, rồi mới chỉ chỗ cho thiên hạ đi tìm, đào sau.

Để tăng độ tin cậy về hài cốt tìm được đúng là của liệt sĩ (có sự tương đồng về mức độ bị phân hủy theo thời gian), “cậu Thủy” cho người đến các nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đắk Lắk… đào trộm. Đồng thời còn làm cũ, chôn kèm: dép râu, ba lô, võng… Đáng chú ý là vì nhu cầu tìm kiếm hài cốt của thân nhân liệt sĩ thì lớn, số lượng hài cốt liệt sĩ có thể đào trộm tại các nghĩa trang liệt sĩ lại có hạn nên “cậu Thủy” thường chia một bộ hài cốt thành… nhiều phần!

Theo cáo trạng, “cậu Thủy” tổ chức đào và lấy trộm khoảng 70 bộ hài cốt liệt sĩ nhưng đến khi bị bắt, “cậu Thủy” đã “tìm được” 105 liệt sĩ mất tích. Chưa kể, trong kho của “cậu Thủy” vẫn còn một số hài cốt nữa nhưng không thể xác định là bao nhiêu bộ!

Hàng trăm ngàn người đã chết khi giúp Cộng Sản Việt Nam “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” Họ trở thành liệt sĩ và dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam “đời đời nhớ ơn” nhưng đến nay, cha mẹ, anh em, con cháu của họ vẫn không biết thi thể của họ bị vùi lấp ở đâu.

Thập niên 1980, 1990, nhà cầm quyền nhiều địa phương ở Việt Nam từng tổ chức một số đợt “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.” Có hàng chục scandal liên quan đến các vụ “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” đó. Phổ biến nhất là lập khống số lượng hài cốt tìm được và xây mộ giả để lấy tiền. Có nơi như Đồng Nai, các “đồng chí, đồng đội” còn chẻ xương, cắt sọ hài cốt liệt sĩ để tăng số lượng hài cốt tìm được.

Đó cũng là lý do phong trào “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” xẹp xuống, nhường chỗ cho phong trào “ngoại cảm.” Phong trào nào cũng có nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam “hy sinh” không chỉ một lần. (G.Đ)

Rồi có một ngày…

Rồi có một ngày…

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi thường nghe những câu hỏi trăn trở của những người tị nạn Cộng Sản bỏ nước ra đi:

– Liệu năm nay Việt Nam có gì thay đổi không?

– Bao giờ thì Việt Nam không còn Cộng Sản?

(Hình minh họa: Andreas Altwein/AFP/Getty Images)

Hầu hết những người Việt bỏ đất nước từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, khi Cộng Sản tràn vào Sài Gòn, đã nói với tôi rằng, họ chỉ trở lại Việt Nam khi không còn chế độ Cộng Sản trên quê hương nữa. Một vài vị lớn tuổi “gần đất xa trời” an ủi với nhau rằng, “có lẽ ta đâu mãi thế này” và mong được sống thêm vài năm nữa, để nhìn ngày tàn của chế độ Cộng Sản.

Nhưng bao giờ thì chế độ Cộng Sản sụp đổ?

Năm năm? Mười năm? Mười lăm năm? Và bây giờ 40 năm đã trôi qua!

Mà khi Việt Nam không còn Cộng Sản nữa thì đất nước này sẽ ra sao?

Cũng khó tưởng tượng ra có một cuộc thay đổi êm ái, đảng cầm quyền ra đi, tổ chức bầu cử tự do, các cơ chế hoàn toàn thay đổi, Hiến Pháp được viết lại, Việt Nam có đa đảng. Nhiều người còn mang ảo tưởng lạ lùng là “hải ngoại” sẽ được Bộ Chính Trị Đảng CSVN mời về “bàn giao” trong êm thấm trong khi họ lặng lẽ cuốn gói ra đi, và những “chủ tịch,” “thủ tướng,” và “quốc trưởng” ở đây sẽ về nhậm chức mà không cần đổ một giọt máu, kiểu nói “bất chiến tự nhiên thành” và dưới cái quan niệm sẽ được cường quốc này, đất nước nọ “bật đèn xanh…”

Nếu có một cuộc cách mạng thật sự đúng nghĩa bùng nổ, thì cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam phải là một cuộc cách mạng đổ máu tàn khốc nhất trong lịch sử. Bốn mươi năm qua, chế độ Cộng Sản này đã gây bao nhiêu thảm họa, tai ương cho miền Nam và đối với miền Bắc là 70 năm. Chẳng ai là không có mối thù với Cộng Sản, từ thời Việt Minh cho đến ngày miền Nam sụp đổ. Bao nhiêu thủ đoạn tù đày, kỳ thị, đánh tư sản, đổi tiền, đày đọa người dân rời bỏ thành phố hay đuổi họ xuống tàu ra biển.

Chẳng có gia đình nào tránh khỏi đau khổ, tù đày, chia lìa, chết chóc hay bần cùng. Ngay trong thời đại “tự do,” “hạnh phúc,” liệu những gia đình nạn nhân Đoàn Văn Vươn bị cưỡng chế chiếm đất, những mẹ con như gia đình bà Phạm Thị Lài trần truồng bị kéo lê trên nền đất, những phụ nữ như bà Lê Thị Trâm bị xe xúc chèn lên thân, cũng như gia đình có thân nhân chết mờ ám trong đồn công an, hàng triệu nạn nhân của chế độ công an trị, có bằng lòng một cuộc chuyển quyền êm ái không?

Cho thuận lẽ nhân quả ở đời sẽ có một cách mạng “máu kêu trả máu, đầu van trả đầu?”

Nhưng thành phần nào sẽ cầm đầu cuộc cách mạng này, và đừng có ảo tưởng là sẽ có một lực lượng ngoại nhập phát xuất từ Mỹ, từ Úc hay từ… Tàu.

Tuy vậy cũng sẽ không có chuyện biển máu với 3 triệu đảng viên Cộng Sản Việt Nam bị đem ra bắn bỏ, bị tịch thu tài sản, bị lùa vào các trại tù, hoặc đẩy chạy sang Tàu. Nhưng làm thế nào để Việt Nam có một cuộc thay đổi, Cộng Sản không còn là đảng cầm quyền và Việt Nam sẽ trở thành một đất nước có chế độ đa đảng. Nhưng vào thời điểm đảng Cộng Sản không còn nữa, Việt Nam sẽ ra sao?

Cũng như sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã, ở Việt Nam cũng sẽ có rất đông đảo, hàng triệu người đã vứt thẻ đảng và ra khỏi đảng. Trừ một số đảng viên đã chuẩn bị “hạ cánh” với bất động sản, tiền ngân hàng hay cơ sở kinh doanh ở Mỹ, Úc, Canada… nhưng 3 triệu đảng viên Cộng Sản với châm ngôn “đảng còn ta còn” và tổng cộng các lực lượng an ninh đủ loại với ít nhất là 6.9 triệu người (theo Giáo Sư Carl Thayer) với khẩu hiệu “công an nhân dân chỉ biết còn đảng, còn mình” sẽ là một vấn nạn khó xử cho xã hội mới, một khi “mất đảng,” nhưng chúng nhất quyết chưa chịu “mất mình.”

Người viết không có khả năng phân tích tình hình chính trị Việt Nam sau khi không còn đảng Cộng Sản cầm quyền hay chuyện kinh tế của Việt Nam thời hậu Cộng Sản, nhưng cứ nghĩ đến cái đất nước tan hoang, sau 40 năm cai trị của đảng này, thì cái giấc mơ nghĩ đến một ngày nào đất nước hết Cộng Sản, cũng chẳng phải là một giấc mơ tốt đẹp.

Có thể Cộng Sản sẽ để lại cho đất nước những cái cầu tráng lệ, những xa lộ tối tân, những con tàu “siêu tốc,” những cái tháp truyền hình đi vào kỷ lục, những lâu đài kiến trúc đẹp đẽ, những sân bay hiện đại và dai dẳng những món nợ con cháu trả mấy đời không hết. Và những vạn dặm rừng, nghìn vuông đất cho thuê chưa lấy lại được, nhưng cũng không đau xót bằng hằng triệu con người mất cả niềm tin vào tương lai, lòng người ly tán, đạo lý suy đồi.

Muốn xây dựng lại xã hội phải xây dựng con người, mà xây dựng một con người phải mất bao nhiêu năm?

Hồ Chí Minh sao chép câu “Bách niên thụ nhân” của Quản Trọng bên Tàu, nhưng với hạt giống vốn bể nát, thối tha của người khác đã vứt đi lượm đem về, gieo trồng trên đám đất đai chai lỳ toàn trị, bón bằng những thứ phân bón tha hóa, xấu xa, dối trá; tưới bằng thứ nước dơ bẩn của bạo lực, cường quyền, thì cây không có trái, hoa không dám nở, mà chỉ sinh sản ra một loài cỏ dại. (*)

Một xã hội mà chủ động mãi dâm còn tuổi vị thành niên, khi bị công an bắt còn xin về đi thi trung học phổ thông. Một xã hội mà một thanh niên chỉ mới 22 tuổi cắt cổ sáu người mà vẫn có giấc ngủ yên lành. Một xã hội có những đứa trẻ 14 tuổi đi bán dâm trong khi đã mang thai bốn tháng. Một xã hội mà thanh niên lớn lên không có nhà máy, chỉ toan tính chạy vạy tìm cách ra nước ngoài làm thuê, ở mướn. Một xã hội mà thiếu nữ nông thôn lớn lên không có một thời yêu đương, thơ mộng, bỏ ruộng vườn, lăm le đi khỏi mướt kiếm một tấm chồng, hay kể cả chuyện bán thân, miễn có một đời sống no đủ. Một xã hội mà sinh viên, người mẫu sẵn sàng lên giường vì đồng đô la. Một xã hội mà người ác, kẻ tham được bảo vệ, người làm điều xấu không biết nhục, kẻ trung trực, ngay thẳng thì bị đọa đày.

Liệu có một vị cứu tinh dân tộc nào xuất hiện trong giai đoạn này để cứu nước, độ dân không? Nước Nhật sau hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagazaki, và cả trận sóng thần xảy ra năm 2011, đã đứng dậy tái thiết, khắc phục hậu quả của những thảm họa chiến tranh và thiên tai, nhờ tinh thần và phẩm chất truyền thống của dân tộc Nhật. Nhưng với “thảm họa dân trí, đạo đức” mà chế độ Cộng Sản để lại cho Việt Nam, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, mà chúng ta thường gọi là một trận hồng thủy, mà những điều tốt đẹp, đạo đức của dân tộc đã bị băng hoại, cuốn trôi, chúng ta làm cách nào để xây dựng lại đất nước này?

Bao giờ thì có thay đổi, bao giờ thì không còn Cộng Sản? Đây chính là những nỗi trăn trở của cả dân tộc, nhưng là những chuyện khó khăn bắt đầu chứ không phải là những điều kết thúc tốt đẹp mà chúng ta vẫn thường mơ ước! Đó chính là nỗi thống khổ của Việt Nam, và còn khổ đến bao giờ.

(*) “Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là trùng độc, sinh sôi, nảy nở, trên rác rưởi cuộc đời.” (Dalai Latma)

Hội chứng Cộng sản

Hội chứng Cộng sản

VietTuSaiGon

RFA

Sau gần hai mươi năm không gặp nhau, tôi gặp lại người bạn cũ, khác với cái thuở hai thằng rủ nhau đi phụ hồ, tối đến, buồn quá, lại rủ nhau thức đến 11h đêm, đợi lò mổ bò làm thịt xong, mua một ít lòng về luộc chấm mắm gừng, uống một xị rượu để sáng mai tiếp tục đi phụ hồ… Anh ta bây giờ giàu có, xe cộ, nhà cửa, tiền bạc rủng rỉnh… Nhưng nói chuyện một lúc, tôi thật sự giật mình và tự hỏi “không hiểu con người như thế này sao lại giàu được hay vậy ta?!”.

Sở dĩ tôi phải hỏi thầm như vậy vì tôi nhận ra giữa sự giàu có và tri thức của anh ta tỉ lệ nghịch đến độ khó tin. Nhưng không sao, tri thức không phải ai cũng có đủ để tỉ lệ thuận với sự giàu có, thậm chí có nhiều người giàu có tri thức nhưng lại nghèo tiền bạc. Chuyện ấy bình thường thôi. Vấn đề đáng bàn ở đây là quan điểm sống cũng như suy nghĩ, nhận định về xã hội của anh ta làm tôi bất ngờ.

Tôi vẫn luôn tin rằng với những người xuất thân từ gia đình nghèo khổ và bị ép chế bởi có lý lịch cha làm việc cho “ngụy quyền” như tôi và anh, chắc chắn khi vượt qua số phận, trở nên giàu có, kinh nghiệm sống cũng như những vết thương về lý lịch sẽ giúp tâm hồn chúng tôi trở nên đẹp hơn. Điều này tôi mường tượng giống như cây dó bầu sau khi bị mưa bão đánh tơi tả sẽ cho ra lõi trầm, chính cái lõi trầm khẳng định giá trị cũng như khả năng vượt thoát cái chết và thương tật của cây dó bầu. Điều đó cũng như chính sự giàu có, kinh nghiệm sống và sự tiến bộ sẽ khẳng định giá trị của con người sau một quá trình nghèo khổ, bị ép chế.

Nhưng không, tôi đã lầm, đó chỉ là sự tưởng tượng vô nghĩa của tôi. Anh bạn nghèo ngày xưa của tôi không những giàu có mà công tâm để nói là anh ta rất khốn nạn. Đương nhiên là anh ta chưa hề khốn nạn gì với cá nhân tôi nhưng anh lại khốn nạn với nhiều người khác nghèo khổ, khốn nạn với cộng đồng và xã hội.

Sau một thời gian dài làm phụ hồ, anh phất lên một cách bí ẩn, trở thành giàu có và nhận công trình xây dựng với một đội ngũ kĩ sư xây dựng và thợ thầy khá vững vàng. Không dừng ở đó, có đủ tiền bạc và đàn em, anh cho vay nặng lãi và nhanh chóng trở thành “đại gia” trong xã hội. Đã có nhiều người nghèo mất trắng mọi thứ bởi nợ anh ta, và anh ta không ngần ngại cho đàn em đến xiết nợ của người khác giữa ban ngày, mức lãi có khi lên đến 30% mỗi tháng khiến cho con nợ nhanh chóng kiệt quệ dưới tay anh ta. Nhưng không ai làm gì được anh ta vì anh chơi với các quan chức đứng đầu ngành an ninh tỉnh và huyện, chuyện nhậu nhẹt, chè chén và quà cáp đối với giới quan chức là chuyện thường ngày.

Có thể nói rằng nhờ vào các quan hệ, toa rập, chằng níu giữa anh ta và giới quan lại mà anh ta trở thành một loại Năm Cam mới, tinh vi và yên ổn hơn. Đặc biệt, khi nói chuyện, một hai anh bảo vệ đảng Cộng sản, anh bảo vệ đến độ tôi không dám nhắc đến hai từ này với anh. Bởi nếu nhắc đến mà không kèm với thái độ tôn kính thì không chừng anh ta đập bàn, cho đàn em xử mình như chơi. Vì thấy mức độ mê tín vào đảng của anh ta thì dễ dàng nhận ra kết cục như vậy.

Anh luôn đưa ra quan điểm nhân dân phải sống dưới sự che chở của đảng, phải tin vào đảng, thậm chí thần tượng đảng, thần tượng bác Hồ mới là người trưởng thành. Bằng chứng của sự trưởng thành này là anh đã rất giàu, chơi với giới quan chức và đẳng cấp của anh cũng ở trên cao, thuộc giới thượng lưu… Nghe anh nói một lúc, tôi chỉ thấy miệng đắng ngắt, không thể nhấp thêm ngụm bia nào nữa, vờ có việc gấp mà cáo lỗi, về trước.

Trên đường về, tôi sực nhớ đến câu nói của một anh bạn: “Đất nước này không phải chỉ có hơn ba triệu đảng viên Cộng sản đâu! Nó có đến hơn chín chục triệu đảng viên Cộng sản đó. Chúng ta đang sống trong một thứ hội chứng Cộng sản!”.

Anh này đưa ra quan điểm như vậy và cho rằng không chỉ có những đảng viên đã được kết nạp vào đảng Cộng sản mới là đảng viên, mà những thứ tư duy Cộng sản, hội chứng Cộng sản đã nhiễm dần vào máu huyết của người dân theo từng ngày, từng ngày, để đến một lúc, họ trở thành một đảng viên thụ động và còn yêu đảng, yêu Hồ Chí Minh ghê gớm hơn cả những đảng viên chính thức.

Sự mê tín vào đảng Cộng sản này được tích tụ một cách tiệm tiến trong quá trình tồn tại, nó chuyển hóa từ sợ hãi sang thỏa hiệp và cuối cùng là cơ hội. Nghĩa là với cách quản lý đầy sắc máu, nhà nước Cộng sản đã đẩy đại bộ phận nhân dân đến chỗ sợ hãi, đánh mất chính mình để tồn tại. Và đến một lúc nào đó, người ta cảm thấy những bất công, vô lý là chuyện bình thường, không có gì đáng bàn, người ta chấp nhận, thỏa hiệp với bất cộng, xem bất công và đàn áp như một lẽ đương nhiên. Và một khi đã xem điều đó là đương nhiên, người ta dễ dàng thích nghi để tìm ra cơ hội có lợi cho bản thân. Những kẻ cơ hội trong chế động Cộng sản đều là những kẻ có khuynh hướng phát triển như trên.

Và một khi đã nắm được cơ hội trên tay, người ta bắt đầu phát triển, mở rộng cơ hội. Đương nhiên cơ hội ở đây sẽ có đội trên đạp dưới, có toa rập, có đạp lên nỗi đau của đồng loại mà đi, có thủ đoạn và có cả sự bỉ ổi, vô luân. Bởi lẽ, đây là cơ hội dưới triều đại độc tài Cộng sản.

Và một khi thứ cơ hội này lan tỏa ra trên toàn xã hội, một thứ không khí khác bao trùm lện xã hội, một ông xe ôm hay một bà bán trứng vịt lộn cũng có thể là đảng viên không chính thức, bà ta có thể đấu tố hàng xóm, có thể tìm cách nịnh bợ ông chủ tịch phường, chủ tịch xã để lấn sang phía bà bán bánh mì một chút đất vỉa hè để đặt thêm bộ bàn. Và đương nhiên bà ta lấy làm hãnh diện vì mình có thế lực đảng trong tay! Ông xe ôm cũng thế, ông có thể trở thành một cộng sự viên đắc lực của ngành an ninh để đấu tố những kẻ nào dám nói xấu đảng, nói xấu bác Hồ, với ông, đây là một chiến công, mặc dù cho đến giờ ông không có nghề ngỗng gì, phải chạy xe ôm bởi cơ hội làm người của ông đã bị mất vì lý lịch “ngụy quân” của ông ta!

Đứng trên góc độ tạo ra hiệu ứng mê tín đảng và bao trùm không khí xã hội một thứ “hội chứng Cộng sản” thì rõ ràng là nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam đã rất thành công, không phải tốn xu nào vẫn tạo ra được hơn chín chục triệu đảng viên, trong đó có nhiều đảng viên không có thẻ nhưng lại có quyền lực đảng và yêu đảng hơn rất nhiều so với các đảng viên chính thức. Bởi với họ, sự giàu có, tài phiệt của họ hình thành là nhờ vào ơn đảng, ai đụng đến đảng là khó sống với họ!

Nhưng nhà cầm quyền Cộng sản, đảng Cộng sản quên mất một điều: Khi mà tấm thẻ đảng trở nên rẻ rúng, khi mà quyền lực đảng đã rơi vào tay tài phiệt và mafia, khi mà tính đảng không còn thiêng liêng như những ngày người ta chấp nhận đói khổ, rúc rừng, chịu sốt rét và bom đạn, cái chết để đi theo đảng… Thì lúc đó, cả một tập hợp đảng lại lúc nhúc những con vi trùng tội ác có thể làm cho cơ thể đảng nổ tung sau khi trương phình và tự hoại lẫn nhau. Đó là điều khó tránh khỏi trong lúc này!