Tuổi vào thu

Tuổi vào thu

Bản dịch từ bài: “JE CROYAIS QUE VIEILLIR…”của Marcelle Paponneau

Đỗ Đăng Cam (sydney)

Tuổi vào thu

Tôi cứ nghĩ tuổi già đầy nỗi sợ,
Sợ mùa sang, sợ năm tháng qua mau,
Sợ gió mưa, sợ tâm hồn băng hoại,
Sợ tóc phai màu, sợ cả nếp nhăn.

Nhưng nhận ra tuổi già không giới hạn,
Không muộn phiền còn đem lại nguồn vui.
Tôi chậm bước trên đoạn đường còn lại,
Hưởng ngày vui ngắn ngủi chẳng còn bao.

Tôi vẫn tưởng tuổi già trời ảm đạm,
Xuân thiếu hoa và vắng cả tiếng cười,
Hoa không nở và cây không nẩy lộc,
Sách không lời cầm bút chẳng ra thơ!

Chợt nhận ra tuổi già lòng lắng lại,
Sống hôm nay chẳng nghĩ đến ngày mai.
Thôi không đếm tuổi đời thêm chồng chất,
Mặc ngày qua, cầm bút họa thành thơ.

Tôi cứ ngỡ tuổi già hồn băng giá,
Quên đắm mình ngắm vũ trụ đầy sao,
Tim chai đá chẳng dấy lên ngọn lửa,
Cả bầu trời u tối phủ đời tôi!

Bỗng nhìn thấy những đóa hồng đẹp nhất,
Nở vào thu bằng đôi mắt reo vui,
Hít thật sâu ôi mùi hương tỏa nhẹ,
Ướp cho đầy hương vị Tuổi vào Thu.

“JE CROYAIS QUE VIEILLIR…”
của Marcelle Paponneau.
Je croyais que vieillir me rendait bien maus​sade,
Craignant chaque saison, les années, le tapage,
Le grand vent et la pluie, l’esprit qui se dégrade,
Les cheveux clairsemés, les rides du visage.

Et puis je m’apercois* que vieillir n’a pas d’âge,
Qu’ il ne faut point gémir, au contraire chanter.
Et même, à petits pas, les jours ont l’avantage
D’être beaux et trop courts quant il sont limités.

Je croyais que vieillir c’était le ciel tous gris,
Le printemps sans les fleurs, les lèvres sans sourire,
Les fleurs sans chansons, les arbres rabougir,
Un livre sans histoire, un crayon sans écrire.

Et puis je m’aperçois que vieilir rendre bien sage,
Que je vis chaque instant sans penser à demain,
Que je ne compte plus les anneés de mon âge,
Peu importe le temps, le crayon à la main.

Je croyais que vieillir transformerait mon âme,
Que je ne saurais plus contempler les étoiles
Que mon coeur endurci n’aurait plus cette flamme,
Qui transforme ma vie lorsque le ciel se voile.

Et puis je m’aperçois que les plus belles roses
Fleurissent à l’automne et sous mes yeux ravis,
Je respire très fort ce doux parfum que j’ose
Garder pour embaumer l’automne de ma vie.

Hầm chứa hạt giống chống tận thế dưới lớp băng Bắc Cực

 Hầm chứa hạt giống chống tận thế dưới lớp băng Bắc Cực
 
Một hầm ngầm hạt giống toàn cầu được xây dựng ở Bắc Cực để bảo vệ các loài thực vật trên thế giới tránh khỏi bị tuyệt chủng do biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, chiến tranh.
 
 
  
Theo CNN, hàng triệu hạt giống đang được lưu trữ trong một hầm ngầm, nằm sâu bên dưới lớp băng vĩnh cửu tại Svalbard, ở giữa Na Uy và Bắc Cực. Khu vực này nằm ngoài vùng ảnh hưởng của chiến tranh và nước biển dâng nên có thể bảo vệ hạt giống tránh khỏi những thảm họa môi trường. Ngoài ra, Svalbard có yếu tố địa chất ổn định, các chuyến bay diễn ra theo lịch trình thường xuyên, khiến nó tương đối dễ tiếp cận.
“Hầm ngầm được xây dựng vì sự sống còn của nhân loại. Nó giống như một nơi linh thiêng. Mỗi lần đến đây, tôi đều cảm thấy mình dường như đang đứng ở trong nhà thờ. Địa điểm này khiến chúng ta phải dừng lại và suy nghĩ”, Michael Koch thuộc tổ chức Trust Crop, nói.
 
  
Trong khung cảnh ảm đạm, mờ tối của mùa thu Bắc Cực, cổng ra vào hầm ngầm giống như viên ngọc quý nhô ra khỏi tuyết và băng. Nó được xây dựng bằng bê tông góc cạnh. Ở cuối đường hầm là một cánh cửa kim loại có khối lượng lớn, sáng lấp lánh, đằng sau nó là chìa khóa để bảo vệ nhân loại trong một thế giới “hậu tận thế”.
 
  
Hầm ngầm chứa 837.931 mẫu vật, ước tính khoảng 556 triệu hạt giống, được lưu trữ ở nhiệt độ không đổi -18°C nhằm bảo quản chúng khỏi hư hỏng. Lớp băng vĩnh cửu tạo thành một chiếc tủ lạnh tự nhiên. Ngay cả khi không có điện, nhiệt độ trong hầm sẽ dần ổn định ở mức -8°C, đủ thấp để duy trì chất lượng hạt giống suốt nhiều thập kỷ.
Người ta sẽ đóng gói cẩn thận các hạt giống vào một túi nhôm kín, dày ba lớp và khóa kín chúng vào thùng, trước khi vận chuyển đến hầm ngầm từ Nigeria, Ấn Độ, Mỹ, Peru và gần như mọi quốc gia khác trên Trái Đất.
 
  
Tại hầm ngầm, nhiều thùng trong tổng 2.291 thùng xếp chồng lên nhau làm từ nhựa màu xám hoặc đen. Chúng được gắn thẻ và đánh mã số để xác định ngân hàng gene nơi hạt giống gửi đến. Tuy nhiên, một vài thùng trên kệ kim loại nằm nổi bật ở giữa làm từ gỗ, với các nhãn màu, có nguồn gốc từ Triều Tiên.
 
  
Chức năng của hầm ngầm giống như khoản tiền an toàn gửi vào ngân hàng. Sau khi đặt vào bên trong, các thùng không thể bị mở ra cũng như loại bỏ bởi bất kỳ ai, ngoài cơ quan 
gửi hạt giống đến khi cần thiết.
 
  
Hồi đầu tháng này, hạt giống bên trong cái gọi là “Hầm ngầm tận thế” lần đầu tiên được mở cửa và rút bỏ một số hạt giống do hậu quả của cuộc chiến tranh Syria.
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông nghiệp tại Vùng Khô hạn (Dry Areas) đã phải chạy trốn khỏi căn cứ tại Aleppo, Syria tới Lebanon. Họ yêu cầu lấy lại rất nhiều hạt giống đã gửi trước đó để gieo trồng, tiếp tục những nghiên cứu quan trọng mà họ tiến hành trong nhiều thập kỷ qua.
 
  
Chủng loại hạt giống gửi đến lưu trữ ở hầm ngầm rất đa dạng, chủ yếu là cây lương thực, chẳng hạn như: ngô, lúa mì, lúa mạch, xà lách, khoai tây.
Nếu một loài bị tuyệt chủng trong tự nhiên do hạn hán, chiến tranh, lũ lụt thì đặc điểm di truyền trong hạt giống sẽ trở nên rất quan trọng. Bởi vì chúng ta có thể khôi phục lại loài này, ví dụ điển hình là loài lúa bản địa ở Australia có khả năng chống chịu sâu bệnh.

SỐNG Ý NGHĨA

SỐNG Ý  NGHĨA

Hãy chia nhau những gì mình biết 

Đừng khư khư ích kỷ giữ riêng

Mai chết đi sẽ bị thất truyền

Đời ý nghĩa là khi chia sẻ

Hãy cứ thương đi dù ai ghét 

Dù ai ganh, bôi bác thị phi

Thói đời vẫn vậy chấp mà chi

Đời ý nghĩa là khi tha thứ

Hãy giúp đỡ đi nếu có thể 

Đừng nề hà cân nhắc thiệt hơn

Cũng đừng mong ai đó trả ơn

Đời ý nghĩa khi làm thiện nguyện

Hãy cứ cho đi, đừng tiếc rẻ

Mai ta về chẳng thể mang theo

Thế gian biết bao kẻ khó nghèo

Đời ý nghĩa là khi cống hiến

      Thu & Mai gởi

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

RFA

Trước thông tin Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn giáo dục công dân và an ninh quốc phòng thành môn mới là công dân với Tổ quốc. Điều này đã gây ra những phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, đặc biệt là giới trí thức. Vì hầu hết mọi người đều cho rằng, Lịch sử là môn học rất quan trọng và cần phải được dành vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục hiện nay.

Tuy vậy, giải thích với báo chí ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, thông tin nêu trên chưa đầy đủ và chưa phản ánh đúng bản chất việc đổi mới giáo dục lịch sử trong chương trình phổ thông. Vì theo ông Nguyễn Vinh Hiển thì, ở bậc tiểu học môn Lịch sử vẫn học giống như hiện nay, nhưng kiến thức lịch sử sẽ nằm trong một số môn học khác trong môn Tìm hiểu xã hội. Còn bậc trung học cơ sở, thì môn Lịch sử được tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội và ở bậc trung học phổ thông, môn Lịch sử tiếp tục tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội. Không chỉ thế, môn Lịch sử sẽ được tích hợp trong hai môn học bắt buộc, đó là môn Giáo dục công dân & Giáo dục quốc phòng và môn Công dân với Tổ quốc. Với mục đích để giáo dục học sinh về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghệ thuật quân sự của cha ông.

Phản ứng của dư luận

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng vô cùng ngạc nhiên khi Bộ GD-ĐT không hề tham khảo ý kiến của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam khi xây dựng đề án này. Theo ông Dương Trung Quốc trong bối cảnh tình hình đất nước, láng giềng, khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay cho thấy vấn đề chủ quyền, hội nhập là rất hệ trọng. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta không thể lãng quên lịch sử, đánh mất mình. Do vậy, nếu muốn thay đổi thì cần làm hết sức cẩn trọng, không thể làm đơn giản như cách đặt vấn đề của Bộ GD&ĐT vừa qua.

Theo VTC News cho biết, tại Hội thảo khoa học “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15/11, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng môn Lịch sử được tích hợp trong môn Khoa học xã hội và Công dân với Tổ quốc ở cấp trung học phổ thông (THPT) là không thỏa đáng và thiếu cơ sở khoa học và sẽ khiến học sinh càng quay lưng với môn Lịch sử.

Được biết trong cuộc hội thảo này, khi nói về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử GS. Phan Huy Lê thấy rằng lịch sử là cội nguồn sức sống của dân tộc Việt Nam và nếu không có sự kế thừa những truyền thống của dân tộc thì làm sao những thế hệ hiện tại có thể viết tiếp những trang sử, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Theo ông, cách làm của Bộ GD&ĐTsẽ “khai tử” môn Lịch sử trên thực tế.

Không chỉ thế, Thượng tướng, PGS, TS Võ Tiến Trung, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định không thể đưa môn Lịch sử tích hợp với môn Giáo dục Quốc phòng. Vì theo ông Trung tích hợp môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh với các môn học khác trong cấp THPT là trái với quy định pháp luật của nước ta. Đồng thời, Giáo dục Quốc phòng – An ninh là môn học đặc thù cả về nội dung, phương pháp và hình thức, hơn 80% bài giảng mang tính trang bị kiến thức, kỹ năng thiết yếu để bảo vệ Tổ quốc, do vậy không thể tích hợp với môn học khác.

Ngày 16/11/2015, tại phiên chất vấn Chính phủ tại Quốc hội Đại biểu Lê Văn Lai (tỉnh Quảng Nam) cho rằng sai lầm về phương pháp sẽ dẫn tới sai lầm về kiến thức, nhất là kiến thức lịch sử trong thế hệ trẻ và sẽ không có chỗ cho sự khắc phục hoặc thiếu kinh nghiệm. Theo ông Lai thì cho rằng những vấn đề tưởng như nhỏ, nhưng thực chất lại không nhỏ, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể liên quan. Đại biểu Lê Văn Lai khẳng định: “Theo tôi, bất cứ sự phá vỡ lớn nào cũng có nguyên nhân từ sự phá vỡ hệ thống. Chứng minh cho nhận định này là vấn đề tôi vừa chất vấn thầy Bộ trưởng về cách dạy môn Lịch sử. Vì đơn giản hóa vấn đề, chỉ chú trọng tới giấc mơ tích hợp mà quên mất hệ lụy khác”.

Chủ quyền HS-TS không được đưa vào giáo khoa Lịch sử

Theo báo Người Đô thị, tại Hội thảo môn sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15.11 tại Hà Nội, GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho biết cách đây hơn chục năm, khi được tham gia viết sách giáo khoa, ông đã tha thiết đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng không được chấp nhận. Theo GS Ngọc, chỉ duy nhất trong sách giáo khoa lịch sử 10 (nâng cao) có một câu: “Kỹ thuật vẽ bản đồ cũng đạt được những thành tựu mới, trong đó đặc biệt là “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được vẽ vào cuối thời Minh Mạng đã thể hiện tương đối chính xác hình ảnh nước Đại Nam thống nhất, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài Biển Đông”. Mà theo ông, đấy dường như cũng là câu duy nhất nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong toàn bộ bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông (cả chương trình chung và chương trình nâng cao) tính cho đến thời điểm này.

Cũng theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết, Hội Khoa học lịch sử đã nhiều lần đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng từ năm 2012 cho đến nay sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn giữ nguyên như cũ, chưa có thêm một dòng một chữ nào về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa lịch sử phổ thông cho đến thời điểm hiện tại vẫn đang còn là con số không tròn trĩnh.

Theo GS Ngọc, trong SGK lịch sử có bảy bản lược đồ nói về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng cả bảy bản lược đồ này đều được hoàn thành từ lần xuất bản đầu tiên, không phải là bổ sung mới và không có bất cứ một lược đồ nào trực tiếp trình bày chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông hay các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Điều đáng nói là, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng sa (đã bị Trung quốc cưỡng chiếm toàn bộ) và Trường sa thuộc chủ quyền của Việt nam đã bị chính phía Hà nội làm ngơ, việc không đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông là bằng chứng cho thấy điều đó. Đây là hành động gián tiếp không thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, điều đó cho thấy chính quyền hiện nay đã “vô tình” tiếp tay cho giặc.

Cũng cần phải nhắc lại, vừa qua theo báo cáo của Ban Dân nguyện của Quốc hội thì cử tri của 28 tỉnh, thành phố đã kiến nghị và yêu cầu nhà nước tiến hành khởi kiện Trung quốc về chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Có hay không một âm mưu “đốt gia phả” của Dân tộc?

Lịch sử của dân tộc Việt nam với hơn 4.000 năm lịch sử luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, đó là những trang sử hào hùng của dân tộc với các chiến công đánh bại các cuộc xâm lăng của các thế lực bành trướng Trung Hoa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn bộ nền kinh tế và kể cả chính trị của Việt nam đã và đang gắn chặt vào Trung quốc và họ bị thao túng. Không chỉ thế, Trung quốc ngày càng tỏ ra lấn lướt và áp đảo Việt nam trong vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo hay bãi đá ngầm trên Biển Đông. Thậm chí họ không ngần ngại khi tuyên bố rằng toàn bộ chủ quyền hai Quần đảo Hoàng sa và Trường sa thuộc về Trung quốc từ thời cổ đại. Bên cạnh đó là các hành động cấm cản và đánh đập ngư dân Việt nam trong quá trình đánh bắt cá trên vùng biển truyền thống của mình. Vậy mà chính quyền Việt nam không dám ho he phản đối đích danh Trung quốc, chỉ dám gọi tên “tàu lạ” hay “nước lạ”, dù rằng đén nay có khá hơn đôi chút song vẫn không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế như Philippine đã làm và thu được kết quả ban đầu.

Thông qua chủ trương tích hợp môn học Lịch sử đã cho thấy, đây là một chủ trương từ âm mưu của lãnh đạo cấp cao nhất của ban lãnh đạo Việt nam, núp dưới danh nghĩa Nghị quyết Số: 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường”. Chứ cái đó có lẽ không phải là ý kiến đơn thuần của lãnh đạo Bộ GD&ĐT. Điều đó chứng tỏ ban lãnh đạo Việt nam đang bị một thế lực vô hình nào đấy ép buộc với mong muốn bức tử và thậm chí muốn xóa sổ lịch sử của dân tộc Việt nam ra khỏi chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Đồng nghĩa với việc họ muốn xóa bỏ truyền thống đánh giặc phương Bắc của ông cha ta trong quá khứ, điều được coi là mối nhục của thế lực bành trướng phương Bắc ngàn đời đã không xóa sạch được.

Điều này được chứng minh qua nhận định của GS.NGND Vũ Dương Ninh (ĐH Quốc gia Hà Nội), khi cho rằng: “Không phải đến thời điểm này mà một vài thập kỷ qua, môn Sử đã bị đối xử thiếu công bằng”. Mà theo GS. Ninh thì đây là những việc làm có tính toán kỹ càng và chủ đích. Theo đó, ban đầu vì lý do giảm tải, nên môn Lịch sử không còn được coi là môn thi chính thức trong chương trình thi tốt nghiệp phổ thông. Sau là tới, việc cho học sinh được phép lựa chọn thi ngoại ngữ hoặc môn Sử. Chưa hết, đến nay môn học Lịch sử lại được dạy tích hợp với các môn khác và kết quả cuối cùng thì môn Lịch sử đã dần biến mất khỏi chương trình giáo dục phổ thông. Dù rằng môn Lịch sử là một ngành khoa học có chức năng riêng biệt và vô cùng quan trọng. Theo ông, đây là điều hết sức đau xót.

Câu hỏi “Có hay không một âm mưu “đốt gia phả”?”, nghĩa là có hay không một âm mưu nhằm xóa bỏ lịch sử của dân tộc Việt nam? Đây là một câu hỏi hoàn toàn nghiêm túc, không mang tính chất cảm tính nhằm khiêu khích để kích động tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mà đây là điều có thật, đã và đang diễn ra một cách ráo riết hầu như để phục vụ cho một kế hoạch nào đó, sẽ diễn ra vào năm 2020 trong quan hệ Việt – Trung, mà lâu nay dư luận đang đồn thổi và nghi ngờ.

Bên lề hành lang Quốc hội, trả lời phỏng vấn báo chí nhà sử học Dương Trung Quốc đã góp ý rằng Bộ GD-ĐT cần hết sức thận trọng, nhưng theo ông dường như những người đưa ra ý tưởng và triển khai sự đổi mới này đang ấp ủ một âm mưu nào đó không rõ ràng. Vị Đại biểu Quốc hội này khẳng định: “Bộ GD-ĐT luôn lập luận không bỏ môn lịch sử nhưng theo tôi, đó chỉ là cách nói và đã khiến chúng tôi rất nghi ngờ”.

Cho dù, Đại biểu Quốc hội – nhà sử học Dương Trung Quốc không nói rõ ông nghi ngờ cái gì, vì ở thế của ông cũng không được phép nói ra một cách huỵch toẹt, nhưng ai cũng hiểu Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc muốn cảnh báo điều gì đối với dư luận xã hội?

Kết:

Nhiều người cho rằng, bỏ xem thường hoặc bỏ môn Lịch sử là tự chúng ta quay lưng với quá khứ, quay lưng với những kết quả mà cha ông ta đã dày công để xây dựng bờ cõi nước Việt Nam từ ngàn xưa đến hôm nay. Bạn nghĩ thế nào khi mà các chiến thắng lẫy lừng như Bạch Đằng giang, Chi lăng, Đồng đa… của cha ông chúng ta trước giặc bành trướng phương Bắc sẽ bị rơi vào quên lãng? Vậy mà có kẻ đang muốn tìm cách vứt bỏ những kỳ tích đó đi, họ muốn xóa bỏ quá khứ, thông qua việc xóa sổ môn học Lịch sử và coi vấn đề lịch sử của dân tộc Việt nam không có giá trị.

Trong một thời gian dài, nhà nước Việt nam luôn phát động và tổ chức các cuộc vận động họ tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, song có lẽ họ quên rằng ngay từ năm 1942, lúc cách mạng Việt nam còn trong trứng nước, khi nước nhà chưa được độc lập, cũng là khi ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đang còn hoạt động trong bóng tối. Tuy vậy, vào lúc đó ông Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử và coi đó là trách nhiệm của mỗi người công dân nước Nam. Ông đã từng viết trên Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942 rằng “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.” – (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002).

Xin được trích lại, với hy vọng những người có trách nhiệm mở to mắt ra mà nhìn cái họa sắp đến của dân tộc Việt nam.

Ngày 18/11/2015

© Kami

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015
Nguoi-viet.com

GARDEN GROVE, California (NV)Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam vừa công bố sẽ trao giải nhân quyền năm 2015 cho ba cá nhân đang sống và hoạt động trong nước, tại một cuộc họp báo ở Thư Viện Việt Nam, Garden Grove, hôm Thứ Bảy, 14 Tháng Mười Một.

Ba nhân vật được chọn trao giải năm nay là Hòa Thượng Thích Không Tánh, bà Hồ Thị Bích Khương, và bà Bùi Thị Minh Hằng.

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Ðại diện Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tại cuộc họp báo, từ trái, ông Ðỗ Như Ðiện, ông Nguyễn Bá Tùng, ông Ðoàn Thanh Liêm, và ông Lê Minh Nguyên. (Hình: Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cung cấp)

Ban tổ chức cho biết, ba nhân vật này được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam chọn từ một danh sách có 25 người được đề cử.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hòa Thượng Thích Không Tánh, tục danh Phan Ngọc Ấn, trụ trì chùa Liên Trì, quận 2, Sài Gòn, hiện đảm nhiệm chức vụ phó viện trưởng Hội Ðồng Ðiều Hành Tăng Ðoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kiêm tổng ủy viên Từ Thiện-Xã Hội. Hòa thượng cũng là một trong những thành viên sáng lập Hội Ðồng Liên Tôn Việt Nam.

Là một tu sĩ luôn quan tâm đấu tranh cho nhân quyền, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, Hòa Thượng Thích Không Tánh đã bị chính quyền CSVN liên tục đàn áp và trả thù.

Năm 1976, hòa thượng bị bắt đi tù cải tạo 10 năm vì đã can đảm gửi thư đến thủ tướng chính quyền Cộng Sản phản đối việc hủy bỏ quyết định miễn nghĩa vụ quân sự cho các tăng sĩ, vốn đã có từ thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Tháng Mười, 1992, hòa thượng lại bị kết án 5 năm tù giam và 5 năm quản chế với cáo buộc “lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại nhà nước” sau khi công an lục soát phòng của hòa thượng trong chùa Liên Trì và tịch thu bản sao nhiều ghi chép của Hòa Thượng Thích Huyền Quang.

Ðược trả tự do trước thời hạn vào Tháng Mười, 1993, hòa thượng vẫn tiếp tục các hoạt động phục vụ nhân quyền và xã hội.

Tháng Mười Một, 1994, hòa thượng lại bị công an bắt giữ khi đang quyên góp và phân phát vật phẩm cứu trợ cho nạn nhân lũ lụt miền Tây.

Ðến Tháng Tám, 1995, Hòa Thượng Thích Không Tánh và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ bị tòa án xử phạt mỗi người 5 năm tù với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Trong nhiều năm qua, hòa thượng vẫn tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động từ thiện, như tặng quà cho thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, cho bệnh nhi ung thư, cứu trợ các gia đình thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương, v.v… cũng như giúp đỡ cho các tổ chức xã hội dân sự trong nước có nơi sinh hoạt, hội họp, để đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Những nỗ lực nối kết liên tôn của hòa thượng đã tạo nên một nguồn sinh khí mới trong cuộc đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo hiện nay. Vì những hoạt động này mà rất nhiều lần hòa thượng bị công an và chính quyền sách nhiễu, thậm chí hiện nay họ đang âm mưu cưỡng chế để thu hồi mảnh đất nơi ngôi chùa tọa lạc, nhưng hòa thượng vẫn kiên cường tranh đấu, không hề nao núng, hoặc chùn bước.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một dân oan hai lần bị chính quyền địa phương cướp đất, phá nhà, và cơ sở làm ăn (năm 1989 và năm 1996), theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Bà từng đi khiếu kiện một cách vô vọng nhiều năm. Do hoàn cảnh khó khăn, bà phải xin đi “xuất khẩu lao động” ở Nam Hàn. Tại đây, trước cảnh các bạn công nhân bị áp bức và bóc lột, bà đã vận động đồng nghiệp đứng lên đấu tranh với chủ và bị chủ thù ghét, đối xử tàn tệ. Bà khiếu nại với văn phòng đại diện Việt Nam tại đây, nhưng họ lại thông đồng với chủ và yêu cầu cảnh sát cưỡng bức bà về nước.

Về lại Việt Nam vào năm 1999, bà tích cực tham gia các cuộc biểu tình của dân oan từ các địa phương tập trung về Hà Nội để đòi lại đất, chống tham nhũng, và đòi chính quyền thực thi nhân quyền và dân quyền.

Ngày 11 Tháng Năm, 2005, bà bị công an bắt và giam tại Hỏa Lò và truy tố ra tòa. Tại phiên tòa, bà đã khẳng khái phản bác hội đồng xét xử.

Bà được trả tự do ngày 11 Tháng Mười Một, 2005, và đến năm sau bà lại tham gia Khối 8406.

Là một thành viên tích cực của khối, bà đã viết khoảng 30 bài có nội dung phản kháng chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản. Bà còn in ấn nhiều tài liệu về dân chủ đem phân phát cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức và lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh. Ngoài ra, bà cũng đã giúp nhiều dân oan viết đơn khiếu nại gửi tới nhà cầm quyền hay đưa lên mạng.

Ngày 26 Tháng Năm, 2007, bà bị công an bắt tại thị trấn Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian bị giam, bà bị tra tấn rất tàn bạo, nhưng vẫn giữ vững khí tiết và tinh thần can trường hiếm thấy ở một người phụ nữ bình thường. Cuộc tranh đấu kiên cường trong lao tù đó đã được bà ghi lại trong tập hồi ký có tựa đề: “Bước đường đấu tranh cho công lý và dân chủ của tôi.”

Sau khi ra tù lần thứ hai vào ngày 26 Tháng Tư, 2009, bà vẫn tiếp tục tranh đấu. Bà bị công an quận Phú Nhuận, Sài Gòn, bắt và đánh bị thương nặng ngày 15 Tháng Sáu, 2010 khi trên đường đến thăm các bạn đấu tranh ở Sài Gòn. Ðầu năm 2011, bà lại bị bắt cùng với Mục Sư Nguyễn Trung Tôn khi hai người sao chép và phổ biến cuốn phim “Ðại họa mất nước.” Bà bị xử 5 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước.”

Hiện nay bà Hồ Thị Bích Khương còn đang ở trong tù và vẫn tiếp tục tranh đấu không ngừng để đòi quyền được đối xử tử tế cho mình cũng như cho bạn tù. Vì thế bà thường xuyên bị cai tù đánh đập và hành hạ.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền chịu đựng tới ba lần tù đày và nhiều lần bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Tuy thế, bà vẫn luôn giữ ý chí bất khuất cho lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền. Bà được tổ chức Human Rights Watch trao tặng Giải thưởng Hellman/Hammett năm 2011.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tuy xuất thân từ một gia đình có chức quyền trong guồng máy chính quyền Cộng Sản, bà Bùi Thị Minh Hằng đã sớm nhận chân được bộ mặt của chế độ khi khám phá ra rằng chính các quan chức địa phương đã phi pháp tiếp tay cho đảng viên cướp đoạt ngôi nhà của thân phụ để lại cho bà.

Từ năm 2011, bà đã hăng hái tham gia các cuộc biểu tình phản đối việc Trung Quốc xâm lấn lãnh hải Việt Nam và phong trào đòi dân chủ nhân quyền.

Ngày 27 Tháng Mười Một 2011, bà bị bắt tại Sài Gòn khi tham gia xuống đường yêu cầu Quốc Hội ra luật biểu tình. Bà bị đưa vào trại cưỡng bức lao động cải tạo trong hai năm tại Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc, mà chẳng qua thủ tục xét xử nào.

Do áp lực mạnh mẽ của dư luận, bà được trả tự do sau 5 tháng bị giam giữ. Tuy nhiên công an vẫn ngày đêm theo dõi, sách nhiễu, và trả thù bà một cách hèn hạ. Mặc dù vậy, bà vẫn kiên cường mạnh mẽ đấu tranh không lùi bước. Bà từ chối đóng tiền cho quỹ an ninh quốc phòng, làm đơn khởi kiện đích danh Chủ Tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, viết thư cho ngoại trưởng Hoa Kỳ, viết thư cho Quốc Hội, tố cáo những hành động phi pháp đối với bà,…

Bà Bùi Thị Minh Hằng còn có sáng kiến mở “Quán Thông Tin” trước nhà để phổ biến những thư khiếu kiện, những thư ngỏ của bà gửi đến các cơ quan có thẩm quyền.

Nhận ra rằng bà là một cái gai nhức nhối cần phải nhổ, là một dân oan kiên cường đấu tranh cho công lý cần phải triệt hạ, nhà cầm quyền Cộng Sản đã dàn dựng một “vụ gây rối trật tự công cộng” để bắt giam bà và một số người khác tại tỉnh Ðồng Tháp, khi họ đến thăm một người đấu tranh cho nhân quyền bị bách hại.

Ngày 26 Tháng Tám, 2014, bất chấp sự phản đối của dư luận, chính quyền Cộng Sản vẫn kết án bà 3 năm tù giam. Trong tù bà vẫn không ngừng đấu tranh. Bà đã tuyệt thực hơn hai tháng (kể từ ngày 2 Tháng Tư, 2015), và thường xuyên trò chuyện với chị em nữ tù nhân để gây cho họ ý thức sâu sắc về quyền con người. Hiện nay bà vẫn đang chịu cảnh tù ngục.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là một con người đấu tranh trên mọi mặt và có mặt khắp mọi nơi. Cần chống xâm lược, bảo vệ tổ quốc thì bà ở tuyến đầu, cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội. Cần chống cưỡng chế tước đoạt thì bà luôn đồng hành cùng với dân oan. Những người đấu tranh bị bắt vào đồn công an, bà liền có mặt đòi thả những người yêu nước. Bà Bùi Thị Minh Hằng là một chiến sĩ đấu tranh kiên cường và bất khuất cho nhân quyền.

Trở lại cuộc họp báo, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cho biết buổi trao giải năm nay sẽ được tổ chức tại Little Saigon, Nam California, vào ngày 11 Tháng Mười Hai, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67.

Giải Nhân Quyền Việt Nam do Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam thành lập vào năm 2002 và được tổ chức hàng năm nhằm tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động của những người đã chấp nhận hy sinh, kể cả mạng sống của chính mình, cho lý tưởng nhân quyền và dân quyền của người dân Việt Nam. Ngoài ra, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam còn nhằm bày tỏ sự liên đới, hậu thuẫn và quyết tâm của người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh giành lại quyền làm người cho mọi người dân Việt Nam.

Từ ngày thành lập đến nay, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tuyên dương và trao tặng Giải Nhân Quyền Việt Nam cho hàng chục nhà đấu tranh hàng đầu cho nhân quyền tại Việt Nam. (Ð.D.)

“Nhà nước đang nuôi báo cô nhiều công chức, viên chức”

“Nhà nước đang nuôi báo cô nhiều công chức, viên chức”

Ngọc Quang

(GDVN) – Ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nói thẳng như vậy khi trao đổi với báo chí về năng lực công chức, viên chức.

Theo kế hoạch dự kiến, Nhà nước sẽ tinh giản biên chế trên 296 nghìn cán bộ công chức, viên chức (tức là chiếm khoảng 10%) trong giai đoạn 2015 – 2021.

Tuy nhiên, vấn đề nhiều Đại biểu Quốc hội lo ngại hiện nay là liệu có chuyện “giảm chỗ nọ, phình chỗ kia” hay không? Thậm chí, đã có ý kiến chỉ ra rằng, số lượng cán bộ công chức, viên chức ăn lương nhà nước không những không giảm mà còn tăng lên thời gian qua, và các ngành đều có lý do chính đáng.

Theo ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nói thẳng rằng, không thể cào bằng như hiện nay mà phải tính lại cho đúng với năng lực thực tế của từng vị trí công việc. Nếu không làm được thì động lực phát triển trong bộ máy nhà nước bị triệt tiêu, đến một lúc nào đó người có năng lực sẽ chán và buông xuôi.

“Hiện nay, trong bộ máy nhà nước đang trả lương cho một bộ phận không làm gì, tức là nuôi báo cô. Nhưng đồng thời, chúng ta có tội với những người làm việc bằng 5 người khác đang làm”, ông Quyền nhấn mạnh.

Nguyen Dinh Quyen

Ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội) nói thẳng, Nhà nước đang nuôi báo cô rất nhiều công chức, viên chức. ảnh: Ngọc Quang.

Theo vị Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, muốn giảm biên chế hiệu quả phải đặt vấn đề trên tổng thể toàn hệ thống chính trị, chứ không chỉ ở bộ máy hành chính của nhà nước.

“Chúng ta đang cải cách bằng cách định biên, tức là làm rõ mỗi vị trí công tác thì công việc như thế nào? Trong một số ngành, tôi thấy đã định biên được, nhưng nhìn chung thì chưa định biên được nên dẫn đến giảm biên chế rất khó khăn.

Hơn thế nữa theo quy trình hiện nay, tinh giảm biên chế không dễ dàng một chút nào cả. Người ta vẫn làm việc, bây giờ, hiệu quả đánh giá năng suất lao động như thế nào, những tiêu chí, người có thẩm quyền, cách thức thực hiện ra sao, trình tự thủ tục vẫn rất mơ hồ”, ông Quyền nhận định.

Cũng theo ông Nguyễn Đình Quyền, việc phình biên chế trong cơ quan nhà nước trong nhiều trường hợp còn do ý chí chủ quan của người đứng đầu đơn vị.

Ông Quyền nêu thí dụ: “Tôi đã từng làm Vụ trưởng, lúc đó, tôi bảo chỉ cần 2 vụ phó thôi, nhưng thủ trưởng tôi bảo, không, anh phải cần 4 vụ phó.

Tôi chưa cần lấy thêm người thì ông thủ trưởng bảo cần lấy thêm người. Tức là người đứng đầu một đơn vị cũng không có thẩm quyền về biên chế, cán bộ.

Tính tự chủ đi đôi với tính tự chịu trách nhiệm, bởi vì người ta không tự chủ nên tính tự chịu trách nhiệm cũng yếu đi. Muốn tinh giản bộ máy Nhà nước hiện nay để lương cải thiện thì có quá nhiều việc phải làm và phải có bàn tay nào đó rất mạnh mẽ”.

Ông Nguyễn Đình Quyền cũng khẳng định, qua kinh nghiệm làm việc ở những cơ quan mà ông từng làm quản lý thì có thểm giảm được tới 40% cán bộ công chức, viên chức.

Ông Quyền dẫn chứng: “Có lần tôi đã từng nói, nếu tôi làm Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, tôi có thể thải được 40% cán bộ, công chức ra khỏi bộ máy. Nếu cho phép tôi toàn quyền.

Thực tế ở các vụ chuyên môn 1 người có thể làm việc bằng ít nhất 3 người, thậm chí có thể làm bằng 5 người. Một anh vụ phó dư sức làm việc của hai anh vụ phó và 3 anh chuyên viên cộng lại, nhưng không có cơ chế gì khuyến khích, thậm chí có khi làm càng nhiều lại càng phải va chạm. Đến lúc bỏ phiếu bình bầu thì có khi mất phiếu.

Do đó, quan trọng nhất hiện nay là phải tính được định biên, và đặc biệt phải giao quyền tự chủ cho người đứng đầu. Người ta đã ở trong bộ máy nhà nước lâu rồi, bây giờ nói sa thải rất khó. Cơ chế thải bằng cách nào là cả một vấn đề, chúng ta phải tính đến hậu quả pháp lý của vấn đề đó”.

Từ câu chuyện sử dụng cán bộ, ông Nguyễn Đình Quyền cũng chỉ ra sự bất cập trong cách tính lương của hệ thống cơ quan nhà nước.

“Thí dụ, tôi nói những doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế như dầu khí, điện lực, tại sao lương lại mấy chục triệu như vậy? Địa tô chênh lệch đó không phải do anh ta tạo nên mà do cán bộ nhà nước và do ngân sách nhà nước đầu tư cho anh tạo nên.

Ở các tập đoàn kinh tế, cán bộ công chức được nhà nước bỏ tiền ra đào tạo, ngân sách nhà nước bỏ tiền ra để làm các thủy điện, nhiệt điện hàng nghìn tỷ… Khi bắt đầu kinh doanh anh đã tạo ra địa tô chênh lệch 1, chênh lệch 2 thì ngành anh hưởng, cái đó là vô cùng bất hợp lý.

Hai người, một người vào bộ máy nhà nước thì hưởng lương như lương thứ trưởng của tôi hiện nay là khoảng 14 triệu đồng, một người tài năng chưa chắc hơn ai vào tập đoàn đó thì được hưởng lương 50 – 70 triệu đồng. Như thế hoạch định lương kiểu gì? Thế mà nó vẫn diễn ra”.

Có một vấn đề rất thời sự đó các cơ sở giáo dục, y tế đã được nhà nước đầu tư rất lớn nhưng thực tế người dân vẫn phải trả phí rất cao. Câu chuyện xã hội hóa đã được nhiều Đại biểu Quốc hội đề cập là tại sao luôn nói “xã hội hóa” mà không phải “tư nhân hóa”? Nếu tư nhân làm tốt thì nhà nước cũng cần khuyến khích tạo điều kiện, nhưng cơ chế chính sách hoàn toàn khác với “xã hội hóa”.

Nói về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Quyền cho rằng, trong dịch vụ lợi ích công của Việt Nam hiện giờ là thiếu minh bạch nhất, mà việc này sẽ tạo ra lợi ích nhóm.

“Sẽ có một nhóm hưởng lợi từ cái thiếu minh bạch đó. Cho nên, trong dịch vụ công đó phải tính đúng, tính đủ nhưng phải trên cơ sở tính minh bạch chứ không phải một nhóm người tạo ra định suất rồi áp vào người dân.

Ở đây, cơ quan có thẩm quyền phải phê duyệt cho từng định suất đó và phải tính trên mặt bằng trung bình của xã hội chấp nhận được.

Như vậy, nếu tính đúng, tính đủ, công khai minh bạch được thì đồng vốn của Nhà nước chi phí vào dịch vụ công đó sẽ minh bạch.

Thứ hai là công lao của đơn vị dịch vụ công đó và thứ ba là sự đóng góp của người dân. Ba thứ đó, mới tạo ra được dịch vụ công tránh được thất thoát, lợi ích nhóm”, ông Quyền phân tích.

N.Q.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Nha-nuoc-dang-nuoi-bao-co-nhieu-cong-chuc-vien-chuc-post163396.gd

Nỗi mặc cảm và bạo lực tràn lan

Nỗi mặc cảm và bạo lực tràn lan

RFA

VietTuSaiGon

Con người trở nên dữ tợn bởi con người đã quá sợ hãi. Con người trở nên bạo lực và man rợ bởi chưa bao giờ con người trở nên mặc cảm như hiện tại. Chính nỗi mặc cảm và sợ hãi đã làm cho con người không còn nghĩ được gì khác ngoài bạo lực.

Và đáng sợ nhất là chúng ta đang sống trong một đất nước mà nỗi mặc cảm và sự sợ hãi đã chi phối từng tế bào, chi phối từ người dân thấp cổ bé miệng cho đến hệ thống chóp bu chính trị. Và đằng sau sự mặc cảm, nỗi sợ hãi này sẽ là gì?

Để giải quyết câu hỏi trên, thiết nghĩ cũng nên đặt lại câu hỏi: Vì sao người Việt, nhất là giới trẻ trở nên dữ tợn? Vì sao người Việt sống mặc cảm nặng nề? Và vì sao nói rằng hệ thống công quyền Việt Nam là một hệ thống mặc cảm?

Trước tiên, phải nhìn thấy vấn đề tuổi trẻ Việt Nam trở nên dữ tợn là vấn đề có thật. Tuổi trẻ Việt Nam ở đây xin hiểu là đa phần, là xu hướng chung của giới trẻ chứ không phải là toàn bộ tuổi trẻ Việt Nam đều dữ tợn. Nhưng số đông với tính hiếu chiến, sẵn sàng xông vào đánh nhau vì một lý do thậm chí không phải là lý do đang là chuyện khá hot của tuổi trẻ bây giờ.

Và phải nói cho chính xác chuyện này nữa, phần đông, rất đông tuổi trẻ Việt Nam sợ công an. Sợ chứ không phải nể, bởi họ luôn biết rằng đụng phải công an thì nguy cơ chết chóc, nguy hiểm cho tính mạng là thấy trước mắt, chính vì vậy họ sợ phải đụng đến công an.

Và hầu như số đông tuổi trẻ không bao giờ quan tâm đến chính trị, thậm chí không quan  tâm cả nghệ thuật, văn chương. Vấn đề quan tâm lớn nhất của họ là làm sao để có tiền, dể mua chiếc điện thoại xịn, mua chiếc xe xịn, khá nữa thì mua miếng đất để dành. Chỉ có tuổi trẻ mới dám bất chấp luân lý, đạo đức để đứng ra cho vay nặng lãi, làm cò, bảo kê quán xá…

Điều này, dù muốn hay không muốn thì nó vẫn lột tả được cái xã hội mà những người trẻ đang sống. Một xã hội mang đậm bản chất mông muội, không có phương hướng bởi xã hội không tôn trọng pháp luật, không có pháp luật để tôn trọng, mạnh ai nấy lấn, mạnh ai nấy thắng, cá lớn nuốt cá bé.

Gần thì ông hàng xóm đông con uy hiếp bà hàng xóm góa bụa bằng cách này hay cách khác, lấn ông hàng xóm yếu thế hơn mình bằng kiểu này kiểu nọ. Xa hơn một chút thì chính cái kẻ mạnh trong xóm đó lại bị một kẻ khác mạnh hơn uy hiếp.

Những tay bảo kê, cho vay nặng lãi, sa tặc, lâm tặc và các loại tặc khác chỉ uy hiếp được những kẻ yếu để kiếm ăn, bù vào, bọn họ lại bị công an uy hiếp để kiếm ăn trên chính sự liều lĩnh của họ.

Trên một chút, các sếp công an lại uy hiếp đám lính lác, hằng năm cấp dưới phải chung chi, quà cáp cho cấp trên… Thế rồi cấp trên lại chunbg chi, quà cáp cho cấp trên nữa, cứ thế mà chung lên, chung mãi đến chóng mặt.

Bởi chung qui không có một điểm chung để nhìn, không có một hệ thống nguyên tắc chung để tuân thủ. Ví dụ như khi con người biết tôn trọng pháp luật bởi trên đất nước của họ có một hệ thống pháp luật chặt chẽ, có những qui chuẩn đạo đức đã được luật hóa và có những nguyên tắc hành xử  nhằm giữ những giá định đạo đức thông qua pháp luật…

Co` như vậy thì người ta sẽ không hành xử tùy tiện bởi người ta tin vào đạo đức, pháp luật và căn cứ trên đó để hành xử. Giả sử một người nào đó bị xâm hại bản thân, họ tin rằng pháp luật sẽ mang lại sự công bằng cho họ và họ nhờ đến tòa án, công an, chính quyền, bởi đây là những người mang lại sự công bằng và an ninh cho họ.

Nhưng, ở Việt Nam, nhờ đến chính quyền bất kì việc gì còn khổ hơn nhờ những kẻ ăn vạ. Chuyện bé xé cho to để vòi vĩnh. Chuyện cần gấp nhưng gọi điện thoại báo khẩn từ thứ bảy mà đến thứ hai mới thấy ló mặt đến để phán vài câu không đâu vào đâu. Riêng chủ nhật thì bọn họ đã tính toán để mà ăn phía nào cho dày, đè phía nào cho nặng.

Công an cũng vậy, đụng đến họ thì tốn tiền gấp bội so với thuê giang hồ đến giải quyết, giang hồ giải quyết vừa nhanh, vừa gọn mà lại không mè nheo lâu dài như công an. Ví dụ như có người bị kẻ khác uy hiếp, anh/chị ta chỉ cần nhờ một tay giang hồ đủ máu mặt đến để hoặc là cho kẻ ăn hiếp kia một bài học, hoặc là đe nạt kẻ cậy mạnh hiếp yếu. Gã giang hồ này làm rất nhanh gọn, nói rõ giá tiền trước khi làm hoặc trong trường hợp gấp quá thì gã làm trước tính tiền sau nhưng giá cũng không bao giờ bằng nửa giá phải chung chi cho công an. Đó là sự thật.

Với kiểu sống không có pháp luật, kẻ mạnh hiếp người yếu, quan chức hiếp dân đen đã tồn tại quá lâu trên đất nước này đã đẩy người dân đến chỗ sợ hãi tột cùng và mặc cảm tột cùng. Khi con người rơi vào trạng thái mặc cảm và sợ hãi tột cùng, phản ứng rất tự nhiên sẽ là tự phát huy bản năng cắn xé để tồn tại. Bất kì chuyện gì cũng đều được nói chuyện bằng bạo lực, bởi chỉ có bạo lực mạnh nhất mới tồn tại được trong xã hội đầy rẫy bạo lực.

Và hình ảnh những đứa trẻ bạo lực đường phố, học sinh bạo lực học đường, người lớn bạo lực với bất chấp chung quanh dòm ngó, công an bạo lực với người biểu tình… Mọi thứ đều có nguy cơ biến thành bạo lực và chết chóc… Điều này chỉ cho thấy rằng xã hội Việt Nam đã rơi vào trạng thái mặc cảm đến tận gốc rễ.

Kẻ mặc cảm nặng nề nhất trong xã hội này không phải là người dân thấp cổ bé miệng mà chính là hệ thống chóp bu quyền lực trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu nhìn bề ngoài họ sang trọng, hùng dũng bao nhiêu thì bên trong của họ lại chứa nỗi sợ hãi và mặc cảm từ nhiều phía. Họ thừa mặc cảm bởi tự thấy khả năng cũng như kiến thức của họ đã quá lạc hậu, không đuổi kịp thế giới tiến bộ, đặc biệt là không đuổi kịp tuổi trẻ.

Họ sợ hãi bởi vì xét về căn để, họ không có gì đủ mạnh để lãnh đạo đất nước ngoài sự cố chấp và khư khư những thứ lý thuyết mù mờ mà bản thân họ cũng không đủ tin cậy, khư khư ôm một cái xác chết để thần thánh hóa, để tự ma mị lẫn nhau mà cùng hưởng lộc, chia chác quyền lực. Nhưng họ cũng quá biết là họ không hề có quyền lực thực sự trong lòng nhân dân, quyền lực là do họ tự dựng lên và tự ép nhân dân vào chỗ phải nghe, phải tin, phải sùng bái họ.

Và trên hết là họ vẫn là những con người nhược tiểu so với đàn anh Cộng sản Trung Quốc, họ vừa phải trí trá với phương Tây để tồn tại, lại vừa phải khúm núm với đàn anh Trung Quốc để giữ độc tài, họ chưa bao giờ là một chủ thể độc lập. Chính vì không bao giờ có được độc lập nên họ chưa bao giờ đối xử một cách độc lập cũng như để cho ai đó có được độc lập. Đó là một thứ hiệu ứng dây chuyền trong tâm  lý mặc cảm. Càng mặc cảm, người ta càng đối xử lạnh nhạt, tệ hại và tàn nhẫn với nhau!

Với một đất nước luôn nặng tâm lý nhược tiểu và mặc cảm, từ hệ thống lãnh đạo trung ương xuống địa phương, từ quan chức cho đến thường dân, từ kẻ giang hồ cho đến trí thức đều mang nặng nỗi mặc cảm như vậy thì e rằng khó mà tiến bộ được. Nếu không muốn nói đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ tự hủy hoại lẫn nhau, kẻ ngoại xâm không cần tốn viên đạn nào vẫn có được một lãnh thổ trống trơn, lạnh lùng và chết chóc.

Đây là chuyện chắc chắn phải xảy ra nếu như chế độ Cộng sản độc tài tiếp tục tồn tại và con người tiếp tục quằn quại trong vũng lầy bạo lực, mặc cảm và nhược tiểu như đang thấy!

Myanmar thực hiện thành công cuộc cách mạng Dân chủ từ trên xuống

Myanmar thực hiện thành công cuộc cách mạng Dân chủ từ trên xuống

Thiện Tùng

Độc tài đối lập với Dân chủ. Độc tài đa dạng như Vua Chúa trị, Gia đình trị, Đảng trị, Quân đội trị. Dân chủ chỉ có một dạng, có khác chăng ở mức độ cao hay thấp, thật hay giả. Dân chủ, Đa nguyên chính trị là khuynh hướng thời đại. Điều đó nhiều quan chức lãnh đạo cấp cao của Đảng CSVN cũng đã nhận ra và ghi rõ ở điều 25 Hiến pháp hiện hành.

Cùng là thể chế chính trị Độc tài, Myanmar (Miến Điện) bế tắc trong thể chế độc tài Quân đội trị, còn Việt Nam cũng đang bế tắt trong thể chế độc tài Đảng CS trị. Giới cầm quyền Myanmar mạnh dạn, chủ động chuyển đổi từ Độc tài sang Dân chủ một cách êm thấm, còn giới cầm quyền Việt Nam chưa vượt qua được chính mình, không làm được như Myanmar, đang như gà con vướng tóc là do đâu ?

Chuyển đổi thể chế chính trị Độc tài sang Dân chủ có 2 cách: một là “từ trên xuống”, hai là “từ dưới lên”. Thực tế cho thấy, chyển đổi từ trên xuống (tự thân) đều diễn ra êm thấm như các nước Cộng sản Đông Âu hồi thập niên 90 hay Cuba, Myanmar gần đây. Chuyển đổi từ dưới lên khó tránh khỏi “nẹt lửa” giữa dân và nhà cầm quyền như đã và đang diễn ra ở một số nước Trung Cận Đông . Dưới thể chế Độc tài Đảng CS trị như Việt Nam và Trung Quốc, nếu đảng cầm quyền không tự giác chuyển đổi từ trên xuống, sớm muộn gì cũng phải đón nhận chuyển đổi từ dưới lên. Đó là điều bất hạnh đối với dân tộc nói chung, với đảng độc tài nói riêng.

clip_image002

Tổng thống Myanmar, ông Thein Sein vừa chúc mừng đảng ̣đối lập của bà Aung San Suu Kyi thắng lợi trong kỳ bầu cử vừa qua (90% phiếu sơ bộ).

Qua vụ bầu cử dân chủ ở Myanmar, có không ít người ước ao “Việt Nam cần một Aung San Suu Kyi để chuyển đổi thể chế chính trị từ Độc tài sang Dân chủ một cách êm thấm”. Ước ao như thế là phủ nhận thực tế: Hãy kiểm lại xem, ở Việt Nam ta, nhiều năm qua, đã và đang có quá nhiều người như bà San Suu Kyi, họ đấu tranh bất bạo động không biết mệt mõi, không chỉ bị quản thúc tại gia như bà San Suu Kyi, mà bị “Đảng ta” hành hạ và cầm tù vì cái tội yêu cầu chuyển đổi thể chế Độc tài sang Dân chủ.

Myanmar chuyển đổi thể chế Độc tài sang Dân chủ êm thắm, cái chính không phải do bà San Suu Kyi mà do trong bộ máy Độc tài Quân đội trị còn có những người cao thượng, với tinh thần độc lập tự chủ, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng hy sinh lợi ích cục bộ, cá nhân cho lợi ích cộng đồng dân tộc Myanmar, nổi trội là Tổng thống Thein Sein. Vậy là ở VN đã có nhiều tổ chức Xã hội Dân sự chưa được nhà cầm quyền công nhận (chỉ mặc nhận) và lắm người như bà San Suu Kyi, chỉ cần trong Đảng cầm quyền có những người cao thượng… như Tổng thống Thein Sein thì việc chuyển đổi từ thể chế Độc tài Đảng trị sang thể chế Dân chủ dễ như trở bàn tay? Rất tiếc ở Việt Nam ta, trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng cầm quyền chưa có người ngang tầm Thein Sein!

Dân chủ, đa nguyên chính trị là thể chế ưu việt mà nhân loại đang áp dụng và ngưỡng mộ. Việt nam không thể giữ mãi thể chế chính trị độc tài lỗi thời, sớm muộn gì tất yếu phải chuyển sang thể chế Dân chủ Đa nguyên. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam chuyển đổi theo hình thức từ trên xuống hay từ dưới lên? Chỉ có thể chọn một trong hai. Nếu chọn hình thức chuyển đổi từ trên xuống, đòi hỏi phải có ít nhất một người có vị thế trong Đảng CSVN mạnh dạn “thoát Trung”, dám nghĩ dám làm như tướng Thein Sein. Sức chịu đựng của con người bao giờ cũng có giời hạn, nếu chờ mãi “Đảng ta” không chịu chuyển đổi từ trên xuống, người dân phải dùng áp lực hay bạo lực chính trị chuyển đổi từ dưới lên. Như đã nói, chuyển từ dưới lên là việc cực chẳng đã, có thể dẫn đến bất hạnh không chỉ đối với người dân mà còn đối với cả Đảng cầm quyền.

clip_image004

Bà Aung San Suu Kyi đàm thoại với ông Tập Cận Bình

Khi có tin Myanmar tổ chức bầu cử, thiết lập thể chế chính trị Dân chủ Đa nguyên, công chúng tỏ ra mừng vui, và mong Việt Nam ta sớm có thể chế Dân chủ như ở Myanmar. Ước mơ là quyền con người phải được tôn trọng, nhưng sao tôi cảm thấy xót lòng, vì ước mơ ấy dù chính đáng đến đâu cũng khó trở thành hiện thực. Bởi vì, Đảng CS VN chưa hẳn chịu “thoát Trung”, vẫn khòm khòm bám lấy Đảng CSTQ làm lưng dựa để tiếp tục giữ địa vị thống trị của mình. Ở đây đó trong hàng ngũ lãnh đạo “Đảng ta” còn có người thiển cận, hẹp hòi, cục bộ cho rằng “thà mất nước còn hơn mất Đảng”. Lãnh đạo “Đảng ta” còn mùi mẫn hứa hẹn với “đồng chí phương Bắc” của mình: giữ chặt mối quan hệ song phương, vì “đại cục”, thực hiện 4 tốt và 16 chữ vàng. Và, ngoài việc cơ cấu con em của mình “nối ngôi”, Đảng CSVN còn tiếp tục gởi người sang Trung Quốc đào tạo để “nối nghiệp” những viên Thái thú Tàu vốn có trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam.

Con người khi mất hết hy vọng mang tâm lý hết muốn sống. Tại sao những người thất nghiệp, nghèo khó lại là những người vét tiền mua vé số? Họ mua hy vọng trúng số ấy mà. Cũng như, vì quá khổ với nạn Độc tài, khi thấy thể chế Dân chủ xuất hiện ở Myanmar người ta vẫn hy vọng, dầu đó chỉ là mơ ước xa vời.

17/11/2015

T.T.

Nhà nước Hồi giáo đe dọa tấn công thủ đô Hoa Kỳ

Nhà nước Hồi giáo đe dọa tấn công thủ đô Hoa Kỳ

VOA

Video của Nhà nước Hồi giáo đe dọa tấn công thủ đô Hoa Kỳ. Hiện chưa thể xác nhận được tính xác thực của đoạn video này.

Video của Nhà nước Hồi giáo đe dọa tấn công thủ đô Hoa Kỳ. Hiện chưa thể xác nhận được tính xác thực của đoạn video này.

Nhà nước Hồi giáo (IS) hôm nay tuyên bố rằng các nước tham gia vào các cuộc không kích ở Syria sẽ chịu chung số phận như Pháp, đồng thời đe dọa tấn công thủ đô Washington của Hoa Kỳ.

Đoạn video, xuất hiện trên một trang web thường được IS sử dụng để truyền tải các thông điệp của tổ chức này, bắt đầu bằng các hình ảnh về vụ tấn công khủng bố ở Paris hôm thứ Sáu tuần trước làm ít nhất 129 người chết.

Thông điệp gửi tới các quốc gia liên quan tới điều được gọi là “chiến dịch của kẻ thập tự chinh’ được một người đàn ông mặc quần áo rằn ri và đội khăn xếp được xác định là Al Ghareeb, công dân Algeria.

“Ta muốn nói với các nước tham gia chiến dịch thập tự chinh rằng, với sự chứng giám của Thượng đế, rồi sẽ đến lượt các người, theo ý của Thượng đế, sẽ giống như Pháp, và với sự chứng giám của Thượng đế, ta  đã đánh vào trung tâm nước Pháp ở Paris, và ta thề sẽ đánh vào trung tâm của Hoa Kỳ ở Washington”, người đàn ông trong đoạn video nói.

“Al Ghareeb” còn cảnh báo Châu Âu rằng sẽ xảy ra thêm các vụ tấn công khác nữa.

“Ta muốn nói với các nước Châu Âu rằng ta sẽ tới, mang theo bom mìn và thuốc nổ, đai đeo gài thuốc nổ, súng giảm thanh và các người sẽ không thể ngăn chặn ta vì ta mạnh hơn trước,” hắn ta nói.

Hiện chưa thể ngay lập tức kiểm chứng tính xác thực của đoạn video được coi là sản phẩm của các chiến binh Nhà nước Hồi giáo ở tỉnh Salhuddine của Iraq, nằm ở phía bắc Baghdad.

Trong khi đó, chính phủ Pháp coi các vụ tấn công ở Paris là một hành động gây chiến, và tuyên bố sẽ không ngưng các cuộc không kích vào Nhà nước Hồi giáo ở Syria và Iraq.

Hiện chưa thể xác nhận được tính xác thực của đoạn video này.

Nhà nước Hồi giáo hôm 14/11 đã tuyên bố nhận trách nhiệm gây ra các vụ tấn công làm hơn 120 người thiệt mạng ở Paris.

Trong một tuyên bố chính thức, tổ chức này nói rằng các chiến binh được trang bị súng máy và mang theo thuốc nổ đã thực hiện các vụ tấn công tại nhiều địa điểm đã được nghiên cứu kỹ lưỡng ở trung tâm Paris.

Theo IS, các vụ tấn công nhằm mục đích cho Pháp thấy rằng nước này vẫn là một mục tiêu hàng đầu nếu tiếp tục các chính sách hiện thời.
Tuyên bố nhận trách nhiệm được đăng trên mạng bằng tiếng Ả-rập và tiếng Pháp và được phổ biến bởi các ủng hộ viên của tổ chức khủng bố này.

Tuyên bố của Nhà nước Hồi giáo không cho biết quốc tịch của những kẻ tấn công, nhưng các hãng thông tấn dẫn lời các quan chức cảnh sát Pháp cho biết một hộ chiếu Syria đã được tìm thấy trên thi thể của một trong những kẻ đánh bom tự sát nhắm vào sân vận động quốc gia Pháp.

Theo Reuters, VOA

TÔI THEO ĐẠO TRỜI

TÔI THEO ĐẠO TRỜI

  1. Đạo Trời là gì ?

Đạo Trời là lòng tin tưởng một vị linh thiêng, tự hữu, toàn năng, toàn thiện, chí công, chí minh, ngự trên Trời; Đấng ấy gọi nôm là Ông Trời, là Tạo Hóa, là Thượng Đế, là Đấng Tối Cao, tùy tiếng nói của mỗi dân tộc.

  1. Tại sao nhận biết có Trời ?

Nhìn vào vũ trụ bao la, tinh vi huyền diệu, tôi nhận rằng phải có bàn tay tác tạo…

Ta xem một chiếc đồng hồ,
Nếu không có thợ, bao giờ thành thân,
Phương chi máy tạo xoay vần,
Tứ thời bát tiết muôn phần lạ hơn,
Nên ta phải lấy trí khôn,
Luận rằng có Đấng Chí Tôn sinh thành.
Con chim nó hót trên cành,
Nếu trời không có, có mình làm sao ?
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có thì sao có mình ?
Trời là gốc của vạn vật “Thiên giả vạn vật chi tổ” ( Trọng Thư )

  1. Những ai tin tưởng có Trời ?

Có thể nói rằng hầu hết nhân loại tin tưởng có Trời. Tính tự nhiên của con người, khi gặp nguy biến, đều kêu Trời ! Ca dao bình dân có bài:

Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nuớc tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm…

  1. Đạo Trời có phải riêng cho một nước nào không ?

Đạo Trời chung cho mọi nước, mọi thời. “Thiên giả vạn vật chi tổ” ( Trọng Thư ); Đạo sáng suốt là bởi Trời ban xuống “Minh Đạo chi bản nguyên, xuất ư Thiên” ( Khổng Tử ).

  1. Làm thế nào biết được Đạo Trời ở nơi mỗi người ?

Trời ban cho mỗi người có lương tri, lương tâm như ngọn đèn soi cho ta biết đâu là thật, đâu là dối, đâu là lành, đâu là dữ, đâu là phúc, đâu là tội, để ta lái mọi tư tưởng, hành động của ta sao cho hợp với đường lối của Trời. “Tri Thiên đạo, hành thân dĩ nhân nghĩa” ( Biết Đạo Trời thì ăn ở theo nhân nghĩa – Khổng Tử )

  1. Mỗi người phải giữ Đạo Trời thế nào ?

Phải cố gắng tìm cho thấy rõ Đạo Trời. Phải lấy Đạo mà hướng dẫn đời sống – theo lương tâm mà lấy điều thiện làm vui, lấy đạo lý làm trọng – phải nhớ luật của Trời làm lành sẽ được thưởng, làm dữ sẽ bị phạ “Thiên vọng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”. ( Lưới trời rộng, thưa mà không lọt đâu ).

  1. Bình thường, người ta thờ Trời như thế nào ?

Mỗi gia đình thường có bàn thờ trong nhà để thờ Trời và Ông Bà Tổ Tiên; có người xây trụ ở ngoài sân trước nhà, sớm tối vái lạy; thỉnh thoảng dâng hương nến, hoa quả để tỏ lòng tri ân.

  1. Đạo Trời dạy ta phải cư xử với nhau như thế nào ?

Trời là gốc, là cha mẹ sinh thành, thì phải coi mọi người là anh chị em với nhau và cư xử như một đại gia đình nhân loại, lấy tình thương mà bao bọc.

  1. Đạo Trời có từ bao giờ ?

Đạo Trời có từ khi Trời tác tạo ra con người có trí khôn biết suy luận, biết hướng về Trời, biết xem ý Trời thế nào mà hành động.

  1. Ý Trời thế nào ?

Ý Trời là lương tri, lương tâm, Trời đã đặt trong lòng mỗi người, khác nào hạt giống đặt vào đất, sẽ dần dần nẩy mầm vươn lên thành cây, sinh hoa kết quả, thế là đạt tới mức độ mà ý Trời mong muốn.

  1. Đạo Trời đưa người ta đến đâu ?

Đạo Trời đưa người ta về tới Trời. Trời là nguồn hạnh phúc vô cùng vô biên mà lòng người khao khát.

  1. Sống đạo Trời có dễ không ?

Dễ hay khó là tại mỗi người. E dè thì khó. Cương quyết thì dễ. Sống theo luơng tâm, làm lành lánh dữ. “Vi thiện tối lạc” ( làm lành thì rất vui ). “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông” ( Nguyễn Bá Học ).

  1. Trên đường thực hiện đạo Trời, người ta gặp những kẻ thù nào ?

Có ba loại: Một là ngay ở trong mình. Đó là tính mê nết xấu, dục vọng đê hèn… Hai là thế tục cám dỗ lôi cuốn đi vào sa đọa trụy lạc. Ba là Xa-tan ác quỷ, luôn tìm hại con người.

  1. Con người đối phó thế nào với 3 loại kẻ thù nói trên ?

Phải tự tu tỉnh và kêu cứu kịp thời:
a. Tự tu là sửa trị tính nết xấu, loại trừ những sâu mọt đục khoét trong mình
b. Tự tỉnh là tỉnh táo đề phòng, tránh xa những cạm bẫy do thế tục giương lên để bắt mình
c. Kêu cứu kịp thời và xin Trời hộ giúp để Xa-tan ác quỷ không hại được mình.
Kẻ lành thánh, người khôn ngoan nhờ 3 việc đó là lúc nào cũng vững như kiềng 3 chân. “Trời giúp kẻ tự giúp”.
Chim khôn xa tránh lưới dò,
Người khôn tránh chốn ô đồ mới khôn.

  1. Xa-tan ác quỷ ở đâu ra và mưu hại con người đến thế nào ?

Nó là một loài do Trời sinh ra, rồi vì tự kiêu tự đại mà phản bội với Trời, nên nó muốn phá việc của Trời, và không muốn cho con người trở về với Trời, vì như thế thì Trời được vinh hiển và con người được hạnh phúc thật. Xa-tan không làm gì được Trời, nhưng chỉ làm hại được con người bằng cách lôi cuốn dụ dỗ con người xa Trời, phản bội với Trời như nó. Người nào mắc mưu Xa-tan là đi đến chỗ tự sát và đồng khổ cực với nó sau này mãi mãi.

  1. Có ai thắng được Xa-tan ác quỷ chưa ?

Các bậc thánh nhân lấy Đạo Trời làm lẽ sống, luôn cậy dựa quyền năng của Trời, bền chí quyết giữ Đạo dù chết cũng không bỏ. Những vị đó đã thắng được Xa-tan.

  1. Đạo Trời từ xưa tới nay được công bố như thế nào ?

Lịch sử Đạo Trời là lịch sử nhân loại, vì Đạo Trời là đường lối để Trời đi xuống với nhân loại bằng cách tác tạo nên ta, và cũng là đường lối để nhân loại ta đi lên với Trời, đó là trở về nguồn chơn phúc vô biên mà ta khát vọng.

Đạo Trời được công bố bằng ba hình thức:

Hình thức thứ nhất là in sẵn vào tâm hồn mỗi người khi sinh ra. Đến tuổi khôn người ta nhìn thấy trong lòng mình ý nghĩa thế nào là lành, thế nào là dữ, đâu là phúc, đâu là tội, và khi làm trái lương tâm thì người ta thấy bứt rứt sầu khổ.

Hình thức thứ hai là đi vào lịch sử thực sự. Trời chọn một dân tộc, giao cho sứ mạng duy trì, phổ biến ý niệm về Đạo Trời, kêu gọi các dân tộc khác giác ngộ từ bỏ những tà thần mà Xa-tan đã bày đặt ra để lừa dối con người. Hình thức thứ hai này đã được thực hiện trong lịch sử dân Do Thái. Đạo luật của Trời xưa chỉ in trong lòng người thì đã được in vào bia đá trên núi Xi-nai và trao cho thủ lĩnh Mô-sê đem công bố cho dân một cách long trọng vào khoảng 1.250 năm trước Công Lịch.

Hình thức thứ ba tiếp tục lịch sử thực sự. Đó là việc Trời cử một Ngôi vị giáng trần, nhập thể làm một Con Người để sống với con người chúng ta, trực tiếp nói với nhân loại đường lối của Đạo Trời, và cho chúng ta biết Trời yêu thương ta như Cha yêu thương con, cùng dạy ta cách thức cầu nguyện thông hiệp với Trời. Ngôi vị Trời giáng trần đây chính là Đức Giê-su Ki-tô mà thân thế và sự nghiệp đã được lịch sử ghi nhận rõ ràng – và sự giáng trần của Ngài đã dựng nên một cái mốc phân chia lịch sử làm hai giai đoạn:
– Trước Ngài ( BC ): Tính từ Ngài lui về trước.
– Sau Ngài ( PC ): Tính từ Ngài cho tới nay.
Và cũng từ ngày Đức Giê-su Ki-tô di vào lịch sử nhân loại, Đạo Trời được sáng tỏ và mang thêm một tên mới là Ki-tô Giáo.

  1. Việc Đức Giê-su Ki-tô đến có lợi gì cho nhân loại ?

Lợi rất nhiều, rất lớn, rất cần thiết:

  1. Chính nhờ sự hy sinh của Ngài, nhân loại được Chúa Trời ( Thiên Chúa ) nhận vào hàng con cái và cho hưởng gia nghiệp Thiên Quốc nếu trung thành.
  2. Nhờ lời giáo huấn và gương sống của Ngài, ta biết được gốc ngọn của mình, biết được lẽ sống chân chính, biết được đường lối trở về với Chúa Trời.
  3. Nhờ sự trung gian của Ngài, nhân loại lại được giao hòa với Chúa Trời.
  4. Nhờ quyền năng, biểu hiện trong cuộc sống lại ( Phục Sinh ) của Ngài, cũng là nhờ Chúa Thánh Thần, nhân loại được ơn thiêng hỗ trợ để thắng các mưu chước của bè lu Xa-tan, để tiến tới Quê thật là Nước Trời.

Ai theo Đức Giê-su Ki-tô thì được sống hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là đồng nhất với Đức Giê-su Ki-tô, trong Chúa Thánh Thần, trở nên con chí ái của Cha trên Trời.

  1. Sự nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô còn tiếp tục trong nhân loại bằng cách nào ?

Vì Đức Giê-su Ki-tô là một Ngôi Trời giáng thế, nên sau khi hoàn thành sứ mệnh, Ngài về Trời. Nhưng sự nghiệp của Ngài cần phổ cập đến mọi người và trong mọi thế hệ, nên Ngài đã lập một hội đoàn để duy trì, phổ biến những chân lý về Đạo Trời cho kẻ hậu lai khỏi bị Xa-tan lừa dối mà thiệt phần vĩnh phúc chăng.

Hội đoàn mà Đức Giê-su Ki-tô để lại, đó là Hội Thánh, do các Tông Đồ kế tiếp nhau coi sóc. Vị Tông Đồ Trưởng gọi là Giáo Hoàng, là thủ lãnh thay mặt Chúa Giê-su lãnh đạo Hội Thánh. Thánh Phê-rô là vị Giáo Hoàng đầu tiên do chính Chúa Giê-su chỉ định; và vị Giáo Hoàng hiện tại, vừa mới về Trời, là Đức Gio-an Phao-lô đệ nhị, vị Giáo Hoàng thứ 265, coi sóc hướng dẫn Hội Thánh từ năm 1978 đến năm nay, 2005.

  1. Muốn học hỏi gia nhập Đạo Trời ( Đạo Thiên Chúa ), ta có thể căn cứ vào đâu và ta đến với ai ?

Căn cứ vào sử sách, vào uy tín và công cuộc của Hội Thánh đã thực hiện từ gần hai ngàn năm nay ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bộ sách Thánh Kinh gồm phần Cựu Ước ( Đạo Trời do Ông Mô-sê và các Ngôn Sứ ghi chép trước Chúa Giáng Sinh ) và phần Tân Ước ( Đạo Trời do chính Chúa Giê-su và các môn đệ đầu tiên ghi chép ): Là bộ sách được phổ biến rộng rãi nhất từ xưa tới nay. Nước nào cũng có Thánh Kinh, có sách Giáo Lý in bằng tiếng nước ấy, nên việc học hỏi Đạo đuợc dễ dàng. Còn việc gia nhập Đạo cũng được các vị đại diện của Hội Thánh chỉ bảo cặn kẽ và tiếp đón nồng hậu.

Dù nhiều khi bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị bách hại, Hội Thánh vẫn phát triễn bất chấp mọi trở lực, khiến con số giáo hữu ngày nay đã tới hàng tỷ người.

Xưa kia chỉ biết kêu Trời,
Ngày nay lại biết Chúa Trời là Cha.
Trần gian chưa phải là Nhà,
Thiên Đàng vĩnh phúc mới là chính Quê.
Chữ rằng “Sinh ký tử quy”,
Nghĩa là: “Sống gởi thác về đời sau”.

  1. Tại sao có người đang giữ đạo tự nhiên, ăn ngay ở lành, danh thơm tiếng tốt rồi, mà khi gặp Đạo Trời, lại tin theo ?

Vì Đạo tự nhiên thực ra cũng là Đạo Trời, nhưng ở giai đoạn sơ khai. Vả lại giữ Đạo có phải cốt cho được danh thơm tiếng tốt ở đời này đâu, nhưng là cốt làm đầy đủ đức hiếu thảo đối với Trời là Đấng sinh thành dưỡng dục và thưởng phạt người ta sau này. Vì thế khi gặp được Đạo Trời ở giai đoạn hoàn toàn trọn vẹn thì không thể không theo cho được.

Đức Giê-su đã ví Đạo Trời như viên ngọc quý giá đặc biệt mà một đời người chỉ gặp thấy có một lần, nên ai khôn ngoan thật đều dẹp bỏ hết các thứ khác kém cỏi để sắm cho bằng được thứ ngọc hảo hạng ấy. Những thứ ngọc khác đây có thể coi là luân lý tự nhiên mà các bậc hiền nhân quân tử như Đức Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Mặc Tử, Lão Tử ở Trung Hoa; như Socrate, Platon, Aristote ở Hy Lạp, như Đức Thích Ca ở Ấn Độ… đã theo luơng tâm thực hiện và phổ biến được phần nào trong lúc sinh thời, đó là những sứ giả tiền phong của Đạo Trời.

Bởi thế khi chính Đạo Trời được công khai xuất hiện trong lịch sử với sự giáng trần của Đức Giê-su Ki-tô, Con Trời hằng sống, thì vai trò của các sứ giả đương nhiên chấm dứt, và lòng người tất nhiên hướng về Đạo Trời là chỗ có Chân Lý hoàn toàn và Thiện Mỹ viên mãn vậy.

  1. Đạo Trời đối với Đạo Ông Bà Tổ Tiên thế nào ?

Không có Trời thì làm gì có ông bà tổ tiên, vì chính tổ tiên cũng nhờ Trời sinh Trời dưỡng, cũng do Trời đặt vào cái vũ trụ này, cho qua một cầu sinh tử dài lắm là ba vạn sáu ngàn ngày, rồi cũng từ giã cõi trần mà về tới Trời rồi, “sinh ký tử quy” là thế.

Đằng khác, chính đức hiếu nghĩa với tổ tiên cũng là do Trời in vào lòng ta, nên hiếu nghĩa là theo hướng Trời sắp đặt, nhưng không nên dừng lại ở tổ tiên mà phải đi xa hơn nữa, đến tận Trời mới là hiếu nghĩa vẹn toàn, mới là chính đáng, vì Trời mới là gốc tổ mọi loài, còn ông bà tổ tiên chỉ là những móc nối trung gian mà thôi.

  1. Có người nghĩ rằng theo Đạo Trời thì không cúng thực phẫm đồ dùng cho ông bà để ông bà đói khổ, vì thế mà có người tuy mến Đạo Trời, vẫn chưa dám trở lại. Nghĩ thế có đúng chăng ?

Lòng thương nhớ ông bà đã quá cố là việc tốt, nhưng nghĩ rằng vong linh ông bà còn cần cơm gạo bánh trái hay đồ dùng như khi còn sống thì không đúng, vì linh hồn thiêng liêng không cần vật chất như xác, nhưng cúng quảy thực phẩm như một nghi lễ để kính nhớ thì tốt. Việc hiếu nghĩa ta có thể làm là thành khẩn cầu xin với Trời mở lượng hải hà: nhất xá vạn xá, cho ông bà vào hưởng phúc với Trời sớm ngày nào hay ngày ấy, đó là thiết thực và cần cấp hơn hết.

Bên Công Giáo có việc cầu nguyện cho ông bà hằng ngày; mỗi năm lại dành hẳn một tháng để toàn thể thế giới hợp ý thỉnh nguyện cho nữa. Ngoài ra, các ngày kỷ niệm, tuần ba tuần bảy, tuần ba mươi, tuần trăm, giáp năm, hay giỗ đầu, giỗ năm của gia đình nào thì gia đình nấy hoặc cả Họ Đạo cùng đọc kinh cầu nguyện cho nữa. Cũng có thể tổ chức bữa ăn giỗ để phát huy tình cảm gia đình và gia tộc. Xét thế, theo Đạo Trời, con cháu rất là hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên.

  1. Có người biết Đạo Trời là cần cho mình, nhưng vì sinh kế bận rộn, vì còn muốn sống dễ dãi, ngại chịu khó, nên chưa dám trở lại Đạo. Nghĩ thế có được chăng ?

Đạo lý tối đại, sao lại coi rẻ thế được. Sinh kế chỉ là phương tiện nhất thời, chớ có phải là cứu cánh của con người đâu. Ta nên biết, con người lúc nào cũng nhờ ơn Trời, sao ta lại quên vị Đại Ân Nhân của ta là Trời. Nếu ta muốn sống bừa bãi ngoài kỷ luật của lương tâm, tức là ta tự giảm giá và tự đặt mình vào tình trạng nguy cấp luôn luôn, vì ta không biết mình chết lúc nào – và chết rồi phải bị phán xét ngay lúc ấy, hối cũng không kịp.

Biết Trời thưởng phạt sau này,
Muốn sau được thưởng thì rày phải lo.
Gắng công Trời sẽ giúp cho,
Đạo lành gây dựng cơ đồ mai sau.
Mọi sự ở trên đời,
Một mai rồi cũng hết,
Việc lành dữ mà thôi,
Sẽ theo ta khi chết…

PHỤ LỤC:

Ý kiến của những người trở lại Đạo Thiên Chúa:

  1. Ông Lục Trưng Tường, nhà ngoại giao Trung Hoa, từ nhỏ là môn sinh của sân Trình cửa Khổng và chỉ có biết đạo Ông Bà Tổ Tiên, sau đã gặp được Đạo Công Giáo như gặp được kho báu, đã trở lại và tiến xa trên đường Đạo, đã hiến thân làm Linh Mục. Ông nói: “Ơn Cứu Độ là chỗ tập trung tất cả các nẻo đường, là chỗ độc nhất mà đức hiếu của loài người được tiếp vào đức hiếu thảo siêu nhiên mà Đức Ki-tô đã dạy và đã cho chúng ta hưởng thụ để kết hợp tất cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên Trời”. ( x. The Ways of Confucius and of Christ )
  2. Ông Ngô Gia Lễ, tri phủ Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, miền Bắc Việt Nam ta, vì tiếp xúc với người Công Giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã học sách Phúc Âm, đã nhận được tính cách siêu việt của Đức Ki-tô, Con Trời giáng thế, ông đã trở lại để được tâm giao với Trời qua Đức Ki-tô. Ông nói: “Tôi đã đọc Phúc Âm một cách thành kính. Tôi nhận thấy Đức Ki-tô không phải chỉ là một nhân vật khác thường, Ngài chính là con Thượng Đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra trong Phúc Âm”. ( x. Ông Tổ Đạo Công Giáo )
  3. Ông Trịnh Sùng Ngộ, giáo sư triết học Đại Học Honolulu, nước Huê Kỳ, nguyên đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Vatican. Từ nhỏ đã sinh ra trong gia đình thấm nhuần tư tưởng Lão Giáo, Khổng Giáo và Phật Giáo. Sau khi ông trở lại ông đã giúp nhiều bạn hữu biết Đạo và đã đem hết tâm trí vào việc phiên dịch Thánh Kinh và Kinh Thi ra tiếng Trung Hoa. Ông nói: “Thiên Chúa Giáo là Đạo bởi Trời. Người ta lầm nếu cho đó là đạo của Âu Châu. Đạo dó không phải của Âu Châu hay của Á Châu, không cũ không mới. Tôi cảm thấy Đạo đó tiềm ẩn ở trong tôi một cách sâu đậm hơn cả Lão Giáo, Khổng Giáo, Phật Giáo là những đạo tôi đã hấp thụ khi sinh trưởng. Tôi biết ơn những đạo này vì đã làm đà đưa tôi đến với Đức Ki-tô. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được về với Đức Ki-tô để ở luôn với Ngài thật là vui sướng vô biên. Tôi đã nhảy vọt lên trên thời gian rồi. Từ nay sự sống động và bản thể của tôi đuợc đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa Ki-tô, tôi đã không thiệt mất gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện” ( x. Par delà l’Est et l’Ouest ).
  4. Ông Mashaba, một học giả Ấn Độ, sau 20 năm tìm tòi suy luận về Ấn Giáo, Khổng Giáo, Phật Giáo, Ba-la-môn Giáo, Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, Lão Giáo, Hồi Giáo, Thần Đạo ( của người Nhựt Bổn ), Tin Lành Giáo, ông đã phân tích như sau: “Sở dĩ mỗi tôn giáo có một công dụng khác nhau là vì mỗi Giáo Tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cách cứu giúp theo khía cạnh đó. Bởi thế, có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bình bác ái v.v… nhưng không tôn giáo nào được đầy đủ như Thiên Chúa Giáo, vì Đạo này xây dựng cho con người một cuộc đời biết xả thân vì tình yêu thương”.

Tưởng nhớ ông bà tổ tiên

Chương trình đơn giản khi cầu nguyện với tổ tiên bất cứ dịp nào:

  1. Thắp hương đèn trên bàn thờ
  2. Làm dấu hình Thánh Giá
  3. Nguyện Kinh Lạy Cha
  4. Nguyện: “Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ cho các đẳng linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen”.
  5. Dâng lời nguyện với tổ tiên: “Kính lạy anh linh các bậc tổ tiên ông bà nội ngoại…, hôm nay nhân ngày…, chúng con thắp nén hương bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn. Kính xin thương cầu nguyện cho chúng con được bình an mạnh khoẻ, được hòa thuận êm ấm và được mọi điều tốt đẹp như ý Thiên Chúa muốn…”

Nghi thức Lễ Cưới ở gia đình:

Ngày nay việc tổ chức đám cưới tại gia đình có thể diễn tiến theo nhiều dạng rất khác nhau. Tuy nhiên, trường hợp thông thường nhất vẫn là: sau Lễ Hôn Phối, nhà gái tổ chức mừng vu quy, và sau khi đón dâu về nhà, nhà trai tổ chức chúc mừng Lễ Thành Hôn. Nghi Lễ Vu Quy dưới đây cử hành khi nhà trai đến nhà gái đón dâu; nghi Lễ Thành Hôn cử hành khi cô dâu được đưa về nhà chồng. Nếu diễn tiến theo các cách khác, xin tùy nghi ứng biến.

  1. Nghi thức Lễ Vu Quy:

Vị chủ hôn bên nhà trai, chú rể và họ hàng từ nhà trai tới nhà gái, dừng lại ngoài cổng. Đại diện vào báo cho nhà gái ra đón mời vào. Rồi nghi thức như sau:
1. Nhà trai ngỏ lời, giới thiệu lễ vật.
2. Nhà gái đáp lời chấp thuận và xin đưa lễ vật đến bàn thờ gia tiên để làm lễ.
3. Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn. ( xem Lễ Gia Tiên tiếp sau )
4. Chú rể và cô dâu vào chào cha mẹ và họ hàng bên vợ.
5. Uống nước hoặc ăn tiệc.
6.   Cuối giờ, chủ hôn nhà trai xin đón dâu, nhà gái đáp lời ưng thuận…

  1. Nghi thức Lễ Thành Hôn:

Đoàn đưa dâu về nhà trai, nhà trai mời vào. Người mẹ chồng đón con dâu vào phòng nghỉ một lát rồi ra Lễ Gia Tiên. Nghi thức Lễ Gia Tiên như sau:
1. Nhà trai ngỏ lời chào mừng và mời tới trước bàn thờ gia tiên làm lễ.
2. Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn.( xem Lễ Gia Tiên tiếp sau )
3. Cô dâu chú rể chào cha mẹ chồng và họ hàng bên chồng.
4. Uống nước hoặc ăn tiệc.
5.   Cuối cùng, vị chủ hôn nhà gái gởi gắm, nhà trai giã từ.

Lễ Gia Tiên và cầu nguyện tạ ơn:

  1. Vị chủ hôn nói đại ý: “Kính lạy anh linh các bậc tổ tiên, nhờ phúc đức ông bà, tổ tiên, gia đình chúng con (hoặc nêu tên gia đình anh chị X… ) sinh hạ được người con gái ( hoặc con trai ) là… và đã giáo dục cháu nên nguời. Nay cháu được Chúa thương cho đẹp duyên cùng cháu… Chúng con xin đưa hai cháu đến trước bàn thờ gia tiên. Xin phép cho hai cháu được dâng nén hương bày tỏ lòng kính nhớ tri ân và thắp lên ngọn nến bày tỏ quyết tâm làm rạng danh tổ tiên và vinh Danh Thiên Chúa. Xin các bậc tiền nhân bầu cử cho hai cháu được trăm năm hạnh phúc, sống đẹp lòng cha mẹ họ hàng hai bên, chu toàn các trách nhiệm hôn nhân và gia đình theo đúng ý của Chúa Trời”.
  2. Cô dâu chú rể niệm hương: ( Một người đốt nhang sẵn và đưa cho cô dâu chú rể, cả hai cùng vái 4 vái ).
  3. Cô dâu chú rể thắp nến.
  4. Vị chủ hôn tiếp lời: “Giờ đây chúng ta hướng đến Thiên Chúa là nguồn gốc trên cùng của mọi gia tộc. Xin Ngài lấy tình Cha mà che chở gia đình mới… “Lạy Cha chúng con…”
  5. Đọc Lời Chúa: ( Ga 2, 1 – 11 )
  6. Cô dâu và chú rể cùng cầu nguyện: “Lạy Chúa Giê-su, xưa Chúa đã đến trong tiệc cưới Ca-na, ban ơn lành cho đôi bạn mới và gia đình hai bên. Nay qua Bí Tích Hôn Phối, Chúa cũng đã đến trong gia đình chúng con, chúng con xin dâng lời tạ ơn Chúa. Xin Chúa chúc lành cho cha mẹ chúng con, mỗi người trong gia đình và họ hàng hai bên, và toàn thể ân nhân bạn hữu. Xưa Chúa đã biến đổi nước thành rượu, ngày nay xin Chúa biến đổi tình yêu thương bé nhỏ giới hạn của chúng con thành tình yêu thương bao la và nồng thắm của Chúa. Xin cho gia đình chúng con biết tôn vinh Chúa, đem lại hạnh phúc cho nhau và niềm an ủi cho mọi người. Chúa hằng sống hằng trị muôn đời. Amen”.
  7. Kết thúc: Hát Kinh Hòa Bình hoặc một bài khác thích hợp…

Lm. NGUYỄN QUANG DUY, DCCT,
Gx. Long Hưng, Gp. Vĩnh Long, năm 2000, theo “Sứ Vụ Loan báo Tin Mừng”

http://www.trungtammucvudcct.com/web/bible.php?id=353

MAI MỐT ANH VỀ

MAI MỐT ANH VỀ

Song Như

Mai mốt anh về thăm lại xóm nhỏ
Không biết em còn có đó hay không
Nghe như nhức nhói ở tận trong lòng
Bao nhiêu thương nhớ trào dâng đâu đó…

Mai mốt anh về thăm lại cố hương
Chiều vương nắng nhạt nỗi sầu thê lương
Mây xa tim tím cày trên mái tóc
Đâu bóng ngày xưa chẳng thấy trên đường…

Mai mốt anh về thăm lại dòng sông
Nghe như sóng dậy chất ngất trong lòng
Phù sa lớp lớp tim côi nặng trĩu
Em ở nơi nào anh mãi nhớ mong…

Mai mốt anh về thăm lại mái tranh
Mẹ đã lìa xa từ khi vắng anh
Có ai hiểu được nỗi lòng xa xứ
Năm tháng tàn phai chốn cũ sao đành…

Mai mốt anh về thăm lại em yêu
Ngắm dáng người xưa buồn biết bao nhiêu
Bao ngày cách biệt sầu thương da diết
Gió nhẹ nhàng bay rụng lá rừng chiều…

Mai mốt anh về em đã đi đâu
Mưa rơi ướt áo mắt tươm lệ sầu
Nói sao cho hết nỗi niềm thương nhớ
Giữ kín trong lòng như chuyện mưa ngâu…

Liverpool.18-11-2015
Song Như

Những Tấm Lòng VÀNG