Café – Cao huyết áp – Stroke


CAFE -CAO HUYẾT ÁP – STROKE

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức, MD.

Trích Giáo sĩ Việt Nam số 257

Cafe

Hỏi

Một ly cà phê có bao nhiêu caffeine?

Bác sĩ vui lòng cho tôi biết, một ly cà phê có bao nhiêu chất caffeine. Lý do là tôi rất thích uống cà phê, nhưng đôi khi uống nhiều thì tim đập mạnh lắm. Một ngày uống 2 ly được không, bác sĩ?

– Mary Trần

Đáp

Thưa cô,

Số caffeine trong một ly cà phê thì tùy theo ly lớn hay nhỏ. Sau đây là lượng caffein trong một ly cỡ 180 phân khối:

– Cà phê bình thường: 115mg

– Cà phê bột tan ngay: 55-60mg;

– Cà phê đã lấy bớt caffeine: 2mg;

Ngoài ra:

– 180cc nước trà có 35-40mg;

– Cocoa: 5 mg caffeine.

– 260cc cola có 40-50mg;

– Bánh chocolate 28gr có: 25mg caffeine.

Theo các nhà chuyên môn, một ngày uống khoảng 3 ly cũng an toàn. Caffeine là chất kích thích thần kinh cho nên khi uống vào nó làm ta tỉnh táo đồng thời cũng khiến cho trái tim đập nhanh hơn và huyết áp cũng hơi tăng, nhưng sự tăng này chỉ có tính cách chốc lát, khi hết hơi cà phê trong người thì mọi sự trở lại bình thường.

Chúc cô tiếp tục enjoy hương vị thơm nồng nàn quyến rũ của cà phê.

Hỏi

Tôi là người bên Âu Châu mới qua Houston sống, có câu hỏi mong BS trả lời.

Bên này lấy nước từ vòi nước, rồi mình nấu lên uống có được không BS? Nước bên này nó lờ lợ, tôi đã hỏi người build cái nhà cho mình là uống từ vòi có được không, họ bảo được và họ thường uống thẳng từ vòi luôn không cần nấu, tôi đã uống theo nhưng thấy nó làm sao ấy.

Bên Âu Châu nước rất sạch và không có vị lờ lợ như bên này, BS bên ấy nói nước từ vòi rất trong lành và sạch không thua nước suối đóng chai, cho nên dân bên đó họ uống ngon lành, không cần mua nước suối.

Mong BS chỉ dẫn và trả lời cho tôi nhé, kính chúc BS sức khoẻ, tôi vẫn thường đọc những bài chia sẻ của BS trên báo.

Đáp

Thưa bà,

Trước hết, xin welcome bà tới Hoa Kỳ, đặc biệt là ở thành phố Houston nắng ấm đông  đồng hương người Việt mình và cũng có nhiều món ăn Việt Nam rất hấp dẫn, ngon miệng.

Về vấn đề nước uống từ vòi có an toàn hay không thì chúng tôi xin gửi tới bà cũng như độc giả tuần báo Trẻ, ý kiến như sau của cơ quan Natural Resources Defense Council

“In the short term, if you are an adult with no special health conditions, and you are not pregnant, then you can drink most cities’ tap water without having to worry.”

Dịch ra tiếng Việt là :

“Nếu là người trưởng thành không bệnh tật không mang thai thì có thể an tâm dùng nước từ vòi”

Theo cơ quan này, nếu nước đó có chứa chất có hại thì cũng chỉ với số lượng rất ít.

Theo các nghiên cứu, nước do thành phố cung cấp đều được kiểm soát thường xuyên về hóa chất cũng như vi sinh vật gây bệnh. Dân chúng có thể yêu cầu cơ quan cung cấp nước của thành phố gửi cho mình bản kết quả xét nghiệm nước, coi xem có điều gì gây trở trại cho tình trạng bệnh của mình.

Nước uống bên đây đều có một số chất như chlorine để tiêu diệt vi sinh vật, fluoride để phòng ngừa sâu răng cộng thêm một số chất khác như đồng, barium, nitrat, với số lượng rất ư là nhỏ cho nên đều được coi là vô hại. Bà thấy nước hơi lờ lợ thì có thể là do các hóa chất này. Uống lâu sẽ quen đi bà ạ. Bản thân chúng tôi cũng chỉ uống nước từ vòi. Bà có thể chứa vào bình nhỏ rồi để trong tủ lạnh, uống vào cũng mát, thoải mái lắm.  Mà lại cũng đỡ tốn tiền.

Một điều nên để ý là từ 20-30% nước chai đều lấy trực tiếp từ vòi, rồi được lọc lại và thêm vài hương vị riêng.

Nếu bà lại đun sôi trước khi dùng thì quá an toàn rồi.

Chúc bà vui vẻ hòa nhập với nếp sống ở vùng đất mới là Houston. Nếu có dịp mời bà lên Dallas-Fort Worth thăm viếng. Nơi đây người Việt cũng đông, dân chúng sống hiền hòa và các món ăn quê hương cũng rất ư là ngon.

Cao huyết áp – Stroke

Hỏi

Chồng cháu năm nay 47 tuổi, dạo gần đây thường bị cao máu (huyết áp cao).Chỉ số trung bình đo được là 136/90, và cao nhất có khi đo được là 145/100 và kèm theo triệu chứng choáng váng.

BS cho cháu hỏi có loại thuốc nào hoặc cách phòng tránh nào khi huyết áp lên cao để tránh đột quỵ?

Cháu xin cám ơn BS.

– Thúy Phạm

Đáp

Chào cô Thúy,

Cô không cho biết ông xã bị cao huyết áp bao nhiêu lâu rồi và đang điều trị bằng các dược phẩm gì, cho nên tôi xin trả lời vào câu hỏi của cô là uống thuốc gì hoặc cách nào để phòng tránh đột quỵ.

Đột quỵ, tiếng Anh gọi là Stroke, là trường hợp trong đó tế bào của não bộ đột nhiên không được tiếp tế dưỡng khí cần thiết cho các tế bào này.

Nguyên nhân thiếu máu là một mạch máu nào đó trên não bộ bị máu cục làm tắc nghẽn, ngăn cản sự lưu thông của máu hoặc mạch máu đó bị đứt đoạn, cắt sự lưu thông của máu.

Cao huyết áp là nguyên nhân chính đưa tới stroke. Lý do là khi huyết áp lên cao, thành mạch máu căng lên, lâu ngày đưa tới tổn thương đồng thời những chất béo cũng bám vào đó.

Ngoài cao huyết áp, cao chất béo cholesterol cũng là rủi ro gây ra stroke. Quá nhiều cholesterol trong máu sẽ khiến chúng đóng bám vào thành động mạch, đưa tới tắc nghẽn cản trở máu lưu thông.

Dấu hiệu báo động Stroke:

Bệnh nhân đột nhiên bị méo miệng, không cười được, cánh tay liệt xệ xuống, tiếng nói lơ lớ, lệch nửa người, nhức đầu, mất định hướng, mắt mờ…

Khi thấy các dấu hiệu chính, cần kêu 911 cấp cứu ngay. Bệnh nhân cần được điều trị cấp kỳ tại bệnh viện có trang bị các phương tiện riêng để trị stroke.

Để phòng tránh stroke:

1. Điều trị bệnh cao huyết áp, duy trì huyết áp ở mức càng gần với trung bình 120/80 càng tốt. Có nhiều loại dược phẩm công hiệu để điều hòa huyết áp. Cần uống thuốc liên tục theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. Không tự giảm hoặc ngưng thuốc khi thấy huyết áp ổn định, vì HA ổn định là nhờ uống thuốc.

2. Áp dụng chế độ ăn uống hợp lý: giảm chất béo, giới hạn muối, tiêu thụ nhiều rau, trái cây; không uống rượu.

3. Vận động cơ thể đều đặn giúp máu lưu thông bình thường, tránh mập phì.

4. Giảm cân nếu mập phì.

5. Không hút thuốc lá, vì nicotine làm mạch máu thu co, huyết áp tăng.

6. Giảm thiểu căng thẳng trong nếp sống, vì stress làm huyết áp lên cao.

Nếu áp dụng được mấy cách kể trên, tôi nghĩ là huyết áp sẽ giảm và nhờ đó có thể giảm rủi ro bị stroke. Cô cũng nên hỗ trợ tinh thần cho ông xã, nhắc nhở uống thuốc và chăm ăn uống cho ông xã nhé.

Chúc vợ chồng cô được mọi sự bình an.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

www.bsnguyenyduc.com

Tuyển tập Videos Sống Vui Sống Khoẻ

Vài hàng giới thiệu : Xin trân trọng giới thiệu tuyển tập Videos “Sống Vui Sống Khoẻ” của BS Nguyễn Ý Đức. Tuyển tập này là những bài nói chuyện hữu ích về y tế, dinh dưỡng và sức khoẻ của BS Nguyễn Ý Đức trên các đài truyền hình được đưa lên Internet. Cùng với bộ sách “Câu Chuyện Thầy Lang” và những ấn phẩm đã được xuất bản, những bài viết trên Internet, tuyển tập Videos “Sống Vui Sống Khoẻ” này sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu ích, đóng góp vào việc cải thiện vấn đề sức khỏe cho cộng đồng người Việt Nam khắp nơi.

http://www.youtube.com/user/DrNguyenYDuc/videos

Đức kiểm soát biên giới ngăn dòng di dân đổ vào

Đức kiểm soát biên giới ngăn dòng di dân đổ vào

Di dân lên một chuyến tàu trong vùng tại nhà ga chính ở thành phố Munich, Đức, ngày 13 tháng 9, 2015.

Di dân lên một chuyến tàu trong vùng tại nhà ga chính ở thành phố Munich, Đức, ngày 13 tháng 9, 2015.

Đức đang tạm thời khôi phục biện pháp kiểm soát hộ chiếu dọc theo biên giới của mình với Áo để hạn chế dòng di dân và người tị nạn đang đổ vào nước này.

“Mục đích của biện pháp này là để ngăn chặn dòng người hiện đang đổ vào Đức và quay trở lại một quá trình có trật tự,” Bộ trưởng Nội vụ Đức Thomas de Maiziere cho biết.

Đức và Áo gần đây đã đồng ý cho di dân nhập cảnh trong một nỗ lực nhằm giảm bớt số lượng người tập trung ở Hungary.

Cảnh sát Đức cho biết khoảng 12.200 người tị nạn đang xin được bảo hộ tị nạn tại Liên minh châu Âu đã tràn ngập thành phố Munich ở miền nam vào ngày thứ Bảy.

Trong một nỗ lực kiểm soát dòng di dân, giới chức đường sắt ở cả hai nước loan báo dịch vụ tàu lửa từ Áo tới Đức đã bị đình chỉ hôm Chủ nhật. Không rõ việc du hành theo hướng ngược lại từ Đức tới Áo như thế nào, một phát ngôn viên của công ty đường sắt Áo OeBB nói.

Hơn 430.000 di dân tìm kiếm cuộc sống tốt hơn, trong đó có người tị nạn từ Syria và Iraq, đã vượt Địa Trung Hải đến châu Âu trong năm nay. Gần 3.000 đã thiệt mạng trong hành trình này, theo Tổ chức Di cư Quốc tế.

Con số này đã nhích lên cao hơn vào Chủ nhật khi ít nhất 28 người bị chết đuối ngoài khơi Hy Lạp sau khi thuyền của họ bị lật.

Hàng chục người khác đã được cứu sống gần đảo Farmakonisi ở Biển Aegea phía đông nam.

CS Lũng Đoạn Cộng Đồng: Vô Phương

CS Lũng Đoạn Cộng Đồng: Vô Phương

Trên Việt Báo số ngày 02/09/2015, có một bài viết CSVN “Nỗ Lực Lũng Đoạn của Hà Nội tại Mỹ”. Bài viết cho biết để đánh bóng cho Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng công du Mỹ, và vận động cho CSVN vào Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái bình dương, Đảng Nhà Nước CSVN đã chi ra nửa triệu dollars cho CSIS (Center for Strategic of International Studies), trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, một nhóm chuyên gia “think tank” về kinh tế, chính trị và ngoại giao của Mỹ. Và CSVN ở Hà Nội cũng đã trả mỗi tháng 30 ngàn dollars cho Podesta Group, một công ty lobby [vận động] hành lang chính trị tại Hoa Thịnh Đốn, vừa để giúp đánh bóng bộ mặt Hà Nội, vừa vận động cho Việt Nam lọt vào được TPP, bất kể thành tích bất hảo về nhân quyền.”

Và Trung Cộng, theo tin của báo chí Pháp, nhơn khi TC tổ chức cuộc duyệt binh rầm rộ ngày 3/9 ở Bắc Kinh, Nhân dân Nhật báo, tiếng nói chánh thức của Đảng CS TQ cũng thuê nhiều trang báo ở ngoại quốc để vinh danh sự hy sinh của kháng chiến quân và nhân dân Trung Hoa, về chiến công của đảng Cộng sản, nhưng hoàn toàn im lặng về vai trò «đứng mũi chịu sào» của quân đội Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo.

Người Việt hải ngoại nhứt là người Mỹ gốc Việt ở Mỹ chiếm trên phân nửa tổng số ngưới Việt hải ngoại, không lạ gì cái trò ma mãnh, mua chuộc này trong tuyên truyền quốc ngoại của CSVN và CSTQ. Riêng CSVN có cả một nghị quyết do Bộ Chánh Trị của Đảng Nhà Nước là bộ chỉ huy có mười mấy đảng viên nhưng quyền cao chức trọng nhứt của Đảng Nhà Nước CSVN. Ngày 10 tháng 4 năm 2007 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 36 về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Ngân sách dành cho nghị quyết này không phổ biến vì là mật quỹ, bí mật dùng để đài thọ cho tuyên truyền đen trắng xám và công tác tình báo mua chuộc, bôi bẩn các nhân sĩ và dân cử gốc Việt. Nhưng chắc chắn là lớn lắm vì cái gì chớ việc đánh bóng để tuyên truyền thì CS xài tiền không cần đếm. Như Bà Nguyễn thị Bình đi dự Hoà Đàm Paris, mua cái khăn choàng mắc nhứt nước Pháp; Lê đức Thọ đi chiếc xe DS của Pháp, sang trọng, mắc tiền nhứt nước Pháp. Nhưng hiệu năng công tác thì chẳng ra gì, sau 3 năm công tác, bộ Ngoại giao CSVN dưới sự chủ toạ của người đứng đầu bộ này là ông Phạm Gia Khiêm đã tổ chức một hội nghị gọi là sơ kết ba năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ chính trị và chương trình hành động về công tác đối ngoại với người Việt Nam ở nước ngoài, kết quả chẳng ra gì, những người có trách nhiệm ngoại giao, mật vụ, tuyên truyền bị kiểm điểm nặng.

Thất bại nhứt là vần đề nhân quyền và quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ vốn là trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Washington và Hà nội. Với Nghị Quyết 36, không những biến hai trở ngại thành trở ngại trung tâm mà thành trở ngại không thể vượt qua được. Với Nghị Quyết 36, người Việt hải ngoại thấy bằng giấy trắng mực đen “ý đồ” rõ “ý đồ” của CS muốn thao túng, lũng đoạn, đối phó với người Việt hải ngoại theo kiểu đấu tranh giai cấp của CS: “địch và ta một mất một còn”. Nghị Quyết 36 nhiều lần dùng tư ngữ “lực lượng thù địch” để chỉ người Việt hải ngoại.

Định luật sinh tồn, căn cước tỵ nạn CS đòi hỏi, cùng một mối lo thúc đẩy người Việt liên kết lại để chiến đấu tự vệ chánh đáng trước cuộc gây hấn của CS. Cách kết hợp của các đoàn thể tôn giáo, chánh trị, văn hoá, xã hội của người Việt sống trong chế độ tự do, dân chủ ở hải ngoại khác với CS như trắng và đen. Người Việt hải ngoại việc ai nấy làm, đoàn thể ai nấy giữ trong sinh hoạt bình thường của thực thể mình. Nhưng tất cả những đường đi nuớc bước của các thành tố của công đồng đều đứng chung trên một mẫu số chung, như đường local vào xa lộ khi có chuyện lớn. Đó là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Đó là một cách nói mới hợp xu thế thời đại nhưng căn cơ, nồng cốt vẫn là chống CS, giải thể CS. Vì nơi đâu có tự do, dân chủ, nhân quyền là không có CS. Vì tự do, dân chủ, nhân quyền là khắc tinh, huỷ thể của CS.

CS bản chất, bản tánh độc tài đảng trị toàn diện nên không hiểu tinh lý của tự do, dân chủ, nên tuyên truyền chê người Việt hải ngoại cộng đồng, đoàn thể chia đôi, chia ba. Họ không hiểu tinh lý của tự do, dân chủ là tuy hai nhưng là một (out of many, one). Nhờ vậy mà dân chủ có sức mạnh kết hợp luôn luôn mạnh mẽ, sáng tạo và bền vững hơn thống nhứt theo kiểu kim tự tháp thời độc tài chuyên chính vua chúa hay độc tài phác xít, Đức quốc xã và CS.

CS nói lớp già xuất thân từ VN Cộng Hoà theo ông theo bà chết hết thì người Việt hải ngoại hết đấu tranh. Một sai lầm rất lớn. Sự thật và xu thế của thế hệ 1 rưởi, 2 đang kề vai gánh vác việc chung của cộng đồng do phụ huynh để lại. Hầu hết những đại diện dân cử Mỹ gốc Việt và số dân biểu, nghị sĩ tiểu bang, liên bang đơn vị bầu cử ngay hay gần cộng đồng người Mỹ gốc Việt là ủng hộ cuộc đấu tranh, và tham gia đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN một cách bền vững và tích cực – có tăng số người chớ không có giảm. Yêu nước, thương dân, yêu mến, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền không có trẻ hay già.

Quốc kỳ VNCH nền vàng ba sọc đỏ không còn pháp nhân công pháp mà vẫn được cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố Mỹ công nhận là di sản, là biểu tượng của cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của người Mỹ gốc Việt. Một em bé học tiểu học ở Mỹ thấy cô giáo giở sách giáo khoa Mỹ chỉ cờ đỏ sao vàng là cờ VN, em ấy nói “no” với Cô, và khi về nhà thưa với ba má vào trường giải thích cho Cô biết. Ba má báo động và cộng đồng vào trường trình bày, tặng cho trường cờ VN nền vàng ba sọc đỏ thì trường không sử dụng cờ CSVN nữa. Riết rồi CSVN dù có bang giao với Mỹ nhưng chỉ treo ru rú như gián ngày trong khuông viên sứ quán và lãnh sự thôi.

Còn CSVN và TC tưởng “nén bạc đâm toặc tờ giấy”, dùng tiền triệu Đô la, mướn báo Mỹ đăng bài cậy đăng, mua chuộc các cơ sở sưu khảo nâng bi, đánh bóng lãnh đạo Đảng Nhà Nước CS đến thăm hay nói chuyện khi công du Mỹ. Nhưng kết quả như quăng tiền qua cửa sổ. Ở nước Mỹ thừa mứa thông tin, nghị luận trên truyền thông đại chúng, đọc không hết, nghe xem không kịp, ít có ai bỏ thì giờ xem những bài cậy đăng trả tiền.

Người Mỹ gốc Việt ở Mỹ đa số là những thành phần ưu tú của VNCH tỵ nạn CS ra hải ngoại, nên hiểu được sự vận hành của nền dân chủ đại diện, của những người đại diện dân, nhứt là những nghị viên, dân biểu, nghị sĩ ở trong vùng có cộng đồng Việt. Người Việt hải ngoại vận dụng tối đa sức mạnh của dân chủ. Ra ứng cử, ủng hộ người có lập trường giống mình, không phân biệt sắc tộc. Vì thế cả chục tiểu bang, cả trăm thành phố đại diện cho phân nửa dân số Mỹ thừa nhận quốc kỳ VN nền vàng ba soc đỏ. Hạ Viện liên bang Mỹ hơn ba lần thông qua Nghị Quyết, luật Nhân Quyền VN có kèm chế tài với viên chức CS vi phạm; qui vị dân biểu liên bang Mỹ còn tổ chức thành một tập hợp gồm một số vị đấu tranh cho nhân quyền VN. Nhờ vậy xảy ra rất thường, rất nhiều các cuộc điều trần chất vấn về nhân quyền VN.

Thế nên khi Tổng Bí Thư Nguyễn phú Trọng của CSVN, một số dân biểu như nữ Dân biểu Zoe Lofgren, đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối Tổng Thống Obama đã tiếp đón Trọng, khi mà Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp Nhân Quyền. Bộ Ngoại Giao phải trả lời việc CSVN vào được TPP hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào lãnh vực, có tôn trọng Nhân quyền hay không

Khi Ô Đại sứ Ted Osius tạo thành một xì can đan, không xuất hiện nơi có quốc kỳ VN sợ mất job. Một nữ công dân Mỹ gốc Việt bị lột dây đeo có quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ trong một cuộc gặp gỡ của Ted Osius. Dân cử Mỹ và gốc Việt gởi thơ phản đối với Bộ Ngoại Giao và có tin đang nhờ luật pháp điều tra coi ai đã xâm phạm quyền tự do phát biểu hiến định của nữ công dân Mỹ gốc Việt này.

Những điều trên cho thấy CSVN vô phương dùng tiền bạc mua chuộc báo chí, lợi dụng bang giao với Mỹ để thao túng hay lũng đoạn cộng đồng người Việt hải ngoại./.

Vi Anh

 

Tham nhũng ở Việt Nam vẫn thế: Nghiêm trọng nhưng bất lực

Tham nhũng ở Việt Nam vẫn thế: Nghiêm trọng nhưng bất lực

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Trong báo cáo về tham nhũng năm nay, chế độ Hà Nội thú nhận tham nhũng vẫn nghiêm trọng, diễn ra ở tất cả các ngành, các cấp nhưng số vụ tham nhũng bị phát giác lại giảm!

Đồ họa của tờ Tuổi Trẻ đưa trên báo cáo về tham những của chính phủ
Việt Nam năm 2015. (Hình: Tuổi Trẻ)

Khi thay mặt chế độ Hà Nội trình bày về báo cáo vừa kể trước Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội, ông Trần Đức Lượng, phó Tổng Thanh Tra Chính Phủ, thú nhận, kỷ cương, kỷ luật ở nhiều ngành còn buông lỏng, việc phòng-chống tham nhũng còn hình thức, hiệu quả thấp. Đồng thời “vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh tham nhũng khi thực hiện một số chủ trương, chính sách lớn như: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu và hoạt động tín dụng của một số tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại, hoàn thuế…”
Ông Nguyễn Văn Hiện, chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội CSVN, nhận định, tham nhũng vẫn nghiêm trọng nhưng số vụ tham nhũng bị phát giác lại giảm đi, rõ ràng là chuyện rất đáng chú ý. Còn ông Nguyễn Đình Quyền, phó chủ nhiệm của ủy ban vừa kể thì nói thẳng, cần phải xem lại hiệu quả hoạt động phòng-chống tham nhũng, đặc biệt là cơ quan chuyên trách về phòng-chống tham nhũng.

Một phó chủ nhiệm khác của Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội CSVN tên là Lê Thị Nga, yêu cầu chính phủ phải nêu đích danh các bộ, ngành, địa phương đã thực hiện tốt hoặc chưa tốt việc phòng-chống tham nhũng vì Quốc Hội của chế độ từng yêu cầu báo cáo về phòng-chống tham nhũng phải cụ thể.

Dựa vào báo cáo mà thanh tra chính phủ cung cấp, bà Nga yêu câu thăm dò ý kiến của dân chúng và doanh giới về 11 bộ, ngành, địa phương tự cho rằng tham nhũng ở những nơi đó không nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng.

Bà Nga cũng yêu cầu nhà cầm quyền trung ương Hà Nội phải giải thích tại sao trong khi có đến 63 tỉnh, thành phố và khoảng 30 bộ, tính ra gần cả trăm đầu mối nhưng chỉ có 19 đầu mối báo cáo về việc phòng-chống tham nhũng.

Ông Nguyễn Công Hồng, cũng là phó chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội Việt Nam như ông Quyền và bà Nga thì nhận định, trước đây, phòng-chống tham nhũng không hiệu quả thì cho rằng tại… cơ chế, gần đây thì đổ tại… thể chế nhưng theo ông, vấn đề không nằm ở đó mà nằm ở chỗ, các giải pháp mà chính phủ để ra chỉ nhằm… phòng ngừa, trong khi lẽ ra phải có các giải pháp tấn công tham nhũng!

Ông Trương Trọng Nghĩa, một đại biểu của Quốc Hội thì yêu cầu nhà cầm quyền trung ương báo cáo cặn kẽ với Quốc Hội việc mua các ngân hàng thương mại với giá 0 đồng trong thời gian vừa qua. Ông Nghĩa cảnh báo, các ngân hàng đó là của một số ông chủ tư nhân. Họ điều hành kém, thua lỗ, mất sạch vốn đầu tư là chuyện của họ nhưng chính phủ không cho phá sản mà mua lại với giá 0 đồng (quốc hữu hóa). Quốc Hội cần phải biết những ngân hàng này đã làm mất bao nhiêu tiền mà dân chúng gửi vào, những khoản tiền đó chảy đi đâu và chính phủ Việt Nam sẽ lấy tiền từ đâu để trả thay? Có tham nhũng từ chuỗi ngân hàng thua lỗ – phá sản này hay không?

Chín năm trước, Việt Nam ban hành Luật Phòng-Chống Tham Nhũng. Từ đó đến nay, tham nhũng nghiêm trọng hơn. “Trọng tâm” của công việc phòng-chống tham nhũng ở Việt nam trong năm tới là… chuẩn bị sửa Luật Phòng-Chống Tham Nhũng. (G.Đ)

Pháp: Vì sao di dân không được thương cảm như thuyền nhân Việt 1979 ?

Pháp: Vì sao di dân không được thương cảm như thuyền nhân Việt 1979 ?

Thụy My

media

Tị nạn và thuyền nhân đổ vào đảo Lesbos, Hy Lạp, ngày 10/09/2015REUTERS

Trước làn sóng người nhập cư đổ vào châu Âu hiện nay, người Pháp vẫn có tâm lý e ngại, thờ ơ, cho đến khi những hình ảnh thương tâm của em bé Syria chết đuối đánh động được dư luận. Tâm lý này tương phản với phong trào cứu vớt thuyền nhân Việt Nam vào cuối thập niên 70.

Vào thời kỳ đó, một phong trào đầy cảm động đã nổi lên ở nước Pháp và nhiều quốc gia phương Tây khác, nhằm cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân chạy trốn chế độ cộng sản Việt Nam trong các điều kiện bi thảm, và cả người Cam Bốt, người Lào.

Vô số hình ảnh những con tàu nhỏ bé trôi dạt trên Biển Đông được phổ biến rộng rãi, đã thức tỉnh lương tâm mọi người. Những hình ảnh này cũng giống những gì thấy được trên báo chí trong mấy tháng gần đây : những ánh mắt hoảng loạn, những thân người kiệt sức, chen chúc trên những con tàu thô sơ ở Địa Trung Hải.

Nhưng bối cảnh rất khác nhau. Nước Pháp vào lúc ấy với tỉ lệ thất nghiệp thấp (chỉ 3,3%, còn nay là 10%), đã nhiệt tình đón tiếp. Hơn nữa người Việt và người Cam Bốt đến từ Đông Dương thuộc Pháp cũ, biết được ngôn ngữ và ít nhiều thấm đẫm văn hóa Pháp, trong khi di dân hiện nay đa số là người Hồi giáo.

Đặc biệt là sự dấn thân ngoạn mục của giới trí thức Pháp thời ấy, cả cánh tả lẫn cánh hữu, từ nhà văn đồng thời là nhà triết học nổi tiếng Jean-Paul Sartre cho đến Raymond Aron – nhà báo kiêm nhà sử học, triết gia, chính khách.

Cuối năm 1978, tàu Hải Hồng chở 2.500 người Việt Nam đã đến được Malaysia nhưng bị đẩy ra, phải trôi dạt 45 ngày trên biển từ bến này sang bến khác, đã gây xúc động lớn. Các nhà báo quay phim những cảnh khốn khổ của thuyền nhân trên tàu trong đó có nhiều trẻ em: thiếu thức ăn, nước uống, thuốc men, trốn tránh ánh nắng đổ lửa dưới những tấm bạt rách nát. Cuối cùng, các nước châu Âu quyết định tiếp nhận những người Việt tị nạn này.

Bị chấn động trước số phận chiếc tàu vô tổ quốc, và thảm kịch của những người mà người ta bắt đầu gọi là « boat people », nhiều nhân vật tiếng tăm của Pháp tập hợp xung quanh bác sĩ Bernard Kouchner và triết gia André Glucksmann, năm 1979 đã quyết định tung ra chiến dịch « Một con tàu cho Việt Nam ».

Họ vận động quyên góp để cải tiến một chiếc tàu mang tên « L’île de lumière » (Đảo Ánh sáng) thành một tàu bệnh viện, đi vớt các thuyền nhân khác trên Biển Đông, rồi thả neo ở đảo Palau Bidong (Malaysia) để các bác sĩ Pháp tình nguyện chăm sóc cho 34.000 người Việt bị giam trên đảo.

Trên đài truyền hình TF1, người dẫn chương trình Roger Gicquel kêu gọi : « Hỗ trợ cho chiến dịch không chỉ là hào hiệp mà còn là điều cần thiết ». Người bác sĩ trẻ Kouchner từ trên boong tàu « Đảo Ánh sáng » thuyết phục nhà báo Jacques Abouchar trước ống kính đài truyền hình France 2. Vị « French doctor » muốn tuyên truyền rộng rãi trên truyền thông, trong khi những người khác lại muốn âm thầm hoạt động.

Ủy ban « Một con tàu cho Việt Nam » được thành lập, được nhiều nhân vật lỗi lạc ủng hộ : triết gia Michel Foucault, giáo sĩ Do Thái Josy Eisenberg, Đức Hồng y François Marty, nhà văn Đức Heinrich Boll, ca sĩ kiêm diễn viên Yves Montand…

Ông Michel Rocard, chính khách đảng Xã hội chống lại chủ nghĩa cộng sản, ký vào bản kiến nghị nhưng Tổng thư ký đảng là ông François Mitterrand thì không. Một bộ phận trong cánh tả Pháp vẫn e dè vì nhiều người vẫn coi chủ nghĩa cộng sản là một mô hình để noi theo.

Cảm động nhất là sự ủng hộ của nhà văn mác-xít Jean-Paul Sartre và nhà trí thức lớn chủ trương tự do Raymond Aron, hai nhân vật này vốn không nhìn mặt nhau suốt 30 năm qua. Hôm 20/09/1979, Tổng thống Valéry Giscard d’Estaing đã hội tụ ở điện Elysée nhiều tên tuổi, trong đó hai trí thức lừng lẫy trên đã siết chặt tay nhau. Đó là một hình ảnh gây tác động mạnh mẽ, chứng tỏ một nước Pháp đoàn kết, ít nhất là trong chủ đề thuyền nhân Việt.

Nhân dịp này, nhà văn nổi loạn Jean-Paul Sartre đã trở thành nhà hoạt động nhân đạo. Ông nhắc lại những từ ngữ mà chính ông đã chỉ trích nhà văn Albert Camus 25 năm về trước : « Tôi ủng hộ những con người mà có lẽ không phải là bạn tôi vào thời kỳ Việt Nam đấu tranh cho tự do, nhưng điều này có quan trọng gì, vì đó là những người đang gặp nguy hiểm đến tính mạng ».

Tiếp bước triết gia Aron, cánh hữu Pháp trở nên thoải mái hơn trong hồ sơ này. Đô trưởng Paris là ông Jacques Chirac đưa ra lời kêu gọi tiếp đón boat people, và bản thân ông cũng nhận một thuyền nhân trẻ Việt Nam – cô Anh Đào – làm con nuôi.

Năm năm sau đó, vào năm 1984, một nhóm nhạc rock Pháp mang tên Gold phát hành một album trong đó có bản nhạc « Gần bên những ngôi sao », nhằm vinh danh thuyền nhân Việt Nam, đã thành công rực rỡ với 900.000 đĩa bán ra.

Từ năm 1975 đến đầu thập niên 80, đã có trên 120.000 người Việt Nam được đón tiếp tại Pháp, được cấp giấy tờ chính thức là « người tị nạn ». Giáo sư Karine Meslin vào năm 2006 đưa ra con số « 128.000 người Đông Dương, trong đó có 47.356 người Cam Bốt đã nhập cư hợp pháp vào lãnh thổ nước Pháp ». Nhiều người khác đến Pháp nhưng không với tư cách tị nạn.

Từ năm 1975 đến 1985, trên một triệu người Việt đã bỏ trốn khỏi đất nước, trong đó có 800.000 boat people, và theo các nhà nghiên cứu, một phần tư những người vượt biên đã thiệt mạng.

Vì sao cuộc khủng hoảng di dân hiện nay không tạo nên được một làn sóng tương trợ như đối với thuyền nhân Việt Nam cuối thập niên 70 ? Bên cạnh nguyên nhân kinh tế và văn hóa như đã nói ở trên, còn có nhiều lý do khác.

Đợt sóng thuyền nhân Việt mang tính giai đoạn, trong khi áp lực dân số ở châu Phi, sự phức tạp của những cuộc xung đột ở lục địa đen và Syria, quân thánh chiến đủ các phe nhóm có thể tạo nên những cuộc di dân hàng loạt kéo dài.

Nhiều người còn nêu lên mặc cảm của cánh tả Pháp, trước đây ngưỡng mộ chủ nghĩa mác-xít, nên giang tay cứu vớt những người tị nạn cộng sản như một cách chuộc lỗi. Còn trước Hồi giáo cực đoan hiện nay, châu Âu không có cùng tình cảm này, ngược lại còn là nạn nhân. Bên cạnh đó, vai trò của trí thức Pháp cũng không còn như 36 năm về trước.

Thế nên cách đây vài tháng, khi xảy ra hàng loạt vụ chìm tàu làm chết hàng ngàn người trên biển, cũng đã có những lời kêu gọi tương trợ. Nhưng rốt cuộc, Địa Trung Hải năm 2015 không phải là vịnh Thái Lan năm 1979, và « Đảo Ánh sáng» đã không xuất hiện tại đây.

Ông bước theo chân cháu để hội nhập vào dòng chính trong xã hội Mỹ.

Ông bước theo chân cháu để hội nhập vào dòng chính trong xã hội Mỹ.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tôi đã ở vào lứa tuổi bát thập và đã định cư ở nước Mỹ được gần 20 năm nay. Hầu hết các cháu nội ngọai trong gia đình chúng tôi tức là lớp thế hệ thứ ba, thì đều sinh trưởng tại Mỹ. Các cháu theo học và tiếp cận thường xuyên với các bạn người Mỹ ngay từ các lớp nhà trẻ, mẫu giáo lên đến tiểu học, trung học và cả đại học. Do đó mà các cháu nói tiếng Mỹ thành thạo hơn là nói tiếng Việt. Và suy nghĩ cũng như hành động của các cháu cũng không khác gì nếu so sánh với các bạn người Mỹ cùng lứa tuổi. Nói khác đi, thì các cháu đã hội nhập hòan tòan vào với xã hội Mỹ. Nhờ vậy, mà sau khi tốt nghiệp đại học, các cháu mới dễ kiếm được việc làm và có chỗ đứng vững vàng trong xã hội sở tại.

Đối với mấy cháu ở vào độ tuổi 20 – 25, đủ khôn lớn rồi, thì từ mấy năm gần đây, tôi bắt đầu viết trực tiếp một số bài bằng tiếng Anh để giúp các cháu hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa Việt nam – cũng như là về một số công việc tôi làm trước đây và cả về chuyện tôi bị công an cộng sản bắt giam giữ trong nhà tù nữa. Xin liệt kê một số bài viết bằng Anh ngữ đó như sau:

– A very short introduction into the Vietnamese culture

(Giới thiệu thật ngắn về văn hóa Việt nam)

– Some brief notes on the Vietnam war (1945 – 1975)

(Mấy ghi chú ngắn về cuộc chiến tranh Việt nam)

– How I became a political prisoner in Vietnam in the 1990’s

(Làm sao tôi trở thành người tù chính trị ở Việt nam vào thập niên 1990)

– Reflection on my being an octogenarian

(Suy nghĩ nhân dịp bước vào tuổi bát tuần)

– From Social Action to Human Rights Advocacy

(Từ họat động xã hội đến bảo vệ nhân quyền)

v.v…

Những bài này thường ngắn gọn, chỉ chừng vài ba trang với cỡ trên dưới 1,000 chữ mà thôi. Tôi chủ tâm ‎viết thật ngắn như vậy, thì các cháu mới chịu đọc. Nhân tiện, tôi cũng gửi các bài này cho một số bạn người Mỹ nữa. Và thật là phấn khởi khi tôi nhận được phản hồi thuận lợi từ các bạn đó. Có bạn lại còn chuyển những bài đó lên internet, cụ thể là trên Google nữa. Vì thế, bạn đọc có thể mở Google và đánh chữ: “Doan Thanh Liem – articles in English”, thì có thể đọc các bài này một cách thật dễ dàng.

Thành ra, đàng nào tôi cũng có nhu cầu phải truyền đạt suy nghĩ và kinh nghiệm của bản thân mình cho lớp hậu duệ trong gia đình – mà việc này lại được các bạn người Mỹ tiếp nhận với mối thiện cảm chân tình. Như thế đấy, từ việc chuyện trò trao đổi trong chỗ thân mật riêng tư với các cháu trong nội bộ gia đình – mà tôi lại có cơ hội thông tin tiếp cận dễ dàng hơn với các bạn thuộc dòng chính trong xã hội nước Mỹ vậy. Rõ ràng đây là cái thứ “Một Công Đôi Việc” – như dân gian vẫn thường nói. Tôi viết bài dành riêng cho các cháu trong gia đình, mà bài viết đó cũng còn được dùng để gửi cho các bạn người Mỹ cùng đọc nữa.

Rốt cuộc là từ mấy năm gần đây, tôi lại có thêm cái nhu cầu và sự phấn khích để mà cố gắng viết trực tiếp những bài bằng Anh ngữ dành riêng cho các cháu nội ngọai của mình và nhân tiện cũng dành cho các bạn đọc người Mỹ nữa. Vì nhằm viết riêng cho những người thân thiết của mình, nên tôi không phải quá sức đắn đo gọt giũa về lối hành văn như trong các bài viết cho những người xa lạ mà mình chưa có dịp quen biết thân mật gì cả.

Hơn nữa, các cháu thành thạo tiếng Anh hơn tôi thì còn sẵn sàng góp phần sửa chữa bổ túc cho bài viết của tôi đạt được tiêu chuẩn để các độc giả người Mỹ dễ dàng chấp nhận hơn. Và đó cũng là dịp để ông cháu tôi cùng làm việc sát cánh với nhau hơn nữa.

Trước lạ, sau quen. Sau chừng trên một chục bài viết trực tiếp bằng Anh ngữ như thế, ngòi bút của tôi đã bắt đầu trở thành trôi chảy trơn tru – và tôi không còn thấy ngại ngùng, ngượng ngập như trước đây khi mình chưa quen viết  bằng tiếng Anh nữa. Tôi nghĩ nếu mình cứ kiên trì mỗi tháng cố gắng viết được một bài như thế để dành riêng cho các cháu – thì chỉ trong vài năm tôi có thể hòan thành được một cuốn sách bằng tiếng Anh được rồi vậy.

Trên đây là một chuyên riêng tư của bản thân tôi là một người đã ở vào tuổi bát tuần mà hiện đang cùng gia đình định cư tại tiểu bang California trên nước Mỹ. Tôi xin được chia sẻ cái kinh nghiệm nho nhỏ này với bà con người Việt tỵ nạn chúng ta vậy nha./

Costa Mesa California, Tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Tính chính đáng của đảng Cộng sản

Tính chính đáng của đảng Cộng sản

Nguyễn Hưng Quốc

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước;  hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính  thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh  cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Bị phạt 5 triệu vì blog cá nhân

Bị phạt 5 triệu vì blog cá nhân

Blogger Đoàn Hữu Long bị xử phạt 5 triệu đồng, đồng thời buộc phải gỡ những thông tin không được phép đăng tải trên Trang Thông tin điện tử cá nhân theo quy định.

Blogger Đoàn Hữu Long bị xử phạt 5 triệu đồng, đồng thời buộc phải gỡ những thông tin không được phép đăng tải trên Trang Thông tin điện tử cá nhân theo quy định.

Hòa Khánh

11.09.2015

Một blogger ở Vũng Tàu cho biết ông vừa nhận quyết định của thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 5 triệu đồng vì nội dung đăng trên blog cá nhân.

Hôm 10/9, blogger Đoàn Hữu Long, chủ nhân của trang http://doanhuulong.blogspot.ca/, cho biết:

Quyết định số 02/QĐ-XPVPHC của Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt vi phạm hành chính đối với ông về hành vi “vi phạm một trong các quy định về quản lý thông tin điện tử trên mạng đối với các trang Thông tin điện tử không phải xin phép, quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 64 Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện”.

Ngoài số tiền bị phạt, Quyết định của thanh tra còn nêu rõ: “Biện pháp khắc phục hậu quả: Xóa bỏ các bài đăng vi phạm trên trang thông tin điện tử”.

Trên blogpsot, ông Long có chủ trương tập hợp các bài viết về kinh tế Việt Nam.

Hôm 10/9, các nội dung hiển thị trên trang này là dẫn link bài của các trang báo điện tử trong và ngoài nước về thị trường bất động sản Vũng Tàu, tình hình nợ xấu ngân hàng, thực trạng kinh tế – xã hội và cuộc chiến quyền lực tại Việt Nam…

‘Tội trích dẫn thông tin trên blog’

Trao đổi với chúng tôi hôm 10/9, Thanh tra Nguyễn Tấn Trung Thuận, người ký Quyết định nêu trên, xác nhận:

“Ông Long bị xử phạt vì theo quy định của pháp luật, blogger không được trích dẫn nội dung báo chí trên blog. Các nội dung sai phạm trên blog của ông Long do PA83 kết luận và bản thân ông Long cũng thừa nhận sai phạm của mình”, ông Thuận nói.

Cùng ngày, luật sư Trần Vũ Hải nói với chúng tôi rằng các blogger “nên bình tĩnh và nghiên cứu pháp luật kỹ hơn”.

“Khi nhận quyết định xử phạt, blogger cần xem xét việc đó có đúng thủ tục tố tụng. Nếu cần thì blogger phải tiến hành phản đối, khiếu nại để bảo vệ quyền lợi bản thân”.

‘Giới hạn quyền tự do ngôn luận’

Trả lời phỏng vấn của chúng tôi hôm 10/9, ông Long cho biết:

“Tôi cho rằng Quyết định xử phạt tôi là ‘giọt nước tràn ly’ của một chuỗi sự kiện tôi viết blog từ năm 2012 và bị an ninh mời làm việc nhiều lần”.

Ông Long nói thêm: “Tuy không đồng ý khi nhận quyết định xử phạt, nhưng

tôi chấp hành và không muốn rầy rà vì mang tiếng chống đối an ninh. Dù vậy, tôi đề nghị sửa đổi hoặc áp dụng linh hoạt hơn các điều luật xử phạt blog cá nhân, cởi mở hơn đối với quyền tự do ngôn luận của người dân.
Theo tôi, Việt Nam bị tụt hậu bi đát như ngày nay, có nguyên nhân sâu xa và chủ yếu từ việc giới hạn quyền tự do ngôn luận. Trên thế giới không có quốc gia nào cấm cản tự do ngôn luận mà phát triển lành mạnh. Việc phát triển kinh tế tỷ lệ thuận với quyền tự do ngôn luận, chứ không phải ngược lại”.

Ông đang đề nghị giảm nhẹ mức phạt vì “đang thất nghiệp, không có lương và thu nhập lại bị phạt tiền”.

Ông cũng cho biết mình sẽ “hạn chế cập nhật blog tối đa, tự kiểm duyệt cực kỳ nghiêm ngặt nội dung đăng tải để tránh bị xử phạt lần nữa”.

Trước đó, tháng 7/2015, ông Long đã từng bị Cục An ninh mạng triệu tập thẩm vấn trong bốn ngày tại trụ sở công an thành phố Vũng Tàu.

“Họ yêu cầu khai báo mật khẩu blog và facebook để in tài liệu điều tra.
Tôi phải ký xác nhận vào hàng chục bài viết in ra từ blog và các tin nhắn trên facebook”, ông Long viết trên blog cá nhân.

Sau đó, ông đã phải ‘tự nguyện’ xóa 712 bài viết trên blog.

Tháng 6/2013, ông bị công ty Trực thăng Miền Nam, Sân bay Vũng Tàu, cho thôi việc sau 18 năm công tác tại đây.

Dù quyết định thôi việc không nói rõ lý do nhưng ông cho rằng nguyên do thật sự ‘liên quan đến nội dung trên blog cá nhân’.

Trên trang blog cá nhân, ông Long tự giới thiệu về bản thân như sau:
“Lập blog ‘Báo Hoa Sen’, http://baohoasen.blogspot.com, đăng tải 1.400 bài viết về kinh tế – chính trị, đã bị cơ quan An ninh -Bộ Công an bắt vào tháng 5/2012 và thu giữ blog ‘Báo Hoa Sen’.

Liên quan đến việc xử phạt blogger, năm 2012, ông Nguyễn Xuân Diện, một trong những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội năm 2011 cũng từng đã bị Thanh Tra Sở Thông Tin và Truyền Thông thành phố Hà Nội ra ‘Quyết định xử phạt hành chính trong việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet, thông tin điện tử trên Internet’.

Bản quyết định đòi ông Diện nộp phạt 7,5 triệu đồng nhưng ông khước từ nộp phạt.

Vấn nạn kinh tế của Trung Quốc? Chính là chuyện chính trị, ngốc ạ!

Vấn nạn kinh tế của Trung Quốc? Chính là chuyện chính trị, ngốc ạ!

Đăng trên Nikkei Asia Review 07 tháng 9 năm 2015 05:00 JST

http://asia.nikkei.com/Politics-Economy/Economy/The-root-of-China-s-economic-troubles-It-s-politics-stupid

Minxin Pei*

Nguyễn-Khoa Thái Anh dịch

Lời dịch giả: Trong bài nay “predatory state” “slow theft” và “fast plunder” được dịch theo thứ tự là: chế độ bóc lột “săn mồi, ăn thịt/hút máu con dân”, “slow theft”: ăn cướp tiệm tiến/chậm và “slow theft”: ăn cướp trắng trợn/ào ạt/nhanh. Chế độ thứ nhất “predatory state” thường được thấy trong các thể chế Cộng sản, phức tạp và tinh vi hơn các nhân vật độc tài như Ferdinand Marcos ở Philippines và Mobutu Sese Seko của Zaire.

Nhìn xem phản ứng các thị trường tài chính gần đây đối với môt loạt các tin kinh tế xấu từ Trung Quốc thì ta thấy rõ là cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đã không có một khái niệm mơ hồ nào vì sao “phép lạ kinh tế” Trung Quốc lại nổ bung một cách đột ngột như thế. Nhưng đối với những người quen thuộc với các đề cương kinh tế chính trị của các chế độ/nhà nước săn mồi, ăn thịt/hút máu con dân, không những vấp ngã của Trung Quốc đã được dự đoán mà còn là lẽ đương nhiên.

Có thể phần lớn các tổng giám đốc và các nhà đầu tư đã q

uá bận rộn để đọc một bộ sách kinh điển dày đặc như “Định chế, Thay đổi Định chế và Hiệu suất kinh tế”, của nhà kinh tế sử học đoạt giải Nobel Douglass North, hoặc một cuốn sách dễ tiếp nhận hơn, “Tại sao các Quốc gia sụp đổ” của Daron Acemoglu và James Robinson, hai nhà kinh tế học giảng dạy tại Đại học Công nghệ MIT (Massachusetts Institute of Technology) và Harvard. Sự thông tri của những học giả này, những người đã suy nghĩ sâu xa về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, đáng được trân trọng.

Chủ đề chính của họ nói về một “nhà nước ăn cướp của dân” một thuật/học ngữ cho một chính phủ bóc lột. Mặc dù có những khác biệt về cách giới cầm quyền “săn con mồi” dân dã trong xã hội, các tính năng cốt lõi của một nhà nước săn mồi là việc sử dụng quyền lực chính trị để tự làm giàu của lãnh tụ.

Nếu sức mạnh của nhà nước bắt nguồn từ sự đồng thuận của người bị cai trị và hạn chế bởi các quy định của pháp luật, giai cấp cầm quyền sẽ có một năng lực rất hạn chế để bóc lột người dân. Tuy nhiên, nếu nhà cầm quyền đặt mình trên luật pháp và sử dụng bạo lực chuyên chế của nhà nước để bảo vệ đặc quyền của họ để ăn cướp, họ có thể rút tỉa của cải của xã hội một cách tùy tiện. Các trường hợp nổi tiếng nhất trong lịch sử gần đây là Ferdinand Marcos ở Philippines và Mobutu Sese Seko của Zaire, cả hai đồng nghĩa với những lãnh tụ ăn cướp.

Một bòn rút chậm

Một khi những quốc gia bị chế độ bóc lột (ăn thịt, hút máu) dân chiếm đoạt xã hội của họ có thể bị bần cùng hóa. Các hình thức tồi bại và thảm khốc nhất của sự bần cùng hóa như thế là việc cướp bóc trắng trợn bởi những kẻ độc tài với một thời gian cai trị ngắn ngủi.

Các chế độ bóc lột (hút máu) dân tinh vi hơn, thường do các đảng phái chính trị độc tài kết cấu với nhau một cách chặt chẽ hơn với một khung thời gian cai trị dài hơn nhiều, họ thích chọn một chiến lược tinh tế và lâu dài hơn để bòn mót tiền trong xã hội họ. Thay vì bóc lột, ăn cướp một cách lộ liễu không che đậy và ngay lập tức để có thể phá hủy vốn liếng của các quốc gia của họ và do đó đe dọa lợi ích lâu dài của họ, chế độ hút máu dânđược kiểm soát bởi các đảng chính trị có tổ chức dựa trên các phương tiện gián tiếp, che giấu và hành vi ăn cướp đều đặn, có quy mô.

Thông thường, họ đặt ra những quy định phức tạp để hạn chế sự lưu thông của tiền vốn (vốn liếng được tự do lưu hành rất khó ăn cắp), làm cho quyền sở hữu tài sản không an toàn (tài sản không được bảo vệ thì dễ cướp hơn), kiểm soát các lĩnh vực ngân hàng (đánh thuế dân thông qua lãi suất tiêu cực và dành tín dụng cho khách hàng ưu đãi được vay các món nợ lớn), duy trì các doanh nghiệp quốc doanh lớn (để chuyển tài sản đến những lãnh tụ đang kiểm soát các công ty này), và độc quyền thao túng các ngành chủ chốt (đánh thuế xã hội thuế một cách gián tiếp).

Xét trên phương diện so sánh, rõ ràng là các chế độ ăn-thịt-dân có phe đảng tập thể hoạt động trên môt mô hình phức tạp hơn và có xu hướng duy trì quyền lực lâu hơn sự bóc lột trắng trợn của các lãnh tụ cá nhân độc tài. Tuy rằng hành vi cướp của tiệm tiến như vậy có thể dễ thở hơn chuyện tước đoạt một cách trắng trợn/nhanh, điều này không làm an tâm các doanh nhân tư và những người dân bình thường phải sống dưới một chế độ như vậy khi họ chứng kiến một phần đáng kể của sự giàu có khó kiếm của họ bị tước đi mà không có sự đồng ý của họ. Tuy rằng các phương tiện cướp bóc tiệm tiến có thể tinh vi và kín kẻ hơn, cuối cùng người dân và doanh nghiệp tư nhân cũng sẽ nhận thực được hệ thống này là gì và sẽ mất động cơ để làm việc. Hơn nữa, tuy rằng hệ thống ăn cướp tiệm tiến có thể đem lại nhiều thịnh vượng hơn so với hệ thống cướp bóc trắng trợn/ồ ạt, nó vẫn là một hệ thống kinh tế cực kỳ què quặt. Dưới một hệ thống như vậy, nguồn tài nguyên quý giá đang bị lãng phí trong các dự án được các nhà cai trị ưa chuộng bởi lẽ các dự án này có thể giúp họ đảm bảo được hậu thuẫn chính trị hay mang lại lợi ích cho gia đình và tay sai của họ.

Quan điểm nhà nước bóc lột cung ứng cho ta một cái nhìn sâu hơn và đáng lo ngại hơn về nguyên nhân sự suy thoái kinh tế của Trung Quốc. Nếu chúng ta nhìn lại các định chế và hoạt động kinh tế trọng tâm của Trung Quốc, chúng ta có thể nhanh chóng khám phá một hệ thống ăn cướp tiệm tiến kinh điển: một vốn tài chánh khép kín, không có một sự bảo vệ đáng kể nào đối với tài sản cá nhân, nhà nước độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng và các ngành công nghiệp chủ chốt (như viễn thông và năng lượng), các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ (chiếm ít nhất một phần ba tổng sản lượng trong nước), và một ngân sách chính phủ hoàn toàn mờ ám.

Cái xấu ít hơn của hai tệ nạn

Một chuyện khó hiểu là làm thế nào một hệ thống cướp ngày tiệm tiến như vặy đã có thể tạo ra một phép lạ kinh tế trong vòng 35 năm qua? Thật ra câu trả lời cũng chẳng khó tìm. Vì lúc nào hiệu suất xấu kinh tế cũng chỉ tương đối. Có lẽ chuyện ăn cướp một cách tiệm tiến kém hiệu quả hơn so với các hệ thống tư bản tự do vì được nhà cầm quyền chế tài chuyện bóc lột xuống mức tối thiểu, nhưng nó lại hiệu quả hơn cướp bóc nhanh. Trong trường hợp Trung Quốc, hai yếu tố – một lịch sử và một cơ cấu – đã cho phép các hoạt động ăn cướp tiệm tiến tiếp tục mà không làm suy sút nền kinh tế trong thời kỳ hậu-Mao Trạch Đông.

Một sự thật lịch sử là hoạt động ăn cướp chậm đã thay thế một hệ thống tồi tệ hơn nhiều: nguyên tắc chủ nghĩa toàn trị của Mao đã hoàn toàn cấm cản kinh doanh và làm giàu cá nhân. Chắc chắn, sự khởi động kinh doanh sau khi Trung Quốc từ bỏ chế độ Mao đã vục dậy nền kinh tế, mặc dù điều này rất khó đo lường chất lượng một cách chính xác.

Một yếu tố khác đã giúp cho chuyện bóc lột ăn cướp tiệm tiến kéo dài mà không phá hủy nền kinh tế đến từ một số các điều kiện và diễn tiến một lần vô cùng thuận lợi, chẳng hạn như cổ tức nhân khẩu học, di cư từ nông thôn ra thành thị, toàn cầu hóa và chuyện Trung Quốc tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Những yếu tố hỗ trợ nền kinh tế với mức hiệu suất cao mà Trung Quốc có thể đủ khả năng cướp bóc tiệm tiến (chậm), điều này được hiểu như là một hình thức đánh thuế.

Nhưng khi kinh tế Trung Quốc đã hết đà và bị hụt hơi, Trung quốc đã không đủ khả năng để trang trải ở mức độ này. Quan trọng hơn, số liệu thống kê kinh tế và tài chính của Trung Quốc ngày nay (do truyền thông internet) cũng được công bố nhiều hơn, đặc biệt là món nợ to như núi của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước đã cho thấy rằng chuyện tích lũy ăn cướp chậm cũng tai hại không kém gì cướp bóc trắng trợn/ào ạt.

Phân tích đen đủi này cho thấy rằng sự thách thức cơ bản đối với Trung Quốc liên hệ đến phạm trù chính trị chứ không phải kinh tế. Các điều kiện tiên quyết cho một cuộc cải tổ thật sự cần thiết để hồi sinh một nền kinh tế là phải tháo gỡ các trạng thái ăn thịt dân và hệ thống ăn cướp tiệm tiến. Nhưng đây là một phương án không thể thực hiện được, bởi vì điều đó có nghĩa là phá hủy các nền tảng kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Những ai không được thuyết phục bởi lý giải định mệnh này nên đọc “Tại sao Quốc gia bị suy thoái” và cũng cần nhìn lại các nước giàu có nhất thế giới. Họ sẽ thấy rằng ngoại trừ các nước sản xuất dầu mỏ, nơi các nhà lãnh đạo có thể đánh cắp của thiên nhiên, tất cả các xã hội giàu có khác đều nằm trong một guồng máy pháp trị thật sự do đó đã tránh được cả hai hành vi ăn cướp tiệm tiến và ăn cướp trắng trợn (nhanh).

M.P.

*Minxin Pei là một giáo sư dạy về chính quyền tại Claremont McKenna College và một thành viên thâm niên không thường trực của Quỹ Marshall Fund dành cho Đức quốc của Hoa Kỳ.

Chúng ta đang học để ngu

Chúng ta đang học để ngu

“Dân trộm dăm ba trăm ngàn thì bị tù mấy năm trời, thế mà quan tham nhũng trăm triệu, chục tỉ nặng thì cách chức, cho tù vài năm còn bình thường thì đứng lên nhận khuyết điểm, bị khiển trách rồi mọi việc đâu lại vào đó. Dân có đánh chết người thì nhẹ cũng 10-20 năm tù nặng thì chung thân tử hình, ấy thế mà công an, quan chức làm chết người thì xét công trạng rồi thì nặng lắm cũng vài năm ba năm tù còn bình thường cứ mấy năm án treo, cách chức”.

Triết học Đường phố

Joseptuat

12-9-2015

 

 

 

 

 

 

 

Photo: Đại Học Y Dược TPHCM

Một bộ phận dân chúng Việt Nam hiểu được quyền của mình, trách nhiệm của nhà nước trong xã hội nhưng số này còn ít lắm. Dân Việt Nam mình vẫn còn nhiều, nhiều người ngu ngơ về quyền lợi của mình trong xã hội, và vẫn mù quáng tin tưởng vào nhà nước như thời phong kiến dân tin vua là con thiên tử.

Ở cái thời đại này rồi mà nhiều người vẫn còn chấp nhận cái chân lý “yêu đảng là yêu nước”, nó giống như thời kì lạc hậu ngày xưa “yêu vua là yêu nước” vậy. Lòng yêu nước đã bị lợi dụng để duy trì quyền lực cho một dòng họ theo cái tục cha truyền con nối ở thời phong kiến, và nay nó dùng để duy trì sự cai trị vô lý của một đảng phái.

Các cụ ta ngày xưa đã mổ xé văn hoá Hán tộc ảnh hưởng như thế nào đối với xã hội Việt Nam, nhưng tưởng nó đã không còn mấy đậm nét trong sinh hoạt xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Ơi thế mà nó có mất đi đâu, nó chỉ biến dạng theo một cách khác kể từ khi cộng sản nắm quyền mà thôi.

Người Hán chấp nhận Vua là trung tâm của xã hội như vẫn từng hô hào họ là trung tâm của thiên hạ. Người Việt dù có kiến cường chống phương bắc tới đâu thì vẫn bị lệ thuộc họ trong nhiều cách khác nhau. Điều dễ nhận thấy là trong triết lý giáo dục của người Việt Nam từ xưa cho tới nay. Dân Việt tại sao dễ chấp nhận quyền cai trị độc tôn của đảng cộng sản như vậy? Tại sao thích kiểu yên ổn chuyên chính của chính quyền như vậy? Xét kỹ thì nhận ra rằng đó là do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, nó ngấm vào máu, vào tận xương tuý và được truyền lại từ vô thức của xã hội lên từng gia đình và cá nhân.

Dân trí thấp không phải là ở chỗ đất nước có bao nhiêu người biết đọc, biết viết mà là ở chỗ còn bao nhiêu người tôn thờ nền quân chủ. Có người đã nói Việt Nam bây giờ chỉ là sự phát triển của chế độ phong kiến theo máu mũ ngày xưa. Vẫn chỉ là chế độ lấy nhân trị, tức là xã hội dù có luật pháp thì tính nghiêm minh phù thuộc vào quyết định, cảm tình của con người.

Dân trộm dăm ba trăm ngàn thì bị tù mấy năm trời, thế mà quan tham nhũng trăm triệu, chục tỉ nặng thì cách chức, cho tù vài năm còn bình thường thì đứng lên nhận khuyết điểm, bị khiển trách rồi mọi việc đâu lại vào đó.

Dân có đánh chết người thì nhẹ cũng 10-20 năm tù nặng thì chung thân tử hình, ấy thế mà công an, quan chức làm chết người thì xét công trạng rồi thì nặng lắm cũng vài năm ba năm tù còn bình thường cứ mấy năm án treo, cách chức.

Có người vi phạm luật pháp nghiêm trọng báo chí, nhà nước tung lên là bị kỷ luật, bị xử phạt nghiêm minh nhưng thực tế thì di chuyển công tác, có khi lại còn nhận chức vụ cao hơn trước khi phạm luật.

Nói ra để thấy, cái xã hội Việt Nam ngày hôm nay có khác mấy cái thời lạc hậu, man rỡ thời phong kiến ngày xưa đâu. Cụ Phan Châu Trinh ngày trước đã từng nói “chúng ta đã thua thế giới văn minh gần một thể kỷ về văn hoá, kinh tế, khao học kỷ thuật”, đó là cụ so sánh Việt Nam với Pháp, Anh, Nhật, Mỹ chứ bây giờ Việt Nam mình còn để cả Lào, Campuchia vượt mặt về nhiều mặt. Chả mấy chốc mà họ sẽ không để ta sau lưng mấy chục năm đâu.

Dân đen đã mù mờ về quyền công dân của mình trong xã hội đã đành, kể cả tầng lớp tri thức cũng đâu khá hơn là mấy. Ngày trước học là để thi khao cử với hi vọng kiếm chút công tước cho dòng họ nở mày nở mặt. Phục vụ đất nước cũng chỉ là trung thành tuyệt đối với vua, chứ đâu mấy ai nghĩ tới chuyện đem công bằng, bác ái đến cho tầng lớp dân đen đâu. Cái câu “một người làm quan cả họ được nhờ” chả phải là lý tưởng và mục đích của tri thức Việt Nam ngày xưa sao. Cái thói học với mong muốn kiếm chút bổng lộc từ triều đình đã đưa đất nước tụt quá xa so với thế giới. Tri thức thay vi nâng cao hiểu biết cho dân thì lại xem những gì mình có, mình học như là cái quyền để cưỡi lên đầu lên cổ người khác. Ấy là tôi nói về thời phong kiến ngày xưa, còn bây giờ nền giáo dục có khác nhau là mấy so với trước đây đâu, có khi nó còn tệ hơn chứ nói gì tốt với đẹp.

Nhìn hàng trăm, hàng nghìn tiến sĩ, thạc sĩ bám đít lũ quan tham, nhóm lợi ích để cầu danh, cầu lợi, cầu nhà, cầu xe là nhận thấy cái gọi là tri thức Việt Nam cũng chỉ là một lũ cộng nô. Ngay xưa học mà không đi đôi với thực tế thì gọi là hũ nho, ngày nay học để làm tôi mọi cho lũ quan to, bụng phệ dù trong đầu bọn tham ô câu chữ viết chấm phẩy còn không xong, thì tri thức không là cộng nô, hũ bại là còn gì.

Dân đen là thế, tri thức cũng không nhờ cậy được gì, thế còn chính quyền thì sao?

Nói ra thì nói là phản động, là bôi xấu lãnh đạo nhưng thực tế thì bọn họ cũng đâu khá hơn là mấy. Cái bọn này còn tệ hơn đám tri thức rơm kia, vì bọn chúng có trong tay quyền lực, được đi đây đó, hiểu biết thực tế nhiều hơn dân đen, ấy thế mà tụi nó lại đi làm Hán nô cho ngoại bang. Không đổ lội hết quan chức bây giờ là thân Trung Cộng, nhưng có mấy vị tại to mặt lớn mà không bám đít nhà Hán. Cái khác biệt lớn nhất của chính quyền hiện nay so với thời phong kiến là đây.

Quan chức phong kiến có thể vì lợi mà hà hiếp dân chúng, chứ ít khi vì lợi mà nhu nhược, bán đất, bán biển, bán rừng cho nhà Hán, ấy thế mà cái thời đại cộng sản bọn họ không chỉ tham lam, độc ác với dân mà còn nhu nhược, hèn nhát và đê tiện trước mặt ngoại bang. Bọn họ chơi chính trị theo kiểu đĩ điếm, sẵn sàng ăn nằm với bất kì ai nếu họ đem lại lợi ích cho mình.

Trước thì bám đít Liên Xô xem Trung Cộng là kẻ thù, gọi là phản động nên Trung Cộng nó xua quân đánh dọc các tỉnh biên giới bắc Việt Nam, đẩy hàng trăm nghìn con dân Việt chết vì mình. Đến khi Liên Xô sụp đổ thấy quyền lợi bị lung lay thì khúm núm, quỳ lại xin Trung Cộng chống lưng, và để thoả mản cái danh vọng quyền lực thì đi đến cái “hội nghị thành đô” chấp nhận nhường đất, nhường biển để làm chư hầu cho Trung Cộng.

Tri thức thì cộng nô, còn chính quyền lại là Hán nô thì thử hỏi đât nước mình là cái gì đây?

Cả một chăng đường lịch sử dài gần mấy ngàn năm, có cả một nền văn hiến lâu đời nhưng thứ hỏi xem có mấy ai biết hình hài đất nước mình như thế nào? Dân đen thì nghĩ phục tùng chính quyền, tôn thờ lãnh tụ là yêu nước. Tri thức thì khôn ranh hơn, yêu nước là yêu cái chức vụ của mình, cố làm sao đừng để nó lung lay là coi như yêu nước. Còn chính quyền thì toàn một lũ vừa tham, vừa thâm, vừa ác nên yêu nước là phải nhất quyết duy trì chế độ đến tính mạng dân đen cuối cùng. Đất nước là vậy đó, chỉ là nồi cơm, cái ghế và danh vọng của từng người, từng nhóm nhỏ nào đó. Thế mà nhiều kẻ vẫn hô hào lòng yêu nước, giảng dạy về lòng yêu nước, và bỏ tù những ai dám thể hiện lòng yêu nước.

 

 

 

 

 

 

 

Có viết trăm bài viết, kể trăm câu chuyện thì cũng chỉ là lập lại lời của tiền nhân trước đây. Các bậc tiền nhân có tâm, có tài đã mổ xé rất chi tiết, đã chỉ ra đâu là nguyên nhân khiến Việt Nam mãi mãi chỉ lết theo đít những nước phát triển chậm. Phương pháp cũng đã được nêu ra làm thể nào để đưa đất nước thoát khỏi cảnh “không chịu phát triển”, trong đó người viết ấn tượng về chủ trương “Khai dân tri”, “Chấn dân khí” và “Hậu dân sinh” của cụ Phan Châu Trinh. Không gì bền vững và ổn định cho bằng sự thay đổi tận căn các nguồn lực của đất nước, và chỉ có một con đường duy nhất là “học”.

Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

Song Chi.

RFA


Trong cuộc đời hoạt động “cách mạng” của mình, ông Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bút danh khác nhau. Bài “Sưu tầm tên gọi, bí danh và bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ” đăng trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, đã kê khai ông Hồ có khoảng 175 tên gọi, bí danh, bút danh, ngoài ra “Hiện vẫn còn khoảng 30 tên gọi, bí danh, bút danh được cho là của Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cơ sở để khẳng định chắc chắn hoặc chứng minh cụ thể Bác đã dùng vào thời gian nào, trong trường hợp nào, nên vẫn chưa thể công bố chính thức”.
Từ lâu, cũng chính nhờ đảng và nhà nước này công bố, mà người dân mới biết Trần Dân Tiên, người viết cuốn tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” xuất bản lần đầu tiên tại Trung Hoa năm 1948 và tại Paris năm 1949 (theo Wikipedia) chính là Bác Hồ. Trong một cuốn tiểu sử khác, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” xuất bản lần đầu năm 1950, Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi hành quân, vừa đi vừa hỏi chuyện Chủ tịch và ghi chép lại. Như vậy ông Hồ chỉ có 2 cuốn gọi là “tiểu sử” được phổ biến rộng rãi, in ra nhiều thứ tiếng, thì cả hai đều do chính ông Hồ viết ca tụng mình.
Việc ông Hồ từng làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô và đảng cộng sản Trung Quốc, nhận tiền của Liên Xô và Trung Quốc là chuyện chả phải mới mẻ gì. Chỉ cần ngay trong bài này cũng thấy.
Chẳng hạn, làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô:
“Chen Vang, 1923. Ngày 13 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Paris đi Liên Sô, Tổ Quốc Cách Mạng. Ngày 16 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Đức. Tại đây, Nguyễn được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Sô Viết Liên Bang tại Berlin cấp cho giấy đi đường số 1829. Trong giấy này Nguyễn Ái Quốc mang tên Chen Vang.”
Làm việc cho Trung Quốc:
“Hồ Quang, 1938. Hoạt động ở Trung Quốc cuối năm 1938. Nhờ quan hệ Liên Sô và Trung Quốc nên Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc dễ dàng. Tại Lan Châu thủ phủ tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc mang phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang.”
Lý Thụy cũng là một bí danh của ông Hồ.
“Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc.”
Có một dạo trên nhiều trang blog, trang mạng xã hội xôn xao trước thông tin Lý Thụy, tức ông Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp. Và thông tin đó từ đâu ra, từ thế lực thù địch nào? Không, từ cuốn “Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân Từ điển” của tác giả Trịnh Vân Thanh do NXB Văn học, Hà Nội phát hành năm 2008.
Ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau:
“Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn thể giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc”, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1. Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2. Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong Việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.”

Tất cả những chuyện này nhiều người cũng đã biết.
Tôi nhắc lại chỉ là vì gần đây được biết thêm cái bút danh Trần Lực của ông Hồ Chí Minh khi viết cái truyện ngắn “Giấc ngủ mười năm”. Trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam đăng toàn bộ truyện ngắn này, và cho biết: “Giấc ngủ mười năm” viết năm 1949, Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc năm 1949. In trong sách “Hồ Chí Minh, Truyện và ký” của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1985″.
Trong bài “Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam” đăng trên website Viet-Studies, nhà văn, dịch giả Ngô Tự Lập tìm cách chứng minh ông Hồ Chí Minh là cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng VN qua hai truyện ngắn “Con người biết mùi hun khói” “Giấc ngủ mười năm”.
Ở đây tôi không tranh cãi về văn phong, bút pháp của truyện “Giấc ngủ mười năm”, cũng không tranh cãi truyện này hay hay dở, nhưng điều làm tôi cảm thấy rờn rợn là những đọan mô tả tội ác của Pháp.
Đoạn đó như sau:
“Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà.
Có khi bắt được đàn bà có thai, chúng nó trói lại như trói lợn, rồi đánh đố với nhau. Thằng thì đoán chửa con trai. Thằng thì đoán chửa con gái. Rồi chúng nó mổ bụng người đàn bà chửa, móc đứa con trong bụng ra coi. Thằng nào đoán trúng thì được tiền hoặc thuốc lá.
Có khi chúng nó bắt đàn bà, trói chân, trói tay lại, lột truồng hết áo quần rồi cho chó con bú cụt cả đầu vú. Người đàn bà vô phúc van khóc chừng nào, thì Tây reo cười chừng ấy.
Bắt được người già và thanh niên, chúng nó chọc tiết, chôn sống, chặt đầu, phanh thây, hoặc treo thòng lòng trên cành cây, chất củi thui. Có khi chúng nó bắt ăn thuốc viên, nói là thuốc chữa bệnh. Nuốt xong chừng mấy phút đồng hồ thì trợn mắt lăn ra chết, cả mình mẩy tím bầm.
Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt.”

Tôi cảm thấy rờn rợn, không phải vì tội ác của Pháp (một người có nhận thức, hiểu biết bình thường nào cũng chẳng tin nổi những điều này là có thực) mà chính vì cái cách mô tả, cái khả năng tưởng tượng ra những tội ác kiểu như vậy và việc tuyên truyền bất chấp sự thật của những người cộng sản, như họ cũng đã từng tuyên truyền Mỹ ngụy ăn thịt người.
Cho đến nay, Hồ Chí Minh đối với rất nhiều người dân VN vẫn là thánh sống, là tượng đài không dễ gì bị lật đổ. Không chỉ trong những người còn tin tưởng vào đảng, vào chế độ, ngay nhiều người có tư tưởng chán ghét chế độ này, vẫn luôn luôn nói rằng “Nếu còn ông cụ, mọi chuyện sẽ khác, nếu còn ông cụ đất nước không thể như thế này” và mọi sai lầm, đổ đốn của đảng và nhà nước này là chỉ từ khi ông cụ mất, thậm chí mãi về sau này, chứ còn giai đoạn đầu thì không thế v.v…Nắm được điều đó, đảng và nhà nước cộng sản vẫn tiếp tục bám vào cái bóng của ông Hồ, từ việc phát động phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cho tới những tượng đài Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục được xây lên ở khắp nơi…
Rồi đây lịch sử sẽ được viết lại, nhiều sự thật sẽ được đưa ra ánh sáng. Tôi vẫn luôn tin rằng cuộc đời thật, chân dung thật của nhân vật Hồ Chí Minh sẽ còn có nhiều, nhiều “bất ngờ” hơn nữa, ngoài vô số những “bất ngờ” đã hé lộ dần trong thời gian qua, bất chấp việc đảng và nhà nước cộng sản VN cố công bưng bít, tô vẽ thành huyền thoại. Chỉ có điều, cho đến giờ phút này hình như vẫn chưa có người Việt nào chịu khó bỏ công ra viết những cuốn sách công phu như cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng, Trung Quốc hay cuốn “Những điều chưa biết về Mao” (“Mao-an unknown story”) của hai tác giả Jung Chang và Jon Halliday. Được biết, hai vợ chồng tác giả, cô Jung Chang và ông Jon Halliday đã bỏ ra gần 10 năm trời để viết, đã đi về Trung Quốc hàng mấy chục chuyến để thăm lại tất cả những vùng mà ông Mao Trạch Đông đã đi qua cũng như đã đi nhiểu nơi trên thế giới để gặp hàng trăm người từng biết, từng gặp Mao Trạch Đông khi còn sống hầu có được những tài liệu sinh động nhất, chân thực nhất, và cuối cùng họ đã hoàn tất tác phẩm đồ sộ này.
Tin rằng nếu ai đó bỏ công sức ra để viết về nhân vật Hồ Chí Minh cũng sẽ gặt hái được kết quả rất đáng công và chân dung của nhân vật Hồ Chí Minh có lẽ còn muôn mặt, muôn màu không kém, thậm chí hơn cả chân dung thật của Lenin hay Mao Trạch Đông