Khi lòng dân hết chịu nổi!

Khi lòng dân hết chịu nổi!

Bùi Tín

Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc Khánh 2/9 , các bài diễn văn của những nhà lãnh đạo đầy những danh từ sáo rỗng, trái hẳn với thực tế. Nào là thành quả vĩ đại, sự nghiệp vẻ vang, chiến thắng lịch sử, thời đại vinh quang, tương lai đầy hứa hẹn…

Nhưng tình hình đúng vào dịp này, đảng CS hình như cố tình trình diễn bộ mặt thật của mình. Nhà báo Đỗ Trường chỉ đùa cợt giải trí tinh thần với bài viết gồm toàn các chữ dấu sắc trên mạng cá nhân đã bị rút thẻ và sa thải, bất chấp hiến pháp và luật pháp. Sinh viên Phạm Lê Vương Các của trường Kinh Doanh và Công Nghệ bị buộc phải viết đơn xin thôi học chỉ vì em có tinh thần dân chủ và thật sự dấn thân cho dân chủ. Nghiêm trọng hơn, khi các bạn chiến đấu của tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật đến thăm, chúc mừng anh, gồm có giáo sư Phạm Minh Hoàng, các bạn Trần Thị Nga, Đặng Xuân Hoà, Trương Minh Tâm, Chu Mạnh Sơn, khi ra về đã bị một bọn côn đồ lưu manh hành hung rất táo tợn, gây thương tích. Bà con địa phương nhận diện bọn hung thủ là tay chân cộng tác viên của công an Lâm Đồng, chúng được CA thuê đi đâm thuê chém mướn, có tên là tội phạm hình sự đang thụ án sẽ được giảm án và thưởng tiền, cho về thăm nhà (theo mạng Dân luận cuối tháng 8/2015).

Theo nhà báo Đoan Trang kể lại trên mạng Dân Luận, khi cô và các bạn lên sân bay để đón anh Nguyễn Quang A từ Hoa Kỳ về  bị công an giữ lại 15 tiếng, trong khi ngồi chờ, cả nhóm bị bọn du côn cũng do công an thuê đánh đập tàn bạo, một tên rất to lớn đã bẻ tay cô, chửi rủa cô; tên này đã được chụp hình.

Lẽ ra tất cả mọi cấp công an cần phải học thuộc lòng Điều 20 của Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm thân thể, được pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.  Điều 23 còn ghi: “Công dân có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”.  Anh Nguyễn Quang A và cô Đoan Trang có quyền kiện ngành công an, những kẻ tự nhận là công bộc, đầy tớ của dân!

Với hàng chục vụ như trên xẩy ra hàng ngày, cuộc sống xã hội thật ngột ngạt, không có bình an cho mọi công dân. Bộ Chính trị đã tỏ ra vô cảm, bất động trước cuộc sống lam lũ, bất an của nhân dân. Không những vậy, cuộc sống còn ngột ngạt , đầy uất hận tăng thêm hàng ngày. Nền thống trị của một đảng tự nhận là cách mạng vì dân, đã phá sản hoàn toàn trong cuộc sống, lại còn tệ hại cay nghiệt hơn trước.

Sức chịu đựng của người dân là có hạn. Sự kiên nhẫn của toàn dân là có hạn.

Cuộc “xoay trục” để thoát Trung và gắn bó với các nước dân chủ mà nhiều đảng viên cấp cao hy vọng, toàn dân trông chờ có vẻ chỉ là đóng kịch, động tác giả. Đúng vào lúc Hoa Kỳ là nước hùng mạnh nhất khẩn thiết dang tay kết bạn, đúng vào lúc anh láng giềng lớn giở trò trở mặt có hành động xâm lược tạo điều kiện cho ta dứt tình, thì Bộ Chính trị run tay không dám bẻ lái vào con đường sáng sủa đầy triển vọng, vẫn cứ theo con đường mòn cũ kỹ, đầy ải dân tộc không biết đến bao giờ. Dân tộc Việt Nam ta với truyền thống giữ nước và dựng nước vẻ vang không thể cam chịu sự thống trị độc đoán kéo dài thêm nữa, để bất công lan rộng, người thật lòng yêu nước thương dân đòi tự do cho mọi người thì vẫn bị đầy đọa trong nhà tù.

Dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống một cuộc sống khác hẳn thực tế hiện nay, một xã hội dân chủ, công dân được tự do, bình đẳng, sự phân phối thành quả lao động và đổi mới công bằng hợp lý, một xã hội an bình, thân ái, phồn vinh, có hạnh phúc thật sự cho mỗi gia đình, cho toàn xã hội, nghĩa là một cuộc sống đáng sống, một cuộc sống hạnh phúc. Nếu không có Đảng CS, xã hội ta ắt sẽ được như thế.

Thái độ bảo thủ giáo điều, vô trách nhiệm với đất nước lâm nguy của Bộ Chính trị hiện tại chỉ làm  cho nhân dân thức tỉnh thêm, như cố tình đổ dầu vào ngọn lửa phẫn nộ đến căm giận của quần chúng mong chờ một sự đổi thay rõ rệt.

Tinh thần các chiến sỹ dân chủ đối lập trong các tổ chức xã hội dân sự lên cao thêm với số lượng hơn hẳn trước. Anh chị em rủ nhau lên tận cổng nhà tù để đón mừng công khai những người tù lương tâm được trả tự do, còn rủ nhau ra sân bay đón bạn chiến đấu từ xa về, còn tranh luận tay đôi với các viên chức chính quyền, vạch mặt bọn du côn ác ôn tay sai của công an gây sự, hành hung, với lý lẽ chặt chẽ và tư thế người giảng giải lẽ phải cho họ.

Anh em anh Đoàn Văn Vươn ra tù, tuyên bố vô tội và tiếp tục đấu tranh đòi công lý và quyền làm ăn trên đất vườn ao hồ do các anh lấn biển khai phá; bạn bè người thân đón chào các anh như những anh hùng trong các vòng tay thân thiết. Nhà các anh luôn nhộn nhịp đón các bạn xa gần trong tình thương yêu đùm bọc nhau trong cơn hoạn nạn. Đại tá đối lập Nguyễn Đăng Quang, anh Hoàng Xuân Phú và các bạn trẻ cũng về Tiên Lãng để thăm 2 anh và đặc biệt ca ngợi 2 chị Báu và Thương, vợ của hai anh.

Cũng với tinh thần cao như thế, nhà báo Trương Duy Nhất ra tù lập tức tuyên bố sẽ tiếp tục đấu tranh vẫn với “Blog Một Góc Nhìn khác”, không mảy may e ngại sau những ngày tháng gian nan trong tù CS. Nhà tù CS đã vô tình tôi luyện anh.

Đông đảo bà con dân oan mất đất đã liên kết lại trong từng tỉnh, từng vùng, với tình nghĩa keo sơn cùng cảnh ngộ, chung lòng thương yêu đùm bọc nhau.

Thái độ ngang ngược của Bộ Chính trị, hứa hẹn hão với thế giới “sẽ giải quyết các vấn đề nhân quyền”  cũng làm dấy lên sự giận dữ và bực bội của thế giới. Nhiều nghị sỹ Hoa Kỳ, Úc, Thuỵ điển … lên tiếng đòi tự do cho các tù lương tâm, kết nghĩa với một số anh chị em, nêu đích danh các tù nhân họ đỡ đầu, như nhà báo Tạ Phong Tần, cô Bùi Minh Hằng, anh Trần Huỳnh Duy Thức. Một thượng nghị sỹ Hoa Kỳ còn công bố thư riêng gửi cho cô Hằng ở trong tù để ca ngợi, khích lệ an ủi cô.

Tất cả những sự việc trên đây trước kia là rất hiếm. Nay tình hình đối với một bộ phận lớn nhân dân là hết chịu nổi. Ai gây nên cảnh bất công, lạc hậu triền miên của đất nước? Bao nhiêu ý kiến kiến nghị tâm huyết chân thành đã bị bỏ qua, những người yêu nước, thương dân nhất thì bị cầm tù, trong khi ngành công an chà đạp Hiến pháp, luật pháp tha hồ hoành hành kết hợp với bọn con đồ lưu manh.

Lãnh đạo đảng CS hãy dành thì giờ đọc những bài tâm huyết đầy sức thuyết phục của nhà nghiên cứu – nhà ngoại giao Nguyễn Trung về Đại hội đảng XII sắp đến. Các bạn hãy đọc tiểu thuyết chính trị của Nguyễn Trung với đầu đề ngắn gọn: . Tác giả dùng hình ảnh để cảnh báo rằng Đảng CS đã phạm quá nhiều sai lầm, là nguyên nhân chính của tình trạng lạc hậu bất công kinh hoàng của đất nước trong 70 năm cầm quyền, 40 năm thống nhất đất nước. Tốt nhất là lãnh đạo đảng tỉnh ngộ sáng suốt giữ cho đảng CS tồn tại bằng cách tự thay đổi, vượt lên chính mình, chủ động cùng giới trí thức và giới kinh doanh lương thiện thỏa thuận một sự thay đổi triệt để mang tính chất cách mạng, cùng toàn dân phấn chấn đi vào kỷ nguyên Dân chủ. Đó cũng là con đường sáng, khôn ngoan sống còn duy nhất của Đảng CS.  Nếu như Bộ Chính trị vẫn giữ con đường toàn trị quay lưng lại với nhân dân, một mực mù quáng coi dân như cỏ rác thì nhân dân hết chịu nổi và tất yếu phải cùng nhau đứng dậy dành quyền sống cho mình, cho gia đình, cho quê hương, tổ quốc.

Lòng kiên nhẫn, sức chịu đựng của nhân dân là có giới hạn. Đến quá “ngưỡng” của kiên nhẫn, chịu đựng thì sẽ xảy ra, cuốn phăng mọi rác rưởi không ai chống lại nổi. Đó là lũ của lòng dân, được giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự cảnh báo trước, đã từng diễn ra tại nhiều nước bị gông cùm toàn trị đè nén quá lâu.

Mong rằng Bộ Chính trị ghi nhớ chân lý  “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.

Hungary đóng cửa biên giới, chặn làn sóng di dân

Hungary đóng cửa biên giới, chặn làn sóng di dân

Nguoi-viet.com

BUDADPEST, Hungary (AFP) Chính phủ Hungary hôm Thứ Ba ra lệnh đóng cửa biên giới với Serbia để ngăn chặn làn sóng người di dân đang cuồn cuộn kéo vào, trong khi chính phủ Ðức lên tiếng đả kích các quốc gia khác trong khối EU, gọi là điều “đáng xấu hổ” vì không nhận thêm di dân sau khi có thêm 22 người chết trên biển.


Hungary nay đóng cửa biên giới hoàn toàn với di dân. (Hình: Getty Images)

Quyết định của Budapest được đưa ra sau khi giới chức Áo và Slovakia khởi sự việc tạm thời kiểm soát biên giới, như Ðức đã làm từ ngày hôm trước.

Ðây là điều đi ngược lại với thỏa thuận Schengeng có từ nhiều năm nay giữa các quốc gia EU, nhằm đối phó với hơn nửa triệu người di dân đang kéo đến biên giới của khối này từ đầu năm tới nay.

Phó Thủ Tướng Ðức Sigmar Gabriel nói rằng Âu Châu “tự làm xấu hổ chính mình” sau khi các bộ trưởng EU không đạt được thỏa thuận hôm Thứ Hai về việc san sẻ gánh nặng đón nhận người di dân.

Cảnh sát Hungary dùng hàng rào kẽm gai khóa lại khoảng trống rộng chừng 40m, vốn cho đến khuya ngày Thứ Hai vẫn được người di dân dùng để vượt qua biên giới.

Tuy nhiên đến sáng Thứ Ba, cổng qua biên giới tại Roskzke và Asothalom đều bị đóng, khiến hàng trăm người bị kẹt trên lãnh thổ Serbia, không biết khi nào sẽ vào được quốc gia thành viên EU này để tiếp tục đi tới Ðức hay Áo như những người di dân trước đó.

Việc đóng cửa được thực hiện sau khi Hungary ban hành luật mới, theo đó coi việc vượt biên giới bất hợp pháp là một tội có thể bị phạt tới ba năm tù. (V.Giang)

HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

HẠNH PHÚC VÀ BẤT HẠNH

Chu Tất Tiến.

Rất nhiều người bi quan cho rằng “hạnh phúc chỉ là ảo tưởng”, một sự không có thật trên gian trần. Người khác cho rằng “hạnh phúc” là cái bánh vẽ do các nhà truyền giáo trong mọi tôn giáo đưa ra để cho người đi theo phải bám theo chân mình mãi mãi. Một số người lại tin theo một ví dụ căng thẳng hơn: Hạnh Phúc giống như miếng mồi nhử chó đua trong sân trường đua chó. Một miếng mồi được gắn vào một cái cần di chuyển rất nhanh vòng quanh vòng đua chó. Những chú chó thấy mồi liền phóng theo với hết sức mạnh, hầu đoạt được miếng mồi đó trước các chú chó cùng cạnh tranh với mình. Vì chạy hết sức như thế, đến khi bập được miếng mồi thì đã hết hơi, không còn có thể ăn được nữa.

Ngược lại, một số lạc quan lại cho rằng hạnh phúc có thật: hạnh phúc ở việc có nhiều tiền, muốn mua sắm gì thì có ngay. Người khác thấy hạnh phúc ở cái xe đẹp, nhà đẹp, vợ đẹp và con khôn. Mỗi khi đi cạnh bên người vợ trẻ đẹp thì thấy như hạnh phúc ngất trời, hãnh diện và kênh kiệu. Một số lớn thấy hạnh phúc khi thành công trong việc học hay được làm lớn. Nhìn chung, đa số những ai cho rằng hạnh phúc là có thật đều quy vào một điểm: Làm cho cá nhân mình sung sướng, thỏa nguyện vọng về vật chất tức là hạnh phúc.

Thực tế, cả hai phe, bi quan hoặc lạc quan đều chưa nhìn rõ cốt lõi của vấn đề. Người bi quan, vì lý do cá nhân nào riêng biệt, hoặc vì liên tục gặp những chuyện không may mắn mà không thể tìm ra đáp số giải quyêt vấn nạn của mình, đã không nhìn ra được hạnh phúc ở ngay trong tầm tay của họ.Thí dụ như với người phàn nàn về việc thiếu tiền để mua xe mới, nhà đủ tiện nghi cho gia đình họ, không có tiền để cho con học trường đạo, không có tiền để sửa chữa chỗ dột trên mái nhà, hoặc phải chi gần hết tiền lương hàng tháng cho tiền thuê nhà… người ấy đã không thấy rằng họ hạnh phúc hơn cả chục triệu người đang sống vất vưởng  trong các căn lều nát hay trên hè phố, chỉ mong có một bữa cơm nóng hổi là đã sung sướng cả bao ngày. Với người phàn nàn là vợ hay chồng không biết chăm nom đến gia đình, không biết chú tâm đến sức khỏe người thân, họ không nhìn thấy rằng, trong cùng giờ phút đó, cả triệu binh lính, đang phải đối đầu với bom đạn, với chết chóc lúc nào cũng sẵn sàng chụp trên đầu làm cho da thịt văng tứ phía. Kẻ buồn bực vì con mình không được học hành tử tế, không được sự quan tâm tốt đẹp của các bà Sơ và thầy cô giáo trường tư, họ quên rằng ngay trên quê hương Việt Nam, hàng triệu trẻ em đang sống dưới gầm cầu, khe hẻm, trong những cái lều dựng ngay trên bãi rác, mỗi ngày các em phải cầm chiếc que cời bước đi trên đống rác cao nghệu, mong kiếm được một vài cái hộp nhựa, chai nhựa, thậm chí vài cái bao nylong đựng rác, có  thể đựng đồ thối kinh khủng hay đôi khi có cả chân, tay em bé… Như thế, hạnh phúc có thể đã ở trong tay họ mà chính chủ nhân không hề biết.

Đối diện với nhóm người bi quan trên, người lạc quan cho rằng mình đang đầy đủ hạnh phúc đã quên rằng: cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao. Tiền bạc thì rồi cũng sẽ biến mất, như biến cố 9-11 đã làm cho hàng vạn, triệu người trắng tay. Đang là triệu, tỷ phú bỗng chốc biến thành kẻ nghèo khổ, phải sống bằng tiền trợ cấp của chính phủ. Có nhiều người đã tự tử vì không còn có khả năng thanh toán nợ nần sau 9-11. Xe đẹp hôm nay, thì biết đâu lại gây ra tai nạn ngày mai? Vợ đẹp lại như một quả bom không biết nổ giờ nào, nếu không bị ai “cua” mất, thì cũng có một ngày bất ngờ bạo bệnh mà mất đi. Chồng đẹp hoặc chồng tài năng cũng thế, ra đường dễ bị cám dỗ chẳng biết ngày nào khăn gói, gió đưa.. Còn chính con người, nói chung, tuổi trẻ thì da dẻ mịn căng, tinh thần phấn chấn, lúc nào cũng muốn bay bổng trên mây, rồi cũng tới một ngày, tự nhiên da chùng, mắt xụp. Rồi nhức mỏi, đau lưng, đau thận, buốt đầu gối, cổ vẹo cọt kẹt.. Tim đang đập đều bỗng tỏ  ra mệt mỏi, cùng với gan, ruột, phổi… mỗi ngày mỗi yếu đi, thuốc uống đầy nhà.. rồi đến lúc mọi cơ phận ngưng hoạt động.. Thế là hết. Hạnh phúc rồi đi đâu?

Cho nên, câu hỏi “Hạnh phúc có thật không? Ở đâu? Làm sao tìm được?” vẫn luôn bám vào các khuôn mặt đăm chiêu, trụ lại tại nụ cười méo mó, và tràn đầy trên những đuôi  mắt nhăn nheo. Trả lời sao bây giờ?

Thật dễ! Như lời người xưa: “Nothing is impossible!”. Hoặc “Hãy tìm, thì sẽ thấy, hãy gõ, thì cửa sẽ mở!” Hạnh phúc đầy dẫy chung quanh chúng ta, nằm trong lòng bàn tay chúng ta và sẽ tồn tại mãi trong tâm hồn chúng ta cho đến ngày chúng ta rũ bụi hồng trần: Hạnh Phúc ở việc cho đi và không hề đòi lại. Hạnh Phúc ở chỗ dùng hết khả năng của mình để tạo Hạnh Phúc cho thiên hạ. Hạnh Phúc ở trái tim Nhân Từ, tâm hồn rộng lượng, thấy chỗ nào đau khổ, thì tìm đến và an ủi, thấy ai thiếu thốn thì mang phần tài sản, vật liệu của mình mà bù đắp cho họ. Những người theo Phật Giáo thì lấy lòng Từ Bi mà đãi ngộ chúng sanh. Theo Thư Viện Hoa Sen: “Từ là cho vui, Bi là cứu khổ diệt khổ, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho tất cả mọi loài chúng sanh, đó là hành động lợi tha cứu đời.” Những Phật Tử có lòng Từ Bi thật thì tâm luôn an hòa, chỉ nhìn vào sắc diện cũng biết ngay là người lúc nào cũng hạnh phúc.

Với Tín đồ Công Giáo hay Tin Lành, thì muốn theo Chúa, phải có lòng yêu Người. Riêng đạo Công Giáo thì có “thương xác bẩy mối”: “Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn. Thứ hai: Cho kẻ khát uống. Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc. Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Thứ năm: Cho khách đỗ nhà. Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi. Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết.” Những hành động trên được thực hiện chỉ vì dựa vào hai chữ Bác Ái mà thôi.

Đạo Cao Đài lại có riêng một “cơ quan Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên con đường sinh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát hoặc giúp tay cho bên hành chánh thi hành luật pháp dễ dàng.” (Wikepedia).  Các tín hữu Hòa Hảo thì lấy Nhân, Nghĩa làm đầu: “Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân, Muốn về cõi Phật lập thân cõi trần”.

Tóm lại, người có lòng Nhân, cho dù thuộc bất cứ tôn giáo nào, lúc nào cũng thấy Hạnh Phúc trùng trùng điệp điệp, không bao giờ thiếu thốn. Kẻ có tâm tốt, khi nhìn thấy một thân xác bệnh tật, đói khổ mà nhờ bàn tay mình, mà khỏe mạnh, vui tươi, thì nhất định lòng mừng vui, hớn hở còn hơn người khỏi bệnh kia. Thấy hình ảnh một gia đình Thương Phế Binh, vui cười khoe cho mình chiếc xe lăn mới, hay một giấy chứng chỉ học giỏi của đứa con nhỏ, người Ân Nhân nhất định sẽ nhỏ giọt lệ mừng vui khôn tả. Để suốt đời, mỗi khi nhớ lại niềm hạnh phúc của người mà mình giúp đỡ, thì chính mình lại thấy hạnh phúc trào dâng, không bao giờ hết, cho đến giờ từ giã gian trần, vẫn nở nụ cười hạnh phúc. Thật ra, cũng không cần thiết phải làm chuyện lớn mới là Hạnh Phúc. Chỉ cần một nụ cười chia xẻ với người đang buồn bực, một góp ý chân thành với người đang khổ đau, một sự kiên nhẫn lắng nghe kẻ bất hạnh kể chuyện… cũng là những hành động vì lòng thương người. Cho nên, với tất cả những ai có lòng thương người thật, thì Sự Chết chỉ là một lần di chuyển đến miền Hạnh Phúc miên viễn trong đấng Tạo Hóa mà thôi.

Tiếc thay, bên cạnh những con người đi cầu Hạnh Phúc lại có những kẻ Bất Hạnh, vì tâm hồn khô héo, ích kỷ lúc nào cũng bo bo tìm hạnh phúc vật chất cho chính mình nên không bao giờ thấy Hạnh Phúc thật. Chỉ  vì lòng ghen ghét, tị nạnh, vị kỷ mà đầu óc luôn vận động suy nghĩ cách này, cách khác để cho mình được đứng trên, ngồi trước thiên hạ, nên căng thẳng chập chùng. Những kẻ này, ngay cả lúc đi ngủ cũng thấy mưu kế hiện ra trong óc, phải triệt hạ thằng này, phải làm cho con nọ táng gia bại sản, phải làm sao cho mình được bầu làm Chủ Tịch, Hội Trưởng, Trưởng Ban.. Như thế, thì mãi mãi không có bao giờ óc não được sự nghỉ ngơi, và nếu hệ thần kinh không được nghỉ ngơi, thì nhất định chóng già, chóng bệnh, và chóng chết.

Suy nghĩ đến chỗ này, lại một câu hỏi đặt ra cho những người mưu cầu Hạnh Phúc thật: “Làm thế nào để giúp cho những kẻ bất hạnh kia được hạnh phúc như mình?” Đây là câu hỏi khó có giải đáp, nhưng như đã nói ở trên, hạnh phúc không tự nhiên đến, mà phải kinh qua bao hy sinh, nhẫn nhịn, và chấp nhận thiệt thòi cho chính cá nhân mình. Vậy, “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi, e sông.” Có phải không, những ai đang tìm Hạnh Phúc thật?

Chu Tất Tiến,

9 tháng 9 năm 2015.

Một vài kỷ niệm nho nhỏ với Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện

Một  vài  kỷ  niệm  nho  nhỏ  với  Thi  sĩ  Nguyễn  Chí  Thiện

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Thi sĩ, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện (1939 – 2012) là một nhân vật được nhiều người quý trọng mến phục vì tinh thần kiên cường bất khuất của ông chống lại chế độ độc tài tàn bạo của đảng cộng sản tại Việt nam. Đã có rất nhiều người viết về ông, đặc biệt kể từ ngày ông lìa trần tại California vào tháng 10 năm 2012. Nay nhân ngày giỗ đọan tang của ông, tôi xin ghi lại một vài kỷ niệm thật dễ thương và đáng nhớ với một người bạn đã từng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQ) có trụ sở chính đặt tại miền Nam California.

Từ hồi năm 2001, khi dọn về cư ngụ tại California, anh Thiện đã thường xuyên sinh họat với MLNQ chúng tôi. Anh được mời tham gia với tư cách là một thanh viên trong Ban Cố vấn của MLNQ – trong đó có những nhân vật có tên tuổi như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách là bào đệ của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Luật sư Trần Thanh Hiệp, Giáo sư Đoàn Viết Họat v.v…

Trong các phiên họp định kỳ mỗi tháng, anh Thiện thường có mặt và anh luôn đóng góp những ý kiến thật là xây dựng tích cực và quý báu cho Ban Điều hành chúng tôi.

Với sự hiểu biết sâu sắc về tình hình chính trị xã hội ở trong nước và nhất là qua những thông tin chính xác mà anh thu thập được từ nơi các bạn bè thân tín của anh tại quốc nội – anh Thiện đã góp ý hướng dẫn rất tận tình cho anh chị em chúng tôi trong MLNQ trước những vấn đề quan trọng tinh tế liên quan đến công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt nam. Anh luôn biểu lộ một lập trường kiên định dứt khóat đối với chế độ độc tài thâm độc của người cộng sản từ xưa đến nay. Mà anh cũng được tất cả anh chị em chúng tôi quý mến vì cái phong cách điềm đạm nhân ái của một sĩ  phu quân tử, theo đúng với truyền thống xưa nay của dân tộc chúng ta.

Và qua anh Thiện, chúng tôi còn được biết thêm về cái tư cách đáng quý của những người bạn tù chính trị thân thiết lâu năm với anh, cụ thể như các anh Kiều Duy Vĩnh, Phan Hữu Văn v.v…

Anh Thiện không lái xe, nên nhiều người trong số anh chị em chúng tôi thay phiên nhau đến đón anh và chở anh về mỗi khi có các buổi họp của MLNQ. Và mỗi lần đi chung xe với anh Thiện, chúng tôi lại còn được anh chuyện trò tâm sự về nhiều khía cạnh trong cuộc sống riêng tư ở Việt nam, cũng như ở nhiều quốc gia trên thế giới mà anh đã có dịp đi qua. Còn ngòai ra, thì anh Trần Phong Vũ mới là người tài xế thường xuyên lo chuyên chở anh Thiện đi khắp nơi.

Vào khỏang năm 2008, trong lần đi chung xe với anh sau một phiên họp của MLNQ, thì anh Thiện có than thở tâm sự riêng với tôi đại để như thế này: “Ở vào cái giai đọan già yếu bệnh tật như lúc này, sao tôi thấy chán nản bi quan quá đối với cuộc đời tại thế này đấy, anh ạ…” Nghe vậy, tôi không khỏi thắc mắc, vì đối với một con người chiến sĩ kiên cường sắt đá như “Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện” vốn đã từng vượt qua được bao nhiêu đày đọa áp bức trong nhà tù cộng sản suốt gần 30 năm ròng rã – ấy thế mà lúc này đang sinh sống tại một nơi có đày đủ tự do và tiện nghi thỏai mái như ở nước Mỹ, anh lại đâm ra chán chường yếm thế đến như vậy!

Và tôi nhớ mình đã trả lời anh như sau: “ Thông thường vào lúc cuối đời, sau khi đã trải qua bao nhiêu sóng gió đọan trường trong cuộc sống, thì các cụ xưa hay nói đến chuyện “Tu Thân Tích Đức” để rồi chuẩn bị “về với ông bà tổ tiên” thôi. Nói cách khác, người lớn tuổi thì tìm cách nâng cao tâm hồn mình lên một bình diện tâm linh và tôn giáo – như trong tiếng Pháp người ta gọi đó là một thứ “dimension spirituelle/religieuse” vậy mà… Nghe tôi nói như vậy, anh Thiện tỏ vẻ trầm ngâm và không nói gì thêm nữa cho đến lúc chúng tôi chia tay nhau ở một địa điểm mà anh phải đến để tham dự một phiên họp khác nữa.

Vào năm 2013, nhân dịp Đại Hội lần thứ XI của MLNQ được tổ chức tại miền Nam California, Bác sĩ Lâm Thu Vân, một đại biểu đến từ Canada đã phát biểu trong phần Tưởng niệm hai vị Cố vấn vừa mới qua đời mới đây, đó là Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện và Bác sĩ Nguyễn Tường Bách. Bằng một giọng thật xúc động Bác sĩ ThuVân nói :”Đây là hai người chiến sĩ mà tôi luôn kính trọng như là thần tượng gương mẫu cho công cuộc tranh đấu gian khổ vì lý tưởng Tự do, Dân chủ và Nhân quyền của dân tộc Việt nam chúng ta vậy…”

Như dân gian vẫn thường nói: “Cọp chết thì để lại bộ da, người ta chết thì để lại cái nết”. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã đi xa, lìa khỏi cõi tạm này. Nhưng cái nết na, đạo hạnh và cái chí khí kiên cường bất khuất của anh thì vẫn còn lại mãi như là một tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau vậy./

Westminster California, tháng Chín 2015

Đoàn Thanh Liêm

Tôi đã gặp lại Chị Lài tại Ba lan

Tôi đã gặp lại Chị Lài tại Ba lan

Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tháng 6 năm 2012 vừa rồi, trong chuyến đi Âu châu, tôi đã có dịp đến thăm gia đình chị Trần Thị Lài tại thành phố Cracovie là cố đô của nước Ba lan. Chị Lài theo học Ban Cử nhân Văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài gòn vào giữa thập niên 1950. Hồi đó, chúng tôi cùng sinh họat chung với nhau trong Nhóm Sinh viên Công giáo do cha Nguyễn Huy Lịch làm Tuyên úy hướng dẫn.

Nhóm chúng tôi có chừng 30 thành viên là sinh viên thuộc nhiều phân khoa khác nhau và thường gặp gỡ trao đổi với nhau sau khi cùng tham dự Thánh lễ ngày Chủ nhật tại nhà nguyện thuộc Tu viện Mai Khôi trên đường Nguyễn Thông gần với Bệnh viện Saint Paul. Ở độ tuổi 20 – 25, chúng tôi sinh sống thật hồn nhiên, vô tư lạc quan yêu đời giữa lòng một xã hội tương đối thanh bình và thịnh vượng ở miển Nam Việt nam thời đó.

Sau khi tốt nghiệp đại học, chị Lài đi dậy môn Pháp văn mấy năm tại Nữ Trung học Gia Long. Rồi chị đi qua Pháp để học thêm lên bậc cao học. Vào khỏang năm 1964, chúng tôi được tin là chị Lài thành hôn với anh Stefan Wilkanowicz và theo chồng về sinh sống tại Ba lan. Có thể đây là trường hợp đầu tiên mà một người từ miền Nam Việt nam lập gia đình với người Ba lan và đến sinh sống tại quốc gia dưới chế độ cộng sản này.

Mùa hè năm 1970, chị Lài về thăm gia đình tại Việt nam nhân dịp Lễ Giỗ Đầu của thân phụ là Cụ Trần Văn Lý – người đã từng giữ chức vụ Thủ Hiến Trung Việt dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại vào năm 1950. Và các bạn chúng tôi đã thật vui mừng được gặp lại chị Lài sau mấy năm xa cách. Buổi hội ngộ thân tình ấm cúng này cũng diễn ra như xưa tại văn phòng của cha Lịch trong Tu viện Mai Khôi.

Chị kể cho chúng tôi về nhiều chuyện khó khăn phức tạp dưới chế độ cộng sản ở Ba lan, đặc biệt là nếp sinh họat của người công giáo thời đó. Chị cho tôi địa chỉ của anh Stefan Wilkanowicz là phu quân của chị lúc đó đang làm cho văn phòng của Pax Romana quốc tế có trụ sở tại thành phố Fribourg Thụy Sĩ. Thế mà vào cuối năm 1970, khi tôi có việc qua Genève thì cũng tìm đến Fribourg để thăm anh Stefan luôn thể, nhưng vì đúng vào dịp nghỉ lễ Noel, nên tôi đã không gặp được anh.

Từ ngày qua định cư ở Mỹ năm 1996, tôi đã dò hỏi nhiều nơi, nhưng cũng không làm sao liên lạc được với chị Lài, kể cả qua địa chỉ e-mail do một anh bạn gửi cho. Mãi đến khi tôi qua Paris vào mùa Xuân năm 2012, thì nhờ được bà con ở Ba lan cho biết số điện thọai chính xác của gia đình chị ở thành phố Cracovie, nên tôi mới liên lạc nói chuyện được với chị Lài. Qua điện thọai, tôi nghe được giọng nói của chị thật rõ ràng và mạnh mẽ, biểu lộ nỗi vui mừng được tin về một số bạn bè thân thiết từ cái thời còn đi học đã trên 50 năm xưa ở quê nhà Việt nam.

Và vào đầu tháng 6, tôi đã bay từ thành phố Frankfurt nước Đức để tới thăm anh chị Lài & Stefan Wilkanowicz tại cái thành phố là cố đô của Ba lan. Như vậy là kể từ ngày gặp nhau lần cuối ở Saigon vào năm 1970 cho đến năm 2012 này – tức là sau 42 năm thì chị Lài và tôi mới lại có cơ hội gặp nhau ở Ba lan là quê hương của chồng chị. Rõ ràng đây là một cuộc hội ngộ trùng phùng rất mực kỳ thú đối với cả hai phía chúng tôi.

Trong dịp này, tôi đã đến sinh sống vài ngày với gia đình anh chị tại một căn hộ trên lầu ba của một chung cư tọa lạc trong khu trung tâm thành phố Cracovie. Anh chị có hai cháu gái đều đã trưởng thành và có gia đình ở riêng, nên hiện trong nhà chỉ còn có hai vợ chồng già sống chung với nhau mà thôi. Mỗi ngày thì có người đến giúp dọn dẹp nhà cửa bếp núc và đi chợ mua sắm thực phẩm cho gia đình.

Ở vào tuổi 83, chị Lài đã bắt đầu có dấu hiệu suy thóai về mặt trí nhớ, nên khi chuyện trò trao đổi với tôi, thì có nhiều câu hỏi chị cứ nhắc đi nhắc lại hòai. Trái lại, anh Stefan ông xã của chị, thì dầu đã ở tuổi 87 mà anh vẫn còn rất sáng suốt tinh tường. Anh nói tiếng Pháp khá trôi chảy lưu lóat và ra tay lo lắng chăm sóc cho tôi thật là chu đáo tươm tất.

Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện của ”một gia đình Việt – Ba lan” này, tôi xin lần lượt ghi lại chi tiết hơn về chị Lài, anh Stefan và cháu gái tên Việt nam là Lan.

1 – Câu chuyện của chị Lài.

Gặp lại chị Lài lần này, tôi được nghe chị kể lại nhiều kỷ niệm xa xưa ở Việt nam mà chị nhớ rất kỹ. Cụ thể như chị nói về chuyện ông cụ hồi làm Quản Đạo ở Đà lạt hồi trước năm 1940, thì đứng ra tổ chức cho một số bà con từ miền Bắc vào làm nghề trồng rau ở vùng cao nguyên này. Chị còn nhớ lúc đi theo thân phụ ra bến xe để đón lớp người này mang theo cả gia đình cùng với mọi thứ gồng gánh nồi niêu chén bát từ mãi xứ Hà Đông Nam Định vào lập nghiệp ở địa phương.

Chị cũng kể lại những năm tháng theo học nội trú tại trường của mấy ma soeur người Pháp với kỷ luật khá nghiêm khắc – mà nhờ vậy chị tiếp thu được số vốn kiến thức vững chắc, nhất là với môn Pháp văn và cổ ngữ La tinh – khiến cho chị có thể tiến xa trên đường học vấn sau này.

Chị vẫn còn nhớ cái thời tham gia viết báo Thông Cảm với Nhóm Sinh viên Công giáo chúng tôi năm xưa ở Saigon. Chị gọi các bạn thời đó đều có tinh thần của người chiến sĩ dấn thân phục vụ xã hội và là những người đồng điệu với chị nữa (militants – âmes soeurs). Khi nghe tôi nhắc đến tên những người đã ra đi – điển hình như cha Nguyễn Huy Lịch, anh Dược sĩ Trần Quý Thái v. v…, thì chị đều nhớ đến và bày tỏ lòng thương tiếc đối với những nhân vật mà chị đã từng sát cánh gắn bó thân thiết trong thời gian cùng sinh họat chung với nhau đã đến trên nửa thế kỷ trước đây.

Trên Internet, tôi còn được đọc một bài phỏng vấn khá nhiều chi tiết do chị Lài trả lời cho một nhà báo người Ba lan tên là Malgorzata Dzieduszycka vào khỏang năm 1994. Bài báo có nhan đề tiếng Anh là : ” An interview with Lai Wilkanowicz, a Vietnamese woman who has been living in Poland for 30 years “ (Bài Phỏng vấn với bà Lài Wilkanowicz, người phụ nữ Việt nam đã sống ở Ba lan suốt 30 năm). Chị Lài kể lại về mối tình của chị với anh Stefan mà chị gặp gỡ lần đầu tiên khi cùng tham dự một Hội nghị quốc tế của Pax Romana được tổ chức vào năm 1957 tại San Salvador ở Nam Mỹ.Và mãi đến năm 1964, sau khi vượt qua bao khó khăn trở ngại, thì chị mới có thể đến Ba lan để cùng chung sống với anh được.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, chị Lài còn cho biết chị đã dịch nhiều tài liệu từ tiếng Ba lan sang tiếng Pháp – đặc biệt là các sách của Tổng Giám Mục Karol Wojtyla. Nhờ vậy mà chị mới có đủ phương tiện tài chánh để lo giúp trang trải mọi phí tổn rất nặng nề cho người em ở Việt nam có thể qua định cư bên nước Pháp. Chị cũng còn dịch cả cuốn tiểu sử của nữ tu Faustyna là người được coi như một “Sứ giả rao truyền về sự sùng kính Lòng Thương Xót Chúa” (Divine Mercy) nữa.

Và mới đây vào tháng 10/2012, báo Đàn Chim Việt còn giới thiệu cuốn Tự truyện của cháu Lan là con gái đầu lòng của anh chị, thì bài báo còn ghi là chị Lài đã cho xuất bản vào năm 2004 một cuốn Hồi ký bằng tiếng Ba lan với nhan đề : “ Từ Việt nam đến Ba lan : truyện của một người con gái quan huyện”. Các chi tiết này, quý bạn đọc đều có thể đọc trên Internet, nên tôi khỏi cần ghi thêm ở đây nữa.

2 – Câu chuyện của anh Stefan.

Anh Stefan năm nay đã ngòai 87 tuổi mà vẫn còn làm việc đi đứng vững vàng. Stefan là một trí thức Công giáo có tên tuổi ở Ba lan, anh đã từng làm Tổng Biên tập trong nhiều năm cho nhà xuất bản có tiếng Znak và cả cho một tờ tuần báo nữa. Anh là một thành viên của tổ chức “Bảo tàng Khu Thiêu người Auschwitz” xưa kia của Đức Quốc Xã. Và Stefan cũng có chân trong Hội Đồng Giáo Hòang về Giáo Dân (Pope’s Council for Lay Catholics).

Anh dẫn tôi đi khắp nơi trong thành phố bằng xe taxi hay xe bus để làm việc này chuyện nọ một cách dễ dàng. Chị Lài có nhắc anh dẫn tôi đến thăm nhà xuất bản Znak là cơ sở anh đã gắn bó cộng tác từ nhiều năm, nhưng đúng lúc đó thì cơ sở này đang đóng cửa để sửa chữa lại, nên tôi đã không có dịp đến thăm viếng nhà xuất bản có danh tiếng này.

Stefan cho tôi biết : Bản luận văn tốt nghiệp đại học của anh lấy chủ đề là : “L’émancipation ouvrìere selon Emmanuel Mounier” (Sự Giải phóng giới Lao động theo chủ trương của Emmanuel Mounier là người khởi xướng ra chủ thuyết Nhân vị (Personnalisme) ở Pháp từ sau Đệ Nhất Thế chiến và cũng là sáng lập viên của tạp chí Esprit mà hiện vẫn còn tiếp tục ấn hành). Và chúng tôi có dịp trao đổi về các tác giả thuộc trường phái Nhân bản Thiên chúa giáo ở Pháp vào giữa thế kỷ XX như Jacques Maritain, Gabriel Marcel – mà từ hồi còn là sinh viên chúng tôi đã say mê theo dõi học hỏi. Trong nhà anh, tôi thấy vẫn còn các số báo mới nhất của tạp chí Esprit từ Pháp gửi cho anh – báo này từ sau 1975 thì tôi không hề thấy xuất hiện tại Việt nam nữa.

Stefan còn kể lại cho tôi cái kỷ niệm sinh họat sôi nổi với các “Công nghị cấp giáo phận” (synode diocésain) dười thời Giám mục Karol Wojtyla cai quản giáo phận Cracovie (mà sau này đó chính là vị Giáo hòang nổi danh Jean Paul II của Giáo Hội Công giáo La mã). Anh nói : Phải có đến 500 đơn vị các synode này với khí thế nô nức của mọi giới công giáo hội họp thảo luận về các khía cạnh đổi mời của Giáo hội Công giáo tại địa phương. Đó là một phong trào tự phát của quần chúng công giáo mà chính quyền cộng sản không thể làm cách nào mà cấm cản hay dẹp bỏ được. Tuy vậy, lên đến cấp quốc gia (synode national), thì các công nghị này lại không thể nào đạt kết quả mong muốn được.

Trả lời câu hỏi của tôi là : “Liệu bây giờ có thể gây lại phong trào quần chúng tôn giáo như vậy nữa chăng?”, thì Stefan cho biết : “Bây giờ nhờ có Internet, thì giới trẻ có nhiều điều kiện thuận tiện để phát động phong trào canh tân như đã khởi sự từ khỏang 40 năm trước ngay tại giáo phận Cracovie này.” Cuộc trao đổi giữa anh và tôi kéo dài trong nhiều giờ với nhiều chi tiết lý thú về quá trình xây dựng và phát triển phong trào canh tân của giới Công giáo Ba lan  –  mà tôi sẽ có dịp ghi lại đày đủ hơn trong một bài riêng biệt khác.

Mà ở đây, tôi muốn ghi ra sự nhận xét của mình về sự bền vững của tình yêu giữa hai anh chị Lài & Stefan – đó là cả hai người đều ôm ấp theo đuổi cùng một lý tưởng của người chiến sĩ – như chính chị Lài đã nói với tôi :  Chúng ta đều là những “militants”, là “âmes-soeurs” với nhau. Và cả hai anh chị suốt cuộc đời đều họat động trong lãnh vực văn hóa của Giáo hội Công giáo Ba lan – cụ thể là sát cánh chặt chẽ với Tổng Giám mục Karol Wojtyla ở Cracovie là người sau này trở thành Giáo Hòang Jean Paul II nổi tiếng.

Hồi ký của chị Lài cũng như Tự truyện của cháu Lan đã ghi chi tiết về mối tình này. Kể cả trong bài phỏng vấn vào năm 1994 đã nêu ở trên, thì chị Lài cũng đã nói nhiều về mối tình keo sơn tuyệt vời này nữa.

Và tôi cũng còn chứng kiến việc anh Stefan chăm sóc tận tụy và trìu mến đối với người bạn đời hiện đang có triệu chứng của bệnh Alzheimer nữa.

3 – Câu chuyện của cháu Lan, trưởng nữ của anh chị Lài – Stefan.

(tên đày đủ là : Lan Marzena Wilkanowicz – Devoud)

Tôi chưa có dịp gặp cháu Lan, vì anh Stefan cho biết cháu sống tại Paris với người chồng là dân Pháp. Tôi đóan cái chữ Devoud ở cuối cái tên dài như được ghi ở trên, thì đó là tên họ của chồng cháu. Lan là tiếng Việt như Hoa Lan (Orchidea), Marzena mới là tên tiếng Ba lan. Còn Wilkanowicz là tên họ nội của cháu. (Tên mẹ là Lài (Jasmine) – em gái chị Lài có tên là Huệ (Lily), thì cũng lại là một thứ Hoa nữa)

Cuối tháng 10 năm 2012, cháu Lan có cho ấn hành cuốn Tự truyện bằng tiếng Ba lan tại thủ đô Varsovie và đã có nhiều bà con người Việt tại Ba lan đến dự buổi ra mắt. Cuốn sách này đã được giới thiệu trên báo điện tử Đàn Chim Việt và được nhiều độc giả chú ý theo dõi. Vì không đọc được nguyên tác bằng tiếng Ba lan – mà cũng chưa thấy có bản tiếng Anh hay tiếng Pháp – nên tôi xin phép được trích dẫn một vài đọan trong bài báo của Đàn Chim Việt như sau đây để giới thiệu với quý bạn đọc câu chuyện của cháu Lan :

…”Lan Marzena là kết quả của mối tình “không tưởng vô cùng lãng mạn của người trí thức Ba lan với cô gái Việt Nam dòng dõi – trong khi chiến tranh, chính trị và khỏang cách địa lý là những rào cản thách thức tưởng như không thể vượt qua.”

“Mẹ cô, Maria Teresa Trần Thị Lài là con gái của quan Trần Văn Lý, người từng giữ chức cai quản tại Đà lạt thời Pháp thuộc. 28 tuổi, bà gặp người chồng tương lai trong cuộc Họp mặt Thanh niên Công giáo Pax Romana tại San Salvador (Nam Mỹ) và … sau 7 năm xa cách, bà quyết định lấy ông Stefan Wilkanowicz khi đó là ký giả của tuần báo Công giáo Tygodnik Pawzechny…”

“… Mối tình của ông bà Wilkanowicz “ly kỳ và có khi còn hay hơn cả phim Hollywood, vì là chuyện có thật” (theo lời ghi của cô Lan)”.

“… Lan Marzena dẫn ta tới gặp các nhân vật lịch sử cận đại của Ba lan mà chị gặp, kết thân và học hỏi – trong đó có Thủ Tướng đầu tiên của Ba lan dân chủ Tadeusz Mazowiecki, các nghệ sĩ, nhà văn, các tên tuổi tạo mode Anh, Pháp mà chị từng làm việc cùng trong 13 năm làm Tổng biên tập đầu tiên của nguyệt san “Elle” Ba lan…”

4 – Để tóm lược lại.

Khi tìm đến thăm gia đình chị Lài ở Ba lan, tôi chỉ nhắm mục đích thật đơn giản là gặp lại người bạn thân thiết từ thuở còn đi học ở Saigon trên nửa thế kỷ trước. Nhưng sau cuộc viếng thăm này, tôi thật không ngờ là chị bạn của mình đã trải qua một cuộc sống cam go mà thật sôi động giữa lòng một đất nước xa lạ dưới sự kềm kẹp ngặt nghèo của chính quyền cộng sản. Và tôi thật vui mừng thấy được anh chị Lài – Stefan đã vượt qua được bao nhiêu nghịch cảnh sóng gió và giữ vững được niềm tin son sắt của mình đối với Đạo Công giáo – mà cả hai dòng họ của anh chị ở Việt nam cũng như ở Balan đã gắn bó vững chãi từ bao nhiêu thế hệ trước.

Bài viết này chỉ nhằm ghi lại một cách sơ lược về chuyến thăm viếng của tôi đến với gia đình anh chị. Do vậy, nó chỉ có tính cách riêng tư về tình cảm bạn hữu giữa chúng tôi – kể cả giữa một số bằng hữu quen biết trong thế hệ sinh viên chúng tôi ở Saigon thời trước mà thôi.

* Vì thế, tôi hy vọng sẽ có bà con hiện sinh sống ở Ba lan có điều kiện tham khảo trực tiếp từ các tài liệu viết bằng tiếng Ba lan – để rồi trình bày cho công chúng độc giả người Việt hiểu biết tường tận hơn về một gia đình “Việt – Balan” với nhiều tình tiết thật là ly kỳ sinh động này. Mong lắm thay!

Costa Mesa California, Tháng 11 năm 2012

Đòan Thanh Liêm

Ghi chú: Chị Teresa Maria Trần Thị Lài đã qua đời tại Cracovie vào đúng ngày 15 tháng Tám năm 2014.

ĐỨC MẸ SẦU BI

ĐỨC MẸ SẦU BI

LM Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.

Hôm nay, chúng ta cử hành lễ nhớ “Đức Mẹ Sầu Bi”.  Như thế, trong đời sống của Đức Mẹ, cũng có những điều sầu bi, như trong đời sống của tất cả mọi người chúng ta.  Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta có nhiều lễ tôn vinh Đức Maria, Mẹ của chúng ta, nhưng hầu như luôn luôn là vì những ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho Mẹ (chẳng hạn ơn vô nhiễm, ơn lên trời, ơn làm Nữ Vương…), hay vì những biến cố đặc biệt trong cuộc đời của Mẹ (Sinh Nhật, Truyền Tin, Thăm Viếng…)  Chính vì thế mà, lễ Đức Mẹ Sầu Bi là một ngày lễ rất đặc biệt, bởi vì lễ này mời gọi chúng ta tôn vinh Đức Mẹ, với một khuôn mặt rất đời thường, và vì thế rất gần gũi với chúng ta: Đức Mẹ Sầu Bi, và chúng ta cũng sầu bi, không phải một lần, nhưng nhiều lần trong cuộc đời!

Vậy chúng ta đã có và đang có những sầu bi nào?  Tuy nhiên, trong ngày lễ hôm nay, chúng ta được mời gọi hướng về Đức Mẹ và “suy chiêm” những đau khổ của Mẹ.  Bởi vì, những đau khổ của Mẹ sẽ làm cho chúng ta hiểu biết Mẹ hơn và như thế, yêu mến Mẹ nhiều hơn.  Ngoài ra, những đau khổ của Mẹ còn soi sáng và dẫn dắt chúng ta trong cuộc sống đầy khổ đau này.

Bảy sự đau khổ của Đức Mẹ

Như chúng ta đều đã biết, Truyền Thống của Giáo Hội thích dựa vào các Tin Mừng, để kể ra những đau khổ của Đức Mẹ, và Giáo Hội kể ra được bảy đau khổ; vì thế, ngày lễ hôm nay, còn được gọi là lễ “Đức Mẹ Bảy Sự”.  Con số “bảy” cũng thật là ý nghĩa, bởi vì số 7 đối với người Do Thái, là con số hoàn hảo, cũng giống như số 9 đối với chúng ta.  Điều này làm cho chúng ta nhớ lại các con số bảy của bài một Tin Mừng theo thánh Mát-thêu: bảy lần; bảy mươi lần bảy (x. Mt 18, 21-35); bảy giỏ (x. Mc 8, 8).  Sau đây là “bảy sự” của Đức Mẹ:

1.     Lời của cụ ngôn sứ Simêon về Đức Maria (Lc 2, 25-35), là bài Tin Mừng chúng ta có thể đọc trong ngày lễ hôm nay, theo sách Phụng Vụ các bài đọc.

2.     Trốn sang Ai-cập (Mt 2,13-15)

3.     Lạc mất Đức Giê-su (Lc 2,41-52)

4.     Đức Mẹ nhìn Đức Giê-su vác thập giá (Lc 23,27)

5.     Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá (Ga 19, 25-27), là bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay.

6.     Đức Mẹ đón nhận thân xác đã chết của Đức Giê-su (Ga 19,38-40)

7.     Đức Mẹ ở bên mộ Đức Giê-su (Ga 19,41-42)

Điều phải đánh động chúng ta, khi đọc qua danh sách bảy sự đau khổ của Đức Mẹ, đó là mọi sự đau khổ của mẹ đều có liên quan đến Đức Giê-su, con của Mẹ; một cách cụ thể, những đau khổ của Mẹ đến từ biến cố Giáng Sinh, đến từ đời sống ẩn dật, đến từ sứ mạng rao giảng Nước Trời, đến từ cuộc Thương Khó, đến từ Thập Giá, và sau cùng đến từ cái chết của Ngài.

Như thế, chính khi Đức Mẹ thưa “xin vâng”, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, để đón nhận Đức Giê-su, Con Thiên Chúa vào trong cuộc đời của mình, và chính khi Đức Mẹ sống lời xin vâng của mình mỗi ngày và sống cho đến cùng, đến tận chân Thập Giá và cho đến hết cuộc đời, thì tất yếu đau khổ xẩy ra cho Mẹ.  Bởi vì, như chúng ta có thể nhận ra trong bảy đau khổ của Mẹ: Đức Mẹ sinh ra Đức Giê-su, nhưng Đức Mẹ lại được mời gọi không nuôi nấng và dưỡng dục Ngài theo ý riêng của mình, theo chương trình hay kế hoạch riêng của mình, nhưng là để cho Ngài lớn lên theo chương trình của Thiên Chúa; Đức Mẹ đón nhận Đức Giê-su vào cung lòng và vào cuộc đời mình, nhưng Mẹ lại được mời gọi, như tất cả chúng ta cũng được mời gọi, đi theo Đức Giê-su trên con đường của Ngài; mà con đường của Đức Giê-su là con đường dẫn đến Thánh Giá.

Những đau khổ của Mẹ đến từ việc Mẹ đi theo Đức Ki-tô, Mẹ gắn bó thiết thân với Đức Ki-tô, Mẹ trở nên một với Đức Ki-tô, nhất là với “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.  Và tất cả chúng ta đều có cùng một kinh nghiệm này, giống như Đức Mẹ.  Thật vậy, từ khi chúng ta trở thành Ki-tô hữu, và nhất là từ khi chúng ta đáp lại tiếng gọi đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi gia đình hay trong ơn gọi dâng hiến, và cố gắng sống ơn gọi của chúng ta mỗi ngày, chúng ta phải cho đi chính mình, cho đi thời gian, cho đi tất cả những gì rất thiết thân đối với chúng ta, đó là quyền làm chủ, giới tính và tình cảm, ý muốn…, thì tất yếu sẽ có nhiều đau khổ.  Nhưng tại sao chúng ta lại mang vào mình những đau khổ, nếu không phải là muốn noi gương Đức Mẹ?

Thật vậy, như Đức Mẹ, vì tình yêu đối với Đức Ki-tô, chúng ta ước ao trở nên nữ tì, trở nên tôi tớ của Ngài, chúng ta ước ao sống theo Lời của Ngài.  Và chính tình yêu và lòng ước ao này làm cho chúng ta hạnh phúc bất chấp những đau khổ, và ngay trong những đau khổ, bởi vì có một niềm hạnh phúc đặc biệt, đó là hạnh phúc đau khổ vì tình yêu.  Như thánh Augustino nói: “Trong tình yêu không có đau khổ, và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.

Đau khổ thứ năm: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá

Hình ảnh Đức Mẹ đứng dưới chân Thập Giá, mà bài Tin Mừng mời gọi chúng ta chiêm ngắm trong ngày lễ hôm nay, nói lên sự nghịch lí này của Tin Mừng và của mầu nhiệm Vượt Qua.

Dưới chân thập giá, Mẹ sầu bi, nhưng Mẹ vẫn đứng vững chứ không ngã quị.  Chúng ta nên đi lại hành trình của Mẹ Maria, từ biến cố truyền tin, để hiểu được tại sao Mẹ đứng vững.  Chúng ta cũng cần đi theo Đức Kitô như Mẹ, để có thể đứng vững dưới chân thập giá.  Và không cần phải đợi đến biến cố phục sinh, nhưng ở tột đỉnh của sự trao ban, nghĩa là trao ban đến không còn gì, chúng ta được mời gọi nhận ra sự sống mới phát sinh, phát sinh thật đồi dào, phát sinh từ Lời sự sống của Đức Giêsu được thốt lên ngay nơi chết chóc và lúc Ngài đang chết đi.  Thật vậy, ngay trong đau khổ của sự chết, một Gia Đình mới phát sinh: Đức Giê-su, nhìn Mẹ, và nói:

–       Thưa Bà, đây là con của Bà.

Như thế, chính lúc Mẹ đang mất đi người con này, mẹ trở thành Mẹ của người con khác; và từ người con này, dưới sức mạnh của Đấng Phục Sinh, sẽ trở thành đông đúc, trong đó có cả con trai lẫn con gái.  Chính lúc Mẹ bình an dâng hiến người con Duy Nhất, Mẹ nhận lại gấp trăm, nơi Người Môn Đệ Đức Giê-su thương mến.  Và Mẹ cũng không mất đi Người Con Duy Nhất của Mẹ, vì Ngài sẽ hiện diện ở nơi anh chị em mới của Ngài.

Từ hi sinh thập giá, giữa cơn thử thách, ngay trong sự chết, một nhân loại mới phát sinh: những gì của con là của Mẹ; những gì của Thầy là của anh.  Cái chết của Đức Giêsu đã làm phát sinh sự sống:  Mẹ trở thành Mẹ của Người Môn Đệ Đức Giêsu yêu mến, đại diện cho tất cả các môn đệ thuộc mọi thời; khi dâng hiến người con duy nhất, Mẹ không mất đi, nhưng nhận lại Ngài nơi các môn đệ, nơi cả một đàn con đông đúc.  Bởi vì, Đức Giêsu sẽ đi vào sự sống mới và hiện diện bên cạnh, ở giữa và bên trong các môn đệ nam nữ.

Xin Chúa cũng ban cho chúng ta có cùng một kinh nghiệm của Đức Mẹ: dưới chân thập giá đau thương của cuộc đời, của hành trình ơn gọi, xin chúng ta cảm nhận với niềm vui và hạnh phúc, sự sống mới của Đức Ki-tô đang phát sinh ngay hôm nay, và phát sinh thật dồi dào.

LM Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.

TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI

TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI

Tạ Quang Khôi

Nữ tỳ Vân Hương khép nép đứng im lặng, cúi đầu nhìn xuống đất. Chưa bao giờ, từ ngày vào làm tôi tớ cho phủ Tướng Công đã nhiều năm, nó thấy chủ có sắc giận như lúc này. Tướng Công vốn là người thâm trầm, ít nói, nhưng rất nghiêm khắc. Ngài làm việc gì cũng tính toán cẩn thận, vì thế, hầu như chưa có việc nào bị hư. Những việc quan trọng, ngài thường hỏi ý kiến những người thân cận.

“Mày có chắc tiểu thư mê tiếng hát của thằng lái đò không ?” Tướng công chợt hỏi.

Vân Hương kính cẩn đáp một cách bình tĩnh :

“Bẩm Tướng công, điều đó không còn nghi ngờ gì nữa.”

“Như vậy, bệnh của tiểu thư là…tương tư ?  Tương tư …thằng lái đò ?”

Vân Hương  lúng túng, không biết trả lời Tướng công ra sao. Nhưng, trong bụng, nó tin chắc tiểu thư mắc bệnh tương tư. Tướng công lại hỏi :

“Tiểu thư đã gặp thằng lái đò lần nào  chưa ?”

Vân Hương lo sợ, ấp úng :

“Bẩm…Bẩm…không ạ…Tiểu thư chưa bao giờ ra khỏi nhà.”.

Tướng công gật gù :

“Ừ, như vậy là chỉ…tương tư tiếng hát thôi ?”

“Dạ, chỉ nhớ tiếng hát.   Đêm nào được nghe hát thì  tiểu thư  vui, còn không thì…buồn bã, thẫn thờ.”…

“Rồi mấy bữa nay không có tiếng hát, tiểu thư bệnh ?  Mày có biết tại sao thằng lái đò không hát nữa ?”

“Con đã đi hỏi dò thì nghe đâu nó cũng bệnh, nghỉ cả chèo đò”.

Tướng công giữ im lặng một lúc khá lâu, rồi hỏi tiếp  :

“Mày có biết tên tuổi, mặt mũi nó ra sao không ?”

“Bẩm tướng công,con chưa gặp nó lần nào, nhưng người ta nói nó còn trẻ, chỉ mười bảy mười tám và…rất đẹp trai.”

Tướng công giật mình :

“Mày nói sao ?  Nó đẹp trai ?  Mà tên nó là gì ?”

“Bẩm Trương Chi ạ….Vì nó đẹp trai lại hát hay, nên có nhiều ngườI mê… Có cả những cô con nhà giầu.”

“Thế nó bằng lòng ai chưa ?”

“Dạ…Dạ…Con cũng không hỏi kỹ chuyện đó….Mới đây tiểu thư không nghe tiếng hát nên nhớ, sai con đi hỏi…Con chỉ biết có vậy thôi.”

Tướng công tỏ vẻ lo lắng :

“Mày đã nói hết cho tiểu thư nghe chưa ?”

“Bẩm, chưa ạ.  Mấy bữa nay tiểu thư lúc tỉnh lúc mê, con chưa nói được.”

Tướng công mừng rỡ :

“Ừ, tốt. Không được nói đó”.

Vân Hương ngạc nhiên :

“Bẩm…Nhưng tiểu thư sai con đi hỏi… »

Tướng công nghiêm giọng :

“Tao nói không là không”.

Thấy tướng công giận, nó sợ, im lặng cúi đầu.

Tướng công chậm rãi bước đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài trời trăng sáng vằng vặc. Không xa lâu đài của Tướng công, một dòng sông nhỏ lấp lánh dưới ánh trăng. Tướng công đã ngắm cảnh trăng này cùng phu nhân không biết bao nhiêu lần và đều thấy cảnh đẹp. Nhưng đêm nay, cái vẻ thơ mộng của nó bỗng biến đi đâu mất. Thật ra, cảnh vẫn thế. Trăng vẫn vằng vặc sáng, dòng sông vẫn lững lờ trôi ngoài xa kia, nhưng lòng Tướng công đã thay đổi. Con gái yêu của Tướng công đã bị bệnh vì cảnh trăng đẹp đó, vì tiếng hát của một tên lái đò. Điều nguy hiểm hơn hết là nó vừa hát hay vừa đẹp trai. Tất nhiên Tướng công không thể gả con gái cho một tên lái đò nghèo hèn. Nhưng phải làm cách nào để tiểu thư quên đi tiếng hát quyến rũ đó. Còn mê tiếng hát là còn thương nhớ tên lái đò. Thoáng trong một giây, Tướng công nghĩ đến việc sai thủ hạ giết chết tên lái đò. Không, Tướng công thầm nhủ, cách đó không ổn, mà còn có thể làm tăng lòng thương nhớ của tiểu thư. Cách nào để tiểu thư  không còn mê tiếng hát  nữa mới quan trọng. Bỗng Tướng công nhớ tơi Mao Nhị, một mưu sĩ đang là khách nhân trong phủ Tướng công. Mao là người khôn ngoan, quỷ quyệt, đã giúp Tướng công giải quyết nhiều công việc khó khăn. Tướng công chợt reo to :”À !” rồi quay trở vào. Thấy con Vân Hương còn khép nép đứng chờ ở một góc phòng, Tướng công hơi ngạc nhiên, nhưng nhớ ngay ra chuyên đang hỏi nó. Ngài vung tay áo ra lệnh “Cho mày lui”.

Dù đã chờ câu nói đó từ lâu, nữ tỳ Vân Hương cũng không dám bỏ đi ngay. Nó kính cẩn cúi gập người chào Tướng công,rồi từ từ đi lùi ra cửa.

Sáng sớm hôm sau, Tướng công cho gọi Mao Nhị lên hầu ngay. Ngài kể lại chuyện tiểu thư ốm tương tư tiếng hát cho Mao nghe. Và cũng cho Mao biết Trương Chi vừa đẹp trai vừa hát hay. Ngài chỉ nói vắn tắt, nhưng Mao hiểu ngay rằng tên lái đò hát hay không còn chỗ đứng ở vùng đất này.

Suy nghĩ một lát, Mao thưa :

“Bẩm Tướng công, muốn tiểu thư không còn thương nhớ tiếng hát của tên lái đò, chỉ có cách là cho tiểu thư gặp hắn”…

Tướng công giật mình :

“Tiên sinh nói sao ?  Tiên sinh quên rằng nó vừa đẹp trai vừa hát hay ?”

Mao Nhị cười, lắc đầu :

“Dạ, bẩm tướng công, tại hạ không quên điều quan trọng đó…”

Rồi Mao nhìn trước nhìn sau, dù biết là vắng người, vẫn ghé tai Tướng công thì thầm một lúc khá lâu.

Nghe xong, Tướng công tươi hẳn nét mặt, nhưng còn thắc mắc :

“Làm sao làm được điều đó càng sớm càng tốt, vì bệnh của tiểu thư mỗi ngày một nặng…”

Mao cười :

“Xin tướng công an tâm. Tại hạ sẽ làm xong việc này trong vòng hai ngày.”

Mao ngưng một chút, rồi lại nói :

“Xin Tướng công cho tại hạ hai tên lính để giúp tại hạ lo vụ này…Tại hạ cần hai tên bạo tợn, nhưng phải biết vâng lệnh trên.”

Tướng công cười :

“Hai thằng hay hai chục thằng cũng có thể có ngay, miễn được việc”

“Dạ, cảm ơn Tướng công. Hai tên là đủ rồi.”

X  X X

Nữ tỳ Vân Hương ngồi trực cạnh giường tiểu thư liên tục ngày đêm. Nó là một con đầy tớ trung thành,hết lòng lo cho chủ. Thật ra, nó cũng rất thương tiểu thư. Ngoài tình chủ tớ, nó còn thêm tình quyến luyến riêng, vì tiểu thư đã đối xử với nó thật tốt, không khác gì tình chị em. Tiểu thư tuy ít tuổi nhưng cách cư sử của nàng tỏ ra rất người lớn. Nàng  rộng lượng, sẵn sàng tha thứ cho kẻ hầu người hạ khi chúng phạm lỗi. Riêng đối với Vân Hương, nàng lại còn đặc biệt hơn.

Thấy tiểu thư cứ li bì mê man nó cũng lo sợ. Lúc nào hơi tỉnh một chút, nàng lại hỏi nó :

“Vân Hương ơi, chị có nghe thấy tiếng hát không ?   Sao…sao người ta lâu quá không hát nữa ? Người ấy tên chi, chị có biết không ?”

“Dạ, thưa tiểu thư, người lái đò đó tên là Trương Chi.”

“À à…tôi nhớ ra rồi…Chàng tên là Trương Chi…Bao giờ chàng lại hát, chị có biết không ?”

“Thưa tiểu thư, em cũng không rõ…Dường như anh ta bệnh…”

“Tại sao chị biết chàng bệnh ?  Chị đã gặp chàng ?”

Vân Hương lúng túng :

“Dạ…Dạ, chưa ạ…Em chỉ nghe người ta nói thôi.”

“Vậy hả ?…Bao giờ chàng khỏi ?”

Vân Hương bỗng nghe xót xa trong lòng. Tiểu thư vốn là người thông minh, nay hỏi như vậy thì nó hiểu nàng không còn minh mẫn nữa. Tiểu thư thẫn thờ nhìn ra cửa sổ, lẩm bẩm :

“Chàng khỏi bệnh thì chàng mới hát được…”

Nàng bỗng hỏi :

”Này, Vân Hương, chị có cách nào cho tôi gặp chàng không ?…Tôi mà gặp chàng thì cả chàng và tôi đều khỏi bệnh đó”

Vân Hương không ngờ tiểu thư lại nói được một câu thật đúng. Nhưng nó chợt hãi hùng tự hỏi rằng sau cuộc gặp gỡ, chuyện gì sẽ xẩy ra ?  Tiểu thư sẽ yêu Trương Chi hơn nữa vì anh ta đã hát hay lại đẹp trai. Về phần Trương Chi , chắc chắn anh ta sẽ không thể không rung động trước nhan sắc xinh đẹp và thùy mị của tiểu thư. Rồi cuộc tình ấy sẽ đi về đâu ?  Một anh lái đò nghèo hèn, dù đẹp trai như Phan An, Tống Ngọc, làm sao có thể sánh duyên với một tiểu thư khuê các, con một vị quan lớn trong triều ?  Trương Chi sẽ chuốc lấy khổ đau, tủi hận, mà bệnh của tiểu thư sẽ mỗi ngày một trầm trọng hơn, khó có thuốc nào chữa khỏi. Cái viễn ảnh khủng khiếp ấy làm Vân Hương hốt hoảng,lo sợ. Không. Nó thầm nói trong lòng, hai người không thể gặp nhau được.

“Vân Hương !” tiểu thư bỗng gọi, “chị có nghe tôi nói gì không ?”

“Dạ, em có nghe…Nhưng làm sao tiểu thư có thể gặp được Trương Chi ?  Anh ta chỉ là một anh lái đò nghèo hèn. Anh ta còn không đáng là tôi tớ của tiểu thư.”

Tiểu thư nhìn người nữ tỳ đăm đăm :

”Sao chị lại bảo chàng không đáng là đầy tớ của tôi ?  Không, chàng không là đầy tớ…”

Giọng nàng bỗng nghẹn ngào, rồi nàng bật lên tiếng khóc. Nàng cũng đã nhận ra cái thực tế phũ phàng trong nhận xét của Vân Hương. Tướng công và phu nhân, cha mẹ nàng, có bao giờ lại chịu gả nàng cho một tên lái đò, trong khi có cả chục vương tôn, công tử đang ngấp nghé hỏi cưới nàng. Người nào cũng mũ cao áo dài, giầu sang tột bực.

Trong khi tiểu thư và Vân Hương đang lo sợ nghĩ tới tương lai đầy khó khăn, cửa bỗng mở. Vân Hương giật mình ngoảnh ra. Nó hốt hoảng vội đứng lên, kính cẩn cúi chào :

“Bẩm phu nhân tới vấn an tiểu thư.”

Phu nhân nhẹ nhàng bước đến gần nó, rồi hỏi khẽ :

”Tiểu thư ngủ ?”

“Dạ bẩm phu nhân, tiểu thư mới thức.”

Thấy mẹ, tiểu thư vội vàng gượng ngồi dậy để chào đón, nhưng không nổi, lại nằm xuống, ngước nhìn mẹ bằng đôi mắt buồn bã, lờ đờ. Phu nhân bỗng nghe xót xa trong lòng. Ngày nào phu nhân cũng tới thăm con gái mấy lần, mà lần nào  cũng thấy nàng đổi khác, cứ sa sút hoài. Bà không ngờ con gái lại ủy mị như vậy, mê tiếng hát của tên lái đò đến mang bệnh liệt giường liệt chiếu. Nàng cất tiếng chào :

”Mẹ !”

Phu nhân khoát tay nói :

”Con cứ nằm tĩnh dưỡng. Hôm nay con thấy trong người thế nào ? “

Tiểu thư cố nói để an lòng mẹ :

“Con thấy khá nhiều rồi.”

Phu nhân gật đầu :

”Ừ !” rồi bà nói tiếp ”Tối nay, Tướng công sẽ cho dẫn tên lái đò đến đây gặp con.”

Cả tiểu thư lẫn Vân Hương đều giật mình, nhưng mỗi người một ý nghĩ khác. Tiểu thư thì mừng rỡ, nũ tỳ thì lo sợ. Nó không hiểu tại sao Tướng công lại dám cho Trương Chi gặp tiểu thư, khi mà nó đã cho Tướng công hay rằng Trương Chi đẹp trai, không thua gì Phan An, Tống Ngọc ngày xưa. Hay là… Tướng công đã bằng lòng cho tiểu thư kết duyên với Trương Chi ?  Không, không bao giờ chuyện đó lại xẩy ra.

Còn tiểu thư thì tỏ vẻ  rất vui. Nghe nói sắp được gặp Trương Chi, nàng bỗng thấy trong người khỏe hẳn ra. Nàng hớn hở hỏi phu nhân :

”Thật không, Mẹ ?  Phụ thân cho phép con được gặp …Trương Chi ?” Suýt nữa thì nàng gọi anh lái đò bằng chàng. Phu nhân gật đầu :

”Chắc chắn như vậy. Tướng công vừa cho mẹ rõ.”

Trong lòng Vân Hương chợt nẩy sinh một mối nghi ngờ. Phải chăng Tướng công có âm mưu gì đây vì nó không tin tướng công lại dễ dãi như vậy. Nó vẫn biết ông là một người nghiêm khắc, việc gì cũng tính toán kỹ lưỡng. Nó tin chắc rằng không đời nào  ông lại dễ dàng cho phép tiểu thư gặp Trương Chi trong khi tiểu thư đang ốm tương tư tiếng hát của người đó.

X X  X

Một tháng sau khi tiểu thư  gặp Trương Chi, nữ tỳ Vân Hương được tướng công và phu nhân cho nghỉ việc để trở về quê hương. Đó cũng nhờ tiểu thư van xin mẹ và phu nhân năn nỉ tướng công. Sau cái đêm người ta đưa Trương Chi vào phòng tiểu thư, với sự có mặt của tướng công và phu nhân, Vân Hương bị khủng hoảng tinh thần khá nặng.. Bộ mặt mà nó nghe nói đẹp chẳng thua gì Phan An, Tống Ngọc chỉ là một mặt quỷ hiện hình, xẹo chằng chịt và có nhiều vết máu mới khô. Vừa nhìn thấy cái mặt đó, tiểu thư hét lên một tiếng rồi ngất xỉu ngay. Vân Hương cũng hét to, nhưng chỉ run rẩy nép sát vào tường, rồi bật tiếng khóc. Phu nhân, dù đã được báo trước, cũng mở to mắt nhìn cái mặt gớm khiếp đó. Mặt bà tái hẳn đi. Chỉ có Tướng công bình tĩnh gật gù, mỉm cười, đánh giá cao “tác phẩm” của mưu sĩ Mao Nhị. Trong một thoáng, Trương Chi đã gây xúc động mạnh cho ba người đàn bà đang ở trong phòng. Thấy đã có tác dụng tốt trong việc chạy chữa bệnh tương tư của tiểu thư, Tướng công phất tay áo cho hai tên lính hầu dắt Trương Chi ra khỏi phòng.

Hôm sau, vì xúc động mạnh, tiểu thư trở bệnh nặng hơn. Một ngự y cao tay nhất triều được triệu tới. Sau mấy thang thuốc, tiểu thư dần dần hồi phục, khỏi dứt bệnh tương tư. Thoạt đầu, nàng không chịu tin rằng “con quỷ hiện hình” ấy là Trương Chi. Phu nhân đã phải đoan chắc với nàng nhiều lần là không ai đánh tráo tên lái đò với kẻ khác. Chả còn biết hỏi ai hơn, nàng đành tin lời mẹ. Bây giờ mỗi lần nghĩ tới anh lái đò có giọng hat ngọt ngào, quyến rũ nàng lại rùng mình hốt hoảng.  Nàng chưa quên hẳn tiếng hát đó nhưng không còn thổn thức khi tưởng nhớ tới.

Riêng Vân Hương, con nữ tỳ trung thành, thì chả có ai săn sóc, chữa chạy. Bệnh của nó là bệnh tâm thần sau một cơn xúc động quá mạnh mà cũng vì uất ức, bất mãn trước hành động tàn nhẫn của Tướng công. Gương mặt đẹp của Trương Chi đã bi Tướng công hủy hoại. Nó vừa sợ vừa ghê tởm Tướng công nên không còn bụng dạ nào ở lại hầu hạ nữa. Nó năn nỉ tiểu thư tìm cách trả lại tự do cho nó. Tiểu thư vốn là người tốt bụng, hiền lành, đã cố van xin mẹ cho nó được về quê.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, Tướng công đã ban cho nó một đặc ân, được trở về quê hương. Hơn mười năm trước, bố mẹ nó, vì nghèo và nợ nần ngập đầu ngập cổ, đã bán nó cho phủ Tướng công. Nó trở thành một con nô lệ, không phải là một con hầu bình thường. Đúng ra nó phải làm đầy tớ cho phủ Tướng công suốt đời và không công. Thế mà khi trả lại tự do cho nó, phu nhân và tiểu thư đã lén lút cho nó một số tiền rất lớn để chữa bệnh và làm vốn lấy chồng.

Khi ra khỏi phủ tướng công, Vân Hương liền đi hỏi dò về anh lái đò Trương Chi. Người ta cho biết Trương Chi đã chết. Sau đêm được đưa vào phòng tiểu thư, anh ta bị ốm nặng, mặt mày xưng vù và đầy mủ. Không tiền chữa thuốc, cũng không thể chèo đò để kiếm ăn độ nhật, Trương Chi chết trong một túp lều ven sông vắng lạnh. Khi có người biết thì xác anh đã bắt đầu rữa. Dân làng thương tình xúm nhau bó chiếu, chôn anh ở một bãi hoang ven rừng, rất xa làng mạc, thôn xóm.

Theo lời chỉ dẫn, Vân Hương tìm đến thăm ngôi mộ của anh lái đò hát hay và đẹp trai trước khi tìm về quê cũ

X X  X

Ba năm trôi qua, Vân Hương đã khỏi bệnh, trở lại chốn cũ để thăm phu nhân và tiểu thư. Nhưng trước khi vào phủ tướng công, nó ghé thăm ngôi mộ Trương Chi. Nhưng nó tìm mãi mà không thấy dấu vết của ngôi mộ hoang ven rừng. Cảnh vẫn không thay đổi, vẫn bụi cây, vẫn đám cỏ gai chằng chịt, nhưng không có một gò đất nào có thể coi là mồ mả. Nó đành trở lại thôn xóm để hỏi thăm.

Người ta cho nó biết cách đây không lâu, cứ vào đêm trăng sáng, dân trong vùng lại nghe tiếng hát, đúng tiếng hát của anh lái đò Trương Chi, như hồi anh còn sống. Tiếng hát vẫn hay, vẫn trong trẻo, nhưng không còn quyến rũ như xưa nữa. Người nghe có cảm giác rờn rợn. Dân làng bèn đi tìm nơi phát xuất của tiếng hát ma quái đó. Nhưng họ không sao tìm ra. Tiếng hát có lúc mơ hồ như gió thoảng trên sông, lại có lúc như tiềng khóc ai oán. Người ta đành tìm đến ngôi mộ ven rừng  và khai quật lên. Trong mộ, chẳng có gì ngoài cái chiếu nát và một hòn đá màu hồng có hình dáng một trái tim.  Họ xem kỹ hòn đá, không có gì đặc biệt, nên định ném trả lại huyệt rồi vùi đất chôn đi. Nhưng một người trong bọn lên tiếng xin hòn đá. Người này là một anh thợ đẽo và mài đá làm thành những vật dụng hàng ngày. Từ ngày đó, tiếng hát ma quái cũng hết luôn.

Vân Hương tìm đến nhà anh thợ đẽo đá  Anh tiếp nó một cách e dè, ngại ngùng. Nó đi thẳng vào chuyện viên đá trong mộ Trương Chi, ngỏ ý muốn được xem. Anh thợ cho biết đã biến nó thành một cái chén uống nước. Anh lấy chén ra cho Vân Hương coi. Đó là một cái chén tống màu hồng, trông thô kệch và hơi nặng so với loại chén người ta thường dùng. Vân Hương bỗng nẩy ra ý muốn mua cái chén để làm quà cho tiểu thư. Nó hỏi :

”Bác định bán cái chén này bao nhiêu ?”

Anh thợ lắc đầu :

”Tôi không biết. Ai thích thì trả bao nhiêu cũng được. Tôi mất mấy ngày công đó.”

Vân Hương mở bọc lấy tiền trả ngay. Số tiền có lẽ quá lớn với anh thợ, nên anh trố mắt nhìn Vân Hương, chưa dám cầm ngay. Nó phải dúi vào tay anh, rồi bỏ chén vào bọc.

X X  X

Trong những món quà nữ tỳ Vân Hương tặng, tiểu thư thích nhất cái chén tống bằng đá hồng, có thể vì lai lịch kỳ lạ của nó.  Anh lái đò có giọng hát quyến rũ đã chết, cả thân xác anh kết tinh lại thành một viên đá hinh trái tim màu hồng, rồi viên đá đó được mài đẽo thành cái  chén. Tiểu thư hỏi Vân Hương  :

”Chén này có dùng để uống nước được không ? “

Vân Hương đáp :

”Em chắc là được. Xin tiểu thư thử rót trà vào xem.”

Tiểu thư liền làm theo lời nó. Nàng vô cùng ngạc nhiên vì trong chén nước có bóng một người chèo một con đò nhỏ xíu, nhưng trông rất rõ, với gương mặt thật đẹp. Nàng càng ngạc nhiên hơn khi nghe bên tai văng vẳng tiếng hát ngọt ngào, quyến rũ.  Đúng là tiếng hát năm xưa đã từng làm nàng say mê đến tương tư. Thấy tiểu thư ngó đăm đăm vào lòng chén với vẻ mặt ngẩn ngơ, khác lạ, Vân Hương cũng vội nhìn vào chén nước, nhưng nó không thấy gì hết. Nó hỏi :

”Tiểu thư làm sao vậy ?”

Nó phải hỏi đến lần thứ ba, tiểu thư  mới giật mình như choàng tỉnh, ngước nhìn nó, hỏi lại :

”Chị không nghe thấy gì sao ?  Tiếng hát…Tiếng hát ngày xưa…Có cả hình bóng người chèo đò nữa…”

Vân Hương lại nhìn vào chén nước và lắng tai nghe, nhưng tuyệt nhiên nó không thấy  mà cũng không nghe gì hết. Nó bỗng lo sợ vì nghĩ rằng cái chén ma quái đã thu mất hồn vía tiểu thư.  Nó định giật cái chén lại, nhưng tiểu thư đã bình tĩnh nói :

”Chị đừng sợ, tôi không sao đâu. Tôi tỉnh mà.”

Vân Hương gặng hỏi :

”Tiểu thư có tỉnh thật không ?  Tiểu thư tỉnh mà sao nói mê ?”

“Ai bảo chị tôi mê ?  Rõ ràng tôi có nghe tiếng hát và thấy bóng anh lái cùng con đò.”

“Vậy tiểu thư cho em coi lại xem sao.”

Lần này Vân Hương cũng không thấy gì. Nó tức mình đổ hết nước đi, rồi trả lại chén cho tiểu thư. Chén không có nước, tiểu thư cũng không nghe tiếng hát và không thấy bóng anh lái đò. Tiểu thư chợt hiểu ra hai điều : phải có nước mới có bóng anh lái đò và có tiếng hát, và chỉ mình nàng được thưởng thức những điều ấy. Khi hiểu ra như vậy, nàng bỗng thấy một niềm vui rào rạt trong lòng. Nàng nói với Vân Hương :

”Anh Trương Chi chỉ muốn mình tôi thấy anh, mình tôi nghe anh hát, có lẽ để đáp lại mối tình tôi dành cho anh khi anh còn sống.”

Vân Hương thắc mắc :

”Tiểu thư có thấy mặt anh ta xấu xí như hôm anh ta được đưa vào phòng tiểu thư không ?”

Tiểu thư lắc đầu :

”Không, người này đẹp lắm. Tôi sợ Phan An, Tống Ngọc ngày xưa còn thua.”

Vân Hương gật đầu :

”Vậy thì đúng anh lái đò Trương Chi rồi. Em nghe người ta nói anh lái đò vừa đẹp vừa hát hay.”

Tiểu thư  cau mày :

”Sao chị không cho tôi biết sự thật từ hồi đó ?”

Vân Hương cẩn thận nhìn trước ngó sau, khẽ nói vào tai tiểu thư :

”Tướng công cấm em nói thật với tiểu thư.”

Trầm ngâm một lát, tiểu thư có giọng buồn buồn :

”Bây giờ tôi hiểu rồi. Phụ thân tôi sai người hủy hoại gương mặt của anh lái đò.”

“Dạ, đúng như vậy, vì tướng công không thể cho phép tiểu thư hạ mình xuống ngang hàng với anh lái đò nghèo hèn.”

Tiểu thư chợt buông một tiếng thở dài não nuột..

Từ ngày Vân Hương trở về quê, tiểu thư lại thui thủi một mình một bóng trong phòng riêng, nhưng nàng không còn thấy cô đơn nữa. Nàng bây giờ đã có bạn, có thú vui riêng, tiếng hát của Trương Chi.

Ba năm trước, khi tướng công và phu nhân trả tự do cho Vân Hương, tiểu thư rất cô đơn, dù rằng phu nhân đã cho một nữ tỳ khác vào hầu hạ thế Vân Hương. Một phần vì nó còn mới quá, phần khác nó không được khôn lanh như  Vân Hương , nàng chỉ coi nó như một đứa ở thuần túy, không tâm sự với nó như đã tâm sự với Vân Hương. Thế rồi bỗng Vân Hương trở lại thăm và tặng nàng một món quà khác thường và vô cùng quý giá.

Từ ngày có chiếc chén tống hồng ngọc, tiểu thư thường đuổi con nữ tỳ  đi nơi khác, để được một mình ở trong phòng. Nàng suốt ngày say mê nghe tiếng hát phát ra từ cái chén và ngắm hình anh lái đò không chán mắt. Nàng cũng luôn luôn từ chối tham dự các cuộc vui tổ chức trong phủ Tướng công. Những ca công, ca nữ trong các buổi liên hoan ấy cũng có vài người hát hay, nhưng họ chỉ được quyền dùng giọng ca hay của họ để ca tụng Tướng công và những việc làm của ngài. Nghe mãi những lời tán tụng vô duyên, tiểu thư cũng thấy nhàm chán. Nay đã có tiếng hát Trương Chi, chỉ hát cho riêng mình nàng nghe, nàng đâu cần tham dự những buổi liên hoan nữa. Trong những lúc đó, nàng cảm thấy được an ủi rất nhiều và vui hẳn lên.

Tạ Quang Khôi

(1999)

Sức mạnh của sự tập trung.

Sức mạnh của sự tập trung.

“Cuộc sống đem đến nhiều mối bận tâm, nhưng nếu không biết loại bỏ và tập trung cho những điều mình mong muốn thì bạn mãi là người vô danh.”

Ở một vùng quê nọ, có hai cha con một nhà trồng hoa đang sinh sống trong một khu vườn rộng lớn. Người cha chăm chỉ, yêu lao động và rất thành công trong lĩnh vực trồng hoa. Còn người con có rất nhiều tài.

Anh lớn lên trong vòng tay yêu thương và đầy đủ vật chất mà người cha ban cho. Anh đã học được nhiều nghề, làm được nhiều điều hay. Nhưng ở tuổi 35, anh vẫn là một người vô danh trong xã hội. Anh luôn suy nghĩ về điều này, vẫn không thể hiểu tại sao mình làm nhiều điều mà đến giờ vẫn là “con số 0”.

Người cha hiểu ý, liền đưa anh đến vườn hoa mà ông chuẩn bị thu hoạch. Ông chỉ vào cây bông hồng to nhất, đẹp nhất và rực rỡ nhất nằm giữa vườn cho cậu con trai và hỏi:

– Con có biết tại sao cây bông hồng kia lại to và đẹp rực rỡ hơn các cây khác không?

– Có phải vì cha mua giống mới không?

– Không phải – người cha đáp – tất cả đều chung một giống hoa con ạ.

– Thế có phải cha tưới cho nó nhiều nước và bón cho nó nhiều chất dinh dưỡng hơn không?

– Cũng không phải. Điều kiện chăm sóc và môi trường sinh trưởng của chúng đều như nhau.

– Vậy thì chắc là đất ở chỗ đó tốt hơn?

– Con lại sai nữa rồi. Đất cũng giống nhau.

Người con không biết trả lời sao nữa. Anh nghĩ mãi nhưng vẫn không thể giải thích nổi. Lúc này, người cha mới ôn tồn bảo:

– Con có nhận thấy cây bông hồng này ít lá và ít nụ không?

– À đúng rồi. Nhưng có nghĩa là gì hả cha?

– Trong khu vườn này, chỉ duy nhất có cây bông này là ta thường xuyên nhìn tới. Khi thấy nhiều lá mọc quanh nó, ta tỉa bớt. Khi thấy nó có nhiều chồi, nhiều nụ đâm ra, ta cũng tỉa bớt.

Người con có vẻ hiểu ra điều gì đó, gật đầu liên tục. Người cha tiếp lời:

– Tất cả các cây hồng đều có điều kiện sống như nhau, nhưng cây này lại được đặc ân của ta là tỉa bớt cành, nụ và lá nên chất dinh dưỡng sẽ tập trung vào bông hoa, không bị phân tán đi nơi khác. Chính vì thế nó to hơn, đẹp hơn và rực rỡ hơn.

Trầm ngâm một lúc, ông lại tiếp:

– Cũng như con, tuy con rất giỏi, rất nhiều tài, làm được rất nhiều việc nhưng vẫn giống như những người khác vì con thiếu tập trung, bị phân tán năng lượng và thời gian vào quá nhiều thứ. Con cần phải xác định mình sẽ trở thành người như thế nào trong 5 năm tới. Con đam mê gì nhất, điều gì khiến cho con trăn trở nhất, điều gì khiến con có thể sống chết với nó dù có khó khăn? Lúc đó con sẽ là người thành công, con trai ạ.

Lúc này, người con đã hiểu ra vấn đề. Anh khóc rồi quỳ xuống hôn vào tay người cha và cảm ơn ông về câu chuyện đã giúp anh nhìn nhận cuộc đời tốt hơn.

Trong mỗi người chúng ta, ai cũng có nhiều mối quan tâm, nhiều sự lựa chọn cho cuộc sống và sự nghiệp. Nhưng nếu biết cách sắp xếp công việc một cách hợp lý, tập trung vào mục tiêu quan trọng thì chúng ta sẽ thành công trọn vẹn hơn.

Ngọc Nga sưu tầm

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!

LÊN ĐƯỜNG KHAI PHÓNG!


Bài phát biểu của ông Nguyên Ngọc
tại lể khai giảng Trường Đại học Phan Châu Trinh

Hôm nay, mồng 9 tháng 9 năm 2015, kỷ niệm ngày sinh của nhà chí sĩ, nhà văn hóa và nhà giáo dục kiệt xuất Phan Châu Trinh, cũng là ngày truyền thống của trường ta, trường Đại Học Phan Châu Trinh làm lễ Khai giảng khóa K 15, khóa học 2015-2019.

Thay mặt lãnh đạo nhà trường, tôi xin chào mừng và chân thành cám ơn các vị đại biểu đã đến chia vui cùng thầy trò chúng tôi. Xin chào mừng tất cả các thầy cô, các cán bộ nhân viên, các sinh viên và cựu sinh viên của trường. Và đương nhiên, lời chào nồng nhiệt nhất hôm nay của tất cả chúng ta là dành cho các tân sinh viên, chào mừng các em nữ và nam từ khắp nơi, có em từ tận Thái Bình cuối Đồng bằng sông Hồng, có em từ tận Thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, đã đến với không gian Phan Châu Trinh thân yêu của chúng ta. Tôi xin phép, và tôi tin chắc tất cả quý vị đều đồng ý cho phép tôi hôm nay dành diễn từ khai giảng này để chủ yếu nói với các tân sinh viên, những thành viên mới mẻ và trẻ trung của gia đình Phan Châu Trinh.

Các em thân yêu,

Như các em đều biết, trường của chúng ta có tên là trường Đại học Phan Châu Trinh. Và tôi xin nói: Những người sáng lập ngôi trường này đã chọn cái tên ấy với tất cả tâm huyết và với một ý tứ sâu xa. Bởi vì đấy là tên của một con người rất đặc biệt, cũng có thể nói rất kỳ lạ, hết sức độc đáo và là người sáng suốt nhất trong lịch sử cận đại và hiện đại của nước ta. Sự sáng suốt của ông còn soi đường cho chúng ta đến tận ngày nay.

Phan Châu Trinh sinh ra khi đất nước chìm đắm trong vòng nô lệ tối tăm và thảm khốc. Và khi ông bước vào đời, nghĩa là đến tuổi như tuổi các em hôm nay, thì tất cả các cuộc nổi dậy cứu nước của tất cả những người anh hùng dũng cảm và tài năng nhất để chống ngoại xâm giải phóng dân tộc bấy giờ đều thất bại đau đớn. Cha của Phan Châu Trinh là một vị tướng anh hùng đã chết trong một cuộc khởi nghĩa anh hùng, tuyệt vọng và thất bại cay đắng như thế … Trước tình hình bức thiết đó, nảy sinh câu hỏi nóng bỏng: Vì sao? Và làm thế nào? Tất cả bấy giờ đều chỉ có một câu trả lời: Phải anh hùng hơn nữa! Dám hy sinh nhiều hơn nữa ! Tất cả. Trừ một người. Người đó là Phan Châu Trinh. Ông nói: Không, không phải như vậy, không thể đi con đường ấy nữa. Ông là người duy nhất đi tìm và đã tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc bị đày đọa vào vòng nô lệ thảm khốc, không phải trong sự thiếu anh hùng của nhân dân, mà là ở trong văn hóa, trong sự lạc hậu nguy hiểm về văn hóa của đất nước, so với thế giới, một thế giới đã đổi khác về căn bản – ngày nay ta gọi là thế giới toàn cầu hóa – mà ông cũng là người duy nhất hồi bấy giờ nhận ra. Ông nói chính sự tăm tối và ngu dốt, sự lạc hậu quá xa so với thế giới hiện đại là nguyên nhân khiến Việt Nam mất nước. Ông khẳng định căn bệnh chết người của dân tộc là căn bệnh về văn hóa, ngu dốt và lạc hậu về văn hóa. Và để chữa trị một căn bệnh về văn hóa thì chỉ có một phương thuốc duy nhất, đó là Giáo dục. Phan Châu Trinh chủ trương một cuộc cải cách giáo dục căn bản, hiện đại, triệt để, toàn diện, rộng lớn, đưa Việt Nam thành một nước văn minh, tiên tiến, cùng nhân loại năm châu. Có như vậy thì nền độc lập đươc dành lại dù bằng cách nào mới là độc lập thật sự, độc lập mới bền vững, nhân dân mới thật sự có hạnh phúc …

Tiếc thay, những điều kiện éo le của lịch sử đã khiến cho chương trình vĩ đại của Phan Châu Trinh bị dở dang. Lịch sử đã đi theo con đường khác. Độc lập và thống nhất đã được dành lại. Nhưng, tôi nghĩ hôm nay chúng ta cần dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau, chúng tôi có trách nhiệm thẳng thắn nói với các bạn trẻ sự thật này: nay chúng ta đã có độc lập rồi, nhưng căn bệnh chết người Phan Châu Trinh đã thấy và thống thiết muốn chạy chữa cho dân tộc hơn một trăm năm trước thì về cơ bản vẫn còn nguyên đấy. Vẫn là nguy hiểm chết người. Việt Nam vẫn là nước lạc hậu, đứng ở hàng cuối không chỉ của thế giới, mà ngay của khu vực, của châu Á và Đông Nam Á. Chúng ta phải dũng cảm và thẳng thắn nói với nhau sự thật ấy. Chính vì vậy mà ngôi trường này mang tên là trường Phan Châu Trinh. Ngôi trường này được thành lập, tất cả chúng ta có mặt ở đây, các thầy cô giáo, các cán bộ nhân viên của trường, và các em sinh viên trẻ trung, quan trọng và chủ yếu nhất là các em, chúng ta có mặt ở đây là để góp phần, dù là nhỏ nhoi, tiếp tục chương trình sống còn do nhà giáo dục vĩ đại Phan Châu Trinh khởi xướng và còn bị dở dang. Trường của chúng ta nhỏ, còn non trẻ và nghèo, sức của mỗi chúng ta hạn chế, nhưng chúng ta có một lý tưởng lớn, chúng ta, người dạy, người học, chúng ta biết chúng ta tham gia vào một chương trình to lớn và có ý nghĩa sinh tử đối với đất nước này, hôm nay và ngày mai.

Thưa quý vị,

Các em thân yêu,

Ở trên tôi có gọi Phan Châu Trinh là một nhà giáo dục lớn, có lẽ điều ấy hơi lạ, xưa nay người ta thường vẫn coi và vẫn gọi ông là một chí sĩ yêu nước, hoặc có nhiều hơn nữa, là một nhà văn hóa. Song như ta vừa thấy, một trong những đặc sắc nhất của Phan Châu Trinh là ở chỗ ông đồng nhất giáo dục với giải phóng, theo ông chỉ có giáo dục mới thật sự giải phóng được con người, thật sự giải phóng được dân tộc. Ông quan niệm giáo dục tức là giải phóng. Ở đây có một ý tứ rất thâm sâu, mà hôm nay tôi muốn được nói với các em vì trường chúng ta thiết tha đi theo quan niệm này, sẽ cố gắng tối đa thực hiện nó trong mọi hoạt động của mình, đến cả trong “khí quyển’’ của không gian Phan Châu Trinh mà thầy trò chúng ta cố gắng cùng nhau xây dựng nên, cùng sống và làm việc trong đó. Suốt 4 năm. Và rồi các em sẽ mang theo ra đời, suốt đời.

Nhà thơ lớn của nước Anh John Keats có một câu nói thâm thúy về giáo dục, Keats nói: ‘’Giáo dục không phải là chất cho đầy, mà là đốt lên ngọn lửa’’. Chất cho đầy (kiến thức) tức là rót từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống, đổ cho đầy vào đầu con người được coi là một cái thùng ù lì, bị động. Đốt lên ngọn lửa là khêu cháy từ bên trong. Giáo dục khêu cháy từ bên trong, vì giáo dục bắt đầu bằng lòng tin rằng trong mỗi con người đều có, tiềm ẩn, mầm mống của một ngọn lửa, tức những năng lực có thể và cần được đánh thức dậy để phát triển. Giáo dục là giải phóng, là đánh thức. Đánh thức cái vốn đã có sẵn trong từng con người, từng người học, từng sinh viên. Hôm nay, trong ngày đầu tiên các em bước chân vào trường, tôi muốn nói với các em điều này: ở trường này có một phương châm, một niềm tin: không có sinh viên kém. Em nào cũng giỏi, tất cả, không trừ một ai, tạo hóa rất công bằng, mọi người đều giỏi, mỗi người giỏi một cái, một cách, người giỏi toán, người giỏi văn, người giỏi ngoại ngữ, người giỏi tin học, người giỏi nhạc, người giỏi đá bóng, người hát hay, người vẽ đẹp, người năng nổ trong giao tiếp, người thâm trầm trong suy nghĩ …, đều quý, xã hội đều cần vì xã hội có những nhu cầu hết sức đa dạng. Sở dĩ ta coi người này hay người kia là kém, dốt, vì ta thường có lối đòi hỏi chủ quan, vô lý và kỳ quặc, cứ một mực đòi mọi người đều phải giỏi cùng một thứ mà ta cũng rất chủ quan coi là quan trọng nhất, ai không giỏi theo đúng đòi hỏi chủ quan của ta thì ta cho là dốt, khinh miệt và đẩy qua một bên trên đường đi tới của cộng đồng. Nói cho đúng, đấy là một tội ác, bởi vì người bị ta chủ quan coi là dốt sẽ đinh ninh mình dốt thật, chẳng đáng gì trong xã hội, mất hết tự tin, tự coi thường, tự khinh bỉ chính mình, sẽ lủi thủi với cái dốt tưởng tượng, thành một ám ảnh tủi nhục suốt đời.

Ở trường này chúng ta nhất quyết không làm như vậy, không đi theo con đường phi nhân bản, phi giáo dục đó. Chúng ta chủ trương làm một kiểu giáo dục khác, một kiểu giáo dục hạnh phúc, giáo dục đem lại cho con người hạnh phúc, giáo dục khiến cho con người hạnh phúc hơn, giáo dục làm cho con người tự tin và tự hào về chính mình, tôi muốn đề nghị chúng ta gọi là ‘’kiểu giáo dục Phan Châu Trinh’’. Trong 4 năm tới, bắt đầu từ hôm nay, trường chúng ta, thầy trò chúng ta quyết cùng nhau làm cho kỳ được một trong những việc quan trọng nhất: bằng mọi cách (trong đó có một cách rất quan trọng là chương trình giáo dục khai phóng mà chốc nữa thầy Chu Hảo sẽ trao đổi cùng các em), giúp cho mỗi em tự hiểu mình, tự khám phá và phát hiện chính mình, biết cho ra, hiểu cho rõ mình giỏi cái gì, đặc sắc nhất cái gì, từng em. Theo tôi, đó là công việc quan trọng nhất của mỗi thầy cô giáo, nằm trong chiều sâu căn bản của thiên chức nhà giáo nơi mỗi thầy cô. Nhưng cũng đương nhiên, trước hết, chủ yếu, đó phải là nổ lực của các em, từng em, với sự giúp đỡ của các thầy cô, của các bạn, của toàn bộ môi trường giáo dục mà chúng ta phải cùng nhau tạo ra ở đây. Trước hết ở các em, từng em, tôi nhắc lại. Bởi vì phát triển bao giờ cũng là tự phát triển, như cái cây phải tự nó lớn lên, không ai có thể lớn lên thay nó được.

Và một quá trình như vậy chỉ có thể có kết quả khi nó là một sự hợp tác khắng khít, dân chủ, tự do và bình đẳng giữa chúng ta, người dạy và người học, thầy và trò.

Ở trường này có một nhận thức rõ ràng: sinh viên là công dân đi học. Sinh viên cần ứng xử như một công dân có trách nhiệm, và cần được tôn trọng như một công dân tự do. Chúng ta tôn trọng đúng mức lễ độ truyền thống và hiện đại giữa thầy và trò, người lớn tuổi hơn và người ít tuổi hơn, người đi trước và người đi sau, nhưng chúng ta bình đẵng trước chân lý cuộc sống và chân lý khoa học. Trường có quy định: trên lớp học, sinh viên sẽ không xưng con, xưng cháu, mà xưng tôi, một cách bình đẳng và tự tin, hoặc cũng có thể xưng em với giáo viên, các giáo viên xưng thầy, cô với các em. Để cùng nhau trao đổi, và thảo luận, tranh luận, vì lẽ phải chung, trong một ngôi trường thật sự văn minh.

Các em thân yêu,

Giáo dục là việc khó, mà cũng là việc thật đẹp, rất khó mà cũng lại đẹp nhất. Bởi, như đã nói, đây là việc đánh thức dậy những gì những gì hay nhất, đẹp nhất trong mỗi con người để con người ấy phát triển tự do và hạnh phúc. Khó và đẹp còn ở chỗ con người là vô cùng đa dạng, mỗi em là một thế giới. Mỗi em một khác, mỗi lớp, mỗi năm, mỗi khóa một khác. Vừa rất căn bản, vừa rất mới lạ, luôn mới lạ. Vừa chắc chắn trên những nền tảng chung cơ bản, vừa lại rất cá biệt, bao giờ cũng mới mẻ, cũng khác thường. Cho nên tôi luôn nghĩ, nói theo cách nào đó, thì về cơ bản giáo dục là việc một thầy một trò, một người cùng với một người khó nhọc và tha thiết đi tìm ra chính mình. Tôi luôn mong ước, và tôi nghĩ các thầy cô giáo cũng vậy, luôn muốn được đến tận từng em, hiểu được từng em, gần gũi và là bạn của từng em, để ta cùng làm cho thành công công việc khó khăn mà đẹp đẽ này. Sẽ rất hạnh phúc cho cả thầy và trò ta.

Vậy đó, các em thân yêu, hôm nay ta lên đường.

Một lần nữa, thay mặt nhà trường, thay mặt các em, tôi xin cám ơn các vị đại biểu đã đến cùng thầy trò chúng tôi trong ngày lên đường của chúng tôi hôm nay.

Còn với các em, ta hãy cùng chúc nhau một hành trình khai phá thật đẹp và thật thành công.

Nguyên Ngọc.

“Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”

“Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”

(14.9.2015 – Thứ Hai – Lễ Suy Tôn Thánh Giá)

Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc,
Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

“Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”
(Ds 21, 4b-9 và Ga 3, 13-17)

4 Từ núi Ho, họ lên đường theo đường Biển Sậy, vòng qua lãnh thổ Ê-đôm; trong cuộc hành trình qua sa mạc, dân Ít-ra-en mất kiên nhẫn.5 Họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê rằng: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này.”

6 Bấy giờ ĐỨC CHÚA cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết.7 Dân đến nói với ông Mô-sê: “Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách ĐỨC CHÚA và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu ĐỨC CHÚA để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi.” Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân.

8 ĐỨC CHÚA liền nói với ông: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.”9 Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.

13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Tâm sự cùng Vũ Đức Đam

Tâm sự cùng Vũ Đức Đam

Nguyễn Tiến Dân

14-9-2015

Nguyễn Phú Trọng, là đảng trưởng của cái đảng CS Việt nam. Hiển nhiên, trong cái đảng ấy, ông phải là, người thông tuệ nhất. Ông, đi như ngựa vía. Hôm nay, còn ở Mỹ  Ngày mai, đã bay sang Nhật. Tất bật, là thế. Chẳng biết, có nên cơm cháo gì. Và, ông học được, những gì ở đó? Trong đống sách, mà ông đã đọc: Có lẽ, không có sách, dạy cách “trị Nước– an Dân”. Bởi, thấy ông, không rành việc đó. Ông, gối đầu giường, quyển Tây du ký. Và, đã từng, trích dẫn nó, để bao biện: Cửa Phật, tôn nghiêm là thế. Vậy mà, Đường Tăng, cũng phải đi hối lộ. Ngụ ý, dưới sự lãnh đạo của “Đường Tăng” Nguyễn Phú Trọng: Hối lộ, phải coi là, chuyện bình thường  hết sức bình thường. Đừng có mơ, chống được tham nhũng.

Tôn Ngộ Không, là thần tượng của ông. Sang thăm Trung cộng, chẳng cần giữ “thể diện Quốc gia”: Ông, tìm gặp cho bằng được, anh hề Lục Tiểu Linh Đồng và, hãnh diện, đứng bằng vai – phải lứa với nó. Rồi, trơ trẽn, cho chữ kí của mình, lên… sách của người ta. Nhìn cảnh đó, nhiều kẻ thối mồm, chúng, bình phẩm rằng: Cả đời, ông chỉ thích, những trò khỉ. Và, chẳng làm được, một việc quái gì, cho ra hồn. Rõ là, 1 lũ láo khoét. Riêng tôi, hâm mộ ông lắm. Tôi thích nhất, câu nói của ông: “Kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch và phản động”.

Đã đành, là như thế. Nhưng, vẫn băn khoăn: Ối lúc, chính các ông, xuyên tạc sự thật và bịa đặt trắng trợn. Tốt, nói thành xấu. Đen, nói thành trắng. Ngày, nói thành đêm. Không biết, có nên, kiên quyết đấu tranh, chống lại các ông?

Vũ Đức Đam, kính mến. Được truyền cảm hứng, từ lời nói, đầy tính “trí tuệ” của ông: “Tại sao, chúng ta tốt, mà vẫn cứ nghèo?”. Tôi cầm bút, muốn tâm sự, cùng ông.

Tôi với ông, vốn “hai người xa lạ”. Lí tưởng, chẳng thể tương thông – Văn hóa, chẳng thể tương đồng. Xuất sứ khác nhau – Tuổi đời cách biệt. Cơm ông ăn – áo ông mặc – bổng lộc mà ông lĩnh: Tất thảy, đều do Nhân dân Việt nam và Đất nước Việt nam, cung phụng. Nhưng, trên hết và trước hết: Ông, chỉ phục vụ, cho cái đảng CS của ông. Còn tôi, tất cả, đều do Sư tử cung phụng. Vì vậy, phải nhất nhất nghe theo và, cúc cung phục vụ nàng. Không bao giờ, có chuyện: Ban ngày, ăn cơm của Sư tử. Nhưng, tối đến, lại mang tấm thân trai tráng, đi phục vụ, bà hàng xóm.

Khác nhau, là thế. Nhưng, “đôi bên chức tước, chẳng kém gì nhau”. Ông, là Phó Thủ tướng Chính Phủ. Cái Chính phủ, do những người CS, dùng lưỡi lê – xe tăng và nhà tù, để lập ra. Còn tôi, là Phó thường dân khốn khổ. Bị chính quyền CS của các ông lừa đảo và trắng trợn cướp đi, hàng chục tỷ VNĐ. Tất cả, đều là tiền mặt. Thế mà, tôi chẳng dám ho he. Khuất phục, trước cường quyền: Tôi, thật hèn hạ. Thiên hạ, đầy người dũng cảm. Tôi, kể ông nghe, chỉ 2 ví dụ.

Khi, giặc Pháp, kéo đến nhà của “Bà má Hậu giang”. Bà, thật bất khuất:

Má thét lớn, tụi bay đồ chó.

Cướp của tao, còn định bắt cả tao.

Tao già, vẫn dư sức cầm dao.

Đứa nào muốn chết, thì nhào vào đây.

Bọn giặc Pháp, chẳng đứa nào, muốn chết. Chúng gập lê và, cắp đít đi về. Anh hùng là thế. Nhưng, bà đâu có thật. Ai đó, đã bốc phét và, nhào nặn ra bà. Bà, sao có thể, so sánh được, với người Anh hùng, bằng xương – bằng thịt, Đoàn Văn Vươn. Giống như bà, Đoàn Văn Vươn, cũng bị cướp. Khi, chúng kéo đàn – kéo lũ đến, các anh đã định, “cầm lấy súng, nhằm thẳng quân thù, diệt chúng nó”. Nhưng, rồi chợt nghĩ: Những chiến sĩ, đi cưỡng chế nhà mình, họ chỉ là, con em của Nhân dân lao động. Họ, đâu phải là, kẻ thù của mình. Các anh, chỉ nổ súng cảnh cáo, 1 cách tượng trưng. Rồi, buông nó. Kết quả, các anh, những nạn nhân, bị lũ kẻ cướp, nhốt vào tù. Gia đình, bị li tán – Nhà cửa, bị san phẳng – Cá tôm, bị khoắng sạch. Tưởng chừng, các anh, thua thảm bại. Sự thực, không phải như thế.

Tiếng súng phản kháng của các anh, dẫu không đanh, như tiếng đại bác, chào mừng Quốc khánh. Nó, chỉ phát ra, từ đạn hoa cải. Nhưng uy lực của nó, gấp vạn lần, thứ hàng mã kia. Nó, đã đánh thức, lương tâm của cả xã hội. Cả nước, xiết chặt tay nhau, hướng về các anh và, lên án lũ kẻ cướp. Lần đầu tiên, chứng kiến cảnh này. Lũ kẻ cướp, phải khiếp sợ và chùn tay. Chúng, buộc phải: “Hủy bỏ, quyết định thu hồi đất. Thi hành các thủ tục, cho phép gia đình ông Vươn, tiếp tục được sử dụng đất”. Nhưng, đời nào, chúng chịu thua trắng. Chúng, là lũ thù dai: Án, vẫn được tuyên, cho những người con, vô tội và bất khuất.

Ông ơi, đã ăn cướp của người ta, lại còn, giở trò đê tiện: Vu khống, để bắt người ta vào tù. Những người CS các ông, có còn tình người nữa hay không? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với các ông hay không?

Lũ giặc cỏ, đầy đường. Chẳng có ai, bảo rằng, chúng là người tốt. Nhưng, ít nhất, chúng cũng còn biết “dây máu – ăn phần”. Theo chúng, đi ăn cướp, ai cũng được, chia phần. Nhiều ít, tùy thuộc “công trạng”. Nay, chính các ông, chẳng chút ngượng mồm, công khai thừa nhận: Đã xúi giục quần chúng, đi cướp Chính quyền của bọn Thực dân – Phong kiến. Trước khi đi, các ông hứa: “Ruộng đất, sẽ về tay dân cày – Nhà máy, sẽ về tay thợ thuyền”. Bây giờ, tất cả những thứ đó, đang nằm trong tay các ông. Các ông, đã thực hiện đến đâu, lời hứa của mình?

Ông ơi, đảng CS, “tham như mõ”. Các ông, một mình, hưởng hết mọi thành quả của cái gọi là, cuộc Cách mạng ấy. Ti tiện như thế. Nên gọi các ông, là “người tốt” hay là “kẻ xấu”? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với các ông. Để, đem lại, sự công bằng, cho Nhân dân Việt nam, hay không?

Các ông, thường phỉnh phờ, lũ quần chúng nghèo – hèn chúng tôi, rằng: Ừ, thì rõ là đảng CS, độc tài. Nhưng, ối nước, có chế độ độc tài, mà vẫn phát triển như vũ bão. Hàn quốc – Singapore – Đài loan, chẳng hạn. Xã hội của họ, ổn định. Đất nước của họ, giàu – sang. Dân chủ, như Thái lan: khủng bố, xảy ra như cơm bữa.

Đúng là, “nói lấy được”. Các ông, sao không dám, nhìn thẳng vào sự thực: Về mọi mặt, chẳng bao giờ, Việt nam, có thể bén gót Thái lan. Nói chi đến, Hàn quốc – Singapore – Đài loan, cho thêm phần, xấu hổ. Chưa kể, tuy độc tài, nhưng lãnh đạo ở các nước đó, trước hết: Họ, là những người tài giỏi và tử tế. Họ, hết sức công tâm – minh bạch – tự trọng. Nói, đi đôi với làm. Một lòng, vì Đất nước. Họ, không vun vén cho cá nhân và gia đình. Họ, trọng dụng nhân tài. Họ, huy động được, sức mạnh tổng hợp của cả Dân tộc. Cho nên, Nhân dân các nước đó, sống trong ổn định và Đất nước của họ, phát triển bền vững. Còn các ông?

Xưa, có câu: “Sâu – Bọ, lên làm người”. Ám chỉ, thời mạt. Nay, chính ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, xác nhận: Trong số cán bộ CS, có nhiều con sâu lắm. Không dừng lại, ở đó. Ông lo rằng, cứ cái đà này: Mai kia, tất cả, sẽ là sâu hết.

Sâu – Bọ, lên làm người, Xã hội đã hỗn loạn. Sâu – Bọ, mà lãnh đạo Quốc gia., thì chết mẹ nó, cả cái Đất nước này. Một viễn cảnh, khủng khiếp. Chắc, đảng CS, anh minh và sáng suốt, chỉ đưa Dân tộc chúng tôi, đến rìa rìa của cái viễn cảnh đó thôi. Ông nhỉ?

Các ông, ra rả, kêu gọi chúng tôi, phải sống theo “Tấm gương Đạo đức của Hồ Chí Minh”. Nhưng, liệu các ông, có dám: Mở cửa, nhà của các Tổng Bí thư – Mở cửa, nhà của các Ủy viên Bộ Chính trị – Mở cửa, nhà của các Bí thư và Chủ tịch các tỉnh, cho người dân chúng tôi, vào thăm quan. Để, chúng tôi còn biết: Ngày xưa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã sống như thế nào? Các ông, có dám: Công khai, tài sản của các vị đó – Công khai, con cái các vị đó, đã học ở đâu; học phí bao nhiêu, do ai đóng và, bây giờ, đang làm gì? “Cha truyền – Con nối”, có đúng là, bản chất của những người CS?

Tất cả, một cách Quang  Minh  Chính  Đại, trên báo Nhân dân. Cho, cả nước đều biết.

Không dám làm việc đó, chứng tỏ: Chính những người CS các ông, đang sống, còn quá Vua – Chúa ngày xưa. Nhưng, vẫn bịp bợm, mà nói rằng: “Những người CS, rặt 1 lũ thanh liêm – bần hàn. Không có lợi ích nào khác, ngoài lợi ích của Dân tộc”. Hiển nhiên, Nhân dân Việt nam chúng tôi, phải “kiên quyết, đấu tranh” với những luận điệu xuyên tạc và, bịa đặt của các ông. Như, chính lời hiệu triệu của Tổng Trọng.

Nhân nói chuyện Hồ Chí Minh, xin hỏi ông, một chuyện nho nhỏ.

Ông có biết, vì sao: Rất ít người Á đông, tự nguyện “hiến nội tạng sau khi chết”? Ông có biết, vì sao: Những kẻ tử tù, luôn coi, được hưởng đặc ân, khi nhận chỉ dụ: “Trẫm, ban cho ngươi, được chết toàn thây”? Nếu đã biết, xin hỏi tiếp:

Tỉ như, có 1 người, đức cao – vọng trọng, sắp mất. Các con ông, vì quí bố, đã chuẩn bị sẵn, một lũ lang băm. Ông bố, vừa tắt thở: Chúng, nhào vào, giằng lấy xác ông cụ – Chúng, đè ngửa và lột trần truồng ông cụ – Chúng, dùng dao bầu, mổ bụng ông cụ – Chúng, rút ruột ông cụ – Chúng, moi tim, móc óc ông cụ – Chúng, vạch mồm và cắt lưỡi ông cụ – Chúng, khoét mắt ông cụ – Chúng, xẻo 2 hòn dái của ông cụ – Chúng, cho tất cả, vào 1 cái bình thủy tinh, có chứa Formol. Chúng, đem tất cả những thứ đó, cất đi, ở 1 nơi thật xa. Rồi, chúng trưng bày cái xác, thiếu lòng – gan – phèo – phổi ấy. Và, huy động dân làng, hết ngày này – qua tháng khác, đến xem (nói chữ, là chiêm ngưỡng). Người xem đến ít, chúng khuyến mại: Mỗi người đến, được 1 cái bánh mì và 1 chai nước lọc. Ông hãy hỏi, những người, mà ông quen biết – Ông hãy hỏi, dòng tộc nhà ông: Các người, có cam tâm, đứng nhìn. Và, cho phép những đứa con kia, được làm cái việc “đại nghịch – vô Đạo”; “bất Nhân – thất Đức”: Để cho người quá cố, “chết chẳng toàn thây”, như thế hay không?

Chỉ có lũ điên, mới ngang nhiên, trả lời rằng: “”.

Vậy mà, cái việc tày đình như thế, các ông, vẫn ngang nhiên và công khai thực hiện. Trong khi, vẫn xoen xoét cái mồm, mà nói rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và muôn vàn kính yêu”. Chẳng thèm, chiếu cố tới nguyện vọng của Người: Sau khi chết, được hỏa táng. Và, chỉ cần, chôn tro cốt, ở 3 quả đồi thấp, ở khắp 3 miền Trung – Nam – Bắc. Một nguyện vọng: Tột cùng của sự bình dị. So với những gì, mà Hồ Chí Minh, đã đóng góp cho đảng CS của các ông.

Ông ơi, sách Luận ngữ, có 1 dòng, như thế này:  …三年无改於父之道,可谓孝矣: (Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ). Tạm dịch: Ba năm, sau khi cha mất, người con, không thay đổi, lời dạy của cha. Thì, có thể, được gọi là, có hiếu.

Đằng này: Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa nằm xuống, chính các ông, đã sửa Di chúc của Người. Người, dặn 1 đằng – các ông, làm 1 nẻo. Phải chăng, những người CS các ông, có hiếu với Người? Phải chăng, bất hiếu, vẫn có thể, được gọi là “người tốt”? Và, có cần, phải “kiên quyết đấu tranh”, với những luận điệu xằng bậy, xuyên tạc và bịa đặt của các ông. Để, thực hiện trọn vẹn, Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Với, vài cái dẫn chứng đó, tôi chỉ muốn, hé cho ông, nhìn sơ qua, phần nổi của tảng băng “CS, là những người tốt”. Nếu tò mò, xin ông, hãy lập ra, 1 cái Diễn đàn hoặc, 1 phiên tòa công khai, cũng được. “Dân già” tôi, sẽ chưng, cho ông và, cả bàn dân thiên hạ, xem nốt, phần chìm của tảng băng đó. Ông, có muốn, nghe tiếp không?

Giờ, hãy bàn về, “người tốt Vũ Đức Đam. Chắc, ông biết câu này:

Trông mặt, mà đặt hình dong.

Con lợn có béo, cỗ lòng mới ngon.

Sách xưa, chép rằng: “Vua Quang Trung, cao lớn. Tóc quăn, da sần. Tiếng nói, sang sảng như chuông. Cặp mắt, sáng quắc. Không có ai, dám nhìn thẳng, vào mắt của ông”. Tướng mạo, dị thường – Tài năng, cái thế – Võ công, oanh liệt.

Bề ngoài của Vũ Đức Đam, nào có kém gì: Người ông, nhỏ thó. Tóc, xanh mươn mướt. Giọng, mượt như nhung. Da, mỏng và mai mái trắng. Cặp mắt, mơ màng. Hiền dịu, như thỏ non. Chẳng có gì, là uy vũ. Thậm chí, còn mảnh mai và ẻo lả, giống như… Hoa hậu Phường. Tài năng của ông, Thiên hạ, nào đã được kiểm chứng. Ngoại trừ, độc chiêu “vi hành”. Mỗi lần “vi hành”, đều dắt theo… 1 tay nhà báo. Để, sau đó, nó còn… viết bài.

Ông “vi hành”, tới bệnh viên. Trước đây, “3 bệnh nhân, 1 giường”. Sau đó, “1 giường, 3 bệnh nhân”.

Ông “vi hành”, tới doanh nghiệp. Nghe doanh nghiệp, kể khổ: “Ông, liên tục lắc đầu, tay nắm chặt và, đập vào góc bàn”. Cứ làm như, những thống khổ của họ, từ trên Trời rơi xuống. Chứ, không phải, do chính nhà cầm quyền CS của các ông, gây ra. Và, ông vô can, trong những sự việc ấy. Sau khi, ông “vi hành”: Mọi thứ, “đâu vẫn hoàn đấy”. Muốn tiến triển ư? Không phải, “Hãy đợi đấy”. Mà là, hãy đợi, đến “ngày 31 của tháng 2”.

Dựa vào đó, lũ thối mồm, chúng bình phẩm: Vũ Đức Đam, chỉ thạo “chém gió” và, thích “đánh bóng”, tên tuổi của mình (Bố khỉ. Tất tần tật, những cán bộ CS, đều thạo món này. Đâu chỉ riêng, mỗi mình Vũ Đức Đam. Ông nhỉ). Nào đã hết. Chúng, lại dè bỉu, mà cho rằng: Tấm bằng Tiến sĩ Kinh tế của ông, là bằng rởm. Bởi, cho đến tận bây giờ, đối mặt với 1 vấn đề, xưa như Trái đất: “nguyên nhân của đói nghèo”. Ông, cũng chẳng hề biết. Và, ngây ngô tự hỏi: “Tại sao, chúng ta nghèo?”

Ngoại trừ, những người CS các ông. Các ông giàu có, bởi các ông: Vơ vét của Đất nước – Bóc lột của Nhân dân và Bóp nặn của thuộc cấp(Thách các ông, chứng minh được, điều ngược lại). Còn lại, tất tần tật, những người giàu có, 1 cách chân chính: Họ, đều là, những người cực giỏi. Bill Gates, là 1 ví dụ.

Người dân chúng tôi, nghèo hèn – Đất nước chúng tôi, lạc hậu. Bởi, không giống như họ, chúng tôi, có dàn lãnh đạo: Tham lam – Bảo thủ và, cộng thêm, 1 chút Ngu dốt. Vũ Đức Đam, xin ông, chớ có vội, nhảy dựng lên. Hãy khoan, để nghe tôi nói.

Ai mà chẳng biết: Giá thành làm đường ở Việt nam, cao nhất Thế giới. Trong khi, chất lượng của nó, thuộc loại thấp nhất Hành tinh. Bởi, các ông, giao việc này, cho lũ quan tham và đầu đất. Chúng, rút ruột công trình, 1 cách vô tội vạ – Chúng, cố tình, làm sai qui chuẩn. Cho nên, nhiều con đường, vừa làm xong, đã hỏng. Tiền của, lại phải đổ ra, thêm nhiều lần nữa, để sửa. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Các ông, dồn dân về, ngập ứ trong nội thành Hà nội nói riêng và, các thành phố khác nói chung. Hệ quả, gây áp lực xấu và cực lớn, tới cơ sở hạ tầng: Giao thông – Điện – Nước – Sinh hoạt – Học hành – Môi trường… Để giải quyết chúng, các ông, không có giải pháp căn cơ. “Thủng đâu”, các ông “bịt đó”. Các ông, đổ hàng núi tiền vào, dựng nên, những con đường, “đắt nhất hành tinh”. Nhưng, nào có, giải quyết được, những vấn nạn đó. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Trong khi: Chưa có, đầy đủ nguồn nhân lực – Chưa có, đầy đủ cơ sở hạ tầng – Chưa có, thị trường của đầu ra ổn định… Các ông, vẫn cố tình, thành lập ra, những Tập đoàn kinh tế Nhà nước. Các ông, bóp mồm – bóp miệng, những người dân chúng tôi. Để, bơm vô tội vạ, những đồng vốn hiếm hoi của Đất nước, cho chúng. Đồng thời, đặt những “đứa trẻ chăn trâu”, vào vị trí lãnh đạo. Ngu và tham như chúng, biết gì về Quản lí. Kết quả, những Tập đoàn kinh tế đó, giống như, những chiếc thùng thủng đáy. Đổ, bao nhiêu tiền vào – mất sạch chừng đó. Ông, có cần, lấy dẫn chứng không? Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Đó, là chưa nói tới, những cái gọi là, “dự án”. Tỷ như Bauxite, ở Tây nguyên. Trong khi: Các nhà khoa học, đã chỉ rõ, những tác hại về môi trường – Các nhà kinh tế, đã tính toán, cho các ông thấy, hiệu quả âm của dự án – Các Nhân sĩ – Trí thức, đã vạch ra, những tác hại về Xã hội và, bản sắc Văn hóa của các Dân tộc Tây nguyên. Nhưng, các ông, nào có chịu nghe. Các ông, vẫn “bảo thủ”. Các ông, cho rằng: “Đây là chủ trương lớn của đảng và Nhà nước”. Nên, vẫn đâm đầu vào. Kết quả, càng làm – càng lỗ. “Mua đắt – Bán rẻ”. Chỉ có đồ ngu, mới làm như thế. Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Bauxite, tai hại như thế. Nhưng, vẫn chưa phải, là thảm họa. Những “Đại dự án”, như: Sân bay Long thành; Đường sắt cao tốc Bắc – Nam… Nếu, được thực hiện: Đất nước này, chỉ còn có mức, đi ăn mày. Nghèo, đã là cái gì.

Suy cho cùng. Đất nước này, nghèo đi bao nhiêu – Các ông, sẽ giàu lên bấy nhiêu. Do đó, xá gì mà không làm. Ông nhỉ.

Vũ Đức Đam, xin hãy 1 lần, bớt u mê. Để, nhìn ra xung quanh. Có ai, “rượu cả vò – chó cả con”, mà vẫn giàu có? Có ai, “bóc ngắn – cắn dài”, mà vẫn giàu có? Có ai, đi vay nợ, với bất cứ giá nào, để ăn chơi, mà vẫn hãnh diện, về chuyện đó?

Không bao giờ. Và, vĩnh viễn, không bao giờ, có chuyện đó.

Sách “Đại học”, luận về sự “giàu có”, như sau: 生财有大道,生之者众,食之者寡. Sinh tài, hữu đại đạo: Sinh chi giả chúng – Thực chi giả quả. Tạm dịch: Đạo làm giàu: Làm nhiều – tiêu ít + Số người đi làm, phải nhiều – số người ăn theo, phải ít.

Dân gian, hóm hỉnh. Họ, dịch là:

Tiền vào, như nước sông Đà.

Tiền ra nhỏ giọt, như cà phê phin.

Ông còn lạ gì: Việt nam, đi lên, từ nền sản xuất Nông nghiệp. Qui mô của mọi thứ, đều nhỏ – lẻ – manh mún. Năng suất lao động, rất thấp. Của cải làm ra, lấy đâu được nhiều. Nhưng, các ông, tiêu như “phá mả”. Tỷ phú, cũng phải khiếp sợ. Thiên hạ, động có cái gì, các ông, phải sắm cho bằng được, những thứ đó. Không những thế, còn phải hoành tráng. Để, “xứng tầm Khu vực và Thế giới”: Thủ đô, to nhất – Tháp truyền hình, cao nhất – Tượng Phật, lớn nhất – Chùa, rộng và đẹp nhất – Đường sắt cao tốc, dài nhất… Các ông làm thế, Đất nước này, không nghèo đi, sao được?

Xưa, mỗi xã, chỉ có 1 ông Chánh tổng. Mỗi làng, chỉ có 1 ông Lý trưởng, cộng thêm, vài chú Tuần đinh. Mọi việc, vẫn giải quyết băng băng. Nay, rỗi rãi, ông hãy ngồi, mà kiểm tra xem: Mỗi xã – Mỗi phường, có bao nhiêu nhân viên Hành chính? Có bao nhiêu nhân viên Công an? Hệ thống, Đảng – Chính (quyền) – Công (đoàn) – Thanh (niên), có bao nhiêu người? Sao công việc, vẫn ì ạch?

Nhân dân, “một cổ – ba tròng”: Vừa phải nuôi, bộ máy Nhà nước – Vừa phải nuôi, bộ máy của Đảng – Vừa phải nuôi, bộ máy “Đoàn thể”. Rặt những loại “ngồi chơi – xơi nước”. Không làm ra tiền, mà vẫn được ăn. Không những thế, lại còn ăn ngon và ăn nhiều. “Thằng còng làm – Thằng thưỡn xơi”. Các ông làm thế: Đất nước này, chưa lụn bại, là bởi vì: Hồng Phúc của Dân tộc Việt, vẫn còn quá lớn.

为之者疾,用之者舒,则财恒足矣Vi chi giả tật – Dụng chi giả thư. Tắc tài hằng túc hĩ. Tạm dịch: Làm ra của cải, phải thật nhanh và, hãy từ từ, khi tiêu chúng. Tiền trong túi, lúc nào, cũng rủng rỉnh.

Ông đã từng, ngồi nghe, Doanh nghiệp kể khổ. Dẫu có điếc lác và lú lẫn, ông cũng phải biết: Tốc độ quay vòng đồng vốn của Doanh nghiệp, là rất thấp. Tỷ suất khấu hao của Doanh nghiệp, là rất cao. Tỷ lệ lợi nhuận/ vốn, là thảm hại. Nguyên nhân, có cần phải nhắc lại không?

Chậm, làm ra của cải. Nhưng, hễ có đồng nào trong túi, các ông, móc ra tiêu rất nhanh. Có lẽ, các ông sợ: Để lâu một chút, tiền sẽ bị thiu – Để lâu một chút, mình hết nhiệm kì và, sẽ không còn có cơ hội, để xà xẻo nữa.

Ngẫm đi – nghĩ lại, phải cải chính đôi chút: Nói các ông “tiêu tiền”, là không hề chính xác. Sự thực là: Những người CS các ông, không hề, biết cách tiêu tiền. Các ông, chỉ thạo mỗi món đốt tiền. Để, tôi nói ông nghe.

Các ông, không hề che giấu tham vọng: “Việt Nam, sẽ trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại hóa, vào năm 2020”.

Mục tiêu này, có trở thành hiện thực? Trong khi, cái gọi là, nền Công nghiệp ấy, chủ yếu, đi bằng đôi chân: Xuất nguyên liệu thô và, gia công lắp ráp bán thành phẩm. Đến con ốc vít, đạt tiêu chuẩn Quốc tế, cũng không làm được. Nguyên nhân:

-Sự lãnh đạo, nói cho nhẹ nhàng, là yếu kém của các ông.

-Cơ sở hạ tầng của chúng ta, không tốt. Luyện kim và cơ khí chính xác của chúng ta, còn phọt phẹt. Nói gì đến, những chế phẩm Sinh – Hóa.

-Nhân lực của chúng ta, dồi dào. Nhưng, chất lượng rất kém. Thiếu trầm trọng, đội ngũ Kỹ sư và, Công nhân lành nghề. Cơ bản nhất, từ trên xuống dưới, chúng ta, không có Tác phong Công nghiệp: Trễ giờ – Lười nhác – Vô kỉ luật – Ăn cắp vặt, là những hiện tượng rất phổ biến.

Hãy bắt đầu từ đây và, dồn tiền vào đó. “Tất cả, cho sản xuất”. Có thế, ít nhất, mới mong “thoát nghèo”. Đừng vội đốt, những đồng tiền vốn, mà chúng ta, phải chắt chiu dành dụm, vào những thứ phù phiếm, vô bổ và, chưa thiết thực.Tỷ như:

-Xây cho mỗi tỉnh, một cái nhà hát. Chẳng ai đến xem đâu.

-Xây cho mỗi tỉnh, một khu tượng đài Hồ Chí Minh. Dân, còn đói lắm. Đến ngắm Bác, no sao được.

-Xây la liệt, những Viện Bảo tàng. Xây xong rồi, cho cái gì vào, để bày ở đó. Quan trọng hơn, ai sẽ đến xem.

Viết đến đây, thấy Sư tử, lừng lững bước vào. Nàng, đẩy tôi ra và, ngồi kiểm duyệt. Kiểm xong, nàng cười: “Ông điên rồi. Có 2 điều cần nhớ.Một, không nói chuyện phải – quấy, với những người CS. Hai, chừng nào, họ còn lãnh đạo – Chừng đó, Đất nước này, còn nghèo và hèn. Chấm hết”.

Ôi, Sư tử: Cả bài viết của anh, thua 2 cái gạch đầu dòng của em. Ai dám bảo: “Đàn bà sâu sắc, như cơi đựng trầu”.

Tự nhiên, thấy hết hứng. Và, đành phải, chào ông.

____

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Điện thoại:  0168-50-56-430