httpv://www.youtube.com/watch?v=huTVlmp6kyQ
Gloria – Cao Cung Lên – Part 1.
httpv://www.youtube.com/watch?v=k4-2HxQPrqs
Gloria – Cao Cung Lên – Part 2.

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=huTVlmp6kyQ
httpv://www.youtube.com/watch?v=k4-2HxQPrqs
13 Thói Quen Xấu Khiến Bạn Già Trước Tuổi
Thức khuya khiến cho tất cả các bộ phận trên cơ thể bị hoạt động quá sức. Da tiết nhiều chất bã nhờn hơn dẫn đến lỗ chân lông nở rộng. Thông thường là khoảng từ 10-11 giờ đêm da ở trong trạng thái dưỡng và hồi phục. Nếu như thường xuyên thức khuya sẽ làm rối loạn hệ tuần hoàn bình thường của việc trao đổi chất và hệ thống thần kinh, sẽ khiến cho da bị khô, sạm. Cơ thể thường xuyên mệt mỏi, tiêu hóa kém dẫn đến việc hấp thu các chất dinh dưỡng bị đình trệ.
Nếu không thể bỏ qua hay quên đi những chuyện trong quá khứ bạn có thể trông già hơn 5 tuổi so với tuổi thực của mình. Một số nghiên cứu đã cho thấy mối liên hệ giữa sự tha thứ và sức khỏe. Nghiên cứu được đang trên Tạp chí Y học hành vi năm 2005 cho thấy sự thiếu tha thứ dẫn đến gia tăng các triệu chứng thần kinh, ảnh hưởng đến giấc ngủ, tăng huyết áp, tăng lượng đường trong máu…
Nếu kế hoạch tập thể dục của bạn chỉ bắt đầu và kết thúc cho đến khi bạn cảm thấy cơ thể mình đã thon gọn, bạn có thể trông già và xấu hơn. Bởi nghiên cứu cho thấy rằng tập thể dục thường xuyên sẽ giúp ngăn ngừa các bệnh liên quan đến tuổi và kéo dài tuổi thọ. Tập thể dục hàng ngày giúp giảm lượng cortisol và làm tăng các hormone có lợi như testosterone.
Đồ ngọt làm tăng sự lão hóa của tất cả các bộ phận trên cơ thể con người, ăn chế độ ăn nhiều đường không chỉ gây tăng vòng 2 mà còn tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, gây các vấn đề về da như mụn trứng cá, đặc biệt là nếp nhăn.
Tiếp xúc với khói thuốc lá, dù bạn hút thuốc hay không, làm tăng đáng kể nếp nhăn và tình trạng khô da vì khói thuốc làm suy yếu khả năng hấp thụ vitamin C của cơ thể – thành phần quan trọng giữ cho da căng và ẩm. Vitamin C tan trong nước và không được dự trữ trong cơ thể.
Khi đôi mắt mệt mỏi bạn thường dụi mắt, nhưng chính điều này lại là nguyên nhân làm phá vỡ collagen và độ đàn hồi xung quanh khu vực mắt, làm phá vỡ các mao mạch và gây ra nếp nhăn.
Một nghiên cứu của các nhà khoa học ở Đại học Queensland (Australia) cho thấy cứ một giờ xem truyền hình sẽ rút ngắn cuộc sống của bạn 22 phút. Truyền hình không chỉ làm xấu vòng eo, nó còn rút ngắn tuổi thọ của bạn và còn làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer.
Nếu khi ngủ bạn chỉ nằm úp mặt xuống gối thì khuôn mặt bạn sẽ bị ép và chiếc gối bông có thể gây nếp nhăn trên da. Để tránh lão hóa sớm hãy chuyển sang nằm ngửa hay dùng gối lụa, satin có thể giảm nếp nhăn và duy trì độ ẩm cho da.
Stress và lo âu khiến bạn cau mày. Thực hành một số kỹ thuật thư giãn và đưa nó vào thói quen hằng ngày của bạn là điều rất quan trọng. Hãy học cách chú ý đến những điều tích cực và thực hành việc thư giãn các cơ mặt.
Tăng lượng nước bạn uống mỗi ngày chính là chìa khóa để trông trẻ trung hơn. Nước là cần thiết để duy trì độ ẩm cho da và giúp cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho da.
Nhiều người kiêng ăn chất béo để giảm cân mà không biết rằng thiếu các chất béo như omega 3 có thể ảnh hưởng đến tốc độ lão hóa của bạn. Omega 3 có nhiều trong dầu cá, quả óc chó, hạnh nhân luôn cần thiết cho chúng ta và giúp ta trẻ lâu. Nó không chỉ giữ cho làn da căng bóng, ít nếp nhăn, tăng cường sức khỏe cho não, tim mà còn tăng tuổi thọ cho bạn.
Rất nhiều mỹ phẩm chứa những độc tố gây hại cho làn da, cơ thể như corticoid, chì… Một nghiên cứu thị trường mỹ phẩm gần đây cho thấy, ngay cả các loại son của những thương hiệu uy tín cũng chứa lượng chì vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Vì thế bạn nên hạn chế sự lạm dụng mỹ phẩm để tránh cho cơ thể không bị ngộ độc và làn da chậm lão hóa hơn.
Sưu tầm
Hiện tượng phản-ngôn ngữ ở Việt Nam
Trên báo chí trong nước, thỉnh thoảng có một số người còn nhiều tâm huyết lên tiếng báo động về tình trạng khủng hoảng của tiếng Việt. Bằng chứng họ nêu lên thường là những cách viết tắt, cố tình sai chính tả hoặc pha nhiều tiếng nước ngoài của giới trẻ trên facebook hay các blog. Nhưng dường như chưa ai thấy điều này: sự khủng hoảng trong tiếng Việt chủ yếu nằm trong lãnh vực chính trị và xuất phát từ giới cầm quyền. Nó nằm ngay trong các nghị quyết của đảng, các bài diễn văn của giới lãnh đạo và, cụ thể nhất, trên trang báo Nhân Dân hay Tạp chí Cộng sản, rồi từ đó, lan đi khắp nơi, trên các cơ quan truyền thông cũng như ở miệng của các cán bộ và đảng viên các cấp.
Không phải người ta không thấy những sự khủng hoảng ấy. Thấy nên phản ứng. Có ba loại phản ứng chính.
Thứ nhất, không tin những gì chính quyền nói. Một trong những câu nói được nhắc nhở nhiều nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Xin lưu ý: câu nói ấy chỉ thực sự gây tiếng vang và được phổ biến rộng rãi chủ yếu sau năm 1975, lúc ông Thiệu đã trở thành con người của quá khứ.
Thứ hai, chính những người cộng sản, ngay cả cộng sản cao cấp, cũng thấy thẹn thùng khi sử dụng loại ngôn ngữ họ sáng chế và từng ra sức áp đặt lên xã hội. Có thể nêu lên hai ví dụ. Một là với chữ “đồng chí”. Trước, đó là cách xưng hô chính thức và phổ cập. Sau, nó chỉ hiện hữu trong các cuộc hội nghị. Nói chuyện với nhau, hầu như không ai gọi nhau là “đồng chí” nữa. Nghe chữ “đồng chí” là sợ: nó báo hiệu một màn đấu đá hoặc một tai họa (1). Ngay ở Trung Quốc, chính quyền cũng khuyên dân chúng hạn chế dùng chữ “đồng chí” trên các phương tiện giao thông công cộng (2). Hai là chữ “cộng sản”.
Với nhiều người, kể cả đảng viên, cứ nghe người khác gọi mình là “cộng sản”, họ có cảm giác như nghe một lời chửi mắng. Chứ không có chút tự hào trong đó cả. Nhớ, đã khá lâu, trong một cuộc gặp gỡ ở Úc, một người là đảng viên khá cao cấp, hiện đang làm việc trong ngành truyền thông ở Việt Nam, nhắc đến cuốn Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996) của tôi, rồi hỏi: “Sao anh không đặt nhan đề là ‘Văn học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa’ nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Thế có khác gì nhau không?” Anh ấy đáp: “Khác chứ. Chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ nghe thanh lịch hơn; còn chữ ‘chế độ cộng sản’ nghe ghê quá, cứ như một lời kết án.” Tôi lại hỏi: “Anh là đảng viên mà cũng có ấn tượng vậy sao?” Anh ấy đáp, thật thà: “Đó là ấn tượng chung của toàn xã hội mà. Tên đảng thì không ai dám đổi, nhưng trong đời sống hàng ngày, nghe mấy chữ ấy, mình cũng thấy ngài ngại.”
Thứ ba, phản ứng lại sự lũng đoạn ngôn ngữ của chính quyền dưới hình thức phản-ngôn ngữ (anti-language) qua những cách nói hoàn toàn bất chấp nguyên tắc ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp thông thường.
Hiện tượng phản-ngôn ngữ, vốn xuất hiện và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, trong vài thập niên trở lại đây, có nhiều hình thức khác nhau.
Nhớ, lần đầu tiên tôi về Việt Nam là vào cuối năm 1996. Lần ấy, tôi ở Việt Nam đến bốn tuần. Một trong những ấn tượng sâu đậm nhất còn lại trong tôi là những thay đổi trong tiếng Việt. Có nhiều từ mới và nhiều cách nói mới tôi chỉ mới nghe lần đầu. Ví dụ, trà Lipton được gọi là “trà giật giật”; cái robinet loại mới, có cần nhấc lên nhấc xuống (thay vì vặn theo chiều kim đồng hồ) trong bồn rửa mặt được gọi là “cái gật gù”; ăn cơm vỉa hè được gọi là “cơm bụi”; khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”; hoàn cảnh khó khăn được xem là “rất hoàn cảnh”; thịt beefsteak được gọi là “bò né”. Sau này, đọc báo trong nước, tôi gặp vô số các từ mới khác, như: “đại gia”, “thiếu gia” (3), “chân dài”, “chảnh” (kênh kiệu) (4), “bèo” (rẻ mạt), “khủng” (lớn); “tám” (tán gẫu); “buôn dưa lê” (lê la, nhiều chuyện), “chém gió” (tán chuyện), “gà tóc nâu” (bạn gái), “xe ôm” (bạn trai), “máu khô” (tiền bạc), “con nghẽo” (xe máy), v.v.
Trong các từ mới ấy, có từ hay có từ dở, tuy nhiên, tất cả đều bình thường. Ngôn ngữ lúc nào cũng gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống thay đổi, ngôn ngữ thay đổi theo. Những sản phẩm mới, hiện tượng mới và tâm thức mới dẫn đến sự ra đời của các từ mới. Ở đâu cũng vậy. Tất cả các từ điển lớn trên thế giới đều có thói quen cập nhật các từ mới hàng năm. Có năm số từ mới ấy lên đến cả hàng ngàn. Việt Nam không phải và không thể là một ngoại lệ. Đối diện với những từ mới ấy, có hai điều nên tránh: một, xem đó là những từ ngớ ngẩn rồi phủ nhận tuốt luốt; và hai, xem đó là từ…Việt Cộng và tìm cách chối bỏ chúng.
Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất không phải là sự xuất hiện của các từ mới hay các tiếng lóng mới ấy. Mà là những cách nói mới, rất lạ tai, thậm chí, quái gở, phổ biến khắp nơi, ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tiếng tăm, đặc biệt ở Hà Nội.
Có thể tóm gọn các cách nói mới ấy vào bốn điểm.
Thứ nhất, hiện tượng dùng nguyên cả một cụm từ hoặc một từ ghép hoặc một tên riêng của một người, một địa phương hoặc một nước để chỉ lấy ra một từ tố trong đó. Ví dụ, thay vì nói “lâu”, người ta nói “Hà Văn Lâu” (hay “Hồng Lâu Mộng”); thay vì nói “đông” (đúc), người ta nói “Hà Đông”; thay vì nói “xa”, người ta nói “Natasha” (chỉ lấy âm cuối, “Sha”, phát âm theo giọng miền Bắc là “xa”); thay vì nói “xinh” (xắn), người ta nói “nhà vệ sinh” (âm /s/ bị biến thành /x/); thay vì nói “tiện”, người ta nói “đê tiện”; thay vì nói “cạn” (ly), người ta nói “Bắc Cạn”; thay vì nói “can” (ngăn), người ta nói “Lương Văn Can”; và thay vì nói “chia” (tiền), người ta nói “Campuchia”. Cuối cùng, người ta có một mẩu đối thoại lạ lùng như sau:
“Đi gì mà Hà Văn Lâu thế?”
”Ừ, tại đường Hà Đông quá!”
”Từ đấy đến đây có Natasa không?”
“Không. À, mà hôm nay em trông hơi nhà vệ sinh đấy nhé!”
“Khéo nịnh! Tí nữa, đi về, có đê tiện, mua giùm em tờ báo nhé!”
“Ừ, mà thôi, bây giờ nhậu đi!”
“Ừ, Bắc Cạn đi, các bạn ơi!”
“Thôi, tôi Lương Văn Can đấy!”
”Này, hết bao nhiêu đấy, để còn Campuchia?”
Thứ hai, hiện tượng dùng chữ “vô tư”. Lúc ở Hà Nội, một trong những từ tôi nghe nhiều nhất là từ “vô tư”. Nó được dùng một cách lạm phát. Cái gì cũng “vô tư”. Bạn bè, gồm toàn các giáo sư và nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội, rủ tôi vào quán thịt cầy. Thấy tôi thoáng chút ngần ngại, họ liền nói: “Cứ vô tư đi mà! Thịt cầy ở đây ngon lắm!” Sau khi uống vài ly rượu, cảm thấy hơi chếnh choáng, tôi xin phép ngưng, họ lại nói: “Không sao đâu, cứ vô tư uống thêm vài ly nữa cho vui. Rượu này ngâm thuốc, bổ lắm!” Cuối tiệc, tôi giành trả tiền, họ lại nói: “Không, bọn tôi đãi, anh cứ vô tư đi!” Cứ thế, trong suốt bữa tiệc hai ba tiếng đồng hồ, tôi nghe không dưới vài chục lần từ “vô tư”. Chữ “vô tư” ấy phổ biến đến độ lọt cả vào trong thơ Nguyễn Duy:
Mình vô tư với ta đi
Vô tư nhau chả cần chi nhiều lời
Vô tư thế chấp đời người
Trắng tay còn chút coi trời bằng vung
Luật chơi cấm kị nửa chừng
Vô tư đặt cọc tận cùng chiếu manh
Liền em vô tư liền anh
Không ngây không dại không đành phải không.
Thứ ba, hiện tượng dùng các phụ từ “hơi bị”. Bình thường, trong tiếng Việt, “bị”, đối lập với “được”, chỉ những gì có ý nghĩa tiêu cực và ngoài ý muốn. Bất cứ người Việt Nam nào cũng biết sự khác biệt giữa hai cách nói “Tôi được thưởng” và “Tôi bị phạt”. Vậy mà, ở Việt Nam, ít nhất từ giữa thập niên 1990 đến nay, ở đâu, người ta cũng nghe kiểu nói “Cô ấy hơi bị hấp dẫn”, “Ông ấy hơi bị giỏi”, “chiếc xe ấy hơi bị sang”, “nhà ấy hơi bị giàu”, hay “bức tranh ấy hơi bị đẹp”, v.v.
Cuối cùng là hiện tượng các thành ngữ mới đã được Thành Phong sưu tập và minh họa trong cuốn Sát thủ đầu mưng mủ (sau đó bị tịch thu, năm 2011), bao gồm những câu kiểu:
ăn chơi sợ gì mưa rơi
buồn như con chuồn chuồn
chán như con gián
chảnh như con cá cảnh
chuyện nhỏ như con thỏ
bực như con mực
cực như con chó mực
đau khổ như con hổ
đen như con mèo hen
đói như con chó sói
đơn giản như đan rổ
dốt như con tốt
đuối như trái chuối
ghét như con bọ chét
già như quả cà
hồn nhiên như cô tiên
im như con chim
lạnh lùng con thạch sùng
ngất ngây con gà tây
ngốc như con ốc
phê như con tê tê
sành điệu củ kiệu
tê tái con gà mái
thô bỉ như con khỉ
tự nhiên như cô tiên
tinh vi sờ ti con lợn
xinh như con tinh tinh
Tất cả những hiện tượng trên đều có một số đặc điểm chung. Thứ nhất, có lẽ chúng xuất phát từ Hà Nội, sau đó, lan truyền ra cả nước, kể cả Sài Gòn. Thứ hai, chúng phổ biến không phải chỉ trong giới trẻ mà còn cả trong giới trí thức lớn tuổi, kể cả giới học giả, giáo sư đại học và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Thứ ba, tất cả những cách nói ấy đều ngược ngạo, thậm chí, vô nghĩa. Chả có ai có thể giải thích được những kiểu nói như “buồn như con chuồn chuồn” hay “chán như con gián” hay “im như con chim”, “xinh như con tinh tinh”… trừ một điều duy nhất: chúng có vần vè với nhau. Vậy thôi.
Trong lịch sử tiếng Việt, thỉnh thoảng lại xuất hiện những hiện tượng mới, đặc biệt trong khẩu ngữ, nhiều nhất là trong tiếng lóng. Tuy nhiên, có lẽ chưa bao giờ lại có những hiện tượng nói năng ngược ngạo và vô nghĩa như hiện nay. Ở miền Nam trước năm 1975, người ta làm quen với những kiểu nói như “lính mà em”, “tiền lính tính liền”, “sức mấy mà buồn”, “bỏ đi Tám”, “OK Salem”, “mút mùa Lệ Thủy”, “thơm như múi mít”, “bắt bò lạc”, “một câu xanh rờn”, v.v. Với hầu hết những kiểu nói như thế, người ta có thể hiểu được. Còn bây giờ? Không ai có thể giải thích được. Chúng ngược ngạo đến mức quái đản. Và chúng vô nghĩa đến mức phi lý.
Vậy tại sao chúng lại ra đời, hơn nữa, phổ biến rộng rãi trong xã hội, ngay trong giới có học thuộc loại cao nhất nước?
Dĩ nhiên không phải vì người ta không biết. Biết, chắc chắn là biết; nhưng người ta vẫn chọn những cách nói ấy. Đó là một chọn lựa có ý thức chứ không phải một thói quen vô tình. Sự chọn lựa ấy chỉ có thể được giải thích bằng một cách: người ta muốn nói khác. Khác với cái gì? Với những quy ước ngôn ngữ đang thống trị trong xã hội và thời đại của họ. Khi những cái khác ấy được thực hiện một cách bất chấp luận lý và quy luật, chúng trở thành một thách thức, một sự chối bỏ, hay đúng hơn, một sự phản kháng. Bình thường, không ai phản kháng ngôn ngữ. Bởi ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ. Người ta chỉ phản kháng tính chất giả dối, khuôn sáo, cũ kỹ, chật chội trong ngôn ngữ hoặc đằng sau ngôn ngữ: văn hóa, chính trị và xã hội. Bởi vậy, tôi mới xem những cách nói ngược ngạo phổ biến tại Việt Nam hiện nay như một thứ phản-ngôn ngữ: nó là một phần của thứ đối-văn hóa (counter-culture), xuất phát từ động cơ muốn thoát khỏi, thậm chí, chống lại những giá trị, những quy phạm và những chuẩn mực mà người ta không còn tin tưởng và cũng không muốn chấp nhận nữa.
Nói cách khác, nếu việc sử dụng ngôn ngữ trong bộ máy tuyên truyền của đảng và nhà nước Việt Nam mang đầy tính chính trị thì hiện tượng phản-ngôn ngữ đang phổ biến tại Việt Nam hiện nay cũng có tính chính trị. Thứ chính trị trên dựa trên sự áp chế, độc tài và giả dối; thứ chính trị dưới là một sự phản kháng lại thứ chính trị trên nhưng lại dựa trên một thứ chủ nghĩa hư vô đầy tuyệt vọng.
***
Chú thích:
BÁC ÁI VÀ BỔN PHẬN
Tác giả Ôn Như Nguyễn Ngọc có kể câu chuyện như sau: Gia đình buôn bán nọ chế ra một cái cân để lừa đảo khách. Cái cân vừa nhẹ vừa nặng và bao giờ phần lợi cũng về phía ông ta. Vì buôn bán vậy nên chẳng bao lâu ông đã trở nên giàu có. Lại sinh được hai người con trai hiền lành, học giỏi khôi ngô tuấn tú, ai cũng khen là nhà có đại hồng phúc.
Một hôm, hai vợ chồng bàn nhau: bây giờ hai vợ chồng ta đã dư giả, giàu có không còn thiếu thứ gì ta hãy phá bỏ cái cân kia đi để dành cái đức lại cho con. Sau khi đem cái cân ra đập. Khi bể ra thì thấy có đọng một cục máu đỏ hỏn. Sau đó ít lâu thì hai đứa con bất tử lăn đùng ra chết, làm cho hai vợ chồng khóc lóc thảm thiết. Được Bụt hiện ra dạy “Hãy tu tĩnh làm ăn không tham lam gian lận.” Từ đó hai vợ chồng cố gắng làm ăn không gian lận, làm phúc bố thí. Quả nhiên sau một thời gian sinh được hai đứa con trai khác hiền lành tử tế, văn hay chữ tốt, và sau lớn lên cha mẹ được vẻ vang hạnh phúc.
Qua câu chuyện trên ta thấy hai vợ chồng vì buôn bán gian lận nên hai đứa con bị Trời phạt nhãn tiền. Điều đáng khen là họ nhận ra mình tội lỗi, và tự biết phục thiện sửa đổi và được tha thứ. Công việc mà họ phục thiện chính là ăn ngay ở lành, làm phúc bố thí và không buôn bán gian lận. Nhìn chung lại chính là hãy biết làm tròn bổn phận và sống bác ái. Tương tự bài Tin Mừng dân chúng cũng lũ lượt kéo đến với Gioan Baotixita và hỏi ông “Tôi phải làm gì?” hay “Tôi phải phục thiện bằng cách nào?” để rước Chúa. Câu trả lời của Gioan Baotixita không ngoài hai việc chính là:
Trong bản văn Tin Mừng không nói rõ là Gioan Baotixita kêu gọi mọi người sống bác ái. Nhưng qua lời ông yêu cầu mọi người hãy sống tương trợ lẫn nhau: “Ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có gì ăn thì cũng làm như vậy.” Gioan Baotixita muốn họ làm một công việc bác ái cụ thể giúp tha nhân chứ không phải chờ đợi bằng lời nói xuông. Thật ra ngày nay chúng ta cũng gặp được nhiều người làm việc từ thiện, làm những công việc bác ái giúp đỡ người nghèo, người tàn tật cơ nhỡ ở khắp nơi. Nhưng cách làm việc của họ không có được tinh thần bác ái như lời Gioan Baotixita kêu gọi. Vì đôi khi họ chỉ cho những chiếc “áo cũ”, “áo không mặc nữa.” Còn Gioan Baotixita thì kêu gọi người ta cho đi cái mình “đang mặc.” Không thể phủ nhận lòng tốt của mọi người, nhưng nhiều người đã lạm dụng công việc bác ái để đạt được mục đích mà họ muốn, chứ không có chút gì là ái cả. Cho nên cũng có rất nhiều phần lương thực được giúp cho người nghèo, mà là phần dư thừa chứ không phải tất cả những gì họ có. Nhưng cũng có những tấm lòng cao cả mà cho đi với tinh thần không đắn đo, không đòi hỏi mà làm việc bằng một con tim hiến dâng. Điều đó thật đáng khen.
Thực trạng ngày nay đang cần con người sống bác ái với nhau nhiều hơn nữa, biết “nhường cơm xẻ áo.” Qua thống kê mới đây cho biết trên thế giới có khoảng một tỉ người bị đói vì cuộc khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh đó lại có quá nhiều người dư thừa tiền của. Nếu tất cả mọi người đều sống theo lời mời gọi cua Gioan Baotixita, thì trên thế giới không còn người đói nghèo và bệnh tật nữa. Thánh Gioan Baotixita khôngđưa ra một đòi hỏi nào quá sức mình, vì vậy để sống trong tầm tình mùa Vọng, chúng ta không chỉ dọn đường mà còn phải sống bác ái ngay trong đời thường, với những người ở xung quanh ta. Vì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không thích ta sống dư thừa của cải, trong khi người anh em lại thiếu thốn không đủ cung ứng cho nhu cầu của họ.
Bài Tin Mừng còn nhắc đến những người thu thuế và lính tráng. Đối với dân Israel, hai hạng người này bị coi là xấu xa tội lỗi, vì họ tiếp xúc với dân ngoại và nghề nghiệp mang đến cho họ hành vi bất nhân, làm giàu cách bất chính. Nhưng thánh Gioan Baotixita thì không nghĩ thế, ngài chỉ yêu cầu họ làm đúng, làm tròn và làm tốt công việc mà họ đang làm. Tiêu biểu đối với người thu thuế ngài nói: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Nghĩa là gian lận trong thu thuế là không hợp với đạo đức. Với người lính cũng nhận được mệnh lệnh tương tự: “Chớ hà hiếp ai cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.” Công việc binh nghiệp tự nó đâu phải là xấu, mà cũng chẳng đáng chê trách, chỉ xấu khi người ta lợi dụng nó làm việc bất chính, như hà hiếp, tống tiền… Lời kêu gọi của Gioan Baotixita thật đơn giản dễ thực hiện. Nhưng đòi hỏi mỗi người phải thực hiện cách triệt để và quyết liệt. Vì nếu chúng ta dọn lòng không sửa đổi thì Thiên Chúa sẽ không vào được lòng ta, vì nó đã chứa đầy những bất chính lo âu rồi. Vậy mỗi người hãy biết ăn năn sám hối để dọn lòng đón Chúa trong mùa vọng này.
Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng ra với tha nhân, để yêu thương chia sẻ những gì mình có, và làm tốt công việc mà Chúa đã giao. Amen.
Sưu tầm
Từ: langthangchieutim

Một con đường tại Quận Ngũ Hành Sơn. Bí thư Quận ủy quận Ngũ Hành Sơn cho biết đã phát hiện 71 cá nhân là người Việt đứng tên mua 137 lô đất trên địa bàn quận này cho người Trung Quốc.
08.12.2015
Vấn đề người Trung Quốc “núp bóng” người dân Đà Nẵng, mua hơn 100 khu đất gần khu vực quân sự, đang trở thành một chủ đề nóng tại thành phố được coi là mang tính chiến lược ở miền trung.
Báo chí trong nước dẫn lời ông Đào Tấn Bằng, Bí thư Quận ủy quận Ngũ Hành Sơn, cho biết đã phát hiện 71 cá nhân là người Việt đứng tên mua 137 lô đất trên địa bàn quận này cho người Trung Quốc.
Tuy nhiên, khi được VOA Việt Ngữ gọi điện hỏi, ông Bằng đã từ chối trả lời.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường TP Đà Nẵng, khu vực mà người Trung Quốc mua chủ yếu nằm trên đường Võ Nguyên Giáp – Trường Sa, đoạn sát một căn cứ quân sự của quân khu 5.
Ông Điểu được báo Người Lao Động trích lời nói rằng đây là “những vị trí nhạy cảm liên quan đến an ninh, chính trị, quốc phòng nên phải hết sức thận trọng”.
VOA Việt Ngữ không thể liên lạc được với ông Điểu để hỏi ông về những thông tin mà báo chí trong nước nêu lên.
Nhiều người dân ở Đà Nẵng, trong đó có nhiều cựu chiến binh, cho VOA Việt Ngữ biết rằng họ lo ngại về sự xuất hiện ngày một nhiều của người Trung Quốc, nhất là các công trình xây dựng ở những địa điểm quan trọng về quốc phòng.
Khi được hỏi về những lo ngại của dân chúng đối với sự xuất hiện của người Trung Quốc tại thành phố, bà Lê Thị Thu Hạnh, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ Đà Nẵng, nói với VOA Việt Ngữ:
“Nói về quan tâm, dân của chúng tôi quan tâm tới tình hình phát triển kinh tế xã hội nói chung của thành phố, không riêng gì một vấn đề nào cả.”
Phát biểu tại kỳ họp của hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng hôm nay, bí thư thành ủy Nguyễn Xuân Anh đã đưa ra các chỉ đạo về an ninh – quốc phòng và công tác quy hoạch thành phố.
Nhà lãnh đạo trẻ này được trích lời nói rằng cần phải “lưu ý công tác quản lý tại các khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng. Không cho xây dựng các công trình cao tầng tại các khu vực đó”.
Trước đó, chính quyền Thành phố đã đình chỉ một công trình xây dựng của chủ đầu tư Trung Quốc để xem xét xử lý về độ cao sau khi nhận thấy vị trí của công trình này nằm giữa hai trận địa pháo phòng không ở địa phương.
Theo báo chí trong nước, trong năm 2015, quận Ngũ Hành Sơn đón gần 130.000 người nước ngoài tới tham quan, trong đó có đến 65.000 lượt khách Trung Quốc.
Mỗi tuần có khoảng gần 60 chuyến bay từ các tỉnh của Trung Quốc tới Đà Nẵng, theo báo cáo của Quận ủy Ngũ Hành Sơn.
Ngoài ra, hiện có hàng chục dự án nước ngoài do người Trung Quốc làm chủ đầu tư, đưa lao động tới làm việc.
Báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP Đà Nẵng cho biết tính đến thời điểm này, ở Đà Nẵng có 55 doanh nghiệp sử dụng 276 lao động Trung Quốc.
Tin cho hay, tình trạng người Trung Quốc nhập cảnh bằng đường du lịch để làm việc trái phép “đang gây nhiều phức tạp cho công tác quản lý nhà nước”.
Về sự xuất hiện ồ ạt của người Trung Quốc, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ Đà Nẵng nói với VOA Việt Ngữ:
“Chúng tôi không có khuyến khích riêng cho một quốc tịch, bất kỳ một quốc tịch nào. Tất cả thành phố đang phát triển về du lịch, dịch vụ, cho nên chúng tôi chào đón tất cả công dân của các nước đến du lịch tại thành phố Đà Nẵng chúng tôi.”
Phát biểu sáng 8/12, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng yêu cầu các sở, ngành phải tăng cường quản lý chặt chẽ người nước ngoài trên địa bàn.
Ông Anh cũng yêu cầu lưu ý tình trạng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam để hoạt động du lịch “chui”.
Các nhà quan sát cho hay, những thông tin về việc người Trung Quốc nhờ người địa phương mua đất ở Đà Nẵng được đưa ra trong bối cảnh tinh thần bài Bắc Kinh vẫn chưa có dấu hiệu “nguội” bớt, nhất là khi quốc gia láng giềng khổng lồ không che giấu tham vọng thâu tóm biển Đông.
Mạng xã hội ở Việt nam
Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-12-08
12082015-social-media-in-vn.mp3
![]()

Một trong những post trên trang Facebook của Nguyễn Hữu Quốc Duy ở Cam Ranh
Screenshot
Một công chức ở tỉnh An Giang bày tỏ cảm xúc của mình về ông chủ tịch tỉnh đã bị kỷ luật, việc này gây nhiều chỉ trích trên mạng xã hội. Sau đó chính quyền tỉnh này phải tuyên bố là các thủ tục kỷ luật người công chức kia là không đúng.
Một cô giáo cũng bị kỷ luật vì lên tiếng bình luận về chuyện cầu sập ở địa phương, bị kỷ luật, rồi sau đó được chính quyền chính thức xin lỗi.
Một Tiến sĩ khoa học tại Cần Thơ phê bình cách hành xử của nơi ông làm việc trên Facebook cũng bị phê bình, và sau đó vụ việc được báo chí chính thống của nhà nước đề cập đến.
Đó là ba trong số nhiều vụ việc bắt đầu từ mạng xã hội, nhưng sau đó ảnh hưởng đến quyết định của chính quyền.
Sau đây là ý kiến của một số nhà báo, blogger trong nước cũng như nhận định của một số nhà quan sát nước ngoài về hoạt động của mạng xã hội tại Việt nam.
Tác động của mạng xã hội đến chính quyền
Nhận xét về việc này nhà báo Đoan Trang ở Hà nội, đồng thời cũng là một người hoạt động rất tích cực trên mạng xã hội cho biết:
“Lâu nay mọi người tưởng, và chính quyền cũng làm cho mọi người tưởng là nói thì cũng chẳng đi về đâu, chẳng thay đổi được cái gì. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu nghĩ sâu vào, quan sát kỹ, thì thấy là dư luận có ảnh hưởng đến chính sách của chính quyền thật. Có nhiều chính sách chỉ mới là dự thảo thôi nhưng bị đưa lên mạng xã hội, bị các blogger đánh tơi bời, những chương trình đó, những dự thảo, chính sách đó bị đình lại hết, bị hủy hết. Đương nhiên là chính quyền họ không bao giờ công nhận là họ bị tác động cả, họ không muốn nghĩ rằng người dân có thể thay đổi gì ở chính quyền này cả.”
Chứng minh cho điều đó cô Đoan Trang liệt kê các chính sách đã bị đình lại như là Qui định vòng ngực tối thiểu để được phép chạy xe gắn máy, Qui định về xe chính chủ, Ghi tên cha mẹ vào chứng minh nhân dân,…
Nhà báo Trương Duy Nhất, người từng bị bỏ tù vì hoạt động thông tin qua phương tiện blog cá nhân nói là mạng xã hội thực chất đã trở thành một kênh truyền thông tại Việt nam:
“ Có những trang Facebook có thua gì trang báo đâu, về bài viết, về thông tin, thậm chí họ còn đưa phong phú hơn, nhanh nhạy hơn, khách quan hơn, trung thực hơn là báo, chứ không một chiều như báo. Và những cái hiệu ứng mà những trang Facebook đó tạo ra cho xã hội lan tỏa rất mạnh, rất thực tế hơn các báo
Nhà báo Trương Duy Nhất”
“Có những trang Facebook có thua gì trang báo đâu, về bài viết, về thông tin, thậm chí họ còn đưa phong phú hơn, nhanh nhạy hơn, khách quan hơn, trung thực hơn là báo, chứ không một chiều như báo. Và những cái hiệu ứng mà những trang Facebook đó tạo ra cho xã hội lan tỏa rất mạnh, rất thực tế hơn các báo. Nhiều trang Facebook, blog cá nhân có lượng bạn đọc mà nhiều tờ báo nhìn vào là niềm mơ ước. Nhà nước không cho nó là báo, nhưng thực ra nó là báo, và nó làm thay cho thiên chức của anh nhà báo luôn nữa.”
Nhiều phương áp đàn áp hoạt động của mạng xã hội
Nhưng cũng trong thời gian gần đây, nhiều vụ bắt bớ đã xảy ra với những người hoạt động trên mạng xã hội. Trường hợp gần đây nhất là anh Nguyễn Hữu Quốc Duy tại tỉnh Khánh Hòa, một người mới bắt đầu bày tỏ quan điểm riêng của mình qua phương tiện Facebook. Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, hay blogger Mẹ Nấm ở Nha Trang nhận xét về việc này:

Hình ảnh cây cầu được cô Hải Âu đăng lên Facebook. (Ảnh: phapluattp.vn)
“Tôi nghĩ các trường hợp mới như bạn Nguyễn Hữu Quốc Duy ở Cam Ranh bị cho là sử dụng Facebook để chống phá nhà nước, trong chiều hướng có một kênh thông tin mở như vậy, thì cái cách trấn áp những người mới để làm họ sợ, thì tôi cho là một cái việc mà cơ quan an ninh thường làm. Cứ dọa trước như vậy, còn ai sợ thì tính sau. Những trường hợp sách nhiễu và trấn áp những người hoạt động xã hội trên mạng như tôi đã xảy ra cách đây một hai năm. Họ muốn xử để làm gương cho những người khác, tạo cái ấn tượng xấu là sử dụng mạng xã hội để bày tỏ thì sẽ rất phiền phức, và họ sẽ tránh. Tôi nghĩ mục đích bên an ninh là như vậy.”
Tuy nhiên các nhà báo và blogger đều cho rằng việc ngăn chận mạng xã hội hoàn toàn ở Việt nam là không thể được. Lý do là Việt nam không có phương tiện để thay thế nó, và nhiều cơ sở kinh tế Việt nam, trong đó có cả các cơ sở của nhà nước cũng sử dụng mạng xã hội cho hoạt động của mình.
Nhà báo Đoan Trang cho rằng trong tương lai gần thì các nhà hoạt động chỉ trích hay phản biện trên mạng xã hội tại Việt nam vẫn có thể tiếp tục bị ngăn cản bằng nhiều hình thức:
“ Theo tôi nghĩ thì mạng xã hội nó vẫn còn là cái gì đó nhạy cảm, đối với giới lãnh đạo Việt nam, đặc biệt là các địa phương xa trung ương. Mạng xã hội có một ưu điểm là không có kiểm duyệt nên khi mà các công dân bày tỏ ý kiến của mình trên mạng thì lãnh đạo ở đó e ngại và cho rằng đó là một thông tin xấu
blogger Mẹ Nấm”
“Họ sẽ có những cái hoạt động khác để ngăn chận Facebook, chẳng hạn như thấy Facebooker nào có ảnh hưởng, thì họ sẽ diệt, diệt bằng nhiều cách, không nhất thiết là phải đi tù. Ví dụ như là huy động dư luận viên tấn công, bôi nhọ, viết các bài tấn công, comment chống lại những người đó, gây sức ép gần như là khủng bố tin thần, viết cái gì thì cũng có người vào chửi, cứ liên tục như vậy. Họ có những trang, những Facebook của dư luận viên. Hay là họ hành hung ở ngoài, như là sử dụng “quần chúng tự phát” để đánh. Chuyện này có hiệu quả và dễ làm vì nó cũng gây sợ hãi chứ không phải là không, gây sợ hãi lên những người khác. Có thể những người đấy không sợ, nhưng mà những người chung quanh như hàng xóm láng giềng họ sợ. Rồi sức ép về kinh tế, như là tìm cách cô lập người đó trong đời sống. Người đó có thể nổi tiếng trên mạng, nhưng hễ gặp gỡ ai là công an đến tìm cái người được gặp. Tức là họ cô lập những Facebooker, những người ủng hộ dân chủ, ra khỏi cộng đồng.”
Giải thích lý do vì sao cơ quan anh ninh Việt nam vẫn tiếp tục gây trở ngại cho hoạt động trên mạng xã hội, blogger Mẹ Nấm cho biết:
“Theo tôi nghĩ thì mạng xã hội nó vẫn còn là cái gì đó nhạy cảm, đối với giới lãnh đạo Việt nam, đặc biệt là các địa phương xa trung ương. Mạng xã hội có một ưu điểm là không có kiểm duyệt nên khi mà các công dân bày tỏ ý kiến của mình trên mạng thì lãnh đạo ở đó e ngại và cho rằng đó là một thông tin xấu. Vì từ trước đến nay người ta quen các cuộc họp, các cuộc dàn xếp với nhau, nằm trong một cái vòng có thể kiểm soát được thông tin. Bây giờ đưa vấn đề lên mạng, cùng lúc phải nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Đối với các công chức, các nhà lãnh đạo, thì nó vẫn nhạy cảm, tôi nghĩ là họ chưa quen, họ đang sợ.”
Cho đến nay chính phủ Việt nam có một nghị định tên là nghị định 72 hạn chế việc đưa thông tin và bình luận trên các trang mạng xã hội. Nghị định này bị nhiều người chỉ trích là hạn chế quyền tự do ngôn luận tại Việt nam. Một lý do thường được các quan chức Việt nam đưa ra để giải thích cho việc kiểm soát thông tin trên mạng xã hội là thông tin đó có thể gây nhiễu cho người dân.
Nhà báo Trương Duy Nhất nói rằng:
“Nếu nói như thế thì tôi cho rằng xem thường người đọc quá. Tôi không dám xem thường dân như thế đâu. Dân trí bây giờ không đến nỗi nào đâu. Thông tin đưa lên thì người ta biết cách đọc, biết cách tiếp cận thế nào, chứ thông tin không làm nhiễu dân chúng. Chính cái anh không đưa thông tin mà án binh bất động, hay là một chiều mới là cách làm người dân hỗn loạn, nhiễu thông tin, nhiễu người dân vì họ không biết nó như thế nào cả.”
Sự tham gia chính trị qua mạng xã hội
Khi mạng xã hội bắt đầu hình thành tại Việt nam với tốc độ phát triển nhanh chóng, nhiều nhà hoạt động dân chủ như giáo sư Đoàn Viết Hoạt hiện sống tại Mỹ hy vọng rằng từ các nhóm hình thành trên mạng, những nhà hoạt động sẽ khuếch trương những hoạt động của mình trong xã hội. Nhà báo Đoan Trang đồng ý với nhận định này với các dẫn chứng là những hoạt động từ thiện, giúp đỡ tù nhân chính trị,… đã bắt đầu từ trên mạng xã hội.
Bên cạnh đó, cơ quan công quyền ở các quốc gia độc đoán về chính trị cũng sử dụng mạng xã hội để theo dõi những người bất đồng chính kiến. Đầu năm nay, bà Tamara Wittes, một nhà quan sát về ảnh hưởng của mạng xã hội ở Trung Đông nói với chúng tôi như thế và thêm rằng đang có một cuộc chiến tranh giữa nhà cầm quyền và xã hội dân sự trên phương tiện mạng xã hội.
Trong cuộc chiến tranh mà bà Tamara đề cập, lại có sự tương tác của các công dân mạng đến chính quyền ngày càng mạnh. Còn theo một nhà quan sát xã hội chính trị Việt nam khác là Giáo sư Jonathan London thì qua phương tiện mạng xã hội công dân ở các quốc gia như Việt nam tham gia ngày càng nhiều vào hoạt động chính trị của quốc gia mình.
Đôi lời: Lịch sử Việt Nam sẽ ghi tên ông Nguyễn Phú Trọng và những người trong Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa 11 vào danh sách những tên bán nước. Thời ông Nguyễn Phú Trọng và những người trong Bộ Chính trị khóa 11 cai trị đất nước, là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Những người đứng đầu đảng này đã để cho một phần chủ quyền, lãnh hải, lãnh thổ VN rơi vào tay Trung Cộng, bỏ mặc ngư dân bị Trung Cộng bắn giết khi họ đang mưu sinh trên lãnh hải của đất nước.
Ông Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “Các bác thấy vấn đề Biển Đông chúng ta giải quyết như thế có đúng không? Chuyện Biển Đông, càng ngày càng thấy tính đúng đắn của hướng giải quyết, vẫn đảm bảo được môi trường ổn định, hoà bình để phát triển. Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không? Ta xử lý mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vừa qua như thế hợp lý không? Để đảm bảo độc lập tự chủ, chơi với mọi nước nhưng không phụ thuộc vào ai mà các nước ta quan hệ, hợp tác đều phải nể trọng như vậy“.
____
Hoàng Đan
8-12-2015
“Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?…”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trao đổi.
Nhiều vấn đề bức xúc
Sáng 8/12, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội Hà Nội tại tổ bầu cử số 1 đã có cuộc tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, Hoàn Kiếm (Hà Nội), để báo cáo kết quả kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII vừa diễn ra.
Cử tri Đặng Tài Tính (phường Cống Vị, quận Ba Đình) đề cập, về công tác nhân sự tại Đại hội Đảng lần này, cần thực hiện theo những tiêu chí đã đề ra, quan tâm trước hết việc xây dựng sự đoàn kết trong Đảng.
Ông Tính lập luận, muốn đoàn kết toàn dân thì trước hết phải củng cố đoàn kết trong Đảng, không để một bộ phận gây nhiễu loạn, mất đoàn kết nội bộ. Nhiệm kỳ tới phải chọn được những người có tinh thần đoàn kết.
Vị cử tri lão thành 91 tuổi đời, 68 năm tuổi Đảng- Nguyễn Quốc Hùng (P.Phan Chu Trinh, Q.Hoàn Kiếm) cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng bộ máy đứng dưới ngọn cờ của Đảng không nao núng, mệt mỏi để có thể chuyển nguy thành an.
Trong buổi tiếp xúc, nhiều đại biểu dành thời gian nêu băn khoăn lo ngại về các vấn đề chủ quyền.
“Phải giữ được chủ quyền biên giới trên biển và đất liền như ở phía Bắc và Tây Nam”, ông Đỗ Bá Khoát nói.
Hiện tượng nhiều nơi đua nhau xây dựng trụ sở, bày vẽ dự án, theo cử tri Bùi Minh Dần, lý do vì đó chính là mảnh đất màu mỡ, miếng bánh ngon để chia chác.
Một bộ phận cán bộ khác tham nhũng không lớn, nhưng tay cũng đã nhúng chàm nên không dám mạnh tay chống tham nhũng. Về vấn đề này, cử tri lo vì Trung ương vẫn ít nói đến, ít đề cập trong nội dung về lựa chọn cán bộ, nhân sự cho khóa tới.
Giải quyết đúng đắn vấn đề Biển Đông
Đánh giá lại 5 năm qua, Tổng Bí thư cho rằng, đó là quãng thời gian có nhiều “khó khăn, thách thức lớn”, nhưng trong điều hành đã kịp thời chuyển hướng, từ phát triển kinh tế nhanh sang bền vững, kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô, tăng trưởng hợp lý.
Trên Biển Đông, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế dẫn đến hàng hoạt vấn đề bất ổn.
Tuy nhiên, về đại thể, Việt Nam vẫn giữ được ổn định, an sinh xã hội thậm chí được cải thiện; đường sá xây mới, nhiều trung tâm lớn, nhiều cao ốc mọc lên… Năm 2015, GDP ước đạt 6,5%, vượt mức đề ra.
“Các bác thấy vấn đề Biển Đông chúng ta giải quyết như thế có đúng không? Chuyện Biển Đông, càng ngày càng thấy tính đúng đắn của hướng giải quyết, vẫn đảm bảo được môi trường ổn định, hoà bình để phát triển.
Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?
Ta xử lý mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật… vừa qua như thế hợp lý không? Để đảm bảo độc lập tự chủ, chơi với mọi nước nhưng không phụ thuộc vào ai mà các nước ta quan hệ, hợp tác đều phải nể trọng như vậy”, Tổng Bí thư trao đổi.
Nói về mối quan hệ với các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Tổng Bí thư khẳng định, Việt Nam giữ được thế độc lập tự chủ, đa phương hoá đa dạng hoá, chơi với mọi người nhưng không phụ thuộc vào ai.
“Ta chơi với tất cả mà họ đều phải nể trọng. Không phải vô tình mà vừa qua cùng lúc chúng ta đón 3 nguyên thủ lớn cùng đến Việt Nam.
Vừa đón ông Tập Cận Bình xuống sân bay lại thay cờ, trang trí ngay để đón Tổng thống Thuỵ Điển…”, Tổng Bí thư nhắc lại các diễn biến ngoại giao sôi động vào cuối tháng 11.
Về an ninh quốc phòng, theo Tổng Bí thư, việc mua sắm tàu ngầm, máy bay Việt Nam đều tiến hành nhưng không phô trương. Quan điểm của Đảng, Nhà nước là kiên quyết giữ chủ quyền, không chỉ là trên biển mà cả trong nội địa.
“Có lo được hết những vấn đề đó, đất nước mới được ổn định, thanh bình thế này”, Tổng Bí thư đúc rút lại.
Công tác nhân sự đang làm nhưng còn rất khó khăn
Chia sẻ với sự bức xúc lớn nhất của người dân về sự suy thoái của một bộ phận cán bộ trong Đảng, Tổng Bí thư cho rằng, nếu “không cẩn thận thì sự phá hoại đến từ bên trong chứ không phải bên ngoài”.
“Vấn đề cốt yếu nhất là trong nội bộ giữ được sự đoàn kết, nhất trí, cơ sở phải vững chắc, Đảng phải trong sạch vững mạnh.
Còn bên ngoài thì âm mưu người ta vẫn luôn có, ngày càng thâm độc. Vậy nên băn khoăn của các đồng chí rất đúng, Trung ương cũng rất lo việc đó”, Tổng Bí thư chia sẻ.
Tổng Bí thư cũng nhận định, việc xây dựng đội ngũ lãnh đạo Đảng trong khóa tới phải làm sao chọn được tập thể những người thực thi kiên định, vững vàng, bản lĩnh mà lại gần gũi.
Gắn bó với người dân, để người dân yên tâm chứ cứ tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu thì khó có ai đặt lòng tin được.
“Dân lo thế là đúng mà nếu dân không lo nữa thì thể chế này hỏng”, ông Trọng nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, nguyên tắc phải đeo bám khi chọn cán bộ phải có đức, có tài nhưng chữ đức phải là gốc, giống như cụ Nguyễn Du đã nói “chữ tâm kia mới bằng 3 chữ tài”.
Tổng Bí thư lưu ý, cán bộ phải trung thành tuyệt đối với nhân dân, đất nước, phải bảo vệ cho được chế độ này.
Thông tin dự kiến Đại hội toàn quốc của Đảng sẽ diễn ra trong tháng Giêng năm 2016, Tổng Bí thư cho hay, công tác nhân sự vẫn đang được làm từng bước, từng khâu, bài bản, chặt chẽ nhưng cũng còn rất khó khăn.
Các tổ chức xã hội dân sự họp mặt ở Sài Gòn
|
Kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền Việt Hùng/Người Việt SÀI GÒN (NV) – Sáng ngày 7 tháng 12 năm 2015, hơn 10 tổ chức xã hội dân sự (XHDS) ở Sài Gòn đã họp mặt ở Chùa Liên Trì, phường An Khánh, Quận 2, kỷ niệm 67 năm ngày Quốc Tế Nhân Quyền (10/12/1948-10/12/2015). Trước giờ khai mạc, Thượng Tọa Thích Không Tánh (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất – Trụ trì chùa Liên Trì), khôi nguyên của giải Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam 2015, đã trao toàn bộ số tiền thưởng mà ngài được nhận cho Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế – Chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam.
Tin cho hay, toàn bộ số tiền thưởng này sẽ được tặng lại cho Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam, Hội Ðồng Liên Tôn và phục vụ chương trình giúp đỡ cho các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Những người có mặt đã dành một phút mặc niệm, tưởng nhớ đến những người đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam. Ðồng thời cùng cầu bình an đến tất cả những tù nhân chính trị, lương tâm và tôn giáo đang bị cầm tù và cho tất cả những người đã dấn thân trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam bị đàn áp và bách hại. Mở đầu buổi lễ, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế nhắc lại sự kiện ngày 10 tháng 12, 1948, khi Công ước Quốc tế về Nhân quyền được thông qua, thì công dân các nước trên thế giới được sống các quyền tự do của mình, nhưng đau buồn thay, một nửa dân cư của thế giới thuộc về các nước Cộng Sản lại bị vi phạm nhân quyền cách nghiêm trọng. Các nước Cộng Sản dần dần đã sụp hết, đến nay chỉ còn Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba và Lào. Dự báo thời gian tồn tại cũng không còn lâu. “Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền có những giá trị tồn tại đến hôm nay và nhiều thế kỷ nữa. Ba mươi điều trong tuyên ngôn đó mang giá trị phổ quát, không ai có quyền xâm phạm cho dù nhân danh thế lực chính trị nào,” Bác Sĩ Quế tuyên bố. Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế mạnh mẽ chỉ trích rằng chính phủ Hà Nội không có các thay đổi cơ bản để điều hành đất nước với sự tôn trọng dân quyền và dân chủ. Ông quả quyết rằng nhà cầm quyền dù muốn hay không thì đang đi vào kỷ nguyên của nhân loại, do đó tự do và nhân quyền phải được tôn trọng.
Ông cũng không quên kêu gọi toàn xã hội mạnh dạn đứng lên vì sức mạnh quần chúng ngày càng tăng lên, thế toàn trị đang suy giảm. Ông cũng khen ngợi sự phong phú của các tổ chức xã hội dân sự, cùng với việc làm cho nguyện vọng của dân tộc đang lên cao trào. “Cuối năm nay, Hà Nội sẽ hội nhập Hội Ðồng Kinh Tế ASEAN, sau đó sẽ là Hiệp ước Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP, những điều này bắt buộc chính phủ phải sửa đổi Hiến Pháp và sửa luật, nhất là các luật về hình sự, báo chí, tự do đi lại cho phù hợp với luật quốc tế. Tôi kêu gọi các tổ chức XHDS vận động để áp lực khiến nhà cầm quyền trả tự do vô điều kiện và ngay tức khắc cho các tù nhân lương tâm, những người đã hành động đúng nhưng bị bắt vô lý.” Bác Sĩ Quế khẳng định.
Tiếp đến Thượng Tọa Thích Không Tánh bày tỏ niềm vui mừng khi chùa Liên Trì được chọn làm nơi tổ chức sự kiện ý nghĩa này. Ông cũng cho biết thêm lý do ngày nhân quyền được toàn thế giới kỷ niệm vào ngày 10 tháng 12, nhưng các tổ chức XHDS ở Việt Nam phải tổ chức sớm hơn là do công an tìm cách ngăn cản không cho các thành viên lãnh đạo và đại diện các tổ chức đến gặp nhau. Thượng Tọa Thích Không Tánh nói: “Ðể đạt được kết quả và ý nghĩa tốt đẹp cho buổi họp mặt ngày hôm nay, tôi đề nghị với tất cả đại diện, sau kết thúc buổi họp chúng ta cần có một bản tuyên bố và đồng ký tên để gửi đến Liên Hiệp Quốc với nội dung nêu rõ, sự đàn áp nhân quyền vẫn còn đang tồn tại trên đất Việt Nam và khẳng định chủ quyền biển đảo và lên án Trung Cộng đánh đập, giết hại ngư dân Việt Nam.” Ðại diện của Hội Giáo Chức Chu Văn An, Giáo Sư Phạm Minh Hoàng đã có những phân tích rất chặt chẽ. Ông giải thích việc tại sao một thể chế vi phạm nhân quyền nặng nề như Cộng Sản Hà Nội lại được bầu vào Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc với số phiếu đáng kinh ngạc.
“Ðó là vì tiền thân của Hội Ðồng Nhân Quyền, Ủy Ban Nhân Quyền đã bị Trung Quốc thao túng khi cố gắng vạch trần tội ác của Bắc Kinh đối với Tây Tạng và Pháp Luân Công. Trung Quốc mua chuộc các thành viên của Ủy Ban Nhân Quyền, khiến cho chương trình mang tới nhân quyền cho người dân Trung Quốc bị thất bại thảm hại, Ủy Ban cũng đã phải giải tán,” ông Hoàng giải thích. “Sau đó, Hội Ðồng Nhân Quyền ra đời. Ðể xoa dịu lòng tự ái của chính thể Hà Nội, Hội Ðồng Nhân Quyền đã vận động để Hà Nội có chân trong đó với 96% số phiếu. Hội Ðồng Nhân Quyền theo cách hiểu đó không phải là trường đại học nơi tuyển sinh đầu vào là những thí sinh giỏi, mà là nơi quy nạp rồi cải tạo con người,” ông cho biết thêm. Hiện nay, các giáo sư nổi tiếng như Hoàng Tụy cũng đã chỉ trích chế độ yếu kém. Các giáo sư khẳng định rằng Việt Nam tụt hậu đến những một thế kỷ, hai thế kỷ so với thế giới tiến bộ. Giáo Sư Phạm Minh Hoàng nhận định rằng bắt buộc phải cải cách giáo dục thì mới phát triển được đất nước. Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà Báo Ðộc Lập Việt Nam, đã có bài phát biểu ngắn. Ông cho biết rằng cuối năm nay 2015, Ngân Hàng Thế Giới sẽ dừng tất cả các khoản cho vay ưu đãi đối với Việt Nam. Chính phủ Hà Nội không được quyền vay tiền nữa, đã đến lúc Việt Nam phải trả tiền nợ. Khoản nợ lên đến 16 tỉ đô-la, tức là khoảng 330,000 tỉ VNÐ, trong khi tiền ngân sách đã trống không. Tiến Sĩ Dũng chú trọng về công đoàn độc lập. Ðiều kiện về công đoàn độc lập giống như một gáo nước lạnh vào não trạng của quan chức chính phủ độc tài, với bài học từ Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan. Cùng với sự kiện Cuba năm 2014, Myanmar 2015, điều tương tự sẽ xảy ra với Việt Nam. Tiến Sĩ Dũng đặt một câu hỏi mở cho cử tọa, đó là năm 2016, giới đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam sẽ làm gì? Cuối buổi hội thảo, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế xúc động về các bạn trẻ dấn thân cho hoạt động xã hội trong những năm gần đây: “Tôi hoan nghênh các bạn trẻ dám dấn thân cho xã hội. Hiện nay, việc sợ hãi đã không còn trong các bạn và mọi chuyển biến trong xã hội đều có thể do các bạn nắm giữ, hãy giữ trọn niềm tin và khao khát tự do của tuổi trẻ, chắc chắn các bạn sẽ thành công.” |
Nợ công Việt Nam nghiêm trọng tới đâu?
Trong một báo cáo của Diễn đàn Phát triển Việt nam (VDPF) mới đây cho biết chỉ, trong vòng 15 năm nợ công Việt Nam đã tăng gấp đôi và vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại.
Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A, chuyên gia tài chánh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS để biết tìm hiểu thêm mức nghiêm trọng của nợ công hiện nay có ảnh hưởng gì tới việc phát triển kinh tế của Việt Nam.
Mặc Lâm:Xin chào Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Theo bản báo cáo của ADB cho biết năm 2016 nợ công của Việt Nam có thể tăng lên 65% GDP và con số này cho thấy tình trạng nợ công Việt Nam ngày càng tiến gần hơn mức an toàn cho phép. Ông có nhận định gì về dự báo này?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng nợ công của Việt Nam tăng rất nhanh trong mấy năm vừa qua và khi nhìn vào cách chi tiêu của Việt nam thì rất dễ hiểu khi mức tăng là 60% so với năm trước. Người ta đặt ra cái ngưỡng là dưới 65% của GDP thì an toàn còn vượt quá số đo là mất an toàn.
Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn.
Thực sự ở những nước mà nợ công của người ta lên đến trên 100% cúa GDP nhưng vẫn an toàn và có thể dưới mức 50% cũng không an toàn.
Quan trọng là khả năng của nền kinh tế, khả năng thu của chính phủ có đủ bù chi hay không. Có thể trả nợ lãi và gốc đến hạn hay không. Nếu việc ấy mà không thực hiện được thì dẫu ngưỡng có bao nhiêu chăng nữa thì đất nước cũng lâm vào cảnh vỡ nợ cho nên tôi thấy chuyện nợ công tăng nhanh như thế thì rất đáng lo ngại.
Mặc Lâm:Theo như TS vừa mới giải thích thì vấn đề bội chi ngân sách đang rất trầm trọng và đồng tiền thuế của người dân đóng góp để giải quyết vẫn là điều thiết yếu để trả các món nợ công. Tuy nhiên lĩnh vực dầu thô thì đồng tiền thuế không còn nhiều như xưa cộng với việc khi vào TPP sắp tới Việt Nam phải chịu bỏ các khoản thuế nhập khẩu như quy định của định chế này. Theo ông nhà nước phải sửa đổi cách thu thuế như thế nào để bù vào các khoản trống này?
TS Nguyễn Quang A: Nguồn thu của nhà nước Việt Nam dựa vào đầu tiên là thu từ dầu. Có thời nguồn thu từ dầu khí có thể lên tới 35% tổng thu của ngân sách.
Sau đó là thuế xuất nhập khẩu, có thời thuế xuất nhập khẩu đã chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nguồn thu ngân sách.
Cũng may trong những năm gần đây thì tỷ lệ đó càng ngày càng giảm và bây giờ nó chỉ còn 17 hay 18% gì đó.

Khi mà TPP bỏ hết các khoản thuế đó thì tôi nghĩ chắc chắn nó sẽ làm giảm nguồn thu của ngân sách nhưng có lẽ cũng không phải không khắc phục được bởi vì ở Việt Nam người ta dựa chủ yếu vào thuế giá trị gia tăng, tức là thuế bán hàng mà chưa dựa nhiều lắm vào thuế tài sản, thuế thu nhập cá nhân cũng bắt đầu tăng lên một chút.Nếu họ cơ cấu lại nguồn thu và tích cực thu nhiều hơn vào thuế tài sản, thếu thu nhập cá nhân thì tôi nghĩ rằng dần dần Việt Nam sẽ tiến dần đến một cơ cấu lành mạnh hơn, nhưng chắc chắn trong thời gian tới thì còn phải điều chỉnh nhiều.
Mặc Lâm:Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế thì nợ công của Việt Nam đã cán mức 110 tỷ đô la và chính phủ đã phải liên tục phát hành trái phiếu trong cũng như ngoài nước. Liệu động thái này có kềm lại được cơn khát ngân sách đang ngày một tăng hơn hay không và nó nói gì về sức khỏe của nền tài chính Việt Nam?
TS Nguyễn Quang A: Một chính phủ phát hành trái phiếu trong nước hay nước ngoài, vay cái mới để trả cái cũ hay nói nôm na gọi là đảo nợ là chuyện rất là bình thường, tôi nghĩ không có gì đáng lo ngại.
Đáng lo ngại là ở chỗ thu có đủ bù chi hay không mà trong cái chi này phải tính cả chi trả lãi và một phần gốc của món vay trước kia.
Rất đáng tiếc ngân sách Việt Nam mà nhất là Luật ngân sách chẳng hạn thì suốt mấy chục năm qua từ Quốc hội cho tới tất cả các quan chức Việt Nam người ta không có khái niệm về bội thu ngân sách mà chỉ có việc bội chi mà thôi.
Như thế là vì luôn luôn có bội chi trong suốt mấy chục năm qua tức là thu không đủ chi, mà thu không đủ chi thì phải đi vay. Vay từ năm nay cho tới năm sau cứ thế nó tích tụ lên. Đến một lúc nợ vay quá lớn khó vay được nữa thì dễ dẫn đến chuyện vỡ nợ.
Tôi luôn luôn nhấn mạnh là thu có đủ bù chi hay không và cái chi đấy phải tính cả trả lãi vay và một phần gốc vay.
Mặc Lâm:Đa số nợ công tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở, khi không còn vay được nữa thì việc xây dựng cũng ngưng lại và từ đó hạ tầng cơ sở không theo kịp đà phát triển kinh tế sẽ kéo theo sự trì trệ không thể tránh khỏi. Theo TS thì biện pháp nào sẽ giải đáp cho câu hỏi này?
TS Nguyễn Quang A: Đấy là vấn đề thực sự nan giải. Tổng công ty đường cao tốc Việt Nam vừa mới khánh thành một đoạn cao tốc Hà Nội Hải Phòng với vốn của dự án BOT nên tổng công ty nhà nước phải đi vay các ngân hàng và người ta dự tính sẽ phải bán quyền thu phí ở đường cao tốc đề lấy tiền đi làm các đoạn đường cao tốc khác.
Cách làm như thế cũng làm được cái gì đó nhưng cuối cùng thì nền kinh tế phải có sự đầu tư nhưng các ngân hàng thương mại lấy đâu ra tiền để cho ông Tổng công ty đường cao tốc vay? Cũng lại là tiền huy động của dân hoặc là tiền vay của nước ngoài. Không tình toán được như thế mà cứ nói là xã hội hóa, thế này thế kia thì rất là khó giải quyết nguồn vốn đó.
Trong cuộc họp với các nhà tài trợ vừa rồi bà Victor Kwakwa hỏi Việt Nam lấy nguồn vốn ở đâu mà phát triển thì ông Thủ tướng trả lời một câu rất là chung chung và tôi nghĩ đây là vấn đề hết sức nan giải, phải liệu cơn gắp mắm và nếu mà không vay được những khoản vay dài hạn với lãi suất thấp như là ODA, nhưng mà ODA không khéo thì vướng vào cái bẫy của ODA và đó là chuyện lẩn quẩn mà Việt Nam vẫn còn khó trong thời gian tới.
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông!
NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT
Khi cử hành phụng vụ thánh lễ, khởi đầu nghi thức sám hối, chúng ta thường đọc Kinh Cáo Mình và hát: Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con. Năm nay, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mở Năm Thánh Lòng Thương Xót (The Jubilee of Mercy).
Lòng Thương Xót Chúa trải qua đời nọ tới đời kia dành cho những ai trông cậy nơi Chúa. Tác giả thánh vịnh đã bày tỏ lòng thành tín: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm” (Tv 51, 3). Tiên tri Đanien cũng đã thốt lên trong lúc gặp gian truân khốn khó: “Lạy Thiên Chúa của con, xin lắng tai nghe, xin ghé mắt nhìn cảnh hoang tàn của chúng con và thành đô đã được thánh hiến cho Ngài. Chúng con không dựa vào những hành động chính trực của chúng con, nhưng dựa vào lượng hải hà của Ngài mà dâng lời khẩn nguyện lên trước Tôn Nhan” (Dn 9, 18). Thánh Luca, với tâm tư của một lương y đã cảm nhận: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta” (Lk 1, 78). Và thánh Phaolô tông đồ đã khuyên nhủ các Kitô hữu: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12, 1), và Chúa Cha giàu lòng thương xót (Eph 2: 4).
Năm Thánh là thời gian rất quan trọng trong đời sống của Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội cảm hứng truyền thống tốt đẹp của Đạo Do Thái về việc cử hành Năm Thánh. Đức Giáo Hoàng Boniface VIII, vào năm 1300 đã khởi sự các Năm Thánh trong Giáo Hội. Năm Thánh là một hồng ân tha thứ chung và mở cửa cho mọi tín hữu có cơ hội tiến gần tới tha nhân và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa hơn.
Trong Giáo Hội, chúng ta có Năm Thánh bình thường và ngoại thường. Từ năm 1475, Năm Thánh bình thường được cử hành 25 năm một lần. Vào những dịp đặc biệt, Giáo Hội mở những Năm Thánh ngoại thường. Cho tới nay, đã có 24 Năm Thánh bình thường và 4 Năm Thánh Ngoại Thường. Lần cuối, Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã mở Năm Thánh ngoại thường vào năm 1983 và Năm Thánh 2000 (Bình thường). Năm Thánh Lòng Thương Xót ngoại thường sẽ là lần thứ 5, do bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô mở ra năm nay.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã công bố sắc lệnh về Năm Thánh Lòng Thương Xót “Misericordiae vultus” vào ngày 11 tháng 4, 2015. Ngài giải thích: Tại sao bây giờ có Năm Thánh Lòng Thương Xót? Đơn giản, bởi vì trong lúc lịch sử đang thay đổi, Giáo Hội được kêu mời cống hiến một cách nỗ lực hơn về dấu chỉ và sự hiện diện gần gũi của Thiên Chúa. Đây không phải là thời gian của sự xao lãng.
Năm Thánh Lòng Thương Xót sẽ được khai mạc vào ngày 08 Tháng 12 năm 2015, Lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ngày Đại Lễ này nhắc nhớ tác động của Thiên Chúa ngay từ đầu của lịch sử nhân loại. Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã trở nên sống động và hiện hữu nơi Đức Giêsu Kitô, là nguồn gốc ơn Cứu độ.
Cửa Thánh là gì? Nghi thức đầu tiên của Năm Thánh Lòng Thương Xót là mở Cửa Thánh (Holy Door). Trong chuyến viếng thăm Phi Châu vào cuối tháng 11, 2015 vừa qua, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mở Cửa Thánh tại Nhà thờ Chính Tòa ở Bangui, tại Nước Cộng Hòa Trung Phi. Đây là một nghĩa cử có ảnh hưởng lớn bày tỏ Năm Thánh Lòng Thương Xót được mở ra cho mọi vùng trên thế giới. Cửa Thánh biểu tượng cách khác thường mà các tín hữu Công Giáo có thể khơi dậy niềm tin. Đặc biệt, dành cho các khách hành hương có cơ hội bước qua Cửa Thánh.
Đức Giáo Hoàng sẽ mở Cửa Thánh của Đền Thờ Thánh Phêrô. Lẽ thường, Cửa Thánh chỉ 25 năm mới mở một lần, trừ trường hợp đặc biệt. Nên biết, khi kết thúc một Năm Thánh, người ta sẽ xây một bức tường gạch bên ngoài Cửa Thánh và chờ tới Năm Thánh kế tiếp sẽ được đập ra.
Cửa Thánh của Đền Thờ Thánh Phêrô sẽ được mở trước, tiếp theo là các Cửa Thánh của các đền thờ Giáo Hoàng khác sẽ lần lượt được mở ra. Và tại Giáo Hội địa phương, tất cả các Nhà thờ Chính Tòa, các Cửa Lòng Thương Xót cũng sẽ được mở ra trong suốt thời gian của Năm Thánh.
Năm Thánh Lòng Thương Xót sẽ được bế mạc vào Lễ Trọng Kính Chúa Kitô Vua, vào ngày 20 tháng 11 năm 2016. Giáo Hội sẽ lại niêm phong Cửa Thánh. Chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa ban cho tất cả các Kitô hữu trên thế giới một thời gian ngoại thường của ân sủng.
Mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn để đón nhận ân sủng của Lòng Thương Xót Chúa qua sự hòa giải với Chúa và với tha nhân, đặc biệt qua Bí Tích Hòa Giải. Khi đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta đọc: Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con… ước chi lời cầu xin trên môi miệng được thấm nhập vào tim và thực hành trong đời sống hằng ngày. Chúng ta sẽ tìm được sự bình an đích thực trong tâm hồn và lãnh nhận dồi dào ân sủng. Trong Năm Thánh, chúng ta sẽ lãnh nhận được nhiều ân xá do lòng nhân hậu của Chúa.
Ân xá (indulgence) là gì? Là sự tha thứ ta nhận được từ kho tàng các công ơn của Chúa Giêsu và các thánh, do Hội Thánh ban phát, để xóa bỏ những hình phạt mà chúng ta còn phải chịu sau khi tội đã được tha.
Ân xá là sự xá giải các hình phạt tạm (vạ) vì các tội lỗi đã được tha thứ qua Bí tích Giải Tội. Chúng ta phân biệt tha tội và tha vạ. Khi thật lòng xưng tội, chúng ta đựợc ơn tha thứ tội lỗi, nhưng ‘vạ’ hình phạt vẫn còn. Ân xá là việc tha hình phạt tạm, chứ không phải là việc tha tội. Người tín hữu dọn mình xứng đáng và thi hành những điều kiện đã chỉ định, thì được hưởng ơn tha thứ ấy nhờ sự trung gian của Giáo Hội. Muốn lãnh nhận Ân Xá một cách có hiệu quả, thì chúng ta phải sạch tội trọng và thi hành một số việc tốt lành như: Xưng tội, dự lễ, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và đọc các Kinh Lạy Cha, Kinh Mừng, Kinh Sáng Danh, Kinh Tin Kính và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.
Có hai thứ ân xá: Ơn đại xá hay toàn xá và ơn tiểu xá.
Ơn đại xá (Plenary indulgence): Tha toàn phần các hình phạt.
Ơn tiểu xá (Partial indulgence): Tha một phần hình phạt mà thôi.
Ơn Đại Xá là ơn tha tất cả mọi hình phạt do tội lỗi cần phải đền. Mọi tín hữu đều có thể hưởng ân xá toàn phần hay từng phần hoặc cho chính mình hay để chuyển cầu cho những người đã qua đời.
Lạy Chúa, chúng con bước vào Năm Thánh Lòng Thương Xót, xin mở rộng tâm hồn chúng con để cảm nghiệm tình yêu thương vô bờ bến của Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con. Chúa đang mời gọi chúng con: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28).
LM Giuse Trần Việt Hùng
Những ngư dân Việt Nam vẫn thường được các quan chức nhà nước hô biến, thổi phồng và bơm hơi thành những chiến sĩ tiền tiêu trên biển đã bị đối xử lạnh nhạt, cô đơn như thế nào khi bị Trung Quốc hành hạ, bắn chết người?
Sống sợ hãi và chết cô đơn
Một ngư dân tên Trung, người Sơn Tịnh, Quảng Ngãi đã buồn bã chia sẻ: “Đúng ra thì phải có người nhà nước ra ngoài kia, nhận chạy đưa (anh Bảy) vô thì nó nồng nàn hơn, nó tốt đẹp hơn. Giờ nó vì cái mục tiêu chính trị chứ chẳng có tình người. Giờ tình trạng chung là người ta theo đuổi một cái mục tiêu gì gì đâu chứ chẳng quan tâm gì đến con người, cái tình người nó cũng chi chi… đâu á!”.
Ông Trung nói rằng tình trạng chung của ngư dân Việt Nam khi đánh bắt xa bờ đó là sống trong sợ hãi và chết trong cô đơn. Bởi cái chết của ngư dân Trương Văn Bảy đã nói lên tất cả nỗi cô đơn của ngư dân Việt Nam.
Ông Trung nói rằng hầu hết ngư dân Việt Nam khi đánh bắt xa bờ đều lâm vào tình trạng chung là nợ nần, vay đi vay lại của ngân hàng để đắp đổi và bù lỗ cho những chuyến đánh bắt bị Trung Quốc rượt đuổi, cướp phá, thậm chí hành hạ và giết tróc. Ngư dân đã vay tiền, lao như con thiêu thân giữa biển khơi để đối mặt với nguy hiểm. Đặc biệt, ngư dân Quảng Ngãi với máu lửa giữ nước, bảo vệ chủ quyền biển đảo của cha ông mấy trăm năm nay đã tự đặt cho mình sức mệnh giữ biển đảo chứ không chỉ đơn thuần là đánh bắt kiếm sống.
Nhưng rất tiếc, suốt nhiều năm nay, có một điều là số lượng cảnh sát biển Việt Nam ngày càng đông, hải quân Việt Nam cũng không ít, và lượng hải sản tươi sống để cảnh sát biển và hải quân ăn nhậu mỗi cuối tuần ngày càng tăng. Nhờ vào đồng lương cao ngất, cuối tuần, cảnh sát biển thường đưa vợ con đến những quán hải sản có uy tín trên đảo Lý Sơn để ăn nhậu, thưởng ngoạn.
Trong khi đó, ngư dân Việt Nam khi đụng phải tàu Trung Quốc, bị cướp phá, đánh đập thì chưa bao giờ thấy cảnh sát biển Việt Nam đến can thiệp. Thậm chí, khi ngư dân Trương Văn Bảy bị bắn chết trên biển, hầu hết ngư dân Việt Nam khi nghe tin này đều hy vọng rằng nhà cầm quyền sẽ một mặt lên án mạnh mẽ hành vi man rợ của kẻ đã bắn anh Bảy cũng như chính phủ của họ, một mặt hết sức hỗ trợ để đưa anh Bảy về quê nhà.
Nhưng không hề có chuyện đó, chiếc tàu cá nhỏ nhoi giữa biển khơi, đưa anh Bảy từ nơi bị bắn về nhà trong cô đơn, chỉ có những bạn ngư dân chia sẻ. Và trên đường đưa anh Bảy về, ngư dân phải ướp xác anh Bảy vào hầm đá dùng đựng cá để tránh tình trạng phân hủy nhanh do nắng chói chang. Một cái chết thê thảm và ảm đạm, cô đơn đến tận cùng của ngư dân Việt Nam.
Ông Trung lấy làm buồn rầu khi mà lực lượng cảnh sát biển, lực lượng hải quân Việt Nam đông đến mức chỉ cần nghe tin máy bay MH 370 rơi vào vùng biển Việt Nam, mặc dù nguồn tin này chưa xác thực nhưng chính phủ, quân đội Việt Nam đã huy động một lực lượng hùng hậu để tìm kiếm. Trong khi đó, một ngư dân Việt Nam và một con tàu của ngư dân Việt Nam bị bắn, bị hại, đã có người chết cần sự giúp đỡ, hỗ trợ… Thì cảnh sát biển Việt Nam nói riêng và nhà nước Việt Nam nói chung chỉ loan tin xác nhận có người chết, sau đó đổ xô ra cảng Sa Kỳ để đón thì ít mà để ngăn cản phóng viên tác nghiệp thì nhiều.
Điều này làm cho không riêng gì ông Trung hay các ngư dân Quảng Ngãi thấy tủi thân mà ngay cả những ngư dân Đà Nẵng cũng thấy buồn, lo lắng về tương lai của họ.
Ngư dân Đà Nẵng nói gì?
Ông Phát, ngư dân thành phố Đà Nẵng, hiện sống ở phường Thọ Quang, chia sẻ: “Nói chung chung rứa, nó nói tàu lạ bắn đang chờ điều tra, nó cứ nói quanh quanh là tàu lạ bắn chứ nó không có kết luận điều tra mà cho đến bây giờ vẫn chưa nghe có kết luận điều tra. Thì cứ nói lòng vòng là tàu lạ. Nhân dân thì nghi ngờ là tàu Trung Quốc bắn hại nhưng nhân dân không có chứng cứ thì chịu thôi chứ sao chừ?!”.

Theo ông Phát, ngư dân Đà Nẵng luôn đối mặt với nguy hiểm, thậm chí mối nguy hiểm còn cao hơn cả ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi. Nhưng vì nhận biết những cái chết sẽ đến bất kỳ giờ nào với các ngư dân câu mực khi họ không có đồng nghiệp đi bên cạnh nên các ngư dân Đà Nẵng từ lâu đã chấp nhận mua phiếu thông hành từ phía Trung Quốc nếu như họ yêu cầu.
Nghĩa là với những ngư dân câu mực, tối đến, mỗi người một bộ đàm, một thúng rái, một chiếc đèn măng-sông hoặc đèn điện ắc-qui trên thúng rái và cứ như vậy trôi lênh đênh trên biển suốt đêm để câu mực. Sáng mai, tàu chủ lại liên lạc qua bộ đàm để tìm đến đón ngư dân câu mực. Trong tình trạng lênh đênh một mình giữa biển khơi như vậy, nếu gặp tàu Trung Quốc, họ chỉ cần chạy mạnh lướt ngang qua túng rái cũng đủ gây chết người.
Và nhiều năm trước, số người dân Đà Nẵng chết vì Trung Quốc không phải là ít. Chỉ riêng trận Gạc Ma năm 1988, có đến hơn hai mươi thanh niên trên đường Núi Thành, phường Hòa Cường bị kẻ thù bắn chết, mất xác giữa biển khơi nhưng nhà cầm quyền lúc đó không làm lễ truy điệu, bắt buộc gia đình của những chiến sĩ đã hy sinh phải giữ bí mật chuyện đau lòng này. Mãi cho đến bây giờ, gia đình của những chiến sĩ này vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi buồn vì sự hy sinh của con em mình cũng như sự lạnh nhạt của nhà cầm quyền địa phương.
Chính vì thấy bài học trước mắt, các ngư dân Đà Nẵng buộc lòng phải tìm đường sống bởi họ luôn phải đối mặt với nguy hiểm, với cô đơn trên biển khơi. Ông Phát cho biết thêm là những năm 1989, 1990 quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cũng có nhiều ngư dân đi câu mực và bị giết hại nhưng lúc đó thông tin không sốt dẽo và công khai như bây giờ.
Có thể nói rằng cái chết oan uất của ngư dân Trương Đình Bảy là một bài học lớn cho ngư dân Việt Nam khi tin tưởng những phát ngôn cửa miệng của giới quan chức, cho rằng mỗi ngư dân là một chiến sĩ bảo vệ biển đảo. Bởi đó là những lời lừa phỉnh, những viên kẹo bọc đạn bắn ra từ miệng lưỡi nhà quan.
Thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về những ngư dân cả một đời bám biển, yêu biển và chết với biển!
Vụ án Nguyễn Mai Trung Tuấn, thiếu niên 15 tuổi với bản án hơn 4 năm tù là câu chuyện tràn ngập các trang blog tiếng Việt trong tuần qua.
Blogger Dân Nguyễn trích dẫn hai câu thơ của nhà thơ cách mạng Tố Hữu.
Nuôi đi em cho đến… muôn đời
Mầm hận này trong lồng xương ống máu…???
Tố Hữu nói đến tình cảm căm giận mà những thiếu niên theo cách mạng cộng sản trước kia phải ghi nhớ để chống lại những kẻ thù của cách mạng. Điều trớ trêu là blogger Dân Nguyễn trích dẫn hai câu thơ này vào trường hợp em Nguyễn Mai Trung Tuấn, bị tòa án của cách mạng ở thế kỷ 21 kêu một bản án nặng nề. Liệu Nguyễn Mai Trung Tuấn sẽ căm thù cách mạng?
Trên trang blog của nhà báo Đoan Trang, người ta tìm thấy đến hai bài mới nhất trình bày những khía cạnh pháp lý và nhân đạo mà tòa án của Việt Nam đã phạm sai lầm khi đưa ra một bản án quá nặng nề cho một trẻ em còn ở tuổi vị thành niên. Đoan Trang cũng là một trong một số người gửi thư đến ông Bộ trưởng Bộ giáo dục nói rằng Nguyễn Mai Trung Tuấn phải được hưởng quyền được giáo dục.
Suy nghĩ về câu hỏi tại sao lại có một bản án nặng nề như thế cho một trẻ em, blogger Viết từ Sài gòn cho rằng bản án đó thể hiện sự sợ hãi của những người đang cầm quyền tại Việt nam hiện nay.
Cùng suy nghĩ đó, Người Buôn Gió mỉa mai rằng vụ án là sự trừng phạt của công an giành cho trẻ em, và Người Buôn Gió viết tiếp rằng có lẽ đảng cộng sản Việt nam muốn gửi một thông điệp cảnh cáo đối với người dân Việt nam, và thông điệp đó, theo Người Buôn Gió, lại là thể hiện một sự bất an, sự bế tắc của xã hội, sự sợ hãi của đảng cầm quyền.
Mù mờ trong chủ thuyết, lúng túng trong lãnh đạo, lùng nhùng trong tổ chức, giả dối trong tuyên truyền là những đặc điểm cơ bản hiện nay ở nước ta.
– Ông Tô Văn Trường
Blogger Lang Anh lại so sánh vụ án Nguyễn Mai Trung Tuấn với một vụ án khác đã gần một thế kỷ dưới thời thực dân Pháp là Vụ án đồng nọc nạn, trong đó những người phạm tội được trắng án. Người đọc hiểu rằng sự so sánh là để đưa ra sự khác biệt về tính nhân đạo ở hai nền tư pháp của hai chế độ chính trị khác nhau.
Lang Anh cho rằng người dân Việt Nam phải đương đầu với mối nguy hiểm khi dính dáng tới hoạt động của cơ quan pháp luật hiện nay, vì bất kể các cơ quan này đúng hay sai, người dân rất dễ có khả năng bước vào nhà tù.
Một nền chính trị không nhân đạo
Câu chuyện tư pháp qua vụ án Nguyễn Mai Trung Tuấn chỉ là một phần nhỏ trong một bức tranh thể hiện nhiều bế tắc của xã hội hiện hành mà nhà khoa học Tô Văn Trường mô tả trong bài viết mang tên Tản mạn mùa đông 2015. Ông kết luận như sau:
Mù mờ trong chủ thuyết, lúng túng trong lãnh đạo, lùng nhùng trong tổ chức, giả dối trong tuyên truyền là những đặc điểm cơ bản hiện nay ở nước ta.
Xã hội ấy đang vận hành trong một chế độ chính trị mà nhà văn Phạm Đình Trọng gọi là không nhân đạo. Ông viết như thế khi thấy tin tức nói rằng lúc có mặt ở Paris tham dự hội nghị biến đổi khí hậu toàn cầu, ngay sau cuộc thảm sát Paris, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam thay vì đến chia sẻ đau thương của đồng loại như nhiều nguyên thủ quốc gia khác, ông lại đến đặt vòng hoa trước tượng ông Hồ Chí Minh:
Hối hả mang hoa đến lãnh tụ của đảng mình là thứ chính trị nhỏ nhen, hẹp hòi, chỉ biết có đảng chính trị của mình, không biết đến con Người, không biết đến loài Người, không biết đến thời đại. Đảng chính trị thực chất chỉ là công cụ, là phương tiện để giành quyền lực, để có quyền lực. Thứ chính trị chỉ vì quyền lực, chỉ đế có quyền lực, không vì con Người làm sao có thể là thứ chính trị nhân đạo, làm sao có thể bền vững!
Còn blogger Ngàn Lau, cũng nhân chuyện khủng bố ở Paris viết rằng những người dân Pháp không hề tỏ sự căm thù, điều mà dường như đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn vương vấn mặc dù chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm.
Nền chính trị ấy chi phối tai hại đến chính sách đối ngoại của Việt Nam, làm cho người Việt trở nên hờ hững với quốc gia, với đồng bào.
Nhạc sĩ blogger Tuấn Khanh quan sát thấy những cảm xúc của dân chúng trước những đau thương của ngư dân bị nạn ngoài biển khơi dần dần mờ nhạt đi:
Người Việt Nam như đang được các chính sách đối ngoại của chế độ tập quen dần thói quen ích kỷ, sợ mình bị mất mát, nhưng lại im lặng và chọn lựa thay thế bằng mất mát của những ngư dân nghèo khó. Nó giống như những câu chuyện cổ tích về các ngôi làng xưa phải hiến tế ai đó cho con quái vật để được yên. Vẫn có những người tin rằng việc hiến tế không bao giờ đến lượt mình, và mỗi ngày vẫn ăn ngon ngủ yên với những con cá đẫm máu đồng loại. Họ không muốn một cuộc chiến đối diện thẳng với con quái vật vì chỉ sợ mất mát cho riêng họ.
Cũng như những ngôi làng khiếp nhược và u mê ấy, có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng chúng ta sẽ mất – mất rất nhiều – thậm chí mất tất cả, mà các loại quái vật không cần mất sức cho bất kỳ một cuộc chiến tranh nào. Và những người lãnh đạo ngôi làng, nếu không có dũng khí để đối diện với cái ác để bảo vệ mọi người, thì họ tồn tại để làm gì?
Phải thay đổi và những trở ngại của sự thay đổi
Blogger Kami viết rằng những người lãnh đạo ngôi làng đó phải thay đổi:
Trong nhiều chục năm trở lại đây, Đảng CSVN đã đưa đất nước đi từ hết sai lầm này đến sai lầm khác. Và đến nay Việt nam đã chính thức tụt hâu với thế giới và khu vực, kể cả Lào, Campuchia… cũng đã vượt chúng ta. Do vậy, Đảng CSVN không còn bất kể lý do gì để bám chặt vào quyền lực một cách độc tôn như hiện nay.
Một số người cho rằng đã có những tín hiệu cho sự thay đổi, ngay cả từ phía nhà cầm quyền. Tác giả Trần Quí Cao nêu ra ba nguyên nhân của sự hy vọng đó:
1) Lòng dân mong muốn tự do, dân chủ cho đất nước và tự chủ với Trung Quốc đã được nêu lên công khai. Điều này chứng tỏ mong muốn này, qua bao năm đấu tranh, đã có sức mạnh thực sự.
2) Đã có một khuynh hướng chính trị có quyền lực đủ mạnh trong trung ương có thể chống lưng cho các bài báo công khai đòi tự do dân chủ và tự chủ với Trung Cộng.
3) Hẳn nhiên thế lực đi ngược với ước mong của đa số dân chúng vẫn còn sức mạnh. Nhưng họ cũng không còn dám công khai ra mặt chống đối lòng dân như trước đây.
Và ông viết tiếp rằng ngay trong báo chí chính thống của nhà nước cũng có những tính hiệu về sự thay đổi:
Tôi đã nghe những nghi ngờ rằng các bài báo như trên là mị dân, lừa gạt như đã thấy nhiều lần trong quá khứ. Trong khi đồng ý với các quan sát đó trong quá khứ, tôi lại không có cùng nhận định về hiện tại. Hoàn cảnh chính trị thế giới, khu vực và đất nước đã khác trước nhiều. Mối đe dọa tương lai phát triển dân tộc và nền độc lập quốc gia đã đủ lâu và đủ lớn để thức tỉnh lòng yêu nước truyền thống của nhân dân. Trong nhân dân có dân chúng và có chính quyền.
Đó là những điều phỏng đoán của các blogger về ý chí muốn thay của nhà cầm quyền, bên cạnh những đòi hỏi về dân chủ của nhiều nhóm dân sự của người dân phát triển mạnh trong những năm gần đây. Nhưng cũng có những ý kiến lo ngại là những nhóm xã hội dân sự, những nhóm đấu tranh dân chủ đó còn có nhiều khiếm khuyết, gây trở ngại cho tiến trình dân chủ hóa.
Blogger Viết từ Sài gòn thì nhấn mạnh đến một sự trở ngại khác từ chính sự thờ ơ của đám đông khi những người dấn thân cho hoạt động dân chủ bị đàn áp
Hễ cứ nghe những người này bị hành hung, bị bắt nhốt, gán tội để bỏ tù thì ngoại trừ một nhóm nhỏ trí thức trong xã hội thấy bất bình nhà cầm quyền, đồng cảm với người bị hại… Đa phần còn lại đều cho rằng điều này là nhục nhã, tù tội là nhục nhã. Họ không cần biết trắng đen, tốt xấu… Và họ cũng chưa bao giờ định nghĩa được chữ vinh và chữ nhục cho chính xác.
Một blogger khác phân tích trên trang Triết học đường phố:
Người Việt đấu tranh cho dân chủ, tự do nhưng lại hành xử giống độc tài. Nghi ngờ, đấu tố nhau, mạt sát, khinh miệt nếu ai đó có một vài khuyết điểm, hay quan điểm đối lập mình. Tôi nhìn ra được khuyết điểm này khi theo dõi những nhà hoạt động có tiếng ở Việt Nam.
Chúng ta, tôi nói là chúng ta trong đó có cả tôi chưa trở thành những con người dân chủ và tự do khi trong cách hành xử của mình còn nặng mùi giáo dục nhà sản.
Khi nói một sai lầm của ai đó trong giới đấu tranh, chúng ta dùng những lời lẽ như phán xét hơn là nâng đỡ. Một hình thức đấu tố mà cộng sản đã gieo rắc vào xã hội và môi trường giáo dục ở Việt Nam.
Ngoài ra blogger này còn cho rằng sẽ là thiếu thực tế khi những nhà hoạt động dân chủ chỉ nói đến những vấn đề tự do dân chủ khó hiểu mà quên đi những chuyện xã hội trước mắt, như là đấu tranh cho việc thi hành pháp luật của chính nhà cầm quyền đưa ra.
Đó có thể cũng là những lý do mà trang Bauxite Việt Nam bình luận rằng những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt nam, những trí thức dấn thân phải chủ động hơn nữa để Việt Nam có thể học được bài học từ Miến Điện, quốc gia láng giềng đang đi đúng hướng trên con đường dân chủ hóa.