Ai thề không phản bội quê hương?
Ai thề không phản bội quê hương?
Tuấn Khanh
26-4-2016
Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Sự kiện cả bộ máy hành chính Nhà nước và các nhà lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam lúng túng, phản ứng bất thường trong vụ nước Cộng hòa tự trị Vũng Áng lên tiếng gay gắt, vừa xác nhận việc họ hủy diệt hàng trăm cây số môi trường biển, vừa khẳng định quyền bằng giá trị thương mại của Vũng Áng, cho thấy quan điểm phản bội quê hương với tay vịn vào ngoại bang đang hình thành mạnh mẽ ở Việt Nam, lúc này, rõ ràng trong một lớp người.
Sự lúng túng trước một thảm trạng của môi trường thiên nhiên bị tàn phá và đời sống hàng triệu người dân Việt Nam từ đây đến nhiều năm nữa, bởi những người có trách nhiệm của Nhà nước đã bộc lộ một thái độ quái gỡ, loanh quanh chưa từng có. Cụ thể là các quan chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và chính quyền Hà Tĩnh. Họ cứ nói tránh đi hiện trạng, nói không có kiểm soát, mà mục đích rõ là phục vụ cho giới chủ đang đầy tiền và quyền, dù sự diệt vong đang diễn ra trên đất nước mình.
Không phải chỉ lúc này, khu công nghiệp Vũng Áng mới bộc lộ một quyền hạn kỳ lạ. Nhiều năm nay, khu công nghiệp được hình thành như một pháo đài nội bất xuất, ngoại bất nhập với giá thuê đất ưu ái đến rẻ mạt, đã vậy, chính quyền Hà Tĩnh hành xử như một lãnh chúa, vượt qua luật pháp Việt Nam, cho Formosa thuê đất đến 70 năm, mà đến 15 năm không cần đóng tiền.
Vùng đất mà Formosa thuê, tính ra đến 33 triệu mét vuông – diện tích lớn như Macau – nhưng được chính quyền Hà Tĩnh cho thuê chỉ 80 đồng/mét vuông, theo hồ sơ bị tiết lộ vào năm 2009.
Mặc dù năm 2014, bị Nhà nước Việt Nam bác bỏ công văn số 1405069/CV-FHS của Formosa để xin xây dựng vùng kinh tế riêng, nhưng nước Cộng hòa tự trị Formosa vẫn hình thành trên lề lối quản lý của họ, với nhiều quy định nghiêm ngặt đến mức có quyền ngăn chận cả viên chức nhà nước đi vào khu vực của họ.
Dù làm ra của cải như thế nào, Formosa vẫn là người khách trên đất nước này. Khi giám đốc đối ngoại của Formosa, Chu Xuân Phàm lên tiếng thách thức mọi người về quyền tồn tại của KCN này, bất chấp hậu quả, thì mọi thứ đã đến ngưỡng báo động về sự suy đồi nhân cách của một thế hệ được đào tạo với đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Việc nhận thức hành động càn quấy về môi trường của Formosa, làm hại đến cả con người, cần phải được cân đong với ý thức tổ quốc, dân tộc, chứ không thể với độ dày của số tiền mà hệ thống này trao tay lợi riêng. Nhượng bộ hay đánh đổi quyền lợi tổ quốc bằng lợi riêng, tên gọi đó là bán nước, mà ông Phàm chỉ là một ví dụ trên đất nước này, lúc này.
Formosa không phải lần đầu bị phanh phui các bí ẩn của họ. Tháng 3/2016, Formosa từng bị tố cáo là đã âm thầm đưa hàng trăm tấn xả thải từ công trường Formosa đưa ra khu vực dân cư lân cận gây ô nhiễm môi trường. Dù tên gọi chủ đầu tư là Đài Loan nhưng nhiều nay, việc chuyển nhượng cổ phần cho ai vẫn là tuyệt mật, công nhân nào hở môi sẽ bị đuổi. Và nơi này cũng từng bị tố cáo là bí mật đưa vào Việt Nam một lượng công nhân Trung Quốc khổng lồ và không phép, được bao che bên trong.
Sự kiện chấn động quốc tế về chất thải độc vào môi trường của Formosa tại Việt Nam diễn ra gần một tháng, nhưng mọi thứ luân lý có vẻ bất lực trước kẻ ngang nhiên càn quấy. Hàng trăm ngàn trí thức xã hội chủ nghĩa, hàng ngàn các vị tiến sĩ và thậm chí cả một hệ thống Đoàn TNCS với hàng triệu người vẫn hớn hở, đều đặn giương khẩu hiệu yêu môi trường, hoàn toàn tê liệt. Sự im lặng không còn ý thức tự thân về dân tộc hay tổ quốc. Sự im lặng mang hình thái phản bội quê hương.
Bên cạnh hiện trạng đã rõ, có không ít những lời phát biểu vô trách nhiệm, có cả những kiểu “phản biện” để đánh lạc hướng dư luận, bất kể câu chuyện người thợ lặn của KCN nay đã chết với tình trạng nhiễm độc từ vùng biển có chất thải.
Cá tôm chết, con người chết, môi trường nhiễm độc vẫn không đủ sức khai sáng cho những kẻ mang lòng phản bội quê hương mình. Thậm chí quan chức Hà Tĩnh thì xui cứ tắm biển – ăn cá. Quan chức thanh tra thì ngỏ ý biển chết là có dịch, chứ không phải do chất thải. Sự bối rối và bất tín những người đang bám vào Formosa, được thể hiện rõ qua lời của Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng “Nếu năng lực trong nước không đủ thì đề xuất hợp tác quốc tế. Khi đã xác định được đối tượng xả chất độc thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật” .
Thật khó để đi đến sự thật và cất lên tiếng nói cho nhân dân mình, một khi trái tim của mình chỉ còn lại bóng tối. Không thể tin nỗi một thảm họa lớn lao như vậy mà rất ít người có trách nhiệm lên tiếng, hoặc có thì chỉ nói dối. Sự kiện Formosa chỉ là một phép thử nhỏ về con người, đất nước Việt Nam. Nếu một mai khi đất nước bị xâm lăng, sẽ có ai là người dám cất lời thề không phản bội quê hương?
Trả Lại Cho Dân – Hợp Ca Asia 2015

2 con cá, 2 phút, 24.000 tiến sĩ và 21 ngày
2 con cá, 2 phút, 24.000 tiến sĩ và 21 ngày
Quang Huy
226-4-2016
Chiều 26-4, trong Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tổ chức họp báo chủ yếu để xin lỗi về phát ngôn gây sốc trước đó thì kênh truyền hình VTC lại rẽ theo hướng khác, khá bất ngờ.
Trước sự chứng kiến của đại diện Trung tâm Quan trắc môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh và nhiều người dân, phóng viên VTC đổ nước vàng đục lấy từ vùng biển Vũng Áng – nơi Formosa xả thải khỏi nhà máy luyện thép, bị nghi là nguyên nhân gây ra tình trạng cá chết hàng loạt gần 1 tháng qua – ra thau nhựa rồi cho 2 con cá đang sống khỏe vào. Sau 2 phút tung tăng, 2 con cá đuối dần rồi chết ngay đơ.
Không cần nói nhiều, bấy nhiêu đã đủ khẳng định nước biển chỗ Formosa cực độc!
Trở lại với cuộc họp báo của Formosa, trả lời phóng viên về việc nhập gần 300 tấn hóa chất về súc rửa đường ống, lãnh đạo công ty này nói Formosa có nhập “một ít axít” về rửa đường ống nhà máy nhưng không phải là dùng cho đường ống xả thải (!?). Vậy khi “rửa đường ống nhà máy” xong, nước thải ấy không xả ra biển thì xả đi đâu?
Tất nhiên, thực nghiệm nói trên của VTC chưa có cơ sở khoa học đầy đủ để “buộc tội” nhưng lý do vì sao nước biển ở Vũng Áng chỗ nhà máy luyện thép độc hại đến như vậy, Formosa không thể né tránh trả lời.
Để tìm ra sự thật, sự vào cuộc quyết liệt và trung thực, khách quan của các cơ quan hữu trách Việt Nam là rất cần thiết vào lúc này.
Sự vào cuộc ấy phải xuất phát từ tinh thần dân tộc và lòng tự trọng. Sở dĩ nói như vậy là bởi hiện tượng cá chết hàng loạt ở miền Trung đã diễn ra 3 tuần rồi nhưng các cơ quan chức năng chỉ mới dừng lại ở công việc lấy mẫu và chờ kết quả xét nghiệm, thậm chí chờ mời chuyên gia nước ngoài. Giá như các nhà chức trách, nhà khoa học khoanh vùng nghi vấn là Formosa và xét nghiệm mẫu nước ngay nơi ấy thì câu trả lời có cơ may đã sáng tỏ sớm rồi, đâu phải chờ mấy tuần.
Những người làm báo đã làm thay công việc của các nhà chuyên môn, dù chưa thật tròn vai nhưng đã nói lên được trách nhiệm cao độ của họ với cộng đồng, thể hiện nỗi bức xúc trước sự bê trễ, quan liêu của những người có trách nhiệm.
Và bức xúc không kém nữa là trong lúc nghi vấn cá chết do độc tố được đặt lên hàng đầu thì một phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố rất thiếu trách nhiệm: “Người dân cứ yên tâm ăn cá và tắm biển Vũng Áng”. Xin mời, ông dám ăn cá và tắm biển Vũng Áng trước thì dân mới tin!
Formosa chiều 26-4 khẳng định không đưa ra bất kỳ phát ngôn nào về nguyên nhân cá chết cho đến khi có kết luận từ phía Việt Nam. Chẳng biết bao giờ đội ngũ khoa học Việt Nam với 24.000 tiến sĩ và hàng ngàn giáo sư đang có mới đưa ra kết luận trong khi người dân thì hết sức nóng lòng vì sinh kế bị đe dọa từng ngày, từng giờ.
Khoa học là để phục vụ cuộc sống. Khi cuộc sống rất cần mà khoa học không cất tiếng thì là ngụy khoa học, là khoa học hữu danh vô thực. Câu chuyện con cá ở miền Trung, vì thế, đã kể rất nhiều câu chuyện buồn về cái tâm và cái tầm của nhà quản lý ở nước ta.
So sánh Formosa với Woburn: Vụ kiện ô nhiễm môi trường lớn nhất nước Mỹ
So sánh Formosa với Woburn: Vụ kiện ô nhiễm môi trường lớn nhất nước Mỹ
Thạch Đạt Lang
26-4-2016
Ba tuần lễ vừa qua, người dân Việt Nam xôn xao về vụ cá chết hàng loạt trải dài trên bờ biển 4 tỉnh từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, đến Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế.
Đến ngày hôm nay đã ba tuần trôi qua, dù chưa có công bố chính thức của chính quyền cộng sản Việt Nam về nguyên nhân gây ra thảm họa nhưng những chỉ dấu cho thấy rõ ràng là cá chết hàng loạt vị bị nhiễm chất độc chứa trong chất thải của khu công nghiệp luyện thép vũng Áng, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Thiệt hại về vật chất liên quan đến đời sống hàng trăm ngàn ngư dân nằm trong 4 tỉnh nói trên chưa thể ước tính, nhưng sự ô nhiễm môi trường còn nặng nề, di hại nhiều hơn.
Để cho độc giả thấy rõ sự quan trọng của môi trường đối với người dân cũng như chính phủ Mỹ như thế nào, người viết xin nhắc lại một vụ kiện lớn nhất về thảm họa môi sinh đã xẩy ra ở Woburn, Boston, tiểu bang Massachusetts thập niên 80.
Câu chuyện bắt đầu vào cuối thập niên 70, khi một số kỹ sư xây dựng phát giác ra hai giếng nước G và H ở Woburn đã đóng, không còn sử dụng, có nhiễm một số chất bị nghi ngờ gây ung thư, kể cả TCE (Tricholoroethylene). TCE là chất gây rối loạn bạch cầu trong máu, hủy hoại hệ thần kinh, gan… được chứng minh rõ ràng trong phòng thí nghiệm với động vật.
Woburn là một thị trấn nhỏ thuộc tiểu bang Massachusetts với khoảng 40.000 dân, người dân dùng nước được cung cấp bởi các giếng bơm (Well, Fountain). Woburn có một số nhà máy thuộc da hoạt động đã lâu đời. Những nhà máy này là hãng con của tổ hợp W. R. Grace & Co, W.R. Grace & Co lại thuộc tổ hợp khổng lồ Beatrice Foods có chi nhánh, hãng sản xuất thực phẩm, hàng tiêu dùng, mỹ phẩm… ở nhiều nước trên thế giới.
Trong thời gian từ năm 1966 đến giữa thập niên 80, hơn 10 gia đình có con em ở Woburn bị chết vì bệnh hoại huyết (leukemia), một số khác cũng đang bị bệnh. Việc phát giác ra sự ô nhiễm của các giếng nước G và H, hai giếng nằm gần nhà máy thuộc da nhất, khiến nẩy sinh ra nghi ngờ là các giếng nước khác người dân Woburn sử dụng cũng bị nhiễm hóa chất gây bệnh hoại huyết. Các mẫu nước uống lấy từ các giếng ở Woburn có màu hơi vàng chứ không trong suốt như các nơi khác, đồng thời có mùi lạ mà người dân không hiểu tại sao.
Đầu năm 1981, một báo cáo của trung tâm kiểm soát bệnh dịch cho thấy tỉ lệ chết vì ung thư ở Woburn cao gấp 7 lần các nơi khác. Tuy nhiên báo cáo này không kết luận rõ ràng là những trường hợp chết vì ung thư là do nhiễm độc hóa chất từ các giếng nước sử dụng ở Woburn.
Cha mẹ của các trẻ em bị chết vì bệnh ung thư máu đã tham khảo ý kiến một luật sư tên Joe Mulligan, kiện những người chịu trách nhiệm về việc nhiễm độc hóa chất ở các giếng nước tại Wobrun ra tòa nhưng hồ sơ cuối cùng bị bỏ lơ.
Jan Schlichtman, một luật sư trẻ chỉ mới 30 tuổi, tốt nghiệp ở Cornell Private University, trước đó có thời gian làm việc với Joe Mulligan, có văn phòng cùng vài cộng sự viên chuyên về tai nạn lưu thông.
Ban đầu khi nhận được lời kêu gọi của người dân Woburn, Jan cũng thờ ơ vì nếu khởi tố vụ kiện, không biết mình phải bắt đầu từ đâu. Tuy nhiên, những diễn tiến tình cờ sau đó khi gặp gỡ người dân Woburn đã khiến Jan quyết định đảm trách vụ kiện.
Việc Jan Schlichtman, đại diện người dân ở Woburn khởi kiện W.R. Grace Co và Beatrice Foods là một cuộc chiến đấu của David (Schlichtman) chống Goliath (W.R.Grace & Beatrice) vì văn phòng luật sư của Jan Schlichtman chỉ có 4 người, chống lại lực lượng luật sư hùng hậu của tổ hợp Beatrice Foods, đứng đầu là Jerry Facher với cả trăm cố vấn pháp luật..
Chỉ mấy ngày sau khi lập hồ sơ khởi tố nhà máy thuộc da do J. Riley Jr. quản lý ở Woburn làm ô nhiễm môi trường, Jan Schlichtman được tòa án cho phép khám xét tường tận khu vực, thu thập bằng chứng, lấy mẫu đất, lục soát các kho chứa hóa chất, bãi rác, thẩm vấn các nhân viên đã và đang làm việc cho nhà máy, người dân trong khu vực…
Những cuộc thẩm vấn với sự hiện diện của luật sư hai bên, được ghi âm làm bằng chứng. Nhiều nhân viên của nhà máy sợ mất việc không dám khai rõ, nhưng cũng có người can đảm nói hết sự thật.
Vụ án kéo dài nhiều năm, khởi thủy Jan nghĩ rằng đây chỉ là một vụ kiện nhỏ, sẽ kết thúc nhanh chóng. Chính bản thân Jan cùng 2 cộng sự viên là Kevin Conway và James Gordon không lường trước được hậu quả là họ sẽ bị khánh tận tài sản khi khởi tố.
Càng về sau vụ kiện càng bùng nổ lớn, không phải trong phòng xử mà ở bên ngoài hành lang tràn ngập phóng viên, ký giả. Những bằng chứng ô nhiễm môi trường trở thành một cuộc chiến tranh luận giữa các chuyên viên địa chất, thủy học. Đã có 130 nhân chứng được thẩm vấn, hồ sơ, chứng từ, tài liệu, báo cáo phân chất, thử nghiệm của bác sĩ, bệnh viện về bệnh ung thư máu… lên tới 24.000 trang giấy A4.
Khi vụ kiện bắt đầu kéo dài với những phí tổn trả cho các chuyên viên phân tích các mẫu nước, đất, những thẩm định đánh giá của bác sĩ chuyên môn về máu, về ung thư… đã khiến cho Jan Schlichtman và các cộng sự viên khánh kiệt, phải cầm cố nhà cửa và những kỷ vật quý giá. Tuy vậy vì lương tâm nghề nghiệp, Jan và các cộng sự viên không bỏ cuộc, quyết tâm theo đuổi đến cùng. Sau đó Jan cũng nhận được sự trợ giúp của một giáo sư luật ở Harvard, Professor Charles Nesson, chuyên viên thượng thặng về bằng chứng.
Hồ sơ khởi tố của Jan Schlichtman đưa ra chứng cớ là 15 mẫu đất (mẫu tây: Acres) chung quanh nhà máy thuộc da ở Woburn bị nhiễm các chất độc gây ung thư, đặc biệt là TCE.
Giai đoạn 1 của vụ án bắt đầu vào tháng 03.1986, chánh án là Walter Jay Skinner, một người nổi tiếng nhiều kinh nghiệm trong tố tụng, có lương tâm và công bằng khi xét xử.
Tuy nhiên, khi nhận ghế chánh án, những diễn tiến của phiên tòa khiến thẩm phán Skinner hoang mang, không hiểu phải quyết định như thế nào, dù có bằng chứng rõ ràng là các giếng nước G, H bị nhiễm hóa chất gây ung thư.
Các hóa chất độc hại và TCE đã thấm vào trong lòng đất, trôi theo các mạch nước ngầm rồi hòa tan trong các giếng nước ở Woburn như thế nào? Không ai chứng minh được nhưng cũng không ai dám phủ nhận tiến trình đó.
Trong giai đoạn này không có nhân chứng nào được Jan Schlichtman đưa ra hiện diện ở phiên tòa. Vì không có câu trả lời rõ ràng với câu hỏi trên, bồi thẩm đoàn kết luận những chứng cớ buộc tội nhà máy thuộc da của W.R. Grace & Co làm ô nhiễm môi trường là không vững chắc nhưng đồng thời cũng không bác bỏ các chứng cớ.
Chánh án Skinner đề nghị bên nguyên cáo cũng như bị cáo cố gắng tìm thỏa hiệp hoặc tiếp tục tìm kiếm đưa ra thêm chứng cớ. Kết thúc giai đoạn 1 của vụ án kéo dài 78 ngày là một thỏa hiệp. W.R. Grace & Co cũng như Beatrice Foods không nhận lỗi nhưng để tránh lôi kéo dư luận có ảnh hưởng không tốt đến biểu tượng, sản phẩm của mình, đồng ý bồi thường thiệt hại cho nạn nhân, cộng án phí, tất cả là $8.000.000. Theo đó mỗi gia đình có con em bị chết được đền bù $375.000.
Nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Jan Schlichtman cũng như người dân Woburn, những gia đình có con em chết vì ung thư máu không hài lòng với kết quả đạt được, nhất là Anne Anderson, người có con trai tên Jimmy Anderson chết vì ung thư máu, Anne Anderson không tha thiết chuyện bồi thường tiền bạc, không chấp nhận kết luận rằng con trai mình chết vì bệnh hoại huyết chỉ là do tình cờ. Người dân Woburn yêu cầu những người có trách nhiệm phải điều tra và có câu trả lời rõ ràng về sư ô nhiễm.
Năm 1987, Jan Schlichtman cố gắng xin tái xét vụ kiện ở tòa phúc thẩm nhưng thất bại nên quyết định chuyển nội vụ cho sở Môi Trường EPA (Environmental Protection Agency). Tất cả hồ sơ vụ kiện được chuyển giao cho EPA để nơi này khởi tố W.R. Grace & Co và Beatrice Foods.
Khi EPA vào cuộc, để tránh những phiền phức, bất lợi khi phải đối mặt với luật pháp lần thứ hai, chủ tịch đoàn của W.R. Grace, Beatrice Foods theo sự cố vấn các luật sư của họ, đồng ý bồi thường $68.000.000 cho việc tái tạo, làm sạch môi trường ở Woburn.
Trong suốt diễn tiến chậm chạp của phiên tòa. Jan Schlichtman theo lời đề nghị của Giáo sư Charles Nesson, chấp thuận để phóng viên Jonathan Harr gia nhập vào nhóm mình, ghi chép lại mọi tiến triển của vụ kiện.
Jonathan Harr sau đó đã tổng kết mọi sự việc, viết thành một cuốn sách với tựa đề A Civil Action (Một Hành động Dân sự). A Civil Action trở thành một quyển sách bán chạy nhất (Best Seller) năm 1995, được quay thành phim với tài tử John Travolta trong vai Jan Schlichtman.
Hơn thế nữa A Civil Action còn trở thành đề tài giảng dạy, bàn thảo trong nhiều trường đại học của Mỹ. Đồng thời nó cũng làm thay đổi quan niệm, suy nghĩ, nhận định về sự quan trọng của môi trường đối với người dân cũng như chính phủ Mỹ.
So sánh vụ ô nhiễm môi trường ở Formosa và Woburn, người ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.
Ở Woburn, hóa chất thải ra trong quá trình thuộc da được chôn xuống dưới đất trong các bao, bì hay thùng sắt, nhiều nhất là TCE vì đây là chất cần thiết làm cho da trở nên trơn, láng. Những hóa chất này do rò rỉ đã thấm sâu vào đất, đi theo các mạch nước ngầm, hòa vào các giếng nước nên khó lòng phát hiện.
Quá trình này đòi hỏi thời gian lâu dài từ vài tháng đến nhiều năm. Ảnh hưởng kinh tế, xã hội ở Woburn cũng không nặng nề hay có dấu hiệu rõ ràng. Nhà máy thuộc da của Riley Jr. Bị đóng cửa sau vụ kiện, số nhân viên làm việc ở đó không quá trăm người, gánh nặng xã hội không lớn.
Ở Formosa, các chất thải độc hại được phun thẳng ra biển, làm ô nhiễm môi trường ngay lập tức và khi nồng độ tăng cao, sinh vật ở biển bị ảnh hưởng trực tiếp nên cá mới chết hàng loạt nhanh chóng như vậy. Theo dòng thủy triều, chất độc hại trong nước biển trôi về phía Nam nên gây ra thảm họa môi trường trong một phạm vi rộng lớn, trải dài trên 4 tỉnh.
Một khu vực nhỏ như Woburn cần $68.000.000 để tái tạo, làm sạch sẽ môi trường thì 4 vùng bờ biển Việt Nam cần bao nhiêu để tái tạo khi nơi này trở thành vùng biển chết không có tôm, cá…? Gấp chục lần, trăm lần hay hơn nữa số tiền bồi thường ở Woburn và ai sẽ bôi thường?
Gánh nặng kinh tế mà xã hội, đất nước phải chịu đựng là hàng trăm ngàn ngư dân thất nghiệp tràn về thành phố kiếm cách sinh sống vì không còn ngư trường để hành nghề.
Chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ không có kế hoạch, chính sách gì để giải quyết thảm nạn do Formosa gây ra và người dân cũng đừng hy vọng gì sự giúp đỡ của chế độ phản dân, hại nước này.
Hãy tự cứu lấy mình.
BIỂN ĐÔNG ĐANG RẤT NÓNG
BIỂN ĐÔNG ĐANG RẤT NÓNG
Minh Châu
26-4-2016
Vụ việc Formusa Hà Tĩnh đang sôi sùng sục ở các trang báo đã làm cho người ta tạm gác qua chuyện Biển Đông – vốn đang nóng hơn rất nhiều…
Hôm Chủ Nhật, 24-4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng nước này đã đạt được thỏa thuận 4 điểm về Biển Đông theo lập trường của Bắc Kinh với Brunei, Campuchia và Lào sau chuyến công du của ông Ngoại trưởng Vương Nghị.
The Phnom Penh Post ngày 26-4 đưa tin: người phát ngôn Chính phủ Campuchia Phay Siphan khẳng định, chẳng có đồng thuận nào mới đạt được trong cuộc họp vào cuối tuần qua, khi ông Nghị ghé Phnom Penh.
“Không có thỏa thuận hoặc thảo luận nào, đó chỉ đơn thuần là chuyến thăm của một Ngoại trưởng Trung Quốc”, ông Phay Siphan nói với báo giới.
Trước đó, The Fiji Times ngày 15-4 đưa tin, Chính phủ Fiji ngày 14-4 tuyên bố, nước này không ủng hộ lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Tuyên bố được đưa ra sau khi Trung Quốc công bố thông cáo báo chí sau cuộc họp giữa Ngoại trưởng Fiji Ratu Inoke Kubuabola và người đồng nhiệm Vương Nghị ở Bắc Kinh, rằng:
“Hai bên (Trung Quốc và Fiji) kêu gọi các bên liên quan trực tiếp cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, hàng hải thông qua tham vấn thân thiện và đàm phán song phương phù hợp theo tinh thần Tuyên bố chung về ứng xử trên Biển Đông.
Cơ quan tư pháp và trọng tài quốc tế nên tôn trọng đầy đủ việc Trung Quốc bảo lưu ngoại lệ tùy chọn theo Điều 298 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).
Hai bên nhấn mạnh quyền của các nước có chủ quyền và các quốc gia thành viên UNCLOS để lựa chọn một cách độc lập các phương pháp để giải quyết tranh chấp phải được tôn trọng, và phải có sự đồng ý trước của các bên tranh chấp trước khi tiến hành giải quyết thông qua một bên thứ 3 bất kỳ”.
VIỆT – TRUNG LẠI TUẦN TRA CHUNG TRÊN VỊNH BẮC BỘ
Tuần qua, thông tin ít được phổ biến là Việt Nam và Trung Quốc đã bắt đầu cuộc tuần tra ngư nghiệp chung lần thứ 11 tại Vịnh Bắc Bộ.
Hai tàu cảnh sát biển từ Việt Nam và hai tàu Trung Quốc cùng giám sát các tàu cá và thỉnh thoảng tiến hành các cuộc kiểm tra trên ngư trường chung tại đây trong vòng 5 ngày kết thúc vào hôm thứ bảy vừa qua.
Cuộc tuần tra năm nay được gia hạn từ thông lệ 3 ngày thành 5 ngày và các tuyến tuần tra 1 chiều trước kia từ bờ biển này tới bờ biển kia nay được thay đổi thành hai chiều đi-về.
Hài hước là kết thúc cuộc tuần tra đã không ghi nhận được trường hợp nào vi phạm về quyền đánh bắt thủy hải sản. Trong lúc đó, theo báo cáo của lực lượng kiểm ngư Việt Nam, các ngư dân ở miền Trung cho hay suốt mấy năm qua đã phải khốn khó trong lẫn tránh nhóm các tàu sắt có treo cờ Trung Quốc gọi là Dân Quân Biển (Tanmen Maritime Militia) ngụy trang vào trong hạm đội tàu cá của Trung Quốc đang tràn ngập vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Đầu tháng Tư, Cảnh sát biển Việt Nam đã bắt giữ một tàu dầu Trung Quốc tiếp tế nhiên liệu cho những tàu cá hoạt động xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuy nhiên những thông tin này lại không được phổ biến trên báo chí.
BIỂN VIỆT NAM ĐANG BỊ TRUNG QUỐC CÀN QUÉT
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết “nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu hải sản của Việt Nam đang phải tạm ngưng sản xuất mặt hàng này hoặc hoạt động cầm chừng do không đủ nguyên liệu sản xuất”.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch VASEP, đã có 147 doanh nghiệp ngưng chế biến và xuất khẩu hải sản để chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác, “nguyên nhân do các thương nhân Trung Quốc sang tận nơi mua hải sản mà ngư dân đánh bắt về”.
VASEP còn cho biết có tình trạng thương nhân Trung Quốc “tranh giành, đón mua” tại các cảng cá hoặc thậm chí ngay tận ngoài biển. Các công ty Việt Nam thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cao mà vẫn không cạnh tranh nổi với độ vung tiền của các doanh nhân Trung Quốc. Miền Trung bị ảnh hưởng bởi “cơn dịch vét hàng” nặng nhất.
“KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT SONG PHƯƠNG VẤN ĐỀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA”
Ngày 14-4, trong cuộc họp báo thường kỳ tại Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nêu rõ trong các tranh chấp chủ quyền đảo trên Biển Đông, vấn đề liên quan đến hai nước thì giải quyết song phương, nhiều nước thì phải giải quyết đa phương.
Cũng trong thời gian này, cử tri 15 tỉnh: Phú Yên, Long An, Ninh Bình, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bình Thuận, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Bình Dương, Hà Nam, Tiền Giang, Cà Mau, Long An, Hà Nội đã có yêu cầu sớm kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế về vấn đề biển Đông.
Nguyên văn kiến nghị được Ban Dân nguyện của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tập hợp như sau:
“Cử tri tiếp tục bày tỏ thái độ bức xúc đối với những vi phạm của Trung Quốc ở biển Đông, đặc biệt là hành động xây dựng đảo nhân tạo tại một số điểm thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, ngang nhiên đánh bắt cá trên vùng biển Việt Nam, tấn công các tàu của ngư dân Việt Nam.
Cử tri đề nghị có các giải pháp đấu tranh khả thi, quyết liệt hơn, rõ ràng hơn để giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè, dự luận quốc tế trong việc đối phó với các hành động nêu trên của Trung Quốc; sớm hoàn thiện các thủ tục pháp lý khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế; thận trọng hơn trong các chính sách đối ngoại, cân nhắc khi hợp tác, ứng xử đối với một số nước bạn, đặc biệt là Trung Quốc; hạn chế các chính sách thỏa hiệp để đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc; đồng thời thông tin kịp thời, đầy đủ tình hình biển Đông và đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo…, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.
Tuy nhiên có điều lạ là những thông tin nói trên không thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của các tổ chức hội, đoàn xã hội dân sự. Đã không có bất kỳ cuộc tuần hành hay biểu tình nào diễn ra để phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam; thậm chí cũng chưa thấy bùng lên làn sóng yêu cầu nhanh chóng khởi kiện Trung Quốc của người dân Việt Nam.
Biển Đông vẫn đang nóng và…
Cá chết hàng loạt – Phải giải quyết từ đâu?
Cá chết hàng loạt – Phải giải quyết từ đâu?
Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ
2016-04-26
Một người dân đi dọc bờ biển với cá chết dạt lên bờ biển huyện Quảng Trạch, Quảng Bình hôm 20/4/2016.
AFP photo
Your browser does not support the audio element.
Tình trạng cá chết hằng loạt tấp vào bờ bốn tỉnh miền trung Việt Nam từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên-Huế bắt đầu từ hôm 6 tháng tư vừa qua ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân trong khi cơ quan chức năng đang truy tìm nguyên nhân.
Quan ngại của người dân
Truyền thông Việt Nam cũng như quốc tế trong những ngày qua cập nhật thông tin về tình hình đủ loại hải sản, chủ yếu là cá chết hằng loạt và tấp vào bờ bốn tỉnh miền trung Việt Nam khởi đi từ Hà Tĩnh, sang Quảng Bình đến Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế.
Một nhà báo không muốn nêu tên tại Quảng Trị cho biết thực tế tại địa phương tỉnh này và nhận định về tình hình mà người này cho là nghiêm trọng:
“Ôi Quảng Trị cá chết kinh lắm, chết thối cả bãi biển, chết la liệt. Nói chung bây giờ là úp thuyền luôn, không ai dám ăn cá hết. Bây giờ ngư dân cũng sợ mà người tiêu dùng cũng sợ.
Chưa thấy có động thái gì cả chỉ có chính quyền cảnh báo người dân không được ăn cá, không được buôn bán các loại hải sản. Thực ra người dân cũng rất hoang mang, nhất là người dân dọc các bờ biển người ta lo ngại lắm. Cuộc sống của họ là nhờ vào những con thuyền đánh bắt gần bờ mà; nhưng nay cá về không ai mua, ngay cả các chợ rất ế ẩm.
Rất nguy hiểm, nói chung tình hình rất bi đát, bà con rất lo ngại; thực ra chính quyền cũng ‘bó tay’, chẳng biết giải quyết gì cả! Chính quyền thụ động và Bộ Tài nguyên-Môi trường chưa có kết luận nên chính quyền chưa có động thái nào cả.”
Trong khi ngư dân rất lo lắng như thế nhưng lại có người ăn cá chết bị ngộ độc khiến cho dân chúng càng thêm hoang mang. Một phụ nữ ở Quảng Bình vào sáng ngày 25 tháng 4 cho biết như sau về tình hình liên quan:
“Nói chung họ tuyên truyền người dân đừng ăn cá, cấm người dân không được ăn cá biển để an toàn.
Ôi Quảng Trị cá chết kinh lắm, chết thối cả bãi biển, chết la liệt. Nói chung bây giờ là úp thuyền luôn, không ai dám ăn cá hết. Bây giờ ngư dân cũng sợ mà người tiêu dùng cũng sợ.
– Một nhà báo ở Quảng Trị
Trên đài tuyên truyền không ăn cá biển, cá chết. (Tuy nhiên) họ vẫn buôn bán cá chết. Đa số không dám ăn, đến 80-90% không dám ăn cá đâu. Nghe truyền hình hay lên ‘facebook’ thì thấy nói ăn cá chết bị ngộ độc.
Khi không ăn cá thì ảnh hưởng đến người đi đánh cá, họ ‘vất vả’ lắm. Trước mắt người dân phải chịu cực cái đã, chưa có chế độ gì.
Từ xưa giờ thì ăn cá là an toàn nhất, bây giờ ăn cá cũng sợ, heo cũng sợ, chẳng biết ăn gì. Nên trong vườn tôi phải trồng rau để mà ăn chứ có dám ăn đồ ngoài chợ nhiều đâu.”
Cơ quan chức năng lúng túng
Hãng thông tấn AFP vào ngày 21 tháng 4 loan tin cơ quan chức năng Việt Nam đang cho điều tra nguyên nhân tình trạng hằng tấn cá chết tấp vào bờ, trong đó có những loài hải sản sống xa bờ. Đây là tình trạng chưa xảy ra bao giờ như thừa nhận của một viên chức thủy sản nói với hãng thông tấn AFP.
Ông Hoàng Dương Tùng, phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên – Môi trường thừa nhận vấn đề rất nghiêm trọng và ông nói đoàn kiểm tra của bộ này đang khi khảo sát ở 4 tỉnh để đánh giá mức độ và phạm vi ảnh hưởng.
Sau khi xảy ra tình trạng hải sản, cá mú chết hằng loạt tấp vào bờ như vừa nêu, một số người dân tự sắm trang thiết bị và lặn xuống vùng biển khu vực Vũng Áng; họ phát hiện cống xả chất thải trực tiếp ra biển nên trình báo với cơ quan chức năng.
Phó thủ tướng Trương Hòa Bình vào ngày 22 tháng tư giao cho Bộ Tài Nguyên – Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan gồm công an, biên phòng… kiểm tra để làm rõ thông tin nghi vấn về đường ống được mô tả là khổng lồ xả thải thẳng ra biển Vũng Áng.
Sang đến ngày 23 tháng tư Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn và bốn tỉnh duyên hải miền Trung gặp nạn cá chết hằng loạt có cuộc họp tại Hà Tĩnh.
Truyền thông trong nước loan tin: tại cuộc họp Trung tâm Quan Trắc Môi trường Miền Bắc báo cáo kết quả phân tích các mẫu thu thập được cho thấy cá chết không do dịch bệnh.
Theo ông Nguyễn Viết Nghĩa, phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hải sản, thì nhận định ban đầu về tình trạng cá chết hàng loạt tại ven biển bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên – Huế trong những ngày qua gần như chắc chắn do độc chất mạnh gây nên; tuy nhiên nguồn phát tán độc chất mạnh đó chưa biết được từ đâu.
Tiếp đến Bộ Công thương Việt Nam cũng có công văn hỏa tốc nói vào ngày 26 tháng tư đoàn công tác của bộ sẽ về Hà Tĩnh kiểm tra tình hình bảo vệ môi trường tại nhà máy bị nghi xả thải ra biển khiến cá chết hàng loạt trong mấy tuần qua từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế.
Theo công văn hỏa tốc được ông bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh phát đi thì vào ngày 26 tháng tư đoàn công tác của Bộ Công Thương sẽ tiến hành kiểm tra tại công ty TNHH Hưng Nghiệp – Formosa tại Vũng Áng.
Tin tức cho biết đoàn công tác kiểm tra của Bộ Công Thương sẽ gồm cục trưởng Cục Kỹ Thuật An Toàn và Môi trường Công nghệ làm trưởng đoàn; các thành viên gồm lãnh đạo của Tổng cục Năng Lượng, lãnh đạo Vụ Công nghiệp Nặng và lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh.
Công tác sẽ gồm việc kiểm tra thực tế tại các khu vực sản xuất, hệ thống xử lý chất thải…
Ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 25 tháng tư tiếp tục chỉ đạo cho các Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Viện Hàn lâm Khoa học – Công nghệ Việt Nam hỗ trợ cho hai bộ Tài nguyên – Môi trường và Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn nhanh chóng làm rõ nguyên nhân gây hiện tượng hải sản chết nhiều tại 4 tỉnh miền Trung.

Nhà máy thép của tập đoàn Đài Loan Formosa tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh chụp hôm 3/12/2015. AFP photo
Phía Công ty TNHH Hưng Nghiệp – Formosa Hà Tĩnh FHS sau khi có thông tin về đường ống xả thải ra biển đã lên tiếng thừa nhận nhà máy có một ống xã thải trong khu công nghiệp rộng 1 mét, dài 1,5 kilomet và nằm sâu dưới lòng biển chừng 17 mét. Mỗi ngày nhà máy của họ xả ra 12 ngàn mét khối nước xả thải, thế nhưng mẫu nước đều đạt theo tiêu chuẩn nước xả thải công nghiệp qui chuẩn năm 2013 của Bộ Tài Nguyên – Môi trường Việt Nam.
Sang đến ngày 25 tháng tư, ông Chu Xuân Phàm, trưởng văn phòng Formosa tại Hà Nội tuyên bố với phóng viên báo Tuổi Trẻ câu nói được báo này mô tả là ‘gây sốc’: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy! Cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được”.
Ý kiến từ xã hội dân sự và chuyên gia
Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải, người được mệnh danh là ‘ông già ozone’ từng giúp chữa bệnh ‘chân, tay miệng’ cho trẻ nhỏ cũng như giúp người chăn nuôi, làm thủy sản tại nhiều nơi khắp Việt Nam có ý kiến về việc truy tìm nguyên nhân cũng như tuyên bố của người đại diện Formosa cho rằng nếu chấp nhận làm nhà máy thép thì phải chịu môi sinh bị tác động:
“Theo tôi nghĩ thực ra việc này rất giản đơn là vì con cá cũng như con người, cũng như con trâu con bò nhiễm phải chất độc thì cũng chết. Con cá ở trong nước nhiễm độc thì chết. Hôm qua tôi có xem được một đoạn băng của VTC thấy nước thải ra ‘đen ngòm’; như thế không cần kiến thức gì cũng biết được do nước thải làm cá chết.
Người ăn nhầm cá chết thì cũng trúng độc.
Nước thải đen như thế lan truyền ra thì làm cho tất cả thủy sinh vật của vùng đó cũng chết. Việc làm đầu tiên là phải kiểm tra tất cả các đường ống nước xả. Việc này không khó đâu vì nước biển trong xanh, chỗ nào đen ngòm ra thì cứ lần theo.
Hôm nay đại diện của Formosa cho biết ‘một là cá, hai là thép’. Đó là lời thách thức toàn thể dân tộc Việt Nam. Việc đầu tiên, đại diện cho toàn thể dân Việt Nam trả lời dứt khoát ‘chúng tôi không cần thép của các ông’, không được phép đầu độc nhân dân chúng tôi.”
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại thuộc Viện Hải Dương Học Nha Trang cũng bảy tỏ quan ngại về tình trạng hải sản chết hằng loạt như vừa qua, cũng như cách xử lý của cơ quan chức năng và những qui định về môi trường của Việt Nam lâu nay:
Việc làm đầu tiên là phải kiểm tra tất cả các đường ống nước xả. Việc này không khó đâu vì nước biển trong xanh, chỗ nào đen ngòm ra thì cứ lần theo.
– Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải
“Có nhiều hệ lụy vì đó là một cấp dinh dưỡng, cấp thực phẩm nên còn về con người nữa. Con vật chết rồi, nhưng những con còn ngắc ngoải ăn con chết vào thì bị ảnh hưởng kéo dài và con người ăn phải con cá đó nữa thì không biết quá trình diễn biến như thế nào nữa.
Việt Nam thì qui định gì cũng có, cũng chặt chẽ, nói rất hay nhưng để thực hiện những qui định đó thì lại khác. Qui định của mình ( Việt Nam) rõ ràng, ‘bay bướm’ lắm. Nói chung soạn thảo thì nhiều, rườm rà lắm, nhưng để thực hiện, để đưa ra ánh sáng, tuân thủ thì còn lỏng lẻo lắm. Như vụ Vedan có giải quyết được gì đâu!”
Tình trạng hải sản chết nhiều như vừa qua không chỉ là thảm họa riêng cho ngư dân trước mắt mà còn có thể tác động đến sinh kế của họ về lâu về dài. Trong thời gian qua có một số tổ chức xã hội dân sự chuyên lo giúp ổn định cuộc sống cho người dân đánh bắt ven bờ; nay khi xảy ra vụ việc hải sản chết hằng loạt chưa rõ nguyên nhân khiến họ cũng lo lắng. Thạc sĩ Nguyễn thị Thu Huệ, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Sinh vật Biển và Phát triển Cộng đồng nói về điều đó:
“Chúng tôi dự kiến họp bàn các tổ chức với nhau để xem có thể tập trung hỗ trợ cho ngư dân những gì trước mắt. Các tổ chức ngoài nhà nước thì dự kiến ngồi với nhay để xem tình trạng này thì có thể giúp đỡ được gì cho người dân. Chúng tôi cũng rất bức xúc, cũng rất băn khoăn nhưng chưa biết làm thế nào.
Chúng tôi chủ yếu làm việc với ngư dân để làm sao tổ chức sản xuất, đời sống ở ven bờ để thích ứng với biến đổi khí hậu thôi; chứ còn kinh nghiệm để đối phó với những việc vừa mới xảy ra thì cũng chưa có kinh nghiệm.
Cho nên trước mắt làm làm việc với Hội Chữ Thập Đỏ để qui tụ một vài tổ chức khác để thảo luận xem những nước khác khi xảy ra vấn đề này thì họ ứng xử như thế nào. Chúng tôi cũng muốn học hỏi để đưa ra giải pháp tốt nhất cho ngư dân. Sáng kiến của tôi là các nhóm ngồi lại để xem mình còn thiếu năng lực, chuyên môn gì thì sẽ nhờ và mời những nhóm khác.”
Cảnh báo?
Thảm họa môi trường từ chủ trương phát triển bằng mọi giá từng được minh chứng ở ngay Trung Quốc.
Hiện nay chính quyền nước này đang phải chỉnh sửa lỗi lầm của chính sách do các thế hệ lãnh đạo trước quyết thực hiện cho bằng được. Nay nhìn lại họ thừa nhận ‘cái được’ không thể nào bù đắp lại cho môi sinh bị hủy hoại.
Những ngư dân đang bị tác động trực tiếp khi không còn nguồn hải sản để đánh bắt mưu sinh hằng ngày, cũng như những ngành nghề liên quan bị ảnh hưởng và những công dân biết quan tâm đến đất nước đang chờ đợi kết luận đúng đắn từ phía cơ quan chức năng về nguyên nhân giết chết hải sản dọc biển bốn tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế.
Rau nhút ‘tắm’ thuốc: Quá tàn nhẫn!
Rau nhút ‘tắm’ thuốc: Quá tàn nhẫn!
Thượng bất chánh thì hạ tất loạn, từ lâu ta đã nghe câu nói này rồi
Người Việt theo sự hướng dẫn của tàu phù mà giết người Việt
Rau nhút ‘tắm’ thuốc: Quá tàn nhẫn!
Rất nhiều bạn đọc đã thốt lên như vậy sau khi đọc bài Rau nhút “tắm” thuốc đăng trên Thanh Niên ngày 12.4.
Bảo vệ an toàn thực phẩm ở đâu ?
Cả một hệ thống quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm mà lại chẳng làm được gì, khi để cho một số người vì lợi nhuận mà đầu độc đồng loại như thế. Họ ở đâu rồi, hỡi các chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm? Tại sao nhà báo lại điều tra được với chứng lý đầy đủ như thế, mà những người lo bảo vệ an toàn sức khỏe cho người dân lại không làm được? Hay họ đang thả nổi tính mạng và sự suy kiệt sức khỏe giống nòi?
Phan Vinh (H.Bình Chánh, TP.HCM)
Khắp nơi đầy rẫy thuốc !
Rau thì “tắm” thuốc, dưa chuột thì ủ thuốc cho trái to đẹp, cà phê thì pha bằng tinh chất hóa học, heo thì cho ăn chất tạo nạc sabutamol, gà thì phết chất ô vàng… Sao lại đầy rẫy thuốc khắp nơi vậy, nhà nước lại chẳng có một chiến dịch tẩy trừ hóa chất độc hại nào. Cá nhân tôi đề nghị, phải “càn quét” các cơ sở kinh doanh hóa chất, phải xử lý hình sự quyết liệt, phải xem đây là vấn nạn quốc gia. Có như vậy mới mong giữ bình yên cho cuộc sống người dân.
Nguyễn Tại (Q.Gò Vấp, TP.HCM)
Tàn nhẫn quá !
Đọc bài báo mà tôi rùng mình. Những cọng rau nhút trông có vẻ xanh tươi ngon lành được nhúng vào nồi lẩu mà tôi và gia đình thường ăn, hóa ra đã bị “tắm” thuốc. Ở đô thị, đất không có để trồng rau, thì làm sao lại không phụ thuộc vào rau mua ở chợ. Biết rằng có những phiên chợ rau sạch, nhưng năm thì mười họa mới tổ chức, hoặc nhu cầu quá lớn nên không đáp ứng nổi. Vậy là tôi đành mua rau ở đường, ở chợ. Nay biết chuyện này thì kêu ai đây?
Lê Thị Thắm (Q.Bình Thạnh, TP.HCM)
Không lẽ bó tay chờ… chết ?
Ai đã kinh doanh, buôn bán các loại thuốc độc hại đó? Quản lý nhà nước ở đâu, sao thuốc không rõ nguồn gốc, không nhãn mác, không được kiểm nghiệm lại bán rẻ như cho vậy? Không lẽ cả một dân tộc này lại bị đẩy vào tình thế bó tay chờ… chết? Những người có lương tri và trách nhiệm hãy hình dung những đứa trẻ vẫn ngày ngày ăn thịt độc, rau độc như uống thuốc độc từ từ vào cơ thể, làm sao chúng sống và lớn lên khỏe mạnh được?
Đình Dũng (Q.12, TP.HCM)
Tại sao họ vô cảm ?
Nghe những người bán rau nhút kể một cách “hồn nhiên” với nhà báo về quy trình “tắm” thuốc vào rau mà ớn lạnh! Chẳng lẽ họ không biết gì về chuyện người ăn rau của họ sẽ bị nguy hiểm sao? Tại sao họ lại vô cảm với đồng loại đến thế? Còn những người nhập, sản xuất và buôn bán thuốc tăng trưởng cho rau xanh, chẳng lẽ họ không biết đó là thuốc độc sao? Họ sẽ nhận được gì mai sau, nếu bây giờ họ kinh doanh vô phước vô đức như thế?
Văn Danh (Q.Phú Nhuận, TP.HCM)
Ban CTBĐ (tổng hợp)
Không chỉ rau nhút mà ngay cả rau bồ ngót cũng “tắm” đầy thuốc cho xanh, cho mướt. Bây giờ ăn cái gì cũng sợ, đụng rau gì cũng sợ. Trồng rau tại nhà thì không có thời gian nên không biết phải ăn rau gì. Tôi chỉ mong các cơ quan chức năng dẹp được vấn nạn người dân cứ vô tư “hạ độc” đồng loại của mình.
Nguyễn Thị Thùy Dung (H.Bình Chánh, TP.HCM)
Tôi thường đi ngang đại lộ Nguyễn Văn Linh và cũng từng dừng lại chỗ mọi người bán rau nhút để mua. Đọc xong bài viết này tôi tá hỏa, hóa ra lâu nay tôi ăn phải rau độc mà không biết? Bây giờ để kiện những người này thì biết lấy chứng cứ gì để kiện khi rau thì đã ăn rồi?
Phan Hoài Phương (Q.4, TP.HCM)
An Phong – Duy Khang
(thực hiện)
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi
Một làn khói trắng,
Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Sáu Phục Sinh năm C 01/5/2016
“Một làn khói trắng,”
“Du đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau.”
(Vũ Thành An – Bài Không Tên số 7)
(Công Vụ 10: 34-35)
Trần Ngọc Mười Hai
Không tên hay có tên, vẫn một bài hát ấy, cứ lờ-mờ như làn “khói trắng”, rồi “du đời vào quên lãng” và “hơ dịu một tình đau.” Thế đó, là giòng nhạc có tình-tự thi-ca cũng rất cổ. Thi-ca cổ đây, là giòng thơ/âm-nhạc vẫn dìu người hát và người nghe đi vào chốn hồn người có nhịp-điệu nhịp “Slow” êm-ả, tình-tứ, khá lãng-mạn.
Còn gì lãng-mạn và trữ-tình bằng những ca-từ liên-tiếp hát như sau:
“Ngày tàn im ắng,
Yêu người làm tóc trắng.
Tâm sự rồi đến đắng,
Như lệ giờ biết nhau.
Đêm vỗ về nuôi nấng
Đêm trao ngọt ngào hương phấn
Buông lơi dòng tóc mỡ
Trên vùng ngày tháng vật vờ.”
(Vũ Thành An – bđd)
Vâng. Dù cho “tâm-sự ngày rất đắng” đến như thế, lại có “đêm vỗ về nuôi-nấng”, đôi lúc còn “buông lơi giòng tóc mỡ”, “trên vùng ngày tháng vật-vờ”, cả đời người.
Vâng. Đời người đi Đạo nay cũng thế. Vẫn thấy “tháng ngày vật-vờ”, vẩn vơ, “ú ớ” cũng rất nhiều. Nhiều, như lập-trường tư-tưởng những là thần-học mù-mờ, vu vơ thật rất nản.
Ấy chết! Có nản hay không do lời-lẽ hoặc ý-nghĩa vẩn vơ, “ú-ớ” ở lời kinh/câu hát nào! Nản một nỗi, là khi các cụ cứ “lửng-lơ-con-cá-vàng-trong-chậu-nước”, âm-thầm như một nhận-định ở giòng chảy trên mạng với chi-tiết sau đây:
“Cách nay 50 năm, tuần-báo Time có đăng ở trang bìa một giòng chữ rất lớn với câu hỏi: “Thượng Đế đã chết thật rồi sao?” Đây là câu-hỏi nóng, do nhà thần-học và triết-gia nọ khi trước từng để ra với thế-giới trần-tục ở phương Tây. Và, các chế-độ vô-thần lâu nay vẫn khuynh-loát phần còn sót của nhân-loại!
Hôm nay, một trong các chế-độ xưa/cổ ấy đã biến dạng. Và tôn-giáo, nay đang đoạt lại chỗ đứng của mình trong cuộc sống ở Nga và một số nước. Có chế-độ còn sửa-đổi cả lề lối chống-báng đạo-giáo mạnh đến độ: hôm nay, có đến chục triệu người Trung Hoa đã và đang trở-thành tín-hữu Đạo Chúa rất hiên-ngang. Nhà cầm quyền nước này, cũng đã quay lại hầu chuyện Đức Giáo-Chủ Công-giáo La Mã.
Riêng Châu Phi và nhiều nước Trung Đông, các nhóm/phái giáo-hội được hoạt động đến 100% khả-năng của mình. Tại Ấn Độ và các nước đang phát triển, dù theo đạo Chúa hoặc Hồi giáo, dù thuộc Ấn giáo hay đạo Phật, hiện vẫn thấy tồn tại một sức mạnh văn hóa, thật dũng-mãnh…
Nhưng, hỏi rằng: ở thế kỷ 21 này, Thiên Chúa có chết thật chăng? Câu trả lời ở đây, đang vang rền một tiếng “không” rất mạnh! Không. Ngài “không chết đâu anh!” Thật ra, đó chỉ là nỗ-lực của một số người muốn giết chết niềm tin của người đi Đạo, đến tận tuyệt, mà thôi.
Ở trời Tây bên ấy, điều này chừng như là mục-tiêu giết chết niềm tin của người đi Đạo vốn dĩ xảy ra qua ba đường-lối: một là, phong-trào trần-tục-hoá Đạo Chúa và nỗ-lực biến Đạo-giáo thành chốn/miền trần-tục, và/hoặc lèo lái đạo-giáo cho xa rời đời sống của chúng dân, thôi.
Thứ hai, là: các nỗ-lực như thế, nay bắt đầu cho thấy tự-do tôn-giáo không còn là vấn-đề sống còn chỉ ở Trung-Hoa, Pakistan, hoặc Ả Rập Sauđi thôi, nhưng cả đến các quốc-gia lâu nay từng chủ-trương cách-mạng giới-tính; đồng thời, họ lại đưa ra nhiều biện-pháp quyết hợp-thức-hoá phá thai, coi “đồng tính luyến-ái” như chuyện thường-tình; và mới đây nhất, họ còn tạo cởi mở về tính-chất phức-hợp/đa-dạng về giới-tính của con người nữa.
Nỗ-lực đây, lại đã kèm theo đòi hỏi về nhân-quyền có sự hợp-lực của luật pháp lâu nay vẫn mâu-thuẫn với niềm tin Do-thái-giáo và Hồi-giáo chuyên đặt nặng nhân-phẩm và sự phát-triển nhân-vị. Những thứ này, cùng với quyền-lợi mới được tạo đã khiến một số nhà cầm-quyền chấp-nhận cho chủ-nghĩa trần-tục và cảm-xúc dần dà chiếm-ngự tôn-giáo.
Tựu-trung thì: vấn-đề tự-do tôn-giáo không nghiêm-trọng như trước; và vì thế, các tín-hữu không còn bị hố sâu ngăn-cách gây xung-đột trong cộng-đoàn kẻ tin nữa. Và, các nhà thần-học vẫn bận-tâm chuyện “Thiên-Chúa đã chết rồi”, như tác-giả John T. Elson từng viết bài trên báo vào năm 1966 đã khẳng-định rằng: “Thiên-Chúa chết thật rồi!”
Dù có thế, ông vẫn đề-nghị mọi người hãy sống trung-thành với niềm tin mình có. Tác-giả, tuy đã viết về thứ “thần-học không có thần-linh” nhưng theo ông, Thiên-Chúa vẫn đồng-hành với ta cách này/cách khác. (X. Carolyn Moynihan, Is God dead? No, but our faith may be ailing, MercatoNet 08/4/2016)
Ấy đấy, là tâm-tư/tự-sự của người viết ở ngoài đời bàn chuyện cho vui, thôi. Chứ, bà đâu đòi một chuyển-đổi nào nơi nhà Đạo, ở trời Tây. Nhưng, đây lại là lập-trường “ngoài Đạo” của nghệ-sĩ đời với câu hát không mang tính thần-học nào hết, dù ông nay đã là “phó-tế vinh-viễn” ở Đạo Chúa rất Kitô. Lập-trường ông đề ra, là ý-tưởng vang bóng một thời về nữ-phụ, rồi gọi đó là “Bài Không Tên số 7”, như sau:
“Thân em rồi hoang phế,
Lê theo thời gian giông gió.
Thôi cũng đành cúi xuống,
Cho mộng đời thoát đi.
Một đời đổ cho tình yêu,
Từng đêm dòng nước mắt.
Sẽ nâng niu đời nhau (ừ) Đớn đau anh.
Sẽ cho nhau đời nhau (ừ) Xót xa em.
Dắt đưa nhau mối hận đời người.
Trả lại nước mắt,
Cho mệnh đời son sắt.
Thôi rồi em cũng mất,
Cho tình cúi đầu.
Một mình đi mãi.
Trên đường dài không thấy.
Ai người quen tôi đấy.
Bao giờ đời sẽ vơi.”
Vũ Thành An – bđd)
Ấy! Thôi chết thật rồi bạn ơi, thế có khiếp không! Chết, là bởi: nếu bạn cứ tin rằng điều đó có thật, rất trữ-tình, thì đây: một tình-tự khác tuy không láng-mướt như một giảng-dạy rất hay ho, ở bên dưới.
Đó, là lập-trường thần-học của đấng bậc nọ ở trời Tây từng thổ-lộ:
“Có thể nói, một nhận-định lạ-lùng về bất cứ văn-bản chữ viết bắt gặp ở lịch-sử, là: lời-lẽ trong đó có chứa-đựng một thứ gì gọi là “Lời Chúa”. Khẳng-định như thế, tức bảo rằng: Thiên-Chúa là hữu-thể rất giống “con người”, ở một điểm là: Ngài cũng có khả-năng nói như con người và cho con người bằng ngôn-ngữ khiến họ hiểu được. Và, cả đến lập-trường/chủ-trương quyết rằng Thiên-Chúa đã “đầu-tư” một cách mật-thiết vào cuộc sống của con người theo dạng “thu nhỏ”.
Thật ra, chẳng cần gì phải ưu-tư/bối-rối chút nào vì những khẳng-định như thế đã được đưa ra suốt chiều dài lịch-sử ở phương Phương theo kiểu-cách nào đó, mà ta gọi là Kinh/Sách. Nhưng, tín-hữu Đạo Chúa chẳng khi nào coi trọng các đòi-hỏi của người “ngoài Đạo”, hết. Nói như thế, tức bảo rằng: các đòi-hỏi ở đây đã đến từ nguồn văn không thuộc về Đạo Chúa, vẫn bị coi là phi-lý.
Tuy nhiên, ta cũng chẳng cần đi đâu xa mới nhận ra rằng: Đạo Chúa diễn-tả điều này đều được bộc lộ bằng nghi-thức phụng-vụ thật đích-xác. Chẳng hạn như câu nói “Đó là Lời Chúa” ta vẫn quen nghe vào lúc kết-thúc các bài Sách thánh đọc ở thánh-lễ Chúa Nhật mà các Giáo-hội đều đưa vào phụng-vụ. Và, khi nghe câu nói ấy, cộng-đoàn dự lễ đều đồng-thanh đáp-ứng bằng câu thưa: “Tạ ơn Chúa”.
Ở một số Giáo-hội chuyên rao-giảng Lời Chúa, những câu đáp/trả như thế còn nở rộ hơn nữa. Có Giáo-hội còn thay-đổi lời công-bố sau Phúc Âm bằng những lời như: “Xin Thiên Chúa chúc phúc thêm cho người đọc Lời Ngài ở đây hôm nay.”
Tóm lại, gọi Kinh Sách là “Lời của Chúa” là điều thường tình trong truyền-thống từng khiến cho lưỡi ta uốn cong/tròn theo quán-tính, rất thuộc lòng nhưng ít khi ta để tâm ra tìm-hiểu xem điều ta nói như thế có nghĩa gì đích-thực.
Và rồi, vào các buổi chia-sẻ/học-hỏi Lời Kinh thánh trong Giáo-hội về một số vấn-đề xã-hội lớn lao, giới-chức có thẩm-quyền đều trích-dẫn hầu như thường-xuyên các văn-bản của Sách thánh. Và đấng bậc trích-dẫn những Lời rút từ Kinh thánh lại cứ cho rằng Kinh Sách rất thánh thật sự được đầu-tư với quyền-uy thế-lực của Đức Chúa…” (X. Tgm John Shelby Spong, A Claim that cannot endure, trong The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005, tr. 15-16)
Thật tình mà nói, kể chuyện đời bằng lời lẽ của đấng bậc nhà Đạo bàn chuyện Đạo với lời lẽ rất đạo-mạo, thì như thế vẫn rất tuyệt. Kể chuyện đạo-làm-người ở đời, cũng có người từng kể theo cách-thức hoàn-toàn khác-biệt. Khác, như vị thiền-sư Phật-giáo nọ cũng kể như sau:
Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi bái kiến một
vị thiền sư :
– Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không ?
– Có .
– Nhưng , vận mệnh của con ở đâu ?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra , chỉ anh ta xem và nói :
– Con thấy rõ chưa ? Đường này là đường tình cảm , đường này gọi là đường sự nghiệp , còn đường kia là đường sinh mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại , nắm thật chặt.
Thiền sư hỏi :
– Con nói xem , những đường đó nằm ở đâu rồi
Anh ta mơ hồ bảo :
– Trong tay con này .
– Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Vâng. Người kể hôm nay lại đính kèm thêm lời bàn, bảo rằng: vận-mệnh con người nằm gọn trong tay mình. Nhưng, nhiều thứ khác, tuy không gọi là vận-mệnh của trời của Phật, của đất trời, cũng khó biết.
Lời người kể lại cũng nói: người thanh-niên kia mỉm cười nhận ra vận-mệnh nằm ở trong tay mình. Nếu không tu, thì cứ sống theo nhân/quả đã có do nghiệp tạo. Có tu, thì dừng nghiệp và chuyển nghiệp. Nghiệp đổi, số phận đổi, tốt/xấu là do cách ta chuyển nghiệp, mà thôi.
Và người kể, còn thêm đôi ba nhận-định về chữ-nghĩa con người, rất để đời như sau:
SỰ THẬT có 6 chữ
GIẢ DỐI cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!
TÌNH YÊU có 7 chữ
PHẢN BỘI cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.
Chữ YÊU là 3 chữ
HẬN là ba, giống nhau.
Người say men Hạnh phúc
Kẻ thành Lý Mạc Sầu.
BẠN BÈ có 5 chữ
KẺ THÙ đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật
Hôm nay chìa.. dao găm.
Từ VUI có 3 chữ
Tiếng SẦU cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.
Chữ KHÓC có 4 chữ
CƯỜI cũng vậy giống in
Ai “giòn cười tươi khóc”
Ai cảm thọ nhận chìm
Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ.”
(Nhận-định vận-mệnh, do Thích Tâm Tánh gửi trên mạng cho mọi người được đọc).
Suy về lời-lẽ/chữ-nghĩa của con người, tưởng cũng nên suy thêm về Lời của Đấng Thánh Nhân-Hiền từng nói cho con người và với con người như sau:
“Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng nói:
“Quả thật,
tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào.
Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa
và ăn ngay ở lành,
thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào,
cũng đều được Người tiếp nhận.
Ngài đã gửi đến cho con cái nhà Israel
Lời loan báo Tin Mừng bình an,
nhờ Đức Giêsu Kitô,
là Chúa của mọi người.”
(Công Vụ 10: 34-35)
Thành thử, chiếu theo những điều thánh-nhân hiền-lành trong Đạo từng nhận-định về “Lời” và lẽ rất chân-chính, thì cũng nên phân-biệt hai chữ “vận-mệnh” theo định-luật “dừng” nghiệp và “chuyển” nghiệp nơi lời lẽ, là như thế.
Nhưng, như thế vẫn chưa hẳn là có thể chuyển/đổi cuộc sống mà tin-tưởng vào “tình-thương-không-nghiệp-chướng”, rất vô bờ của Thiên-Chúa Đấng đã gửi “Lời” đến với ta, tình thương-yêu của Ngài, bao giờ cũng mạnh hơn nghiệp/chướng và vận-mệnh của bất cứ ai, trên đời này.
Là người, ai cũng có thể dùng tình thương-yêu rộng-mở đến với mọi người để mà “dừng”/mà “chuyển” cả vận-mệnh lẫn cái nghiệp-(rất)-chướng của con người. Không tình-thương, chắc chẳng ai thể làm được gì, kể cả những thứ rất chướng của nghiệp-dĩ hoặc “vận-mệnh” con người. Đó, là sự thật mà con người vẫn tìm kiếm mãi suốt đời mình.
Nói thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta hãy cất cao tiếng/giọng mà ca lên lời trần-tình rất thi-tứ của người nghệ-sĩ từng đề ra, cả khi chưa trở-thành “Phó-tế Vĩnh-viễn” trong Đạo Chúa. Những lời và lời như thế, vẫn được cất lên như sau:
“Thân em rồi hoang phế,
Lê theo thời gian giông gió.
Thôi cũng đành cúi xuống,
Cho mộng đời thoát đi.
Một đời đổ cho tình yêu,
Từng đêm dòng nước mắt.
Sẽ nâng niu đời nhau (ừ) Đớn đau anh.
Sẽ cho nhau đời nhau (ừ) Xót sa em.
Dắt đưa nhau mối hận đời người.
Trả lại nước mắt,
Cho mệnh đời son sắt.
Thôi rồi em cũng mất,
Cho tình cúi đầu.
Một mình đi mãi.
Trên đường dài không thấy.
Ai người quen tôi đấy.
Bao giờ đời sẽ vơi.”
(Vũ Thành An – bđd)
Chính thế. Trên con đường dài cuộc đời, ta dù có thấy hay không thấy được ý-nghĩa của lời người nói ở đâu đó, vốn dĩ là “người quen mình đấy”, rồi cuộc đời sẽ vơi đi “nỗi buồn không tên” rất số 7, mà thôi.
Đúng vậy. Trên đường đời đi Đạo cũng thế, dù bạn và tôi, ta đã nghe rất nhiều lần “Lời” Kinh ở đâu đó trong Đạo hay ngoài đời, rồi cũng sẽ như “một đời đổ cho tình yêu”, “sẽ nâng niu đời nhau (ừ) đớn đau!”
Đúng là như thế. Lời thương-yêu, vẫn có thể chuyển-đổi cả một đời người. Vẫn rất vui.
Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng có
Mối tâm-tư buồn cho chính mình,
Nhưng không phải
Bài Không Tên số 7.
Em gọi tên Người, gọi khàn hơi,
Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Sáu Phục Sinh năm C 24/4/2016
Tin Mừng: (Ga 14: 23-29)
Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng:
“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.
Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. Anh em đã nghe Thầy bảo: “Thầy ra đi và đến cùng anh em”. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.”
“Em gọi tên Người, gọi khàn hơi,”
Dư-âm dội, tâm nhói rã-rời.
Khuya đã tàn dần, bình-minh đến,
Hồn-nhiên lại hẹn, chẳng giữ lời.
Để em hoài-vọng một niềm vui.”
(dẫn từ thơ Niệm Nhiên)
Mai Tá lược dịch.
Gọi mãi tên Người, em gọi khàn cả hơi. Gọi từ khuya-khoắt tàn dần, chợt bình-minh đến. Gọi hồn-nhiên tên Người, để em về hoài-vọng một niềm vui. Niềm vui hứa tặng, nay Ngài giữ. Giữ trọn Lời, trình-thuật ghi rõ đến hôm nay.
Trình-thuật hôm nay, thánh Gioan-Tin-Mừng nói: Ngài giữ Lời. Ngài giữ lời Ngài đã hứa với hết mọi người. Với, cả đồ-đệ lẫn dân con nhà Đạo ở khắp nơi. Lời hứa ấy thánh-nhân ghi thế này: “Ai yêu mến Thày, thì sẽ giữ Lời Thày. Và, Cha Thày sẽ yêu mến người ấy. Và Cha Thày sẽ ở lại với người ấy.” (Ga 14: 23).
Lâu nay, người đời quan-niệm rằng: Yêu-thương không là cảm-xúc nhè nhẹ, chóng qua; nhưng là động-thái đích-thực xuất-phát từ tâm can con người, chẳng làm sao có thể thương được người nếu không thực-sự biết yêu. Trong ca nhạc kịch “My Fair Lady”, Eliza Doolittle có nói với Giáo-sư Higgins, là: “Chớ nói nhiều về tình-yêu, nhưng hãy xác-chứng.” Và, ai trong chúng ta cũng có thể bắt đầu tiến-trình yêu-đương ngay bây giờ. Đừng để người khác bắt đầu trước.
Với Đức Kitô, tình yêu thương Ngài đề cập, chính là động thái “yêu”. Yêu là tình hoàn chỉnh được thể hiện bằng việc “tuân giữ Lời”. Lời Ngài khuyên, không chỉ giới hạn nơi những ta gọi là “Mười điều răn” hoặc vào “tín lý” của Đạo. Các hành xử mang tính linh đạo ta có xưa nay, dù bao gộp rất nhiều điều, đã chắc gì do “yêu”, mà ra. Yêu là tuân giữ “Lời” của Chúa. Yêu, bao gồm trọn vẹn những gì ta hiểu về Ngài, qua Kinh Thánh.
Lời của Chúa. Việc Ngài làm. Tương quan Ngài vẫn có với con người ở trần gian, nhất nhất đều là “Lời”. Lời, cũng là nguyên tắc Ngài sống. Lời, là giá trị Ngài ban bố; là cách xử sự Ngài thường làm gương. Nhưng, trên hết mọi sự, đó là điều cốt thiết để kiến tạo Vương quốc của Ngài, ở trần gian.Đức Kitô chính là “Lời” của Chúa, bằng xương bằng thịt. Lời Ngài, không chỉ là những gì được biểu lộ ra bên ngoài từ miệng Ngài, mà thôi.
Nhưng, “Lời” Ngài xuất trọn từ cuộc sống của Ngài. Cuộc sống ấy, khởi đầu từ giây phút Hài Nhi Giê-su nằm lạnh run nơi chuồng bò rất hôi ở căn nhà làng Bét-lê-hem. Và, cuộc sống ấy ngang qua chặng đường rao giảng Nước Trời; kéo dài mãi cho đến phút giây tận cùng Ngài, bỏ mình trên thập tự.
Tuân giữ “Lời”, là ôm trọn lấy Ngài, cả khi vui cũng như lúc buồn. Tuân giữ Lời, là đồng hóa với Chúa, biến Lời thành hiện thực trong bối cảnh rất riêng, của đời mình. Có thể nói: “Lời” của Ngài đến với ta từ những hành xử, cùng kinh nghiệm ta có với cộng đồng thân thương, người nhà. Ở nơi đó, Đức Chúa vẫn cứ phán. Từ nơi đây, Chúa vẫn bày tỏ với ta, từng người một.
Chính, ngang qua cộng đồng thân thương nhà Đạo; cộng đồng, với mọi lỗi lầm sơ xuất, luôn xảy đến với rất nhiều lầm lỡ, mà Thần Linh Chúa đang tiếp tục nói. Ngài vẫn tiếp tục soi tỏ cho ta. Ngài soi sáng như đã từng tỏ bày ra với đồ đệ Đức Kitô, thời tiên khởi. Thần Linh Chúa soi sáng và tỏ bày không chỉ qua các vị Giáo hoàng, hàng giáo phẩm hoặc giới giáo sĩ, tu sĩ mà thôi; nhưng qua mỗi người và mọi người.
Bởi, tất cả đều là thân mình của Đức Kitô. Tất cả, từ già đến trẻ, nam nữ có học hay đã bỏ học, bạn bè hoặc kẻ thù nghịch. Không ngoại trừ một ai. Tất cả cần tuân giữ Lời. Cần nghe theo Lời.
Ngày nay, các đấng vị vọng thuộc cộng đồng dân Chúa được thôi thúc hãy biết nghe nhau. Nghe nhau, là lắng tai để ý đến toàn cộng đoàn dân Ngài. Hiến Chế Tông Đồ Giáo Dân, thời Công Đồng Vatican II, có đoạn 10, đã phán quyết: các tầng lớp giáo dân phải “triển khai thói quen đưa mọi vấn đề ra trước cộng đoàn giáo hội. Từ những vấn đề có tính cách riêng tư cá nhân, đến các vấn đề của thế giới và cả những vấn nạn về ơn cứu chuộc con người nữa, để rồi ta cùng nhau tìm hiểu và giải quyết chúng bằng các buổi thương thảo thường kỳ.”
Tuân giữ Lời, là cùng nhau ta thực hiện những việc chung, mà Ngài ủy thác cho hội thánh, ngay từ đầu. Cả những tập tục như: “cắt bì”, ăn đồ dâng cúng ngẫu tượng, kiêng thịt động vật không cắt tiết, tránh gian dâm, tránh đối kháng với các đổi thay như đã đề cập trong sách công vụ tông đồ, đọc hôm nay. Tuân giữ Lời, còn phải hiểu là các quyết định của Hội thánh “vốn được Thần Linh Chúa soi tỏ” có sự đồng thuận của mọi thành viên, là chúng ta. Là Hội rất thánh.
Tuân giữ Lời, còn vì Lời Ngài là Lời ta nghe được từ Đức Kitô. Thầy chính “từ Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy”mà ra (Yn 14: 24). Và, tuân giữ Lời Thầy, là bởi vì: “Đấng Bầu Chữa là Thánh Thần, Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Chính Ngài sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ nhắc anh em nhớ mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Yn 14: 26). Và, dựa vào những gì đã và đang xảy đến với Hội thánh, quả nhiên Thánh Thần Chúa vẫn đang dạy ta biết tuân giữ Lời, thời đại này.
Và, vì Thánh Thần Chúa vẫn nói qua Hội thánh, nên rất nhiều thành viên trong cộng đồng dân Chúa, đã sống kinh nghiệm. Kinh nghiệm, biết thân thiện cởi mở để có đổi thay. Thay đổi tự căn bản, ngõ hầu sự thật và việc tuân giữ Lời trong thực tế, đều đi vào hiện thực. Và, thánh Phaolô cũng đã cảnh báo dân con cộng đồng nhà Đạo chớ có theo “đường xưa lối cũ” trở về với tập tục “cắt bì”, như thánh nhân đã có thư cho cộng đoàn (Ga 5: 1-6).
Hội thánh hôm nay, nhiều người vẫn muốn quay ngược kim đồng hồ, trở về với lề lối thói tục, thời đã qua bằng cách áp-dụng nhiều tập-tục cổ xưa. Áp đặt luật lệ trên người khác, như: trở về với thánh lễ bằng tiếng La tinh, là một ví dụ. Nếu cứ tiếp tục như thế, những người ấy sẽ tra tay dẫn dắt hội thánh về cuối đường hầm, không lối thoát. Thực tế, Hội thánh trước tiên là cỗ xe, một phương tiên qua đó các kinh nghiệm về tình thương yêu của Chúa được dàn trải dài rộng, cho toàn thế giới.
Hội thánh sống trung thực với Thánh Thần Chúa, phải tuân giữ Lời Thầy. Biết mở ra với thế giới bên ngoài. Bởi, như nhà thần học nọ từng nói: thế giới nay “đang viết lịch trình giùm Hội thánh.” Thành thử ra, biết lắng nghe tình cảnh của những người không-phải-là-Do thái vừa mới trở lại, Hội thánh nay nhận ra, rằng: Thánh Thần Chúa đang dẫn dắt mình qua nhiều giai đoạn.
Và, một khi Hội thánh trở nên một xã hội đóng kín, ưu việt và riêng lẻ, có những phán đoán không thể đảo ngược được và chỉ muốn ngồi trên số phần còn lại của thế giới, thôi; thì lúc ấy, Hội thánh không còn là Giáo hội do Đức Kitô thiết lập, nữa. Tức, không nghe và không giữ Lời Ngài.
Cùng nhau và từng người một, ta cần đề cao cảnh tỉnh về đường lối tuyệt vời qua đó Chúa sẽ đến với ta, vào thời buổi này. Mỗi ngày, chỉ tặng Chúa một chút thời gian và chỉ cần chịu ngồi lại thêm vài khoảnh khắc nữa, ta sẽ cảm nghiệm được khát vọng to lớn mà chia sẻ tình thương yêu xuất từ bên trong ta, đạt đến Chúa
Từ đó, tình thương sẽ bắt đầu từ chính ta, ra với người ngoài. Thật sự, Chúa vẫn muốn san sẻ với ta nhiều hơn nữa. San sẻ những gì Ngài có. San sẻ, những gì đích thực là Ngài. Và, vấn đề là: phần đông chúng ta ít có khi trao tặng Ngài dù chỉ một cơ hội, ngắn và gọn nhỏ. Xét cho cùng, yêu thương không là một động từ. Mà, đó là con đường ta vẫn chọn con đường hai chiều, dành sẵn với hành trang, để ta đi. Con đường rao truyền Lời của Chúa, có yêu thương đùm bọc rất kiên-cường.
Thực tế tuân giữ Lời hoặc “yêu mến Thầy”, vẫn là kinh nghiệm sống rất bổng trầm theo thời tiết “sáng nắng chiều mưa, trưa ủ giời”. Có những ngày, ta nghĩ mình không thể ngồi lại với Ngài thêm được khoảnh khắc nào, nữa. Vì, đang bị ràng buộc bởi nhiều thứ “công chuyện” rất bận. Dù gì đi nữa, Thầy vẫn ở lại với ta. Và, Thầy vẫn giữ Lời.
Vấn đề còn lại, là: ta sẽ đối xử ra sao với Người yêu dấu đã từng hứa. Và từng giữ Lời
Lm Richard Leonard sj
Mai Tá lược dịch.
VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI ĐỨNG MỘT MÌNH
VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI ĐỨNG MỘT MÌNH
“Chúa Trời đứng một mình – nhưng quỷ sứ thì trái lại, nó tìm tới hội đoàn, nó nhiều vô kể” Henry David Thoreau
Đứng một mình không dễ. Không những nó có thể làm ta không được ưa thích, khi một mình, nhà văn Đan Mạch Dorthe Nors viết, chúng ta phải đối diện với cảm xúc của ta, quá khứ của ta, cuộc đời của ta, những vấp váp, sai lầm của ta, ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé. Cần lòng dũng cảm để không lẩn tránh chúng. Đổi lại, điều ta nhận được là một sự vững vàng mà không phải bám víu vào sự tung hô của người khác. Một mình nhưng không cô đơn. Triết gia thế kỷ 19 Henry David Thoreau viết: “Tôi không cô đơn hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay một cây chua me đất, hay một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn ngôi sao Bắc Đẩu, hay một ngọn gió nam, hay một cơn mưa tháng tư, hay băng tan tháng giêng.”
“Mọi vấn đề của con người xuất phát từ chỗ họ không thể ngồi yên một mình trong phòng” – nhà toán học và triết học Pháp Blaise Pascal đã nói vậy vào giữa thế kỷ 17…
Căn nguyên của các rắc rối, theo ông, là chúng ta luôn tìm cách chạy trốn bản thân. Không muốn đối diện với chính mình, tâm trí con người luôn lùng sục điều kích thích tiếp theo, như một con khỉ không thể ngừng văng mình tới cành cây trước mặt. Từ cãi vã với hàng xóm tới xung đột giữa các quốc gia, nhiều điều tệ hại bắt nguồn từ lý do này.
Chạy trốn bản thân
Năm ngoái, câu nói của Pascal được khoa học xác nhận. Trong một thí nghiệm của Trường đại học Virginia (Mỹ), những người tham gia được yêu cầu ngồi một mình 15 phút trong một căn phòng trống trơn, không có gì cả, ngoài một cái nút. Nếu bấm nút, họ sẽ bị điện giật.
Lẽ ra khoảng thời gian yên tĩnh này là cơ hội để người ta dừng lại, suy nghĩ, hồi tưởng, mơ màng. Nhưng với nhiều người, đó là một cực hình, đến nỗi họ tự nguyện bấm nút giật điện bản thân chỉ để có cái gì đó để làm, mặc dù trước khi thí nghiệm bắt đầu, họ đã được thử mức độ điện giật và ai cũng xác nhận là có được trả tiền cũng không muốn bị vậy.
Nếu sống ở đầu thế kỷ 21, chắc hẳn Pascal đã diễn tả khác đi một chút: “Mọi cái tệ hại của con người tới từ chỗ họ không thể rời cái điện thoại thông minh để ngồi yên một mình.”
Chưa bao giờ người ta lại dễ dàng chạy trốn bản thân như bây giờ. Không cần phải đợi về tới nhà để bật tivi lên nữa, bất cứ lúc nào và ở đâu, chỉ cần một cái gõ lên màn hình điện thoại là người ta sẽ được cuốn ra cái biển âm thanh hỗn độn của mạng xã hội.
Trong các quán cà phê, trên taxi, ở công viên, đâu đâu cũng là những con người toàn thân bất động, trừ một ngón tay cái đẩy lên đẩy xuống, mắt nhìn xuống, mặt vô hồn. Xác họ ở đó, nhưng hồn họ thì đang xô đẩy trong đám đông nhốn nháo trên mạng.
Túc trực từ sáng tới tối, đám đông này làu bàu, gầm gừ, lê lết từ tường nhà này tới tường nhà kia, từ trang tin này tới diễn đàn nọ, giật status, like, share, còm, kết bạn, theo dõi, block. Trên mạng, con khỉ tâm trí có vô vàn cành cây để nhảy nhót.
Con người hiện đại không biết phải làm gì với chính mình, và nếu người ta sẵn sàng giật điện bản thân chỉ vì buồn chán thì chúng ta có thể hình dung họ có thể làm những gì với người khác. Đám đông ưa thích hai trạng thái, một là dạy dỗ, chỉ bảo, ban phát lòng thương; hai là chê bai, giễu cợt, phẫn nộ.
Lúc nào cũng đắc thắng, họ luôn tin rằng mình đúng và thế giới cần phải biết tới các phát ngôn của mình. Không trực tiếp làm chết người như đánh trộm chó ở ngoài đời, họ truy lùng và dồn các nạn nhân của mình vào chân tường cho tới khi những người này phải tự tử như cô bé bị lộ video clip, hay phải van xin như cậu thanh niên Hào Anh: “Đừng cho tôi thêm gì nữa. Xin mọi người cho tôi được sống tự nhiên.”
Năm 2012, một nghiên cứu của Đại học Chicago cho thấy cưỡng lại thèm khát truy cập mạng xã hội còn khó khăn hơn khước từ thức ăn và tình dục. Sức hấp dẫn của mạng xã hội tới từ chỗ nó cho người ta một không gian để trình diễn. Ai cũng có công chúng.
Câu của Andy Warhol – một họa sĩ Mỹ nổi tiếng về nghệ thuật đại chúng (pop art): “Trong tương lai, mỗi người sẽ nổi tiếng 15 phút” có thể được bổ sung thêm: “Mỗi người sẽ nổi tiếng với 15 người.” Mỗi cái like, chia sẻ, bình luận tán thưởng là thêm một mơn trớn cho cái tôi của người đăng tin, một lần nữa khẳng định giá trị, trí thông minh, sự hóm hỉnh của họ, dù đó chỉ là bức ảnh chụp bát bún thang buổi trưa.
Trên mạng xã hội, mỗi người là một ông bầu của chính mình trong công cuộc xây dựng hình ảnh cá nhân. Chúng ta trở nên kỳ quặc mà không hề biết.
Hãy hình dung cách đây mười năm, trong một buổi họp lớp, một người bỗng nhiên liên tiếp quẳng ảnh con cái, ảnh dã ngoại công ty, ảnh con mèo, ảnh bữa nhậu, ảnh lái ôtô, ảnh hai bàn chân mình, ảnh mình trong buồng tắm, lên bàn – chắc hẳn người đó sẽ nhận được những ánh mắt ái ngại. Trên Facebook, ái kỷ không những được khuyến khích, nó là mục tiêu chính.
Căn bệnh tâm lý mới nhất của xã hội hiện đại là bệnh “sợ bị bỏ lỡ.” Qua một đêm, sau một cuộc họp, thậm chí khi vừa làm tình xong, điều đầu tiên người ta làm là vồ lấy cái điện thoại. Biết đâu vừa có chuyện gì mới xảy ra, ta không thể vắng mặt.
Mà những chuyện như vậy thì vô vàn: học giả thơm hoa hậu, người mẫu ngủ dạng chân, nguyên thủ quốc gia không cài áo vest, các án mạng ly kỳ nối đuôi nhau.
Chiếc điện thoại thông minh đã trở thành một ô cửa nhỏ dẫn người ta thoát khỏi sự buồn chán của bản thân, và cái rung nhẹ báo tin có thông báo mới của nó bao giờ cũng đầy hứa hẹn. Nhưng càng kết nối, càng online thì cái đám đông rộn ràng kia lại càng làm chúng ta cô đơn hơn.
Chỗ này một cái like, chỗ kia một cái mặt cười, khắp nơi là những câu nói cụt lủn, phần lớn các tương tác trên mạng hời hợt và vội vã. Càng bận rộn để giao tiếp nhiều thì chúng ta lại càng không có gì để nói trong mỗi giao tiếp.
Ngược với cảm giác đầy đặn, được bồi đắp khi chúng ta đứng trước thiên nhiên hay một tác phẩm nghệ thuật lớn, trên mạng xã hội ta bị xáo trộn, bứt rứt và ghen tị với cuộc sống của người khác như một kẻ đói khát nhìn một bữa tiệc linh đình qua cửa sổ mà không thể bỏ đi.
Đêm khuya, khi các chấm xanh trên danh sách friend dần tắt, người ta cuộn lên cuộn xuống cái newsfeed để hòng tìm được một status bị bỏ sót, một cứu rỗi kéo dài vài giây, một cái nhìn qua lỗ khóa vào cuộc sống của một người xa lạ để làm tê liệt cảm giác trống rỗng.
Bình tâm ở giữa đời thực
Mê man với nhau trên mạng, chúng ta đang có nguy cơ đánh mất khả năng kết nối với những cái lớn hơn trong cuộc sống, khả năng cảm nhận thế giới. Thay vì bình tâm ngắm buổi hoàng hôn lộng lẫy, chúng ta điên cuồng tìm những cái lọc khác nhau để chụp mấy chục cái ảnh, rồi bận rộn chọn một cái “đạt” nhất để post lên, băn khoăn nghĩ một lời tựa hấp dẫn.
Thay vì sống trong thế giới thật, người ta bị ám ảnh bởi thế giới ảo. Không có hình tượng nào thể hiện điều này rõ hơn hình ảnh một bà mẹ trẻ vừa cho con bú vừa lướt web. Việc post ảnh đứa bé sơ sinh lên mạng trở nên quan trọng hơn việc ngắm nhìn nó bú mẹ và cảm thấy được kết nối với vũ trụ.
Trong tiểu thuyết The Circle, tác giả Dave Eggers vẽ ra một xã hội mà mọi chi tiết, dù nhỏ nhất, của cuộc sống con người đều được chia sẻ trên mạng, và mọi người phấn đấu để trở thành các công dân mạng tích cực nhất.
Họ thức cả đêm để like, bình luận, post, tweet, càng hăng hái thì càng được nhiều điểm, nhiều “bạn”, nhiều lời khen. Thực tế không quá xa xôi với câu chuyện viễn tưởng này.
Đứng trước bức Mona Lisa ở Bảo tàng Louvre, Paris, tất cả du khách đều nhìn kiệt tác này qua màn hình điện thoại của mình. Dường như họ chỉ có thể trải nghiệm thế giới thông qua một lớp màng điện tử. Cái gì không được ghi vào bộ nhớ điện thoại, cái đó không tồn tại.
Người ta đánh đổi mọi riêng tư thầm kín để chạy theo một quá trình tự trình diễn vô tận, không có thời điểm hạ màn, với mục tiêu tạo tối đa sự chú ý của người khác.
Sự chú ý là ôxy, và mỗi cái post là một cố gắng để người ta ngoi lên mặt nước chốc lát, để rồi lại bị làn sóng mới của newsfeed tràn qua nhấn chìm. Mỗi lần ngoi lên là một lần chống lại cảm giác bị bỏ rơi, bị nằm ngoài cuộc.
Ý nghĩa và sự thành công của một ngày nghỉ, của một chuyến đi, rộng hơn là của cả cuộc đời, được đo bởi số lượng like.
Đã tới lúc chúng ta cần tách ra khỏi đám đông, khước từ chuyên chế của nó. Người ta chỉ có thể lắng nghe tiếng nói bên trong mình nếu bỏ được ra ngoài sự ồn ào xung quanh.
Chúng ta cần đứng riêng để tìm ra mình, để bảo vệ tư duy độc lập và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm. Triết gia Soren Kierkegaard coi đám đông là tập hợp những người lẩn tránh sự nhọc nhằn của quá trình phát triển bản thân. Ma lực của đám đông đã được nhắc tới từ rất sớm.
“Không đi theo đám đông để làm điều xấu” là một câu trong Kinh Thánh. Không chỉ đơn giản là “không làm điều xấu”, mà cụ thể là “không đi theo đám đông để làm điều xấu.” Trong một loạt thí nghiệm nổi tiếng của Solomon Asch cách đây 60 năm, người tham gia thí nghiệm ngồi cùng với một số người khác (thực chất là những người đồng mưu với Asch). Mọi người trong nhóm được yêu cầu so sánh độ dài của một số đường thẳng – một bài tập cho trẻ con.
Tuy nhiên, nếu những người đồng mưu nhất loạt cùng chọn một câu trả lời rõ ràng là sai thì tới 30% trường hợp người tham gia thí nghiệm sẽ từ bỏ đánh giá cá nhân của mình để vào hùa với đám đông.
Trạng thái một mình là cần thiết để phát triển bản sắc và nuôi dưỡng sự sáng tạo.
Ralph Waldo Emerson, nhà thơ lớn của Mỹ thế kỷ 19, viết: “Người gây cảm hứng và dẫn đường cần tách khỏi những người khác, để không phải sống, thở, đọc và viết hằng ngày dưới gông cùm của những ý kiến của họ.”
Một mình không có nghĩa là phải tách khỏi người khác một cách vật lý. Một mình là một quan điểm sống, một trạng thái tinh thần độc lập, nó không được đo bởi khoảng cách vật lý giữa một cá nhân và những người xung quanh.
Các ẩn sĩ hiện đại không cần thiết phải lên núi. Họ vẫn ở trong xã hội, yên lặng, quan sát và tìm hiểu thế giới. Họ tự do trước các con sóng của đám đông để có thể quan tâm tới cộng đồng một cách sâu sắc hơn, đóng góp cho cộng đồng một cách hiểu biết hơn. Vẻ đẹp của người đứng một mình là vẻ đẹp tự tại, với một niềm vui tự thân. Một niềm vui mà như nhà tu hành David Steindl-Rast diễn tả, không phụ thuộc vào những điều đang xảy ra.
Nguồn: Tuổi trẻ cuối tuần
nguồn: langthangchieutim
FORMOSA HÃY LỰA CHỌN ĐI!

2 Votes
Báo Tuổi Trẻ ngày 25/4/2016 đăng phát biểu của ông Chu Xuân Phàm – Trưởng văn phòng Formosa tại Hà Nội trả lời phóng viên Tuổi Trẻ vào sáng 25/4/2016 về vụ cá chết hàng loạt bờ biển miền Trung Việt Nam: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…”.
Trước hết, theo lời phát biểu (xem nguyên văn trên báo Tuổi Trẻ và clip) đại diện Formosa đã chính thức thừa nhận việc xả thải của Formosa làm ảnh hưởng xấu đến môi trường biển Việt Nam.
Ai cũng biết khi thằng cướp vào nhà khổ chủ, hắn dí dao (hoặc súng) vào đầu họ và quát: “Muốn sống thì đưa tiền (vàng, kim cương) đây. Một là đưa tiền, hai là cái mạng của mày, mày chọn cái nào. Nhanh lên!”. Phát ngôn của ông Chu Xuân Phàm giống y như việc tên cướp nói với nạn nhân của nó vậy, nhưng còn tệ hơn ở chổ với tên cướp nếu chọn một điều kiện hắn đưa ra thì điều kiện còn lại có thể được đảm bảo vẹn toàn, với Formosa thì chọn điều kiện nào người dân cũng mất cả hai. Bởi lẽ, nếu chọn cá biển, tức môi trường sống, thì cái nhà máy của Formosa vẫn cứ nằm chình ình đó nhờ sự chống lưng của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (có phép) tiếp tục gây ô nhiễm môi trường như tất cả những nhà máy của Trung Quốc khác trên toàn cõi Việt Nam; nếu chọn nhà máy thép thì trước mắt là mất biển, mà nhà máy thì vẫn là của Formosa chớ có phải của người dân Việt Nam đâu, ai được lợi chớ dân chẳng được cái gì. Coi như đằng nào dân cũng thua trắng tay trên sân nhà của mình.
Điều đáng nói kế tiếp là phát ngôn của đại diện Formosa hết sức ngang ngược, vào nhà người khác rồi đặt điều kiện bảo chủ nhà “chọn”, coi như “căn nhà” đã bị “đánh chiếm toàn bộ”, kẻ lạ đã làm chủ hoàn toàn nên mới có quyền ra lệnh giống tên cướp ở câu chuyện trên.
Còn nói rằng do nước xả là nước ngọt xả ra biển là nước mặn nên cá chết là rất vô lý, chẳng phải khu vực miền Tây Nam bộ mùa nắng nước mặn tràn vào sông làm cho sông trong đất liền trở thành nước lợ, mùa mưa nước sông lại tràn nước ngọt ra biển, nước trong sông ngọt còn nước ngoài cửa biển thì lợ, nhưng có thấy con tôm con cá nào chết hàng loạt do nước biển bị thay đổi độ mặn đâu?
Ngoài cá còn có các sinh vật biển đang sống ở đó, môi trường du lịch nữa, chớ đâu phải thí cho một số tiền để ngư dân chuyển nghề là xong? Người dân Việt Nam là chủ đất nước của mình, chớ không phải là những kẻ ăn xin.
Điều đáng lên án là cá chết trắng bờ biển như vậy mà cơ quan chức năng của phía Việt Nam không hề đem cá xét nghiệm để tìm ra nguyên nhân chết vì cái gì, hóa chất độc lại là hóa chết gì, mà cứ ngồi đó “suy luận”, thiệt là không giống ai.
Còn đau hơn khi báo Tuổi Trẻ cùng ngày tiếp tục thông tin “Ngày 25/4/2016, bà Nguyễn Thị Ngân, giám đốc Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình xác nhận bệnh viện này vừa tiếp nhận một bệnh nhân tên Lê Văn Ngẩy (46 tuổi) quê tại Khánh Hòa và khi đến bệnh viện này thì bệnh nhân Ngẩy đã tử vong”. “Theo đó, bệnh nhân Ngẩy được đưa vào bệnh viện này vào khoảng 18g45 ngày 24-4. Khi vào bệnh viện, bệnh nhân đã tắt thở.
Cùng vào với bệnh nhân có một số người làm cùng với anh Ngẩy tại công ty Cổ phần xây dựng và Cung ứng lao động quốc tế (Nibelc) đóng tại huyện Quảng Trạch, Quảng Bình.
Những công nhân này cho biết anh Ngẩy là thợ lặn. Hai ngày trước đó anh Ngẩy có tham gia lặn tại cảng Sơn Dương, Formosa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) để xây dựng đê chắn sóng cho công trình này.
Khi về, anh Ngẩy thấy tức ngực, khó thở nên được đưa vào bệnh viện, sau đó thì tử vong”.
Một đồng nghiệp khác của nạn nhân Lê Văn Ngẩy là ông Nguyễn Thiếu (36 tuổi, quê Khánh Hòa), “đang là thợ lặn biển phục vụ việc xây dựng đê chắn sóng cho cảng nước sâu Sơn Dương (thuộc dự án Formosa, Hà Tĩnh)”.
Trao đổi qua điện thoại, ông Thiếu cho biết mình hiện đang làm thợ lặn thực hiện việc san lấp mặt bằng dưới đáy biển, hỗ trợ việc đổ bê tông. Kể từ ngày phát hiện cá biển chết hàng loạt, ông cùng nhiều người trong tổ lặn đều cảm thấy có dấu hiệu khác thường về sức khỏe sau mỗi ca làm việc.
“Mỗi lần lặn xong, lên bờ là cảm thấy mệt mỏi khác thường lắm. Da thì vàng hẳn lên và thấy choáng váng, tức ngực. Cứ như có thứ gì đó chạy rùng rùng trong người vậy” – ông Thiếu kể.”
Báo điện tử Vietnamnet ngày 24/5/2016 cho biết thêm ngoài nạn nhân Lê Văn Ngẩy đã tử cong còn có năm đồng nghiệp khác của ông Ngẩy phải nhập viện vì tình trạng sức khỏe bất thường.
Trước đó đã có thông tin hàng loạt người ăn cá ngộ độc phải nhập viện cấp cứu, tại sao không lấy bệnh phẩm của người bệnh xét nghiệm? Bộ Y tế, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ở đâu mà im ru bà rù vậy? Pháp y đâu sao không thấy lên tiếng? Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đâu? Hay Bộ trưởng đang bận ngửi lăng quăng? Bận hô hào dân chúng cứ ăn uống thoải mái vì “thực phẩm đều an toàn”? Hay Hội đồng giám định pháp y còn bận thưởng thức “Hậu duệ Mặt Trời” ở xứ nào, còn “hậu duệ” xứ mình mình thì… kệ mẹ nó? Hay Nguyễn Xuân Phúc còn bận “chỉ đạo” đàn áp người dân phản đối dự án của tập đoàn FLC sau khi cướp biển Thanh Hóa xong giờ kéo quân ra Quảng Bình?
Làm Thủ tướng một quốc gia mà hàng tuần sau khi xảy ra sự cố mới nói được một câu “giao UBND các tỉnh liên quan rà soát, thống kê mức độ thiệt hại và đề xuất biện pháp hỗ trợ ngư dân” thì thật là vô trách nhiệm, bất cứ ai cũng làm Thủ tướng được hết, không cần phải là đảng viên ưu tú của đảng cộng sản.
Bây giờ, cứ mở miệng ra là đại diện Formosa một điều “nhà nước”, hai điều “nhà nước”, đủ biết Formosa đang tự đắc cười ngạo nghễ có “nhà nước” chống lưng như thế nào. Nhưng Formosa quên rằng không phải cứ “nhà nước” thì muốn làm gì thì làm, “nhà nước” làm sai thì phải sửa, phải đóng cửa nhà máy, chớ không được đem con ngáo ộp “nhà nước” ra dọa dân. Cứ vào nước khác phi cộng sản mà làm kiểu đó thử xem dân nước đó họ có để cho yên không, nhà nước của quốc gia đó mà không theo ý dân thì chỉ còn đường chạy lên trời mà ở. Chính phủ của họ cũng nhanh chóng vào cuộc ngay chớ không phải như nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cứ ấm a ấm ớ chạy lòng vòng bên ngoài, cho cấp dưới tuyên bố vô tội vạ để kéo dài thời gian. Thái độ phản ứng chậm chạp, làm lấy có của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam khiến cho người ta bắt buộc phải đặt câu hỏi: Đất nước, môi trường sống, người dân quan trọng hơn hay nhà máy Formosa quan trọng hơn? Có gì khuất tất trong vấn đề này? Đằng sau cái giấy phép Formosa là bao nhiêu phầm trăm chia chác nên giờ phải “há miệng mắc quai”, “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”?
Hôm nay Formosa Vũng Áng tồn tại ngạo nghễ, ngày mai, ngày kia, tương lai Việt Nam sẽ còn rất nhiều Formosa khác “học tập theo tấm gương” mà cười ngạo nghễ trên đầu dân tộc Việt Nam.
Con đường duy nhất mà người dân Việt Nam phải chọn là tự cứu lấy mình, không phải để tên kẻ cướp vào nhà mình bắt mình phải chọn lựa, mà người dân Việt Nam phải bắt buộc Formosa chọn lựa: Một là sản xuất đảm bảo không ô nhiễm môi trường, Hai là nhổ cái nhà máy đó xéo ngay về cố quốc. Một Chính phủ không dám bảo vệ dân của mình trước thách thức của Formosa thì có xứng đáng vỗ ngực là “đại diện cho dân” nữa hay không? Người dân Việt Nam có quyền đòi hỏi một Chính phủ mà không phục vụ cho dân thì Chính phủ đó hãy cút đi.
Tạ Phong Tần







