CẬU BÉ NỬA HỘP SỌ TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CHIẾN THẮNG SỐ PHẬN

CẬU BÉ NỬA HỘP SỌ TRỞ THÀNH BIỂU TƯỢNG CHIẾN THẮNG SỐ PHẬN

Tri’ch EPHATA 661

Jaxon Emmett Buell sinh ra bị khiếm khuyết một nửa não và hộp sọ. Các bác sĩ tiên lượng bệnh nhi không thể sống được, song cậu bé đã không đầu hàng số phận. Theo Telegraph, bé Jaxon Emmett Buell bị hội chứng bẩm sinh hiếm gặp gọi là Microhydranencephaly, khiến em bị thiếu phần lớn bộ não và hộp sọ.

Miracle baby ... Jaxon Emmett Buell recently turned one. Picture: Facebook

Không ai nghĩ cậu bé có thể sống được, các bác sĩ sau khi chọc ối phát hiện dị tật này đã khuyên người mẹ nên bỏ thai. Theo thống kê ở Mỹ, cứ khoảng 5.000 trẻ sinh ra mỗi năm thì có một trường hợp mắc hội chứng này, hầu hết đều tử vong ngay sau khi chào đời. Trường hợp của Jaxon là một ngoại lệ kỳ diệu. Em đã vượt số phận với một nghị lực sống phi thường. Tháng 8 vừa qua, cậu bé cười tươi hạnh phúc bên cha mẹ trong lễ mừng sinh nhật đầu tiên của mình.

Câu chuyện về nghị lực sống của cậu bé “nửa hộp sọ” đã lan truyền khắp nước Mỹ, trở thành nguồn cảm hứng sống cho hàng triệu người, đặc biệt là người mang trong mình bệnh nan y. Trang Facebook của Jaxon có 90.000 lượt thích và 18.000 lượt chia sẻ. Con số này không ngừng gia tăng.

Mẹ của em là Brittany 27 tuổi và cha là Brandon Buell 30 tuổi, sống tại Tavares, Florida, Mỹ. Người mẹ cho biết còn nhớ như in cảm giác tồi tệ lúc được bác sĩ thông báo con trai của mình bị một trục trặc não hiếm gặp khi mang thai bé ở tuần thứ 17. Jaxon đã được chẩn đoán bị thiếu não, một khiếm khuyết ống thần kinh khiến bé không có một số bộ phận của não và hộp sọ.

Jaxon was born with Microhydranencephaly. Picture: Facebook

Người cha cho biết, vợ chồng anh như sụp đổ khi nhận thông báo từ bác sĩ về đứa con chưa ra đời đã mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Bác sĩ khuyên hai vợ chồng nên bỏ thai ở tuần thứ 23. Tuy nhiên họ kiên quyết bảo vệ đứa trẻ bởi nghĩ rằng “Giết con của mình là tội ác. Bệnh tật của đứa trẻ không phải là lý do cho việc phá thai”.

Một số người chỉ trích vợ chồng Brandon “ích kỷ” hoặc “dại dột” không chịu bỏ cái thai. Ông bố trẻ đã đáp lại những lời chỉ trích bằng một bài viết chân thành trên trang Facebook. Anh khẳng định rằng hai vợ chồng quyết định bảo vệ đứa con bé bỏng bởi đó là “sự lựa chọn của cả hai chúng tôi và chúng tôi chỉ có sự lựa chọn ấy mà thôi”.

Người mẹ đã hạ sinh bé Jaxon bằng phương pháp mổ lấy thai. Cậu bé chào đời hoàn toàn khỏe mạnh trong sự ngạc nhiên của nhiều người.

BỐN MƯƠI NĂM – MỘT DÒNG LỆ

BỐN MƯƠI NĂM – MỘT DÒNG LỆ

Tri’ch EPHATA 661

Bà Lê Tín Hương hiện ở California, là một nhạc sĩ, cũng là một nhà văn, qua cha cố Ngô Văn Trọng đang nghỉ hưu tại Orange County, California, gởi cho chúng tôi câu chuyện về Ơn Lạ của Mẹ La Vang đã ban cho gia đình bà cách đây 40 năm. Xin mời quý độc giả…

Tôi rời nhà lúc 6 giờ sáng Chúa Nhật. Lái xe trong cơn mưa tầm tã, trên con đường dài vẫn còn mù mờ tối của một buổi sáng mùa đông lạnh, đối với tôi là một việc làm gần như rất hiếm hoi.

Ngày cuối tuần, nhất là những sáng trời mưa, tôi vẫn có cái thú rúc trong chăn và nằm nướng. Cây đàn Tây Ban Cầm được gác sẵn bên góc đường để tôi có thể với tay kéo lên bất cứ lúc nào, và ngồi dậy tựa lưng vào thành giường nhã hứng… Những dòng nhạc về mưa, về thân phận lúc đó lại có cơ hội tiếng thăng tiếng trầm đến với cuộc đời…

Riêng sáng hôm nay, lòng tôi nao nao mong đợi. Tôi thức dậy sớm. Sau một chút trang điểm nhẹ nhàng, tôi chọn cho tôi chiếc áo màu trắng, khoác ngoài chiếc áo ấm màu đen và sẵn sàng chờ giờ ra xe. Trời chưa thấy sáng và giờ đi hãy còn sớm. Tôi bâng khuâng ngồi nhìn ra khung cửa, mưa vẫn còn nặng hạt, dấu chỉ báo hiệu cho một cơn mưa có thể kéo dài đến chiều…

Liên tưởng đến buổi Thánh Lễ Ðại Trào mà tôi sẽ tham dự sáng nay, khai mạc năm Toàn Xá 200 năm Ðức Mẹ La Vang và kỷ niệm 10 năm phong thánh, 117 vị anh hùng Tử Ðạo Việt Nam. Tôi bỗng thấy lòng lâng lâng xúc động. Ngoài sự cảm phục về tấm gương sáng ngời tình yêu và tuyên xưng đức tin của các Thánh Tử Ðạo, thì mỗi khi nhắc đến Mẹ La Vang, là gợi lại trong tôi hồi tưởng về một khung trời thơ ấu xa xưa với biến cố trọng đại đã đến với gia đình tôi cách đây 40 năm về trước, vào một ngày mưa gió như hôm nay…

Năm 1958, ba tôi làm việc tại Bệnh Viện Trung Ương thành phố Huế. Mỗi tháng ông vẫn cùng các bác sĩ đi thanh tra các bệnh viện nhỏ ở các vùng lân cận. Hôm ấy, ông sửa soạn đi thăm Bệnh Viện Quảng Trị, cách thành phố Huế khoảng 65 cây số về phía Tây Bắc.

Tôi còn nhớ rõ sáng hôm ấy trời mưa lạnh. Những cơn mưa mà những ai đã từng ở Huế chắc chắn không thể nào quên được. Mưa tầm tã, rả rích kéo dài từ ngày này sang ngày khác tưởng chừng như vô tận. Ba tôi chuẩn bị lên đường. Chiếc xe chở ông cùng ba vị bác sĩ và một nhân viên bệnh viện đã đón ông ở ngoài cổng. Ba tôi mặc vào người chiếc áo jacket bằng da và dặn dò mẹ tôi một vài điều gì đó rồi vội vàng ra xe.

Bước xuống mấy bậc thềm ông gặp ngay cha Luận đang bước vào. Cha Cao Văn Luận cùng quê quán với cha tôi, ngài rất gần gũi và thương yêu gia đình tôi. Một trong những mong mỏi của ngài là được thấy gia đình tôi theo Ðạo. ( Ảnh chụp Vương Cung Thánh Đường La Vang ngày xưa, trước khi bị chiến tranh tàn phá vào Mùa Hè 1972 ).

Tuy rất kính và quý mến cha nhưng điều đó với ba mẹ tôi là một trở ngại lớn, không thể nào thực hiện được. Cả hai bên nội ngoại tôi không ai có Ðạo. Mẹ tôi đồng thời lại là một Phật Tử. Bà đã quy y, pháp danh Nguyên Khai. Bà cũng đã từng xây chùa cho làng ngoại tôi tại Huế. Mẹ tôi là một người đàn bà có học. Như đa số những bà mẹ Việt Nam khác rất hiền lành và nhẫn nhục. Cả cuộc đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng con, nhưng trong vấn đề tín ngưỡng thì lại rất cương quyết, chẳng thể nào lay chuyển được. Ba tôi biết thế nên ông rất tôn trọng mẹ tôi mặc dầu ông rất kính mến cha Luận.

Cha Luận gặp ba tôi, ngài bắt tay rất vui vẻ, ngài đưa cho ba tôi một tấm ảnh và bảo: “Tôi mới đi kiệu ngoài La Vang về. Tôi kính cho ông một tượng ảnh của Mẹ La Vang. Ðức Mẹ đã làm nhiều phép lạ và rất linh thiêng. Ông hãy giữ lấy mà cầu nguyện.”

Ba tôi cười cười, nói cám ơn cha, rồi thuận tay ông nhét tấm ảnh vào túi trong của chiếc áo da. “Con phải đi ngay cha à, mọi người đang đợi con ở ngoài kia.” Vừa nói ba tôi vừa chào từ giã cha rồi ra xe. Tôi nhìn theo chiếc xe chở ba tôi khuất dần, khuất dần sau màn mưa dày đặc…

Buổi chiều trong khi người nhà chuẩn bị bữa cơm, chúng tôi ngồi nghe mẹ kể chuyện. Mẹ đang kể một đoạn trong câu chuyện “những kẻ khốn cùng” ( Les misérables ) của văn hào Victor Hugo thì chúng tôi nhận được hung tin. Chiếc xe chở ba tôi và bốn người nữa đã bị lật tại cầu Giồng, Quảng Trị, và chìm xuống sông. Tất cả đều tử nạn. Bệnh viện báo tin và yêu cầu gia đình ra ngay hiện trường để nhận xác đồng thời để tẩm liệm tại chỗ cho thân nhân…

Trước biến cố bất ngờ đó, mẹ tôi như người bị sét đánh. Bà run rẩy rững sờ ôm lấy tôi. Làm sao tôi có thể diễn tả hết nỗi đau đớn trong lòng mẹ lúc ấy… ( giờ đây sau biết bao lần chứng kiến những chia ly, tử biệt, tôi mới ngậm ngùi thấm thía được niềm đau đớn của những nỗi đợi chờ tuyệt vọng ), chỉ biết là đã nhìn thấy mẹ đầm đìa nước mắt và cả chúng tôi nữa…

Ngoài kia dòng lệ của đất trời vẫn hững hờ rơi…

Mẹ tôi và chị em tôi theo chiếc xe của bệnh viện ra Quảng Trị nhận xác cha. Ðến nơi, tại một trạm gác nhỏ nằm cuối chân cầu, xác của ba vị bác sĩ và nhân viên bệnh viện đã được vớt lên. Còn thi hài của ba tôi thì chưa tìm thấy. Người ta chưa vớt được ba tôi nhưng mọi người xác định là ông cũng cùng một số phận với những người đã tử nạn; nhất là ông đã chìm sâu dưới lòng nước quá lâu. Mẹ tôi mặt mày bạc nhược tái xanh, mắt đỏ hoe vì khóc, đứng ở một góc phòng chờ đợi…

Thân nhân của các nạn nhân đều đã tới, tiếng kêu gào khóc kể nghe rất não lòng. Tôi vừa buồn vừa sợ, mơ hồ cảm thấy một khúc quành nào đó thật ngặt nghèo đang chờ đợi gia đình tôi.

Em tôi vì còn nhỏ, có lẽ chưa hiểu lắm, nép trong lòng mẹ ngơ ngác nhìn quanh: “Ba đâu, ba đâu mẹ ?” Mẹ tôi chưa kịp dỗ dành em thì bỗng có tiếng người la lớn: “Ðây rồi, vớt được xác sau cùng rồi !” Là ba đó, mẹ tôi chạy nhào tới. Phải rồi, người ta đang khiêng ba tôi vào, đặt ba tôi nằm trên chiếc băng ca… Lại có tiếng người la lên: “Trời ơi ! Ông ta hình như chưa chết. Còn thở. Hơi thở yếu lắm. Làm hô hấp nhân tạo ngay đi !”

Và ba tôi quả còn sống thật ! Mẹ tôi quỳ xuống lạy trời lạy đất. Cám ơn Trời Phật đã cứu sống ba tôi. Nước mắt một lần nữa tuôn dầm dề trên má mẹ, nhưng lần này là những dòng nước mắt hạnh phúc không ngờ…

Chúng tôi quỳ chung quanh chiếc băng ca nơi ba tôi đang nằm. Ba tôi tỉnh lại hẳn. Ông nói bằng một giọng nói thật yếu ớt, câu nói đầu tiên mà tôi không bao giờ quên được: “Hãy xin cha rửa tội, rửa tội cho cả nhà, Ðức Mẹ La Vang đã cứu ba.”

Nói xong ông đưa tay vào trong túi áo da lục lọi kiếm tìm, và sau đó ông rút ra tấm ảnh Ðức Mẹ La Vang. Tấm ảnh mà cha Luận đã cho ông trước chuyến đi định mệnh. Tấm ảnh đã ướt sũng và đậm màu vì thấm nước, nhưng hình Ðức Mẹ với chiếc áo choàng xanh vẫn còn in rõ nét.

Ba tôi nói tiếp: “Ðây chính Bà này đã cứu ba, Bà đã lôi ba, lúc ấy đang mắc kẹt trong xe, ra khỏi cửa xe. Bà đẩy ba nổi lên mặt nước và nói Ta là Ðức Mẹ La Vang, Ta đến cứu con.”

Tôi chợt nghĩ lại, nếu ngày hôm đó ba tôi không vội vàng ra đi, và có thời giờ để tiếp chuyện với cha Luận. Có lẽ bức tượng ảnh Ðức Mẹ La Vang đã bị bỏ quên trong một ngăn kéo nào đó cùng với sự hững hờ của ba mẹ tôi.

Sau biến cố đó, gia đình tôi gồm ba mẹ và 7 anh chị em đã rửa tội trong sự tự nguyện rất hoan hỷ của mẹ tôi. Ba vị Linh Mục thân thiết của gia đình tôi, cha Cao Văn Luận, cha Ngô Văn Trọng lúc bấy giờ là cha Chánh Xứ Họ Đạo Phanxicô, hay còn gọi là Nhà Thờ nhà nước, nơi mà gia đình tôi cư ngụ, và cha Vũ Minh Nghiễm, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã dày công dạy giáo lý cho chúng tôi. Cả ba vị Linh Mục này đã dâng Thánh Lễ và ban Bí Tích rửa tội cho chúng tôi.

Theo lời xin của ba tôi, để cảm tạ ơn thánh của Ðức Mẹ, lễ rửa tội được tổ chức tại Thánh Ðường Ðức Mẹ La Vang Quảng Trị. Mẹ tôi vô cùng vui mừng hân hoan, và tin tưởng lần chuỗi Mai Khôi cảm tạ ơn Ðức Mẹ mỗi ngày. Cho đến ngày nhắm mắt bà là một tín đồ sốt sắng, sùng kính Ðức Mẹ tuyệt đối. Ðây là những hình ảnh cuối đời của mẹ tôi.

Tôi còn nhớ rõ sau thời gian gia đình nhận Bí Tích Rửa Tội. Mẹ tôi đã chịu đựng nhiều lời ra tiếng vào của họ hàng và những người quen biết. Họ cho rằng gia đình tôi theo đạo là để mưu cầu cho một quyền lợi nào đó. Về phần chúng tôi khi đến trường cũng nghe những lời đàm tiếu của bạn bè. Mỗi lần than vãn với mẹ thì mẹ lại khuyên răn chúng tôi: “Ba là cột trụ và là nguồn sống của gia đình chúng ta. Vì thế dầu có chịu bao nhiêu thử thách, khó khăn cũng phải chấp nhận để cảm tạ ân sủng đó. Tình yêu luôn luôn có cái giá phải trả, và cái giá đó có nghĩa gì đâu với ân huệ mà Ðức Mẹ đã ban cho gia đình chúng ta.” ( Ảnh tượng Mẹ La Vang nguyên thủy và bộ tem Mẹ La Vang, chụp vào năm 1962, là mẫu tượng Đức Bà phù hộ các giáo hữu ).

Mẹ tôi nói đúng, ơn lạ mà Mẹ La Vang đã ban là một biến cố lớn trong đời sống tâm linh của gia đình, cũng là một biến cố trong lịch sử gia tộc. Ba tôi năm nay đã gần 90. Ông vẫn còn kính tấm tượng ảnh năm xưa đã cứu ông trên bàn thờ. Tấm ảnh Ðức Mẹ ngày nay đã mờ nhạt theo thời gian, nhưng mỗi ngày ông đều đọc kinh lần hạt cảm tạ Ðức Mẹ.

Câu chuyện mầu nhiệm này đã được chúng tôi thường xuyên kể lại cho con cháu nghe, như là một câu chuyện thần thoại nhưng có thật. Xảy đến từ một trong những phép lạ của Ðức Mẹ La Vang đối với gia đình tôi nói riêng và nhiều gia đình khác nói chung.

Ngày đại lễ hôm nay, trời cũng mưa. Tôi lái xe trong cơn mưa như trút nước, Lòng hạnh phúc vô cùng vì tôi được có Chúa. Có ánh sáng Niềm Tin của Ngài chiếu rọi tâm hồn tôi. Có Tình Yêu bao la rộng mở của Ðức Mẹ đã đến với gia đình tôi từ thuở tôi mới lên mười…

Tôi lắng nghe những lời huấn từ của Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Bằng giọng nói rõ ràng trầm ấm, ngài nhắc lại lịch sử Hội Thánh Công Giáo Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Qua biết bao nhiêu thăng trầm gian khổ có máu, có nước mắt và ngày nay đã được thăng hoa với 117 Vị Thánh Tử Ðạo. Gia đình ngài cũng đã theo Chúa cách đây 300 năm, với những thử thách cùng với nhiều ân sủng của Chúa, của Ðức Mẹ, đặc biệt là Mẹ La Vang. Ngài cũng kể lại những phép lạ mà Ðức Mẹ đã ban, trong đó có phép lạ chữa lành bệnh cho cha cố Trọng, cha Linh Hướng của gia đình tôi.

Tôi tự cảm thấy gia đình mình may mắn, đã được hưởng một ân sủng quá đặc biệt đến từ Tình Yêu bao la không bờ bến của Ðức Mẹ.

Trong cái lạnh của mùa Ðông, lòng tôi bỗng nhiên ấm cúng. Tôi thấy tâm hồn như nở hoa. Ðóa hoa Yêu Thương trong vườn hoa rực rỡ của Niềm Tin. Tôi hy vọng sẽ mãi mãi là đóa hoa đầy hương sắc, không bao giờ héo rũ úa tàn. Tôi thầm cám ơn Chúa, cám ơn Mẹ, cúi đầu để che dấu dòng lệ cảm xúc đang âm thầm rơi. Dòng lệ của hơn bốn mươi năm trước kể từ khi gia đình tôi được ơn lạ của Ðức Mẹ La Vang, trải qua biết bao sóng gió bể dâu… Có lúc đã ngưng đọng, có lúc tưởng chừng bị lãng quên, hôm nay lại từng giọt chảy dài… Những giọt lệ vui mừng. Những giọt lệ bồi hồi nhắc nhở tôi niềm hạnh phúc được nương náu trong Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa, của Mẹ Maria.

LÊ TÍN HƯƠNG, California,

Chúa Nhật 22.2.1998

THIÊN THẦN BẢN MỆNH

THIÊN THẦN BẢN MỆNH

 Trầm Thiên Thu

 Các thiên thần được đề cập hơn 300 lần trong Kinh Thánh, nhưng nhiều người vẫn biết ít về các thiên thần.  Thiên thần luôn ở bên chúng ta mà lại bị chúng ta “quên” hoặc “làm ngơ”, đó là Thiên thần Bản mệnh, cũng gọi là Thiên thần Hộ thủ – lễ ngày 2 tháng Mười.

 

Các thiên thần là các “đặc phái viên” (God’s emissaries) của Thiên Chúa, luôn ở bên chúng ta, mọi nơi và mọi lúc, để canh chừng chúng ta, bảo vệ chúng ta, chiến đấu thay chúng ta.

Năm 1985, sau khi thị kiến Thiên thần Bản mệnh, chị Vassula Ryden đã viết một cuốn sách về Thiên thần Bản mệnh, cuốn “Heaven is Real, But So is Hell” (Thiên Đàng Có Thật, mà Hỏa Ngục cũng Có Thật), phát hành ngày 16-3-2013, thuộc loại “bestseller” (bán chạy như tôm tươi).  Chị đã chia sẻ với hàng triệu người tại 80 quốc gia.  Sách của chị được dịch ra 40 thứ tiếng.  Trang Facebook của chị là “Jesus Is Returning” (Chúa Giêsu sẽ trở lại) đã có hơn 1 triệu lượt ghé thăm, trang Twitter của chị được hơn 200.000 lượt ghé thăm.

Đây là 9 điều chị chia sẻ về các thiên thần:

 1.     Thần tốt nhiều hơn thần xấu – Đạo binh thiên thần tốt lành của Thiên Chúa nhiều hơn hẳn về quân số và mạnh hơn hẳn so với tà binh.  Ma quỷ tức giận vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta và nên chúng tìm mọi cách để hủy hoại chúng ta.  Tuy nhiên, chúng phải chịu “bó tay”.

 2.     Thiên thần nguyện giúp cầu thay – Vũ khí lợi hại nhất mà chúng ta phải sử dụng trong cuộc chiến tâm linh là cầu nguyện.  Chúng ta may mắn vì Thiên thần Bản mệnh luôn cầu thay nguyện giúp cho mỗi chúng ta.  Thiên thần Bản mệnh cầu nguyện cho chúng ta thay lòng đổi dạ và biết trở về với Thiên Chúa, giải hòa với Ngài sau khi chúng ta “nổi loạn”.

 3.     Thiên thần Bản mệnh luôn cận kề – Thiên thần Bản mệnh giống như “lính gác”, không bao giờ rời xa chúng ta.  Dù chúng ta đi đâu hoặc làm gì, Thiên thần Bản mệnh vẫn theo dõi, đồng thời Thiên thần Bản mệnh cũng vẫn luôn hiện diện trước Tôn Nhan Thiên Chúa.

 4.     Thế giới tâm linh bao quanh chúng ta – Xung quanh chúng ta có cả thiên thần và ma quỷ, ảnh hưởng mọi lúc trong cuộc đời chúng ta.

5.     Cuộc chiến rất dữ dội – Có những cuộc chiến tâm linh xảy ra trong cuộc đời chúng ta, chính chúng ta vẫn tham chiến dù chúng ta có ý thức hay không.

6.     Không phải các thiên thần đều tốt – Các thiên thần sa ngã là ma quỷ.  Luxiphe và các ác thần bị Tổng lãnh Thiên thần Micae và các thần lành xua đuổi vì đã dám phản nghịch chống lại Thiên Chúa.  Ma quỷ luôn tìm các cám dỗ và hủy diệt con cái của Thiên Chúa, chúng ngăn cản để Ý Chúa không được thực hiện trên thế gian này.

 7.     Thiên thần bảo vệ chúng ta – Thiên thần bản mệnh bảo vệ chúng ta khỏi sự ác.  Một đêm nọ, chị Ryden thấy con rắn (ma quỷ) muốn hại chị.  Thiên thần Bản mệnh liền triệt hạ con rắn.

 8.     Thiên thần muốn tốt cho chúng ta – Khi Thiên thần Bản mệnh đến thăm chị Ryden, ngài cho chị biết tình trạng tội lỗi của chị.  Chị cảm thấy hổ thẹn lắm.  Chị buộc phải nhìn vào nội tâm và thấy những gì Thiên Chúa cũng thấy.  Thiên thần Bản mệnh an ủi chị, muốn chị trở về với Thiên Chúa, và Thiên thần Bản mệnh cho biết sẽ cầu xin Chúa cho chị.

 9.     Thiên thần và ma quỷ cùng hiện hữu – Một trong các mưu mô thâm độc nhất của ma quỷ là giả vờ như không hiện hữu.  Nhiều người không muốn nhắc tới ma quỷ, nhưng ma quỷ là có thật, chúng có thể ảnh hưởng tới chúng ta.

 Lòng sùng kính các Thiên thần Bản mệnh bắt đầu phát triển từ khi bắt đầu có truyền thống tu trì. Thánh Bênêđictô thúc đẩy việc này cùng với Bernard Clairvaux, nhà cải cách hồi thế kỷ XII và nhà hùng biện về Thiên thần Bản mệnh.  Lòng sùng kính các thiên thần có từ hồi đó.

 Lễ kính các Thiên thần Bản mệnh được cử hành lần đầu hồi thế kỷ XVI.  Năm 1615, ĐGH Phaolô V thêm lễ này vào lịch Công giáo Roma.

 Trầm Thiên Thu

(Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Bài phát biểu của Tổng Thống Obama trước ĐTC Phanxicô

Bài phát biểu của Tổng Thống Obama trước

ĐTC Phanxicô

(Tòa Bạch Ốc, 23.9.2015).

                       Chào buổi sáng!

Chúa đã làm nên một ngày thật tuyệt vời!

Kính thưa Đức Thánh Cha, Michelle và tôi xin chào mừng Ngài đến với Nhà Trắng. Ở đây thường không đông người như thế này – nhưng tầm mức và tinh thần của cuộc gặp gỡ ngày hôm nay chỉ phản ánh phần nào lòng yêu mến sâu xa của 70 triệu người Công Giáo Mỹ… và con đường sứ điệp tình yêu và hy vọng của Ngài đã truyền cảm hứng cho biết bao người, trên khắp đất nước chúng tôi và trên toàn thế giới. Thay lời cho người dân Mỹ, thật là vinh dự lớn lao và là đặc ân cho tôi được chào đón Ngài đến với nước Mỹ.

Hôm nay, chúng ta đánh dấu nhiều điểm khởi đầu. Thưa Đức Thánh Cha, Ngài được chúc mừng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ châu Mỹ. Đây là chuyến thăm nước Mỹ đầu tiên của Ngài. Và Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên chia sẻ Thông Điệp trên Twitter.

Thưa Đức Thánh Cha, chuyến thăm của Ngài không chỉ cho phép tôi, trong cách thế khiêm tốn, đáp lại lòng hiếu khách đặc biệt mà Ngài rộng mở với tôi tại Vatican năm ngoái. Nó cũng cho thấy biết bao người dân Mỹ, từ mọi nền văn hóa và thuộc mọi niềm tin, quý trọng vai trò của Giáo Hội Công Giáo trong việc phát triển đất nước. Ngay từ thời tôi làm việc tại các khu phố nghèo cùng với Giáo Hội Công Giáo tại Chicago, đến thời tôi làm Tổng Thống, tôi đã tận mắt thấy cung cách mà mỗi ngày, các cộng đồng Công Giáo, các linh mục, các nữ tu, và các giáo dân nuôi những người đói khát, chữa lành người đau ốm, che chở người vô gia cư, giáo dục các trẻ em, và củng cố đức tin nâng đỡ rất nhiều người.

Điều ấy thật đúng trên đất Mỹ, cũng đúng trên toàn thế giới. Từ đường phố nhộn nhịp của Buenos Aires tới ngôi làng xa xôi ở Kenya, các tổ chức Công Giáo phục vụ người nghèo, giúp đỡ các tù nhân, xây dựng các trường học và nhà ở, thành lập các cô nhi viện và các bệnh viện. Và khi Giáo Hội đứng về phía những người đấu tranh để phá vỡ xiềng xích của nghèo đói, thì đó cũng là tiếng nói và niềm hy vọng cho những ai đang tìm cách bẻ gãy xiềng xích của bạo lực và áp bức.

Tuy nhiên, tôi tin rằng, niềm vui nồng nhiệt xung quanh chuyến viếng thăm của Ngài phải được ghi nhận, không chỉ do vai trò của Ngài trong tư cách là Giáo Hoàng, mà còn do những phẩm tính độc đáo của Ngài trong tư cách là một con người. Với lòng khiêm tốn của Ngài, Ngài mang lấy một sự đơn sơ, lịch thiệp trong lời nói và sự quảng đại trong tinh thần, chúng tôi nhìn thấy một mẫu gương sống động cho những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, Đấng là vị lãnh đạo có thẩm quyền luân lý không chỉ trong lời nói mà còn trong hành động.

Ngài mời gọi tất cả chúng ta, Công Giáo cũng như không Công Giáo, đặt “người nhỏ bé nhất” vào tâm điểm của sự quan tâm của chúng ta. Ngài nhắc chúng ta rằng, trong cái nhìn của Thiên Chúa, sự đo lường của chúng ta như là các cá nhân, như là các xã hội, không được xác định bởi sự giàu có hay quyền lực hay địa vị hay danh tiếng, nhưng xác định bởi cách thế chúng ta đáp lại lời mời gọi của Kinh Thánh để nâng đỡ người nghèo và người bị thiệt thòi, thúc đẩy công bằng và chống lại bất công, và đảm bảo rằng, mỗi người có thể sống đúng phẩm giá – bởi vì tất cả chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.

Ngài nhắc chúng ta nhớ rằng “sứ điệp mạnh mẽ nhất của Thiên Chúa” là lòng thương xót. Điều ấy có nghĩa là chào đón người lạ với sự đồng cảm và con tim rộng mở, từ những người tị nạn phải rời bỏ quê hương vì chiến tranh tàn phá, đến những người nhập cư phải rời bỏ nhà cửa để đi tìm cuộc sống tốt hơn. Điều ấy có nghĩa là diễn tả sự cảm thông và tình yêu với những người chịu thiệt thòi và bị gạt ra bên lề, với những người chịu đau khổ, với những người đang tìm sự cứu độ.

Ngài nhắc chúng ta nhớ về cái giá phải trả cho chiến tranh, đặc biệt là những người cô thế và người không có khả năng tự vệ, và thúc giục chúng ta hướng tới tính khẩn thiết của hòa bình.

Thưa Đức Thánh Cha, chúng tôi biết ơn Ngài vì sự nâng đỡ vô giá mà Ngài dành cho chúng tôi trong những bước khởi đầu với nhân dân Cuba, với lời hứa cho mối tương quan tốt hơn giữa hai quốc gia, cho sự hợp tác hơn nữa, và cho đời sống tốt hơn với người dân Cuba. Chúng tôi cám ơn Ngài vì tiếng nói đầy nhiệt huyết của Ngài chống lại các cuộc xung đột chết người. Các xung đột ấy tàn phá cuộc sống của quá nhiều người nam nữ và trẻ em. Chúng tôi cám ơn Ngài vì Ngài mời gọi các quốc gia chống lại chiến tranh và giải quyết các tranh chấp thông qua ngoại giao.

Ngài nhắc chúng ta nhớ rằng, con người chỉ thực sự tự do khi họ có thể thực hành đức tin của mình cách tự do. Ở nước Mỹ này, chúng ta trân quý tự do tôn giáo. Thế nhưng, trên thế giới ngay lúc này đây, những người con của Chúa, kể cả các Kitô hữu, bị phân biệt đối xử, thậm chí bị giết chết vì đức tin của mình. Các tín hữu bị ngăn cản, không được tụ họp tại nơi thờ phượng. Họ bị tù đày. Các nhà thờ bị phá hủy. Vì thế, chúng tôi cùng với Ngài đứng về phía bảo vệ tự do tôn giáo và thúc đẩy đối thoại liên tôn, biết rằng mọi người ở mọi nơi phải có khả năng sống đức tin cách tự do khỏi nỗi sợ hãi và khỏi sự đe dọa.

Thưa Đức Thánh Cha, Ngài nhắc chúng tôi nhớ rằng, chúng ta có bổn phận thánh thiêng bảo vệ hành tinh của chúng ta. Đây là món quà tuyệt với Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chúng tôi ủng hộ lời mời gọi của Ngài đối với các nhà lãnh đạo thế giới, cho việc nâng đỡ những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trong sự biến đổi khí hậu, cho việc xích lại gần nhau để bảo vệ thế giới của chúng ta cho các thế hệ tương lai.

Với sự Thánh Thiện, trong lời nói và hành động của Ngài, Ngài là tấm gương đạo đức sâu sắc. Và với những lời nhắc nhẹ nhàng nhưng kiên quyết về bổn phận của chúng ta với Thiên Chúa và với nhau, Ngài đang lôi kéo chúng ta ra khỏi sự tự mãn. Tất cả chúng ta, nhiều lần, có thể kinh nghiệm sự khó chịu, khi chúng ta nhận thấy khoảng cách giữa cung cách sống hằng ngày với những gì chúng ta biết là thật là đúng. Nhưng tôi tin rằng, sự khó chịu ấy là một phúc lành, vì nó chỉ ra cho chúng ta điều gì đó tốt hơn. Ngài đánh thức lương tâm chúng ta khỏi giấc ngủ mơ; Ngài mời gọi chúng ta vui trong Tin Mừng, và trao tặng chúng ta sự tự tin để đến với nhau, trong khiêm tốn và phục vụ, và theo đuổi một thế giới yêu thương hơn, công bằng hơn, và tự do hơn. Ở đây và trên khắp thế giới, cầu chúc cho thế hệ chúng ta lưu tâm đến lời mời gọi của Ngài để “không bao giờ đứng bên ngoài chuỗi hy vọng sống động này!”

Vì món quà hy vọng lớn lao mà Ngài dành cho nước Mỹ, thưa Đức Thánh Cha, chúng tôi cám ơn và chào đón Ngài, với niềm vui và lòng biết ơn.

Chuyển ngữ: Vinhsơn Vũ Tứ Quyết, S.J

Không thể bịt miệng được LƯƠNG TÂM TV.

Không thể bịt miệng được LƯƠNG TÂM TV.

Dù không có được người đẹp nhất nước, Lương Tâm TV không bao giờ cho một người có tiền sự ăn cắp đồ siêu thị ở nước ngoài lên làm phát thanh viên. 
NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Kênh truyền thông LƯƠNG TÂM TV ra mắt chương trình đầu tiên vào ngày 19/8/2015, đến khi bị đàn áp vào ngày 23/9 mới được 3 số. Đây là kênh truyền tin bằng hình ảnh do một số thành viên trong Hội Cựu tù nhân lương tâm và Hội Anh em dân chủ phối hợp thực hiện.
Trước khi một loạt bạn trẻ liên quan đến chương trình này bị bắt vào ngày 23/9/2015 còn ít người biết đến kênh truyền thông này. Kênh này mới được giới thiệu trên vài blog.
Tuy vậy, kênh này cũng được quảng bá thêm bởi một số trang mạng của Dư luận viên. Đám này gọi Lương tâm TV là bản tin của tay sai Việt Tân . Họ tỏ ra cay cú vì sự xuất hiện của Lương Tân TV. Nói xấu chán, không còn gì hơn nữa, họ đem so… nhan sắc của những phát thanh viên Truyền hình nhà nước với phát thanh viên Lê Thị Yến của Lương Tâm TV. Tác giả Tống Giang nào đó cho rằng “trên các kênh của Đài truyền hình Việt Nam thì các BTV có độ xinh đẹp hơn gấp cả trăm nghìn lần BTV Lê Yến này” . Ơ hay, so ở đây là so chính nghĩa, so sự thật chứ sao lại đem so nhan sắc như trong các cuộc thi hoa hậu? Khi đã quá tự hào với vẻ đẹp hình thức của các Biên tập viên nhà nước, ví dụ Kiều Trinh, Tống Giang lại “quên” mất một điều khác nhau cơ bản rằng, dù không có được người đẹp nhất nước, Lương Tâm TV không bao giờ cho một người có tiền sự ăn cắp đồ siêu thị ở nước ngoài lên làm phát thanh viên.
Chỉ khi thông tin 6 người có liên quan bị công an Hà Nội bắt lan nhanh chóng trên mạng xã hội facebook thì kênh truyền hình mới được nhiều người tìm đến. Có bạn kể, tìm ra được kênh LƯƠNG TÂM TV liền xem ngấu nghiến một mạch hết cả 3 kỳ, khi hết rồi thì ngồi ngẩn ngơ ngắm cô biên tập viên Lê Yến. Cùng với tên tuổi Lê Thị Yến, thêm nhiều người biết đến các tên tuổi khác như Nguyễn Vũ Bình, Lê Thu Hà, Trần Đức Thịnh, Phạm Đắc Đạt, Nguyễn Mạnh Cường.
Trong kế hoạch dẹp bỏ Lương Tâm TV, có 6 bạn trẻ trong ê kíp thực hiện chương trình đều bị cưỡng bức về đồn công an. Nhân đây, xin giới thiệu trang facebook của các bạn này:
4. Phạm Đắc Đạt https://www.facebook.com/dacdat158
5. Nguyễn Mạnh Cường https://www.facebook.com/hadesrevolution
Họ bị bắt trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, bị đưa về nhiều đồn công an khác nhau ở Hà Nội. Nội dung làm việc xoay quanh sự ra đời và hoạt động của LƯƠNG TÂM TV. Cho đến 12 giờ đêm thì những người bị bắt giữ đã được thả hết, chỉ Lê Thị Yến phải tiếp tục làm việc thêm một ngày hôm sau nữa.
Khoảng 25 người đã tập trung trước đồn công an Quận Hai Bà Trưng đòi người. Có rất nhiều công an mặc sắc phục , thường phục và cả côn đồ đến xua đuổi, đàn áp nhằm giải tán đám đông. Nhiều người bị đánh. Đoan Trang bị đánh chảy máu mồm.
Trong đợt đàn áp này, công an đã tước trên tay hoặc khám nhà thu tất cả thiết bị máy móc dùng để sản xuất chương trình.

Các thành viên Lương Tâm TV họp bàn để cho ra số tiếp theo

Lương Tâm TV không phải là kênh truyền thông độc lập đầu tiên sử dụng hình thức phát hình. Trước đó đã có Đức Mẹ TV với biên tập viên Huyền Trang. Các trang blog đều có các video clip sống động minh họa cho những bài viết và tỉ lệ hình trong bài viết ngày càng cao. Thế nhưng tại sao nhà cầm quyền lại quyết tâm dẹp bỏ Lương Tâm TV? Phải chăng, Lương Tâm TV tuy mới chỉ ra mắt 3 số với thời lượng mỗi số 8-9 phút nhưng có sự phát triển nhiều hứa hẹn, gây nguy hiểm cho nhà cầm quyền bởi quyết tâm và tâm huyết của những người làm chương trình.
Dẹp một kênh truyền thông, không chỉ thu giữ máy móc, thiết bị mà xong, không chỉ bắt lên trấn áp, đe dọa mà xong. Được biết, sẽ có một biên tập viên mới thay thế cho Lê Thị Yến với gương mặt đấu tranh quen thuộc.
Hội Cựu tù nhân lương tâm và Hội anh em dân chủ sẽ tiếp tục chương trình Lương Tâm TV trong sự hợp tác với nhiều tổ chức xã hội dân sự khác. Đây là quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, là lối sống theo lương tâm và khát vọng truyền bá dân chủ, là nhu cầu cấp thiết của mọi giới đồng bào Việt Nam đang phải từng ngày từng giờ hứng chịu một nền thông tin mang tính tuyên truyền một chiều, đầy dối trá để phục vụ sự thống trị của đảng cộng sản và nhà cầm quyền chứ không phục vụ sự thật, không vì thiện ích của đất nước, của dân tộc.
01/10/2015
NTT

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO

Tác giả:  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.

Kính gửi bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Chúng tôi thấy quảng cáo Đông Trùng Hạ Thảo là một thần dược, chữa được nhiều bệnh nan y. Xin bác sĩ vui lòng giúp chúng tôi tìm hiểu coi xem có đúng như vậy hay không, trước khi mua về dùng. Chúng tôi tuổi cũng gần 70, chỉ bị bệnh tiểu đường mà thôi. Liệu có nên uống thuốc này thay vì chích insulin.

Thành thực cảm ơn Bác sĩ.

Trần Ngọc Tân

Thưa ông,

Trước hết, xin thưa với ông là Y khoa học thực nghiệm hiện nay vẫn tin rằng, bệnh tiểu đường chỉ có thể kiểm soát được bằng các loại Âu dược như thuốc chích Insulin và các loại dược phẩm uống để hạ đường trong máu cộng thêm giữ gìn ăn uống và vận động cơ thể.

Còn về loại “thần dược” mà ông hỏi thì thực ra chúng tôi cũng có rất ít hiểu biết, mà chỉ thấy trên truyền thanh truyền hình, báo chí. Nhờ ông hỏi cho nên chúng tôi vào internet tìm đọc và chia sẻ với ông và độc giả như sau.

Trên internet, có một số bài nói về sản phẩm này, mà đa số do các tác giả từ Đông phương viết. Điều này cũng dễ hiểu vì sản phẩm ông nói tới có nguồn gốc từ các quốc gia châu Á và đã được dân chúng nơi đây dùng từ nhiều ngàn năm về trước. Sản phẩm được gọi là “Đông Trùng, Hạ Thảo”, tiếng Việt mình có thể gọi là “mùa Đông là côn trùng mà mùa Hạ trở thành loại thảo”.

Nguyên lai như sau.

Một loại trùng có tên khoa học khó đọc khó nhớ là Cordicep Sinensis, mà chúng tôi xin tạm gọi là “Trùng Đặc Biệt” và một loại nấm cũng đặc biệt, “Nấm Đặc Biệt”.

Cả hai đều mọc tự nhiên dưới mặt đất ở các vùng núi cao cả mấy ngàn mét, tại các quốc gia giá lạnh Châu Á như Tây Tạng, Hi Mã Lạp sơn, Vân Nam bên Tầu, Nepal…

Trùng nằm dưới đất cả dăm năm và sống bằng chất dinh dưỡng từ rễ cây trong suốt mùa Hạ để sửa soạn cho giấc ngủ trong mùa Đông. Cũng trong tiết Đông này, trùng tiêu thụ một số lớn Nấm Đặc Biệt”. Nấm sống nhờ và lớn lên trong cơ thể côn trùng khiến cho trùng này chết vì “bội thực”.

Tới đầu Xuân vào Hạ, một loại nấm khác mọc ra từ đầu của Trùng, lớn lên thành hình một củ rễ dài ngắn trên dưới mươi cm, lớn ½ cm.

Đó là nguồn gốc tạo thành của “Đông Trùng Hạ Thảo”, mùa đông là côn trùng, mùa hạ là loại thảo. Cái tên cũng rất là hấp dẫn và mang tính cách hơi huyền bí.

 

Và thổ dân hái mang về dùng, như một thực phẩm hoặc để chữa mấy bệnh thông thường và họ thấy tốt cho sức khỏe.Tiếng lành đồn xa, dân chúng nô nức tìm kiếm, trước là tự dùng sau mang bán lấy tiền.

Một số khách du lịch tới thăm phong cảnh các nơi đó, thấy dân chúng dùng và nói là có thể chữa bệnh, bèn dùng thử, gật gù tấm tắc khen, về nhà viết lại. Đi xa về phải có câu chuyện gì hấp dẫn kể lại làm quà với bà con ở nhà. Và, từ đó tiếng lành đồn xa, dân chúng khắp nơi tò mò, mua về dùng thử.

Kỹ nghệ sản xuất Đông Trùng Hạ Thảo ngày nay

Vì là một sản phẩm hiếm, lâu năm mới thành hình cho nên nguồn cung cấp cạn dần, mà người tìm kiếm ngày càng đông. Càng hiếm thì càng quý, và giá cả cũng tăng theo, tùy nơi sản xuất và tùy cách “khuyến mãi”, hình thức trình bày. Đã có nhiều thương nhân “đánh hơi” được đây là một nguồn tài chánh lớn có thể làm giầu, cho nên họ đã nghĩ ra cách trồng các loại nấm này, bán cho người muốn có sức khỏe tốt.

Vào đầu thập niên 1980, Trung Hoa đã bắt đầu nuôi một loại nấm Cordyceps sinensis nhân tạo, khác với C. sinensis thiên nhiên và giới thiệu nấm này có tác dụng mạnh hơn.

Hiện nay đã có nhiều quảng cáo giới thiệu về sản phẩm này, căn cứ vào kinh nghiệm của người dùng.

Có những giới thiệu rằng ĐTHT có thể chữa được rất nhiều thứ bệnh, từ tim, phổi, thận tới ngoài da, tình dục, tăng cường khả năng miễn dịch, giúp sống trường thọ…

ĐTHT đã được giới thiệu như là một Tiberian Viagra…rằng đã được nhiều nghiên cứu công nhận giá trị chữa bệnh…nhưng rất tiếc chúng tôi chưa có cơ duyên đọc kết quả nghiên cứu khoa học nào về sản phẩm này.

Một vài bài viết nêu ra thành phần hóa học chung chung của sản phẩm, như là:

“Theo Y học Trung Quốc, Đông Trùng Hạ Thảo là 1 trong “Tam bảo Trung Hoa”, gồm nhân sâm, ĐTHT và nhung hươu. ĐTHT có 17 acid amin, có D-mannitol, có lipid, có nhiều nguyên tố vi lượng và khoáng chất như Al, Si, K, Na…. Quan trọng hơn là nó nhiều hoạt chất sinh học như cordiceptic acid, cordycepin, adenosine, hydroxyethyl-adenosine và nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Ethyl-Adenosine-Analogs). Bên cạnh đó, nó còn chứa nhiều loại vitamin (trong 100g ĐTHT có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2, vitamin E, vitamin K…)”.

Tuy nhiên chúng tôi không thấy nói rõ kết quả này là do khoa học gia nào tìm ra.

Trong khi đó thì lại có bài viết nói rằng: “Sách Y học cổ truyền Trung Hoa coi ĐTHT là vị thuốc có tác dụng “Bổ phế ích can, bổ tinh điền tủy, chỉ huyết hóa đàm”, “Bổ phế ích thận, hộ dưỡng tạng phủ”, “Tư âm tráng dương, khư bệnh kiện thân”, có thể chữa được “Bách hư bách tổn”…

Trên Internet, chúng tôi thấy có một bác sĩ chuyên về điều trị ung thư Hoa Kỳ, Brian D. Lawenda, đưa ra ý kiến như sau về tác dụng liên quan tới tính miễn dịch cùa ĐTHT:

“Cordiceps Sinensis đã được giới thiệu và dùng như một loại kích thích hệ miễn dịch, (cũng như chống ung thư, chống oxi hóa). Nhưng xin hãy lưu ý là có nghiên cứu lại nói rằng sản phẩm này cũng có tác dụng làm giảm khả năng miễn dịch. Tại sao vậy? Có thể là có nhiều loại nấm khác nhau: có thứ tăng có thứ lại giảm khả năng miễn dịch tùy theo cách trồng và cách thu hái đông trùng hạ thào.. Thành ra phải hết sức cẩn thận khi mua về dùng”.

Mà bệnh nhân ung thư lại có tính miễn dịch khá thấp sau khi được điều trị với thuốc hóa học”. Và vị bác sĩ này giới thiệu nên mua một sản phẩm đông trùng hạ thảo của một thân hữu chủ nhân một công ty chuyên nuôi trồng các loại nấm…

Một người khác là nhà chuyên môn về massage trị liệu, bà Christa Miller viết về Cordiceps như sau:

“Cordiceps là một loại nấm mọc ra và lớn lên từ cơ thể con carterpilars. Mặc dù khoa học hiện nay chưa xác định công dụng của nó nhưng cordiceps đã được nhiều nhà chuyên môn dược thảo và một số khoa học gia phương Tây tin tưởng đây là một cây thảo rất mạnh để giúp cơ thể tăng cường sức khỏe với nhiều cách khác nhau”.

Kết luận

Tóm lại, mặc dù Đông trùng Hạ thảo đã được dùng từ nhiều ngàn năm như một sản phẩm có ích lợi cho sức khỏe nhưng xin nhắc nhở là trước khi dùng thảo mộc này hoặc bất cứ dược thảo nào, nên thông báo cho bác sĩ gia đình biết:

– Là mình đang dùng dược phẩm nào và đang bị dị ứng với bất cứ dược phẩm hoặc chất dinh dưỡng phụ thêm nào;

– Đang có thai hoặc dự trù sẽ có thai trong tương lai gần;

– Đang cho con bú sữa của mình;

– Đã từng bị các bệnh về tinh thần như Trầm cảm, ung thư nhũ hoa, bị loét dạ dày

– Đang điều trị bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch…

Cũng xin nêu ra là, các “quảng cáo” về dược thảo cũng đều có chú thích như sau:

NOTE: “These claims have not been evaluated by the FDA. Our products are not intended to diagnose, treat, cure or prevent any disease. Health decisions are much too important to be made without the advice of a Doctor or other Health Care Practitioner. We invite and encourage you to share this information with your doctor. We are happy to share all of our research materials with any doctor who asks”.

Tiếng Việt dịch như sau:

“Các giới thiệu này chưa được kiểm chứng bởi cơ quan FDA. Các sản phẩm của chúng tôi đều không có mục đích để chẩn đoán, điều trị, chữa khỏi hoặc phòng ngừa bất cứ loại bệnh nào. Quyết định về sức khỏe quá quan trọng để thực hiện khi chưa có ý kiến của bác sĩ y khoa hoặc các nhà chuyên môn y tế. Chúng tôi xin và khuyến khích quý vị chia xẻ các dữ kiện này với bác sĩ gia đình. Chúng tôi cũng sẵn sàng chia xẻ kết quả các nghiên cứu của chúng tôi với bất cứ y khoa bác sĩ nào muốn có”.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

www.bsnguyenyduc.com

http://www.youtube.com/user/Drnguyenyduc/videos

Tác giả:  Bác Sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.

Ông Robert Funseth, ân nhân của cựu tù cải tạo

Ông Robert Funseth, ân nhân của cựu tù cải tạo

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-10-01

 RFA

hinh1

Ông Robert Funseth và Hội gia đình tù nhân chính trị VN.

Hình do bà Khúc Minh Thơ gửi RFA
Ông Robert Funseth, phụ tá ngoại trưởng kiêm phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong thời chiến Việt Nam, qua đời ngày 25 tháng Chín vừa qua trong sự nhớ tiếc của những  gia đình cựu tù cộng sản từ Việt Nam qua Mỹ định cư theo chương trình HO từ năm 1990. Thanh Trúc ghi nhận cảm tưởng của một số cựu tù HO khắp nơi:Nếu không nhờ chương trình HO và nhờ nỗ lực ngoại giao của phụ tá ngoại trưởng Robert Funseth thì không chắc những quân nhân  miền Nam  ra khỏi tù cộng sản có thể được tái định cư hợp pháp tại Mỹ từ năm 1990 trở đi.

Đó là cảm tưởng chung của những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, còn được gọi là những người HO vì được qua Mỹ định cư theo chương trình Humanitarian Operation, tạm gọi là chương trình nhân đạo, mà người lãnh nhiệm vụ thương thuyết với phía Việt Nam khi đó không ai khác ngoài ông Robert Funseth .

Từ Illinois, ông Bùi Bổn, cựu sĩ quan miền Nam bị cộng sản tập trung cải tạo 10 năm, qua Mỹ theo diện HO4 năm 1990:

Khi ở trong trại tù thì tôi đã nghe được những tin tức là chính phủ Hoa Kỳ có can thiệp với cộng sản Việt Nam để cho một số tù cải tạo và gia đình của họ được ra đi định cư tại  Hoa Kỳ. Ông Funseth là người mà chúng tôi rất biết ơn bởi vì cũng nhớ chính sự ngoại giao của ông at thành thử chương trình HO tị nạn và nhân đạo cho những tù nhân cải tạo được hoàn tất.

Phải nói thành thật chúng tôi sống được là nhờ công lao của ông Funseth. Nếu không có chương trình HO này thì chúng tôi và gia đình chúng tôi mãi mãi sống trong sự đau khổ và nhục nhã ở trên chính quê hương của chúng tôi. Trước sự ra đi của ông Funseth chúng tôi vô cùng đau lòng và tiếc nuối. Bản thân tôi đã chuyển những tin tức nhanh nhất về tin ông Funseth đã rời bỏ chúng tar a đi đến cộng đồng người Việt.

Người thứ hai, cũng là HO4 với 6 năm tập trung cải tạo, ông Bùi Phước Ty, hiện cư ngụ tại California:

Chúng tôi được tin ông Robert Funseth không còn nữa. Với việc làm của ông, với tư cách phụ tá ngoại trưởng Mỹ, ông Robert Funseth đã bỏ không biết bao nhiêu công sức để có thể thương thuyết với chính quyền Việt Nam và sau đó chương trình HO giúp những gia đình của người tù cộng sản tái định cư ở Mỹ.

Cá nhân  tôi và gia đình chúng tôi thì không bao giờ quên được người đã giúp mình tái lập được một cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, con cái có cơ hội học hành và thay đổi cuộc sống từ sự cùng khổ ở đất nước Việt Nam sang xứ người.

Cá nhân  tôi và gia đình chúng tôi thì không bao giờ quên được người đã giúp mình tái lập được một cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, con cái có cơ hội học hành và thay đổi cuộc sống từ sự cùng khổ ở đất nước Việt Nam sang xứ người.
– ông Bùi Phước Ty

Chúng tôi được biết vào khoảng tháng Mười Một này tại Nam Cali, anh Nguyễn Phán với tư cách hội phó Hội HO, Thương Phế Binh Và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa, sẽ tổ chức một buổi hội ngộ cựu tù tại Nam Cali. Chúng tôi sẽ đề nghị ban tổ chức một buổi vinh danh và tưởng niệm ông Robert Funseth. Ngày thang nào còn sống trên cuộc đời này thì chúng ta còn nhớ đến ông Robert Funseth. Hy vọng ban tổ chức sẽ thực hiện trong buổi hội ngộ HO này.

Phải mất 7 năm ông Robert Funseth mới thành công và ký kết bản thỏa thuận về chương trình HO với viên chức cao cấp  Việt Nam lúc bấy giờ là ông Vũ Khoan.

Nói về ông Robert Funseth, phụ tá ngoại trưởng thời tổng thống Ronald Reagan, là nói đến một viên chức tận tụy với trách vụ, một con người giàu tình cảm và lòng nhân đạo ngay cả với những người  không phải ruột  thịt của mình:

Từ năm 1977 Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị bắt đầu vận động, điểm quan trọng nhất là khi tổng thống Reagan chấp thuận, đồng ý cho Bộ Ngoại Giao cử ông Funseth thương thảo với Việt Nam về vấn đề tù nhân chính trị.

Không bao giờ chúng tôi trong hội quên cái ngày mà ông Funseth cùng phái đoàn đi qua Việt Nam để ký kết bản thỏa hiệp ngày 30  tháng 7 năm 1989, khi đó ông Funseth đã cầu nguyện một đêm cho việc được hoàn thành. Khi về tới phi trường Bangkok thì ông Funseth đã gọi vợ là bà Marylin để bà báo tin cho chúng tôi biết vì tất cả anh chị em Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị đều chờ đợi kết quả đó.

Đó là lời bà Khúc Minh Thơ, người cùng tổ chức Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị từng sát cánh với ông Robert Funseth để chương trình HO hoàn thành. Theo bản thỏa thuận này, quân dân cán chính miền Nam được chấp thuận cho sang Mỹ định cư sau khi bị tập trung cải tạo trong các trại tù cộng sản 3 năm trở lên.

hinh2-400
Ông Robert Funseth và bà Khúc Minh Thơ

Không chỉ những cựu sĩ quan HO mà cả những cựu quân nhân không đi theo diện HO, điển hình như người ở Houston, Texas, ông Huỳnh Công Ánh, không giấu được sự bàng hoàng trước tin ông Robert Funseth qua đời:

Tôi là cựu tù chính trị các trại tù khắp miền Nam tới miền Bắc. Tôi trốn tù đầu năm 1981và qua Mỹ năm 81. Từ đó tôi sát cánh với bà Khúc Minh Thơ và ông Funseth. Sau  khi  có hội Gia Đình Từ Nhân thì tôi thành lập Tổng Hội Cựu Tù Nhân và chúng tôi sát cánh với nhau.

Tôi biết rất rõ là mỗi lần ông Funseth họp hành với phía bên kia thì ông đều báo về cho bà Khúc Minh Thơ. Cũng nhiều lần, hình như 3 lần, ông có xuống Houston để cùng tổ chức với tôi chương trình vận động đó.

Tôi biết ông là một người rất tha thiết, rất nhiệt tình. Nếu  không có ông thì tôi e rằng bản thỏa hiệp không có, hoặc là có chậm đi năm mười năm nữa thì liệu anh em HO trong các trại tù khốn khổ mà tôi biết rõ sẽ chết chóc rất nhiều. Cho nên công của ông đối với anh em HO rất lớn. Hàng năm chúng tôi đều có liên lạc với nhau. Khi ông nằm bịnh thì chính bà Khúc Minh Thơ hàng ngày vô bệnh viện và thông báo cho tôi những chi tiết. Từ khi ông nằm xuống thì chúng tôi cứ chờ đợi chương trình tang lễ để chúng tôi lên và có cơ hội đưa tiễn cuối cùng.

Từ thành phố Dallas, Texas, nhà báo Thái Hoa Lộc, cựu tù cộng sản:

Thời gian mà tôi biết ông Robert Funseth là khi thành  lập Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị đầu tiên tại Dallas Fort Worth, sau đó chúng tôi phối hợp với 3 khu hội khác là Khu Hội Houston, Khu Hội Nam Cali và Bắc Cali, thì lần đầu tiên mà chúng tôi gặp được ông Funseth là trong lần chúng tôi đi Washington để tham dự bữa cơm ĐồngTâm do bà Khúc Minh Thơ tổ chức, lúc đó ông Funseth đã ký được cái hiệp ước với ông Vũ Khoan ngày 30 tháng Bảy năm 1989. Chúng tôi đã gặp ông rất nhiều lần. Nhờ sự cố gắng trong vòng 7 năm mà ông Robert Funseth đã đưa được một số cựu tù nhân chính trị, trong đó có những chiến hữu của tôi, đến được Hoa Kỳ cùng gia đình của họ gần 300.000 người.

Sự ra đi của ông Ông Robert Funseth là sự mất mát. Dù không là HO nhưng chúng tôi biết ơn ông, tất cả những tù nhân chính trị đều biết ơn ông.

Đã có nhiều gia đình HO, khi đã tạm ổn cuộc sống tại Mỹ, tìm cách liên lạc với ông Robert Funseth để thăm hỏi và cảm ơn. Cũng vậy, khi về hưu và không còn phục vụ trong nghành ngoại giao nữa, cựu phụ tá ngoại trưởng Robert Funseth vẫn thường xuyên giữ mối dây thân tình đến những gia đình HO mà ông biết.

Đó là tính cách của nhà ngoại giao Robert Funseth, người ân của HO. Anh Lê Thành con trai một gia đình đi khá muộn là HO 31, hiện  là giám đốc công ty kỹ thuật cao Luraco nổi tiếng, nói như vậy về ông Robert Funseth:

Không bao giờ chúng tôi trong hội quên cái ngày mà ông Funseth cùng phái đoàn đi qua Việt Nam để ký kết bản thỏa hiệp ngày 30  tháng Tám năm 1989…
– bà Khúc Minh Thơ

Ba của Lê Thành là Khóa 1 đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, khi miền Nam sụp đổ, ba vào trại cải tạo 7 năm. Ba đi tù cộng sản về thì gia đình rất khó khăn, tuy nhiên nhờ chương trình HO, đặc biệt sự vận động của ông Funseth, thì gia đình Lê Thành sang Mỹ theo diện HO 31 năm 1995 để có được sự đổi đời như vậy.

Trong thời gian qua Lê Thành cũng may mắn có sự gần gũi với ông, ông có viết thư cho Thành và Thành cũng có viết thư cho ông. Trong những giờ phút hấp hối tại bệnh viện, cô Khúc Minh Thơ hỏi ông có nhớ Tom Lê của Luraco không thì ông nói ông có nhớ, một điều mà hôm qua nói chuyện với cô Khúc Minh Thơ làm Thành rất nghẹn ngào và cảm động. Cho phép Thành đại diện gia đình cũng như toàn thể nhân viên công ty Luraco xin thành kính phân ưu.

Thể theo ý nguyện của người quá cố, tang lễ sẽ được tổ chức rất đơn giản trong vòng riêng tư với gia đình. Ông Robert Funseth sẽ được an táng bên cạnh mộ phần người vợ thân yêu của ông là bà Marylin Funseth và con trai của hai người.

Một buổi lễ tưởng niệm ông Robert Funseth sẽ được tổ chức tại Washington DC đầu tháng Mười Hai để những người yêu mến ông có thể đến tham dự đông đủ hơn.

Bác sĩ bỏ đảng, khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh VNCH

Bác sĩ bỏ đảng, khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh VNCH

Nguoi-viet.com


Việt Hùng/Người Việt

SÀI GÒN (NV)Thời gian vừa qua, trong chương trình “Tri Ân Anh – Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn tổ chức, luôn xuất hiện một vị bác sĩ tận tâm khám chữa bệnh cho các thương phế binh. Ít ai biết được trước đây ông từng là bác sĩ cho bộ đội Bắc Việt.


Bác Sĩ Long thăm hỏi sức khỏe một TPB VNCH. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ông từng là trung tá Quân Ðội Nhân Dân, 30 tuổi quân, từng tham gia cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược, có nhiều kinh nghiệm chữa trị cho các thương binh. Thế nhưng, khi nhận ra sự thối nát của chế độ, ông đã từ bỏ đảng Cộng Sản và tham gia khám chữa bệnh cho Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (TPBVNCH).

Ông là Bác Sĩ Ðinh Ðức Long, sinh năm 1959, tốt nghiệp trường Ðại Học Y Khoa Semmelweis tại thủ đô Budapest, Hungary vào năm 1977, chuyên ngành Nội Tiêu Hóa. Hiện nay Bác Sĩ Ðinh Ðức Long, sống tại Sài Gòn. Ông đã vượt qua các rào cản của ý thức hệ và quan điểm chính trị để đến với các TPBVNCH với tấm lòng chân thành.

Từ bỏ đảng Cộng Sản

Trả lời về lý do vì sao ông từ bỏ đảng Cộng Sản, Bác Sĩ Long cho biết: “Năm 2012, nhận ra tình trạng tham ô của lãnh đạo bệnh viện, tôi tố cáo bí thư đảng ủy kiêm giám đốc bệnh viện đa khoa Bưu Ðiện – ông Trương Anh Kiệt và lãnh đạo bệnh viện đã ‘cấu kết làm hồ sơ giả mạo, để rút tiền của nhà nước và bảo hiểm y tế khoảng hơn 28.5 tỷ VND trong 3 năm (2009-2011).”

“Thế nhưng thay vì lãnh đạo ngành y tế phải tiếp thu để xử phạt, mà ngược lại, họ còn tiếp tay cho bệnh viện ‘đơn phương chấm dứt hợp đồng’ làm việc với tôi. Từ đó tôi đã không còn sự tin tưởng vào chế độ này, và đã tuyên bố ra khỏi đảng.”

Theo Bác Sĩ Long, sau đó ông tiếp tục khởi kiện giám độc bệnh viện Bưu Ðiện Sài Gòn lên tòa án. Ròng rã theo đuổi vụ kiện suốt mấy năm, Tòa án Quận 10 Sài Gòn bằng bản án dân sự sơ thẩm số 25/2014/LÐ-ST, ngày 4 tháng 12, 2014, tuyên ông thắng kiện vụ án “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.”


Bác Sĩ Ðinh Ðức Long và Linh Mục Phạm Trung Thành – cựu giám tỉnh DCCT Sài Gòn trong một lần khám chữa bệnh cho TPB VNCH. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Theo đó bệnh viện phải chấp nhận thi hành án bằng việc nhận ông trở lại làm việc như cũ và bồi thường cho ông một khoản tiền. Bác Sĩ Long đã trích ra 10 triệu đồng tặng cho Chương trình “Tri Ân Anh – Người Thương Phế Binh VNCH.”

Khi đến với thương phế binh với tấm lòng chân thành, ông bộc bạch rằng, “Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm chia sẻ một phần những thiệt thòi đối với các anh em TPBVNCH. Qua việc tôi khám chữa bệnh cho họ trong các đợt trước, tôi thấy các anh em TPB VNCH là những người thiếu thốn về mặt thuốc men, một số trang thiết bị như mắt kính, cặp nạng, xe lăn,… nên tôi muốn đóng góp một phần trong khả năng của tôi từ số tiền mà tôi thắng kiện để sẻ chia cho họ.”

Trả lời Người Việt về “Cảm nghĩ khi tiếp xúc với các TPB VNCH?” Ông cho biết: “Họ cũng là những quân nhân, họ cũng là con em dân tộc Việt Nam, họ chiến đấu vì một mục đích riêng của họ. Xưa nay thành bại là chuyện thường của cuộc đời. Tất cả hai bên đều là nạn nhân của chiến tranh, chiến tranh của huynh đệ tương tàn.”

“Sau cuộc chiến, họ là những người thiệt thòi nhất, theo tôi, họ nằm trong số những người thiệt thòi cần được chia sẻ cả về thể xác lẫn tinh thần. Những người thương binh của chế độ Cộng Sản được chế độ chăm sóc, còn họ không được chế độ chăm sóc, thậm chí bị bỏ rơi, miệt thị… Trên thực tế không có chính sách gì dành cho họ.”

Khi được hỏi, “Bác sĩ nghĩ như thế nào về tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc?”, ông cho biết: “Tôi nghĩ hòa hợp hòa giải dân tộc là một điều nên làm và cần làm ngay bây giờ, chứ không thể chậm trễ nữa. Bây lâu nay các lãnh đạo Cộng Sản thường hay nói về ‘hòa hợp hòa giải dân tộc’, thế nhưng trên thực tế thì họ không làm gì để thể hiện điều này?”

“Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm rồi, muốn khép lại quá khứ thì phải thể hiện bằng hành động, mà hành động dễ nhất là đối với các tử sĩ như trùng tu nghĩa trang Biên Hòa, sau đó là những người TPB VNCH – những người trẻ nhất là 60 tuổi, người già trên 80 – họ không còn sống được bao lâu,” BS Long nói.

Nhìn hình ảnh người bác sĩ tận tâm khám chữa bệnh cho các chú TPB VNCH, hy vọng hình ảnh này sẽ còn kéo dài mãi, để vết thương chiến tranh có thể lành hẳn trên người lính của cả hai miền chiến tuyến.

Lòng bao dung.

Lòng bao dung.

Một vị lão hòa thượng có trồng một chậu hoa lan, ông rất chăm sóc và bảo vệ chậu hoa lan thanh nhã này, thường xuyên tưới nước, nhặt cỏ và bắt sâu cho nó. Hoa lan cũng nhờ vào sự chăm sóc của lão hòa thượng mà lớn lên khỏe mạnh và vô cùng xinh đẹp. Một lần, lão hòa thượng phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền đem chậu hoa lan giao lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.

Tiểu hòa thượng rất có trách nhiệm, cũng một lòng để tâm chăm sóc hoa lan như lão hòa thượng vẫn làm khiến hoa lan phát triển khỏe mạnh.

Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi đã tưới nước cho chậu hoa lan liền đặt nó ở trên bệ cửa sổ rồi đi ra ngoài làm việc.

Thế rồi mưa to xối xuống, gió to làm chậu hoa lan rơi xuống mặt đất vỡ tan. Tiểu hòa thượng sau khi trở về nhà nhìn thấy trên mặt đất cành lá gãy rập, héo úa dưới đất. Tiểu hòa thượng vừa đau lòng vừa lo sợ lão hòa thượng sẽ quở trách.

Mấy ngày sau, lão hòa thượng trở về nhà, tiểu hòa thượng kể lại sự tình đã xảy ra và cũng sẵn sàng tiếp nhận sự trách mắng của lão hòa thượng.

Nhưng lão hòa thượng không nói lời nào trách mắng cả khiến tiểu hòa thượng vô cùng bất ngờ, bởi vì trong lòng tiểu hòa thượng biết rõ rằng ông vô cùng yêu mến chậu hoa lan kia.

Lão hòa thượng chỉ cười cười rồi nói với tiểu hòa thượng: “Ta nuôi dưỡng hoa lan, đâu phải để tức giận?”

Chỉ một câu nói đơn giản nhưng lại thể hiện ra một người có tấm lòng bao dung rộng lượng và cởi mở với cuộc đời.

Chúng ta làm việc không phải để tức giận……

Chúng ta yêu thương nhau không phải để tức giận……….

Thứ gì đó một khi bị mất đi không thể vãn hồi được nữa có nhất thiết phải oán trách hay thù hận không? Người nếu như trong lòng có căm hận thì ở đâu cũng thấy hận, người nếu như có lòng biết ơn thì ở đâu cũng thấy biết ơn, người nếu như trưởng thành thì mọi sự cũng trưởng thành.

Suu Tam

Bờ biển Việt Nam đang rơi dần vào tay Trung Quốc

Bờ biển Việt Nam đang rơi dần vào tay Trung Quốc

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-09-30
Không được để phố biển Đà Nẵng trở thành phố Tàu !

Không được để phố biển Đà Nẵng trở thành phố Tàu !

Báo Đời Sống Pháp Luật

Biển Việt Nam đang ngày càng hẹp dần bởi đường lưỡi bò của Trung Quốc, đây là câu chuyện có thể nói rằng hiện tại, hiếm có ai là không biết chuyện này. Nhưng, bờ biển Việt Nam đã và đang rơi dần vào tay Trung Quốc, người Trung Quốc có mặt trên toàn bộ các bãi biển đẹp của Việt Nam và nơi nào họ xây dựng, nơi đó bị sóng xâm thực nặng nề, điều này cũng giống như nơi nào có mặt người Trung Quốc trên dãy Trường Sơn, nơi đó trở nên trơ trọi. Chuyện này có vẻ như không mấy ai được biết, ngoại trừ các quan chức Việt Nam.

Việt Nam miễn thị thực cho người Việt định cư ở nước ngoài

Việt Nam miễn thị thực cho người Việt định cư ở nước ngoài

Du khách chờ lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Du khách chờ lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất.

30.09.2015

Một nghị định mới của chính phủ Việt Nam cho phép người Việt ở hải ngoại, vợ hay chồng người nước ngoài và con cái của họ sang thăm Việt Nam mà không cần phải xin thị thực nhập cảnh.

Báo Thanh Niên hôm nay nói thêm rằng quy định duy nhất là họ phải có sổ thông hành có hiệu lực trong ít nhất là thêm một năm nữa, và trình giấy tờ cá nhân cho các cơ quan cấp visa trong khu vực. Họ sẽ được cấp giấy miễn thị thực có hiệu lực tối đa là 5 năm.

Người nước ngoài hiện ở tại Việt Nam có thể xin cấp giấy miễn thị thực tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, Giấy miễn thị thực được cấp cho người nhập cảnh Việt Nam thăm thân nhân, giải quyết việc riêng. Giấy miễn thị thực sẽ được đóng vào sổ thông hành.

Biện pháp này là nhằm đẩy mạnh con số du khách tới thăm Việt Nam đã giảm mạnh trong năm qua.

Số du khách tới thăm Việt Nam trong tháng 9 chỉ lên tới 626,000 người, giảm 5,8% so với tháng trước đó, theo các số liệu của Tổng Cục Du lịch Việt Nam.

Mặc dù con số này tượng trưng cho mức tăng 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, tổng số du khách tới Việt Nam trong 9 tháng đầu năm đã giảm 5,9%.

Theo báo Thanh Niên, một số người quy cho tình trạng kinh tế toàn cầu khó khăn hơn, tuy nhiên giới truyền thông lưu ý rằng các nước láng giềng của Việt Nam ghi nhận số du khách tăng đáng kể trong cùng thời gian này.

Theo Thanh Nien, TTXVN