BIỂU TÌNH VÌ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM Ở VŨNG TÀU

BIỂU TÌNH VÌ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM Ở VŨNG TÀU
Sáng sớm nay anh chị em ở VT đã biểu tình đòi môi trường trong sạch cho Đất Nước.
HÃY HƯỞNG ỨNG NHÉ NHÂN DÂN TOÀN QUỐC.
CHÚNG TA KHÔNG TỰ CỨU MÌNH KHÔNG AI CỨU CHÚNG TA ĐÂU

VT 1V T 2V T 3V T 4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

nguồn: Facebook Suong Quynh

Bà Rịa – Vũng Tàu hướng về Miền Trung!

Bà Rịa – Vũng Tàu hướng về Miền Trung!
Người dân không vô cảm, họ tiến lại và cùng chia sẻ khi thấy nàng đơn độc.
Sài gòn, Hà Nội, Đà Nẵng ơi cố lên!

BARIÁ

 

 

 

 

BARIA 2

 

 

 

 

 

 

BARIA 3

 

 

 

 

 

BARIA 4

 

 

 

 

 

 

Facebook Bạch Cúc

Cảnh báo nguồn độc gây chết cá có khả năng lan xuống tận Phú Quốc

Cảnh báo nguồn độc gây chết cá có khả năng lan xuống tận Phú Quốc

Thực Hiện Bureau CTM Media – Mỹ Châu –

30/04/2016

KS Doãn Mạnh Dũng: Thảm họa cá chết miền Trung – Nguồn độc có khả năng lan xuống tận Phú Quốc.

KS Doãn Mạnh Dũng

SÀI GÒN (CTM Media) – KS Doãn Mạnh Dũng, phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Khoa học kỹ thuật và kinh tế Biển TP.HCM, hôm 19 Tháng Tư đã cảnh báo rằng “nếu không cắt ngay nguồn độc đang gây cá chết tại 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, và mới ngày hôm nay 29-4 lan tới Đà Nẵng, thì nguy cơ chất độc sẽ còn lan xuống tận Phú Quốc!”

Cảnh báo được nêu lên qua cuộc phỏng vẩn trên Người Đô Thị hôm nay, liên quan đến thảm họa cá chết hàng loạt dọc bờ biển dài hơn 250 cây số ở miền Trung trong cả tháng qua.

Dẫn chứng qua tính toán dòng chảy thường trực tầng đáy biển dọc bờ biển Việt Nam từ hướng Bắc xuống Nam, mạnh nhất ở đoạn từ Vũng Áng đến mũi Cà Mau (với tốc độ khoảng 0.38 mét/giây). Ngoài ra, mỗi năm có 9 tháng, do ảnh hưởng gió đông-bắc nên có dòng chảy tầng mặt theo hướng từ Bắc xuống Nam với tốc độ bình quân 0.757 mét/giây. Như vậy sự việc chất độc gây cá chết tại Hà Tĩnh sẽ không chỉ giới hạn khu vực từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế hay các tỉnh miền Trung, mà sẽ lan xuống tận bờ biển miền Nam ra tận tới  Phú Quốc.

Cũng theo ông Dũng, hiện tượng cá tầng đáy bị chết chứng tỏ nguyên nhân gây chết cá là độc tố trong nước. Các chất thải ra biển hầu hết có tỷ trọng cao hơn nước biển nên nhanh chóng lắng xuống tầng đáy. Vì vậy, sự viện dẫn cá chết do rong tảo trôi nổi trên tầng nước mặt là không logic và không thuyết phục được những người quan tâm. Vã lại, thời điểm này gió Tây Nam đưa dòng tầng mặt qua đảo Hải Nam, đó cũng là lý do hiện tượng cá chết chưa lan tràn nhanh xuống Nam Trung Bộ.

Nhận định thảm họa cá chết vì ngộ độc, KS. Dũng cho rằng “đây là một hiểm họa cực kì lớn đối với cả đất nước, nó triệt tiêu nguồn tài nguyên để nhiều triệu người có thể duy trì cuộc sống trong nhiều ngàn năm qua dọc theo mảnh đất hình chữ S.”

Qua bài phỏng vấn, KS Doãn Mạnh Dũng cũng đã đề cập đến những điểm nghi vấn có khả năng gây ra chất độc, cũng như vạch ra những yếu kém, tham lợi của những người xây dựng phát triển KCN tại vị trí Vũng Áng-Sơn Dương đang gây nguy cơ lớn cho ô nhiễm môi trường vùng biển Việt Nam.

Cũng qua thảm họa đang xảy ra này, một điểm đặc biệt ông lưu tâm là phải  cần nhìn nhận Sơn Dương – Vũng Áng là một yếu huyệt bảo vệ sự an ninh lãnh thổ Việt Nam từ hướng biển. Do đó sự hợp tác với các đối tác nước ngoài trong xây dựng kinh tế ở các yếu huyệt này cần gắn chặt với nhu cầu quốc phòng khi xảy ra chiến tranh vệ quốc, cái mà hiện nay không ai quan tâm. Theo ông, việc đầu tư kinh tế tại đây là một sai lầm.

Dưới đây là nguyên văn bài phỏng vấn trên tờ Người Đô Thị ngày 19-04-2016

Thảm họa cá chết miền Trung:
Nguồn độc có khả năng lan xuống tận Phú Quốc

Phỏng vấn của Người Đô Thị với KS Doãn Mạnh Dũng, phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Khoa học kỹ thuật và kinh tế Biển TP.HCM, nguyên trưởng ban Cơ sở hạ tầng cảng biển thuộc Cục Hàng hải Việt Nam.

cachetbobienDaNang290416

Cá chết ở vùng biển Đà nẵng sáng ngày 29.4. Ảnh: Tuổi Trẻ

Thưa ông, với thảm họa cá chết hàng loạt trong thời gian dài, chủ yếu là cá tầng đáy, ở 4 tỉnh ven biển miền Trung gồm Hà Tĩnh, Quãng Bình, Quãng Trị, Huế, và mới hôm nay ngày 29.4 là Đà Nẵng, thì liệu tình trạng cá chết này có khả năng còn lan rộng nữa không?

Trong đặc điểm tự nhiên của bờ biển Việt Nam, do chênh lệnh nhiệt độ giữa Bắc Cực và Xích đạo, do trái đất quay từ Tây sang Đông, do bờ biển Trung Quốc khi xuống phía Nam thì lệch về hướng Tây nên trong 365 ngày/năm luôn luôn có dòng hải lưu tầng đáy chạy dọc bờ biển Việt Nam từ Bắc xuống Nam, nhưng mạnh nhất từ Vũng Áng – Sơn Dương, Hà Tĩnh đến mũi Cà Mau.

Tốc độ dòng tầng đáy tính toán được khỏang 0.38 m/s trên hiện tượng di chuyển của các thi thể hành khách trên xe 48K5868 bị tai nạn ngày 18.10.2010 ở Nghị Xuân – Hà Tĩnh.

Về mùa đông, vào tháng 1, 2, 3, 4, 8, 9, 10, 11, 12 (9/12 tháng), vì ảnh hưởng gió đông bắc nên có dòng chảy mặt theo hướng từ Bắc xuống Nam với tốc độ bình quân 0.757 m/s.

Dòng tầng đáy và tầng mặt cộng hưởng đưa phù sa bờ biển Việt Nam theo hướng từ Bắc xuống Nam. Vùng bờ biển Vũng Áng, Sơn Dương nằm phía nam vĩ tuyến cực Nam của đảo Hải Nam, nên bờ biển miền Trung từ vị trí này hướng về Nam là chịu tác động của dòng chảy tầng đáy và cả tầng mặt.

Bạn nhớ bài hát “Quảng bình- Quê ta ơi” với những cồn cát trắng? Ở Bắc sông Gianh, các cồn cát đã cao đến 17-18m, nhưng ở Hà Tĩnh hoàn toàn không có cồn cát. Đó là hiện tượng khác biệt giữa bờ biển Hà Tĩnh và Quảng Bình. Do nguyên lý này mà các vịnh ở bờ biển Đông Việt Nam chỉ sâu khi vịnh chống được dòng hải lưu trên chảy vào vịnh, có nghĩa rằng cửa vịnh phải quay về hướng Nam. Ví dụ như vịnh Cam Ranh, vịnh Vân Phong, Vũng Rô. Vì là các vịnh ven núi, nên các vịnh chỉ sâu khi không có dòng sông lớn xuất phát từ dãy Trường Sơn. Ví dụ vịnh Dung Quất có sông Trà Bồng nên hạn chế độ sâu. Khi đến mũi Cà Mau, dòng hải lưu bị đẩy về hướng Tây, nên mũi Cà Mau có hình dàng như mũi tàu cong về phía Tây. Chính dòng hải lưu trên làm vịnh Thái Lan bị cạn dần và đang bị ngọt hóa. Chính sự ngọt hóa này mà Phú Quốc có những hải sản khác thường với ngư trường Phan Thiết.

Như vậy sự việc chất độc gây cá chết tại Hà Tĩnh sẽ không giới hạn khu vực từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế.

Đúng thời điểm này, gió Tây Nam đưa dòng tầng mặt qua đảo Hải Nam, nên hiện tượng cá chết chưa lan tràn xuống Nam Trung Bộ. Hơn nữa hiện tượng cá tầng đáy bị chết chứng tỏ nguyên nhân gây chết cá là độc tố trong nước. Các chất thải ra biển hầu hết  có tỷ trọng cao hơn nước biển  nên nhanh chóng lắng xuống tầng đáy. Vì vậy sự viện dẫn cá chết do rong tảo trôi nổi trên tầng nước mặt là không logic và không thuyết phục được những người quan tâm.

Như vậy, dòng tầng đáy đã chắc chắn đưa chất độc xuống bờ biển Nam Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nam. Tôi cho rằng, khu vực này chưa thấy cá chết do mật độ chất độc thấp, nhưng tiềm ẩn đem lại bệnh tật trong tương lai là khó tránh khỏi.

Tóm lại, theo tính toán dòng chảy như trên, thì chất độc không chỉ ở 5 tỉnh miền Trung mà còn có nguy cơ lan chảy từ Hà Tĩnh xuống Phú Quốc. Những tính toán này là thuộc về vấn đề khoa học cơ bản, rất rõ ràng.

Tôi cho rằng đây là một hiểm họa cực kì lớn đối với cả đất nước, nó triệt tiêu nguồn tài nguyên để nhiều triệu người có thể duy trì cuộc sống trong nhiều ngàn năm qua dọc theo mảnh đất hình chữ S.

Đường ống xả thải của Formosa ra biển Vũng Áng. Nguồn: petrotimes.vn

Đường ống xả thải của Formosa ra biển Vũng Áng. Nguồn: petrotimes.vn

Là người có nhiều nghiên cứu về biển, theo ông, những “điểm” nào có khả năng gây ra chất độc khiến cá chết hàng loạt và kéo dài như hiện nay?

Không chỉ nghi vấn riêng Formosa, mà tất cả các khu công nghiệp (KCN) trước khi nước thải ra biển đều phải có sự kiểm tra hết. Không kiểm tra được thì đóng cửa. Đó là nguyên tắc. Quyền lợi của một nhóm luôn nhỏ hơn rất nhiều quyền lợi của cả một dân tộc. Vừa rồi trên thế giới có tập đoàn thép của Ấn Độ đã phải từ bỏ thị trường nước Anh, vì chi phí môi trường ở đây quá lớn. Còn ở Việt Nam thì lại chọn chi phí môi trường thấp nhất để kiếm lời. Đó là sự kiếm lời trên cái sống tàn tạ và trên tiền thuốc men, bệnh tật của người Việt Nam. Chúng ta làm việc và chiến đấu để sống, chứ không phải để chết.

Theo ông, việc xây dựng và phát triển công nghiệp tại vị trí Vũng Áng – Sơn Dương có phù hợp hay không?

Việc hình thành KCN, tôi cho rằng tùy vào mục tiêu của mình. Mục tiêu của ta là làm giàu bằng mọi giá, hay chúng ta từng bước phát triển, xây dựng quê hương tốt đẹp cho chúng ta? Hai mục tiêu đó khác nhau, mà mục tiêu của một nhóm người bằng mọi giá để lấy tiền và sau đó ra đi định cư ở nước ngoài là khác xa với mục tiêu của đa số người dân Việt Nam này là mơ ước tìm hạnh phúc ngay trên đất nước của mình.

Một khu kinh tế với những ngành công nghiệp nặng như Vũng Áng hiện nay là một nguy cơ rất lớn cho ô nhiễm môi trường vùng biển và nguy cơ cho ngành kinh tế thủy sản biển của mình.Nhất là khi mình vẫn chấp nhận nền công nghiệp lạc hậu của Trung Quốc, đó là điều không chấp nhận được và hậu quả sẽ không lường.

Ông đã từng đánh giá Vũng Áng – Sơn Dương có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng…

Đúng vậy! Sơn Dương là một trong bốn yếu huyệt bảo vệ sự an ninh lãnh thổ Việt Nam từ hướng biển đuợc xếp theo thứ tự: Cam Ranh, Sơn Dương, Nam Du và Côn đảo. Bốn yếu huyệt này được xác định dựa vào những yếu tố địa lý tự nhiên.

Ở vịnh Bắc Bộ, cảng Sơn Dương nằm phía nam Vũng Áng thuộc Hà Tĩnh có vị trí khá đặc biệt. Vị trí này cùng vĩ tuyến với cảng Tam Á, có hạm đội nguyên tử của Trung Quốc. Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay phía bắc đèo Ngang nơi có đường Quốc Lộ 1A với đường đèo và hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương sau khi xây đê 3.000m từ mũi Ròn đến hòn Sơn Dương thì vùng cảng kín sóng gió và đạt độ sâu đến trên -16m cùng với vùng nước rộng rãi. Vì vậy, cảng Sơn Dương là yếu huyệt của vịnh Bắc Bộ, kiểm soát đường biển và đường bộ từ Nam Bộ và Trung Bộ tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam.

Vùng nước Sơn Dương phía Nam Vũng Áng là vị trí duy nhất của cả miền Bắc có thể  đón tàu sân bay được, nhưng mình giao cho Trung Quốc là hỏng. Vị trí đó nằm ngay Đèo Ngang, chỉ cần hai trung đội là đủ cắt đôi đất nước ngay, vì ở đây có hầm Đèo Ngang và đường độc đạo, xe lửa đi tới đây phải chạy ngược lên về phía Tây để băng qua, chứ còn vị trí này là đèo, không đi qua được.

Vị trí này là huyệt đạo của cả hải quân Việt Nam. Nó phải dành cho Hải quân Việt Nam chiếm lĩnh để bảo vệ đất nước. Vì với một nước nhỏ, nghèo, mọi việc từ xây dựng đến bảo vệ đất nước phải biết sử dụng những đặc điểm địa lý tự nhiên. Hải quân Việt Nam phải có các căn cứ quân sự đủ sức phòng ngự và tấn công để phòng ngự. Các căn cứ hải quân phải có độ sâu thích hợp, độ rộng mặt nước đủ năng lực tiếp nhận nhiều tàu quân sự, có núi cao để che chắn và thuận lợi trong cung ứng hậu cần. Và sự hợp tác với các đối tác nước ngoài trong xây dựng kinh tế ở các yếu huyệt trên cần gắn chặt với nhu cầu quốc phòng khi xảy ra chiến tranh vệ quốc.

Còn làm kinh tế là từng bước, chúng ta làm để sống chứ không phải làm để chết.

Năm 2003, tôi là người trực tiếp đã báo cáo tiềm năng vịnh Sơn Dương với bí thư Hà Tĩnh hồi đó – Trần Đình Đàn, tiềm năng của cảng Hà Tĩnh không phải ở Vũng Áng phía Bắc mà là phía Nam Vũng Áng, tức là vùng Sơn Dương. Việc đầu tư kinh tế tại đây là một sai lầm. Người Việt Nam mình phải hiểu địa phương mình hơn nước ngoài chứ!

Cá chết bất thường ở vùng biển miền Bắc Trung Bộ. Ảnh: Quang Tiến/zing.vn

Cá chết bất thường ở vùng biển miền Bắc Trung Bộ. Ảnh: Quang Tiến/zing.vn

Việc kiểm tra của các đoàn cơ quan Nhà nước vẫn đang được tiến hành tại KCN Vũng Áng nói chung và Formosa nói riêng. Trước tính chất nghiêm trọng của thảm họa cá chết hiện nay, ông đánh giá việc kiểm tra như mức độ hiện nay của Nhà nước là đủ chưa? Hành động ngay trong lúc này của Nhà nước cần là gì, thưa ông?

Tốt nhất bây giờ chúng ta cứ giải quyết vấn đề sòng phẳng với các doanh nghiệp kinh doanh, nếu anh gây ra ô nhiễm thì anh phải chịu trách nhiệm với hậu quả của chính anh. Việc chính quyền nhân nhượng doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất thải là điều không chấp nhận và là nguyên nhân chính dẩn đến sự hỗn loạn của xã hội, nhất là với các doanh nghiệp nước ngoài.

Vấn đề cần làm hiện nay là phải cắt ngay nguồn độc này! Việc đầu tiên hiện nay là cần cấm đưa chất thải chưa xử lý ở các KCN ra biển. Hệ thống kiểm tra môi trường cần xác định ngay tính hợp pháp của những đường ống chất thải ra biển. Nếu hệ thống ống không hợp pháp thì cần xử lý ngay theo pháp luật, kể cả giải thể doanh nghiệp. Nếu hệ thống ống thải là hợp pháp thì cần thay đổi ngay những cán bộ có chức năng đang kiểm soát môi  trường tại Hà Tĩnh vì họ không hoàn thành nhiệm vụ.

Khi người dân Việt Nam từ Hà Tĩnh đến Phú Quốc không dám ăn cá biển thì  kinh tế và xã hội Việt Nam sẽ ra sao? Thương hiệu hải sản Việt Nam sẽ đi về đâu? Nó là một tai họa không tưởng tượng được, và tôi nghĩ rằng nó sẽ đốt tất cả những thành quả bao nhiêu năm qua của chúng ta. Khi con người ở ven biển mà không dám ăn cá, khi hàng triệu ngư dân không có công việc để  kiếm sống thì đất nước này sẽ hỗn loạn.

Lê Quỳnh (thực hiện)

Khu kinh tế (KKT) Vũng Áng chủ yếu do Trung Quốc thầu và thi công. KKT này được thành lập vào tháng 4.2006, trên cơ sở khu công nghiệp – cảng biển Vũng Áng đã được thành lập từ năm 1997. Đây là một bộ phận của khu đô thị Vũng Áng và vùng kinh tế Bắc Quảng Bình – Nam Hà Tĩnh. KKT Vũng Áng được Thủ tướng Chính phủ thành lập tại Quyết định số 72/2006/QĐ-TTg ngày 3.4.2006 có diện tích 22.781ha với mục tiêu xây dựng, phát triển thành khu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là:

(1) phát triển các ngành công nghiệp luyện kim gắn với lợi thế về tài nguyên, nguồn nguyên liệu; các ngành công nghiệp gắn với khai thác cảng biển, công nghiệp thép, trung tâm nhiệt điện và lọc hóa dầu,

(2) phát triển đồng bộ khu liên hợp cảng Vũng Áng – Sơn Dương bao gồm việc đầu tư và khai thác có hiệu quả khu liên hợp cảng, phát triển dịch vụ cảng và các dịch vụ vận tải biển để tạo thành một trong những cửa ngõ ra biển quan trọng của Bắc Trung Bộ.

(3) xây dựng khu đô thị mới Vũng Áng, đồng thời ưu tiên phát triển các khu du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng biển trở thành các điểm du lịch quan trọng trong tuyến du lịch ven biển Bắc Trung Bộ.

nguồn: http://www.nguoidothi.vn/vn/news/chuyen-hom-nay/tin-tuc-thoi-su-noi-bat/3230/tham-hoa-ca-chet-mien-trung-nguon-doc-co-kha-nang-lan-xuong-tan-phu-quoc.ndt

Để tiêu diệt một dân tộc

Để tiêu diệt một dân tộc

 Lê Minh Nguyên

Khi sinh tiền bà GS Sheri Rosenberg có viết “Diệt chủng là một tiến trình, không phải một sự kiện” (Genocide Is a Process, Not an Event – http://scholarcommons.usf.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1045). Bà cho rằng đó là một sự giảm thiểu từ từ sức sống của dân tộc đó về cả hai mặt chất lượng và số lượng (genocide by attrition).

Trong lịch sử loài người, diệt chủng đã xảy ra rất nhiều cho các dân tộc, tuy hoàn cảnh và đặc tính có khác nhau, nhưng nó có các điểm giống nhau như: (1) diễn ra trong bối cảnh thế giới ít quan tâm vì do một sự kiện lớn khác chiếm hết các băng tầng của truyền thông các nước, (2) muốn xoá bỏ, làm bạc nhược, hay đuổi dân tộc đó ra khỏi một vùng lãnh thổ, (3) chủ thể gây ra là một chính quyền hay một quốc gia ở tại thực địa hay ở ngoài thực địa, (4) xem sự hiện hữu hay sự hùng mạnh của dân tộc đó là một mối đe doạ, (5) xảy ra khi dân tộc đó không có khả năng để tự bảo vệ, (6) chủ thể gây ra thường nhân danh một lý tưởng, một chủ nghĩa, một tín ngưỡng, hay một sự tự vệ, (7) chủ thể gây ra thấy không có ai ở bên ngoài thực sự có khả năng can thiệp vào, (8) sự diệt chủng xảy ra trong một thời gian dài, không phải giết hàng loạt trong một vài lần, (9) sự diệt chủng không chừa một ai, dù đàn bà hay trẻ em (https://clg.portalxm.com/library/keytext.cfm?keytext_id=187).

Trong quá khứ ta thấy có khoảng 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã sát hại từ 1933-1945, khoảng 1 triệu người Tutsi bị sát hại trong năm 1994 ở Rwanda bởi chính quyền người Hutu, khoảng 1,5 triệu người Armedian bị sát hại dưới tay người Thổ Nhĩ Kỳ từ 1915-1923, khoảng 1,5 triệu người Cam Bốt dưới tay Pol Pot từ 1975-1979, hơn 1 triệu người Ái Nhĩ Lan chết đói 1846-1852 mà nguời Anh gián tiếp để cho xảy ra, nhiều triệu thổ dân ở Mỹ Châu bị chết vì bệnh đậu mùa (smallpox) do nguời Âu Châu đem sang cùng sự tàn sát người Inca và người Aztecs, chính quyền Úc từ 1909 đến thập niên 1970 chủ trương tiêu diệt thổ dân bằng cách bắt cóc trẻ sơ sinh của họ,… (http://listverse.com/2013/05/03/10-atrocious-genocides-in-human-history/).

Việt Nam là nạn nhân của tiến trình này qua cả ngàn năm lịch sử, nó giảm tốc khi Việt Nam giành được độc lập, nhưng tăng tốc trở lại khi phong trào cộng sản thắng thế với quốc tế vô sản, và càng thảm não hơn khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, CSVN lệ thuộc vào CS Trung Quốc nhiều hơn để tồn tại, mà Hội nghị Thành Đô 1990 và hai thập niên sau đó là đỉnh điểm của sự thần phục.

Trung Quốc từ ngàn năm, do địa chính trị tréo ngoe thất thế, hoặc chỉ thu mình ở trung nguyên hay chỉ có thể tiến nam để bành trướng, nên xem VN là cái gai cần phải nhổ cho trống đường, cả bộ lẫn thuỷ. TQ xem sự hùng mạnh của VN là một mối đe doạ, cản bước TQ trong việc chế ngự Đông Nam Á với khoảng trên 600 triệu dân, với tài nguyên Biển Đông và đường vào Ấn Độ Dương để tiến đến Trung Đông và Phi Châu.

Nhưng tiêu diệt dân tộc VN thì rất khó, ngàn năm lịch sử đã chứng minh. Vậy thì diệt chủng bằng một tiến trình từ từ và đa dạng là giải pháp mà họ có thể làm được, vừa hiệu quả vừa không gây ồn ào để dư luận thế giới quan tâm.

Ở Hội Nghị Geneva 1954, trong các cuộc đàm phán giữa các bên, TQ với thủ tuớng Chu Ân Lai luôn thúc ép phía Việt Nam chia đôi đất nước (https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Genève,_1954). Nhà sử học Nayan Chanda nhận xét: “Trung Quốc ủng hộ sự tồn tại của hai Việt Nam và nói chung mong muốn có một đa quốc gia tại biên giới của nó…” (http://www.baogiaothong.vn/vai-tro-den-toi-cua-trung-quoc-tai-hoi-nghi-geneva-1954-d79158.html).

Trong Chiến Tranh VN, TQ cung cấp súng đạn cho Miền Bắc xâm lăng Miền Nam, muốn cho huynh đệ tương tàn, TQ còn cho cả 170.000 quân TQ vào trấn giữ Miền Bắc để CSVN dốc toàn lực lượng xâm lăng Miền Nam (bit.ly/1VCpHVM). Một VN yếu và tan nát là một dạng của tiến trình tiêu diệt một dân tộc.

Khi Miền Bắc chiếm được Miền Nam năm 1975, những ngày trước khi MN sụp đổ, TQ không muốn có một VN thống nhất mà muốn tiếp tục duy trì hai thực thể, họ đã liên lạc với Toà Đại sứ Pháp và với phía ông Dương Văn Minh ý định này, nhưng đã không thực hiện được vì biến cố xảy ra quá nhanh và ông DVM đi về hướng người em ruột của ông là Dương Thanh Nhựt (Mười Ty – http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20110428/nam-bo-nhung-ngay-hao-hung—ky-5-phuong-an-duong-van-minh/435432.html) phía CSVN, đang ngã hẳn về Liên Xô. Sử gia Dương Trung Quốc đồng ý với đánh giá của truyền thông quốc tế lúc bấy giờ là TQ muốn “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Ông nêu bật là, bất chấp sự chọc gậy bánh xe của TQ, CSVN năm 1975 đã thống nhất đất nước. Phản ứng sau đó của TQ là xúi giục lực lượng Khmer Đỏ của Pol Pot mở cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và xua quân đánh vào vùng biên giới phía Bắc VN năm 1979 (http://m.vi.rfi.fr/viet-nam/20140731-trung-quoc-va-y-do-pha-hoai-su-toan-ven-lanh-tho-cua-viet-nam).

Để tiêu diệt một dân tộc, TQ sử dụng một tiến trình lâu dài và đa dạng: từ chia đôi đất nước, cung cấp súng đạn cho huynh đệ tương tàn, thừa cơ hội Hoa Kỳ rút quân để chiếm Hoàng Sa, thừa cơ hội CSVN chơi vơi trước sự suy tàn của Liên Xô và Đông Âu để chiếm Trường Sa, lợi dụng lúc CSVN sẽ té nếu không có họ chống lưng để tung ra đường lưỡi bò, xây đảo, chiếm thêm ngư trường, đưa thêm giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN hay vùng chồng lấn ở vịnh Bắc Bộ, xâm nhập nóc nhà VN qua việc khai thác bauxite, nơi có vị trí chiến lược và xả rác bùn đỏ, chiếm các khu rừng đầu nguồn, khống chế nước sông Mekong gây nhiễm mặn cái nôi nông phẩm và huỷ diệt tôm cá, núp sau Đài Loan xây dựng nhà máy thép Formosa Vũng Áng, nơi có vị trí yết hầu dễ cắt VN cả bộ lẫn thuỷ với chỉ khoảng 40 cây số đến Lào và 320 cây số đến căn cứ hải quân Du Lâm của TQ, làm nhiễm độc biển đưa chất độc vào hệ thống dây chuyền thực phẩm tàn phá sức sống dân tộc nhiều thế hệ về sau, nhập vào VN các thực phẩm và hoá chất độc hại, xây các nhà máy không an toàn gây ô nhiễm không khí hay nguồn nước từ Bắc đến Nam như nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận hồi tháng 4/2015 (http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=205843), xây các phố Tàu khắp các tỉnh thành.

TQ từng lấy cớ mượn đường vào đánh Chiêm Thành đời nhà Trần để xâm lăng VN. Ngày nay việc mượn đường được thể hiện dưới hình thức đầu tư kinh tế. Thâm hụt thương mại với TQ năm 2015 là khoảng 35 tỷ đôla, số tiền khổng lồ này mà TQ móc được từ VN mỗi năm giúp TQ mượn đường vào VN bằng chi phí của VN (http://tuoitrenews.vn/business/30633/vietnam-s-trade-deficit-with-china-likely-to-reach-35bn-in-2015-ministry).

VN đất hẹp dân đông, mật độ dân số được coi là quá cao, khoảng 270 người cho một cây số vuông, gấp 7 lần so với tiêu chuẩn thế giới (https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Danh_sách_quốc_gia_theo_mật_độ_dân_số). Cho nên để dọn con đường mòn tiến nam, họ vừa cho dân TQ vào sống xôi đậu chiếm các vị thế thượng phong, vừa huỷ hoại môi trường để bào mòn sức sống, đuổi người Việt đi nơi khác. Các khu phố Tàu nở ra từ sau Hội nghị Thành Đô ở các tỉnh như Bắc Ninh, Quảng Ninh, Bình Dương… (http://soha.vn/xa-hoi/nhung-con-pho-rop-bien-tieng-trung-quoc-20130721184837757.htm#first) càng ngày càng mọc lên nhiều hơn.

Đảng CSVN lại không quan tâm gì đến môi trường, trong khi TQ đang dùng nó để tiêu diệt một dân tộc. Các nước như Đức, Áo, Bỉ, Ý, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ và cả Phi Luật Tân đang chủ trường giảm thiểu và loại bỏ hẳn điện hạt nhân. Các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Tây Ban Nha đang cắt xuống dần các nhà máy (https://en.m.wikipedia.org/wiki/Nuclear_power_phase-out). Trong khi đó thì VN lại hồ hởi xây dựng ở Ninh Thuận. Nếu tai nạn xảy ra thì sức tàn phá môi trường sẽ vô cùng khủng khiếp. Rất nhiều các chuyên gia điện hạt nhân bên trong và bên ngoài VN hết sức lo lắng và lên tiếng báo động, nhưng CSVN bỏ ngoài tai vì xây dựng hàng tỷ đôla thì tiền bôi trơn tham nhũng sẽ khổng lồ cho họ (http://mobile.nytimes.com/2012/03/02/world/asia/vietnams-nuclear-dreams-blossom-despite-doubts.html?referer=). VN có bờ biển dài và vô cùng xinh đẹp, các nhà máy như Formosa hay điện hạt nhân sẽ lấy đi món quà thiên nhiên quý giá của dân tộc.

Các nước theo chế độ cộng sản có một điểm chung là xem rẻ sự sống của nguời dân trong nước. Họ xem dân là con vật để thí nghiệm trong việc họ thay Thượng Đế để cơ cấu lại xã hội con người (social engineering). Coi dân như cái đinh con ốc trong bộ máy cơ khí, có thể ném bỏ một cách vô cảm (expendable), hoàn toàn không có nhân vị. Chủ nghĩa cộng sản với ý niệm “đạo đức cách mạng” mà Lênin cổ xuý, dạy cán bộ  xem rẻ đạo đức mà các tôn giáo lớn của nhân loại xiển dương để làm bất cứ điều gì có lợi cho đảng. Sự bạo tàn từ đó mà ra! Não trạng này ngày nay cũng còn di truyền sang hậu CS của chế độ Putin (http://www.wsj.com/articles/the-russian-state-of-murder-under-putin-1453419231). CSVN là đàn em của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc cho nên cũng không ngoại lệ. Sự kiện cá chết và môi trường sống bị tàn phá đã phơi bày rõ nét điều này.

Các nước theo chế độ cộng sản có một điểm chung thứ hai là “khôn nhà dại chợ”, hà hiếp và giết hại dân mình nhưng sợ ngoại bang, nhất là những ngoại bang có sức mạnh quân sự hay kinh tế. Lợi dụng tâm lý “dại chợ” này của CSVN mà TQ đã và đang xây hàng rào khoá các cửa biển của VN, khoá từ các nhà máy dọc bờ cho đến những chuỗi đảo ngoài khơi, khoá từ dưới nước lên đến trên không trung, biến VN thành con đường mòn Mao Trạch Đông ven biển để họ tiến nam.

Hiện tượng cá chết xuất hiện từ ngày 4/4 nhưng tứ trụ đều lặng thinh vô trách nhiệm. Mãi đến 22/4 TBT Nguyễn Phú Trọng mới đến Hà Tĩnh, nhưng không phải để hỏi thăm dân việc cá chết hay lo lắng môi trường mà để kiểm tra mô hình sản xuất nông nghiệp và tiến độ Dự án Formosa (http://news.zing.vn/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-kiem-tra-san-xuat-tai-ha-tinh-post644266.html). CTN Trần Đại Quang thì chẳng thèm thăm dân của 4 tỉnh bị nạn, hôm 29/4 vào Đà Nẵng phát biểu “Tôi cũng rất ủng hộ có chính sách đặc thù cho thành phố, có chính sách đặc thù thì Đà Nẵng mới bứt phá đi lên được, nếu không có là rất khó”. Sự vô trách nhiệm cùng câu nói này cho thấy chế độ đã quá hư hỏng, chỉ nơi nào có ngoại lệ, có chính sách đặc thù như Đà Nẵng thì mới phát triển được (http://m.vtc.vn/chu-tich-nuoc-noi-nao-cung-nhu-da-nang-thi-bo-cong-an-phai-tinh-gian-bien-che.2.616993.htm).

Ông Chu Xuân Phàm, Giám đốc đối ngoại Công ty Formosa Hà Tĩnh hôm 25/4 trên kênh truyền hình VTC14 nói rằng “Nhiều khi mình không được cả hai thì mình phải lựa chọn. Tôi muốn bắt cá, bắt tôm hay là tôi muốn xây một cái nhà máy thép hiện đại” (http://m.vtc.vn/giam-doc-doi-ngoai-formosa-khong-the-duoc-ca-2-phai-chon-hoac-nha-may-hoac-ca-tom.2.616315.htm). Câu nói tuy nghe rất sốc, nhưng có vẻ không phải nói với dân mà là nhờ truyền thông chuyển qua cho Đảng, vì trong quá trình thành lập, Formosa không làm việc với dân mà làm việc với Đảng CSVN, dân hoàn toàn bị gạt ra bên lề. Tiền Formosa bôi trơn trám miệng thì lãnh đạo Đảng đã ăn và đã chọn nhà máy, vì vậy Đảng “khôn nhà dại chợ” nên biết phải làm gì để bảo vệ Formosa vì công ty có yếu tố nước ngoài.

Để tiêu diệt một dân tộc nó “là một tiến trình, không phải một sự kiện” như GS Sheri Rosenberg quan sát. Tiến trình này TQ lâu nay thực hiện cho dân tộc Việt Nam. Nó lâu dài và đa dạng, được tăng tốc bởi chế độ chính trị của nước nạn nhân. Chế độ khoá tay bịt miệng người dân, không cho đất nước có sức mạnh dân tộc, hai đảng cộng sản đàn anh và đàn em rù rì rủ rỉ với nhau trong bóng tối. Nó biến VN trước tiên là bãi rác, kế đến là con đường mòn nam tiến. Nó bào mòn sức sống của dân tộc và tàn phá một đất nước xinh đẹp mà thiên nhiên ban bố. Lối thoát là đâu? – Nó nằm trong sự thông minh và dũng cảm của dân tộc ta, cho dù đã một lần uống phải bùa mê thuốc lú của chủ nghĩa cộng sản nên còn dật dờ cảnh trí. Lịch sử ngàn năm đã chứng minh, sức sống của dân ta mãnh liệt, dân tộc này không để bị tiêu diệt mà sẽ tỉnh thức để vùng lên.

CHUYỆN NƯỚC VỆ: UNG NHỌT BỊ VỠ

CHUYỆN NƯỚC VỆ: UNG NHỌT BỊ VỠ

adminbasam

Nguyễn Đình Cống

30-4-2016

Vệ Kính thăm tập đoàn Pho mô, nước Đại Long. Phó nhòm: in tẹc léc.

Ung nhọt nay đã vỡ toang. Lỡ rồi còn biết chữa làm sao đây.

Kịch 5 hồi, 5 nhân vật, tiếp theo “ĐẠI VỆ CHÍ DỊ TÂN BIÊN”. Xin mượn tên đặt của Người buôn gió.

HỒI 1- Tại trụ sở tập đoàn Pho mô, nước Đại Long

Cheng Phu (chủ tập đoàn): Này ông An Đô, trong dự án ở nước Đại Vệ, khoản bảo vệ môi trường do nước thải ra biển là đáng lo ngại vì ở đó đã có tiền sự bọn Veđa giết chết sông Thi Va và những bê bối do chúng ta phá hoại môi trường ở nhiều nơi đều đã được họ biết đến.

An Đô (chuyên gia thiết kế): Vâng thưa ông. Theo tình báo thì chỉ có một số rất ít trí thức của họ biết loa qua thông tin chúng ta phá hoại môi trường ở các nơi, còn từ vua đến các quan không ai biết, họ đang mờ mắt vì những hứa hươu, hứa vượn của chúng ta. Mà ở nước Đại Vệ có mấy quan chức tin vào bọn trí thức,  nếu có đứa nào tiết lộ thông tin xấu về chúng ta thì chỉ cần xui giục vua quan họ tìm cách vu cáo là phản động, là trốn thuế hay tàng trữ hàng lậu rồi bắt giam hoặc bí mật khử đi là yên chuyện. Tuy vậy, tôi đã cho thiết kế hệ thống xử lý nước thải đến mức có thể dùng nước đó để nuôi cá, tưới cây, chỉ là vấn đề giá thành hơi cao hơn bình thường, đến 1 vạn lạng.

Cheng Phu: Sao, đến 1 vạn lạng kia à, trong lúc toàn bộ dự án chỉ khoảng 25 vạn lạng. Ông hãy nghiên cứu cách nào rút bớt chi phí, kể cả dùng mưu lược.

An Đô: Dạ thưa, tôi cũng đã cho thiết kế phương án 2, chỉ xử lý kỹ một phần, khoảng 5% để phục vụ cho việc kiểm tra và tuyên truyền, phần lớn, khoảng 75% chỉ xử lý một phần, còn khoảng 20% không xử lý. Như vậy chỉ cần chi phí khoảng 2 ngàn lạng. Xin ông đừng lo, chúng tôi sẽ ngụy trang kỹ đến mức ngoài một số người thân tín thì không ai biết, và các chuyên gia môi trường đã tính toán rất kỹ là lượng nước thải như vậy được xả vào biển sẽ nhanh chóng hòa vào Đại dương, tai họa cho môi trường chỉ xảy ra từ từ, không thể thấy ngay được. Để đề phòng trong bọn đến kiểm tra có đứa nào giỏi, có thể điều tra ra, xin ông một khoản dự phòng chừng vài trăm lạng để kịp thời bịt miệng chúng.

Hồi 2- Tại kinh đô nước Đại Vệ

Cheng Phu: Thưa Hoàng thượng, hạ thần vô cùng biết ơn khi ngài gật đầu cho quan tổng đốc ký với hạ thần dự án cho thuê đất 70 năm với giá 80 đồng/ mét vuông mỗi năm và miễn cho 15 năm đầu. Cứ theo giá mặt bằng thị trường thuê đất và không miễn năm nào thì tổng chênh lệch là trên 12 ngàn lạng. Số này xin chia làm 3 phần. Một phần xin dâng lên Hoàng thượng, tuy chẳng đáng là bao nhưng cũng tạm đủ để ngài chia cho các cận thần dùng vào việc uống cà phê buổi sáng. Một phần xin dâng cho quan tổng đốc, cũng để chia cho đồng liêu và hầu cận, phần còn lại hạ thần xin giữ để thêm vào chi phí bảo vệ môi trường.

Vệ Kính (Vua của Đại Vệ): Điều ông vừa nói làm trẫm nhớ đến yêu cầu phát triển bền vững, mở mang kinh tế phải đi đôi bảo vệ môi trường, Việc đó đã được viết nhiều, nói nhiều mà chưa thực hiện được. Ông có dám cam đoan bảo vệ được môi trường đất, biển, không khí của cả vùng không?

Cheng Phu: Dạ, với trí thông minh của Hoàng thượng thì ngài biết rằng khoa học và công nghệ hiện thời chưa dám bảo đảm chăm phần chăm, nhưng hạ thần xin hứa là sẽ bảo đảm trên cơ bản. Trong khu công nghiệp sẽ có hàng vạn thần dân nước Đai Long. Chúng tôi có nghĩa vụ bảo vệ môi trường cho cả họ nữa chứ. Tuy vậy, hạ thần không dám khẳng định là mọi việc luôn xẩy ra êm đẹp, nếu sau này vận hành, thỉnh thoảng có tạm thời xẩy ra sự cố thì cũng rất mong Hoàng thượng thông cảm mà tìm cách bỏ qua.

Vệ Kính: Bỏ qua là thế nào, tôi mà bỏ qua cho các ông thì dân nước Đại Vệ có để yên hay không?

Cheng Phu: Dạ, phải nghĩ ra biện pháp vừa mềm vừa cứng để dân tuy có biết nhưng không đụng được đến cái gót chân của Bệ hạ chứ ạ. Để chuẩn bị cho việc này, hạ thần đã chuẩn bị một khoản 3 ngàn lạng, xin dâng lên để Hoàng thượng đưa vào công quỹ hoàng tộc.

Vệ Kính: Thế thì tạm được, nhưng trong số đó ông có kể khoản phải chi cho quan thượng thư, những người của Bộ Môi trường và những người của quan tổng đốc chưa?

Cheng Phu: Dạ có, kể tất cả các khoản đó ạ. Chi cho ai bao nhiêu là do ân điển của bệ hạ.

Vệ Kính: Thế thì không đủ, phải tăng lên, ít nhất là đến 4 ngàn lạng.

Cheng Phu: Dạ, hạ thần xin tuân chỉ.

(Vệ Kính Vương tiễn Cheng Phu ra về và cho triệu ông Lê Toan, thượng thư Bộ Môi trường)

Vệ Kính: Này quan đại phu Lê Toan, ta vừa nghe tên Cheng Phu báo cáo về môi trường của dự án Pho mô, ông chắc cũng đã xem xét qua?

Lê Toan: Dạ, không phải chỉ xem qua mà đã xem kỹ. Nước thải của họ, sau khi xử lý được tập trung lại trong một bể chứa trước khi tháo vào đường ống dẫn ra biển, miệng ống thoát đặt sâu 20 mét và xa bờ trên 1500 mét. Để chứng tỏ nước được xử lý tốt, trong bể chứa người ta sẽ nuôi cá. Chúng tôi đã cho các chuyên gia thẩm định kỹ thiết kế và đã chấp nhận, cho phép làm như vậy.

Vệ Kính: Ông có chắc rồi đây môi trường được bảo đảm chăm phần chăm không?

Lê Toan: Dạ làm sao mà dám bảo đảm trăm phần trăm ạ, thường không tránh khỏi một xác suất rủi ro nào đó.

Vệ Kính: Ý ông vừa nói phù hợp với lời tâu trình của ông Cheng Phu và cũng giống với ý của trẫm. Cheng Phu có đưa qua tôi, nhờ chuyển cho ông và các quan bên Bộ Môi trường 800 lạng để lo đối phó khi xẩy ra sự cố như ông dự đoán.

Lê Toan: Xin vô cùng biết ơn bệ hạ.

Hồi 3- Tại kinh đô nước Đại Vệ sau khi xẩy ra sự cố cá chết trắng biển

Vệ Kính: Này ông Cheng Phu, tôi vì tin ông mà tạo cho ông không biết bao nhiêu ưu đãi, thế mà ông gây ra vụ cá biển chết hàng loạt, bây giờ ông bảo tôi nên làm thế nào?

Cheng Phu: Dạ, thì từ đầu Hoàng thượng cũng đồng ý với hạ thần là không thể bảo đảm chăm phần chăm, và vì thế hạ thần đã dâng 4 ngàn lạng để xử lý sự cố.

Vệ Kính: Nhưng sự cố cũng chỉ vừa phải mới chấp nhận được để tìm các xí xóa, chứ vừa rồi không còn là sự cố mà là thảm họa, đại thảm họa, ông có biết không. Biết làm sao đây?

Cheng Phu: Dạ, chính gặp khó khăn mới tạo điều kiện để Hoàng thượng tỏ rõ trí thông minh và sự tín nhiệm tuyệt đối của quần thần. Hạ thần cũng tự biết tội lớn là quá tin vào các chuyên gia thiết kế và công nghệ. Để chuộc lỗi lầm hạ thần xin dâng thêm 1 ngàn lạng nữa, xem như để xử lý sự cố phát sinh, mong Hoàng thượng mở lượng hải hà để cứu hạ thần và tự cứu. Hạ thần sợ rằng nếu sự thật của vụ việc bị phát hiện thì hạ thần không tránh khỏi tội lớn là lôi kéo cả Hoàng thượng xuống hố cả nút. Trước mắt, để tạm trấn an dư luận, hạ thần xin Hoàng thượng chiếu cố đến thăm, kiểm tra tiến độ công trình, khen ngợi quan chức và thợ thuyền mà không nói gì đến chuyện cá chết.

(Sau khi tiễn Cheng Phu, Vệ Kính Vương cho triệu thượng thư bộ Môi trường Lê Toan).

Vệ Kính: Này ông Lê Toan, vụ cá chết ông định xử lý thế nào, đã nghĩ ra được mưu cao chước giỏi nào chưa? Đúng là một ung nhọt lớn đã bị vỡ, làm sao, làm sao để bịt lại được đây?

Lê Toan: Dạ muôn tâu. Thần cũng có lường trước nhưng không ngờ ung nhọt to đến thế, vỡ ra nhanh đến thế. Thần đã triệu tập một số mưu sĩ để vạch ra một số kế sách, nhưng quan trọng nhất là phải biết rõ ý của Hoàng thượng mới triển khai cụ thể được.

Vệ kính: Này ông Toan, ta tưởng ngươi ở dưới trướng hàng chục năm nay, hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc thì phải biết đúng ý ta chứ, dù ta chưa nói ra. Ta và nhiều người đều biết rõ thế lực chống lưng cho tập đoàn Pho mô và ta không bao giờ dám đụng đến cái lông chân của họ. Việc này cũng như nhiều việc khác, phải lấy đại cục làm trọng, tìm cách xí xóa càng nhanh càng tốt. Ta dự định phải tiến hành ít nhất 3 việc lớn. Giao cho bộ Hình theo dõi, ngăn chặn các cuộc rối loạn của dân, nắm được những tên cầm đầu xúi dục dân đấu tranh, biểu tình và có cách đối phó. Giao cho Bộ Nông tìm cách phát chẩn cho dân để làm dịu sự phản đối và tuyên truyền lòng tốt, vì dân của triều đình. Còn ông, liên kết với các Bộ khác và đặc biệt là một số tiến sĩ, giáo sư dỏm, hữu danh vô thực, đưa ra các giải thích chung chung để tạm trấn an dư luận, còn ta sẽ đi thăm khu công nghiệp để úy lạo.

Lê Toan: Dạ thưa, hạ thần vẫn đoán đúng ý bệ hạ, chỉ là được nghe thì càng thấm thía hơn. Hạ thần sẽ cho mời họp kín để thảo luận, rồi tung hỏa mù như thủy triều đỏ, như chưa đủ chứng cứ để kết luận, rằng đã cho thử nước biển mà chưa tìm ra chất độc, đồng thời tìm mọi cách trì hoãn việc các nhà khoa học chân chính vào cuộc, để khi họ đến nơi thì mọi dấu vết đã bị xóa gần hết.

Vệ Kính: Trẫm trông cậy vào nhà ngươi vì trẫm còn thì nhà ngươi còn. Công việc chắc sẽ khá vất vả vì đụng đến nhiều loại người phức tạp. Thôi thì cầm thêm 3 trăm lạng để tùy cơ ứng biến.

Hồi 4- Tại trụ sở Pho mô

Cheng Phu: Này ông Pham, nghe nói ông rất thuộc Tam Quốc, ông có thể kể lại tôi nghe đoạn Tào Tháo dặn người quản lý bớt khẩu phần của quân lính và đoạn Khổng Minh sai Mã Tốc ra trấn Nhai Đình không?

Pham (phát ngôn viên của Pho mô): Ôi, thưa ngài chủ tich tập đoàn, điều dân nước Đại Vệ chọn tôm cá hay sắt thép có phải tôi tự ý nghĩ ra đâu, tôi nói theo gợi ý của ngài đấy chứ. Tôi cũng đã vì tập đoàn mà cúi đầu chịu nhục, xin lỗi hết mọi người. Thế mà ngài định xử tôi. Tất nhiên tôi biết ngài không thể chặt đầu tôi như Tào Tháo và Khổng Minh đã làm, ngài định xử tôi như thế nào.

Cheng Phu: Xin ông an tâm tạm mai danh ẩn tích vài tháng hoặc vài năm cho sóng gió qua đi. Trong thời gian đó tôi sẽ tìm cách cung cấp cho gia đình ông như khi ông còn làm việc và sau đó sẽ nhận ông trở lại. Tôi chỉ tạm đuổi việc ông mà thôi, mong ông vì đại cục mà vui vẻ chấp nhận.

Hồi 5- Tại kinh đô cũ của Đại Vệ

Theo kế hoach từ trước, cứ 2 năm ở đây tổ chức hội hè, trước hết là lế Tế Nam Giao, từ hôm sau là các cuộc biểu diễn nghệ thuật. Trong các đoàn diễu hành người ta nhìn thấy có một ông to lớn, người sơn trắng, mồm ngậm con cá chết. Mới nhìn qua tưởng là bức tượng, té ra là một người thật. Thì cũng là một cách để các nghệ sĩ tỏ thái độ. Chưa biết Vệ Kính Vương và các quan chức Bộ Hình đối phó như thế nào.

TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH CŨNG THUA!

TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH CŨNG THUA!

Thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh ngược về phương Đông, khi ngang qua một eo Biển dài hàng trăm dặm thấy cá chết trắng bờ. Ngạc nhiên, Đường Tăng hỏi Ngộ Không:
– Con xem chuyện gì xảy ra mà cá, tôm chết khủng khiếp thế kia!
Hành giả lập tức cân đẩu vân lên mây nhìn xuống. Trời ạ! Cả một vùng Biển bao la cá, tôm chết trắng xoá bốc mùi hôi thối. Không những loại cá bình thường mà có cả những loại kình ngư to lớn hàng tạ cũng phơi bụng lềnh bềnh trên Biển. Tức quá, Hành Giả lao xuống đáy Biển tìm Thuỷ Thần:
– Nè, Thằng già Thuỷ Thần kia! Ngươi cai quản hải phận này sao để cá, tôm chết hết thế kia, hả?
– Dạ, Đại Thánh đừng nóng! Dụ này do tên Thổ Địa trên đó rước con yêu quái từ phương Bắc về. Con Yêu Tinh đó ăn cái gì không biết mà nó thải ra ngoài này lão cũng chịu không nỗi huống hồ cá, tôm!
Tề Thiên lại dzọt lên đất liền rút thiết bảng dộng xuống đất kêu Thổ Địa lên tra hỏi:
– Ông hưởng hương khói của người dân cung phụng hằng ngày sao lại dám rước Yêu Tinh từ phương Bắc về để cho nó tiểu, tiện ra Biển làm chết hết sinh linh ngoài đó là sao?
– Dạ không phải đâu Đại Thánh ơi! Cá, Tôm chết KHÔNG LIÊN QUAN gì đến con yêu tinh này cả. Chúng nó chết là do ÂM THANH ỒN ÀO, chắc là do lão Thiên Lôi gây ra!
Tề Thiên lại cân đẩu vân lên mây, bay đến trước mặt Thiên Lôi rút thiết bảng chỉ vào mặt quát:
– Mi rãnh quá hả tên kia! Sao mi gây sấm sét ồn ào làm Cá, Tôm chết hết là sao. Hả, hả,hả???
– Đại Thánh bình tĩnh! Cá chết là do lão Đông Hải Long Vương gây ra thảm hoạ THUỶ TRIỀU ĐỎ, chứ hỏng phải ta!
Tề Thiên kéo vạt áo lau mồ hôi trán rồi bay xuống Thuỷ Cung tìm lão Long Vương:
– Lão Long Vương kia! Sao mi gây ra Tảo Đỏ làm chết hết Cá, Tôm thế kia? Ủa, ủa! Mà nhà cửa cung điện của ông sao tan hoang như vậy?
Ôi, mấy năm gần đây có con Yêu Quái gì đó ở phương Bắc, nó bơi quanh hết vùng Biển này, chỗ nào nó cũng thọc xuống thăm dò, đến nỗi Cung Điện của tôi còn không đủ sức giữ, sức đâu nữa mà gây Tảo Đỏ, tảo vàng… Đại Thánh ơi!
Tề Thiên Bực quá bay lên Thiên Đình, đến trước mặt Ngọc Hoàng hỏi:
– Dưới trần Cá-Tôm chết sạch rồi, ông có biết nguyên nhân vì sao không?
– Thôi, chuyện đó bỏ đi, đừng hỏi nữa! Hỏi Cá, Tôm vì sao chết là GÂY TỔN HẠI CHO ĐẤT NƯỚC. Hiểu chưa?

BIEN CHET

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TON HAI CHO DAT NUOC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CA CHET

 

Facebook Ngô Trường An

30 tháng 4 sau bốn mươi mốt năm

 30 tháng 4 sau bốn mươi mốt năm

VietTuSaiGon

RFA

Đứng ở Bắc Vĩ tuyến 17, nhìn về phía Nam, bên kia cầu Hiền Lương, trước đây 41 năm là lãnh địa của Việt Nam Cộng Hòa. Và đứng trên suy nghĩ của người miền Bắc lúc bầy giờ thì đó là nơi “đồng bào miền Nam bị o ép, không có cơm ăn áo mặc, đau khổ vì bọn ngụy quân ngụy quyền…” theo lối nhồi sọ của người Cộng sản. Để rồi sau 41 năm, người ta lại đứng trên cầu Hiền Lương và nghĩ rằng giá như lúc đó đừng có ngày 30 tháng 4. Giá như… và giá như… cá chết sớm hơn nữa!

Thực ra trước khi cá chết hàng loạt, vấn đề người Trung Quốc xâm lược, tham nhũng, người dân nghèo mất đất, giới quan lại địa phương nhũng nhiễu… tất cả đã là những cái ung nhọt lớn của đảng Cộng sản, càng ngày nó càng lớn thêm. Mà con người thì ai cũng muốn sống trong yên tĩnh, bình an và đừng để chuyện gì trở nên náo động. Chính cái tâm lý thủ phận an thường này cộng với kiểu quản lý sắc máu của nhà cầm quyền đã làm cho hầu hết nhân dân bị tê liệt tính phản kháng. Vẫn biết, vẫn bất bình, vẫn bất mãn nhưng người ta bảo nhau “thôi kệ, ai làm gì thì làm, miễn đừng đụng tới nồi gạo nhà tôi là được!”.

Không hẳn tâm lý thủ phận, an thường như vậy đã là xấu. Bởi khi sống trong bối cảnh Việt Nam, từng va chạm với nhà cầm quyền, với công an thì mới thấy thông cảm cho thái độ lựa chọn này. Nhưng điều đó không hẳn là người Việt hoàn toàn tê liệt khi lựa chọn thái độ này. Bởi người ta đã quá ngán ngẫm cảnh tù cải tạo, cảnh dàn kịch bản để đẩy người ta đến cái chết trong trại tạm giam, nhà giam… và quá nhiều trò đẩy người ta ra đường.

Ngay cả khi rừng núi bị khai thác sạch sành sanh, thủy điện đầu nguồn tích nước làm cho ruộng đồng hạn, mặn, đất đai bị lấn chiếm, bị trưng thu một cách rẻ rúng và bất công, người Việt Nam vẫn chưa kịp đánh thức, vẫn cứ mặc kệ nó. Bởi đã sống quá lâu trong kìm kẹp, sống quá lâu trong bất công và đói khổ, mà khi đói khổ, khó khăn, thứ người ta cần đầu tiên phải là cơm áo, có bao nhiêu giữ bấy nhiêu. Đó là tâm lý chung. Cái tâm lý chung này cộng với tính chịu thương chịu khó, vị tha của người Việt Nam đã khiến cho hầu hết người ta dễ thông cảm và bỏ qua cho giới cầm quyền.

Nhưng không! Đó là lúc chưa đụng đến chén cơm manh áo. Và cũng đừng ai vội vàng kết luận rằng người Việt Nam bị tê liệt khả năng phản kháng. Hoàn toàn không phải vậy. Đến thời điểm bây giờ, có thể nói rằng người Việt Nam có tính phản kháng rất cao và sức chịu đựng cũng rất cao. Khi đã hết chịu đựng được nữa, người ta sẽ phản kháng. Và sự phản kháng này không đến từ ý nghĩa hay quyền lợi cá nhân mà đến từ tập thể, quyền lợi chung của dân tộc. Câu chuyện cá chết và lời kêu gọi biểu tình trên toàn quốc vào ngày 30 tháng 4 đã chứng minh cho chuyện này.

Trong lúc tôi ngồi gõ những dòng chữ này thì tại huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, hàng ngàn nông dân và ngư dân đã ra đường biểu tình. Người ta kéo đi cả vài xã và khí thế hừng hực. Khác với mọi cuộc biểu tình trước đây chỉ kêu gọi chống bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông và ở các biên giới. Lần này người biểu tình nêu rõ tội danh của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Người dân yêu cầu nhà cầm quyền phải trả lời gấp về nguyên nhân cá chết và giải trình trước nhân dân về khu kinh tế Vũng Áng cũng như Formosa.

Thực ra, hàng triệu câu hỏi mà nhân dân đặt ra và bắt buộc nhà cầm quyền, đảng lãnh đạo phải trả lời thỏa đáng không phải chỉ mới có ngày hôm qua hay hôm nay mà điều này đã có từ sau 30 tháng 4 năm 1975. Khi mà cả miền Nam giàu có, trù phú và thơ mộng bỗng chốc trở thành tiêu điều, hoảng loạn. Người người đau khổ, nhà nhà đau khổ sau ngày “giải phóng” đã khiến cho người phía Bắc phải thấy giật mình, tỉnh mộng rằng hóa ra lâu nay mình bị tuyên truyền, bị nhồi sọ những thứ không có thật, hóa ra miền Nam giàu có gấp bội miền Bắc và người ta sống cũng văn minh, hiện đại gấp bội miền Bắc!

Những nghi vấn về đảng cứ âm ỉ cháy, đôi khi tưởng chừng như tắt lịm bởi cơm áo gạo tiền, bởi sức ép của xã hội mà ở đó mọi chuyện đều có thể xảy ra, con người có thể bốc hơi một cách bất thường và vô lý trong sức ép tập thể. Người ta buộc lòng phải thủ phận bởi nói cho cùng thì người ta đã quá đủ khổ đau và mất mát, người ta không muốn mất mát thêm nữa!

Tuy nhiên, khi tỉnh mộng, khi thấy rằng càng cố giữ, cố thủ và cố an phận thì không những không an toàn mà càng mau chết, người ta buộc phải nghĩ lại, phải cất tiếng nói và phải đứng lên. Những bất công từ địa phương tới trung ương cũng như sự đớn hèn, nhược tiểu của nhà cầm quyền đảng Cộng sản trước thái độ hống hách của người Trung Quốc trên biển Đông và gần đây là trên bờ, cụ thể là câu phát biểu đầy ngạo mạn và mất dạy của Chu Xuân Phàm đã làm cho nhân dân tỉnh ngộ.

Câu hỏi đặt ra trong mỗi người dân Việt Nam từ Nam chí Bắc hiện nay là liệu chúng ta còn tồn tại được đến bao giờ? Và liệu chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Những câu hỏi này nhanh chóng biến thành hành động, hơn bao giờ hết, người dân sẵn sàng đứng lên để đòi lại một Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ, một Việt Nam thơ mộng rừng vàng biển bạc ngày nào.

Bởi sau bốn mươi mốt năm gọi là thống nhất hai miền đất nước, điều mà bất cứ người Việt Nam nào cũng nhận thấy là mọi thứ tài nguyên trên đất nước này nhanh chóng bị tàn phá, nợ nần quốc gia chồng chất, gia đình ly tán và nhục nhã nhất là chính những người bị cướp, bị bắt, bị hành hạ phải bỏ nước ra đi đã gởi tiền về xây dựng đất nước. Còn những kẻ lên nắm quyền làm lãnh đạo thì chỉ lo vơ vét và bán đứng dân tộc, bán đứng quốc gia.

Bởi sau bốn mươi mốt năm, cái điều mà nhân dân Việt Nam nhận được chính là kẻ ăn không hết, người làm không ra, kẻ có quyền chức thì ăn trên ngồi trốc, sống như những đế vương, người dân cô thế thì thậm chí cả cái quyền được làm người nghèo cũng không có được bởi danh sách hộ nghèo đã lọt vào tay những kẻ không hề nghèo khổ nhưng lại có thế lực đỏ che chở. Nhiều kẻ có nhà cao ba, bốn tầng nhưng để cho con cái đứng tên, tách riêng ra thành một hộ khẩu và ở nhà tuềnh toàng để được vay diện hộ nghèo, được hỗ trợ và thâu tóm mọi khoản tiền dành cho người nghèo mà mang đi cho vay nặng lãi.

Sau bốn mươi mốt năm, cái điều gọi là “độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là chiếc bánh vẽ và người thất nghiệp ngày càng cao, nạn trộm cướp, giết người tăng mạnh, giới quan chức lãnh đạo ngành giáo dục sống xa hoa và thiếu hẳn tư cách con người, bệnh viện trở thành cái lò mổ của tổ quốc và mỗi cán bộ y tế đều tiềm ẩn một đao phủ.

Sau bốn mươi mốt năm, không những chỉ riêng mỗi hệ thống cán bộ của đảng phá nát đất nước này mà bọn họ còn chơi trò cõng rắn cắn gà nhà. Một mình họ phá chưa đủ, họ đưa thêm anh bạn vàng Trung Cộng của họ sang tàn phá, môi trường bị hủy hoại, con người bị tàn hại, mọi thứ trở nên nguy hiểm và chết chóc…

Sau bốn mươi mốt năm, nếu như 30 tháng 4 năm 1975 đất nước trở nên náo nhiệt và ồn ào bởi tiếng reo hò của người miền Bắc và một bộ phận không nhỏ người miền Nam vui mừng “thống nhất đất nước” thì bốn mươi mốt năm sau, cả đất nước cũng trở nên náo động, nhưng không phải là tiếng reo hò mà là tiếng khóc, tiếng thở dài và uất hận.

Tiếng khóc, tiếng hét căm phẫn và tiếng thở dài của cả hai miền đất nước sau bốn mươi mốt năm cũng đủ nói lên rõ tính chất của nhà cầm quyền. Và một khi cả đất nước đều phải khóc, phải hét lên vì căm phẫn, uất ức và gào kêu sự minh bạch của nhà cầm quyền thì câu chuyện không còn đơn giản nữa rồi!

 

 

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

tuankhanh

http://youtu.be/wsEhrOg0TgM
Gửi một bài hát đến những ai đang muốn mở mắt nhìn quê hương, đón lấy quê hương với sự thật.
——————-

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

Sáng tác & trình bày: TK

——————-
Tôi đã thấy đất nước mình được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy những bóng tối phủ vây trên từng phố phường

Và tôi thấy từng mẹ già được quay hình để gắn huân chương

Và tôi cũng thấy bao người già sống lây lất trên đường

Việt Nam (x 2) là Việt Nam
Tôi đã thấy đất nước này được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy đất quê mình bị xâu xé từ bốn phương

Tôi đã thấy dân tộc mình có tên gọi tự do

Và tôi cũng thấy đời ngư dân ra khơi trong phiền lo

Việt Nam (x 2) là Việt Nam
Hãy gấp trang báo

Hãy tắt Tivi

Để thấy quanh ta chỉ là những trò hề

Mở mắt đi nhé

Hãy lắng tai nghe

Quê hương Việt Nam nghe sao bỗng muộn màng

Việt Nam nhìn nhau

Việt Nam nhìn mai sau
Hãy gấp trang báo

Hãy tắt Tivi

Để thấy quanh ta chỉ là những mộng mị

Mở mắt đi nhé

Hãy lắng tai nghe

Quê hương Việt Nam nghe sao bỗng muộn màng

Việt Nam nhìn nhau

Việt Nam nhìn mai sau
Tôi đã thấy đất nước mình được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy người yêu nước tôi đang khóc trước bạo cường

Và tôi thấy kẻ thù nào đang muốn bóp chết quê hương

Và tôi cũng thấy con tin mình như thúc giục lên đường

Việt Nam (x 2) là Việt Nam

 

 

Lại Chuyện Tháng Tư

 Lại Chuyện Tháng Tư

 S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống, và Tổng Thống trong thời Đệ II Cộng Hoà – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô Trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục:

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người!

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy . Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn!

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng…không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi
đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuânhành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng Thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám
đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp!

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất…cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện:

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau:

“… chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng.”

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp.” Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi!

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới,” vào năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn.” Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ:

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người. Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa
ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn!
(“Thương Lắm Những Búp Non Ở Trên Cành”) Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Ảnh: Báo Lai Châu

Thôi chết mẹ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng
không?

– Thưa không! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm!”

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng?

– Thế còn đám công nhân?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay:

Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp TP.HCM:

Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển … mình ên! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có qúi ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.