Việt Nam có cơ hội thắng không nếu kiện Trung Quốc đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa?

Việt Nam có cơ hội thắng không nếu kiện Trung Quốc đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa?

Ls Nguyễn Văn Thân

Trong tháng 8 năm 2014, Trung tâm Phân tích Hải quân Hoa Kỳ (Centre for Naval Analyses) đã xuất bản một tập sách dài 132 trang của Raul Pedrozo, một vị giáo sư luật quốc tế tại Naval War College. Mục đích của tập sách này là cung cấp những luận cứ pháp lý của cả hai bên Trung Quốc lẫn Việt Nam về chủ quyền tại Biển Đông cho giới lãnh đạo chính trị và quân sự Hoa Kỳ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã nhiều lần bày tỏ lập trường là Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền nhưng kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và theo luật quốc tế.

Dựa trên những bằng chứng lịch sử và luận cứ mà hai bên nêu ra, Gs Pedrozo kết luận rằng yêu sách chủ quyền của Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có cơ sở vững chắc hơn Trung Quốc. Có thể tóm lược phần kết luận của Giáo Sư Pedrozo như sau: từ thế kỷ 18, Việt Nam đã rõ ràng biểu hiện ý chí thực hiện chủ quyền bằng cách thành lập các công ty và biệt đội dưới sự bảo trợ của nhà nước khai thác tài nguyên tại các quần đảo này. Ý chí này được thể hiện qua sự sáp nhập vào lãnh thổ và qua hình thức biểu tượng thụ đắc chủ quyền trong thế kỷ 19 và được củng cố bởi các hành động chiếm hữu hòa bình, quản trị hữu hiệu và liên tục của các vua nhà Nguyễn cho tới thời kỳ đô hộ Pháp. Sau đó, Pháp đã thay thế Việt Nam quản lý những hòn đảo này và đưa quân chiếm đóng trong thập niên 1930 cho tới khi Pháp rời Đông Dương vào năm 1956. Sau khi Pháp rút quân, Việt Nam Cộng Hòa kế thừa và sau đó là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp tục hành xử chủ quyền ngay cả sau khi Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp một phần các hòn đảo này trong năm 1956 và toàn vẹn Hoàng Sa từ năm 1974.

Trong khi đó, Trung Quốc chỉ bắt đầu để ý tới Hoàng Sa vào năm 1909, 2 thế kỷ sau khi Việt Nam đã thực hiện chủ quyền trên quần đảo này. Sự chiếm đóng của Trung Quốc vào năm 1956 và chiếm đóng bằng vũ lực vào năm 1974 rõ ràng vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945 và do đó Trung Quốc không thể xác lập chủ quyền hợp pháp với quần đảo Hoàng Sa.

Với Trường Sa, Pháp sáp nhập quần đảo này được xem là lãnh thổ vô chủ trong thập niên 1930. Vào thời điểm này, chiếm đóng bằng vũ lực còn là một phương thức hợp pháp vì Hiến Chương Liên Hiệp Quốc chưa ra đời. Anh Quốc kiểm soát một vài hòn đảo tại Trường Sa trong thập niên 1880 quyết định từ bỏ yêu sách chủ quyền sau khi Pháp sáp nhập và chiếm đóng. Do đó, chủ quyền Trường Sa của Pháp hoàn toàn hợp lệ theo luật quốc tế. Pháp chuyển nhượng chủ quyền sang Việt Nam Cộng Hòa trong thập niên 1950.

Tới năm 1956 thì Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng Đảo Ba Bình bất hợp pháp. Trung Quốc cũng chiếm đóng một vài đảo bất hợp pháp từ năm 1988. Những sự chiếm đóng này vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và do đó không thể xác lập chủ quyền cho Đài Loan hoặc Trung Quốc. Trung Quốc không xác lập chủ quyền chỉ vì Trung Quốc đã liên tục phản đối chủ quyền của Việt Nam được Pháp chuyển nhượng theo luật quốc tế.

Bài phân tích của Gs Pedrozo có tầm quan trọng đặc biệt vì tính độc lập, khách quan, tổng hợp có hệ thống và tiêu chuẩn hàn lâm của nó. Gs Pedroza đã xem xét các công trình nghiên cứu của các học giả gồm có Ts Marwyn Samuel, Ts Greg Austin và Gs Monique Chemillier-Gendreau. Ts Marwyn Samuel là một học giả người Mỹ và là tác giả của quyển Tranh chấp ở Biển Đông (Contest in the South China Sea) xuất bản năm 1982 mà trong đó ông kết luận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa mạnh hơn của Việt Nam nhưng với Trường Sa thì lại đáng ngờ. Ts Greg Austin là giáo sư tại Viện Đông Tây (EastWest Institute) ở New York xuất bản cuốn Biên giới đại dương của Trung Quốc (China’s Ocean Frontier) năm 1998. Như Ts Samuel, Ts Austin cho rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam tại Hoàng Sa nhưng nhiều lắm chỉ bằng với những quốc gia khác đối với Trường Sa.

Bài phân tích của Gs Pedrozo chia sẻ quan điểm của Gs Monique Chemillier-Gendreau, tác giả của quyển Chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa xuất bản năm 2000. Bà là giáo sư danh dự của Đại học Paris Diderot về lãnh vực công pháp quốc tế.

Câu hỏi đặt ra là người dân Việt Nam có nắm vững những bằng chứng lịch sử và luận cứ pháp lý liên quan tới chủ quyền của Hoàng sa và Trường Sa hay không? Nếu không thì làm sao có thể bảo vệ chủ quyền của hai quần đảo này một cách hiệu quả? Quan trọng hơn, nhà cầm quyền Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ pháp lý để tiến hành kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế đòi lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa hay chưa? Bằng không thì tới khi nào sự hiện diện và kiểm soát Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa của Trung Quốc sẽ trở thành một sự thật không thể thay đổi được mà thế giới phải chấp nhận như chuyện đã rồi?

Các hình thức thụ đắc lãnh thổ

Có năm hình thức một quốc gia có thể thụ đắc lãnh thổ đó là khai hoang (accretion), chuyển nhượng (cession), chinh phục (conquest), tập quán (prescription) và chiếm hữu (occupation). Khai hoang xảy ra khi lãnh thổ được nới rộng qua tiến trình địa lý ví dụ như đảo mới hình thành vào cuối năm 2013 do phun trào núi lửa dưới đáy biển gần chuỗi đảo Ogasawara của Nhật Bản đã lớn nhanh gấp 70 lần trong bốn tháng. Chuyển nhượng là khi một quốc gia kế thừa lãnh thổ được chuyển lại từ một quốc gia có chủ quyền hợp pháp qua một hiệp ước. Quốc gia thu nhận không thể nhận hơn được những gì quốc gia chuyển nhượng có. Chinh phục là sự xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực. Trong lịch sử thì phương pháp này được công nhận nhưng trở thành bất hợp pháp kể từ tháng 10 năm 1945 khi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc bắt đầu có hiệu lực. Tập quán là khi một quốc gia chiếm đóng lãnh thổ của quốc gia khác và hành xử chủ quyền đối với lãnh thổ đó một cách công khai, hòa bình và liên tục qua một khoảng thời gian dài được xem như là không thay đổi được. Chiếm hữu là khi quốc gia chiếm đóng lãnh thổ vô chủ (terra nullius). Khám phá không chưa đủ mà phải thật sự chiếm đóng như phán quyết của tòa xác nhận trong vụ kiện Island of Palmas Case (Netherlands/USA) 1928. Chiếm hữu phải hội đủ hai yếu tố gồm có ý chí chiếm hữu và hành động chiếm hữu thật sự bao gồm các hình thức quản lý và cai trị như Tòa thẩm định trong vụ kiện Clipperton Island Arbitration (Mexico v France) 1931.

Mức độ quản trị có thể khác biệt tùy theo yếu tố địa lý và thiên nhiên. Luật quốc tế ghi nhận trong một vài trường hợp đặc biệt, quốc gia không nhất thiết phải hành xử chủ quyền tại bất cứ nơi nào và ở mọi thời điểm. Có lúc có thể có một sự gián đoạn nào đó đặc biệt là với lãnh thổ xa xôi có môi trường khắc nghiệt.

Luận cứ chủ quyền của Việt Nam

Việt Nam lập luận rằng là Việt Nam đã chiếm hữu và liên tục thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17. Việt Nam đưa ra các nguồn tài liệu chính thức của nhà nước Đại Nam gồm có Đại Nam thực lục tiền biên (1600 – 1775), Toàn tập Thiên Nam thống chí lộ đồ thư (1680 – 1705), Phủ biên tạp lục (1776), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam nhất thống chí (1865 – 1882), Lịch triều hiến chương ngoại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo luợc (1876), nhiều bản tấu trình, dụ của các vua và hàng loạt bản đồ trong thế kỷ 17, 18 và 19.

Bằng chứng chủ quyền lịch sử của Việt Nam được giới Tây phương xác nhận. Quyển Ghi chú địa lý Nam Kỳ (Note on the Georgraphy of Cochinchina) của nhà truyền giáo Pháp Monseigneur Jean-Louis Taberd xuất bản năm 1837 miêu tả Hoàng Sa như Bãi Cát Vàng và là một bộ phận của Nam Kỳ. Quyển sách thứ hai của tác giả mang tựa đề Lịch sử và khái niệm tôn giáo, phong tục và đạo lý của mọi người” (History and Description of the Religion, Customs and Morals of All Peoples) xuất bản năm 1838 ghi nhận Hoàng Sa đã trực thuộc Nam Kỳ trong suốt 34 năm trước đó.

Jean-Baptiste Chaigneau (1769-1832) là một người lính hải quân Pháp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam vào thế kỷ 19. Ông theo Linh Mục Pigneau de Behaine phò Nguyễn Phúc Ánh giành lấy ngai vàng. Ông lấy tên Việt là Nguyễn Văn Thắng và làm quan trong triều đại nhà Nguyễn từ 1794 tới 1826, lấy vợ Việt là bà Hồ Thị Huệ và có một đứa con trai tên Nguyễn Văn Đức. Trong quyển hồi ký Memoires sur la Cochinchina, ông ghi lại là Hoàng Đế Gia Long đã chính thức sáp nhập Hoàng Sa vào năm 1816. Nhà truyền giáo Đức Karl Gutzlaff, tác giả của bài viết mang tựa Geography of the Cochinchinese Empire xuất bản năm 1849 xác nhận Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam và trong đó có đoạn “Từ ngàn xưa, có nhiều người từ Hải Nam thường xuyên ghé thăm hàng năm rồi sau đó đi xuống tới Borneo. Chính quyền An Nam nhận thấy cần phải thu lệ phí và cho một đơn vị đồn trú thu tiền những người thăm viếng cũng như bảo vệ cho ngư dân Việt“.

Ngoài ra, luận cứ của Việt Nam cũng được một số tác giả Tây phương khác chứng thực như Nhà thám hiểm Pháp Adophe Philibet Dubois de Jancigny, Aldrino Balbi (Ý) tác giả cuốn The Italian Compendium of Georgraphy xuất bản năm 1850 và Khâm Sứ Pháp Le Fol trong lá thư ngày 22/1/1929 gửi Toàn quyền Pháp có ghi rõ là Hoàng đế Gia Long đã chính thức chiếm hữu Hoàng Sa vào năm 1816.

Phát triển kinh tế

Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam đưa ra là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá viết vào thế kỷ 17. Đỗ Bá ghi lại Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ 17. Mỗi năm vào cuối tháng mùa Đông, Chúa Nguyễn cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập vàng bạc, tiền tệ và súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm ra tới đảo mất một ngày rưỡi nhưng nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày. Theo Sử gia Võ Long Tê, tuy sách của Đỗ Bá được viết vào năm 1686 nhưng có trích dẫn từ quyển Bản Đồ Hồng Đức. Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Có nghĩa là Việt Nam đã bắt đầu hành xử chủ quyền từ thế kỷ 15.

Một tài liệu quan trọng khác là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776. Lê Quý Đôn (1726 – 1784) sinh tại làng Diên Hà, tỉnh Thái Bình. Ông dự thi Hương và đỗ đầu giải nguyên lúc 17 tuổi. Ông làm quan thời nhà Lê và cũng là tác giả và biên tập của hàng chục quyển sách. Trong Phủ biên tạp lục, ông viết là “Chúa Nguyễn đã lập ra Đội Hoàng Sa gồm có 70 người. Hàng năm họ thay phiên nhau ra đảo khởi hành từ đầu tháng Giêng. Mỗi người được cấp 6 tháng lương khô. Họ tự do bắt chim, rùa và cá để ăn. Họ tìm thấy nhiều vật quý từ những chiếc tàu bị chìm như kiếm đồng, ngựa đồng, bạc, nhẫn và đồng bạc… Họ trở về trong tháng 8 và ghé Phú Xuân (Huế) để trao lại những vật quý cho vào kho. Sau đó họ được cấp chứng chỉ, thù lao và cho về nhà“.

Thành viên của Đội Hoàng Sa được miễn thuế và nhận tiền thưởng. Nhưng người nào trốn tránh trách nhiệm thì cũng bị trừng phạt nặng nề.

Tới đầu thế kỷ 18 thì các chuyến hải hành của Đội Hoàng Sa bị giảm từ 6 xuống 2 tháng. Lý do là thu nhập ngày càng ít.

Sau đó, triều đại Tây Sơn (1778 – 1802) tiếp tục các chuyến hải hành tới Hoàng Sa. Tây Sơn Thượng Tướng Công ra lệnh cho Chỉ huy Đội Hoàng Sa Hồi Đức Hầu dẫn 4 chiếc tàu đi ra Hoàng Sa để thu thập vàng, đồng, súng, rùa biển và những thứ quý giá khác mang về kinh thành. Những chuyến đi này cũng được nhắc tới trong quyển Hành trình tới Nam Kỳ của John Barrow (Anh) xuất bản năm 1806 ghi lại chuyến đi của Bá tước George Macartney tiếp kiến triều đình nhà Thanh.

Sự khai thác kinh tế một cách có hệ thống tiếp tục khi Bộ Kinh tế cấp bằng khai thác phosphate cho Lê Văn Cang vào năm 1956 tại các đảo Quang Anh, Hoàng Sa và Hữu Nhật cho tới năm 1964. Từ 1957 tới 1962, hơn 24.000 tấn phosphate được lấy từ các đảo này và chuyển đi cho một công ty ở Singapore (Yew Huatt). Tháng 7, 1973, Việt Nam cấp giấy phép cho một công ty Nhật khai thác phosphate tại Hoàng Sa nhưng không thi hành được vì bị Trung Quốc tấn công và chiếm hết quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974.

Quản trị hữu hiệu (effective administration)

Việt Nam từng bước chiếm hữu và hành xử chủ quyền tại Hoàng Sa. Năm 1816, vua Gia Long đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân triều đình ra khảo sát, đo thủy lộ, cắm cờ và tiến hành nghi thức thượng kỳ trên đảo chính thức chiếm hữu. Bản đồ đầu tiên của nhà Nguyễn xuất bản năm 1830 bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh thổ Việt Nam. Ba năm sau tức 1833, vua Minh Mạng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo để giúp thuyền buôn tránh bị mắc cạn. Năm 1834, vua sai Trương Phúc Sĩ dẫn 29 thủy thủ ra đảo để vẽ bản đồ. Năm 1835, vua hạ chỉ cho Đô Đốc Phạm Văn Nguyên đặt bia đá và xây chùa trên đảo. Năm 1836, vua ra lệnh cho Phạm Hữu Nhật đóng 10 cọc chủ quyền trên quần đảo với hàng chữ “Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bia gỗ, đến nơi đó dụng làm dấu ghi“. Mặt bài khắc những chữ “Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa trong nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ“.

Sau đó, thông tin thu thập được dùng để vẽ bản đồ chi tiết năm 1838 ghi rõ Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng trợ cứu chiếc tàu Gootebrok của Hòa Lan bị chìm gần Hoàng Sa năm 1634 và 3 chiếc tàu Hoà Lan khác trên đuờng từ Nhật đến Batavia vào năm 1714. Một chiếc tàu buôn của Pháp vào năm 1830 và tàu buôn Anh năm 1836 được chính quyền địa phương tại Đà Nẵng và Bình Định giúp đỡ cung cấp thức ăn và chỗ ở khi tàu của họ bị đắm.

Thời kỳ đô hộ

Pháp tấn công Việt Nam vào năm 1858. Hải quân Pháp chiếm Đà Nẵng và Gia Định (Sài gòn) vào năm 1858 và 1859. Hai năm sau, Việt Nam nhượng luôn ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường cho Pháp cùng với đảo Côn Sơn theo Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Nam Kỳ trở thành lãnh thổ của Pháp năm 1864. Một thập niên sau, Pháp tấn công Hà Nội và triều đình Huế ký Hòa ước Quý Mùi (1883) biến toàn bộ Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.

Là nước bảo hộ, Pháp thừa kế mọi chủ quyền của Việt Nam. Tới 1920, nhân viên hải quan Pháp thường xuyên thanh tra Hoàng Sa để ngăn chận nạn buôn lậu vũ khí và bạch phiến. Công tác này tiếp tục trong thập niên 1930. Năm 1929, phái đoàn Pierre de Rouville đề nghị xây cất bốn hải đăng trên đảo Tri Tôn, đảo Linh Côn, đá Bắc và đá Bông Bay. Năm 1930, chính quyền Pháp ở Đông Dương cử phái đoàn đến treo cờ ở Hoàng Sa. Trung Quốc lên tiếng phản đối và Pháp đề nghị đưa vấn đề ra tòa án quốc tế nhưng Trung Quốc từ chối. Năm 1932, Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên, Huế. Năm 1937, Pháp đưa người ra đảo nghiên cứu việc xây cất trạm kiểm soát hàng hải và không lưu và cất hải đăng trên đảo Hoàng Sa (Pattle Island), một trong những đảo lớn ở quần đảo Hoàng Sa. Năm 1939, Toàn quyền Joseph Jules Brevie chia quần đảo Hoàng Sa thành hai nhóm: nhóm An Vĩnh (Amphramite) ở phía đông bắc và nhóm Lưỡi Liềm (Crescent) ở phía tây nam. Ngoài ra, Pháp và Việt Nam đóng quân cảnh sát thường trực trên đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Lưỡi Liềm và đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm An Vĩnh. Quân Pháp và Việt Nam đóng quân tại Hoàng Sa tới 1946 nhưng có lúc bị gián đoạn vì bị quân Nhật chiếm đóng. Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) đồng ý là Pháp sẽ thay thế quân Tưởng thi hành nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra (bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa) trước ngày 31/3/1946. Quân Pháp trở lại Hoàng Sa trong tháng 6, 1946. Nhưng cuộc chiến với Việt Minh buộc quân Pháp rời Hoàng Sa trong tháng 9 năm đó.

Khi biết được quân của Tưởng Giới Thạch vẫn chưa rời Hoàng Sa sau khi giải giới quân Nhật, Pháp chính thức ra thông báo ngoại giao phản đối vào ngày 13/1/1947. Tàu chiến Le Tonkinois cũng được điều đến đảo Phú Lâm nhưng khi thấy quân số ít hơn, quân Pháp – Việt rút quân về đảo Hoàng Sa sửa chữa lại trạm khí tượng và biến nó thành trạm điện tín quốc tế 48860 vào năm 1947. Một lần nữa, Pháp đề nghị đưa tranh chấp ra Tòa án Quốc tế nhưng Trung Quốc từ chối. Lúc đó, Pháp cũng nghĩ tới việc đơn phương kiện Trung Quốc nhưng đình lại vì cho rằng kết quả sẽ tốt hơn khi Việt Nam có một thực thể pháp lý thống nhất. Năm 1953, Pháp đưa tàu do thám Ingenieur en chef Girod vào Hoàng Sa để khảo sát khí tượng, địa lý, địa chất và môi trường sinh thái.

Cùng lúc với các hành động củng cố chủ quyền tại Hoàng Sa, Pháp cũng đưa tàu De Lanessan tới khảo sát ở Trường Sa vào năm 1927. Năm 1930, tàu La Malicieuse đến Trường Sa và làm lễ thượng kỳ Pháp. Đây là hành động chiếm hữu và hành xử chủ quyền đầu tiên tại Trường Sa. Vào ngày 23/9/1930, Pháp gửi điện tín cho các cường quốc thông báo là Pháp đã chiếm hữu Trường Sa vô chủ.

Trong tháng 11, 1928, một công ty phosphate mới ở Bắc Kỳ xin phép khai thác phosphate ở Trường Sa. Sau đó, Pháp gửi các tàu Alerte, Astrobale và De Lanessan tới và thực sự chiếm đóng quần đảo Trường Sa trong tháng 4 năm 1933. Một trụ sở hành chánh được xây cất trên đảo Ba Bình trong tháng 12 và Toàn quyền Pasquier ký Nghị Định 4762-CP ngày 21/12/1933 sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cho xây một đài phát thanh và trạm khí tượng mang mã số quốc tế 48919 trên đảo Thị Tứ vào năm 1938 và quản lý các phương tiện này cho tới năm 1941 khi quân Nhật đổ quân lên chiếm đóng. Pháp cũng có nhiều công trình khảo sát khoa học hữu ích điển hình là Báo cáo thứ 22 của Viện Khí tượng Đông Dương năm 1934. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Pháp đưa tàu chiến Chevreud trở lại Trường Sa trong tháng 10 năm 1946 và dựng bia đá chủ quyền trên đảo Ba Bình. Khi biết quân Tưởng vẫn còn trụ lại trên đảo Ba Bình, Pháp đã gửi công hàm phản đối. Quân Tưởng rút lui nhưng lén lút trở lại chiếm đảo Ba Bình từ ngày 8/6/1956.

Việt Nam dần dần giành lại độc lập sau Đệ Nhị Thế Chiến. Vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập nhưng thoái vị năm tháng sau đó vào ngày 19/8/1945, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh lúc đó kiểm soát Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại Ba Đình và thành lập Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). Trong tháng 3, 1946, Pháp ký Hiệp ước sơ bộ với Hồ Chí Minh và đồng ý VNDCCH là một quốc gia độc lập trong Liên Bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp. Vào ngày 8/3/1949, Pháp ký Hiệp ước Elysée với Quốc trưởng Bảo Đại công nhận Việt Nam là một nước độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp.

Vào ngày 14/10/1950, Pháp chính thức giao trả Hoàng Sa cho Việt Nam. Lễ bàn giao do Tướng Phan Văn Giáo chủ trì. Tại Hội Nghị San Francisco trong tháng 5, 1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu (chính quyền Bảo Đại) xác nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam trước đại diện 51 quốc gia mà không có ai lên tiếng phản đối.

Quân đội VNCH nhận lãnh trách nhiệm phòng thủ Hoàng Sa và Trường Sa trong tháng 8, 1956. Hải quân VNCH đổ quân lên các đảo Hoàng Sa trong tháng 4 và Hữu Nhật (Robert Island) trong tháng 7, 1956. Cũng trong năm đó thì Bộ Khai thác, Kỹ thuật và Tiểu công tiến hành khảo sát các đảo Hoàng Sa, Quang Ánh, Hữu Nhật và Duy Mộng (Drummond Island). Thủy quân lục chiến nhận nhiệm vụ phòng thủ đối với các đảo này tới 1959 khi trách nhiệm này được chuyển sang cho Quân Khu tỉnh Quảng Nam. Vào tháng 2, 1959, quân đội VNCH đuổi 80 ngư dân Trung Quốc cư ngụ bất hợp pháp trên đảo Quang Hòa (Duncan island) và chiếm đóng đảo này.

Năm 1960, Việt Nam bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm chỉ huy dân sự đầu tiên đến quản lý Hoàng Sa. Sang năm 1961, quản lý hành chánh Hoàng Sa được chuyển từ Thừa Thiên lại cho Quảng Nam và nâng lên cấp xã. Trong tháng 5, 1971, VNCH tiến hành khảo sát đảo Tri Tôn nhưng Trung Quốc tiếp tục cho quân gây hấn buộc VNCH ra tuyên bố chính thức xác nhận chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa. Vào ngày 21/1/1974, Trung Quốc đưa hải quân xâm chiếm Hoàng Sa và đẩy quân VNCH ra khỏi nhóm Lưỡi Liềm và chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa từ thời điểm đó.

Tương tự như ở Hoàng Sa, Việt Nam tiếp nối chủ quyền của Pháp tại Trường Sa và sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy trong tháng 10, 1956. Từ 1961 tới 1963, hải quân VNCH từ các chiếc tàu Vạn Kiếp và Vân Đồn tiến hành đóng cọc chủ quyền tại các đảo Thị Tứ, Loại Ta, An Bang, Trường Sa, Song Tử Đông và Song Tử Tây. Sau 30/4/1975, bộ đội Bắc Việt tiếp thu quyền kiểm soát các đảo này từ hải quân VNCH. Trong tháng 3, 1976, CHXHCNVN sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Đồng Nai.

Luận cứ của Việt Nam là Pháp Pháp đã chiếm hữu hợp pháp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thập niên 1930 và sau đó chuyển lại cho VNCH. Sau 1975, lãnh thổ của VNCH chuyển lại cho CHXNCNVN. Do đó, Việt Nam hoàn toàn có chủ quyền hợp pháp đối với hai quần đảo này.

Luận cứ chủ quyền của Trung Quốc

Trong tháng 6, 2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phổ biến văn bản mang tên Vấn đề Biển Nam Trung Hoa (The Issue of South China Sea) chính thức bày tỏ lập trường của Trung Quốc. Tóm tắt là Trung Quốc đòi hết chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa bao gồm lãnh hải chung quanh các đảo dựa trên một vài yếu tố gồm có bằng chứng lịch sử, khai thác kinh tế, quản trị hữu hiệu và sự công nhận của cộng đồng quốc tế.

Tài liệu mà Trung Quốc đua ra cho là bằng chứng lịch sử gồm có một số tác phẩm như Nam Châu dị vật chí (Những vật lạ ở Phương Nam) của Vạn Chấn thời Tam Quốc (220 – 280) viết dưới thời Hán Vũ Đế, Phù Nam truyện của Khang Thái viết cùng thời, Dị vật chí của Dương Phù thời Đông Hán (25 – 220), Lĩnh ngoại Đại Pháp của Chu Khứ Phi và Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát đời Tống (960 – 1279), Đảo di chí lược của Vương Đại Uyên đời Nguyên (1271 – 1368), Đông Tây dương khảo của Trương Nhiếp (1618), Vũ bị chí của Trịnh Hòa của Mao Nguyên Nghi (1628), Hải Lục của Vương Bình Nam (1820), Hải quốc độ chí của Ngụy Nguyên (1848) và Danh hoàn chí lược của Bành Ôn Chương (1848). Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng lập luận rằng các tấm bản đồ từ thời nhà Đường, Tống, Nguyên, Minh đã liệt kê Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc. Học giả Trung Quốc kết luận rằng ngư dân Trung Quốc là những người đầu tiên khám phá và đặt chân tới hai quần đảo này.

Khai thác kinh tế

Theo Bộ Ngoại giao, ngư dân Trung Quốc đã đánh cá tại Biển Đông từ thời nhà Tấn (265 – 420). Các chuyến hải hành được tổ chức từ thời nhà Minh (1368 – 1644). Ngư dân Trung Quốc sử dụng hải đồ hướng dẫn hải trình từ Hải Nam xuống Hoàng Sa và Trường Sa. Các học giả Trung Quốc cho rằng ngư dân Trung Quốc đã bắt đầu tổ chức các chuyến đi đánh cá hàng năm tại Biển Đông từ khi Trung Quốc Cộng Hòa (Trung Hoa Dân Quốc) ra đời năm 1912. Năm 1918, Okura Unosuke (Nhật) đã viết sách mang tựa Những hòn đảo bão tố (Stormy Islands) diễn tả cảnh ngư dân Trung Quốc sinh sống và trồng trọt trên đảo. Năm 1933, sử gia Ling Chungshen viết bài nhắc đến sự hiện diện của ngư dân Trung Quốc trên một số đảo tại Trường Sa. Mặc dù Bộ Ngoại giao nhìn nhận là sự hiện diện này không được chính quyền Trung Quốc bảo trợ nhưng các hoạt động đánh cá sau đó được nhà nước hỗ trợ. Hơn nữa, ngư dân phải đóng thuế và lệ phí để được quyền khai thác tại Trường Sa.

Năm 1910, triều đình nhà Thanh kêu gọi đấu thầu hợp đồng khai thác các đảo tại Biển Đông và thông lệ này tiếp diễn dưới thời Trung Hoa Dân Quốc (1912 – 1949) nhưng chỉ diễn ra tại Hoàng Sa. Năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông tiếp tục chính sách khai thác tại Biển Đông và phần lớn là tập trung tại Hoàng Sa. Trung Quốc đã nhiều lần và liên tục phản đối mọi sự khai thác kinh tế từ phía Việt Nam gồm có hợp đồng khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô vào năm 1980, giữa Petro Vietnam và Conoco một công ty năng lượng của Mỹ vào năm 1996, giữa Petro Vietnam và ONGC của Ấn Độ vào năm 2011 và giữa một nhóm công ty dầu khí Việt Nam và Gasprom của Nga. Tháng 5, 2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng tranh chấp tại Hoàng Sa với sự hộ tống của nhiều tàu nhà nước trong đó có 7 tàu chiến.

Trung Quốc cũng đã sử dụng lực lượng hải quân ngăn cản ngư dân Việt Nam và Phi Luật Tân đánh cá trong vùng biển tranh chấp. Tháng 5, 2011, tàu Trung Quốc ngăn cản và cắt đứt dây cáp tàu Bình Minh của Việt Nam. Hai tuần sau đó, tàu Trung Quốc cố ý đâm vào tàu Viking II. Tháng 11, 2012, tàu Trung Quốc cắt dây cáp của tàu Bình Minh 02.

Quản trị hữu hiệu

Trung Quốc cho rằng họ đã kiểm soát và quản trị các đảo tại Biển Đông từ thế kỷ 13. Ví dụ trong lịch sử thời nhà Nguyên đã có những câu chuyện tuần tra của lính hải quân trên các quần đảo này. Học giả Trung Quốc cho rằng hải quân Trung Quốc đã tuần tra Biển Đông từ thời nhà Hán (206 trước Công Nguyên – 220 sau Công Nguyên). Năm 43, Mã Viện chinh phục Bắc Việt và cho hải quân thám hiểm Trường Sa. Hải quân Trung Quốc tiếp tục tuần tra Biển Đông từ thời nhà Tấn, Tống, Minh, Nguyên, Thanh và Cộng Hòa. Năm 1279, Hoàng Đế nhà Nguyên sai Guo Shoujing đi khảo sát Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Năm 1292, một lực lượng viễn chinh của quân Nguyên dẫn đầu bởi Shi Bi đưa tàu đi ngang Hoàng Sa và Trường Sa. Dưới thời nhà Minh, hải quân Hải Nam chịu trách nhiệm tuần tra ở Biển Đông. Bia mộ của Tướng Qian Shicai có khắc hàng chữ “Quảng Đông kề cận Biển Đông và lãnh thổ ngoài biển đều thuộc nhà Minh. Tướng Qian dẫn hơn 10000 lính và 50 tàu lớn tuần tra hàng chục ngàn đảo tại Biển Đông“. Thời nhà Minh, Trịnh Hòa chỉ huy 7 chuyến thám hiểm và khảo sát Ấn Độ Dương cũng như tất cả các đảo lớn tại Biển Đông. Nhà Thanh (1644 – 1911) tiếp tục công tác tuần tra này. Bản đồ nhà Thanh cho thấy lãnh thổ Trung Quốc bao gồm các đảo tại Biển Đông.

Ngoài những tác phẩm, sách vở và bản đồ, học giả Trung Quốc cũng dựa vào những phương tiện khai thác, đánh cá, dự báo thời tiết, chứng chỉ cho phép khai thác để củng cố yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Một số tài liệu cũng ghi chú ý định của nhân viên hải quan dưới thời nhà Thanh xây cất hải đăng trên một số đảo tại Biển Đông.

Sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chính quyền Quảng Đông đặt Hoàng Sa dưới quyền kiểm soát của Hải Nam. Quyết định này được Chính quyền quân sự miền Nam xác nhận vào năm 1921. Bộ Ngoại giao cho rằng Trung Quốc đã hành xử chủ quyền gồm có cung cấp cờ cho ngư dân đánh cá tại Trường Sa, tổ chức các chuyến du hành và khảo sát và cho phép in bản đồ ghi tên của các đảo tại Trường Sa.

Năm 1928, chính quyền Quảng Đông thành lập một đội quân tiến hành các công tác khảo sát Hoàng Sa. Từ 1932 tới 1935, một Ủy Ban được thành lập duyệt xét các bản đồ và cộng thêm 132 địa danh từ các đảo ở Biển Đông. Năm 1936, Trung Quốc cũng tiến hành xây cất đài phát thanh và trạm khí tượng tại Hoàng Sa.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, quân của Trung Hoa Dân Quốc tiến ra Hoàng Sa và Trường Sa để thi hành các công tác xây cất các phương tiện trên đảo. Tới năm 1950, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) rút hết quân ra khỏi Biển Đông sau khi quân cộng sản lên tới Hải Nam. Nhưng cộng quân không tiến chiếm các đảo Ba Bình và Phú Lâm mà Đài Loan bỏ lại. Đài Loan quay lại chiếm đóng đảo Ba Bình từ 1956. Trung Quốc cũng tiến chiếm đảo Phú Lâm trong thời điểm đó.

Phản đối liên tục

Trung Quốc cho rằng sự phản đối liên tục mọi yêu sách chủ nguyền của nước khác là bằng chứng hành xử chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trường hợp đầu tiên là sự kiện liên quan tới một tàu khảo sát của Đức vào năm 1883. Sau khi triều đình nhà Thanh lên tiếng phản đối, Đức ngưng hoạt động khảo sát trong khu vực. Khi Pháp chiếm hữu Hoàng Sa trong thập niên 1930, Trung Quốc chính thức gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Pháp vào ngày 27/7/1932. Hai tháng sau, Trung Quốc gửi thư đề ngày 29/9/1932 cho Pháp trong đó có đoạn “chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông đã cấp giấy phép khai thác Hoàng Sa cho công dân Trung Quốc và nghi ngờ về sự hiện diện của người Việt tại đây từ năm 1816 và 1835. Chính quyền Trung Quốc yêu cầu Pháp cung cấp bằng chứng về các bia đá và chùa do Việt Nam xây cất“. Một công hàm khác lập luận rằng Việt Nam không thể sáp nhập Hoàng Sa vào năm 1816 vì Việt Nam lúc đó là một “chư hầu của Trung Quốc“.

Trung Quốc liên tục gửi thư phản đối cho Pháp từ 1938 tới 1947 nhưng từ chối đưa tranh chấp ra tòa.

Từ 1949, Trung Quốc (Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa) tiếp tục thái độ phản đối khi VNCH tiếp nhận đảo Hoàng Sa từ Pháp và phản ứng bằng cách đưa quân chiếm nhóm An Vĩnh ở phía đông. Tháng 5, 1956, Trung Quốc phản đối yêu sách chủ quyền của Phi Luật tân về 7 hòn đảo tại Trường Sa.

Xác nhận chủ quyền

Sau khi VNCH tiếp quản Trường Sa vào năm 1956 và các đảo Hữu Nhật, Hoàng Sa và Quang Ánh năm 1957, Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý bao gồm các đảo trong Biển Đông. Ngày 20/1/1974, lực lượng hải quân Trung Quốc đánh đuổi quân VNCH ra khỏi đảo Hoàng Sa. Ngày 14/3/1988, quân Trung Quốc đụng độ với Việt Nam tại Gạc Ma ở Trường Sa. Hậu quả là một số tàu Việt Nam bị đánh chìm và hơn 70 bộ đội hải quân Việt Nam bị giết. Sau đụng độ này, Trung Quốc tiến chiếm các đá Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Tư Nghĩa, Vành Khăn và Xu Bi.

Năm 2009, Trung Quốc nộp hồ sơ cho Liên Hiệp Quốc tuyên bố chủ quyền toàn bộ Biển Đông. Năm 2012, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa quản lý Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 29/11/2013, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá do chính quyền Hải Nam phụ trách. Lệnh này bắt buộc tàu của nước khác phải xin phép trước nếu muốn đánh cá trong khu vực.

Danh nghĩa quốc tế

Học giả Trung Quốc đưa ra một vài dữ kiện cho rằng cộng đồng quốc tế công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Thứ nhất, Hiệp ước Pháp – Trung 1887 phân định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ trong đó có đoạn “các hòn đảo nhỏ từ kinh tuyến 105 hướng Đông của Paris, kinh tuyến 108 hướng Đông của Greenwich, có nghĩa là đường Nam Bắc đi ngang điểm phía Đông của đảo Trà Cổ thuộc về Trung Quốc. Đảo Cô Tô và các đảo khác ở phía Tây thuộc về An Nam“. Do đó, Trung Quốc lập luận ràng Pháp đã đồng ý nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam và Việt Nam không có gì để kế thừa chủ quyền của Pháp.

Một vài học giả Trung Quốc cũng cho rằng Pháp đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa vào năm 1921 khi Thủ tướng Aristide Briand nói rằng “vì Trung Quốc đã thành lập chủ quyền từ 1909, Pháp không thể đặt yêu sách chủ quyền với các đảo này“. Ngoài ra, khi một công ty Nhật có tên Mitsui Bussan Kaisha bày tỏ ý định khai thác phosphate tại Hoàng Sa và hỏi thăm dò ý kiến của Pháp, Thuyền trưởng Remy trả lời trong bức thư đề ngày 24/9/1920 rằng “không có văn kiện gì cho thấy ai làm chủ Hoàng Sa. Tuy nhiên, tôi có thể nói rằng nó không thuộc sở hữu của Pháp nhưng đây chỉ là dựa theo trí nhớ của tôi chớ tôi không có văn kiện nào xác nhận quan điểm này“.

Năm 1909, Jean Joseph Beauvais Lãnh sự Pháp tại Quảng Châu gửi một lá thư cho Bộ Ngoại giao nói rằng “Pháp có chủ quyền hợp pháp tại Hoàng Sa nhưng nếu chính thức lên tiếng có thể khuấy động chủ nghĩa dân tộc gây bất lợi cho Pháp “. Ngoài ra, Trung Quốc cũng cho rằng một số viên chức đề nghị Pháp từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa để đối lấy quyền lợi của Pháp tại Trung Quốc.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Trung Quốc (của Tưởng Giới Thạch) nhận trách nhiệm giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Hai bên đồng ý là Trung Quốc sẽ bàn giao lại cho Pháp trước ngày 31/3/1946. Nhưng khi quân Trung Quốc tiếp tục đóng lại trên các đảo Phú Lâm và Thị Tứ sau ngày 31/3/1946 thì Pháp và Việt Nam không có phản ứng gì. Trung Quốc lập luận rằng điều này cho thấy Pháp đã ngầm công nhận chủ quyền của Trung Quốc. Tương tự nhu vậy, Pháp không phản đối khi Trung Quốc cộng các đảo ở Biển Đông vào Hòa ước Trung Nhật 1952. Hơn nữa, Pháp và Việt Nam không tiến hành chiếm đóng khi Đài Loan rút quân ra khỏi Trường Sa từ 1950 đến 1956. Cho dù Pháp chiếm hữu Trường Sa hợp pháp năm 1933 nhưng đã từ bỏ chủ quyền sau 1945. Do đó, Việt Nam không có gì để tiếp nối.

Học giả Trung Quốc lập luận là Nhật đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và đả kích yêu sách chủ quyền của Pháp vào năm 1938. Điều 2 của Hòa ước Trung Nhật 1952 ghi rằng “Nhật từ bỏ mọi yêu sách chủ quyền đối với Đài Loan, Penghu cũng như Trường Sa và Hoàng Sa“. Riêng đối với lời tuyên bố của Thủ tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu tại Hội Nghị San Francisco năm 1951, Trung Quốc trả lời là họ không tham dự nên không thể phản đối lời tuyên bố này.

Hội nghị Hàng không Dân sự đầu tiên được tổ chức tại Manila năm 1955 với sự tham dự của 15 quốc gia gồm có Đài Loan và Việt Nam. Hội nghị đồng thuận yêu cầu Đài Loan theo dõi và cập nhật tình trạng khí tượng tại Trường Sa 4 lần trong mỗi ngày. Không có ai lên tiếng phản đối đề nghị này.

Công hàm Phạm Văn Đồng

Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân ngày 15/6/1956, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa nói với ông rằng: “Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.”

Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng chỉ ra một tuyên bố khác vào năm 1965 của miền Bắc về quy định khu tác chiến của Mỹ là “Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã chỉ định một phần lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong quần đảo Tây Sa làm vùng chiến sự của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ“. Ngoài ra, tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn kèm theo một tấm bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xuất bản năm 1972 trong đó ghi Tây Sa và Nam Sa theo tên Trung Quốc.

Nhưng có lẽ văn kiện quan trọng nhất mà Trung Quốc dựa vào là Công hàm Phạm Văn Đồng. Ngày 4/9/1958, Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc ra tuyên bố lãnh hải trong đó có nội dung là “Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố: (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc…“. Tây Sa và Nam Sa là Hoàng Sa và Trường Sa theo cách gọi của Trung Quốc.

Đúng 10 ngày sau đó vào ngày 14/9/1958, Thủ tướng VNHDCH Phạm Văn Đồng gửi công hàm phản hồi cho Chu Ân Lai với nội dung là: “Thưa Đồng chí Tổng lý, Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Học giả Trung Quốc lập luận rằng rõ ràng VNDCCH đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trước đây nhưng bây giờ lại muốn nuốt lời. Lập trường này vi phạm nguyên tắc estoppel của luật quốc tế là một quốc gia không được có lập trường bất nhất hoặc tráo trở.

Đánh giá luận cứ của Trung Quốc

Một vài học giả quốc tế đồng ý là có nhiều bằng chứng cho thấy ngư dân Trung Quốc có lẽ đã biết về các đảo tại Biển Đông từ thời ngàn xưa. Tuy nhiên, hiểu biết và khám phá là hai khái niệm khác nhau. Đa số các tài liệu cổ mà Trung Quốc đưa ra cho thấy Trung Quốc có kiến thức tổng quát về các thực thể tại Biển Đông nhưng kiến thức tổng quát này không có gì hữu dụng khi nói đến luận cứ pháp lý. Hơn nữa, ngư dân Trung Quốc là những người đến sau. Hàng ngàn năm về trước, ngư dân Nam Dương, Mã Lai, Phi và Việt đã đặt chân tới các hoang đảo ở Biển Đông. Thủy thủ Mã Lai đã đưa thuyền buồm xuyên qua Ấn Độ Dương cả ngàn năm trước khi Trịnh Hòa thực hành 7 chuyến thám hiểm trong thế kỷ 15. Và Đế quốc Chàm, trước khi bị Việt Nam thôn tính trong thế kỷ 15 là những người đầu tiên xưng bá tại Biển Đông. Lập luận cho rằng ngư dân Trung Quốc khám phá Biển Đông không có gì đáng tin cậy.

Trung Quốc đưa ra một số bản đồ mà họ cho rằng chứng minh chủ quyền của họ tại Biển Đông. Thật ra theo luật quốc tế, bản đồ có giá trị rất thấp khi được sử dụng làm bằng chứng trong các vụ tranh chấp lãnh thổ. Trừ khi bản đồ được đính kèm vào hiệp ước hoặc một văn kiện pháp lý. Không có bản đồ nào mà Trung Quốc đưa ra có thể được xem như là một hiệp ước hoặc văn kiện có tính pháp lý ràng buộc giữa Trung Quốc với Việt Nam hoặc Pháp liên quan tới Biển Đông.

Khám phá và chiếm hữu

Giả sử như Trung Quốc có khám phá các đảo tại Biển Đông, nhưng nếu không có hành động chiếm hữu thì sẽ không có chủ quyền. Trong vụ kiện Island of Palmas (Netherlands/USA) 1928, Tòa Trọng tài Thường trực phán rằng chủ quyền sơ khởi (inchoate title) qua sự khám phá phải được hoàn tất trong một khoảng thời gian hợp lý bằng hành động chiếm hữu lãnh thổ mới vừa khám phá. Chiếm hữu gồm có hai yếu tố: ý chí chiếm hữu và thi hành quyền lực thật sự. Hơn nữa, hành động khám phá không thể lật ngược chủ quyền của một quốc gia khác nếu quốc gia đó đã thực thi quyền lực liên tục và hòa bình sau một khoảng thời gian dài đối với lãnh thổ đó.

Trung Quốc lập luận rằng họ đã chiếm hữu các đảo ở Biển Đông từ thế kỷ 14 nhưng không có bằng chứng gì cụ thể và khả tín. Nhiều lắm là có một số ngư dân Hải Nam đã tạm trú trên một số đảo. Cũng không có bằng chứng gì cho thấy nhà nước Trung Quốc tiến hành tuần tra các đảo, xây cất các phương tiện như hải đăng và trạm khí tượng. Căn bản là không có gì đáng tin cậy cho thấy Trung Quốc đã hành xử chủ quyền hợp pháp, liên tục và qua một thời gian dài mà không có ai phản đối.

Dưới luật quốc tế theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ Fisheries Case (United Kingdom v Norway) 1951, khi xác định chủ quyền lãnh thổ, sinh hoạt tư nhân không có giá trị trừ khi họ tiến hành khai thác kinh tế dưới giấy phép do nhà nước ban hành. Hành động của một số cá nhân không đồng nghĩa với hành xử chủ quyền của một quốc gia. Không có bằng chứng gì cho thấy là ngư dân Hải Nam hoặc Trung Quốc phải xin giấy phép của nhà nước để đánh cá ở Biển Đông. Do đó, cho dù một số ngư dân Trung Quốc có tạm trú tại các đảo ở Biển Đông không có nghĩa là họ có thể đại diện quốc gia chiếm hữu hoặc hành xử chủ quyền dưới luật quốc tế. Kết luận này được xác nhận bởi một bản báo cáo bí mật của quân đội Trung Quốc vào năm 1933. Theo nhà Địa lý Pháp Francois Xavier-Bonnet, khi Pháp chiếm đóng 9 đảo tại Trường Sa, Trung Quốc lên tiếng phản đối nhưng nhầm lẫn giữa Hoàng Sa và Trường Sa. Một bảo báo cáo mật đề ngày 1/9/1933 do Hội đồng Quân nhân Trung Quốc soạn thảo có đoạn ghi là “Để kết luận, chúng ta chỉ có bằng chứng duy nhất là ngư dân Hải Nam, chúng ta không có làm gì trên các đảo này. Chúng ta cần hạ nhiệt với Pháp nhưng để cho ngư dân tiếp tục đánh cá. Hải quân của chúng ta còn yếu và hiện tại thì 9 hòn đảo này không có hữu dụng gì…“. Sau khi nhận ra Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo khác nhau, Trung Quốc ngưng phản đối với Pháp.

Cũng theo Francois Xavier-Bonnet, vào tháng 6, 1937, Tư lệnh Quân khu 9 Huang Qiang được gửi đi Hoàng Sa với hai nhiệm vụ chính. Thứ nhất là điều tra tình báo về hoạt động của quân Nhật và thứ hai là để xác quyết chủ quyền của Trung Quốc tại đó. Theo báo cáo đề ngày 31/7/1937, Huang rời Quảng Đông ngày 19/6/1937 và tới Hoàng Sa ngày 23/6. Huang đặt chân lên bốn đảo thuộc nhóm An Vĩnh gồm có Phú Lâm, Đảo Đá, Linh côn và Đảo Bắc. Huang trở về Hải Nam ngày 24. Bản báo cáo mật này được trao lại cho các sử gia Han Zenhua, Lin Jin Zhi và Hu Feng Bin khi họ xuất bản Sưu tập tài liệu lịch sử các đảo của chúng ta ở Biển Nam Trung Hoa vào năm 1988 nhưng họ lại không phổ biến bản báo cáo này. Nhưng rất may là bản báo cáo mật này lại được phổ biến vào năm 1987 bởi Ủy ban Đặt tên tại Quảng Đông trong quyển Biên tập địa danh các đảo ở Nam Hải.

Trong bản báo cáo mật, Huang viết rằng đã mang theo 30 cọc trên tàu trong đó có 4 cọc đề năm 1902 thời nhà Thanh và số còn lại đề năm từ 1912 đến 1921. Không có cọc nào đề năm 1937 vì chuyến đi này hoàn toàn bí mật. Huang cùng đồng đội chôn 2 cọc 1902 và 4 cọc 1912 trên Đảo Bắc, 1 cọc 1902, 1 cọc 1912 và 1 cọc 1921 trên đảo Linh Côn, 2 cọc 1921 trên đảo Phú Lâm và 1 cọc 1921 trên Đảo Đá. Tóm lại, chuyến hải hành tới Hoàng Sa năm 1902 của Trung Quốc thật sự không có xảy ra trong lịch sử mà đã được ngụy tạo. Hành động này đã lừa gạt luôn cả giới hàn lâm quốc tế trong đó có Gs Marwyn Samuels, tác giả của cuốn Tranh chấp tại Biển Đông xuất bản năm 1982.

Trung Quốc nhìn nhận tiến trình khai thác kinh tế tại Biển Đông mang tính tư nhân nhưng đến thời nhà Thanh thì công tác khai thác này có sự chấp thuận và hỗ trợ của triều đình được đẩy mạnh dưới thời Dân Quốc qua sự thu thuế và cấp giấy phép khai thác. Nhưng không có bằng chứng độc lập nào xác nhận việc này. Mà nếu có thì nó cũng xảy ra 250 năm quá trễ so với những chuyến khai thác có hệ thống của Đội Hoàng Sa do triều đình nhà Nguyễn tổ chức.

Còn về việc tuần tra thì nhiều lắm là nó cho thấy Trung Quốc có kiến thức tổng quát về các đảo ở Biển Đông. Tự nó không phải là bằng chứng chiếm hữu. Các chuyến hải hành của Trịnh Hòa và Shi Bi cũng vậy. Họ căng buồm đi ngang Biển Đông không có nghĩa là đã hành xử chủ quyền tại đó. Tóm lại, bằng chứng lịch sử của Trung Quốc có giá trị rất giới hạn dưới luật quốc tế.

Sự chiếm đóng của Trung Quốc tại đảo Phú Lâm năm 1946 và cả quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng vũ lực vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và bất hợp pháp. Với Truờng Sa, lần đầu tiên Trung Quốc có phản ứng xảy ra vào năm 1933 khi Trung Quốc phản đối Pháp chiếm hữu và sáp nhập Trường Sa. Trung Quốc không thể tạo chủ quyền chỉ vì hành động phản đối và việc phản đối không đương nhiên tước mất chủ quyền của Pháp được thành lập hợp lệ theo luật quốc tế vì khi Pháp chiếm hữu Trường Sa vào năm 1933, chinh phục là một phương pháp được luật quốc tế công nhận. Chinh phục chỉ trở thành bất hợp pháp sau tháng 10, 1945 khi Hiến Chương Liên Hiệp Quốcbắt đầu có hiệu lực. Trong khi đó, sự chiếm đóng các đảo Ba Bình vào năm 1946 và 1956 của quân Tưởng Giới Thạch và Trung Cộng với một số đảo tại Trường Sa bằng vũ lực không thể dẫn đến chủ quyền hợp pháp dưới luật quốc tế.

Tóm lại, Trung Quốc không trưng dẫn được bằng chứng đáng tin cậy là họ đã hành xử chủ quyền hòa bình và liên tục tại Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù Trung Quốc có khám phá ra các đảo này, họ đã không nghĩ tới việc thực hiện quyền lực quốc gia trong một khoảng thời gian hợp lý để củng cố chủ quyền của các thực thể đó. Nhưng một số học giả Trung Quốc lập luận rằng đây là một trường hợp ngoại lệ mà luật quốc tế ghi nhận. Đó là hoàn cảnh địa lý của các đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa quá xa xôi và có môi trường khắc nghiệt. Dựa vào phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ Clipperton island Arbitration (Mexico v France) 1931, Trung Quốc lập luận rằng họ chỉ cần chứng minh là có hành xử chủ quyền có tính biểu tượng.

Đúng là luật quốc tế có ghi nhận trường hợp ngoại lệ nhưng Trung Quốc không áp dụng được đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, vụ Clipperton đòi hỏi quốc gia liên hệ phải có hành xử chủ quyền. Sự tiếp xúc, viếng thăm, tạm trú thỉnh thoảng của ngư dân trong tư cách cá nhân không đồng nghĩa với tầm vóc hành xử chủ quyền của một quốc gia. Không có bằng chứng gì đáng tin cậy là nhà nước Trung Quốc có những hành động cụ thể nào thực thi chủ quyền trên các đảo này – một sự thật mà bản báo cáo mật ngày 1/9/1933 của chính Hội đồng Quân nhân Trung Quốc xác nhận.

Hơn nữa, trong vụ kiện Eastern Greenland (Norway v Denmark) 1933, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng hành xử chủ quyền biểu tượng có thể áp dụng khi không có quốc gia khác chứng minh chủ quyền tốt hơn. Như đã trình bày, lần đầu tiên Trung Quốc có hành xử liên quan tới Hoàng Sa diễn ra vào năm 1909. Nhưng Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Hoàng Sa khoảng 100 năm trước đó vào năm 1816.

Thiên triều và chư hầu

Trung Quốc cho rằng vào năm 1816, Việt Nam là một nước chư hầu của Trung Quốc và do đó không thể xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Lập luận này hoàn toàn không có cơ sở. Dưới Đế chế phong kiến, Hoàng đế Trung Hoa cai trị thiên hạ là con người chớ không phải lãnh thổ. Lãnh thổ và biên giới có thể thay đổi rất nhanh khi các tiểu quốc chư hầu đụng độ xâm chiếm lẫn nhau. Việt Nam trở thành một phần của nhà Hán vào năm 111 trước Công Nguyên và bị Trung Quốc đô hộ trong 1000 năm. Nhưng Việt Nam đã giành lại độc lập vào năm 939 và nhiều lần thành công đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung Quốc trong hơn 900 năm cho tới khi bị Pháp đô hộ. Tuy đã giành độc lập nhưng Việt Nam tiếp tục triều cống với Hoàng đế Trung Hoa để giữ hòa khí với nước láng giềng mạnh và lớn hơn cả trăm lần. Khi vua Gia Long chính thức chiếm hữu Hoàng Sa vào năm 1816, quan hệ thiên triều và chư hầu không ngăn cản Việt Nam hành xử chủ quyền gồm có mở mang bờ cõi và biên giới. Theo định nghĩa, quan hệ chư hầu có nghĩa là Trung Quốc nắm quyền kiểm soát bang giao của Việt Nam và các nước khác nhưng Việt Nam vẫn có quyền hành xử chủ quyền nội địa gồm có quyền mở mang hoặc thu nhận lãnh thổ.

Thoả thuận quốc tế

Lập luận của Trung Quốc là Pháp đã đồng ý nhượng các đảo tại Biển Đông cho Trung Quốc gồm có Hoàng Sa và Trường Sa dưới Hiệp ước Pháp – Trung 1887 không có lô-gích. Tiêu đề của Hiệp ước này là phân định biên giới và chia một số đảo giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ (Tonkin). Nếu sự diễn giải của Trung Quốc là đúng thì tất cả các đảo ở phía Nam thành phố Huế cũng thuộc chủ quyền của Trung Quốc – một kết luận khá điên rồ. Hơn nữa, Pháp đã trao công hàm ngoại giao đề ngày 16/8/1933 cho Trung Quốc xác nhận là Hiệp ước Pháp -Trung 1887 không áp dụng cho Hoàng Sa. Chính Gs Zou Keyuan của Trung Quốc cũng đồng ý là “đường gạch đỏ trên bản đồ là đường phân chia các đảo trong vịnh Bắc Bộ chớ không phải là biên giới lãnh hải giữa hai nước“. Kết luận này phù hợp với sự việc là Bạch Long Vĩ được Mao Trạch Đông trao trả lại cho Việt Nam để thể hiện “tình đồng chí” giữa hai nước. Kết luận của Gs Zou cũng được áp dụng trong Hiệp ước phân định Biên giới trong Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam được ký kết trong năm 2000.

Các lập luận khác cho rằng Pháp đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc hoàn toàn mâu thuẫn và trái với sự thật vì chính Pháp đã có những hành động chiếm hữu cụ thể tại Hoàng Sa và nhất là Trường Sa. Còn Hòa ước Trung – Nhật 1952 chỉ nhắc tới Đài Loan và Penghu chớ không liên quan tới Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, Trung Quốc đã đồng ý trao Hoàng Sa lại cho Pháp sau khi giải giới quân Nhật. Không thể nuốt lời rồi kết luận là Pháp đã chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Về Hội hghị Hàng không Dân sự tại Manila 1955, lý do mà 15 quốc gia đồng ý giao trách nhiệm theo dõi thời tiết cho Đài Loan là vì Đài Loan thích hợp nhất về mặt địa lý. Không thể đồng hóa tiêu đề khí tượng với chủ quyền lãnh thổ.

Công hàm Phạm Văn Đồng và nguyên tắc estoppel

Không có bằng chứng độc lập nào xác nhận câu nói của Thứ trưởng Ung Văn Khiêm với Lý Chí Dân là theo bằng chứng lịch sử thì Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mà giả sử như là có đi nữa thì lời nói đó cũng không có giá trị pháp lý gì. Nhân nhượng chủ quyền lãnh thổ là một sự kiện vô cùng nghiêm trọng liên quan tới vận mệnh của một quốc gia. Không có bất cứ cá nhân viên chức nào kể cả Thứ trưởng có thể tùy tiện quyết đoán.

Tương tự như vậy, Việt Nam lập luận rằng tuyên bố về khu tác chiến, bản đồ do Cục Đo đạc và Phủ Thủ tướng cùng với công hàm Phạm Văn Đồng phải được hiểu theo bối cảnh chính trị và chiến tranh thời đó. Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó thuộc quyển kiểm soát của VNCH. Bắc Việt hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến với VNCH. Tất cả những lời tuyên bố này đều mang màu sắc chính trị và không diễn ra trong một bối cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, công hàm Phạm Văn Đồng không có ý nghĩa là Việt Nam vĩnh viễn từ bỏ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, Trung Quốc lập luận rằng nguyên tắc estoppel ngăn cản Việt Nam đi ngược lại với lập trường bày tỏ trước đây. Tuy estoppel được luật quốc tế công nhận và đã được áp dụng trong một vài vụ kiện liên quan tới tranh chấp chủ quyền, khi phân tích kỹ lưỡng thì nguyên tắc này không ủng hộ quan điểm của Trung Quốc. Trong vụ kiện Temple of Preah Vihear (Cambodia v Thailand) 1962, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng estoppel áp dụng khi (1) quốc gia A qua những lời tuyên bố hoặc cung cách hành xử bày tỏ lập trường rõ ràng và nhất quán với quốc gia B và (2) quốc gia B đã bị thiệt hại hoặc quốc gia A đã hưởng lợi khi quốc gia B dựa vào những lời tuyên bố hoặc cung cách hành xử đó. Trung Quốc không đưa ra đủ bằng chứng để thỏa mãn hai yếu tố này.

Thứ nhất, công hàm Phạm Văn Đồng bày tỏ sự tán thành với lời tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Thủ tướng Chu Ân Lai. Lúc đó, luật quốc tế còn chưa rõ ràng phạm vi lãnh hải là 3 hoặc 12 hải lý. Việt Nam tuyên bố là sẽ tôn trọng lãnh hải 12 hải lý. Do đó, không thể lập luận rằng công hàm Phạm Văn Đồng công nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc một cách “rõ ràng và nhất quán”. Hơn nữa, không có dấu hiệu gì cho thấy Trung Quốc bị thiệt hại vì đã dựa vào lời tuyên bố này. Có thể Trung Quốc sẽ lập luận là vì lời tuyên bố này mà Trung Quốc mới viện trợ cho Việt Nam và do đó Việt Nam đã hưởng lợi. Nhưng cho tới nay, phía Trung Quốc chưa đưa ra bằng chứng nào cho thấy đó là sự thật hoặc là họ sẽ quyết định cắt viện trợ cho Việt Nam nếu không có công hàm Phạm Văn Đồng.

Tương tự như vậy, bản tuyên bố liên quan đến khu vực tác chiến của Hoa Kỳ năm 1965 không hội đủ điều kiện để áp dụng nguyên tắc estoppel. Trong vụ Pedra Branca (Malaysia/Singapore) 2008, Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng estoppel không áp dụng được ngay cả khi có một bên đã tuyên bố xác nhận là họ không đòi hỏi chủ quyền của một hòn đá đang bị tranh chấp. Vụ kiện này liên quan tới chủ quyền của Pendra Brabca/Pulau Puteh, Middle Rocks và South Ledge. Ngày 12/6/1953, Thư ký Thuộc địa Singapore viết thư gửi Cố vấn Anh của vua Johor hỏi thăm về tình trạng chủ quyền của hòn đá Pedra Branca cách Singapore khoảng 40 hải lý. Trong thư, Thư ký Singapore viết: “Chúng tôi muốn hiểu rõ tình trạng của Pedra Branca. Tôi rất biết ơn nếu qúy vị cho biết có văn kiện nào chứng minh hợp đồng thuê mướn hoặc trao tặng hoặc có sự chuyển nhượng bởi chính quyền Johore hay không“.

Khoảng ba tháng sau, Xử lý Ngoại Trưởng Johor gửi thư trả lời ngày 21/9/1953 là “về sự thắc mắc nêu ra trong thư ngày 12/6/1953, tôi xin trả lời là chính quyền Johor không đòi hỏi chủ quyền của Pedra Branca“.

Singapore lập luận rằng thư trả lời là bằng chứng từ bỏ chủ quyền hoặc nguyên tắc estoppel áp dụng và là một lời hứa có tính ràng buộc pháp lý. Nhưng Tòa không đồng ý và phán rằng thư của Johor đơn giản là một câu trả lời đáp lại yêu cầu tìm hiểu thông tin của Singapore và sự phủ nhận chủ quyền diễn ra trong hoàn cảnh đó. Tòa sẽ rất khắt khe khi diễn giải văn kiện liên quan tới chủ quyền. Hơn nữa, Singapore không chứng minh được là đã dựa vào thư trả lời đó mà bị thiệt hại.

Chiều hướng nguyên tắc estoppel ngày càng khó áp dụng trong các vụ kiện tranh chấp chủ quyền được tòa xác nhận trong vụ kiện gần đây giữa Bangladesh và Miến Điện mà Tòa Án Quốc tế về Luật Biển ban hành phán quyết vào năm 2012. Trong đó, Tòa bác bỏ luận cứ của Bangladesh là Miến Điện bị ràng buộc bởi nội dung biên bản phiên họp giữa hai phái đoàn khi thương lượng và giải quyết tranh chấp lãnh hải vì trưởng phái đoàn đàm phán không đủ tư cách quyết định chủ quyền của một gia cũng như Bangladesh không chứng minh được thiệt hại thế nào khi dựa vào nội dung của biên bản họp. Tóm lại, nguyên tắc estoppel chỉ được áp dụng một cách giới hạn trong những trường hợp đặc biệt khi lời tuyên bố phủ nhận chủ quyền diễn ra trong bối cảnh thương lượng hoặc tranh chấp chủ quyền giữa hai quốc gia và lời tuyên bố này phải do những người có đầy đủ thẩm quyền quyết định vấn đề chủ quyền của quốc gia đó. Có nghĩa là không có đủ điều kiện để Trung Quốc áp dụng nguyên tắc estoppel với công hàm Phạm Văn Đồng cũng như các lời tuyên bố tương tự.

Kết luận

Dựa trên bằng chứng và luận cứ mà hai quốc gia đưa ra, yêu sách chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa rõ ràng mạnh hơn của Trung Quốc. Chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa có đầy đủ cơ sở về mặt lịch sử và pháp lý. Từ đầu thế kỷ 18, Việt Nam đã bày tỏ ý chí hành xử chủ quyền khi chính quyền nhà Nguyễn thành lập công ty khai thác kinh tế tại Hoàng Sa. Ý chí này được xác nhận bởi hành động và biểu tượng sáp nhập vào lãnh thổ đầu thế kỷ 19 với một hệ thống quản trị hành chánh liên tục và hòa bình của các vua nhà Nguyễn cho tới khi Pháp xuất hiện. Pháp đã kế thừa và tiếp tục cai trị và thật sự chiếm đóng Hoàng Sa trong thập niên 1930. Sau đó, Pháp liên tục khẳng định chủ quyền cho tới khi rời khỏi Đông Dương vào năm 1956. VNCH kế thừa chủ quyền từ Pháp và chưa bao giờ từ bỏ ngay cả sau khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974.

Trong khi đó, lần đầu tiên Trung Quốc có hành động đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa diễn ra vào năm 1909 tức 200 năm sau khi Việt Nam đã thành lập chủ quyền hợp pháp tại quần đảo này. Hơn nữa, sự chiếm đóng đảo Phú Lâm năm 1956 và toàn bộ Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974 vi phạm Điều 2(4) của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc không thể ban cho Trung Quốc chủ quyền hợp pháp.

Đối với Trường Sa, Pháp đã sáp nhập các đảo này trong thập niên 1930 như là lãnh thổ vô chủ. Vào thời điểm này, chinh phục là một phương pháp hợp lệ được luật quốc tế công nhận. Anh Quốc có kiểm soát một số đảo tại Trường Sa trong thập niên 1880 nhưng quyết định từ bỏ chủ quyền sau khi Pháp sáp nhập và chiếm hữu. Do đó, chủ quyền của Pháp tại Trường Sa hoàn toàn hợp pháp. Chủ quyền này được chuyển nhượng sang VNCH. VNCH (và CHXHCNVN sau đó) tiếp tục quản trị mặc dù Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình bất hợp pháp vào năm 1956 và Trung Quốc đánh chiếm một số đảo và đá vào năm 1988. Sự chiếm đóng đảo Ba Bình của Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1946 và 1956 cùng với sự xâm lăng của Trung Quốc tại Trường Sa vào năm 1988 rõ ràng vi phạm Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và do đó không thể ban hành chủ quyền hợp pháp cho Đài Loan hoặc Trung Quốc tại Trường Sa. Trung Quốc cũng không thể kiến tạo chủ quyền chỉ vì Trung Quốc liên tục phản đối chủ quyền của Việt Nam mà Việt Nam kế thừa chính đáng từ Pháp. Do đó, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Trường Sa rõ ràng là không có cơ sở pháp lý.

Chắc chắn là Trung Quốc sẽ không từ bỏ tham vọng chiếm hết Biển Đông. Việt Nam không còn con đường nào khác mà phải chuẩn bị ngay hồ sơ pháp lý và tiến hành đơn kiện Trung Quốc trong một thời điểm sớm nhất và thuận tiện nhất. Chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cần được phổ biến rộng rãi trong quần chúng và nên nằm trong chương trình giảng dạy ngay từ cấp trung học, nhưng không phải qua hình thức tuyên truyền một chiều của Ban Tuyên giáo Đảng Cộng sản Việt Nam vì những thứ đó không có giá trị trước tòa án hoặc công luận quốc tế. Người dân Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ phải được cơ hội tiếp cận lịch sử một cách trung thực, khoa học và khách quan để xây dựng lập luận có giá trị thuyết phục. Môn lịch sử ở Việt Nam đã bị lạm dụng làm công cụ chính trị phục vụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam quá lâu với quá nhiều dối trá điển hình là câu chuyện Lê Văn Tám đến nỗi học sinh chán ghét lịch sử nước nhà. Khi thế hệ trẻ quay lưng với lịch sử nước nhà thì dân tộc đó phải đối diện với nguy cơ và hiểm họa diệt vong đánh mất độc lập chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải. Và cá nhân hay đảng phái nào làm cho giới trẻ có thái độ thờ ơ với lịch sử và vận mệnh dân tộc sẽ là tội đồ muôn thưở của tổ quốc Việt Nam.

  1. V. T.

Sydney, tháng 12/2015

Tham khảo

Alexander Ovchar, “Estoppel in the Jurisprudence of the ICJ: A principle promoting stability threatens to undermine it“. Bond Law Review Volume 21 Issue 1, 2009

Francois Xavier-Bonnet, “Geopolitics of Scarborough Shoal“. Research Institute of Comtemporary Southeast Asia, November 2012

Francois Xavier-Bonnet “Archaeology and Patriotism: Long Term Chinese Strategy in the South China Sea” The Institute for Maritime and Ocean Affairs 2015

Hong Thao Nguyen, “Vietnam’s Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys: Its Maritime Claims“. Journal of East Asia International Law V JEAIL (1) 2012

Monique Chemiller – Gendreau, “Chủ quyền trên Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” Người dịch: Nguyễn Hồng Thao, Hiệu đính: Lưu Văn Lợi & Lê Minh Nghĩa, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1998

Phil C.W Chan, “Acquiescence/Estoppel in International Boundaries: Temple of Preah Vihear Revisited“. Chinese Journal of International Law (2004) 3 (2)

Raul Pedrozo, “China versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea“, CNA August 2014

Tác giả gửi BVN.

Người đẹp thành danh đã từ bỏ tất cả để làm Nữ tu

Người đẹp thành danh đã từ bỏ tất cả để làm Nữ tu

Người đẹp thành danh đã từ bỏ tất cả để làm Nữ tu

Điều gì đem lại hạnh phúc cho con người? Điều gì khiến cho cuộc đời đáng để sống?

Điều gì đem lại hạnh phúc cho con người? Điều gì khiến cho cuộc đời đáng để sống?
Là tiền bạc? Danh vọng? Nổi tiếng? Thành công sự nghiệp?
Tất cả chúng ta đều biết câu trả lời, ngay cả khi chúng ta không thích, đó là không phải tất cả những chuyện trên. Tất cả những chuyện ở trên sẽ chóng qua. Chỉ có một sự, hay chính xác hơn là một người, có thể cho chúng ta hạnh phúc, là Chúa Giêsu Kitô.
Đây là cách duy nhất để hiểu được quyết định của người phụ nữ này. Ngay giữa sự nghiệp thành công, cô đã bỏ tất cả để theo đuổi Chúa Kitô một cách tập trung hơn nữa trong đời sống tu trì.
Tất nhiên, chúng ta có thể theo Chúa Giêsu mà không nhất thiết phải vào dòng tu. Có người có ơn gọi kinh doanh, có người có ơn gọi làm trong ngành giải trí, lập gia đình …. Nhưng có người được kêu gọi sống đời sống tu trì triệt để, và họ là lời nhắc nhở cho chúng ta biết điều gì là thực sự quan trọng nhất.

Olalla Oliveros – ‘Thiên Chúa không bao giờ lầm …’

Olalla Oliveros là một người mẫu thành danh ở Tây Ban Nha, đã đóng nhiều phim và quảng cáo, trong nước cũng như quốc tế.
Rồi cô đến Fatima, và có được một sự theo lời cô là ‘cảm nghiệm động đất.’ Cô nói là cô thấy trong đầu hình ảnh cô mang áo nữ tu, một chuyện mà ban đầu cô xem là khá ngớ ngẩn.
Nhưng cô không thể giũ hình ảnh này ra khỏi đầu. Cuối cùng, cô kết luận là Chúa Giêsu gọi cô từ bỏ cuộc sống huy hoàng hiện thời và trở thành một nữ tu.
Cô đã nhận rằng, ‘Thiên Chúa không bao giờ lầm. Ngài đã ngỏ ý muốn tôi theo ngài, và tôi không thể từ chối.’

Hiện giờ, cô đang ở trong dòng Thánh Michael.
J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Vương Trí Nhàn

Thi sĩ Dương Tường vừa viết thư (“Gửi Bạn Ở Cõi-Bên-Kia”) nhân ngày giỗ đầu – ngày 18 tháng 12 năm 2015 – của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không  cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

Thế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây…

Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán?  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước …”

Đại lộ Phạm Hùng. Ảnh: baomoi

Bức thư thượng dẫn làm tôi nhớ đến những mẩu đối thoại (tưởng tượng) khác, cũng của người ở cõi dương với bạn bè ở bên kia thế giới:

Tôi thỉnh thoảng dạo phố vẫn hay dừng lại nhìn lên một tên phố mà chuyện trò lặng lẽ với con người ngồi ở trên cái bảng sắt tây dó. Để nghe anh ta giãi bày. Và cũng để anh ta đừng tưởng bở.

Thí dụ Văn Cao, ngày hai lượt ra trung tâm thành phố và về Cầu Giấy, tôi từng có lần hỏi anh: Cậu khỏe không? Bây giờ ở trên cao này có thấy sao không?” Thì Văn Cao bảo tôi:“Tao làm nhạc, làm thơ, vẽ, ai hay nay làm diễn viên lên sân khấu đóng vai kịch ca ngợi đảng trọng hiền tài. Mày với tao sống trong cái chăn toàn rận này, mày lạ đ. gì nữa.

Hôm nọ thằng Dương Bích Liên nó lui lủi đi dưới kia, đầu chúi chúi, hai tay đút túi quần. Tự nhiên nó nhìn lên hỏi, mày lại cam ra làm bù nhìn bịp cho cái chính sách yêu vớt trí thức ư? Thế là tao rơi đánh xoáng một cái xuống. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh:  triviet24h

Tôi thì trộm nghĩ rằng những con phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu (e) chả phải là vở kịch “đảng trọng hiền tài” hay “chính sách yêu vớt trí thức” – như cách dụng ngữ của nhà văn Trần Đĩnh đâu. Những người cộng sản Việt Nam có đời nào mà tử tế dữ vậy. Họ cũng chưa bao giờ qúi trọng hay yêu thương gì giới trí thức cả, “giả trọng” hay “yêu vớt” cũng không luôn.

Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt, và nói theo lối thường dân (Nam Bộ) thì đây chẳng qua chỉ là “chính sách ăn theo” hoặc “chiến thuật dựa hơi” của Đảng mà thôi.

Kiểu chơi láu cá chó này ai cũng biết, đâu có xa lạ và mới mẻ gì. Tạp chí Khởi Hành số  phát hành tháng 8 năm 99 – từ California – đã có bài viết (“Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”) của Thạc Sĩ Trần Anh Tuấn, về mấy cái mánh (lặt vặt) như thế tự lâu rồi.

Một phần của bài viết, Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một – do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập – nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ghi nhận và phân tích như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.”

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Nhạc sĩ Tô Hải mô tả đây là “cái trò nhố nhăng định khoanh vùng lịch sử chỉ còn ở cái ‘thời rực rỡ nhất’ là do Đảng họ lãnh đạo thôi,” chứ CS chả có lòng “yêu vội” hay “yêu vớt” gì Trần Ðức Thảo,  Ðào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… cả. Họ chỉ “dựa hơi” những nhân vật trí thức này để mở đường cho cái đám thất phu (cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh …) được dịp “quá giang” hay “đi ké” vào lịch sử – như những gương mặt trí thức – Việt Nam.

Tương tự, những con đường mang tên Nguyễn Chí Thanh, Xuân Thủy, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn … sẽ bớt dơ dáng và dị hợm (phần nào) khi được đặt cùng với mấy tên phố tử tế và đàng đàng hoàng khác: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Làm thế coi cho đỡ chướng, và ngó cũng dễ “nuốt” hơn. Trông cũng giống như mấy lát mì cõng cơm (ăn độn) vậy mà!

Tôi còn sợ rằng giấc mơ của Dương Tường (dám) lại là ác mộng của Bùi Ngọc Tấn nữa chớ. Thưở sinh thời, đã biết bao lần nhà văn của chúng ta từng phải sống qua những ngày tháng hốt hoảng và tuyệt vọng:

– “… bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’….  Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. … Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa… có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

– “Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Ðã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Ðời này sang đời khác.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương. Fallchurch, VA: 2014).

Cho mãi đến khi từ giã cõi đời, Bùi Ngọc Tấn mới hết bị “theo dõi” và mới hoàn toàn thoát khỏi “cái cảm giác như một con thú bị nhốt trong chuồng.” Thế mà cái “con thú” này bất ngờ lại được lên tên đường, và cận kề với toàn danh nhân (của ngành công an) những nhân vật “toàn quyền làm những việc họ thích” và có thể “huy động cả guồng máy khổng lồ để hại” người cỡ như Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng … thì rõ ràng là một chuyện rất … hãi hùng – một cơn ác mộng – chớ còn gì nữa? Không khéo Bùi Ngọc Tấn lại “rơi đánh xoáng một cái” như không!

Tương tự, tôi e rằng Văn Cao cũng không cảm thấy vinh dự hay hạnh phúc gì cho lắm (sau một kiếp “sống trong một cái chăn toàn rận”) khi ông bị đặt nằm giữa những con phố đầy rẫy bất trắc và tệ đoan xã hội:

– “Quét Gái Mãi Dâm Trên Đường Nguyễn Chí Thanh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Đột Nhập Động Mãi Dâm Trên Đường Phạm Văn Đồng” – báo Người Đưa Tin

– “Bắt Kẻ Giao Hàng Trắng Dọc Đường Trường Chinh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Trộm Vàng Táo Tợn Trên Đường Xuân Thuỷ” – báo VietNamNet

–  “Phóng Viên Truy Đuổi Đối Tượng Trộm Cắp Trên Đường Phạm Hùng” –   báo An Ninh Thủ Đô

– “Dàn Cảnh Cướp Xe Trên Đường Hồ Chí Minh” – báo Dân Trí

-“Xe Buýt Lại Tông Người Trên Đường Lê Duẩn” – báo Người Lao Động

– “Xuất Hiện Hố Tử Thần Trên Đường Trần Quốc Hoàn” – báo Lao Động

-“Tảng Đá Chục Tấn Rơi Trên Đại Lộ Nguyễn Tất Thành” – Báo Mới

– “Ôtô Điên Trên Đường Tôn Đức Thắng” – Báo Mới

-“Đột Kích Hàng Loạt Tụ Điểm Mát Xa Kích Dục Trên Đường Nguyễn Duy Trinh” – Báo Vnexpress.

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài những tội ác vô phương chối cãi – người Pháp cũng đã để lại cho xứ sở này những thành quả hiển nhiên, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, kiến trúc… Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng là “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.”

Sau đó, dân Việt bị còng tay (chặt hơn) bởi những người cộng sản rồi buộc phải… đi lùi! Đó là lý do tại sao trước khi được “vinh hạnh” mang tên “những vị anh hùng cách mạng,” phố phường Hà Nội (nói riêng) và của cả nước (nói chung) sạch sẽ và an lành hơn hiện cảnh rất nhiều.

Điều phiền phức và rắc rối hiện nay là dân Việt không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Họ đã bị đẩy đến tận chân tường rồi. Bởi thế, những người cộng sản khó mà có thể tiếp tục giữ được quyền bính trong những ngày tháng tới.

Khác với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản khi sụp đổ không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và vô số những con đường (cũng như những ngôi trường, những cơ quan, dinh thự …) buộc phải thay tên!

Đến lúc đó, có lẽ, vẫn chưa muộn để “Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán …  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn” – như giấc mơ của Dương Tường.

Đi đâu mà vội mà vàng?

Đi đâu mà vội mà vàng?

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Hồi tôi ở độ 7 – 8 tuổi còn theo học lớp sơ cấp tiểu học, thì được thày giáo

cho các học sinh chép một bài học thuộc lòng gồm có 4 câu thơ mộc mạc đơn

giản theo thể lục bát. Mà nay sau đã trên 70 năm, tôi vẫn còn nhớ rất rõ về

bài thơ đó như sau:

 

“Đi đâu mà vội mà vàng

Mà vấp phải đá, mà quàng phải giây

Thủng thỉnh như chúng anh đây

Chẳng đá nào vấp, chẳng giây nào quàng”

 

Tôi xin mượn câu đầu để làm nhan đề cho bài viết ngắn này.

Sau này, thì tôi được nghe các bậc tôn trưởng cũng nhắc lại câu tục ngữ bằng

chữ Hán gồm có 4 chữ thế này “Dục tốc bất đạt” – có nghĩa là khi làm việc gì

mà cứ muốn có kết quả mau lẹ ngay tức khắc, thì không thể thành đạt được.

Người Pháp cũng có câu khuyên bảo có ý nghĩa tương tự: “ On ne peut pas

bruler les étapes” có nghĩa là “ Người ta không thể đốt giai đọan”. Túc là mọi

sự việc trên đời, thì thường phải diễn ra trong nhiều giai đọan; do vậy mà ta

không thể quá sốt ruột nôn nóng để mà bỏ qua các giai đọan cần thiết bình

thường đó được.

Hồi còn sinh tiền, nhà báo Đỗ Ngọc Yến thường hay tâm sự với bạn bè về

một số nhân vật trong cộng đồng người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ như sau:

“Các ông A, ông B đó là những người rất năng nổ tháo vát và có tài năng

nữa, nhưng các ông ấy lại ít thành công do cái lối nôn nóng, cứ đòi đi lối tắt

(anh Yến nói nguyên văn tiếng Anh là short cut). Vì thế mà việc làm của các

ông ấy không lôi cuốn được nhiều người cùng tham gia cộng tác lâu bền

được. Và kết quả là các ông ấy đã không thể thực hiện được một công trình

dự án nào có quy mô lớn lao hòan chỉnh được cả.

Nhìn rộng ra về đại khối trên 4 triệu người Việt chúng ta hiện định cư tại

nước ngòai từ 40 năm qua, thì quả thật đã có rất nhiều gia đình có con, cháu

gặt hái được những thành công thật đáng ca ngợi về nhiều phương diện, đặc

biệt về mặt khoa học kỹ thuật. Đó là một điểm son đáng kể nhất của người

Việt ở hải ngọai vậy.

Nhưng trong sinh họat tập thể cộng đồng, thì vẫn còn có những chuyện lấn

cấn, bất cập kể cả những chia rẽ phân hóa nơi nhiều đơn vị tổ chức – ngay cả

ở những Hội Ái Hữu, Tương Trợ vốn là những tổ chức hòan tòan có tính cách

tự nguyện, bất vụ lợi mà thường không nên có những tranh chấp vì tiền bạc

hay địa vị danh vọng gì cả.

Lại còn cái chuyện rất phổ biến trong nhiều năm nay mà thường được gọi là

“chụp mũ, đội nón cối” tố cáo lẫn nhau, gán cho nhau cái nhãn hiệu là “ Việt

gian, tay sai cộng sản” nữa. Và xét cho kỹ ra, thì cái sự chia rẽ đó phần lớn

đều do những chuyện lẩm cẩm lặt vặt phát sinh từ lòng tự ái, tính hay chấp

nhất bắt bẻ lẫn nhau về mấy chi tiết nhỏ nhoi mà thôi.

Dù thế nào đi nữa, thì chúng ta cũng không nên quá bi quan trước tình trạng

không mấy sáng sủa phấn khởi nơi một số sinh họat cộng đồng nói trên. Mà

do nơi môi trường sinh sống mới lạ nơi đất khách, đa số bà con ta còn gặp

nhiều bỡ ngỡ, hụt hẫng đến độ chóang váng mất phương hướng trong cuộc

sống của cá nhân cũng như của tập thể. Vì thế mà chúng ta cần phải giữ thái

độ kiên nhẫn, bao dung thông cảm nhường nhịn đối với nhau – thay vì vội vã

lên án chỉ trích mạt sát nặng lời với nhau – như một vài người khó tính

thường hay vấp phải.

Nói vắn tắt lại, việc điều chỉnh ổn định cuộc sống nơi môi trường văn hóa xã

hội mới lạ ở xứ người là một quá trình vận động sinh họat rất phức tạp – quá

trình này thường đòi hỏi một thời gian tương đối lâu dài hơn, chứ không thể

được phát triển một cách thuận lợi dễ dàng mau chóng theo như mong ước

chủ quan của chúng ta được.

Vì thế mà người tỵ nạn chúng ta cần có sự bình tĩnh, sáng suốt và nhẫn nại

để lần hồi tìm ra được những phương cách thuận lợi êm thắm trong chiều

hướng hội nhập tốt đẹp với dòng chính nơi xã hội sở tại, bởi vì đây chính là

nơi chốn mà chúng ta đã chọn lựa như là một quê hương thứ hai cho cả gia

đình mình vậy./

Westminster California, Tháng 12 năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

Xây biệt thự cho ‘thứ trưởng’ ở, rồi bỏ hoang

Xây biệt thự cho ‘thứ trưởng’ ở, rồi bỏ hoang
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – “Cả trăm biệt thự ở Xuân Phương (Nam Từ Liêm, Hà Nội) đã xây xong phần thô từ nhiều năm nay, nhưng chỉ chưa đầy chục hộ đến ở, còn lại để cỏ mọc đến ngang gối.”

Khu biệt thự dành cho giới tư bản đỏ và các quan chức cấp “thứ trưởng” bỏ hoang. (Hình: VNExpress)

Báo điện tử VNExpress mô tả như thế về hiện trạng của “khu nhà ở cao cấp” nằm tại ô TT9, TT10 khu đô thị mới Xuân Phương (Nam Từ Liêm, Hà Nội), cách khu liên hiệp thể thao Mỹ Đình khoảng 7 km.

Theo bài viết trên VNExpress, khu đô thị mới này đã được xây dựng từ năm 2011, “theo quy hoạch khu biệt thự gồm 227 căn với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng. Trong đó trên một nửa số biệt thự và diện tích đất dành cho cán bộ cấp thứ trưởng và tương đương công tác trong các cơ quan của Quốc Hội, phần còn lại chủ đầu tư là công ty CP Đầu Tư Đô Thị và Khu Công Nghiệp Sông Đà 7 được kinh doanh. Dự án được triển khai theo hình thức góp vốn rồi bán cho cán bộ.”

Theo bài viết, hiện chỉ có “chưa đầy 10 hộ dân dọn đến sinh sống” trong đó có hai gia đình là “cán bộ” của Quốc Hội. Dự án chia làm 2 khu, “phía bên phải từ cổng vào là khối biệt thự dành cho cán bộ Quốc Hội cấp thứ trưởng hoặc tương đương, phía còn lại thuộc về chủ đầu tư.”

Từ 4 năm nay “cả hai khu rất vắng người sinh sống. Hệ thống đường sá, cây xanh thảm cỏ bên trong khuôn viên khu biệt thự được trồng và bố trí đầy đủ. Hai khu biệt thự đều có khuôn viên để trồng cỏ và cây hoa làm nơi vui chơi, giải trí và đi bộ.”

Tuy nhiên, hầu hết cả khu vực đều bỏ hoang cho mục nát dần, cỏ dại mọc trên các hoa thảm cỏ, một số người “tranh thủ” trồng rau. Một trong những lý do chính yếu khiến những người đã bỏ tiền ra mua các căn biệt thự hay chung cư liền kề này không chịu tới ở vì không có “hệ thống đấu nối cấp nước, thoát nước thải ra ngoài.”

“Một trong số những ngôi nhà khang trang nhất ở đây, nằm ở hai mặt tiền. Các biệt thự ở đây có diện tích từ 90-250m2, dao động từ 40 đến 50 triệu đồng/1m2. Trao đổi với VNExpress, một người môi giới bất động sản tại dự án này cho hay, tại đây có thời điểm đất sốt, giá mỗi mét vuông lên tới 70 triệu đồng,” VNExpress viết.

Phần đất trống trước một số căn hộ được tận dụng để làm nơi trồng các loại rau. (Hình: VNExpress)

Các tin tức hồi năm 2012 cho thấy, chỉ riêng tại 2 thành phố lớn nhất nước Hà Nội và Sài Gòn, khoảng 70,000 căn nhà hoặc đã hoàn tất, hoặc xây dở dang rồi bỏ cho cỏ dại mọc. Các nhà đầu tư địa ốc, trong đó không ít là những đại gia quốc doanh muốn ăn xổi, vay tiền ngân hàng xây ào ạt, rơi vào cái thế chết chùm.

Báo Lao Động ngày Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012 dẫn một bài tham luận về kinh tế Việt Nam năm 2012 của bộ phận nghiên cứu thuộc tổ chức đầu tư Dragon Capital nêu con số nhà “tồn kho” khổng lồ như vừa kể và nói các nhà đầu tư chôn trong đó từ 70,000 tỷ đồng (khoảng $3.5 tỷ USD) đến 140,000 tỷ đồng (khoảng $7 tỷ USD) nếu trị giá của mỗi căn nhà tối thiểu từ 1 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng.

Tờ báo dẫn chi tiết của bản tham luận cho biết 69 đại gia đầu tư địa ốc (gồm nhiều đại gia quốc doanh của Bộ Xây Dựng CSVN) niêm yết trên sàn giao dịch, tính đến quý thứ tư của năm 2011, đã gánh số nợ khoảng 67,000 tỷ đồng (khoảng $3.35 tỷ USD) từ các ngân hàng thương mại và phải trả tiền lời mỗi năm 13,400 tỷ đồng (khoảng $670 triệu USD).

Riêng trong năm 2012, nợ đáo hạn phải trả lên đến 39,800 tỷ đồng hay khoảng $1.99 tỷ USD. Các công ty đầu tư xây cất không bán được nhà, không có tiền trả nợ, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam ôm một số nợ khó đòi khổng lồ, rất có thể mất luôn.

Tình trạng biệt thư, nhà liền kề, cướp đất của dân, xây dựng bừa bãi tưởng kiếm được núi của mấy năm trước, giờ vẫn còn là khúc xương vướng ngang cổ họng của chế độ Hà Nội và cũng không có ai chịu trách nhiệm. (TN)

Theo Phan Bội Châu: Chống tham nhũng – Chống áp bức

Theo Phan Bội Châu: Chống tham nhũng – Chống áp bức
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong bài trước, mục này đã đề nghị những đảng viên ký tên dưới bức thư gửi Bộ Chính Trị và toàn thể đảng Cộng Sản Việt Nam phải hành động, khi những lời họ yêu cầu đảng thay đổi không được đại hội đảng kỳ thứ 12 đáp ứng. Họ cần cộng tác với các nhà tranh đấu dân chủ ngoài đảng, cùng tạo ra một thực thể chính trị mới, có như vậy Việt Nam mới có thể bắt đầu tiến trình dân chủ hóa noi gương Myanmar. Thực thể chính trị mới không nhất thiết là một đảng, một tổ chức chặt chẽ, mà chỉ cần bùng lên như một phong trào tự động, tự phát, sẽ tác động trên tinh thần của tất cả đồng bào, nhất là giới thanh niên.

Người ta sẽ làm gì để gây thành một phong trào như vậy? Hãy hành động như Luật Sư Nguyễn Văn Ðài. Ông Nguyễn Văn Ðài vừa bị bắt giam và sẽ bị đưa ra tòa, chỉ vì ông đi từ nhà ở phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vào tận xã Nam Lộc, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An, thuyết trình trước 70 người dân Việt Nam. Ông chỉ nói với đồng bào về các quyền căn bản của con người và của các công dân Việt Nam, căn cứ trên bản hiến pháp hiện đang thi hành. Cần hàng ngàn, hàng vạn người trong giới trí thức và thanh niên Việt Nam noi theo gương hành động của Nguyễn Văn Ðài. Ông chỉ làm một công việc mà Phan Bội Châu, trước đây hơn một thế kỷ, đã khuyên dân ta phải thực hiện.

Năm 1903, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (Lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu,) Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học Thuật, Nhân Tài, và Dân Khí. Ðổi Học thuật, ngày nay chúng ta nói phải thay đổi tư tưởng, học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ và nếp sống xã hội, chính trị tự do dân chủ mà nhân loại đã thực hiện trên khắp trái đất. Dưỡng Nhân Tài, bây giờ gọi là nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là trước hết,” ưu tiên số một trong số ba việc cần làm. (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản năm 1990, cuốn 1, trang 145).

Nguyễn Văn Ðài đã làm cả ba công việc, theo đúng lời khuyên của Cụ Phan: Giúp đồng bào thay đổi, tập suy nghĩ theo tinh thần dân chủ, căn cứ vào hiến pháp; tập nói thẳng những điều mình thấy là đúng mà không sợ hãi trước cường quyền. Nếu tất cả quý vị đã ký tên trong bức thư gửi đảng Cộng Sản cũng làm được như vậy, họ cũng sẽ góp công vào việc chấn dân khí.

Nhưng muốn chấn dân khí, có thể làm những công việc cụ thể hơn. Cụ Phan đã nêu lên hai việc quan trọng nhất. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.” Khi đọc hai mệnh đề đó, chắc nhiều vị độc giả không biết đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước.

Chống tham nhũng, chống áp bức là những việc tất cả mọi người Việt Nam đều có thể tham dự, kể cả các đảng viên cộng sản. Các đảng viên có lợi thế hơn người khác vì họ “nằm trong chăn” nên dễ biết những con rận đang chui rúc ở đâu. Các đảng viên cần cộng tác với các nhà tranh đấu ngoài đảng thì mới tác động được trên tất cả mọi người. Mười năm trước đây, cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương và Giáo Sư Trần Khuê đã nộp đơn xin thành lập “Hội Nhân Dân Việt Nam ủng hộ đảng và nhà nước chống tham nhũng,” nhưng “vừa làm đơn gửi đi được mấy ngày đã ‘rách chuyện’ ngay lập tức…” như ông kể lại. Bởi vì muốn chống tham nhũng thì xã hội Việt Nam phải thay đổi, Phạm Quế Dương nói, “trước hết là phải đa nguyên, đa đảng, cái thứ hai là phải có tự do báo chí, cái thứ ba là phải có tự do bầu cử.”

Các đảng viên đã gửi bức thư cho Bộ Chính Trị cũng đề nghị thay đổi như vậy: “Ða nguyên, đa đảng, tự do báo chí, tự do bầu cử.” Các nhà tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Ðài đang bị tù hay Linh Mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Ðan Quế, còn được tự do, cũng theo đuổi các mục tiêu tương tự. Ðã tới lúc các đảng viên cộng sản tỉnh ngộ và các nhà tranh đấu dân chủ phải hành động đồng nhịp với nhau. Một bên là các đảng viên cộng sản gây phong trào chống tham nhũng. Bên kia là các nhà tranh đấu đẩy mạnh phong trào chống đàn áp. Cả hai sẽ góp công chấn hưng dân khí, theo lời khuyên của Phan Bội Châu.

Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng. Chấn Dân Khí là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền.

Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146). Cụ Phan coi chống tham nhũng là một phương tiện để nâng cao khí tiết. Xây dựng đức liêm sỉ là cứu cánh. Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải đút lót; họ thấy nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong một xã hội như vậy, thanh niên không thể nuôi dưỡng khái niệm về đức liêm sỉ.

Trong tiểu thuyết Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật thú nhận: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ … Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay… khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách…” Hồi trẻ của Ðào Hiếu là thời ông lớn lên ở miền Nam, được giáo dục trong gia đình và các trường học của Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong nếp sống xã hội và hệ thống học đường đó, ông được dạy dỗ phải sống theo một lý tưởng. Ông đã tin vào lý tưởng cộng sản, hoạt động nội thành, gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông đã thất vọng, vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi không được chế độ mới chấp nhận. Nhưng tại sao một người gần 70 tuổi lại tỏ ý chán chường đến nỗi phải kết luận: “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách,” như Ðào Hiếu đã viết? Một nhân vật trong Lạc Ðường còn khuyên giới trẻ: “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả… Cả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).

Chúng ta biết nhà văn chỉ nói như vậy để các thanh niên đời nay tự nghĩ ra rằng muốn sống ra con người thì phải thay đổi. Phải dám tin tưởng. Phải trung thành với niềm tin của mình. Phải biết hy sinh cho một lý tưởng.

Hơn 100 năm trước, Phan Bội Châu nhận xét “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ!” Và nêu ra các triệu chứng: Người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.”

Dù trong nước Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều người “đê tiện” và “ô nhục” nhưng khi nhìn nụ cười tươi của nhạc sĩ Việt Khang khi được tự do trở về nhà, chúng ta biết dân khí nước ta hiện nay đã tiến hơn thời 100 năm trước. Chàng thanh niên Nguyễn Việt Dũng dám nói và làm những việc biết trước sẽ đưa mình vào tù, nhưng vẫn cương quyết làm và nói những điều mình tin tưởng. Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Việt Dũng, Việt Khang, Nguyễn Văn Ðài và bao nhiêu nhà tranh đấu dân chủ khác đã “chấn dân khí” bằng hành động.

Hành động của họ gửi một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Con người có thể sống với lý tưởng. Nhà văn Ðào Hiếu đã “cường điệu” khi mô tả một nhân vật bi quan về lý tưởng. Nhưng trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người vào bẫy. Như các người trí thức đảng viên cộng sản dám vạch ra: “Sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin.” Họ cho thấy chính họ đã bị lừa đảo.

Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, sẽ tới lúc loài người biết mình bị lừa. Khi tỉnh ngộ, người ta lại đứng dậy, tiếp tục giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Lý tưởng có thật. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Nó giúp cho đôi mắt của Việt Khang lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến Nguyễn Việt Dũng tự tin không khuất phục cường quyền. Họ là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.

Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ với những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết” (Chó nước Thục, ở phía Bắc khi thấy mặt trời thì lạ quá, bèn sủa, chó nước Việt ở miền Nam sủa nếu trông thấy tuyết).

Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản cũng sợ hãi khi thấy Nguyễn Văn Ðài dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là “khiếp sợ như nghe sấm sét!” Ðám công an Cộng Sản thấy Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Việt Dũng dám nói chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, chó ở nước Việt thì sủa khi thấy tuyết. Khi hàng ngàn, hàng vạn người, kể cả các đảng viên cộng sản, cùng hành động như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Ðài thì họ sẽ tạo thành một “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (Phan Bội Châu, ibid, trang 147).

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”

Người Việt Nam phải bắt đầu thực hiện những lời khuyên cụ thể của Phan Bội Châu.

Đẩy gánh nợ công cho đời con cháu

Đẩy gánh nợ công cho đời con cháu

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-17

000_Hkg10169198-620

Thế hệ tương lai phải lo trả gánh nợ công

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

2015 được ghi nhận như năm của mối đe dọa nợ công và rất nhiều ưu tư của người dân Việt Nam. Nhà nước nhìn nhận đang cố gắng vay nợ mới để trả nợ cũ và hiển nhiên đẩy trách nhiệm trả nợ cho các thế hệ tương lai.

Nợ công và việc đẩy trách nhiệm trả nợ cho các thế hệ tương lai là mối ưu tư lớn nhất mà các cử tri Quận Nam Từ Liêm bày tỏ với tân Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung hôm 14/12/2015, khi ông lần đầu tiếp xúc với người dân trong cương vị mới.

Sự kiện vừa nêu làm dài thêm danh sách người dân các tỉnh thành cả nước, bày tỏ mối lo đời con cháu sẽ phải trả gánh nặng nợ công, do thế hệ cha ông để lại từ việc tiêu xài quá trớn. Bên cạnh nhu cầu phát triển đường xá, cầu cống lại cũng có không ít đại công trình hàng ngàn tỷ, để xây trụ sở nguy nga hoặc tượng đài hoành tráng. Ngoài ra ngân sách quốc gia còn phải đài thọ chi phí khổng lồ để vận hành hai bộ máy song hành là Đảng và Chính quyền.

Nhận định về sự kiện vừa nêu, chuyên gia kinh tế Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long hiện sống và làm việc ở Hà Nội phát biểu:

“ Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP, trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn.
– TS Nguyễn Quang A”

“Với một bộ máy cồng kềnh như của Việt Nam mà ngay đại biểu Quốc hội cũng nói là, rất nhiều tổ chức cùng song hành như tổ chức Đảng, tổ chức Chính quyền, tổ chức các đoàn thể và tất cả đều ăn lương nhà nước, trong khi đó năng suất lao động thì thấp, đây là sự nguy hiểm. Ở Quảng Ninh đã thí điểm nhất thể hóa giữa cơ quan Đảng với cơ quan Chính quyền. Người ta thấy vấn đề đó nhưng họ không triển khai, không thực hiện và với một bộ máy cồng kềnh lớn như hiện nay thì không có một nguồn ngân sách nào có thể kham nổi, đủ nuôi nổi bộ máy như vậy. Chắc chắn với việc đầu tư, trong khi ngân sách phải chi thường xuyên để nuôi bộ máy quá lớn như vậy thì tiền phát triển cho đầu tư, mà chính nguồn này mới là để trả nợ, không được coi trọng, không đúng thì mức nợ tăng cao và nguồn thu để trả mức nợ đó lại không có, hạn hẹp. Cuối cùng có dẫn tới vỡ nợ thì cũng là chuyện bình thường.”

Ngày 6/12/2015, ông Trương Tấn Sang Chủ tịch nước phát biểu với cử tri Quận 4 TP.HCM cho biết tốc độ tăng nợ công nhanh gấp 3 lần tốc độ phát triển Tổng sản phẩm nội địa GDP. Nhà nước đang phải vay tiền để trả nợ vì nhiều khoản đến hạn mà không có tiền để thanh toán. Những sự kiện này được báo chí Việt Nam tường thuật, theo đó ông Sang nói công khai là, trong tổng số 250.000 tỷ đồng tương đương hơn 11 tỷ USD tiền phải đi vay trong năm 2015, một phần để chi cho đầu tư và một phần để trả nợ đến hạn.

Trả lời phỏng vấn của RFA, TS Nguyễn Quang A nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ở Hà Nội đã tự giải thể, cho rằng tỷ lệ vay nợ trên GDP cao hay thấp không hẳn thể hiện vấn đề an toàn, nhưng khả năng trả nợ mới là vấn đề quan trọng nhất. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP, trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn. Thực sự ở những nước mà nợ công của người ta lên đến trên 100% cúa GDP nhưng vẫn an toàn và có thể dưới mức 50% cũng không an toàn. Quan trọng là khả năng của nền kinh tế, khả năng thu của chính phủ có đủ bù chi hay không. Có thể trả nợ lãi và gốc đến hạn hay không. Nếu việc ấy mà không thực hiện được thì dẫu ngưỡng có bao nhiêu chăng nữa thì đất nước cũng lâm vào cảnh vỡ nợ cho nên tôi thấy chuyện nợ công tăng nhanh như thế thì rất đáng lo ngại.”

Cử tri Hà Nội, Saigon nhiều lần quan ngại vấn đề chi tiêu không kềm chế và vấn đề kiểm soát nợ công, khiến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải nhìn nhận là cả hệ thống chính quyền từ Trung ương tới địa phương đều có lỗi. Sau Hà Nội, TP.HCM, cử tri Đà Nẵng, thành phố lớn thứ ba của Việt Nam cũng lên tiếng về vấn đề này. Theo Đà Nẵng Online, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.Đà Nẵng gặp gỡ cử tri vào cuối tháng 11/2015 đã ghi nhận sự lo lắng cao độ về vấn đề nợ công. Cử tri Đà Nẵng nói rằng không thể yên tâm với tình hình nợ công và vay vốn viện trợ phát triển ODA như hiện nay. Cử tri bức xúc, không thể để nợ công kịch trần, rồi hậu quả là đời con, đời cháu phải oằn lưng trả nợ. Chính phủ từ Trung ương tới các địa phương phải trách nhiệm điều hành hiệu quả và quyết liệt.

Trong cuộc họp báo ngày 2/12/2015 ở Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo nợ công của Việt Nam đang tiến nhanh đến mức trần giới hạn 65% GDP và Việt Nam sẽ đối diện rủi ro nợ công khi phải sử dụng vốn vay ngắn hạn trong nước để chi tiêu, vì không còn nguồn vay ưu đãi từ nước ngoài.

“ Chính phủ phải huy động vốn trong xã hội bằng cách bán trái phiếu, lấy tiền bù phần thiếu hụt ngân sách chi cho đầu tư công, trong khi thu ngân sách bị ảnh hưởng nhiều do tình hình kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp.
– CG kinh tế Phạm Chi Lan “

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội phân tích vấn đề này:

“Chính phủ phải huy động vốn trong xã hội bằng cách bán trái phiếu, lấy tiền bù phần thiếu hụt ngân sách chi cho đầu tư công, trong khi thu ngân sách bị ảnh hưởng nhiều do tình hình kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp. Khi phát hành trái phiếu chính phủ như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài. Hơn nữa khi chính phủ đứng ra vay nhiều như vậy, thì số tiền vốn cho xã hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được, sẽ lại càng khó khăn hơn.”

Việt Nam đang ngập trong nợ, nợ công  được chính phủ công bố đến tháng 12/2015 khoảng 60% GDP trong mức an toàn, nhưng đây là cách tính theo qui định, chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương. Nếu theo thông lệ quốc tế bao gồm luôn nợ của doanh nghiệp nhà nước thì đã vượt trần, đó là chưa nói đến việc cần phải tính luôn nợ bảo hiểm an sinh xã hội như một thành phần nợ công. Bộ Kế hoạch Đầu tư từng công bố nợ công Việt Nam năm 2014 lên tới mức 66,4% với phương pháp tính toán đầy đủ.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long một chuyên gia ở Hà Nội từng phát biểu, nguy cơ về nợ công không phải trong tương lai mà đã hiện hữu trước mắt rồi. Không những trước mắt phải trả mà đời con, đời cháu phải trả, không sao khác được…

Nếu mô tả năm 2015 là năm âu lo nợ công của người dân Việt Nam thì quả là có thừa cơ sở.

Có ai khổ như tôi không?

Có ai khổ như tôi không?

(VienDongDaily.Com – 11/12/2015)

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Đó là tiếng kêu ai oán của ông Huỳnh Văn Nén, một công dân Việt Nam bị tù oan 17 năm 5 tháng 5 ngày. Vụ án này đang được dư luận tại VN đặc biệt chú ý, hầu hết các trang báo in, báo mạng đều nhất loạt lên tiếng về vụ án oan thuộc loại tồi tệ nhất thế kỷ này. Còn người dân lương thiện ba cọc ba đồng, trên không chằng dưới không rễ, nhất là ở những vùng quê xa xôi hẻo lánh, lo ngại cho thân phận mình trong cái thời buổi luật pháp bất minh, lòng tham không đáy, sự vô lương tâm của những nơi được gọi là cơ quan chức năng, cơ quan xử án và những anh điều tra viên dùng mọi loại nhục hình để bắt ép người dân lương thiện phải nhận tội, dù là những tôi rất nặng có thể dẫn tới tử hình. Vụ án có quá nhiều tình tiết nên tôi tóm tắt lại để bạn đọc tiện theo dõi.

Tại sao ông Huỳnh Văn Nén bị kết tội giết người

Ông Huỳnh Văn Nén đã phải khai nhận mình giết bà Lê Thị Bông vì bị điều tra viên mớm cung, nhục hình trong khi công an không tìm được chứng cứ nào khác cho thấy ông giết người.
Ông Phạm Thật – phó giám đốc cơ quan Cảnh Sát Điều Tra Công An tỉnh Bình Thuận khẳng định sau khi điều tra lại, công an đã kết luận không đủ cơ sở buộc tội ông Nén trong vụ án mạng này. Sáng 28/11 vừa qua, sau khi đọc quyết định đình chỉ điều tra ông Huỳnh Văn Nén, ông Phạm Thật cũng trao kết luận do chính ông ký ngày 27/11 về vụ án giết bà Lê Thị Bông mà ông Nén bị buộc tội giết người, cướp tài sản.

Nghi can Nguyễn Thọ vừa đầu thú hành vi giết bà Bông sau 17 năm lẩn trốn.

Nhận tội vì bị mớm cung, nhục hình

Trong kết luận này là trong thời gian điều tra lại, ông Nén khai bị điều tra viên Cao Văn Hùng mớm cung, dùng nhục hình nên mới khai nhận giết bà Bông, thực sự ông Nén không giết người phụ nữ và cũng không biết gì về vụ án mạng này.

Theo kết luận điều tra, giữa lời khai nhận tội của ông Nén và các tình tiết trong vụ án có nhiều mâu thuẫn. Vị trí giết bà Bông ông Nén khai không thống nhất, cách thức giết bà Bông có nhiều điểm mâu thuẫn. Cơ quan công an đã điều tra có tình tiết khác về lời khai của nhân chứng, việc tự khai thời gian của ông Nén trước, trong và sau khi giết bà Bông cũng có nhiều mâu thuẫn.

Khi điều tra lại, ông Nén khai bị mớm cung, bức cung nên không thể điều tra để làm rõ những mâu thuẫn trên.

Bị khởi tố từ tháng 5/1998 đến nay, ông Nén đã bị tạm giam hơn 17 năm. Ngày 23/10 ông được Viện KSND tỉnh Bình Thuận cho tại ngoại và đến ngày 28/11, ông chính thức nhận được quyết định đình chỉ điều tra.

Trước đó, ông Nguyễn Phúc Thành (người dân tại huyện Hàm Tân) đã có đơn tố cáo nhân vật Nguyễn Thọ (bạn của ông Thành) là thủ phạm giết bà Bông chứ không phải ông Huỳnh Văn Nén giết.

Vì sao anh Thành biết tên giết bà Bông chứ không phải ông Nén?

Một chi tiết khác khá thú vị là vì tình cờ nên anh Thành mới biết được sự thật, đó là do chính thủ phạm giết bà Bông nói chuyện với anh. Đêm 23/4/1998 bà Bông bị giết, thì sáng 24/4 Thọ và Việt ở nhà kế bên nói chuyện với anh Thành rằng họ đã giết bà Bông. Chẳng may vào năm 2000 anh Thành lại vướng vào tội “gây rối trật tự công cộng” bị 18 tháng tù ở trại giam Sông Cái. Trong khi ở tù anh đã làm đơn kể rõ vụ này nhưng bị anh cán bộ tên Cao Văn Hùng, đập bàn quát mắng không cho anh chuyển đơn. Nhưng anh vẫn gửi được lá đơn đó cho mẹ anh khi đến “thăm nuôi,” mang về cho gia đình ông Nén. Sau khi hết hạn tù, anh lại tiếp tục làm đơn kêu oan cho ông Nén. Như vậy là thủ phạm giết bà Bông chính là Thọ và đã ra thú tội nhờ anh Thành tố cáo.

Chính nhờ là đơn tố cáo này của ông Thành là nguyên nhân chính dẫn đến việc Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) Tối cao kháng nghị hủy án để điều tra! Nếu không nhờ lá đơn đó chưa biết ông Nén sẽ còn nằm trong tù bao lâu nữa.

Bà Trần Thị Kim Hương, Phó Chánh Án TAND tỉnh Bình Thuận đọc lời xin lỗi gửi đến ông Nén và gia đình.

Năm 1998, ông Huỳnh Văn Nén bị bắt vì bị nghi giết bà Lê Thị Bông, con ông là anh Huỳnh Thành Phát mới 3 tuổi, con lớn thứ hai là Huỳnh Thành Lượng mới 7 tuổi, anh đầu Huỳnh Thành Công 9 tuổi.

Án oan chồng án oan

Khi đang bị bắt giữ, ông Nén khai ra vụ án giết bà Dương Thị Mỹ (kỳ án vườn điều) cùng với 9 người khác trong gia đình mình (xảy ra trước đó nhiều năm – ngày 18/3/1993 tại huyện Hàm Tân). Vợ ông Nén là bà Nguyễn Thị Cẩm cũng bị khởi tố với tội danh “giết người” trong vụ án vườn điều, không nuôi nổi ba đứa con trong khi bà ngoại và hầu hết cô, cậu, dì ruột của họ cũng bị bắt giam.
Ngày 31/8/2000, ông Huỳnh Văn Nén bị TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt chung thân trong vụ án giết bà Lê Thị Bông; còn vụ giết hại bà Dương Thị Mỹ, ông Nén lãnh án 6 năm tù và 9 người thân khác cũng bị tù tội.

Tuy nhiên đến năm 2005, vụ giết bà Dương Thị Mỹ đã được xác định oan sai và 9 người thân của ông Nén đã được nhà nước bồi thường. Riêng ông Nén vẫn phải tiếp tục kêu oan trong vụ án giết hại bà Lê Thị Bông.

Như thế là chỉ trong một thời gian ngắn người dân lương thiện như ông Nén đã bị tới hai vụ án oan. Thử hỏi người dân nào không khiếp sợ. Không biết trên thế giới này có mấy ai vô phúc bị bắt giam oan liên tiếp hai lần không và mỗi lần thời gian ngồi tù dài đằng đẵng hơn mười năm?! Cho nên gọi ông Nén là “người tù xuyên thế kỷ.”

Nỗi lòng người tù thế kỷ Huỳnh Văn Nén

Sau khi được thả, ông Huỳnh Văn Nén tâm sự với báo Tuổi Trẻ chiều 30-11:
“Cuộc đời của tôi bị chôn vùi vì lỗi của cơ quan tố tụng. Sau gần 20 năm trong tù, giờ được ra ngoài thấy cái gì cũng lạ, kể cả chiếc điện thoại di động,” và “Tôi luôn có niềm tin mình sẽ được minh oan.”
Ông kể về thời gian bị tù: “Trong thời gian điều tra, tôi bị công an đánh, ép ký vào ba, bốn văn bản trắng. Vì quá đau đớn, tôi buộc phải nhận tội chứ tôi không giết bà Bông, thậm chí sau khi xảy ra vụ án tôi còn giúp gia đình nạn nhân làm ma chay.”

Ông Nén cho biết, tại các phiên tòa xét xử, ông đều khai mình bị ép cung, nhục hình. Thậm chí, tại một số phiên tòa, để chứng minh cho lời nói của mình, ông còn cởi áo giữa chốn công đường để mọi người nhìn thấy các thương tích do bị điều tra viên đánh đập gây ra. Tuy nhiên, tòa án vẫn cho rằng ông có tội và kết án chung thân. Ông Nén vẫn cương quyết: “Nếu tôi gục ngã giữa đường thì phải chịu, nhưng ngày nào tôi còn sống, thì ngày đó tôi còn kêu oan.” Người mẹ mất tro
ng thời gian ông Nén ở tù. Vì lo cho ông nên gia đình giấu, mãi sau này người bị tù oan này mới biết.
Sau 17 năm chờ đợi, ngày 28/11 vừa qua, công an tỉnh Bình Thuận đã công bố quyết định đình chỉ điều tra bị can với ông Nén.

Vui mừng sau khi được trả tự do, ông Nén có những mong ước rất đời thường như sửa lại căn nhà dột nát; bù đắp lại cho vợ con những tháng này khổ cực vì ông bị tù oan. Từ khi được về nhà, hàng ngày ông Nén thức dậy từ 3 giờ sáng, phụ vợ đem đồ ăn ra chợ bán.

Ra khỏi trại giam, mắt ông chỉ còn thấy mờ mờ và được một bệnh viện ở TP Sài Gòn mổ miễn phí. Ông Nén cũng mong muốn những điều tra viên năm xưa gây ra oan sai sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Ông nói, “Cuộc đời của một công dân đã bị chôn vùi trong tù tội vì lỗi của những cán bộ tố tụng. Sự việc đã trải qua nhiều năm rồi, nếu gặp lại những người đã ép cung năm xưa thì tôi vẫn bắt tay vì dù sao họ đã sai và tôi đã được minh oan.”

Ông Huỳnh Văn Nén vừa được tại ngoại trong vòng tay của người thân

Những ai nhúng tay vào vụ xử tùi oan ông Nén

Vậy ai đã trực tiếp và cả gián tiếp gây nên nỗi oan sai khủng khiếp cho công dân lương thiện Huỳnh Văn Nén.

Theo báo Tiền Phong, bài “Những ai tham gia điều tra, truy tố, xét xử ông Huỳnh Văn Nén?” Điều tra viên chính vụ án Huỳnh Văn Nén là nguyên đại úy Cao Văn Hùng (cũng là điều tra viên chính “vụ án vườn điều”), được khen thưởng do thành tích trong hai vụ án này.

Ngoài ra còn nhiều vị quan chức trong cơ quan cảnh sát, viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, người ký cáo trạng, người giữ quyền công tố, người phúc cung, thẩm phán người chủ tọa phiên tòa.

Trong số họ có người đã từng được khen thưởng, có người chuyển ngành, có người nghỉ hưu và có người vẫn đang “yên vị” tại cơ quan tư pháp nhà nước.

Tóm lại cho đến thời điểm này, chưa ai… làm sao cả và chẳng biết rồi đây có ai “làm sao” không? Chỉ biết ông Nén đã chịu oan khuất gần hai thập niên sống trong tù đày, “bức cung tra tấn” như lời ông nói.

Xin lỗi công khai

Sáng 3/12, tại UBND thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân (Bình Thuận), tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Thuận tổ chức buổi xin lỗi công khai cho “người tù lịch sử” Huỳnh Văn Nén. Có mặt tại buổi xin lỗi còn có đại diện công an tỉnh Bình Thuận, Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh, cùng các quan chức địa phương và đông đảo người dân.

Tại buổi lễ, bà Trần Thị Kim Hương – thẩm phán, đại diện cho TAND tỉnh Bình Thuận thừa nhận những sai lầm của cơ quan tố tụng dẫn đến oan sai cho ông Nén.

Bà nói, “Chúng tôi thừa nhận sai sót dẫn đến hậu quả nghiêm trọng này, thừa nhận khuyết điểm và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định pháp luật… Chúng tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm sâu sắc và hứa sẽ không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để trong thời gian tới không còn một người nào, một gia đình nào phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi do bị điều tra, truy tố và xét xử, kết án oan.”

Về vấn đề bồi thường, Tòa Án Nhân Dân tỉnh Bình Thuận sẽ tiếp tục thương lượng với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, đồng thời phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết bồi thường cho ông Nén theo đúng quy định của pháp luật trong thời gian tới.

Dư luận đòi hỏi gì?

Để thạm thời kết luận cho vụ án đấy phức tạp này, mời bạn đọc xem một vài dư luận trong hàng ngàn ý kiến đồng tình của người dân.

– Bạn Quang Vinh viết: “Chỉ vì thói háo danh, bệnh thành tích mà đẩy một người vô tội vào cảnh tù đày, nên buộc những người làm sai bỏ tiền ra bồi thường cho ông Nén.

– Bạn Lò A Say viết: “Thế là từ một người vô can trở thành kẻ giết người hai lần và cả họ hàng cũng bị tội oan, vụ này thực tế còn kinh khủng hơn vụ ông Chấn cả số người bị oan, thời gian bị tù oan và có bằng chứng tố cáo kẻ giết người từ rất sớm nhưng cố tình bưng bít. Có phải do những kẻ gây oan sai kia đã leo cao!?”

– Minh Quân cán bộ gây ra oan sai giờ họ làm gì, chắc họ đã quyền cao vọng trọng rồi, sao không xét xử họ. Vụ án Nguyễn Thanh Chấn chưa thấy đưa tin chi tiết về những cán bộ liên quan đến oan sai xử lý như thế nào. Cũng phải đưa họ ra xét xử mới bảo đảm công bằng.”

Tóm lại người dân đòi hỏi những người gây ra án oan sai kia phải bồi thường cho nạn nhân không phải chỉ xin lỗi là xong và thật ra có đền bù bao nhiêu cũng không đủ cho nỗi đau tận cùng của cả gia đình ông Nén. Người dân đồng tình không thể lấy tiền của dân đền cho tội lỗi của những ông quan to áo dài.
Văn Quang

Nhìn xa hơn 2016: Có lẽ cơ hội tốt cuối cùng cho ĐCSVN để sửa lại cho đúng

Nhìn xa hơn 2016: Có lẽ cơ hội tốt cuối cùng cho ĐCSVN để sửa lại cho đúng

Đôi lời: Brooking là Viện Nghiên cứu chính sách lâu đời nhất ở Washington. Thành lập năm 1916, Brookings được nhiều người xem là một trong những think-tank có uy tín nhất ở Mỹ và là một trong các viện nghiên cứu ảnh hưởng nhất thế giới. Các bài viết về tình hình chính trị ở Việt Nam đăng trên Brookings, giúp người Mỹ có cái nhìn mới nhất về mối quan hệ giữa hai nước.

___

Brookings

Tác giả: David E. Brown

Dịch giả: Trần Văn Minh

14-12-2015

Đối với Hoa Kỳ, thời kỳ của một “Trung Quốc đang trỗi dậy” là một thách thức mới. Đối với Việt Nam, đó là sự lặp lại câu chuyện một ngàn năm [bị đe doạ]. Tham vọng thống trị trên toàn Biển Đông của chế độ Bắc Kinh đã bào mòn tính chính danh của chính quyền cộng sản Hà Nội. Thật trùng hợp, nhà cầm quyền ở Hà Nội đang có những cử động hướng về một thỏa thuận chiến lược với Washington.

Mối quan hệ Việt-Mỹ đang phát triển hiện nay có dáng vẻ một số phận địa chính trị muộn màng nhưng chắc chắn. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi trong các bộ phận của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm toàn quyền, trong số những người ngoài đảng (96% trong số 93 triệu người Việt Nam), ý niệm liên kết mật thiết với Mỹ rất được hoan nghênh. Sự thịnh vượng hiện tại và tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp cận đến thị trường Mỹ và các đồng minh, và đến công nghệ và vốn của họ. Tuy nhiên, tự bản thân Việt Nam phải có can đảm chính trị để cải cách những luật pháp quốc nội đang hạn chế khả năng để biến sự tiếp cận vào thị trường thành một nguồn phồn vinh.

Bốn mươi năm sau khi kết thúc, cuộc chiến với Mỹ không còn dấy lên những cảm xúc mạnh ở Việt Nam. Hầu như không có ngoại lệ, người Việt Nam nhấn mạnh rằng họ không mang thù hận, một khái niệm bắt đầu chính thức từ năm 1988 khi Hà Nội thực hiện chính sách đối ngoại “thêm bạn bớt thù”. Khi đó, chính quyền không có lựa chọn nào khác; các nỗ lực sau khi thống nhất đất nước để công hữu hóa nông nghiệp, xây dựng ngành công nghiệp nặng từ dưới lên và phân bổ hàng hóa theo một kế hoạch trung ương đã thất bại, như các cố vấn Liên Xô của Việt Nam đã dự đoán. Vào thời điểm đó, chính khối Xô Viết đang sụp đổ, và cũng đi theo là sự trợ giúp huynh đệ đã giữ cho nền kinh tế Việt Nam chỉ đủ sống còn trước lệnh cấm vận thương mại do Mỹ tổ chức.

Về nội bộ, Hà Nội chủ trường đổi mới, hay cải cách kinh tế. Đại hội Đảng đã mở đường cho Việt Nam đi vào ‘kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,’ một cái gì đó có vẻ giống chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, động lực tư bản đã nổi lên lấp đầy khoảng trống kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phục vụ yếu kém. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp nhà nước không bị giải tán, cũng như – mặc dù nông nghiệp không còn bị công hữu hóa – không thực sự trả lại quyền sở hữu đất đai cho nông dân.

Quá trình chuyển đổi kinh tế-xã hội không hoàn chỉnh đó đã vận hành khá tốt trong hai thập niên. Năm này đến năm khác, kinh tế Việt Nam tăng khoảng 7% mỗi năm. Xuất khẩu gạo và cá, cà phê và hạt điều tăng vọt. Các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan cung cấp kiến thức và vốn cho các ngành công nghiệp lắp ráp giày dép và hàng may mặc. Hầu như tất cả mọi người đã khá hơn. Mặc dù sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng rõ rệt, sự chênh lệch này cũng chủ yếu nhắc tới mong ước làm giàu.

Đến năm 2007, Việt Nam được thu nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và trở thành một trụ cột của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với thu nhập bình quân đầu người lên đến 1000 USD, 10 lần so với mức năm 1989. Chính quyền Hà Nội đã gầy dựng hàng chục mối quan hệ hợp tác với nước ngoài. Đặc biệt đáng kể là mở rộng và làm sâu sắc hơn mối quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Mặc dù mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và với Mỹ được đẩy đi bằng một tính thực dung, nhưng ý thức hệ đã đặt định những quan hệ đó.

Luôn luôn cận kề một cách khó chịu và đòi hỏi sự tôn trọng của một người em dành cho người anh cả, Trung Quốc là một vấn đề trọng tâm cho các triều đại của Việt Nam cả hơn một ngàn năm. Phần lớn thời gian đó, hai quốc gia cũng khá hòa thuận với nhau. Sự giao tiếp của giới ưu tú với Trung Quốc đã định hình văn hóa Việt Nam. Đoàn quân của Hồ Chí Minh không thể bào mòn quân đội Pháp và Mỹ mà không có sự trợ giúp huynh đệ từ Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Sau này, khi Hà Nội chọn đi theo Bắc Kinh một cách muộn màng trên “con đường tư bản chủ nghĩa”, lãnh đạo Việt Nam dành ưu tiên cao cho các đối tác Trung Quốc đặt mối quan hệ với các cấp của Đảng và nhà nước.

Tuy nhiên, sự hợp tác với Bắc Kinh thường dễ bị đụng chạm. Chủ đề quen thuộc của lịch sử Việt Nam là sự chống cự thành công chống lại quân xâm lược. Như tất cả các học sinh Việt Nam đều biết, các đội quân xâm lược thường nhất là người Trung Hoa. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã bị thất bại khi ông ấy cố tình “dạy cho Việt Nam một bài học” sau việc phế truất chế độ Pol Pot ở Campuchia.

Sau khi quan hệ ngoại giao được khôi phục vào năm 1995, Hoa Kỳ trở thành một thị trường hấp dẫn cho hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, ĐCSVN tiếp tục cảm nhận được một sự đe dọa. Mặc dù đảng cầm quyền đã từ bỏ hầu hết chủ nghĩa Mác, họ vẫn mang đậm nét Lê Nin trong quyết tâm nắm chặt đời sống chính trị của Việt Nam. Đối với các quan chức có trách nhiệm về an ninh nội địa tại Việt Nam, Mỹ vẫn chưa từ bỏ các ý định thù địch. Người Mỹ chỉ đơn giản trở nên tinh tế hơn, truyền thông của Đảng nói, tuyên truyền “khái niệm xã hội dân sự” và “âm mưu thúc đẩy thế lực diễn biến hòa bình.”

Chừng nào nền kinh tế của Việt Nam bùng phát và Trung Quốc thuyết phục được các nước láng giềng rằng tiến trình trỗi dậy thành cường quốc sẽ xảy ra trong hòa bình, thái độ nghiêng về phía Trung Quốc của chế độ Hà Nội và mong muốn của công chúng có mối quan hệ ấm áp hơn với Hoa Kỳ là một bất đồng có thể quản lý được.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chính quyền Hà Nội đã thất bại trong việc ứng phó với sự suy thoái toàn cầu nghiêm trọng. Khi thị trường xuất khẩu của đất nước giảm mạnh trong năm 2008, lãnh đạo Việt Nam giải quyết bằng cách thúc đẩy nhu cầu trong nước cho đến khi khách hàng nước ngoài quay trở lại. Họ làm việc này chủ yếu bằng cách điều hướng tín dụng tới khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Điều ngạc nhiên là rất ít nỗ lực được bỏ ra để giám sát cách các DNNN nầy dùng sự hào phóng của Ngân hàng Nhà nước. Phần lớn tín dụng đi vào các đề án phát triển bất động sản không liên quan đến ngành kinh doanh thông thường của các DNNN. Cũng có một phần khá nhiều đi vào việc mua lại hoặc tạo ra các ngân hàng mới rồi sau đó tạo ra thêm tín dụng và cho các cổ đông của họ vay lại.

Trong năm 2010, bong bóng bất động sản bị vỡ. Người vay lũ lượt bị vỡ nợ, các ngân hàng nhà nước bị mắc kẹt với một tỷ lệ khổng lồ các món nợ xấu. Các kiểm tra viên cho rằng khoản nợ này hiện nay tổng cộng ít hơn 4% tài sản của hệ thống ngân hàng; các cơ quan xếp hạng tín dụng ngoại quốc nhất định rằng con số thực tế là gần 15%.

Thêm nữa, tập đoàn đóng tàu Vinashin mà Hà Nội đã bơm vào 4 tỷ USD, cần phải được giải cứu. Kẻ kế tiếp rơi vào phá sản là công ty vận chuyển đường biển và điều hành cảng biển, Vinalines. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng khen tặng cả hai công ty như là một mô hình mới cho các doanh nghiệp nhà nước.

Trong khi đó vào năm 2009, Bắc Kinh lại khơi lên tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc “từ thời cổ đại” trên toàn vùng Biển Đông. Ngoài khơi bờ biển dài của Việt Nam, tàu Trung Quốc gia tăng sách nhiễu ngư dân Việt Nam và can thiệp vào cách hoạt động thăm dò dầu và khí đốt.

Kết nối với mạng, dân chúng lên tiếng

Những sự kiện này trùng hợp với một cuộc cách mạng thông tin. Mặc dù từ lâu đã có một thành phần nhỏ bất đồng chính kiến với nhà nước CHXHCNVN, họ không có phương tiện để đến với số lượng lớn khán giả cho đến khi có sự bùng nổ của Internet. [1] Từ 200.000 người dùng vào năm 2000, số người tham gia mạng điện toán tại Việt Nam đã tăng lên đến 40 triệu người, khoảng 55% người Việt trên 14 tuổi.

Khi ngày càng nhiều người dân tham gia vào mạng, họ tìm thấy một môi trường đầy dẫy ý kiến khác biệt về các chủ đề mà phương tiện truyền thông hợp pháp của Việt Nam bị cấm không được loan tải. Hiện nay, ngoài tầm với sự kiểm duyệt của chế độ, các trang blog loan tải những vấn đề công cộng quan trọng nhận được hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày. Tài khoản Facebook, trong đó hơn 30 triệu người Việt truy cập thường xuyên, đầy dẫy đàm thoại về chính trị.

Ví dụ, người lướt mạng trong năm 2008 đã biết được rằng chính phủ đã cấp giấy phép cho Công ty Nhôm Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở vùng cao nguyên. Cuộc thảo luận hồi đầu nhấn mạnh đến những tác động xã hội và môi trường của dự án, nhưng ngay sau đó biến thành cuộc tranh luận công khai chưa từng có về sự nhượng bộ của đảng và nhà nước trước Trung Quốc, gây thiệt hại cho an ninh quốc gia.

Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế của Việt Nam trở nên trầm trọng hơn. Năm 2011 chính quyền bị buộc phải thắt chặt tín dụng. Một số lớn nhà kinh tế kết luận rằng, động lực do chính sách đổi mới giải tỏa đã bốc hơi. Tâm trạng quần chúng thì cáu kỉnh. Người ngoài đảng thì được công khai trút sự bất mãn lên nhau. Có lẽ công an đang lắng nghe, nhưng những nhà bất đồng chính kiến cảm nhận sự an toàn trong số lượng, và có nhiều chuyện để than phiền: sự phá sản của hàng trăm ngàn doanh nghiệp và các nhà đầu tư nhỏ, tham nhũng vặt, sự tàn bạo của cảnh sát, việc đi đến chăm sóc sức khỏe và giáo dục không công bằng, điện bị cắt liên tục và thái độ hòa giải của chính quyền đối với các hành động khiêu khích của Trung Quốc ở ngoài biển.

Bế tắc

ĐCSVN rõ ràng cũng đang gặp khó khăn. Rất ít trong số những người sáng lạn và giỏi nhất chọn nghề theo Đảng. Những người chọn lĩnh vực công chức thường ít quan tâm đến hệ tư tưởng; mục tiêu chính của họ là danh lợi. Theo nhà phân tích Alexander Vuving, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng không phải bảo thủ và cũng không cấp tiến, nhưng chỉ đơn giản là những kẻ cơ hội đã tìm được một trạng thái yên ổn. [2] Vuving giải thích như sau: Chủ nghĩa tư bản cho nhiều cơ hội để kiếm lợi nhuận, trong khi chủ nghĩa cộng sản cung cấp độc quyền quyền lực. Sự hỗn hợp của hai yếu tố tạo điều kiện cho việc dùng tiền để mua quyền lực và sử dụng quyền lực để kiếm tiền.

Có lẽ vì quá nhiều các lãnh đạo của họ đã đầu tư vào vị thế hiện tại, ĐCSVN từ lâu đã không thể giải quyết một số vấn đề. Như đã được thấy, một trong những vấn đề đó là lập trường của Việt Nam, một mặt, đối với Trung Quốc, và mặt kia với các nước phương Tây. Một vấn đề khác là vai trò của nhà nước trong kinh tế; nhà nước có nên tham gia vào kinh tế, thông qua việc kiểm soát nhiều doanh nghiệp lớn, hay cần tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và tập trung vào việc tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp tư nhân phát triển? Ngoài ra, đã có cuộc tranh luận liên hồi trong nội bộ đảng về quản lý thông tin (trong khi thập niên qua, khả năng kiểm soát phương tiện thông tin của nhà nước đang vuột đi) và về việc liệu các hoạt động của đảng nên bị ràng buộc bởi pháp luật và chịu sự khảo sát của quan tòa độc lập.

Tại Đại hội Đảng vào năm 2001, 2006 và 2011, mặc dù đã có nhiều cuộc tranh cãi về nạn tham nhũng lan rộng, quản lý yếu kém và tính chính danh của Đảng đang suy thoái, sự đồng thuận về cải cách đích thực đã vượt quá tầm tay. Mỗi lần đại hội, các chức vụ được phân phối chủ yếu với quan điểm để nhằm duy trì sự cân bằng giữa các phe phái và khu vực. Cán bộ lớn tuổi về hưu và cán bộ trẻ được thăng chức, nhưng bế tắc chính sách vẫn còn đó.

Người của thời khắc?

Với một cách lắt léo – cụ thể là, thông qua một bước đi táo bạo để khai trừ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – ĐCSVN tìm cách giải quyết những vấn đề này. Dũng đã gây lo sợ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị khi ông ấy một cách rõ ràng và năng động xây dựng một mạng lưới chính trị của những người ủng hộ. Đầu tiên là một phó thủ tướng và sau đó là người đứng đầu chính phủ, ông Dũng có khá nhiều sự bảo trợ để phân phát. Ông cố gắng tạo nên hình ảnh một người khôn khéo về các vấn đề thế giới và có khuynh hướng cải cách. Trong một nhóm cầm quyền coi trọng trách nhiệm tập thể, tham vọng của thủ tướng nổi bật lên.

Tới giữa năm 2012, đa số áp đảo trong Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên đã bỏ phiếu loại bỏ ông Dũng. Trong tình hình như vậy, phản ứng thông thường là ra đi một cách lặng lẽ. Ông Dũng từ chối. Ông thu về các món nợ chính trị và chiến thắng với sự đảo ngược bất ngờ quyết định của Bộ Chính trị tại một cuộc họp Ủy ban Trung ương Đảng hai tháng sau đó. Được biết, cuộc đấu tranh không gay go. Kể từ đó, Dũng đã điều hành nhà nước Việt Nam hầu như sự hợp tác của các đồng nghiệp ở Bộ Chính trị không còn cần thiết.

Được nghe, thủ tướng là một kẻ cơ hội khôn lanh, đã đáp lại sự nóng lòng của quần chúng về sự thay đổi. Trong một bài phát biểu đầu năm được hoan nghênh rộng rãi hai năm trước, ông Dũng đã thông qua một ý tưởng cấp tiến rằng: công việc của nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân bình thường phát huy tiềm năng sáng tạo của họ. Ông đã phân bổ nội các của ông với những nhà quản lý tài năng và hiện nay, các nguồn tin cho biết, ông chăm chú lắng nghe ý kiến của một thế hệ kinh tế gia thông minh được du học cao ở phương Tây.

Những nhà kinh tế đó cho rằng trừ khi cải cách cơ cấu để mang trở lại tốc độ tăng trưởng lên 7% hoặc 8% hàng năm và năng suất lao động gia tăng, Việt Nam sẽ không đạt tới hạng bậc của các nền kinh tế tiên tiến. Đó là do tỷ lệ sinh sản giảm mạnh; lực lượng lao động trẻ, có khả năng, và mức lương tương đối thấp của đất nước – “cơ cấu dân số vàng” – sẽ bắt đầu co lại vào năm 2025. Chính phủ dường như đã lắng nghe lời khuyên. Văn phòng chính phủ đã điều chỉnh các quy định để tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài. Cả vốn và công nghệ đang tràn vào Việt Nam. Việt Nam là một thành viên sáng lập của Hiệp định Thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương, được ký tắt vào đầu tháng 11. Tuy nhiên, điều vẫn đang được mong chờ là hành động kiên quyết để thu nhỏ khu vực kinh tế Nhà nước và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân nội địa.

Trục xoay của Việt Nam

Chính sách đối ngoại, ông Dũng nói, là hoàn toàn về “xây dựng lòng tin chiến lược.” Trong cuộc theo đuổi bá quyền ở Biển Đông, Trung Quốc đã đánh mất lòng tin của Việt Nam; Mỹ đang trên đường đạt tới – và đó là một sự thay đổi mang tính thời đại, củng cố thêm vị thế của các nhà cải cách Việt Nam.

Khi Bắc Kinh gửi giàn khoan dầu HD-981 vào khu vực có tiềm năng dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 6 năm 2014 (*), họ có lẽ mong đợi chỉ có sự van xin không hiệu quả từ phía Hà Nội. Thật vậy, hầu hết các ủy viên Bộ Chính trị đã đáp ứng đúng như thế. Tuy nhiên, ông Dũng phản ứng bằng cách ra lệnh cho các tàu tuần duyên và tàu đánh cá Việt Nam quấy rối đội tàu của Trung Quốc. Sự phản kháng gan dạ của họ đã khuấy lên sự lên án Trung Quốc ở nước ngoài và khuấy động niềm tự hào ở quốc nội.

Sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan dầu về, giới bảo thủ trong Đảng thừa nhận rằng một tư thế hạ mình về phía Bắc Kinh không còn ngăn ngừa được sự xâm lược. Vì thế, Việt Nam khởi sự tái cân lại quan hệ với hai cường quốc. Trong những tháng sau đó, ủy viên cao cấp của cái gọi là phe thân Trung Quốc của Đảng đã đến từng người một thăm Washington. Cuộc thăm viếng đã được các nhà ngoại giao Mỹ và Việt Nam sắp xếp rất kỹ lưỡng, và các tín hiệu đều tốt. Một năm sau cuộc đối đầu với Trung Quốc, lãnh đạo đảng hàng đầu của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã gặp Tổng thống Obama tại phòng Bầu Dục.

“Đó thực sự là một cuộc họp lịch sử. Tòa Bạch ốc thừa nhận cơ cấu chính trị của Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng”, ông Trọng đánh giá sau đó.

Một nhà cải cách khác thường và một chương trình cải cách

Tại Đại hội Đảng lần thứ 12 vào đầu năm tới, ĐCSVN sẽ quyết định ai lãnh đạo Đảng cho đến năm 2020. Cưỡi sóng bởi một chuỗi những thành công chính trị, ông Nguyễn Tấn Dũng là người được nhiều hy vọng không chỉ để nắm lấy vị trí lãnh đạo Đảng, mà còn có thể để cài đặt thân tín vào chức Thủ tướng và các vị trí quan trọng khác. Ông Dũng có vẻ như sẵn sàng xuất hiện từ Đại hội với quyền kiểm soát Đảng và nhà nước nhiều hơn bất cứ ai kể từ Tổng Bí thư Lê Duẩn, nửa thế kỷ trước.

Tuy nhiên, triển vọng về một Đảng trưởng quá cam kết đầy những cải cách có thể kích hoạt một phản ứng “chọn bất cứ ai ngoài Dũng”. Nhà quan sát Việt Nam kỳ cựu, Carl Thayer, phân tích rằng đó là lý do tại sao các cuộc họp Ban chấp hành Trung ương để chuẩn bị cho Đại hội 12 dường như có rất ít tiến bộ. Đối với nhiều người trong Đảng, đặc biệt là trong các tổ chức cấp tỉnh, thành phố và trong từng doanh nghiệp nhà nước, hiện trạng đang rất thoải mái. Với một số ít Đảng viên, ý thức hệ vẫn còn quan trọng; họ xem lời hứa của ông Dũng về sự cởi mở hơn trong chính phủ như là một mật hiệu về các thực nghiệm nguy hiểm với đa nguyên. Nhưng, đối với đa số, mối quan hệ ràng buộc họ với Đảng là lợi ích riêng tư.

Ngoài Đảng, trừ một tập hợp bất đồng chính kiến vẫn tương đối nhỏ, người Việt Nam hiện nay không ở trong tâm trạng cách mạng. Xuất khẩu đang bùng nổ. Thu nhập bình quân hàng năm đã nhích lên đến hơn 2000 USD, gấp đôi so với mức năm 2007. Thông thường, người Việt ngoài đảng chỉ hy vọng rằng Đảng sẽ tự sửa chữa lỗi lầm và cung cấp cho Việt Nam lớp lãnh đạo cương quyết, đứng đắn và công bằng. Họ sợ sự hỗn loạn có thể sẽ đến với nỗ lực để tháo dỡ sự cai trị độc đảng. Càng mạnh mẽ theo đuổi chương trình cải cách, ông Dũng càng được giới bên ngoài đảng yêu thích, đặc biệt là với tầng lớp kinh doanh và chuyên gia của đất nước.

Tuy nhiên, để thành công trong vai trò nhà cải cách, ông Dũng phải thuyết phục thành phần đảng viên của ông vứt bỏ “xã hội chủ nghĩa thị trường” (có nghĩa là, sự tham gia trực tiếp vào nền kinh tế) và tập trung vào quản lý kinh tế tiên tiến. Chính sách nên nhằm mục đích tạo điều kiện cho các nhà sản xuất Việt Nam có được tín dụng và công nghệ cần thiết để gia nhập chuỗi giá trị xuất khẩu. Nông dân nên được quyền sở hữu trên mảnh đất họ cày. Doanh nghiệp nhà nước vừa bị thua lỗ lẫn kém sức cạnh tranh phải được giải tán. Phe giáo điều sẽ chống lại, nhưng ý nghĩa kinh tế này thật thuyết phục. Ý nghĩa chính trị cũng vậy: hành động cải cách có tính quyết định sẽ bảo đảm vị thế lãnh đạo của Đảng trong nhiều năm tới.

David Brown, nhà ngoại giao Mỹ về hưu, từng làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn từ 1965-1969.

Ý nghĩa của ngày Lễ Giáng Sinh

Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”) là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc Giáo. Họ tin là Jesus được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của nước Do Thái, lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN.

Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Theo Công giáo Roma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là “lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là “lễ vọng”. Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống Giáo Đông Phương vẫn xử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas.

Chữ Christ (Đấng chịu sức dầu) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu (Jesus).

Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos, Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ.

Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa

Vòng lá mùa vọng

Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí – dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Phái Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.

Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím – màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là  màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday).

Thiệp Giáng sinh

Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên  thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.

Quà Giáng sinh

Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bạn bè. Đối với một số người, những món quà Giáng sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người.

Khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và mộc dược. Vàng tượng trưng Chúa Giêsu là vua (tức con Chúa Cha – Vua Nước Trời), trầm hương tượng trưng Jesus là Thiên Chúa và mộc dược biểu hiện hình ảnh Jesus bị đóng đinh trên cây thánh giá hay nói rõ hơn là sự chịu chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại

Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Jesus hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.

Ông già Nô-en thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc tất.

Giáng sinh ở Việt Nam

Ngày nay, ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Trong những ngày này, cây thông Nô-en được trang trí ở nhiều nơi bằng cây thật (thường là thông ba lá hoặc thông mã vĩ) hay thông nhân tạo làm bằng nhựa, không phải cây thông như ở các nước phương tây thường là họ Bách tán. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhiều loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây…

Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của Santa, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, tiệc tùng, ca hát… Người Việt Nam rất thích thú các ca khúc Giáng sinh, đặc biệt là Feliz Navidad.

Theo nguồn: Wikipedia, bách khoa toàn thư mở

Cuộc đời ít người biết của ông chủ Facebook

Cuộc đời ít người biết của ông chủ Facebook

Mark Zuckerberg đang phủ sóng dầy đặc trên mặt báo 2 hôm nay với tuyên bố gây nhiều hoài nghi: Sẽ quyên tặng 99% cổ phần tại Facebook, trị giá 45 tỷ USD, cho hoạt động từ thiện, nhân dịp cô con gái đầu lòng chào đời.

Ở tuổi 31, Zuckerberg hiện là tỷ phú duy nhất sở hữu khối tài sản nhiều hơn cả tuổi của mình. Bằng cách nào, ông chủ Facebook giàu có được như vậy? Ngoài đời thực, Mark là người như thế nào? Anh ta đi lên như thế nào từ con số 0?

Ngay ở tuổi 12, Mark đã viết một chương trình nhắn tin của riêng mình có tên Zucknet sử dụng ngôn ngữ Atari BASIC. Cậu cùng từng viết mã một vài trò game máy tính cho bạn bè.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Mark sinh ra vào tháng 5 trong một gia đình có bố là nha sĩ và mẹ là bác sĩ tâm lý. Trước Mark, họ đã có 3 người con là Randi, Donna và Arielle.

 

 Mark Zuckerberg, Facebook
Khi học trung học ở trường Philips Exter danh tiếng (New Hampshire), Mark đã xây dựng một nền tảng nghe nhạc sơ khai được cả AOL lẫn Microsoft chú ý. Tuy nhiên, cậu thiếu niên Mark đã từ chối bán lại nền tảng này cũng như đầu quân cho cả 2 nơi.

Nhưng Mark không chỉ là một nhân tài về máy tính. Cậu còn rất mê nhạc cổ điển và thậm chí còn là đội trưởng đội đấu kiếm của trường trung học.

Không lâu sau khi nhập học tại Đại học Harvard năm 2002, Mark xúc tiến dự án “The Facebook” với vài người bạn cùng ký túc.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Niên học sau đó, Mark bỏ học để dành toàn bộ thời gian của mình cho dự án này.

Nhưng trước khi “thất học”, Mark đã kịp gặp gỡ người bạn đời sau này của mình, Pricilla Chan. Chan đã kể với Today’s rằng họ gặp nhau ở một bữa tiệc. “Trong lần hẹn đầu tiên, anh ấy nói là thà đi hẹn hò với tôi còn hơn là ngồi làm hết bài kiểm tra giữa kỳ về nhà của mình”.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Nhưng trước khi “thất học”, Mark đã kịp gặp gỡ Pricilla Chan.

Facebook nhận được số tiền đầu tư 12.7 triệu USD khi Zuckerberg vừa đủ tuổi để có thể uống rượu một cách hợp pháp. Phần còn lại của câu chuyện thì tất cả mọi người đều đã biết. Năm 2010, anh được tạp chí Time tôn vinh là “Nhân vật của Năm”.

Ngày nay, hơn 1,55 tỷ người trên toàn thế giới đang dùng Facebook. Công ty này có giá trị lên tới 301 tỷ USD nhờ bán quảng cáo tới người dùng.

Không nhiều vĩ nhân của làng công nghệ được lên phim, nhưng vào năm 2010, bộ phim “Mạng xã hội” đã xi nê hóa câu chuyện ra đời của Facebook.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Bộ phim giành được tới 8 đề cử cho giải Oscar nhưng Mark một mực khẳng định nhiều chi tiết trong phim không chính xác.

Aaron Sorkin là người viết kịch bản cho phim. Zuck có thể căm ghét bộ phim mô tả chân dung của mình như một kẻ độc đoán, nhưng anh ta lại là fan của series phim truyền hình nổi tiếng “The West Wing” mà Sorkin biên kịch.

Facebook chính thức phát hành cổ phiếu IPO vào ngày 18/5/2012, thu về 16 tỷ USD.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Đây chính là vụ IPO lớn nhất trong lịch sử ngành công nghệ cho đến khi bị Alibaba soán ngôi vào cuối năm ngoái.

Chan và Mark tiếp tục hẹn hò trong suốt khoảng thời gian phát triển của Facebook. Cặp này kết hôn đúng một ngày sau hôm IPO. Lễ cưới diễn ra bất ngờ, giản dị, không phô trương và giấu kín giới truyền thông. Khách mời thậm chí còn bị đánh lừa khi họ tưởng chỉ đến dự lễ ăn mừng tốt nghiệp trường y của Chan mà thôi.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Cặp vo chong đã tuyên thệ gắn kết ngay tại ngôi nhà của mình ở Palo Alto.

Nam ca sĩ Billie Joe Armstrong của ban nhạc Green Day đã biểu diễn ở lễ cưới, còn Mark tự mình thiết kế chiếc nhẫn ruby của Priscilla.

Hai người đi tuần trăng mật ở Ý, bay may bay riêng và ở trong khách sạn 5 sao Portrait Suites, nơi giá phòng khoảng 800 Euro/đêm. Nhưng các paparazzi đã chộp được cảnh đôi vo chong ăn tối ở một nhà hàng McDonald’s.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Năm nào, đến tháng 12 thì đôi vo chong cũng dành ra 2 tuần để đi du lịch. Đôi khi họ về thăm gia đình của Chan ở Trung Quốc.

 

 Mark Zuckerberg, Facebook
Mark đã học tiếng Trung Quốc và trình độ ngoại ngữ của anh đủ tốt để mùa thu năm ngoái, Mark vượt qua được một phiên hỏi đáp kéo dài 30-phút bằng tiếng Quan Thoại.

Vài ngày sau lễ Tạ ơn 2015, Mark thông báo rằng Priscilla đã sinh hạ một bé gái khỏe mạnh có tên là Max. “Gia đình nhỏ của chúng tôi quá vui”, anh viết trên Facebook.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Mark cũng viết một lá thư dài 2000 chữ tặng cho con gái, thông báo sẽ quyên tặng 99% cổ phần của mình cho hoạt động từ thiện.

Nhưng trước thông báo trên, hai vợ chồng đã tặng khoảng 1,6 tỷ USD cho nhiều chương trình thiện nguyện như quyên góp cho Bệnh viện San Francisco và Trung tâm Kiểm soát dịch để ngăn ngừa dịch Ebola bùng phát.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Mark sẽ nghỉ làm 2 tháng tới để ở nhà chăm sóc vợ.

Sau khi tặng hết 99% cổ phần, Zuckerberg vẫn còn số cổ phần trị giá 450 triệu USD. Năm 2014, dù nhận lương chính thức chỉ 1 USD nhưng Mark vẫn kiếm được hơn 610.000 USD từ tiền thưởng các loại.

 Mark Zuckerberg, Facebook
Mark được mô tả là người giàu có giản dị và “nghèo nàn” nhất mà bạn có thể bắt gặp, thường xuyên mặc áo hoodie (khoác có mũ) hoặc áo phông màu xám. Cực kỳ hiếm khi thấy anh ta mặc vest.

Thay vì siêu xe Ferrari hào nhoáng, Mark chỉ lái một chiếc GTI Volkswagen màu đen giá khoảng 30.000 USD.

 Mark Zuckerberg, Facebook
 

Tháng 10/2014, Mark chi khoảng 100 triệu USD để mua một thửa đất cách biệt rộng 750 mẫu Anh trên đảo Kauai (Hawai). Mark coi đây là nơi “trốn tránh cuộc sống xô bồ”.

Mark Zuckerberg, Facebook

Mark cũng chi 10 triệu USD để mua 1 dinh thự ở San Francisco, sau đó chi thêm 1 triệu USD để sửa chữa.

NGOẠI TÌNH DỄ HAY KHÓ CHỪA!

NGOẠI TÌNH DỄ HAY KHÓ CHỪA!

Trần Mỹ Duyệt

Một người bạn hỏi tôi, trong 4 thứ thuộc “tứ đổ tường” – rược chè, cờ bạc, trái gái, nghiện hút – thứ nào khó chừa nhất?

Anh cho hay, bản thân anh, để chừa hút thuốc anh đã phải quyết tâm đến 3 lần, lần thứ ba mới chừa được, tuy vậy, ngay giờ này mặc dù không hút thuốc nữa, nhưng nếu ngồi gần người hút thuốc anh vẫn bị “cám dỗ” như thường.

Câu truyện trao đổi khiến tôi liên tưởng đến những khó khăn trong nghề nghiệp, đặc biệt khi phải hướng dẫn và giải quyết những khủng hoảng trong đời sống hôn nhân gia đình liên quan đến những triệu chứng trên mà tôi cho là những căn bệnh khó chữa. Gọi chúng là căn bệnh tâm lý vì trong những hội chứng tâm lý do tâm lý trị liệu nêu lên có những triệu chứng này. Việc khuyên ngăn, bảo ban, và hướng dẫn cho những trường hợp này thật là khó khăn và đòi hỏi nhiều cố gắng. Làm sao cho một người chồng, người cha hoặc người vợ, người mẹ ngoại tình ý thức được hành động của họ là một việc làm nguy hiểm và có thể đem đến đổ vỡ hôn nhân, phá vỡ hạnh phúc gia đình và tương lai con cái?!

Để nói về những “cám dỗ” trên và những hệ luỵ của nó, Tú Xương, nhà thơ non Côi, sông Vị với nhiều những thứ cám dỗ này đã viết:

“Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được thứ nào hay thứ nấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà.” 

Ông đã tự nhận rằng đối với ông, việc chừa “đàn bà” là một điều ông không muốn chừa và cũng chẳng chừa được. Nhưng không riêng gì Tú Xương, một số người tuy đã chừa rượu, bỏ hút thuốc, bỏ nghiện ma tuý, ngay cả bỏ cờ bạc nhưng đụng đến ngoại tình tức là cái lăng nhăng liên quan đến đàn bà (hoặc đàn ông) là điều mà họ vẫn không chừa được. Theo một khảo cứu riêng do InfideligyFacts.com phổ biến năm 2006, thì:

41% những trường hợp vợ hoặc chồng hay cả hai đã ngoại tình qua tình cảm hoặc hành động.

Đàn ông cũng như đàn bà, tỷ lệ ngoại tình xấp xỉ ngang nhau. Theo đó:

57% đàn ông,

và 54% đàn bà đã nhận mình có hành động ngoại tình.

Nhưng quan trọng nhất là những người này tuy biết mình ngoại tình nhưng không muốn chấm dứt những quan hệ bất chính đó. Do đó, bảo họ chấm dứt mối giao du tình cảm bất chính ấy để quay trở về với đời sống hôn nhân, gia đình và trách nhiệm thì không hề dễ. Cũng theo thống kê này cho biết:

74% đàn ông,

và 68% đàn bà nói rằng họ sẽ tiếp tục ngoại tình nếu như không bị phát giác.

Điều này đồng nghĩa với việc họ tiếp tục hành động gian dối, và những giao du bất chính ngoài hôn nhân, mặc dù bề ngoài họ vẫn đóng kịch đạo đức để che mắt vợ hoặc chồng của mình.

Như vậy, cái khó từ bỏ nhất nhưng cũng hấp dẫn nhất đối với người ngoại tình vẫn là quan niệm  “ăn chơi ngon hơn ăn thật”, và “ăn tiệm ngon hơn ăn ở nhà”. Dĩ nhiên, trong những món ăn chơi đó phải kể đến món tình dục và tình cảm.

Đối với một người ngoại tình thì cái hấp dẫn nhất lúc này là sự thoải mái về nhu cầu tình dục, và sự háo hức về mặt tình cảm mà họ cho là tình yêu.

Như một chàng trai hay một cô gái mới lớn, họ hăm hở bước vào những mơn trớn tình cảm như thuở ban đầu họ sung sướng bước vào tình yêu. Nếu bảo một bạn trẻ đừng yêu người con trái ấy hay người con gái ấy vì người này không tốt, không đẹp, không học thức, không có tương lai… thì những lời khuyên như vậy sẽ trở nên vô nghĩa và không cần thiết.

Khi yêu nhau mấy ai quan tâm đến tuổi tác, đẹp xấu, giầu nghèo, bằng cấp, đạo đức hay không đạo đức. “Tình yêu như trái phá, con tim mù loà” (Trịnh Công Sơn), chính là điều làm cho người trong cuộc không ý thức được hậu quả của hành động của họ.

Cũng có những lý do tiềm ẩn đưa đến ngoại tình.

Những lý do này có thể đến từ cuộc sống gia đình, từ những khó khăn về mặt tài chính, từ cách cư xử của người vợ hay người chồng.

Nhưng điều chính yếu là khi người chồng hay người vợ đi ra ngoài ngoại tình thì người vợ hay người chồng ở nhà

luôn luôn thua kém, thiếu hấp dẫn, thiếu gợi cảm,

 thiếu lãng mạn, thiếu hiểu biết, thiếu thông cảm,

và cũng thiếu đẹp trai, đẹp gái hơn người kia.

Chính sự thu hút vừa về thể lý, sinh lý, tình cảm này đã làm cho việc trở lại với đời sống hôn nhân trở nên khó khăn như Tú Xương đã tự nhận.

Không có một gia đình nào hoàn hảo” (Giáo Hoàng Phanxicô).

Nhưng đó cũng chính là điều mà những ai đang sống trong đời sống hôn nhân cần ý thức không phải để thất vọng, buông thả, nhưng để tìm hiểu và xây dựng một hạnh phúc hôn nhân trong thiện chí, hiểu biết, tôn trọng, thuỷ chung và trách nhiệm.

Tâm lý hôn nhân cũng có chung quan điểm về sự “bất toàn” của đời sống chung khi so sánh những khác biệt giữa người đàn ông và người đàn bà, giữa người chồng và người vợ với hàng trăm những lý do đến từ ảnh hưởng của di truyền, của giáo dục gia đình, của giáo dục tôn giáo và giáo dục học đường.

Những ảnh hưởng ấy dĩ nhiên đem lại

sự khác nhau về tình cảm, tâm lý, sinh lý giữa nam và nữ,

cũng như sự khác nhau về quan niệm và triết lý sống.

Thử hỏi giữa những khác biệt lớn lao như vậy, liệu một người đàn ông, một người đàn bà làm sao có thể hạnh phúc được với nhau nếu cuộc sống chung của họ không được xây dựng trên tình yêu. Một thứ tình yêu đặt nền tảng trên

lòng thành tín, thuỷ chung, ý thức trách nhiệm

và sự trưởng thành về tâm linh, tâm lý và đạo đức.

 Những người ngoại tình không biết hoặc cố tình phủ nhận sự thật phũ phàng này,

đó là vết thương lòng của những người vợ hay người chồng khi khám phá ra người phối ngẫu của mình ngoại tình

hết sức nhức nhối, đau đớn, khó lành và khó băng bó.

Để chữa lành vết cắt hằn sâu trong trái tim này đòi hỏi từ 5 hay 6 năm kể từ khi người có lỗi biết nhận lỗi trở về và sống có trách nhiệm với gia đình.

Đây là một vết thương không dễ băng bó, chữa lành trong một thời gian ngắn.

Nó không đơn giản như những nhận xét vô trách nhiệm của một số người khi cho rằng chuyện bướm ong là chuyện ngàn đời của đàn ông.

Việc chán cơm, thèm ph là việc thường tình xảy ra trong bối cảnh sống hiện nay khi mà quan niệm về thuỷ chung được coi như một lý thuyết lạc hậu, không thuyết phục, mang mầu sắc tôn giáo, lý tưởng và thiếu thực tế.

Ngoại tình là một căn bệnh vừa có tính cách xã hội, tâm lý và đạo đức rất khó chừa và khó chữa. Một điều chắc chắn là cho dù ngoại tình với bất cứ lý do gì, những người ngoại tình cũng đều biết điều này, đó là, hậu quả của hành động ngoại tình của họ không những

phá vỡ hạnh phúc hôn nhân,

phá vỡ hạnh phúc gia đình

và phá vỡ tương lai con cái của họ.

Nhưng cái khó là họ có muốn quay về với gia đình và hạnh phúc hôn nhân của chính họ hay không?

Tóm lại, để đối phó với căn bệnh dễ lan lây và nguy hiểm này, cách tốt nhất vẫn là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, bằng cách:

-Vợ chồng dành thời giờ với nhau và cho nhau.

-Tập thói quen biết chia sẻ và lắng nghe nhau.

-Học hỏi để biết chấp nhận và tha thứ cho nhau.

-Học hỏi để biết khám phá những nét đẹp, dễ thương, dễ mến của người phối ngẫu.

-Nhưng nhất là tự ý thức về hành động của mình với tâm niệm:

“Phở mình đang ăn thường cũng chỉ là cơm nguội cơm thừa của hàng xóm!”.

  (Tham khảo thêm. Mời tìm đọc

Làm gì khi biết chồng mình ngoại tình’

cùng tác giả trên www.giadinhnazareth.org)