Việt Hoàng: Cuối cùng thì Nguyễn Sinh Hùng mới là Tổng bí thư?

Việt Hoàng: Cuối cùng thì Nguyễn Sinh Hùng mới là Tổng bí thư?

Thông Luận

Việt Hoàng

Cuộc thư hùng trong nội bộ ĐCSVN vẫn chưa ngã ngũ trong Hội nghị 13 vì vậy nó sẽ tiếp tục “thi đấu” ở Hội nghị 14, dự kiến sẽ nhóm họp vào đầu tháng 1/2016. Ai sẽ là người chiến thắng sau cùng?

Theo dư luận thì cuộc chiến trong đảng là sự đối đầu giữa đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Tương quan lực lượng là 50-50. Trước đây vài tháng thì tương quan nghiêng về phía ông Nguyễn Tấn Dũng nhưng vì ông Dũng có quá nhiều sai lầm và quá nhiều vết để các đối thủ khai thác và công kích.

Ông Dũng đã chống đỡ một cách lúng túng và thiếu mạnh mẽ qua một tài liệu được cho là thư gửi Bộ chính trị ĐCSVN mới được công bố trên trang Anh Ba Sàm.

Sỡ dĩ ông Dũng được ủng hộ vì ông đã có một chiến thắng ngoạn mục trong Hội nghị 6, khi đó ông đã lật ngược được thế cờ với chiến thắng mang tên “đồng chí X”. Đám quan chức theo ủng hộ ông vì cho rằng ông mạnh và sẽ chiến thắng chứ không phải vì ông là người có bản lĩnh hay tài giỏi gì.

Hội nghị 12 ông Dũng phải dùng đến con gái mình để phản công đối thủ chứng tỏ ông đã yếu đi. Thêm một chi tiết mà ít người chú ý đến là sự vắng mặt của một nhân vật rất quan trọng luôn đứng bên cạnh ông Dũng là Thượng tướng, Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh.

Một chi tiết rất đặc biệt trong tài liệu được cho là thư của ông Dũng gửi Bộ chính trị là việc ông Dũng “xin rút lui”. Nếu trường hợp này xảy ra và tài liệu kia là thật thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đương nhiên ông Dũng không thể “về vườn” một mình được. Nếu ông Dũng “rút” thì ông phải ép ông Nguyễn Phú Trọng và ông Trương Tấn Sang rút cùng. Chuyện này đã xảy ra không phải một lần trong nội bộ ĐCSVN.

Nếu ông Dũng, ông Trọng và ông Sang cùng rút lui thì ai sẽ lên làm Tổng bí thư?

Người đó chính là đương kim chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Sau khi Hội nghị 13 vừa kết thúc thì ông Nguyễn Sinh Hùng đã vội vã sang Trung Quốc để trình diện hoàng đế Tập Cận Bình và nhận chỉ thị của thiên triều.

Nội dung cuộc viếng thăm đột ngột của ông Nguyễn Sinh Hùng, chỉ sau một tháng khi ông Tập Cận Bình đến Hà Nội đã được Vietnamnet đưa tin (xin bấm vào hàng chữ xanh để đọc Vietnamnet):

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị hai nước thúc đẩy thực hiện nhận thức chung và các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao của hai nước; thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các hình thức linh hoạt, đa dạng, gắn kết vững chắc hơn quan hệ chính trị, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Trên tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa hợp tác toàn diện và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục… đảm bảo cân bằng lợi ích, đôi bên cùng có lợi; cả trong quan hệ song phương cũng như hợp tác đa phương tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. 

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, sự ủng hộ lẫn nhau tại các cơ chế, diễn đàn quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước”.

Nói ngắn gọn thì ông Nguyễn Sinh Hùng quyết tâm theo phò thiên triều đến cùng qua việc biến Việt Nam thành một vùng tự trị của Trung Quốc.

Nguyễn Sinh Hùng là người như thế nào?

Xin trích một số câu nói “bất hủ” của Tổng bí thư tương lai:

  • Quốc hội là cơ quan lập pháp, nếu quyết sai cũng phải nhận khuyết điểm chứ không phải kỷ luật, Chủ tịch Quốc hội cũng không phải người đứng đầu Quốc hội. Vì thế, không thể vì cả 500 đại biểu bỏ phiếu mà kỷ luật cả 500 vị hay kỷ luật ông Chủ tịch. “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”. [1]
  • Trong công việc tôi làm thời gian qua còn nhiều khiếm khuyết, trong khi yêu cầu của cuộc sống, của sự phát triển ngày càng cao. Phiếu bầu cho tôi không cao thể hiện rõ điều này. Nếu những việc chưa tốt là non nửa, ứng với số phiếu không được bầu là non nửa thì đó là bình thường.(Khi được bầu làm Phó Thủ tướng với số phiếu chỉ đạt 58% năm 2006)[7]
  • Thị trường đã là đáy, anh nào bán thì thiệt, anh nào mua thì thắng. Chính phủ đảm bảo năm nay thị trường phải tăng trưởng.(3/2008, VN-index khoảng 500 điểm)[8]
  • Không thể không làm đường sắt cao tốc (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[9]
  • Hôm nay thấy sai một chút chỗ này xử lý, “cách chức đi, kỷ luật đi”, ngày mai thấy sai chỗ kia, “cách chức đi, kỷ luật đi”, lấy ai mà làm việc các đồng chí ? (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)
  • Thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây, bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn, có khi sai nhỏ, nhưng mà các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp ? (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[10]
  • Vấn đề các đại biểu đặt ra là tiền, tiền đâu để làm dự án, tôi không lo lắng lắm về vấn đề này, GDP của nước ta những năm qua cũng ổn và dự kiến đến năm 2050 GDP cũng khả quan.[11]
  • Hiện GDP của Việt Nam là 106 tỉ USD, năm 2020 sẽ gần 300 tỉ, năm 2030 sẽ là 700 tỉ và năm 2040 sẽ là 1.000 tỉ. Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1.200, đến năm 2040 sẽ đạt 20.000 USD.(Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[9]
  • Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm. Yên tâm cùng Chính phủ xin Quốc hội chủ trương để làm. Yên tâm là Quốc hội và Chính phủ tính được bài để làm(Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[12]
  • Ai dám hạn chế không cho các anh phát hành trái phiếu. Chính phủ sẽ không để xảy ra ngừng trệ vốn kinh doanh cho các tập đoàn”.[13]Trả lời than thở của Phạm Thanh Bình, TGĐ Vinashin trong cuộc họp ngày 23 tháng 4 năm 2008: “Vốn chủ yếu vay từ ngân hàng, nhưng lãi suất cao. Chúng tôi đã trình đề án xin phát hành trái phiếu sáu tháng nay nhưng chưa được phê duyệt”. Sau đó Vinashin được vay 10000 tỷ đồng từ các ngân hàng.[14]
  • “Tôi thì vẫn chưa lo”. Ngày 8 tháng 6 năm 2010, ông nói câu này khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội.
  • Dù ùn tắc, nhưng rất trật tự, rất lành mạnh, rất vui tươi (phát biểu trong đánh giá về đại lễ 1000 Thăng Long Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2011).[15]
  • Xin nói thật là làm thủ trưởng thì nó khác, cho ai nói thì nói, không cho nói thì thôi, người ta nói mình nghe thì nghe mà không nghe thì quên[16]
  • “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai” [17]
  • “Vậy số nợ còn lại vẫn treo đó khi nào trả? Mấy năm vừa rồi cũng nợ nữa. Đã thế còn vay ngắn, vay ngắn sang năm phải trả. Chưa vay đã trả lấy gì mà cân đối được. Các Ủy ban, Bộ, ngành phải tính chứ tôi nói các đồng chí năm nay không có đồng nào tăng lương. Nói hay thế mà 1 đồng xu tăng lương không có là thế nào?” (Nói trước Quốc hội về tình trạng hụt thu ngân sách trong năm 2014-15) [18]

Theo (vi.wikipedia.org/wiki)

Mới đây nhất khi nói về tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN VN (điều 88), Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng cho ý kiến: ” Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được“. Nói thế nhưng luật sư Nguyễn Văn Đài vẫn bị bắt.

Sân sau và các đại gia trong thân tộc của ông Nguyễn Sinh Hùng là như thế nào? Mời mọi người đọc thêm trêm vanews.org (xin bấm vào chữ vanews.org cso màu)

Tất cả mọi dự đoán sẽ sớm được rõ ràng trong một vài ngày tới.

Việt Hoàng

____

Phụlục:

Những tuyên bố ‘vô tiền khoáng hậu’ của ngài Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

Mỗi chính khách trong thời gian tại nhiệm ít nhiều đều để lại những dấu ấn nhất định thông qua những phát ngôn và hành động. Riêng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, không chỉ được biết đến như một vị chính trị gia quyền lực có nhiều tập đoàn kinh tế sân sau mà còn nổi tiếng với những phát ngôn bất hủ.

Nhân câu nói của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Ăn hết rồi thì lấy đâu đầu tư”, tại phiên họp thường vụ Quốc hội ngày 9/10/2014, bàn về tình hình thu chi ngân sách năm 2014 và câu lập luận “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”, tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách sáng 11/4/2014. Có thể coi đây là những phát ngôn bất hủ nhất mọi thời đại khiến cho nhiều người nhớ tới những phát ngôn để đời của ông Nguyễn Sinh Hùng trước đây. Xin trích một số câu bất hủ khác của ông để chúng ta cùng suy ngẫm những ngày cuối tuần.

1- Khi làm Phó Thủ tướng, trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ ngày 6/3/2008, ông Nguyễn Sinh Hùng nói: “Tôi đảm bảo TTCK sẽ lên giá và có chất lượng hơn. Nếu là nhà đầu tư chứng khoán thì lúc này tôi sẽ mua cổ phiếu”. Báo Quân đội nhân dân nhấn mạnh thêm ý của ngài: “Thị trường đã giảm đến đáy, nên trong điều hành Chính phủ quyết tâm không để giảm thêm. Thời điểm này, nếu nhà đầu tư nào bán tháo cổ phiếu thì sẽ thất bại, ngược lại người nào có quyết định mua vào thông minh sẽ thắng”. Tuy nhiên, ngay sau thời điểm Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói câu trên thì chỉ số giá chứng khoán đang đứng ở mức khoảng 600 điểm đã đi xuống một lèo tới đáy thực sự của TTCK là 238 điểm.

2- Trong lần đăng đàn trả lời chất vấn của Quốc hội ngày 12/6/2010, nói về việc xử lý cán bộ, ông Nguyễn Sinh Hùng không ngần ngại nhấn mạnh: “Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là ‘chặt chém’ ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm… các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp?” rồi ông đặt một hỏi câu bất hủ: “Kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc các đồng chí?”. Phát ngôn này của ông Nguyễn Sinh Hùng đã vấp phải sự phản đối dữ dội từ phía dư luận. Bởi họ cho rằng phát biểu của ông như đang dung dưỡng cho những hành vi sai trái.

3- Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trả lời chất vấn trước Quốc hội: “Đồng chí Lợi hỏi tôi có yên tâm với đường sắt cao tốc không, tôi yên tâm, chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc”. Ngài Phó Thủ tướng còn nhấn mạnh: “Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm. Yên tâm cùng Chính phủ xin Quốc hội chủ trương để làm. Yên tâm là Quốc hội và Chính phủ tính được bài để làm”. Sau đó như chúng ta đã biết thì Quốc Hội bác bỏ dự án này, và cũng bác luôn lời nói của ông.

4- Họp bàn tái cơ cấu Vinashin ngày 8-6-2010, ngài PTT Nguyễn Sinh Hùng khẳng định như đinh đóng cột: “Từ nay đến năm 2012 còn lỗ nhưng dự báo tới 2013-2014 sẽ bắt đầu có lãi và sau năm 2015 VNS sẽ phát triển ổn định”. Chỉ 1 tháng sau, tháng 7/2010, thông tin về vụ bê bối ở Vinashin bung ra và thực tế đã cho thấy khả năng dự báo của ngài. Trả lời báo chí trước những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội, PTT Nguyễn Sinh Hùng vô tư nói: “Tôi thì vẫn chưa lo”.

5- Trả lời than thở của ông Phạm Thanh Bình, TGĐ Vinashin trong cuộc họp ngày 23/4/2008: “Vốn chủ yếu vay từ ngân hàng, nhưng lãi suất cao. Chúng tôi đã trình đề án xin phát hành trái phiếu sáu tháng nay nhưng chưa được phê duyệt”. PTT Nguyễn Sinh Hùng nói: “Ai dám hạn chế không cho các anh phát hành trái phiếu. Chính phủ sẽ không để xảy ra ngừng trệ vốn kinh doanh cho các tập đoàn”.

Và ông Nguyễn Sinh Hùng thể hiện quyết tâm bằng việc cho phép Vinashin được huy động 20.000 tỷ đồng, trong đó quan trọng nhất là đã chỉ định các ngân hàng phải cho Vinashin vay 10.000 tỷ trong thời điểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa cực kỳ khó khăn vì thiếu vốn. Xin hỏi 10.000 tỷ này bây giờ đã bốc hơi đi đâu?

6- Khi Quốc hội bàn về làm đường sắt cao tốc, ngài Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng giải thích về những lo ngại của các đại biểu Quốc hội là Việt Nam không đủ nguồn lực: “GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi”. …. “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050”.

Với phát biểu trên của PTT Nguyễn Sinh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, ông Nguyễn Sinh Hùng làm kinh tế bằng cách lấy số cũ nhân 2. Và dù cho đến 2050, thì Việt Nam cũng chỉ đạt GDP vào khoảng 5400 USD mà thôi, còn lâu mới đuổi kịp….Thái Lan.

Cùng chủ đề về đường sắt cao tốc, khi một số đại biểu băn khoăn hỏi lí do phải làm đường sắt cao tốc, thì ông Nguyễn Sinh Hùng cho rằng “vì không nước nào có diện tích dài như Việt Nam?”. Vậy Australia thì sao, nơi mà bay từ bang phía Nam sang bang phía Tây tốn cả 4 giờ bay, tức còn dài gấp mấy lần Việt Nam ta. Nhưng Australia không làm đường sắt cao tốc. Do đó, lý giải của ông Phó Thủ tướng xem ra …

7- Trước băn khoăn của một số đại biểu khi đây là con đường sắt cao tốc “dài nhất thế giới”, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng giải thích, “dài nhưng làm từng đoạn, chả có mấy nước có chiều dài như nước ta đâu, các đồng chí ạ, đi lại từng đoạn thì ngắn, cộng lại thì dài”. (Báo VnEconomy)

8- Phát biểu trong đánh giá về đại lễ 1000 Thăng Long Hà Nội ngày 5/1/2011, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vui vẻ nói: “Dù ùn tắc, nhưng rất trật tự, rất lành mạnh, rất vui tươi”. Lần khác, theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, vào tối 10/10, mặc dù chịu cảnh tắc đường vào sân vận động Mỹ Đình song hàng vạn người dân đứng ngoài sân vẫn vui vẻ nói “Tôi ngồi trong xe nhìn ra cũng thấy yên tâm, thấy cuộc sống rất thanh bình”.

Nhiều người khi nghe câu này của ông liền tự hỏi: Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói đùa hay thật? ông có cả một đội quân để mở đường cho ông vào “thanh bình” mà.
Những tuyên bố trí tuệ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Khép lại thời làm Phó Thủ tướng với rất nhiều các phát ngôn để đời, bước vào vị trí mới, trọng trách lớn hơn đó là Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Sinh Hùng tiếp tục để lại dấu ấn với các tuyên bố “để đời” của ngài Chủ tịch Quốc hội khóa 13:

9- Ngày 7/8/2011, khi được báo chí hỏi, từ Phó thủ tướng sang làm Chủ tịch Quốc hội, sự đổi vai này đem lại cho ông những thuận lợi và khó khăn nào, ông có sợ khi điều hành Quốc hội bị nhầm vai không? Tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói một câu mà ít ai có thể hiểu nổi: “Xin nói thật là làm thủ trưởng thì nó khác, cho ai nói thì nói, không cho nói thì thôi, người ta nói mình nghe thì nghe mà không nghe thì quên”.

10- Ngày 11/04/2014, trong phiên họp Quốc hội về xử lý trách nhiệm liên quan đến đầu tư công ngày 11/4/2014, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đã gây một cơn “địa chấn” trong dư luận khi phát biểu: “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai!”. Cũng tại Hội nghị này ông Nguyễn Sinh Hùng còn nói: “Chủ tịch Quốc hội không phải là người đứng đầu Quốc hội”.

Tuyên bố này của ông Nguyễn Sinh Hùng đã làm bùng lên sự không hài lòng trong dân chúng. Quốc hội tức là dân, dân quyết… Dân nào quyết? Thật khó có lời lẽ nào bình luận về phát biểu này! Chủ tịch Quốc hội không phải là người đứng đầu Quốc hội? Vậy xin các nhà làm từ điển, các nhà làm Luật xem xét lại?

Chưa hết, với tư cách là người có trách nhiệm cao nhất trong Quốc hội, nhưng phát biểu của ông không chỉ cho thấy sự thiếu trách nhiệm mà còn thể hiện sự bao che cho cả cơ quan Quốc hội khi nói “Quốc hội sai thì chỉ nhận khuyết điểm chứ không thể kỷ luật”.

11- Và mới đây nhất, ngài Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phán: “Ăn hết rồi thì lấy đâu đầu tư”, tại phiên họp thường vụ Quốc hội ngày 9/10/2014, bàn về tình hình thu chi ngân sách năm 2014. Như chúng ta đã biết, sau lưng ngài có hàng loạt các tập đoàn kinh tế sân sau đang ngày đêm “ăn hết” của cải của đất nước, thì lấy đâu tiền để đầu tư cho nhân dân?

Trên đây chỉ là vài tổng kết chưa đầy đủ về những câu nói bất hủ của ông Nguyễn Sinh Hùng, vẫn còn rất nhiều phát ngôn để đời khác của ông Nguyễn Sinh Hùng cần phải được tập hợp lại, in thành sách để nghiên cứu, học tập… Rất có thể sẽ là đề tài thú vị của nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ trong tương lai gần.

(Sưu tầm trên internet)

: Chuyện vượt biển: “Bolinao 52”…

: Chuyện vượt biển: “Bolinao 52”…

Bolinao là tên một hòn đảo thuộc tỉnh Pangasinan, vùng Tây Bắc Phi Luật Tân. Theo thống kê chính thức, dân số Bolinao vào năm 2010 là 74,545 người, sống chủ yếu vào nghề đánh cá…

52 là số thuyền nhân sống sót đã đến được Bolinao trên một chiếc thuyền vuợt biển với 110 người, rời Việt Nam vào một đêm tháng 5/1988. Cuộc hành trình kéo dài một thời gian kỷ lục: 37 ngày lênh đênh trên biển với những cơn bão khốc liệt trên biển Đông. Ngoài những cơn bão, chiếc tầu đã bị hỏng máy nhiều lần và thả trôi trên biển.
Cuộc vượt biên tưởng chừng như đã gặp vận may khi họ đến gần một chiếc tầu Hải quân Hoa Kỳ đang trên đường thi hành nhiệm vụ đến Vùng Vịnh Ba Tư. Khi đó đã là ngày thứ 19 của cuộc hành trình đi tìm tự do. Thế nhưng, thuyền trưởng chiếc USS Dubuque quyết định chỉ tiếp tế lương thực cho các thuyền nhân chứ không cứu vớt họ vì lý do đang trên đường công tác.
Chiếc tầu tiếp tục lênh đênh trên biển… Đến khi lương thực và nước uống đã cạn kiệt, người ta phải tính đến việc “xẻ thịt những người đã chết trên tầu thay cho lương thực để cầm hơi”… Đó chính là một khía cạnh nhân bản đã thu hút nhiều ý kiến trái chiều: người ta bàn đến rất nhiều vấn đề bắt đầu bằng chữ “nhân”. Nhân tính? Nhân đạo? Nhân nghĩa? Và bên cạnh đó còn một câu hỏi về “lương tâm” của cả người trong cuộc lẫn người ngoài cuộc.
Cuối cùng, như một phép lạ, 52 trong số 110 thuyền nhân còn sống sót đã được ngư dân Phi Luật Tân đưa về đảo Bolinao. Họ ở lại trên đảo 1 tuần lễ trước khi được chuyển qua trại tỵ nạn. Rời Việt Nam năm 1988 và đến năm 1990 họ đến định cư tại Hoa Kỳ, nơi mà trước đó họ đã một lần bị Hải quân Hoa Kỳ từ chối.
Chuyện tóm tắt một cách đơn giản là vậy. Cũng từ câu chuyện này, đạo diễn Nguyễn Hữu Đức đã dựng lên phim tài liệu “Bolinao 52” dài 57 phút 24 giây [*]. Bộ phim đã được trình chiếu trên toàn Hoa Kỳ thông qua PBS.org, tham gia 15 liên hoan phim quốc tế và đoạt hai giải thưởng: Giải lựa chọn của khán giả trong Liên hoan Quốc tế phim Việt (2007) và Giải thưởng EMMY vùng Bắc California (2009).
Câu chuyện “Bolinao 52” được khởi đầu một cách rất tình cờ. Qua một buổi phát thanh trên radio bằng tiếng Việt tại Orange County, California, một thính giả biết tin đạo diễn Đức cần liên lạc với những thuyền nhân được ngư dân đảo Bolinao vớt. Cô cho biết anh cô là người đã bơi đến tầu USS Dubuque xin cứu giúp. Anh Đức gọi điện thoại cho ông nhưng người này từ chối nói chuyện. Sau 3 tháng kiên trì thuyết phục, người này cho một cái hẹn với điều kiện chỉ gặp nhau một lần duy nhất.
Người đàn ông dấu tên đã cho anh Đức một lối thoát: ông ta không nhớ gì nhiều nhưng có lẽ đạo diễn nên gặp em gái của ông trên chuyến tầu định mệnh ngày nào. Và cuốn phim đã có tia hy vọng được thực hiện khi nhân vật chính, chị Trịnh Thanh Tùng, đồng ý xuất hiện trong phim…
Chị Tùng xuất thân từ một gia đình, nói theo ngôn ngữ ngày nay, là “có nợ máu với nhân dân”! Sau 1975, chị và mẹ phải bươn chải để “thăm nuôi” những người thân: ba chị đi học tập cải tạo 5 năm và người anh lớn, với cấp bậc Trung tá Biệt Động Quân, đã sống 14 năm trong “trại cải tạo”… Họ chỉ còn một lối thoát duy nhất: rời khỏi Việt Nam trên chiếc tầu định mệnh xuất phát từ Bến Tre sau khi đã nhiều lần thử thách nhưng thất bại…
Đại gia đình chị Tùng trước năm 1975
Ngay từ những phút đầu phim, chị Tùng đã nói với đạo diễn Đức trong chuyến trở lại Bolinao:
“Chị đã nói với lòng… chị sẽ trở lại Bolinao trước khi chị đi đâu… suốt 17 năm nay chưa đi đâu hết… Điều chị muốn làm là làm một lễ cúng cho 58 người bạn đồng hành, họ đã đi chung chuyến tầu đó rất lâu, chị không biết tên hết, không nhớ mặt hết nhưng dầu sao nó vẫn ở trong lòng của chị… lễ cúng này sẽ đem lại cho họ, cho chị… bình an trong tâm hồn để sống…”
Người xem phim được thấy cảnh của hòn đảo Bolinao, 17 năm sau khi được những ngư dân vớt… và một số “hoa đăng” đã được thả trôi ra biển như những vòng hoa riêng tặng những người đã yên nghỉ trong lòng đại dương. Và rồi câu chuyện thuyền nhân mang tên “Bolinao 52” bắt đầu.
“Bolinao 52” trải qua những thử thách đầu tiên khi gặp bão, tài công quyết định tắt máy chờ cơn bão qua đi… Đến khi khởi động lại, máy tầu không nổ. Thuyền nhân một khi ra khơi chỉ bám víu vào những dấu hiệu của sự sống. Một vệt đen trên nền chân trời là hứa hẹn một hòn đảo, một chấm trên biển cả cũng có thể là tầu lớn, nột chấm đen trên bầu trời biết đâu là chiếc máy bay…
Chị Tùng kể lại vào ngày thứ 10 có một chiếc tầu buôn xuất hiện trong tầm mắt… Quần áo, giầy dép, can nhựa được đốt lên trong đêm tối với hy vọng chiếc thuyền sẽ được tầu lớn nhìn thấy.. Năm người con trai còn khỏe trên “Bolinao 52” quyết định sẽ bơi qua tầu để xin cứu vớt. Họ bám vào một mảnh ván với hy vọng đến được tầu buôn. Thế nhưng, chiếc tầu mang cờ Nhật từ từ rời xa họ và 5 thanh niên cũng không thấy quay về… Chị Tùng tin là mỗi con người đều có cái “số” của mình.
“Chết từ từ… Mỗi ngày mình đều thấy có người chết trên thuyền… Chị Năm ngồi kế tôi mượn chiếc áo mưa vì than lạnh… nhưng khi rờ thì thấy nóng hổi… cho mượn áo mưa chị vẫn thấy lạnh. Chồng chị Năm đã chết mấy hôm trước và hai đứa con trai của chị thì đang ngủ… Tôi ôm chị Năm rồi mệt quá cũng thiếp đi, đến khi trời gần sáng chị đã chết trong tay tôi từ hồi nào…!”
Những đứa bé trước khi chết luôn miệng kêu gào thức ăn, nước uống. Có hai anh em nọ, người em thì cứ đòi ăn nên cầm lấy tay anh mà cắn, anh đau quá rút tay ra em lại la lên… “cho em ăn với”… đêm đó đứa em đã chết vì đói… Ít hôm sau, người anh cũng đi theo em… Mọi người chỉ cầu xin… một phép lạ!
Chị Trịnh Thanh Tùng trở lại Bolinao sau 17 năm
Đến đây phim chuyển qua trường hợp của bản thân đạo diễn Nguyễn Hữu Đức cũng là một thuyền nhân. Anh tỵ nạn năm 1980 và may mắn khi được một chiếc tầu của Hải quân Mỹ vớt, khác với số phận bi thảm của những người trên tầu “Bolinao 52”. Anh Đức đã có trích đoạn cảnh sung sướng của những người được tầu USS Long Beach vớt trên biển, hình như để người xem đối chiếu với số phận hẩm hiu của “Bolinao 52”.
Cậu bé Nguyễn Hữu Đức (áo đen) và gia đình tại trại tỵ nạn năm 1980
Anh Đức kể lại trong một đoạn phim chiếc thuyền của anh được tầu Hải quân Mỹ cứu tựa như “cuộc hành trình đi thẳng từ địa ngục đến thiên đàng”: 
 “Chỉ mới ra lên đênh trên biển có 4 ngày, chúng tôi đã được vớt… trong khi nhiều người khác lại gặp một kết cuộc bi thảm… Gia đình tôi ra đi vào năm 1980, thuyền của chúng tôi là một trường hợp may mắn… “Ra đi là chuyện bất ngờ / Dù mưa dù nắng thân mình chẳng hay…”
Bản thân những người trên chiếc thuyền của anh Đức có thể tự hào là mình may mắn nhưng những chiếc thuyền khác, những người khác bị cuốn xuống lòng đại dương hay thậm chí còn bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp. Thuyền nhân Việt Nam có nhiều chuyện để kể lại nhưng cũng có nhiều chuyện quá bi thảm không thể nào nói ra và người ta thường yên lặng, dấu kín trong lòng.
Trẻ em thuyền nhân va cui đùùng thủy thủ 
trên chiếc USS Long Beach
Trở lại chiếc “Bolinao 52”. Đến ngày thứ 19, phép lạ đã đến với sự xuất hiện của một chiến hạm Hoa Kỳ. Nguyễn Hữu Đức đã may mắn tìm thêm được một nhân chứng vô cùng quý giá: William E. Cloonan, một hạ sĩ quan Hải quân về hưu. Trả lời một câu hỏi trong cuộc phỏng vấn của đạo diễn, Cloonan cho biết:
“Điều khuyến khích tôi tham gia bộ phim này là muốn cho thế giới biết những sự thật về người tỵ nạn… các phương tiện truyền thông đã nói rất nhiều về các thuyền nhân sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975… Những gì truyền thông viết chỉ đúng một phần và phần còn lại được phóng đại đến độ không có thật…
“Anh hỏi tôi có muốn gặp lại một trong những người sống sót trên chuyến tầu đó không, câu trả lời của tôi là có, tôi rất muốn được gặp… Tôi sẽ nói với họ là tôi rất tiếc dù bản thân tôi không phải là cấp có thẩm quyền để thay đổi quyết định bỏ rơi họ… Dù sao đi nữa tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi với họ…”
William E. Cloonan và đạo diễn trẻ Nguyễn Hữu Đức

Cloonan phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ 26 năm,nhiều nhất tại khu vực biển Nhật Bản và Việt Nam. Ông có mặt trên một chiếc tầu đã từng vớt người tỵ nạn. Năm 1978 tầu ông gặp chiếc thuyền có 478 người lênh đênh trên biển. Sau khi neo tại khu vực 24 giờ chờ liên lạc, Bộ Ngoại giao và Hải quân đã ra lệnh vớt họ… Ông kể lại:
“Điều đó khiến tôi tự hào là một thủy thủ Hoa Kỳ… tự hào là người Mỹ! Chúng tôi đã vớt họ… hỗ trợ y tế và đưa họ đến tận cổng nhập cảnh để vào Hoa Kỳ… Đó là nhiệm vụ của người thủy thủ và đó cũng là luật pháp quốc tế: Con người trên biển cả, nếu có điều gì đó xảy ra cho họ thì đạo đức và lương tâm sẽ ràng buộc họ với chúng tôi…”.
Thủy thủ tầu Mỹ cứu người tỵ nạn trên biển
“Bolinao 52” không gặp may mắn như những thuyền nhân trước họ. Vào ngày 10/6/1988, chiếc thuyền đã gặp chiến hạm USS Dubuque, trên tầu có nhân chứng William E. Cloonan, cấp bậc Trung sĩ (Chief Petty Officer), kể lại diễn tiến khi chiến hạm gặp chiếc thuyền của người tỵ nạn.
Theo lời Cloonan, hạm trưởng Dubuque, Alexander Balian, chỉ cung cấp cho thuyền nhân bản đồ, nước uống và lương thực… không thể cứu vớt họ vì USS Dubuque đang trên đường đến Vịnh Ba Tư trong hành trình tiếp tế quân dụng đến Iran.
Một lý do nữa được bổ sung khi hạm trưởng USS Dubuque phải ra tòa án binh vì hành vi “không vớt người gặp hoạn nạn trên biển”: có sự trục trặc trong liên lạc với người trên thuyền với chiến hạm. Theo Hạm trưởng Alexander Balian, ông chỉ biết trên thuyền có 60 người nên việc tiếp tế không đầy đủ và kết quả là sau đó có đến 30 thuyền nhân đã chết trên thuyền dẫn đến cảnh phải xẻ thịt người chết làm lương thực cho người sống…
Tòa án quân sự Hoa Kỳ xét xừ vụ chiến hạm USS Dubuque bỏ rơi chiếc thuyền tỵ nạn “Bolinao 52” vào tháng 11/1988. Từ trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân, 52 người sống sót trên thuyền đã ký một đơn kiến nghị ân xá cho thuyền trưởng Alexander Balian.
Alexander Balian bị tước quyền chỉ huy và phải nhận khiển trách nặng nề vào tháng 2/1989. Đây cũng là một án lệ về đạo đức, làm gương cho những thuyền trưởng trong Hải quân Hoa Kỳ. Sau khi được hạ thủy ngày 1/9/1967, USS Dubuque chấm dứt hoạt động ngày 30/6/2011.
USS Dubuque (LPD-8)
“Bolinao 52” chính là câu chuyện thương tâm mà không ai đã từng trải qua muốn nhắc lại những điều bi thảm… Người mẹ nhường phần nước cho con và dặn khi nào con muốn tiểu tiện bà sẽ uống lại phần nước tiểu… Báo chí còn thuật lại có những vụ giết lẫn nhau trên thuyền vì thực phẩm và nước uống. Chị Tùng khẳng định đó không phải là sự thật.
Nhưng lại có một sự thật vô cùng tàn nhẫn đã xảy ra trên thuyền. Những người sống sót phải xẻ thịt những người vừa chết để có đủ sức lực tát nước ra khỏi thuyền. Những người không dám ăn thịt đồng loại sẽ chết và chính họ là nguồn cung cấp thực phẩm cho những người còn sống!
Chị Tùng đã không dám ăn nhưng sau cái tát trời giáng của người anh trai… chị đã phải nuốt. Sau này, có người hỏi cảm tưởng khi phải nuốt thịt người, chị kể lại trong nước mắt… khi đó đâu còn cảm giác, chị chỉ biết nuốt!
Trung sĩ Cloonan khi nghe câu chuyện ăn thịt người trên thuyền, ông tự dằn vặt chính bản thân mình đã không cứu giúp họ dù quyền quyết định nằm trong tay hạm trưởng. “Chúng tôi đã có quyết định sai lầm… Tới giờ này, tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi trong việc không cứu vớt họ và tôi chỉ muốn nói lời xin lỗi với họ…”
Đạo diễn Nguyễn Hữu Đức phải mất 2 năm đi tìm những người có liên quan thông qua các phương tiện truyền thanh và truyền hình tại Mỹ. Anh tiết lộ qua một cuộc phỏng vấn: “Bao nhiêu năm nay tôi vẫn thường tự hỏi tại sao một chiếc tầu của Hải quân Mỹ lại từ chối vớt những người tỵ nạn và đó cũng là một trong những lý do khiến tôi thực hiện bộ phim mày…”
Ở phần cuối cuốn phim có thể coi là một “happy ending” khi hai nhân chứng của “Bolinao 52” – Thuyền nhân Trịnh Thanh Tùng và cựu Trung sĩ William E. Cloonan – gặp nhau sau biến cố của 17 năm về trước. Trong buổi hội ngộ còn có bé Lâm ngày nào, nay đã gia nhập Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (US Marine Corps).
Trong vòng tay thông cảm, chị Tùng và thủy thủ Cloonan đã ôm lấy nhau… Người xem có cảm tưởng “Bolinao 52” đã đi đến đoạn kết cuộc, qua đó những người trong cuộc thấy như vơi đi chuyện của 17 năm về trước… Chuyện thật cảm động nhưng kết cuộc có hậu!
Nguyễn Ngọc Chính

Một số nhận xét từ cách mạng 1989

Một số nhận xét từ cách mạng 1989

 Nguyễn Đình Cống

Bài dưới đây là của GS Nguyễn Đình Cống – một cộng tác viên quen biết – trình bày những suy nghĩ về những biến động lịch sử liên quan đến sự chuyển đổi thể chế xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từ đó liên hệ đến tình hình đất nước. Muốn hay không, thì bài học của sự tan rã hệ thống xã hội chủ nghĩa vẫn cần được phân tích thấu đáo, từ đó định hướng chiến lược cho sự phát triển của Việt Nam. Trên suy nghĩ đó, Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết và mời gọi bạn đọc cùng suy nghĩ với tác giả. Quan điểm và phong cách trong bài là thuộc người viết.

Bauxite Việt Nam

I- GIỚI THIỆU QUA

Tên gọi “Cách mạng 1989” dùng để chỉ sự thay đổi chế độ chính trị đồng loạt ở sáu nước Đông Âu, từ chỗ toàn trị độc đảng cộng sản thành nhà nước dân chủ đa đảng.

Hồi năm 1989 tôi đang làm chuyên gia giáo dục ở Châu Phi. Vào kỳ nghỉ hè chúng tôi sang các nước Đông Âu chơi và biết một ít tình hình thông qua chuyện trò với các bạn người Việt sinh sống tại đó. Tuy vậy hiểu biết về Cách mạng 1989 có được là do đọc tài liệu nước ngoài và đặc biệt là quyển Revolution 1989 – The Fall of the Soviet Empire của Victor Sebestyen, xuất bản tại New York, năm 2009 (bản dịch tiếng Việt của Phan Trinh).

Một số nước Đông Âu, trong gần nửa thế kỷ xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự toàn trị của cộng sản và sự khống chế của Liên Xô, bỗng cùng nhau cải cách triệt để trong vài tháng vào năm 1989. Quá trình diễn biến và nguyên nhân gần ở mỗi nước có khác nhau, song nguyên nhân gốc có một số điểm chung:

1- Mâu thuẫn gay gắt giữa chính quyền cộng sản và nhân dân. Đảng Cộng sản dùng lối toàn trị, áp đặt xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, vô sản chuyên chính, mất dân chủ, dùng công an đàn áp người bất đồng chính kiến, tuyên truyền dối trá. Dân mất lòng tin vào Đảng, chán ghét chế độ, đoàn kết lại đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền.

2- Đảng tạo thành một giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, các lãnh đạo cấp cao của Đảng trở thành vua chúa kiểu mới, thành bọn Trung ương sản đỏ, nhóm lợi ích, trong lúc nhiều bộ phận nhân dân sống thiếu thốn, cực khổ, bị áp bức bóc lột.

3- Nền kinh tế phát triển chậm chạp, thua kém các nước phương Tây, năng suất lao động thấp, chính phủ vay nợ nước ngoài rất nhiều. Vay nợ để kiến thiết đất nước thì ít mà chủ yếu để tham nhũng. Muốn tham nhũng lại tự tạo ra lãng phí. Vay nợ mới để trả nợ cũ và như vậy nợ càng chồng chất. Sự cai trị tàn bạo và ngu dân của Cộng sản làm suy đồi đạo đức xã hội.

4- Do phát triển của truyền thông, của Internet mà chính quyền không thể bưng bít thông tin để tiếp tục lừa dối nhân dân.

5- Do Liên Xô bị suy yếu nhiều, không còn đủ sức và không muốn can thiệp, để cho các nước tự lo liệu lấy (trong đó có vai trò của Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã thấy rõ sự dối trá của chủ nghĩa cộng sản, đề ra phong trào cải cách).

II- TÓM TẮT VÀI DIỄN BIẾN

Phong trào bắt đầu từ Ba Lan. Sau đây tóm tắt vài sự kiện chính tại mỗi nước.

1- Ba Lan. Cộng sản lấy tên Đảng Công nhân Thống nhất. Tổng Bí thư: Jaruzelski (1923-2014).

Năm 1970 công nhân tại Gdansk biểu tình phản đối nhà nước tăng giá nhu yếu phẩm, bị đàn áp, 44 người bị bắn chết. Năm 1978 nữ công nhân, anh hùng lao động Anna vận động thành lập công đoàn độc lập, bị vu cho tội ăn cắp và bị sa thải. Khắp nơi dấy lên phong trào ủng hộ Anna. 1980 Walesa vận động thành lập Công đoàn Đoàn kết, tổ chức đình công, hàng ngàn người bị bắt, bị đánh đập, tra tấn. Walesa bị bắt nhiều lần. Năm 1983 Giáo hoàng thăm Ba Lan, có tác dụng thức tỉnh và đoàn kết nhân dân quan tâm đến dân chủ. Trí thức và giáo hội ủng hộ Công đoàn Đoàn kết. Trong vòng 5 năm có trên 50% đảng viên bỏ đảng. Tháng 11/ 1987 Jaruzelski cho trưng cầu dân ý về đường lối xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, cộng sản chỉ nhận được sự ủng hộ của khoảng 40% cử tri. Ngày 1/5/1988 đình công toàn quốc. Chính quyền đàm phán với Công đoàn Đoàn kết, chấp nhận bầu cử tự do vào ngày 4 tháng 6/ 1989. Kết quả bầu cử cộng sản chỉ được dưới 5%, Công đoàn Đoàn kết thắng lớn, lập chính phủ. Ngày 27 tháng 10 / 1990 Đảng Công nhân Thống nhất họp, tuyên bố giải thể. Một số đảng viên đứng ra thành lập đảng mới, lấy tên Đảng Xã hội Dân chủ.

2- Hungari. Cộng sản lấy tên Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư: Janos Kadar (1912- 1989).

Năm 1956 Nagy làm thủ Trung ươngớng. Nhân dân nổi dậy chống sự chiếm đóng của Liên Xô. Quân đội LX kéo vào đàn áp, trên 2500 người bị giết, Nagy bị treo cổ, trên 20 vạn bỏ chạy ra nước ngoài. Trong hơn 30 năm tình hình xã hội và kinh tế trở nên tồi tệ. Năm 1986 Kadar định nhận tiền của Áo để xây đập trên sông Danube, cung cấp điện cho Áo. Đập sẽ phá hoại môi trường của Hung. Trí thức và công nhân liên kết chống lại. Năm 1988 Kadar (76 tuổi) đã bị mất uy tín, được thuyết phục từ chức nhưng không chịu. Ngày 20/5/1988 Trung ương Đảng họp, ép Kadar từ chức và đưa Grosz lên thay. Ngày 28/6/1988 cuộc biểu tình lớn ở thủ đô chào mừng sự kiện lật đổ Kadar. Ngày 15/3/1989 biểu tình khổng lồ kỷ niệm Cách mạng 1848 chống đế quốc Áo. Tháng 6/ 1989 có trên 30 vạn người dự lễ cải táng Nagy. Trong buổi lễ, Viktor Orban, một thanh niên 26 tuổi đọc diễn văn đả kích chế độ cộng sản độc tài. Ngày 6/7/89 Kadar chết. Ngày 10/9/89, do áp lực của dân tị nạn, phá bỏ hàng rào ngăn giữa Hung và Áo (bức màn sắt), đi lại tự do từ Hung sang Áo để đến Tây Đức. Bị áp lực của nhân dân ngày 23/10/89 Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa họp tuyên bố giải tán, lập đảng mới lấy tên Đảng Xã hội, đổi tên nước.

3- Đông Đức. Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa (CSED). Tổng Bí thư: Honecker (1912-1994).

Từ 1949 đến 1961 có trên 3 triệu người trốn sang Tây Đức. Năm 1961 xây bức tường Berlin, sau này có hàng trăm người bị bắn chết khi trèo qua tường. Đông Đức là nước có hệ thống mật vụ theo dõi dân chúng rất sát sao, do trùm công an Mielke chỉ huy. Ngày 5/7/ 1989 bầu cử Hội đồng nhân dân, bị phát hiện gian lận, các tổ chức dân sự yêu cầu điều tra. Sau khi Hungari phá bức màn sắt đã có hàng ngàn người Đông Đức qua Hung, Áo đến Tây Đức. Ngày 11/9/89 hội “Tân diễn đàn” thành lập, chỉ vài ngày đã có trên 150 ngàn người ký tên đòi đối thoại với chế độ. Ngày 18/9/89 có trên 15 ngàn người biểu tình, bị đàn áp, bị bắt trên 100. Mielke đề nghị trấn áp mạnh biểu tình bằng vũ lực nhưng bị một số lãnh đạo đảng không tán thành. Ngày 7/10/89 mít tinh kỷ niệm Quốc khánh, Gorbachev (được dân Đông Đức gọi thân mật là Gorby) đứng trên lễ đài. Khi đoàn diễu hành của thanh niên đi qua, mọi người bỗng hô vang: “Gorby, cứu chúng tôi, Gorby hãy cứu chúng tôi”. Chỉ một giờ sau, biểu tình nổ ra hàng loạt tại các thành phố lớn, công an bắt đi hàng ngàn người. Ngày 15/10 nhân dân thành phố Leipzig chuẩn bị biểu tình. Quân đội được lệnh trấn áp. Binh sĩ ôm nhau khóc vì phải bắn vào dân. Chủ tịch Hội Nhà văn Herman Kant gửi thư kêu gọi lãnh đạo Đảng kiểm điểm và đối thoại với dân. Lãnh đạo Đảng chia rẽ. Ngày 17/10 Trung ương Đảng họp, phế truất Honecker, đưa Krenz lên thay. Ngày 4/11 biểu tình 70 vạn người tại Berlin. Ngày 9/11 chính phủ ban bố cho dân tự do đi Tây Đức. Chỉ trong một đêm hàng vạn dân ùa đến bức tường Berlin đòi mở cửa, lính canh ban đầu không mở nhưng sau phải mở. Bức tường bị phá bỏ. Ngày 18/3/1990 bầu cử tự do, Đảng CSED bị mất tín nhiệm. Sau khi thống nhất những người trước đây làm việc tại Đông Đức vẫn được trọng dụng và được trả lương hưu.

4- Bungari. Đảng Cộng sản. Tổng bí thư: Todor Zhivkov (1911- 1998).

Tại Bungari có nhiều người gốc Thổ Nhĩ Kỳ như là một dân tộc thiểu số, họ bị đối xử bất bình đẳng. Tháng 5/ 1989 có trên 15 ngàn người Thổ biểu tình, bị đàn áp, 60 người chết, hàng trăm người bị thương, hàng ngàn bị bắt. Ngày 20/5 chính phủ trục xuất 300 ngàn người Thổ. Có 250 nhân vật nổi tiếng ký kiến nghị phản đối. Zhivkov chỉ thị cho cấp dưới xin lỗi và đổ tội cho an ninh làm quá. Uy tín của Đảng và Zhivkov xuống quá thấp. Để cứu vãn, một nhóm bốn người (Thủ tướng và ba Bộ trưởng) chủ trương lật đổ Zhivkov. Ngày 24/10 Bộ trưởng Ngoại giao từ chức, gửi thư công khai tố cáo Zhivkov độc quyền, tham nhũng. Zhivkov gặp bạn thân là Bộ trưởng Quốc phòng Dzhurov bàn cách đối phó, nhưng Dzhurov lại khuyên Zhivkov nên từ chức. Zhivkov âm mưu đưa con trai (Vladimir, 40 tuổi) lên thay thế. Đêm 8/11 Zhivkov tập hợp lực lượng ủng hộ nhưng vô vọng. Ngày 9/11 lãnh đạo Đảng họp, Zhivkov buộc phải từ chức, Mladenov lên thay nhưng vẫn cố giữ sự toàn trị của Đảng. Nhân dân tiếp tục biểu tình rầm rộ, thành lập Liên minh các lực lượng dân chủ. Mladenov phải đàm phán và chấp nhận tổ chức bầu cử tự do vào đầu năm 1990. Đảng Cộng sản họp, đổi tên thành Đảng Xã hội, chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa.

5- Tiệp Khắc. Đảng Cộng sản. Tổng Bí thư: ban đầu là Husak, sau là Jakes.

Năm 1967 và đầu 1968 một số người định làm cải cách dân chủ (Mùa xuân 68). Ngày 20/8/1968 quân đội Liên Xô dùng xe tăng đàn áp, trên năm ngàn bị chết và bị thương, trên 70 ngàn đảng viên bị khai trừ. Ngày 16/1/1969 sinh viên Jan Palach tự thiêu phản đối Liên Xô. Ngày 15/6/1976 buổi chơi nhạc của nhóm “Người nhựa vũ trụ” bị đàn áp (vì không xin phép). Tháng 1/ 1977 Havel, một trí thức lớn, thành lập “Hiến chương 77” đấu tranh bảo vệ nhân quyền. Havel bị bỏ tù bốn năm rưỡi. Ngày 8/12/1987 biểu tình lớn, Orta, đại diện nhóm Hiến chương 77 phát biểu về nhân quyền, bị bắt cùng với vài chục người. Ngày 17/12/87 ban lãnh đạo Đảng họp, cho Husak thôi Tổng Bí thư, lên làm Chủ tịch nước, đưa Jakes lên. Thay người nhưng vẫn giữ đường lối cũ. Ngày 15 đến 21 tháng 1/ 1989 sinh viên liên tục mít tinh kỷ niệm việc Palach tự thiêu, bị đàn áp. Ngày 15 có 90 người bị bắt. Ngày 16 biểu tình rầm rộ, 5000 người bị bắt, trong đó có Havel. 4000 người ký tên đòi thả Havel. Ngày 17/11 thanh niên diễu hành tưởng niệm 50 chiến sĩ Tiệp bị phát xít bắn chết trong một cuộc mít tinh năm 1939. Hơn 50 ngàn người biểu tình, hô khẩu hiệu: “Hãy nhớ sự kiện 68, đả đảo cộng sản”, bị đàn áp, 560 người bị thương, 120 bị bắt. Ngày 20/11 có trên 300 ngàn người biểu tình tại thủ đô. Nội bộ lãnh đạo Đảng chia rẽ, một số trong đó có Tổng Bí thư Jakes đòi dùng lực lượng vũ trang đán áp thẳng tay, một số khác đòi thương lượng. Ngày 22/11 Bộ trưởng Quốc phòng tuyên bố quân đội không chống lại nhân dân. Ngày 27/11 biểu tình 50 vạn người, tổng đình công. Ngày 28/11 do áp lực của nhân dân và quân đội toàn bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản từ chức. Ngày 7/12 lập chính quyền mới, Havel được cử dứng đầu chính phủ. Năm 1993 Đảng Cộng sản bị coi là tội phạm trong lịch sử.

  1. Rumani. Đảng Cộng sản. Tổng Bí thư: Ceausescu (1918- 1989).

Ceasescu tự xưng là lãnh tụ anh minh và vĩ đại, thực sự là độc tài và gia đình trị nổi tiếng, sống như đế vương. Rumani có mạng lưới công an và mật vụ dày đặc, gieo rắc sợ hãi trong dân cư. Không hề có tự do báo chí và ngôn luận. Năm 1977 thợ mỏ đòi tăng lương, lãnh đạo hứa giải quyết nhưng sau đó trở mặt, bắt và thủ tiêu những người cầm đầu. Ceausescu thực hiện “tổ chức lại nền văn minh nông nghiệp” bằng cách định san bằng 8000 trong số 13000 làng xã để thành lập các trung tâm công nông nghiệp khỏng lồ, lại bắt san bằng khu phố cổ để xây cung điện nguy nga quá tốn kém. Dân chúng kéo nhau đi tị nạn. Ngày 2/3/1989 họa sĩ Babes tự thiêu để phản đối Ceausescu. Có sáu cán bộ cao cấp, lão thành gửi thư cho Đảng phê phán Ceausescu. Tháng 11/ 1989 Ceausescu được đại hội Đảng bầu lại làm Tổng Bí thư, trong lễ nhậm chức ông đã đọc diễn văn ba tiếng, được vỗ tay hoan hô 34 lần, lần nào cũng kéo dài. Tại thành phố Timisoara, một đêm cuối tháng 11 công an, mật vụ xông vào nhà đánh đập mục sư Tokes, một nhà hoạt động dân chủ. Giáo dân được tin kéo đến cứu Tokes và biến thành biểu tình. Ngày 17/12 công an đàn áp, bắt người. Biểu tình phát triển mạnh hơn, kiểm soát trung tâm thành phố Timisoara, Ceausescu ra lệnh lực lượng quân đội dùng xe tăng đàn áp, các lực lượng vũ trang phải bắn vào biểu tình không thương tiếc. Trong nước đưa tin 60 người bị giết, hàng trăm bị thương, đài Châu Âu tự do đưa tin trên 4000 người chết. Ngày 20/12 Ceausescu đi thăm Iran về, cho tổ chức mit tin chào mừng. Ban đầu quần chúng vỗ tay hoan hô nhưng sau đó có tiếng hô: TI-MI-SOA-RA, ban đầu nhỏ rồi to dần, vang rền. Rồi quần chúng hô to: “Đả đảo quân giết người. Ceausescu, dân là chủ”. Ngay sau đó biểu tình tỏa ra nhiều hướng. Vào 6 giờ tối công an xả súng vào biểu tình. Ngày 22/12 Ceausescu cách chức Bộ trưởng Quốc phòng Milea vì ngăn không cho binh lính bắn vào dân và ra lệnh giết ông. Trung ương lệnh các binh chủng đứng về phía biểu tình, đem quân bao vây trụ sở Đảng. Ceausescu cùng vợ lên trực thăng bỏ trốn, bị quân đội bắt lại. Một tòa án quân sự được thành lập, xét xử tội trạng, kết án tử hình. Ceausescu bị bắn ngay sau đó.

Ghi chú: Viết đoạn này tôi có tham khảo bài “Suy nghĩ về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu” của Hà Tuấn Trung.

III. MỘT SỐ NHẬN XÉT

1- Các cuộc cách mạng đều bắt đầu bằng biểu tình hòa bình, tuy vậy không tránh khỏi đổ máu. Sự đàn áp của cộng sản là khó tránh và chỉ chứng tỏ thế yếu, tuy vậy khi dân đã giác ngộ, thấy rõ bản chất độc ác và hèn yếu của cộng sản thì sự đàn áp không làm số đông run sợ mà biểu tình càng đông hơn, dân càng quyết tâm hơn. Trong lực lượng biểu tình thì vai trò của thanh niên, của sinh viên và công nhân ở các thành phố là rất quan trọng.

2- Cộng sản dựa vào lực lượng vũ trang, ban đầu có một số vì bị mua chuộc, bị lừa bịp hoặc sợ hãi mà tuân lệnh để đàn áp dân, nhưng rồi họ nhận ra sự thối nát của cộng sản, sự chính nghĩa của nhân dân nên quân đội ủng hộ dân, công an quăng súng bỏ chạy.

3- Khi nhân dân nổi lên thì trong lãnh đạo cộng sản sẽ có phân hóa, bên cạnh một số cố níu giữ quyền lực đến phút cuối và sẵn sàng đàn áp thì cũng có nhiều người kịp thời thấy được sự chính nghĩa của nhân dân, từ bỏ cộng sản, đứng về phía nhân dân. Sự đấu tranh trong nội bộ của những người đứng đầu chính quyền có tác dụng thúc đẩy quá trình sụp đổ của cộng sản.

4- Chế độ cộng sản vốn tàn bạo và dối trá, ban đầu dân vừa bị lừa vừa sợ nên chịu khuất phục. Đến khi dân đã có giác ngộ, đoàn kết lại thì trở thành lực lượng mạnh, đủ sức loại bỏ chế độ cộng sản. Lãnh đạo cộng sản nếu biết thời đã hết, biết đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên thì còn giữ được một chút gì đó, còn nếu cứ níu giữ sự độc tài đến cuối thì khó tránh khỏi kết thúc bi thảm như Ceausescu.

IV- NGHĨ GÌ VỀ VIỆT NAM

Chủ nghĩa Cộng sản vào được Việt Nam, sống bám và phát triển được là nhờ lòng yêu nước của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng rồi lòng yêu nước đã bị lợi dụng. Cộng sản Việt Nam bị lệ thuộc vào Đảng Cộng sản Trung quốc, một tổ chức rất tàn bạo, rất độc ác, rất nham hiểm. Cộng sản Việt Nam nhờ đánh thắng vài cuộc chiến tranh, tự phong là “lương tâm của thời đại”, tự cho là “vô cùng sáng suốt và quang vinh” để lừa bịp nhân dân. Tháng 10/1989, Nguyễn Văn Linh bàn với Gorbachev kế hoạch Cộng sản Việt Nam kết hợp với Liên Xô ngăn cản cuộc cải cách của các nước Đông Âu, nhằm cứu phe xã hội chủ nghĩa. Khi Gorbachev không tán thành thì ông Linh lại tôn Đảng Cộng sản Trung Quốc lên thành lãnh đạo của phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1969 Hồ Chí Minh cũng muốn dùng Đảng Cộng sản Việt Nam để hàn gắn bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế (toàn chuyện buồn cười vì ảo tưởng). So với các đảng cộng sản ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nguy hiểm hơn, tàn bạo hơn. Ngoài việc học được các thủ đoạn của cộng sản Đông Đức và Rumani trong tổ chức mật vụ, cộng sản Việt Nam còn học theo cộng sản Trung Quốc nên có nhiều mưu mẹo thâm độc hơn, trắng trợn hơn trong việc đàn áp phong trào dân chủ và tuyên truyền lừa dối nhân dân. Đa số dân Việt Nam đã quen bị nô lệ, quen bị áp bức nên dễ bị cộng sản lừa dối, rất sợ Đảng và chính quyền, rất dũng cảm trong chống ngoại xâm nhưng rất e ngại trong đấu tranh cho tự do, dân chủ.

Tuy Việt Nam và Đông Âu có tình hình khác nhau, nhưng cùng chịu cảnh đọa đày của cộng sản. Chế độ cộng sản là tai họa của nhân loại, thế nào cũng bị loại bỏ hoàn toàn. Các nước Đông Âu và Liên Xô đã đi trước. Chế độ cộng sản chỉ còn lại tại vài nước. Rồi nhân dân các nước đó sẽ vùng lên để chôn vùi nó lần cuối cùng. Riêng tại Việt Nam sự chia rẽ, đấu đá trong nội bộ chóp bu của Đảng để tranh giành quyền lực tại Đại hội 12 sắp tới sẽ làm Đảng suy yếu trầm trọng, sẽ tạo cho nhân dân thấy rõ hơn sự thối nát không thể nào che giấu, tạo cơ hội cho các tổ chức dân chủ liên kết với những người tiến bộ trong Đảng, tạo thành lực lượng hùng hậu của nhân dân đứng lên tiến hành cải cách thể chế, loại bỏ chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đời sống của dân tộc, có được như thế mới mong đưa dân tộc thoát khỏi sự nguy hiểm là thời kỳ Bắc thuộc mới.

  1. N.Đ. C.

Nhân vật của năm 2015: lưu manh đỏ

Nhân vật của năm 2015: lưu manh đỏ

Trương Duy Nhất

26-12-2015

H1Năm 2015 nổi lên hàng loạt vụ hành hung, trấn áp thô bạo các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động dân chủ. Tăng cả về số vụ lẫn độ tàn độc, dã man, và tăng cả về quân số hùng hậu của lực lượng “lưu manh đỏ” này.

Nếu trên mạng là cuộc tấn công bôi nhọ sặc màu tục tĩu, vô học của đội quân “dư luận viên”, thì ngoài xã hội là những cuộc tấn công đậm chất côn đồ, lưu manh kiểu xã hội đen nhằm vào các blogger, nhà báo độc lập, luật sư và các nhà hoạt động dân chủ.

Từ vụ đánh đập dã man Nguyễn Chí Tuyến đến cuộc trấn áp anh em Trịnh Bá Tư- Trịnh Bá Phương và bà con Dương Nội khi vào trại giam số 6 đón anh Trịnh Bá Khiêm mãn hạn tù; đến cuộc hành hung các cựu tù Chu Mạnh Sơn, Trương Minh Tam… trên đường đi đón bạn tù Trần Minh Nhật; đến các vụ hành hung tàn bạo chị Trần Thị Nga; đến các cuộc ném mắm tôm và hành hung sưng đầu bầm ngực anh Nguyễn Văn Thạnh; đến các cuộc quấy phá khủng bố Nguyễn Lân Thắng của nhóm “áo đỏ phản ứng nhanh” Hà Nội; đến cú tạt a xít lên đầu anh Trương Dũng; đến cuộc hành hung luật sư Nguyễn Văn Đài và cuộc tấn công mang tên “bụi Chương Mỹ” nhắm vào các luật sư Trần Thu Nam, Lê Luân; đến cuộc trấn áp đẫm máu cựu binh Trần Bang trong cuộc biểu tình ở Sài Gòn để phản đối chuyến thăm của Tập Cận Bình…

Dư luận đặt dấu hỏi về “vai trò chỉ huy” của lực lượng an ninh đứng sau đội quân trấn áp này. Thậm chí nhiều vụ, người ta nghi ngờ đội quân trấn áp lưu manh đó chính là… an ninh mặc thường phục. Tuy nhiên, về phía cơ quan an ninh, họ luôn phản bác và cho rằng đấy là lũ… lưu manh, côn đồ!

Anh Quốc, một nhà hoạt động dân chủ trẻ tuổi ngụ tại Lăng Cô, Thừa Thiên- Huế (người cũng từng bị nhiều trận trấn áp hành hung dạng này) trong một lần tình cờ tiếp tôi cùng nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Chu Hảo nhận định: “Bọn đó không phải lưu manh côn đồ đâu. Lưu manh côn đồ họ có tâm hơn”.

Chưa thể xác thực được họ là… lực lượng nào. Nhưng điều xác thực được là họ rất lưu manh, rất côn đồ, rất mất dạy, rất tàn ác. Và đặc biệt: họ đều xưng danh “yêu nước, bảo vệ đảng và chế độ” khi ra tay hành hung trấn áp các nhà hoạt động dân chủ.

Vì thế tôi gọi họ là đám “lưu manh đỏ”. Và chọn họ, lực lượng “lưu manh đỏ” là nhân vật của năm. Như một chỉ báo mai mỉa cho thực trạng xã hội của năm 2015 vừa qua.

________

Lời thêm:

Như các bình chọn thường niên khác trên Một Góc Nhìn Khác, “Nhân vật của năm” cũng theo tiêu chí ấn tượng (cả nghĩa cộng hoặc trừ), miễn là nó thật sự nổi bật, tác động thật sự, gây những cơn sóng xã hội thật sự. Ưu tiên cho nghĩa cộng. Nhưng khi phía cộng không thật đủ mạnh, thì đành phải nhường ghế cho phía trừ.

Nguyễn Bá Thanh và sự ra đi hồi đầu năm của ông thật ấn tượng (ấn tượng theo đúng nghĩa cộng), nhưng không đủ để đưa ông thành nhân vật của năm.

Cấn Thị Thêu bất khuất, người tù quả cảm, nguồn lửa của phong trào nông dân Dương Nội. Như một hiện tượng. Nhưng hiện tượng Cấn Thị Thêu theo tôi, vẫn chưa đủ ngưỡng để bùng cháy thành một mẫu hình nhân vật của năm theo đúng nghĩa cộng mà tôi hằng mong đợi.

Ở nghĩa trừ. Con ruồi Tân Hiệp Phát dậy sóng đấy, nhưng xếp cùng để cân đong với hiện tượng “lưu manh đỏ” thì tôi chọn lũ “lưu manh đỏ”.

TDN

Vị tướng già trong nhà dưỡng lão

Vị tướng già trong nhà dưỡng lão

Nguoi-viet.com

Huy Phương/Người Việt

“Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời!”

(Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai)

DALLAS Một người bình thường lúc về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lão đã là một chuyện buồn, một vị tướng lãnh đã từng bao năm trận mạc, hôm nay sống trong một nhà dưỡng lão quạnh hiu đã gây không ít cho chúng tôi những cảm xúc bùi ngùi đau xót khi đến thăm ông.

Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi đến thăm Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Ðông tại “Pleasant Valley Healthcare and Rehabilication Center, 1525 Pleasant Valley Rd., Garland, TX 75040.” Khi chúng tôi bước vào phòng, thấy ông đang ngồi trên chiếc xe lăn, ông cho biết đang thay y phục, nên chúng tôi tạm lui ra chờ. Khi trở lại, ông đã tươm tất hơn trong bộ đồ mới.


Ký giả Huy Phương và Thiếu Tướng Giai trong nhà dưỡng lão ở Dallas Ft Worth tháng 12, 2015. (Hình: Thái Hóa Lộc)

Nhận ra anh Lộc là người quen, thường thăm viếng ông, ông vui vẻ chuyện trò và nhờ chúng tôi đẩy ông ra ngoài phòng khách ngay lối ra vào, nơi mà các y tá có thể quan sát. Ở đây đã có nhiều ông bà già hiện diện, tất cả đều ngồi xe lăn. Ðây là một thói quen của ông, mỗi chiều, hoặc là ngồi đây vui hơn, hoặc là ông đang chờ ai đó, có thể vào thăm ông. Vào chiều Chủ Nhật, nhưng tôi không thấy có một thân nhân nào đến thăm những bệnh nhân ở đây, ngoài chúng tôi đang ngồi với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai.

Ông chuyện trò rời rạc, khi đáp những của thăm hỏi của tôi, là người khách lần đầu đến thăm ông.
Lúc còn khỏe và tỉnh táo, trí nhớ tốt, mỗi tuần ba ngày, ông đến sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên tại thành phố Garland.

Bà Ðỗ Kế Giai qua đời vào tháng 11, 2012 sau khi ông vào bệnh viện được ba tháng. Từ bệnh viện, ông được chuyển thẳng về trung tâm này.

Ông bà có tất cả bảy người con, một gái và sáu trai. Bốn người đều ở các tiểu bang xa, chỉ còn lại ba người con trai ở gần ông. Hiện nay, ông còn có thể tự ăn uống và lo chuyện vệ sinh cho mình. Ông đã ở đây hơn ba năm, và tỏ bày: “Ở đây buồn quá!”

Những vị cao niên nằm trong viện dưỡng lão như hoàn cảnh của ông, còn nhớ chuyện này chuyện nọ, còn biết buồn, biết vui, có lẽ cảm thấy khổ hơn là những người đã mất trí nhớ hoàn toàn.

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, trong một gia đình điền chủ, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên Quân Ðà Lạt, ra trường vào tháng 4, 1952, và đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đóng tại Bắc Việt.

Lần lượt ông đã giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù (1962), tham mưu trưởng Sư Ðoàn 25 BB, tư lệnh Sư Ðoàn 10 BB (tiền thân của SÐ 18BB-1966). Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân và được vinh thăng thiếu tướng vào tháng 4, 1974.


Hình Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai 42 năm về trước. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ngày 28 tháng 4, 1975, Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình ông đi Mỹ, nhưng ông quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân.

Ông và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland, Texas.

Theo lời kể của anh Thái Hóa Lộc, không phải là thân thích của ông, người vẫn thường ghé thăm ông, cho biết ông thích ăn các thức ăn Pháp và thích nhâm nhi chút rượu, nếu có thể. Lúc còn khỏe, ông cũng sẵn sàng nói chuyện xảy ra trong thời loạn lạc, một số chi tiết về Ðại Tướng Cao Văn Viên liên quan đến vụ đảo chánh 1963, cái chết của Thiếu Tá Nhung và một số chi tiết nhưng ông yêu cầu không nên đưa lên báo chí.

Bây giờ có chuyện nhớ chuyện quên nhưng ông cho biết vào mùa Ðông thân thể thường đau nhức, “chỉ có Wishky mới trị nổi thôi,” điều mà bác sĩ hoàn toàn cấm, nhưng đôi khi các cô y tá cũng thông cảm cho ông, khi biết ông xưa kia là một tướng lãnh.

Ông tâm sự với chúng tôi, là ông đã nghĩ đến ngày ra đi và không sợ chết. Ngày ông mất, xin nhờ bên anh em thuộc binh chủng Nhảy Dù lo chuyện hậu sự cho ông tươm tất là ông cảm thấy mãn nguyện rồi.
Ông đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài ông đã làm trong nhà tù Bắc Việt sau 9 năm bị giam cầm (khoảng năm 1984.) Bài thơ dài 65 câu, lời thơ đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lãnh thất trận và là của một người tù không bản án, vô vọng không có ngày về.

Chỉ trong vòng mười lăm phút, ông đã đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ này ba lần, điều này chứng tỏ ông đã đi vào thời kỳ lú lẫn. Anh Thái Hóa Lộc cho tôi biết, ông thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Ông cho biết trong nhà tù ông đã làm bài thơ và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm lòng, mà không dám viết ra giấy.

Trong khi Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù Việt Bắc, chúng tôi đã ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lão xa lạ. Vì khuôn khổ của trang báo, chúng tôi chỉ xin trích một đoạn trong bài thơ của ông, bài thơ chưa đặt tên:

…“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm (1984) cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.
Ðem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.

(Ðỗ Kế Giai-1984)

1 – Tặng Bạn Về Hưu

1 – Tặng Bạn Về Hưu

Đoàn Thanh Liêm

Vào năm 1987, lúc còn ở Việt nam, tôi có đọc được câu thơ cuả nhà thơ nổi danh cuả Liên Xô là E Evtushenco được dịch ra tiếng Anh như sau :” Don’t die before you’re dead” (Đừng chết trước khi bạn tắt thở).
Do đó tôi đã có cảm đề để viết thành mấy câu thơ để tặng người bạn vưà bắt đầu về hưu như sau :

* Đường trần chưa vẹn, sao yên nghỉ
Non nước vơi đày, nỗi xót xa
Phong cách buông lơi phường quân tử
Trách chi bá tánh bỏ quên nhà?
Saigon 1987
English version :
To a Friend on His Retirement
How can you rest, the pilgrimage’s not yet finished?
How painful is to find the country in tatters!
The patricians have already neglected their good manners,
Why can one reproach that the masses abandon themselves?
Saigon 1987

Version francaise :
Pour un ami en retraite
Comment te reposer, ce pèlerinage pas encore achevé ?
Quelle amertume devant ce pays en lambeaux !
Les patriciens ayant négligé leurs bonnes manières,
Pourquoi reprocher que la masse s’abandonne ?
Saigon 1987
(Trích lại tại Virginia, ngày 9 tháng Năm 2010)

Đoàn Thanh Liêm

2 – Nhớ Đà lạt

Vào giữa mùa mưa năm 1990, lúc bị biệt giam tại trại B34 trong khu vực Tổng Nha Cảnh sát cũ, tôi nhớ đến bài thơ nổi tiếng của Robert Frost nhan đề là “Stopping by woods on an snowy evening” – nên cảm đề làm bài thơ ngắn như sau :
Thông xanh dẫu nặng ý thơ
Ta còn mắc hẹn cơ đồ nước non
Đường xa vạn lý mỏi mòn
Vẫn nòi quân tử sắt son với đời./
Saigon 1990

Đoàn Thanh Liêm
(Sao lục tại California năm 2010)

Thơ Xuân gửi Bạn

Thơ Xuân gửi Bạn

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

 1 – Mai Đào li sp n

Nh đến bn gn xa

Bao mến thương dào dt

Xin gi khp mi nhà

 

2 – Năm tháng c trôi qua

Tình ta càng thm thiết

Nhân sinh du kh ly

Vn gn bó rut rà .

 

3 – Bày tr nay khôn ln

Tung cánh khp năm châu

Tâm thành nh ngun ci

Cu mong dt hn su

 

4 Dòng sông chy đon cui

Sp gia nhp đi dương

Nơi trăng sao miên vin

Tràn ngp nhng Yêu Thương.

 

5 – Xin cm ơn,

Xin cm ơn tt c

Nhng ân hu bao la

Lòng t bi đ lượng

Khp thế gii nhân qun./

Costa Mesa, California

Cuối năm Quý Tỵ 2013

Đoàn Thanh Liêm

Chiều nay có mùa thu đi về

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Hiển Linh Năm C 03/01/2016

 “Chiều nay có mùa thu đi về”
Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn hong gió thu buồn.

(Từ Công Phụng – Mùa Thu Mây Ngàn)

(Rm 2: 1-2)

            Trần Ngọc Mười Hai

             Lại một lần nữa, bần đạo xin thú thật với bạn bè người thân rằng thì là: đề-tài “mùa thu” từng là nguồn-hứng cho cả người viết nhạc lẫn bần đạo bầy tôi đây. Thu, bao giờ cũng “vương mây ngàn”, “bơ vơ đến bên trời” và “gọi hồn hong gió thu buồn.”

Lại nữa, cứ nói đến thu, nghệ sĩ nhà mình sẽ còn hát điệu buồn những là xa nhau, như sau:

“Ngày mai chúng mình xa nhau rồi

Cầm tay em nhìn sao không nói

Chiều nay mưa bay khắp phố nhỏ

Mưa ướt đôi vai mềm

Bùn lầy lấm gót chân em.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Vâng. Thơ nhạc thì như thế. Thế còn, truyện kể thì ra sao?

Vâng. Một câu hỏi “hóc búa” như thế có ma nào dám trả lời. Thôi thì, thay vì trả lời trả cả vốn, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thử truyện kể nhè nhẹ như một trò chơi, một trò chơi quá tuyệt vời, rất sau đây:

“Năm ấy, con gái lớn của tôi, Tina được 9 tuổi. Một hôm, tôi chở con gái về thăm bà nội. Tôi nhớ rằng, giai-đoạn ấy tôi đi đến quyết định rằng việc mở tài khoản tình cảm giữa cha con chúng tôi là hết sức quan-trọng. Thế là, trước chuyến đi ấy, tôi cứ băn-khoăn mãi với ý-nghĩa; “Mình có thể làm gì trong vòng 30 phút để ký gửi vào tài-khoản tình-cảm của con gái?”

Bạn biết không, để làm được điều này, cần phải có một chút can đảm. Một đứa trẻ 9 tuổi chắc-chắn đã hình-thành nhận-định của riêng mình về những hành-vi mà nó trông-đợi ở người khác. Tôi không phải là người hay nói chuyện trong lúc lái xe.

Thỉnh-thoảng, tôi cũng có nhận-xét này nọ về cảnh-vật hai bên đường, nhưng thường thì tôi chỉ im-lặng điều-khiển “vô-lăng”. Vì thế, quả là tôi phải hoay hoay một lúc mới nghĩ ra cách và tôi ngỏ ý với con gái về một trò chơi giữa hai cha con.

 Khi chúng tôi vừa lái xe ra khỏ nhà, tôi bèn hỏi: “Này con gái, sao bố con mình không cùng tham-gia một trò chơi nhỉ? Điều chúng ta cần làm rất đơn-giản, chỉ cần nói: “Bố ơi, con rất vui bởi vì…” hoặc: “Bố thích điều con làm bởi vì…” Từ “Bởi vì” rất quan-trọng, nó trả lời câu hỏi tại sao người khác yêu mến chúng ta. Đồng ý chứ? Bố bắt đầu trước nhé?”

Tôi là người bắt đầu trước. Tôi nói một điều gì đó về con gái. Cô bé ngẫm nghĩ một chút rồi bắt đầu nói một cái gì đó về tôi. Nhưng, sau ba bốn câu như vậy, tôi bắt đầu “cạn vốn” không nghĩ ra được điều gì để nói. Quả là một sự thật gây sốc đối với tôi. Tôi yêu con gái mình là thế, vậy mà tôi khó có thể nhớ ra việc làm hoặc nét tính-cách nào ở nó làm tôi yêu thích. Tôi chau mày cố tìm ra một cái gì để nói. Tina làm điều này dễ dàng hơn.

Sau khoảng năm, sáu câu trôi chảy, nó bắt đầu ngập-ngừng, với giọng nói ngắt quãng. Tôi chắc rằng nó đang cân nhắc mọi chuyện về bố nó, ôn lại những gì mà tôi đã nói hoặc đã làm. Nó biết ơn những việc tôi làm, những buổi đi dạo trong công-viên với tôi, những buổi tập bóng rổ ngoài sân và cái cách mà tôi đánh thức con bé dậy vào mỗi buổi sáng. Nó có thể nhìn thấy tất cả những điều tốt đẹp ấy trong tôi.

Tôi thì phải loay hoay để nghĩ ra những điều cần nói. Và, khi tôi phóng chiếu tầm mắt nhìn lại những sự việc xung quanh cô con gái bé nhỏ của mình, quan-sát lại những điều mà nó thường làm trong gia-đình, tôi bắt đầu thấy một điều khác. Tôi thấy cảnh nó ôm hôn cha mẹ, nhớ lại những câu nói hồn-nhiên của nó và cả những lời cảm ơn nữa. Tôi biết rằng Tina học giỏi ở trường và cung-cách của nó rất lễ-độ. Tôi bảo con rằng: tôi thích nhất là khi Tina đi học về và lao đến ôm cha mẹ.

Khi cha con tôi bắt đầu đi sâu vào chi-tiết và xem xét lại mọi chuyện thì chúng tôi không thể dừng được nữa. Chuyến đi chỉ kéo dài nửa tiếng mà chúng tôi đã nói được 22 hoặc 23 điều; đến đây, thì tôi phải ngừng lại vì không thể nghĩ ra được thêm một điều nào nữa.

Thú thật, tôi có cảm-giác lẫn-lộn trong trò chơi này. Một mặt tôi rất vui, nhưng không tránh khỏi cảm-giác thất-vọng. Điều đáng mừng là Tina có thể biết nhiều điều về bố nó như thế (nó vẫn muốn tiếp-tục cuộc chơi), tôi thất vọng vì thấy mình không thể tìm ra những điều gì đẹp đẽ tốt-lành trong con bé nữa. Nhưng, dù sao điều quan-trọng nhất vẫn là, suốt dọc đường hai cha con có cơ-hội chuyện-trò rôm-rả. Tôi nghĩ trò chơi mở đầu cho cách nói chuyện mà trước đây chưa bao giờ tôi trao-đổi với con.

Khi chúng tôi đến nơi, Tina nhảy ngay xuống xe, chạy như bay vào nhà và đó là lúc mà trái tim tôi như muốn vỡ oà ra vì cảm-động. Vừa chạy nó vừa la lên: “Bà nội ơi, nội ơi. Bố biết bao nhiêu điều tốt về cháu. Cháu không biết là bố biết nhiều điều tốt về cháu đến thế.” (Trích sách “Sống Mạnh Mẽ” do Stephen R. Covery biên-soạn, Trần Đăng Khoa – Uông Xuân Vy dịch)

             Lại cũng xin thú thật với bạn đọc và bạn nghe đọc trên “sách nói” về nhiều thứ, cả chuyện phiếm lẫn truyện kể nhẹ-nhàng, rất giản-đơn.

Thú thật, là vừa xưng thú vừa nói thật những điều mà mình ít khi để ý đến. Thú thật, là thật tình tình xưng thú về kiến-thức rất hạn hẹp của mình. Thú rất thật, là: càng viết nhiều càng thấy mình chẳng biết gì nhiều, cả những điều căn-bản mà người đọc hoặc người nghe đọc truyện kể lại biết nhiều hơn người viết.

Thú thật thêm nữa, là bần đạo đây, tiếng là viết và lách những 10 cuốn chuyện phiếm trong thời gian gần 10 năm nói khoác, không có sách, mà thật ra chỉ là trích và dịch những tư-tưởng của người khác, kể cả và nhất là người nhà Đạo rất “im hơi lặng tiếng”. Thú thật, cũng rất thật như người kể truyện ở trên đôi khi cũng “thú thật” những sự thật ít khi dám xưng thú.

Và hôm nay, bần đạo đây lại cũng xin phép với bạn đọc và bạn nghe sách báo đọc bằng tai/miệng rằng: chỉ dám xin bầu bè miễn thứ cho cái tội biết quá ít, nhưng lại dịch quá nhiều. Thôi thì, đã xin phép thế rồi, nay bần đạo bèn đánh bạo ngẩng đầu nhìn về đằng trước tìm xem có đề tài gì để trích và để dịch hầu cống-hiến bạn đọc và bạn nghe đọc, hầu giết thì giờ để cho vui.

Thế thì, mời bạn và mời tôi ta đi thẳng vào bài báo xuất-hiện trên tờ The Cathokic Weekly ở Sydney hôm 20/12/2015 có đầu đề bảo rằng: “Theo toà-thánh Vaticăng, thì: Người Công-giáo không nên tìm cách khiến người Do-thái-giáo trở lại đạo”.

Đi thẳng vào bài báo, là đi vào phần tìm-hiểu rất như sau:

“Tài-liệu vừa mới phát-hành của Toà-thánh Vaticăng dạy rằng: Người Công giáo chúng ta không nên bắt-buộc người theo Do-thái-giáo phải về với Đạo mình, cho nhất-quán. Đây, là sứ-điệp của Uỷ-ban Giáo-Hoàng về Tương-quan Đạo-giáo đối với người theo Do-thái-giáo đã được Toà thánh làm sáng-tỏ qua sứ-điệp của Công-đồng Vaticăng 2 trong một tài-liệu có tên là “Nostra Aetate”. Tài-liệu mới, của Toà thánh được phổ-biến, để mừng kỷ-niệm 50 năm ngày kết-thúc Công đồng Vaticăng 2 này…

 Tài-liệu, nay nhấn mạnh điểm này, là: niềm tin của người Đạo Chúa có gốc-gác từ Do-thái-giáo, từng xác-nhận rằng Thiên-Chúa lần đầu tiên mặc-khải về chính Ngài, là dành cho người theo Do-thái-giáo. Và tài-liệu đây cũng nói: “Chính vì thế, Hội-thánh buộc phải quan-niệm việc giảng rao Tin Mừng là dành cho người theo Do-thái-giáo, tức: những người chỉ tin vào một Thiên-Chúa độc-nhất theo cung-cách khác với điều mà những người thuộc tín-ngưỡng khác, và những người thuộc thế-giới khác với ta, từng quan-niệm.”

Tài-liệu, còn nói thêm: dù người Do-thái-giáo không tin Đức Kitô là Đấng Cứu-chuộc toàn vũ-trụ, họ vẫn có phần trong việc cứu-rỗi nhân-trần, do quà-tặng và lời mời gọi của Thiên-Chúa là lời mời không thể thu-hồi lại được. Thế nên, làm sao điều như thế lại nằm ở huyền-nhiệm vô-phương dò-thấu trong kế-hoạch cứu-rỗi của Thiên-Chúa, được.

Bằng lời lẽ cụ-thể, điều này có nghĩa là: Hội-thánh Công-giáo không hành-xử cũng chẳng hỗ-trợ bất cứ sứ-vụ đặc biệt theo bất cứ cơ-chế nào trực chỉ về phía những người theo Do-thái-giáo, nào hết.

Tài-liệu, nay khuyến-khích người Đạo Chúa hãy biết “làm chứng-nhân cho niềm tin của họ trong Đức Giêsu Kitô đối với người Do-thái-giáo, nhưng theo cách ‘khiêm-hạ và bằng thái-độ nhạy-cảm’ biết chắc chắn rằng người theo Do-thái-giáo lại cũng là chứng-nhân cho Lời của Thiên-Chúa.

 Tài-liệu nói ở đây, lại cũng dạy rằng: người Công-giáo chúng ta sẽ hiểu được ý-nghĩa của Lò Thiêu Sự Sống là thế nào với người Do và phải đấu-tranh chống bất cứ dấu hiệu của thành-kiến chống lại người Do-thái-giáo. Người đi Đạo Chúa không bao giờ đu7o5c phép tỏ ra mình là người chuyên bài bác người Do-thái, đặc-biệt vì Đạo Chúa bắt nguồn từ Do-thái-giáo…(X. The Catholic Weekly 20/12/15 tr. 27 trích tin/bài từ CATHOLICCULTURE.ORG)       

             Trích và dịch như thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn hoa âm-nhạc có những ca-từ đầy tình-tự đọng lắng tâm-tư của người cùng một cảm-nghiệm những hát rằng:

“Thu nay mây ngàn còn giăng mãi bên trời,
Mùa thu lưu luyến bóng dáng anh đi.
Đêm nay bên thềm cầm tay em khẽ nói:
Ngày mai anh đi rồi,
Anh có buồn gì không?

Buồn không hỡi người đã đi rồi.
Tìm đâu những ngày vui êm ấm?
Người đi theo năm tháng không cùng,
Thương mắt em hay buồn,
Nhìn mùa thu chết bên song.

(Từ Công Phụng – bđd)

Kể ra thì, bạn và tôi có hát những câu ca da-diết đến là như: “Buồn không, hỡi người đã đi rồi?” “Tìm đâu những ngày vui êm ấm?” cũng là để dẫn đưa nhau vào với giòng chảy suy-tư đầy tư-lự, vẫn nhủ rằng: đời mình/đời người vẫn đầy ắp nhiều suy-tư về Đạo và về đời, như lời kể của cô-giáo ở trường tiểu-học nọ có bé nọ tên “Nho” lại cứ muốn thuật lại từng chữ cho mẹ mình nghe, hay như phim Hàn-quốc sau đây:

“Chú bé 9 tuổi tên Nho được mẹ hiền gặn hỏi xem bé học được những gì ở nhà trường, môn giáo lý. Nghe mẹ hỏi, bé tíu tít nói vội vàng:

 -Mẹ, cô ở trường có kể cho tụi con nghe rất nhiều chuyện Chúa làm. Sao con thấy chuyện nào cũng đẹp như phim tập, đó mẹ. Cô bảo thế này: Chúa cứu dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ của lính Ai Cập chuyên hà-hiếp dân lành Do Thái. Chúa cứu họ bằng cách cho ông MôSê, xuất hiện ngay sau lưng địch, mà địch không hay.

 Kế đó, ông Môsê đem dân Do Thái tới Biển Đỏ an toàn xa lộ, không ai bị đói. Thế rồi, ông lại truyền cho các kỹ sư bắc một cây cầu thiệt to, cao ơi là cao, đặt ngay phía trên đỉnh đầu của mọi người. Và rồi, dân Do Thái ai cũng qua được cầu, mà không bị gì hết. Kế đến, ông dùng di-động gọi về cho tổng hành dinh, kêu máy bay yểm trợ.

 Thế là, họ gửi máy bay đến um sùm trời đất, bắn phá tơi bời. Và, cầu bị sập ngay lập tức. Làm chết đám lính Ai Cập. Bọn lính chết sạch, không ai kịp trăn trối với vợ con. Trong khi đó, dân Do Thái cứ ung dung sống an nhàn, thảnh thơi. Mẹ thấy có khủng khiếp không!

 Bà mẹ ngắt lời:

-Này con, con kể có đúng như cô con dạy không đó?

-Con nói thiệt đấy. Đúng rồi đó, mẹ. Con chỉ thêm có chút xíu cho nó giống phim Hàn Quốc, thôi. Chứ, kể dài như cô ở trường, mẹ nghe chỉ có nước ngủ gục, chứ ai mà tin những điều cô kể!…

 Lời chú bé thuật lại, nghe cũng giống như lời “cụ đạo” nào đó đứng bục cứ đem các truyện tiếu lâm chay/mặn ra mà xào xáo tuy không giống như lời chú bé tên Nho nói ở trên, nhưng cũng là lời kể khá là “hư cấu” ở đâu đó, rất Do-thái-giáo (?).

Quá đáng chăng, nếu cứ gán tội cho người theo Do-thái-giáo những “hư cấu” và/hoặc xấu xa rất không thật? Hư-cấu chăng, hay chỉ là hư-hao, hư-hại một uy-tín mà lâu nay ta cứ gán bừa cho người đồng Đạo tôn-thờ cùng một Chúa Trời, ở cõi này? Hư hay không hư, người Do-thái cũng đâu phải thế. Không tin, cứ mời bạn/mời tôi ta vào lại vường hoa Lời vang bậc thánh-hiền có những đoạn quả-quyết rất chắc nịch như sau:

“Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa

mà bạn xét đoán,

thì bạn cũng không thể tự bào chữa được.

Vì khi bạn xét đoán người khác,

mà bạn cũng làm như họ,

thì bạn tự kết án chính mình rồi.”

(Rm 2: 1-2)

Dẫn-chứng ở đây, đôi điều này, không phải để bảo nhau: ta đừng xét-đoán hoặc phê bình người nào khác, dù người ấy có là Công-giáo, Tin-Lành hay Do-thái-giáo. Mà là, hãy nhìn lại xem Đạo mình, người mình đặt nặng cuộc sống của chính mình vào điều gì, mà thôi.

Dẫn-chứng hay không chứng-thực vào làm chứng gì đi nữa, cũng chỉ để tôi và bạn, ta mời nhau đi vào một hành-trình sống đạo trong đó có những đòi hỏi khá gắt gao của cả một đạo-giáo chung đụng với mọi người ở thế-trần. Đòi hỏi ấy không gì ngoài chuyện thương yêu và tha thứ.

Để minh-hoạ cho đòi hỏi cốt-lõi của Đạo Chúa hay đạo từ-bi làm người, cũng nên mời nhau đi vào vùng trời truyện kể để dẫn chứng cho điều mình cần suy-tư thực-hiện trong cuộc sống rất đời thường. Truyện kể bao giờ cũng nhè nhẹ đi vào tâm-can của mỗi người và mọi, như sau:

“Một hôm, một cậu học sinh 14 tuổi đang trên đường trở về nhà sau giờ tan học thì nhìn thấy bên trong hiệu sách ven đường có một cuốn sách mà cậu rất yêu thích nhưng trên người cậu lại không mang đủ tiền để mua cuốn sách đó. Thế là, cậu liều đem cuốn sách giấu vào trong ngực, không ngờ bị ông chủ hiệu sách bắt gặp.

 Ông chủ bực tức đưa ngay cậu bé vào trong một căn phòng kín. Sau đó, gọi mấy nhân viên bảo vệ tới và xét hỏi. Cậu bé sợ hãi, nước mắt giàn rụa chảy đầy khuôn mặt. Một lát sau, họ hỏi cậu bé số điện thoại của gia đình, bố mẹ và gọi điện tới thông báo cho gia đình.

 Chỉ ít phút sau, cha của cậu bé chạy tới. Cậu cúi đầu im lặng và chờ đợi sự trách phạt từ cha.

 “Tôi nghĩ, đây nhất định là một sự hiểu lầm!” Người cha nói: “Bởi vì tôi rất hiểu con trai mình. Cháu là một cậu bé hiểu chuyện. Nhất định đây là cuốn sách mà cháu rất yêu thích, nhưng lại không mang đủ tiền để mua nó cho nên mới làm như vậy. Ông xem như thế này có được không nhé, tôi sẽ trả số tiền gấp 3 lần để mua cuốn sách kia và chuyện này coi như xong!”

 Sau đó, người cha lấy ra đủ số tiền trả cho chủ hiệu sách. Cậu bé sợ hãi và lấm lét nhìn cha, người cha cũng nhìn con trai nhưng trong ánh mắt ấy không hề có sự trách mắng mà chỉ có chan chứa yêu thương…

 Hai cha con cậu bé rời khỏi hiệu sách, người cha dừng bước rồi nâng khuôn mặt đầy xấu hổ và cảm động của con trai lên rồi nói: “Con trai! Cả đời này con nhất định sẽ phạm phải không nhiều thì ít lỗi lầm. Hãy tiếp thu rồi quên nó đi! Đừng để nó lưu lại bóng mờ trong lòng con, hãy cố gắng học tập và sống chỉ cần lần sau đừng phạm lại tội lỗi ấy nữa thì con vẫn là một người con khiến cha mẹ kiêu hãnh, tự hào!”

 Nói xong lời này, người cha liền đặt cuốn sách vào tay con trai. Cậu bé không nhịn được liền oà khóc và sà vào lòng cha. Hãy cố gắng giữ bình tĩnh, đừng đánh mắng khi trẻ phạm lỗi. Bởi vì như vậy sẽ dễ dàng gây ra cho trẻ một tâm lý oán hận. Nếu có thể dùng nhiều hơn một chút tha thứ và giảm đi một chút trách mắng thì đó chính là cách xử sự của bậc cha mẹ có trí tuệ.” (Theo NTDTV / ĐKNMai Trà biên dịch)

            Phiếm-luận hôm nay và mai ngày, bao giờ cũng là thời-khắc để bạn và để tôi, ta thư-giãn lắng đọng lòng mình vào với những giây phút kể lể cho nhau đôi ba ý-tưởng làm nền cho cuộc sống rất thường-tình, ở đời.

Phiếm và luận, lúc nào và bao giờ cũng chỉ gồm những kể và kể. Kể cho nhiều, cho hay đó mới là mục-tiêu và là cung-cách để tôi và bạn, ta cùng nhau khuyến-khích mọi người đi vào cuộc sống tuy ồn-ào, náo-động, nhưng rất vui. Vui với người và với mình, suốt mọi ngày trong đời. Ở chợ đời.

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cứ kể hoài kể mãi

            Câu chuyện phiếm rất Đạo

            ở trong đời.

            Với mọi người.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng,

Suy Tư Tin Mừng tuần sau lễ Hiển Linh năm C 03/01/2016

 Tin Mừng (Mt 2: 1-12)

Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi:

 “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”

Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời:

“Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.”

Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng:

“Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.”

Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

*   *   *

“Đêm nay xuống một bài thơ trắng,”

Cầu nguyện cho đời, nở ái ân”

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch.

Thơ trắng lâu rồi đã giáng hạ, xuống với đêm đen. Nhưng, đêm đen cuộc đời nào mấy ai nhận ra thơ. Thơ cuộc đời. Thơ trong Đạo. Thơ của Đức Chúa vẫn hiển hiện với dân con, ngày lễ hội. Vẫn cứ hỏi rằng: con dân nhà Đạo đã mấy ai nhận ra Thơ Trắng, ngày Chúa Hiển Linh?

Từ lâu, nhiều nhà khoa-học trong Đạo cảm-nhận được Thơ Trắng, đã cố gắng giải-thích hiện-tượng “vì sao lạ” trong Tin Mừng. “Vì sao lạ” tuyệt-vời ấy, đã dẫn dắt 3 đạo-sĩ phương Đông đến Bêlem thờ lạy Chúa Hài Nhi. Là, nhà khoa-học Đạo Chúa, các nhân-sĩ ấy muốn đem đến cho chúng dân một học-thuyết nền-tảng nhằm giãi bày với mọi người, rằng: vì sao tuyệt-vời, xuất-hiện cùng ngày Đức Chúa giáng-trần, là vì sao rực sáng, rất thiên-văn.

Dù có thuần-phục về phương-pháp các nhân-sĩ khoa-học sử-dụng, tôi vẫn luôn tự hỏi: làm sao các cụ cứ mải bận tâm chuyện trăng sao mây nước, như thế nhỉ? “Vì sao lạ”, nói ở Tin Mừng đâu có mang ý-nghĩa của một thiên-văn, rất thực-nghiệm? Thánh Mát-thêu chỉ muốn viết về nền thần-học tu-đức nhằm chứng-tỏ rằng: thiên-đường trời cao vẫn ở trên. Chốn trời cao bên trên ấy, đã dẫn đường chỉ lối cho dân con trần-thế bằng các biến-cố rất hiện-thực. Những biến-cố gần gũi với người trần-gian. Còn, sao lạ trên trời vẫn là Thơ trắng hiển-hiện với người trần-gian, đã từ lâu.

Nghiên-cứu kỹ, ta hẳn sẽ thấy: ảnh-hưởng của trăng sao, tinh-tú vẫn xuất-hiện đậm nét trong các trình-thuật Cựu-Ước, như: sách Đệ Nhị Luật, Dân số, Tiên-tri Ysaya và Thánh-vịnh. Toàn-bộ trình-thuật về lễ-hội Hiển-Linh đã mang tính-chất biểu-tưởng, tuyệt-nhiên không dính-dự về khoa-học.

Truyện kể về “sao lạ dẫn đường” đã được sử-gia Hippolitus thuật ghi vào đầu thế-kỷ thứ 3, khi nguồn sử thánh-thiêng vẫn còn rất mới. Lúc ấy, sử-gia Hippolitus  cũng đã đề-cập đến con số 12 tròn-trịa cốt tính đúng ngày giờ xảy đến sau sự-kiện Chúa giáng trần. 12, là số liệu biểu-tượng vang vọng tính nhân-hiền của Thiên-Chúa, lúc Ngài tạo-dựng các chi-tộc thuộc giòng họ Israel .

Và, 12 cũng là số-liệu thần-thiêng được Thầy Chí Thánh sử-dụng để gầy nhóm môn-đồ đại-diện, do Ngài chọn.

Cụ thể hơn, truyện kể về “sao lạ dẫn đưa đạo sĩ ghé thăm Đấng Hài-Đồng” cũng rập khuôn ăn khớp với các ảnh-hình được thánh Mát-thêu đề cập ở những chương kế tiếp. Ở ba chương đầu, thánh Mát-thêu cho thấy hiện-tượng kỳ lạ thường xảy đến, rất miên-trường nơi chương đầu, ta thấy thánh Giuse nhận thông-điệp sứ-thần Chúa mang đến, trong giấc mộng lành. Chương hai, “Lời Thơ” viết về các đạo-sĩ theo vết sao tìm đến với Hài Nhi rất thánh, Đức Giêsu. Kịp đến chương ba, lại giải bày trời cao nay rộng mở. Và, Thiên-Chúa tỏ-bày thánh-ý của Ngài ngang qua việc thanh-tẩy Đức Kitô, Con của Ngài.

Nhìn từ góc cạnh chuẩn-mực cho bất kỳ sử-liệu nào, trình-thuật nay mở đầu cho linh-đạo về nhân-vật thần-thiêng, ít nghe đến. Nói cách khác, tiểu-sử về Đấng Nhân Hiền rất thánh ghi ở đây, cốt chứng-tỏ: sự Hiển-Linh thần thánh, qua đó Thiên-Chúa biểu-lộ vinh-quang của Ngài với thế-giới nhân-trần. Và, vinh-quang ấy nay thành hiện-thực.

Thế nên, hãy thử tìm-hiểu xem vinh-quang Đức Chúa tỏ bày cho những ai? Ở đâu? Khi nào?

Trường-hợp đầu, thánh Giuse là người được vinh-dự nhận-đón sứ-điệp từ Trên, trong giấc mộng lành. Thứ đến, là trường-hợp các nhà thiên-văn ngoài Đạo cũng được mặc-khải cho biết về sự Hiển-linh khác thường, ít khi thấy. Các nhà thiên-văn ở trên đã đại-diện cho nhân-gian trần-thế, chốn thân-quên.

Ở nơi này, thế-giới nối-kết với mọi thứ quyền-bính, vẫn hành-xử với trần-gian. Qua người ở chốn gian-trần, và ở đây quyền-năng phàm-trần được thể-hiện nơi Hêrôđê đã trở-thành sức mạnh đối đầu với vinh-quang Chúa Hiển-linh. Quyền-năng trần-thế lại còn ngăn-chặn tính nhân-hiền, biểu-hiện nơi hình-hài bé nhỏ Chúa Hài Đồng.

Cuối cùng, là trường-hợp đám dân con chân-chất Do-thái, tức các con dân được chọn đã biết tìm đến với vị hiền-nhân ngôn-sứ, thánh Gioan Tẩy Giả.

Ba chương Tin Mừng thánh Mát-thêu, vinh-quang Đức Chúa như vòng quay tròn trịa, đã công-khai hiển-hiện nơi bản thân Đức Kitô. Và, tính công-khai hiển-hiện ấy nay phổ-cập đã đến với nhiều người. Cũng từ đó, vinh-quang Hiển-linh rất thánh nơi Ngài đã biến-cải nhiều cuộc sống, nơi người phàm. Cụ thể là, cuộc sống của thánh Giuse, thái-độ của các đạo-sĩ chiêm-tinh và hoạt-động của thánh Gioan Tẩy Giả.

Còn hơn nữa, cả những người từng nghe lời Ngài giảng-dạy, bảo ban trong hành-trình cuộc sống nơi nhà Đạo. Tất cả đều nhất nhất không quay về với lề-lối sống xa xưa, như ngày trước.

Mà, Hiển-Linh tuyệt nhiên không là phó-bản của một hiện-tượng “Sao chổi”, vừa đổi ngôi. Hiển-linh, là lễ-hội rất thánh nhân đó, ta mừng kính vinh quang của Đức Chúa đã cải-biến cuộc sống, cải-biến tâm-can rất nhiều người.

Hiển-linh, là lễ hội tràn đầy cơ-hội giúp biến-cải cuộc sống của mọi người. Và, cảm-hóa tâm-can của mỗi người. Hiển-linh, còn là dịp giúp ta chấp-nhận mình sẽ phải chết đi cho chính mình. Chết, để không còn sơ-xuất lỗi phạm nữa. Chết vì Hiển-linh, giúp ta tái-sinh trong vinh-quang của Đức Chúa; để rồi, vinh-quang chói-ngời của Ngài sẽ bừng sáng lên mãi trong ta. Bừng sáng, ngay tại bản-chất và ngang qua cuộc sống của mọi người.

Cầu mong sao, lễ Hiển-linh hôm nay giúp ta nhớ lại ngày Đức Chúa tỏ lộ vinh-quang cao cả của Ngài cho ta. Tỏ lộ, không chỉ riêng cho mình ta mà thôi. Cầu mong sao, lễ Hiển-Linh còn là dịp nhắc nhở rằng: ta được mời gọi để ra đi loan báo cho mọi người biết rằng: chính vinh-quang Thiên-Chúa đang hiển-hiện một cách linh-hoạt với mọi người, nơi mỗi người.

Cầu mong cho ta có được quyết tâm ra đi loan-truyền vinh-quang ấy bằng niềm tin tưởng vào lễ-hội Hiển-linh. Loan-truyền niềm tin, bằng chính cuộc đời ta đang sống. Sống hiên-ngang, vui tươi trong tâm-thức kiến-tạo nên một thế-giới mới tràn-đầy vinh-quang rực-sáng những yêu-thương, cứu-độ đổ xuống với mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

Bức ảnh 2015 gây chấn động thế giới!

Bức ảnh 2015 gây chấn động thế giới!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Bức-ảnh-2015-gây-chấn-động-thế-giới

Có lẽ tình hình chiến sự tại Syria trong năm 2015 được thế giới quan tâm nhiều nhất. Phía sau những làn đạn là hệ quả của biết bao đau thương mất mát. Dòng người tỵ nạn tháo chạy khỏi Syria ngày càng lớn. Tính đến cuối năm 2015, con số người di tản tị nạn tại các nước Châu Âu khoảng trên một triệu người. Đó là chưa kể đến hàng ngàn người phải bỏ xác giữa lòng đại dương. Trong đó, cả thế giới chấn động, mọi người bàng hoàng khi chứng kiến hình ảnh của em Aylan Kurdi, 3 tuổi người Syria, chết trôi vào bãi biển ở Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ hôm 2-9-2015.

Trước cảnh tượng em mặc áo đỏ, quần short tối màu, đi giày đen, nằm úp mặt lên cát, giống như đang ngủ, Nilufer Demir – một phóng viên – đã chụp tấm ảnh này. Ngay lập tức, tấm ảnh như biểu lộ một tiếng thét từ thi thể câm lặng của cậu bé vang đến toàn thế giới. Hôm sau, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã lên tiếng kêu gọi các chính phủ ở châu Âu cần phải hành động ngay để giải quyết cuộc khủng hoảng người di cư. Rồi bất chấp sự phản đối của một số quốc gia châu Âu, thủ tướng Merkel vẫn đồng ý cho phép nhiều người tị nạn hơn vào Đức.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trốn từ thành phố Kobani (Syria), gia đình em đã hòa cùng dòng người nhập cư để sang nước giáp ranh là Thổ Nhĩ Kỳ. Cha mẹ em mong muốn cuộc sống của gia đình em sẽ tươi vui an bình hơn khi tới vùng đất mới. Hy vọng tìm được sự đổi đời ở châu Âu là động lực để gia đình em và rất nhiều đồng bào của em vượt biên. Thế nhưng ước mơ ấy đã không thành! Trên chiếc thuyền định mệnh hôm ấy, tất cả đều bị nhấn chìm trong biển cả khiến 13 người thiệt mạng, trong đó có em, mẹ em và người anh 5 tuổi của em. Cha em may mắn thoát chết, nhưng ông mãi kinh hoàng vì: tất cả đã vụt khỏi tay ông!

Em là một trong vô số những nạn nhân của chiến tranh đang giày xéo quê hương Syria. Một bức ảnh khiến cả thế giới phải câm lặng! Bức ảnh cũng cho thấy thế nào là tội ác: bất công, chiến tranh, bạo tàn và vô tâm; thế nào là điều thiện: công bằng, hòa bình, hạnh phúc và tình người.

Bây giờ, em và rất nhiều đồng bào xấu số của em đã yên nghỉ. Cả thế giới khi nhìn bức ảnh của em, ai ai cũng thương tiếc và tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn em và những nạn nhân trong cuộc chiến đau thương này. Hy vọng trong một ngày rất gần, đất nước của em sẽ thanh bình, đồng bào của em sẽ hưởng được cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Không còn chiến tranh, hận thù và tang tóc là điều ước em muốn gửi đến cho thế giới qua bức ảnh của em vốn gây chấn động đến cả thế giới, khiến mọi người phải bàng hoàng!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

THÁNH LỄ CUỐI CÙNG

THÁNH LỄ CUỐI CÙNG

Trích EPHATA 673

Sau thế chiến thứ hai, có một tài liệu được công bố ở Đức, mang tên Những Bức Thư Từ Stalingrad. Đây là những bức thư được chở trên chuyến phi cơ Đức cuối cùng rời thành phố Stalingrad. Khi phần thất bại đã chuyển hẳn về phía quân xâm lăng phátxít Đức, vì sợ nội dung các lá thư có thể làm suy giảm tinh thần ở hậu phương, nên Hitler đã ra lệnh tịch thu tất cả, nhưng chưa kịp đem hủy đi mà còn sót lại trong số các văn thư lưu trữ tại thủ đô Berlin.

Tác giả các lá thư đều là các binh lính Đức Quốc Xã đã hầu như tuyệt vọng, chỉ còn chờ chết hoặc bị hồng quân Liên Xô bắt làm tù binh. Họ cố gắng viết những giònG chữ cuối cùng cho thân quyến. Trong các lá thư đó, người ta đọc được một trang nhật ký của một Linh Mục tuyên úy người Đức mô tả quang cảnh Lễ Giáng Sinh năm ấy, một Lễ Giáng Sinh có lẽ là cuối cùng trong đời của những người dự lễ ngay tại chiến trường lửa và máu. Bức thư thuật lại như sau:

“Đêm trước Lễ Giáng Sinh, có 11 chiến hữu Công Giáo đã mừng ngày sinh Đức Giêsu trong một căn lều còn tương đối lành lặn. Thật không dễ gì mà tìm được một nhóm tín hữu đích thật như họ ở giữa những kẻ vô vọng của cuộc chiến. Họ được tôi liên lạc mời tới tham dự Thánh Lễ. Trên cõi địa cầu bao la này có rất nhiều bàn thờ, nhưng chắc hẳn không ở đâu lại có chiếc bàn thờ nghèo nàn hơn ở đây. Mới hôm qua, đó là một chiếc thùng đựng những viên đạn đại bác phòng không, thì hôm nay, tôi trải lên trên mặt thùng chiếc áo lót màu trắng còn sạch sẽ của một anh lính.

Tôi đọc một đoạn trích trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Tôi cho họ rước Mình Máu Thánh Chúa dưới hình thức những mẩu bánh mì đen, là khẩu phần nhỏ bé và cuối cùng của họ trong ngày.

Tôi đã khẩn cầu cho họ được ơn tha thứ và đón nhận lượng từ bi của Thiên Chúa chúng ta. Họ ngồi trên những mảnh ván, mắt họ ngước nhìn tôi… Ngoài kia, bom đạn vẫn đang nổ rền…

Lm. BERNARD BRO, NIỀM CẬY TRÔNG BẤT CHẤP TUYỆT VỌNG
Bản dịch của cụ Antôn Lê Văn Lộc ( + 1988 )