Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Lê Thiên

Ngày 22/5/2016, CSVN sẽ trình diễn vở hài kịch bầu cử Quốc Hội trên cả nước. Nghĩa là nếu tính từ hôm nay, ngày 14/02/2016, chỉ còn trên dưới 90 ngày nữa thôi, tiếng pháo lễ hội tưng bừng sẽ nổ vang trên mọi miền đất nước Việt Nam khi “toàn thắng ắt về ta”. Một thành tích vĩ đại nữa sẽ được ghi khắc trên bia lịch sử đảng CSVN bách chiến bách thắng quang vinh! Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại thêm cơ hội huênh hoang “Dân chủ đến thế là cùng”!

Nhưng oái oăm thay! Truyền thông lề đảng đến nay vẫn chưa đả động gì tới tiến trình “đảng cử, dân bầu” cho ngày 22/5/2016, trong khi báo net lề trái (báo net còn gọi là báo mạng, báo online) đã rộn ràng với phong trào “tự ứng cử đại biểu quốc hội” do Tiến sĩ Nguyễn Quang A phát động.

Ts Nguyễn Quang A với Cao trào tự ứng cử

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

Ông A hô hào: “Hãy ứng cử để biến quyền hão dần dần thành quyền thực và giúp ông Trọng [Nguyễn Phú Trọng] chứng minh ‘dân chủ đến thế là cùng’” (Lời kêu gọi được đăng trên FB Nguyễn Quang A ngày 05/02/2016 và Anh Ba Sàm tải lên net cùng ngày).

Ông Nguyễn Quang A vốn biết rõ “Quyền ứng cử cơ bản vẫn chỉ là quyền hão!” Ông cũng biết “rất có thể những người tự ứng cử bị các thủ tục ‘hiệp thương’ hiện hành loại bỏ khỏi danh sách ứng viên cuối cùng, thậm chí có thể bị ‘đấu tố’ tại các Hội nghị cử tri hoặc bị báo của ĐCSVN bới móc đời tư,…” Ông A lại còn biết “nhiều người có thể nghĩ việc ‘tự ứng cử’ sẽ thất bại, ‘chẳng xoay chuyển được gì,’… Nhưng ông Tiến sĩ vẫn lạc quan cho rằng, ít ra “việc ứng cử sẽ làm cho dân chúng thấy sự ‘dân chủ đến thế là cùng’ ở nước ta ra sao, gây áp lực để có những sự thay đổi có ý nghĩa trong tương lai, giúp nâng cao dân trí và quan trí”.

Ts Nguyễn Quang A còn liệt kê một danh sách dài những “người trẻ gồm các luật sư cho tới các nhà hoạt động, các trí thức từ Hà Nội vào Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Yên, Sài Gòn, Đà Lạt, Đak Lak, Vũng Tàu…” để kêu gọi họ hãy cùng với ông hăng hái ghi tên tự ứng cử.

Khánh An trên VOA ngày 10/02/2016 cho biết tính cho tới ngày 09/02/2016, “đã có 10 cá nhân độc lập tại Việt Nam tự đứng ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14” trong đó có nhà văn Phạm Thành, blogger Nguyễn Tường Thụy, kỹ sư Hoàng Chương, blogger Đặng Bích Phượng, Luật sư Lê Văn Luân.

Rồi, trong bài báo ngày 10/02/2016, nhan đề Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội, BBC lại nêu lên danh tánh 8 người “tuyên bố mình sẽ ra tranh cử là: Tiến sĩ Nguyễn Quang A, ông Nguyễn Tường Thụy, bà Nguyễn thúy Hạnh, bà Đặng Bích Phượng, ông Hoàng Cường, ông Nguyễn Đình Hà, ông Phạm Văn Thành, ông Lê Văn Luân.”

Ls Võ An Đôn thua keo này bày keo khác

Ảnh: FB Võ An Đôn

Ảnh: FB Võ An Đôn

Luật sư Võ An Đôn từ Phú Yên cũng tuyên bố tiếp sẽ lại ra ứng cử, bất kể ông đã một lần ứng cử và đã bị loại ngay từ buổi “hiệp thương” cấp tỉnh, bị xóa tên khỏi danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 13 năm 2011. Dù biết rằng “bầu cử Quốc hội ở Việt Nam chỉ là trò diễn kịch của giới cầm quyền, người dân khó lọt vào sân chơi độc quyền này,” vị luật sư trẻ Võ An Đôn vẫn không chùn bước (FB LS Võ An Đôn: Tôi tiếp tục ứng cử Quốc hội. Adminbasam 11/02/2016 tải lên lại). Ls Đôn tâm sự về kinh nghiệm phũ phàng của mình trong cuộc “ứng cử” của bản thân hồi năm 2011 như sau: “Năm 2011, khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, tôi được 100% người dân địa phương ủng hộ, sau đó lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc là Đoàn luật sư, tôi cũng được 100% tín nhiệm. Đến khi hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi bị loại, không được lọt vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội”.

Đau đớn nhất cho tâm huyết và thân phận trí thức trẻ Võ An Đôn là ở chỗ này: “Khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và tại Đoàn luật sư thì tôi được mời tham dự, nhưng khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tố và nói xấu tôi dữ lắm” .

Ls Đôn đau lắm, nhưng ông đâu chừa! Lần này, ông lại quyết tự ứng cử, tranh cử. “Ứng” thì được. Nhưng tranh thì tranh” với ai? Ai cho ông “tranh” trong guồng máy đảng trị? Ls Đôn vẫn bất chấp! Ông tâm sự: “Mục đích tôi tự ứng cử đại biểu Quốc hội lần trước và lần này không phải là tôi muốn làm đại biểu Quốc hội để được hưởng nhiều bổng lộc ban phát, mà tôi muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch với vở kịch vụng vờ, lộ liễu, lâu năm đã lỗi thời. Dù biết trước rằng 99,99% người tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị loại, nhưng tôi vẫn tiếp tục nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới.” Nhiều người hoan hô Ls Võ An Đôn biểu lộ ý chí và khí phách của kẻ sĩ thời đại!

Tuy nhiên, chúng tôi ngờ ngợ không rõ khi tuyên bố “thực hiện quyền ứng cử theo hiến định,” Ls Đôn có đặt niềm tin của mình vào hiến địnhlàm theo Hiến pháp của CSVN không? Hay đó chỉ là chiến thuật nghiệp vụ của nghề luật sư? Bởi lẽ, khi Ls Đôn “nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch, thì hẳn nhiên ông đã rõ cái “Hiến pháp” mà CSVN sử dụng để “nắn ra cái Quốc Hội” có là Hiến pháp của dân, cho dân và vì dân hay không?

Toàn dân Việt Nam ai mà không biết cái Hiến pháp hiện hành của CSVN với điều 4 của nó đích thị là bản tuyên bố quyền đảng trị tối thượng của Cộng đảng! Nó ngồi tè trên đầu quốc gia thì sá gì cái quốc hội bù nhìn! Với điều 4 của nó, nó công khai thủ tiêu quyền làm dân cùng mọi quyền chính đáng căn bản khác của toàn thể dân tộc Việt Nam! Trừ quyền lợi và quyền uy của bè lũ Cộng sản đảng trị! Hiến pháp của CSVN là hiến pháp vi hiến! Cần phải loại bỏ nó ngay, chứ sao lại đeo nó vào mình và gào lên là làm “theo hiến định”?

Ls Lê Văn Luân: Tôi có mặt ở đây

H1

LS Lê Văn Luân. Nguồn: FB Luan Le

Giống như Ts Nguyễn Quang A và Ls Võ An Đôn đã tuyên bố “tự ứng cử” đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới, một luật sư trẻ khác – Ls Lê Văn Luân – cũng công khai việc tự ứng cử của mình. Có lẽ ông là người đầu tiên trong đợt tự ứng cử năm 2016 này đưa ra bản “Sơ lược ứng cử viên ứng cử đại biểu Quốc hội” với bốn chi tiết lý lịch cá nhân gồm (1) Thông tin cá nhân; (2) Quá trình học tập; (3) Hành nghề; (4) Vài điều liên quan.

Bên cạnh đó là Bản tuyên bố Tôi có mặt ở đây của Ls Luân vận động ứng cử ĐBQH 2016. Qua bản tuyên bố này, Ls Lê Văn Luân hùng hồn lặp đi lặp lại vì sao “tôi đến đây”, vì sao “tôi có mặt ở đây” mà chúng tôi xin phép gọi là tuyên ngôn ứng cử của Ls Luân.

Khác với Ts A và Ls Đôn còn dè dặt với bước chân “tự ứng cử” của mình, bày tỏ phần nào mối ngờ vực đối với CSVN, Ls Lê Văn Luân rõ ràng ra ứng cử với quyết tâm phải được đắc cử, chứ không ứng cử chỉ để thách thức đảng quyền giống như hai vị trên. Hai vị ấy – Ts A và Ls Đôn đều bày tỏ không kỳ vọng được “cử” vào danh sách ứng cử, nói chi tới chuyện được bầu hay không được bầu làm đại biểu Quốc hội! Tuy nhiên, công bằng mà nói, Ls Luân không hẳn lạc quan hoàn toàn về kết quả “dự đoán” sự tự ứng cử của mình, bởi lẽ chính ông đã dè dặt phát biểu rằng cho dù ông có thất bại thì cũng là “một thành công về mặt chứng minh thực tiễn” và cũng “chứng minh về cơ hội của những người ngoài Đảng khi tham gia ứng cử…”

Hưởng ứng phong trào “tự ứng cử”?

Khi phát động phong trào tự ứng cử với chủ đích “‘thức tỉnh người dân’ về quyền ứng cử” (BBC ngày 05/02/2016), Ts Nguyễn Quang A cũng đã tuyên bố tự ứng cử nhằm “cổ động những người cảm thấy mình có đủ năng lực ra ứng cử.” Ông A phân trần: “Tôi không đặt việc trúng cử, hay vào sau các vòng sau là mục tiêu chính. Tôi muốn dấy lên một phong trào để người dân học hỏi, các cơ quan nhà nước cũng phải học hỏi, từ đó tác động thay đổi nhận thức một cách từ từ.” Ts A có lạc quan lắm không khi ông tin “nhà nước cũng phải học hỏi”, “thay đổi nhận thức”???

Ông A còn ví von: “Trong bụi rậm, không có người đi thì chẳng bao giờ thành con đường cả.” Lối ví von này nghe hơi lạ tai: Gặp bụi rậm, muốn nó thành con đường, phải có người DỌN trước khi có người đi, để nó thành đường đi, người ta mới đi được! Tại sao Tiến sĩ Nguyễn Quang A không đặt trọng tâm vào việc tìm cáchtìm người DỌN ĐƯỜNG trước? Ấy mới là “khâu” quan trọng để bụi rậm trở thành con đường thênh thang cho toàn dân Việt Nam!

Dù thế nào chăng nữa thì phong trào “tự ứng cử” đã trở thành cao trào. Ls Phạm Quốc Bình thuộc Đoàn luật sư Hà Nội cũng đang cân nhắc có ra ứng cử hay không, nhưng trả lời BBC ngày 10/02/2016 (Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội), ông Bình nói ông vẫn “chưa có quyết định cuối cùng.” Nghe đâu vị Luật sư này cũng vừa tuyên bố “tự ứng cử” thì phải?

Xuyên qua phong trào “tự ứng cử”, không ít người đặt nhiều kỳ vọng vào sự dấn thân “tự ứng cử” của những người trẻ trí thức và đầy tâm huyết, mong sự dấn thân ấy góp phần vào việc thay đổi cách nghĩ, cách nhìn và phương thức hành động của cả quan lẫn dân trong nước hầu mang lại sự thay đổi toàn diện có lợi cho toàn dân và toàn xã hội Việt Nam. Phải chăng chính vì lẽ đó mà số người hưởng ứng lời kêu gọi “tự ứng cử” do Ts Nguyễn Quang A phát động có dấu hiệu tăng nhanh. Cụ thể, trên Anh Ba sàm ngày 08/02/2016, người ta đọc thấy bài Ra ứng cử, tại sao không? của Người Buôn Gió. Trên BBC ngày 10/02/2016, có bài Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội. Và cả trên VOA ngày 10/02/2016 và trên Anh Ba Sàm cũng ngày 10/02/2016 cũng nổi bật bài của Khánh An: Dân bắt đầu làn sóng ‘cạnh tranh’ quyền ứng cử với đảng viên”. Và còn nhiều bài khác nữa cổ võ cho phong trào tự ứng cử xuất hiện từng ngày trên truyền thông online.

Hoài nghi đối với phong trào “tự ứng cử”

Bên cạnh những người ủng hộ và cổ võ phong trào “tự ứng cử”, không ít người khác tỏ ra hoài nghi và dè dặt về mặt này hay khía cạnh nọ đối với PT này.

FB Quang Phan

FB Quang Phan ngày 10/02/2016 (Anh Ba Sàm đăng lại ngày 11/02/2016) nêu lên Mấy suy nghĩ vụn về phong trào tự ứng cử Tác giả chỉ thẳng: “Tiến sỹ Nguyễn Quang A ra lời kêu gọi công dân tự ứng cử, tuy là sáng kiến hay giúp hình thành nên một phong trào tự ứng cử nhưng lại pha loãng vấn đề, tiếp tục xẻ nhỏ thêm các tiềm lực ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự. Đó là sáng kiến bất cập thời và tùy hứng.” Vâng! Xé nhỏ tiềm lực vốn ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự, ấy mới là điều đáng lo ngại. Các phong trào đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền có nguy cơ sớm mai một vì cái phong trào “tự ứng cử” đầy cạm bẫy này! Tất nhiên, CSVN sẽ lại có dịp nổ ra tràng pháo “toàn thắng ắt về ta!”

Người Đưa Tin

Trên Dân Làm Báo ngày 11/02/2016, Người Đưa Tin từ Sài Gòn khi nhận xét Vấn đề không phải là tự ứng cử mà cần tẩy chay bầu cử Quốc hội cộng sản, đã kêu gọi mọi người: “Để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước, đòi buộc phải đa nguyên đa đảng.” Tác giả bài báo nêu ra rằng “một khi cộng sản còn độc tài toàn trị bằng điều bốn HP thì việc tự ra tranh cử không có giá trị và đạt được mục tiêu xây dựng dân chủ.” Bởi vì, theo tác giả, “đã là cộng sản thì bản chất như nhau, khát vọng quyền lực biến người theo cộng sản nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, kể cả đồng chí, đồng đảng, đồng bọn cộng sản đều chung ý thức giết lầm hơn bỏ sót […] điều đó cho thấy các kiến nghị cũng như đơn thư tố cáo đối với đảng cộng sản chỉ là trò đùa không hơn kém.” Từ nhận định trên, Người Đưa Tin quả quyết: “Hành động khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử thiết thực hơn là tuyên bố của một vài cá nhân tự ra ứng cử, khi biết chắc, biết trước nhà cầm quyền cộng sản không thể chấp nhận. Hành động mà biết trước kết quả không hay thì nên chuyển hướng là điều cần thiết.”

Người Đưa Tin kêu gọi mọi người Việt Nam hãy (1) phát động và khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử QH cộng sản ngay bây giờ; (2) cảnh giác hình thức bầu cử của CSVN vì “Hình thức bầu cử trong chế độ cộng sản cũng là hình thức đấu tố sát hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực”; (3) Không chấp nhận hình thức đảng cử dân bầu để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước.

– Vũ Đông Hà

Một tác giả khác của Dân Làm Báo – ông Vũ Đông Hà – cũng đặt vấn đề với cái gọi là tự ứng cử trong chế độ toàn trị (DLB 12/02/2016). Cũng như Người Đưa Tin, Vũ Đông Hà mạnh mẽ thúc giục hãy “tẩy chay bầu cử”. Bởi vì theo tác giả, “tẩy chay đồng nghĩa với thái độ chính trị không chấp nhận từ căn bản về Điều 4 Hiến Pháp, về vai trò của đảng và cánh tay nối dài của đảng là Mặt trận Tổ quốc trong việc khống chế toàn bộ tiến trình bầu cử.” Tác giả lại nhấn mạnh: “Quan trọng hơn cả, tẩy chay bầu cử là thông điệp chính trị mạnh mẽ nhất để phủ nhận cái ‘chính danh’ mà cộng sản ăn cướp của toàn dân kể từ sau ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp chính quyền.”

Sau đó, Vũ Đông Hà phê phán phong trào “tự ứng cử” khi ông đặt câu hỏi “tại sao một số người hoạt động ngày hôm nay không chọn phương hướng này, không những không đứng ngoài, không tẩy chay mà lại chấp nhận tham gia màn kịch dân chủ lừa bịp và xung phong “tự ứng cử”? Nói cách khác, họ tình nguyện trở thành một thành phần, một “con cờ” hay tệ hơn – theo cách nói của những người không đồng ý với họ – “con rối” – trong trò chơi mị dân của đảng cầm quyền?

Chúng tôi chỉ nêu lên một vài khía cạnh trong bài “Tự ứng cử trong chế độ toàn trị” của Vũ Đông Hà. Có đọc toàn bài và nghiền ngẫm nó, chúng ta mới thấy hết cái thâm thúy hàm súc trong bài, để chúng ta thận trọng hơn, cảnh giác hơn đối với các trò hề bầu cử kệch cỡm của CSVN, lưu manh trắng trợn và nham hiểm nhất là trò “hiệp thương”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, hiệp thương nghĩa là “họp thương lượng về những vấn đề chính trị, kinh tế có liên quan chung tới các bên.” Nhưng thực tế thì lại không phải vậy! Ls Võ An Đôn đã chứng minh điều đó, chúng ta đã trích dẫn trên, giờ xin dẫn lại: “…khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tốnói xấu tôi dữ lắm.

Riêng kẻ hèn này xin đóng góp một suy nghĩ nhỏ: Ứng cử là ứng cử! Ứng cử tự nó đã nói lên ý nghĩa tự mình xung phong giới thiệu mình để được trao phó một trách nhiệm. Tự điển Tiếng Việt cũng minh định như vậy: “Ứng cử là TỰ GHI TÊN trong danh sách để được chọn bầu trong một cuộc bầu cử.”

Vậy, không có “tự ứng cử”, nhưng có ứng cử viên độc lập (không gọi là tự ứng cử) khi mà ứng cử viên tự mình ra ứng cử, không liên kết hay cậy dựa vào sự giới thiệu, bảo trợ hay hỗ trợ của một cá nhân, một đoàn thể, tổ chức xã hội, tôn giáo, chính trị nào! Ứng cử viên độc lập khác với ứng viên được phe nhóm đề cử, nhưng cả hai đều tự nộp đơn xin ứng cử, đều là… tự ứng cử. Các đảng viên cộng sản ứng cử qua sự đề cử công khai của đảng, đoàn, hoặc núp dưới cái vỏ bọc ứng cử độc lập cũng là tự ứng cử, dầu việc “tự ứng cử” này chỉ là làm trò mèo chuột theo lệnh của ai đó để đánh tráo việc ứng cử-bầu cử quang minh chính đại.

Phong trào tự ứng cử chắc chắn sẽ là chuyện dài trên truyền thông online. Nhưng thiết nghĩ, chúng ta chỉ tạm lướt qua một số bài đầu tiên để thử thưởng ngoạn phong trào ấy và từ đó, có thể đoán biết PT này sẽ đi về đâu!

Kết luận

Cách đây gần một tháng, đang khi Đảng CSVN ồn ào với Đại Hội Đảng lần thứ XII, vào ngày 24/01/2016 chúng tôi có cống hiến bài viết Lùm xùm chuyện đảng hôm nay, Nghĩ tới bầu bán ngày mai!Dòng suy tư cuối bài ấy, chúng tôi xin được chia sẻ lại một lần nữa ở đây cùng quý độc giả:

“Kiên quyết không tham gia bất cứ cuộc bầu bán cuội nào do CSVN bày ra, như ‘bầu’ cái gọi là ‘Quốc hội’, vở tuồng sẽ được tái diễn vào ngày 22 tháng 5, năm 2016 này. Dưới chế độ Cộng sản, không hề có bầu cử đúng theo nghĩa của từ bầu và cử! Người ta chỉ dùng thủ đoạn CỬ trước, lùa dân BẦU sau, cưỡng đoạt quyền BẦU CỬ chính đáng của dân, biến nó thành trò chính trị lươn lẹo hầu thao túng chính trường, áp đặt quyền cai trị độc tài độc đảng trên đầu, trên cổ người dân mà thôi”.

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Hồng y Karol Wojtyla và bà Anna Teresa-Tymieniecka trong một lần đi trượt tuyết BBC đã được chứng kiến hàng trăm lá thư và ảnh cho thấy mối quan hệ thân thiết kéo dài hơn 30 năm giữa Đức Giáo hoàng John Paul II và một phụ nữ đã có chồng.

Những lá thư từ triết gia người Mỹ gốc Ba Lan, bà Anna-Teresa Tymieniecka được giữ kín suốt nhiều năm ở Thư viện Quốc gia Ba Lan.

Tài liệu cho thấy một khía cạnh khác của vị Đức Thánh Cha, qua đời năm 2005.

Tuy nhiên không có chứng cứ cho thấy ông phá lời nguyện trinh khiết.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka và Hồng y Wojtyla trong một lần đi cắm trại năm 1978

Tình bạn giữa hai người bắt đầu từ năm 1973 khi bà Tymieniecka liên hệ với Hồng y Karol Wojtyla (sau này là Giáo hoàng John Paull II), lúc đó là Tổng giám mục Krakow, về một cuốn sách triết học mà ông từng viết.

Người phụ nữ lúc đó 50 tuổi, từ Hoa Kỳ đã bay tới Ba Lan để bàn về công việc.

Hình ảnh bà Anna-Teresa Tymieniecka thời gặp Hồng y năm 1973. Ảnh do Bill và Jadwiga Smith cung cấp

Không lâu sau đó, hai bên bắt đầu thư từ qua lại. Ban đầu, những lá thư của vị Hồng y rất khách sáo nhưng tình bạn càng phát triển thì lời lẽ cũng thân mật hơn.

Cả hai quyết định viết chung một cuốn sách mở rộng từ cuốn sách ban đầu của ông Karol Wojtyla, The Acting Person. Họ gặp nhau nhiều lần – đôi khi có sự hiện diện của thư ký riêng của Giáo hoàng, đôi khi gặp riêng – và thường xuyên trao đổi.

Năm 1974, ông viết rằng trong vòng một tháng ông đã đọc lại bốn lá thư của bà Tymieniecka bởi những lá thư ấy “thật ý nghĩa và riêng tư sâu sắc”.

Những tấm ảnh chưa bao giờ xuất hiện trước công chúng cho thấy hình ảnh ông Karol Wojtyla trong những khoảnh khắc thoải mái nhất. Ông mời bà Tymieniecka cùng đi dạo ở đồng quê và trong các kỳ nghỉ trượt tuyết – bà thậm chí còn đi cùng một nhóm cắm trại với ông. Các bức ảnh cũng ghi lại lúc bà tới thăm ông ở Vatican.

“Đây là một số rất ít những nhân vật siêu việt có hình ảnh cuộc sống đời thường trong thế kỷ 20, người đứng đầu Giáo hội Công giáo, với mối quan hệ mãnh liệt với một phụ nữ quyến rũ,” Eamon Duffy, Giáo sư Lịch sử Công giáo ở Đại học Cambridge nói.

Năm 1976, Hồng y Wojtyla tham dự một hội nghị Công giáo ở Hoa Kỳ. Bà Tymieniecka mời ông tới ở nhà nghỉ ở quê của họ ở New England.

Có vẻ như bà đã bày tỏ tình cảm sâu đậm với ông vì những lá thư của ông ngay sau đó cho thấy một người đàn ông cố gắng cắt nghĩa mối quan hệ của mình theo quan niệm của Công giáo.

Trong một lá thư đề tháng 9/1976, ông viết: “Teresa thân yêu của tôi, tôi đã nhận được cả ba lá thư. Bà viết về việc phải xa nhau nhưng tôi không thể nào tìm được câu trả lời cho những lời lẽ này.”

Ông gọi bà là “món quà từ Chúa”.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican

BBC chưa được đọc bất kỳ lá thư nào của bà Tymieniecka. Chúng tôi tin rằng bản sao của những lá thư này cũng được giữ chung trong tài liệu lưu trữ do bà bán lại cho Thư viện Quốc gia Ba Lan năm 2008, sáu năm trước khi bà qua đời.

Tuy nhiên những lá thư này không nằm trong số thư của Giáo Hoàng được đưa ra cho BBC. Thư viện Quốc gia Ba Lan cũng không xác nhận liệu họ có thư của bà Tymieniecka hay không.

Marsha Malinowski, người chuyên kinh doanh bản thảo viết tay và đã giúp thương lượng vụ bán những lá thư trên, nói bà tin rằng Anna-Teresa Tymieniecka đã yêu vị Hồng y Wojtyla ngay từ những ngày đầu của mối quan hệ. “Tôi nghĩ những lá thư trao đổi hoàn toàn cho thấy điều này,” bà nói với BBC.

Những lá thư cũng hé lộ rằng ông Wojtyla tặng bà Tymieniecka một trong những đồ bất ly thân quý giá nhất của mình – scapular – loại vòng da viền cổ áo tu sỹ Công giáo, mang ảnh Đức mẹ.

Trong lá thư đề ngày 10/09/1976, ông viết: “Từ năm ngoái tôi đã đi tìm câu trả lời cho những từ này, ‘tôi thuộc về em,’ và cuối cùng, trước khi rời Ba Lan, tôi tìm ra một cách – scapular. Không gian mà tôi chấp nhận và cảm thấy em có ở khắp nơi trong mọi tình huống, khi em gần, và khi em xa.”

 Chiếc vòng scapular – quà tặng của Hồng y Wojtyla dành cho bà Tymieniecka

Sau khi trở thành Giáo hoàng, ông viết: “Tôi viết sau khi sự kiện này xảy ra, để cho thấy trao đổi giữa chúng ta vẫn nên được tiếp tục. Tôi hứa sẽ ghi nhớ tất cả mọi thứ ngay cả ở giai đoạn mới này trong hành trình của tôi.”

Hồng y Wojtyla có nhiều bạn nữ, trong đó có Wanda Poltawska, một bác sỹ tâm thần, người ông cũng trao đổi thư từ trong nhiều thập kỷ.

Nhưng những lá thư của ông dành cho bà Tymieniecka đôi khi chứa đầy tình cảm cảm mạnh mẽ, đôi khi là cuộc tranh đấu trong việc lý giải ý nghĩa của mối quan hệ này.

Đức Giáo hoàng John Paul II qua đời năm 2005, sau gần 27 năm lãnh đạo. Năm 2014 ông được tuyên Thánh.

Quá trình phong thánh thường đắt đỏ và tốn nhiều thời gian, nhưng Đức Giáo hoàng John Paul II được nhanh chóng trao Thánh chỉ trong chín năm.

Foto cedida por Bill y Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka cùng chồng, Hendrik Houthakker

Thông thường, Vatican sẽ yêu cầu được xem toàn bộ tài liệu công và thư từ cá nhân khi xem xét phong thánh, nhưng BBC không thể kiểm chứng liệu những lá thư này đã được đọc hay chưa.

Bộ Tuyên Thánh nói tùy vào mỗi giáo hội Công giáo để quyết định xem có gửi những tài liệu này hay không.

“Toàn bộ trách nhiệm của chúng tôi đã được thực hiện,” Bộ nói với BBC trong một thông cáo. “Mọi tài liệu riêng, được gửi một cách trung thành để đáp lại sắc lệnh, và tài liệu được coi là thuộc những bộ lưu trữ quan trọng đã được xem xét.”

Thư viện Quốc gia Ba Lan tranh luận rằng đây là mối quan hệ đặc biệt, là một trong rất nhiều mối quan hệ bạn bè thân thiết mà Giáo hoàng có được trong suốt cuộc đời mình.

Mai Tôi Đi & Mốt Tôi Đến – NQH & NGUYỄN VĂN MỸ

 Mai tôi đi…      /                                                                                                 Mốt tôi đến…

Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng, /                                   Mốt tôi đến… đó mới là quan trọng

Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,/                                 Về quê trời, là ước vọng tương lai

Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,/                                       Nơi yên vui không cần đến tiền tài

Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn../                    Danh với vọng chẳng ai mơ màng tới

Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,/                  Bệnh chẳng sợ vì hồn đang phơi phới

Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,/                                Có đến thăm xin hãy đợi đôi ngày

Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,/                                   Vì hồn tôi như nửa tỉnh nửa say

Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt./                              Và vui sướng đêm ngày không biết tới!

Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết../               Trong khoảnh khắc là ngàn năm hạ giới

Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian. /                         Chẳng sợ gì mà đợi để đến sau

Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,/                         Nơi giàu sang đều hưởng lợi như nhau

Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi../                        Miền Miên Viễn sẽ toàn màu tuyết trắng!

Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,/               Không tranh chấp, mà những ngày phẳng lặng

Để đi vào ranh giới của âm dương,/                               Cứ vào đi Ngài luôn sẵn đợi chờ!

Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,/       Cõi Vĩnh Hằng toàn đẹp đẽ như mơ

Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…/                                   Không dành dựt bon chen như bên nớ

Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,/                           Hãy dứt khoát khi trả xong món nợ

Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,/                  Bỏ lại sau đừng tìm cớ đợi chờ

Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,/                     Hãy yên lòng và đừng có thờ ơ

Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…/                       Chết không hết, mà đổi bờ sang bến

Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ, /                       Khi tôi chết hãy thắp lên ngọn nến

Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu, /                  Ở trong lòng vì thương mến anh em

Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu./                    Hãy nghĩ rằng như nằm ngủ qua đêm

Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống../                 Vào giấc mộng êm đềm chưa thức giấc

Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,/                 Sống với chết thật gần trong gang tấc

Đến trần truồng và đi vẫn tay không. /                            Đời bên kia mới thật sẽ bền lâu

Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, /                      Nơi yêu thương và hết sức nhiệm mầu

Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…/                          Vì công lý trước sau là như một

Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,/                   Trong cuộc sống hãy cố làm việc tốt

Nên xem như giải thoát một kiếp người,/                  Yêu thương nhau đừng dại dột hại người

Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,/                            Tâm hồn ta sẽ mai mãi thảnh thơi

Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp../                             Hồn với xác sẽ sống đời Thần Thánh

NQH 07/31/2013.                                                               NGUYỄN VĂN MỸ

Tấn công vào quần chúng

Tấn công vào quần chúng

Trần Duy Sơn (Danlambao) – Ngồi trước máy tính, đọc những bài viết trên facebook, đọc những bài nhận định trên web, bỏ máy tính xuống, bước ra khỏi ngôi nhà, đường phố vẫn đông đúc, người người vẫn chạy tất bật, nhà bên cạnh vẫn xem tivi nghe nhạc như thường ngày, tôi có cảm giác xã hội này dường như không cần đảng, có đảng cũng vậy, không có đảng cũng vậy, họ vẫn làm việc, vẫn sống, có facebook cũng vậy, không facebook cũng vậy, họ vẫn dững dưng, trên web tưởng như đảng sắp sập nay mai, một bước nữa thôi, một bước nữa đảng chết, nhưng không, xã hội vẫn bình thường, nhà bên cạnh vẫn nhậu nhẹt, như vẫn không biết cái gì đang xảy ra trên thế giới này.

Đó là sự thật của xã hội VN, web là một thế giới, đời thực là một thế giới khác, khác hoàn toàn với nó, bên cạnh Dòng Chúa Cứu thế 38 Kỳ đồng, Sài Gòn, tâm điểm hội họp của anh em PTDC, bao nhiêu chương trình giúp TPBVNCH ra đời, người dân vẫn như hoàn toàn không biết gì và không quan tâm. Bênh cạnh ngôi nhà của anh em bị “ăn bánh canh” liên tục người dân vẫn thờ ơ chứ không phải như những bà mẹ VN anh hùng năm xưa dấu cơm, dấu gạo ủng hộ chiến sỹ. Tại sao như vậy?

Phong trào đấu tranh dân chủ VN không có quần chúng.

Một lỗ hổng rất lớn từ trên web xuống đời thực, không có sự nối kết, không có sự chia sẻ. Anh em dân chủ chỉ chơi được trên facebook, không chơi được với hàng xóm, vô quán nhậu thì 9 bàn nói chuyện trên trời dưới đất, 1 bàn chém gió chính trị. Bạn bè tôi ngồi chửi cái tivi suốt ngày, nhưng kết bạn với một người bạn dân chủ trên facebook, thì không dám. Vậy biểu làm sao đất nước này thay đổi?

Đó là kết quả của xã hội Việt nNam từ chế độ phong kiến, qua thực dân, qua CS và hiện nay hậu CS toàn trị KTTT định hướng XHCN.

Người dân luôn bị ra rìa, đứng dưới cấp chính quyền và không thể tham gia vào vận mệnh đất nước. Tư tưởng chế độ phong kiến người dân là thần dân chỉ biết tuân lệnh và phục tùng. Hệ thống thứ bậc và chính danh, ai ai cứ làm việc nấy, làm tốt công công việc của mình, phấn đấu trở thành quân tử, phục tùng dưới vua, đã đẩy người dân thành những con cừu tốt, cừu quân tử để cho quan quyền chăn đắt, càng quân tử càng tuân lệnh trên. Tư tưởng Khổng giáo sống là phải dung hòa các mối quan hệ vừa được lòng bên vợ, được lòng bên chồng, hài lòng bên hàng xóm, vui vẻ bên bạn bè, tuân lệnh bên chính quyền, cho nên làm mất cá tính, sức bật nhận thức riêng của mỗi con người, Chuyển qua thời kỳ thực dân, vẫn trên tư tưởng như vậy, nhưng thêm chính sách Nam kỳ Trung kỳ, Bắc kỳ người dân càng chia rẽ hơn, hưởng ánh sáng văn minh châu Âu người dân được nâng cao dân trí nhưng vẫn ra rìa xã hội. Qua chế độ CS chắc ai cũng biết rồi, người dân bị đè bẹp thêm lần nữa. giai cấp tư sản, tiểu tư sản, tiểu thương địa chủ, khỏi cất lên tiếng nói luôn, cứ để bần cố nông làm việc. Kết quả là xã hội thụt lùi vô cảm.

Một quá trình tiến hóa lịch sử như vậy, người dân chỉ giỏi một chuyện: chống ngoại xâm. Chỉ khi có giặc ngoại xâm người Việt mới đoàn kết lại, đứng bên cạnh nhau, cùng chính quyền chống kẻ thù, bởi vì khi đó người dân mới được chính quyền thả cửa, cầu cạnh, cho họ thỏa chí tang bồng, thể hiện cái tôi của mình, kích thích lòng yếu nước bản năng cùng nhau giữ nước. Từ đó hình thành tính cách người Việt là gì? Nước tới chân mới nhảy, chỉ đoàn kết trong trường hợp cận kề hiểm nguy, chỉ lo làm ăn không quan tâm đến xã hội, không có khái niệm chống lại triều đình, không có ý tưởng tranh luận bàn hội nghị gọi là nghị trường, mà đối với kẻ thù chỉ có diệt và diệt, khác quan điểm là diệt, khác phe nhóm là diệt, khác tư duy là diệt như diệt giặc cho nên bị giặc nội xâm người Việt không biết đường mò. Chống ngoại xâm kẻ thù quá rõ, cầm gươm giáo, súng ống là diệt giặc được rồi, còn giặc nội xâm đâu biết ai là kẻ thù cũng không cầm súng được cho nên bó tay. Với chế độ CS bọn nó còn lưu manh chước quỷ hơn ngàn lần trước kia, vừa đấm vừa xoa, vừa bóp vừa thả nên người dân càng mờ ảo không nhận diện được kẻ thù, nên đảng dắt đi rong chơi.

Phân tích lịch sử để chi? Để thấy rằng bản chất người Việt như vậy đó, chúng ta đấu tranh cho dân chủ phải trên nền tảng cội nguồn tài nguyên như vậy đó, chứ không phải anh bắt người dân phải nhận thức như người Mỹ, lãnh đạo phải yêu nước như vua chúa để cho tui đấu tranh. Anh không thể bắt người dân phải thay đổi nhận thức mà làm sao để họ thay đổi nhận thức. Anh không thể bắt người dân phải quan tâm đến chính trị, mà phải làm sao để họ quan tâm đến đất nước khi xã hội đầy bất công xảy ra.

Xã hội KTTT định hướng XHCN hiện tại, ít nhất người dân cũng bước vào xã hội tiêu thụ, muốn gì có nấy, muốn điện thoại đời mới nhất có, muốn xe hơi có, muốn ăn chơi có, muốn thời trang có, thế giới thay đổi cái gì về công nghệ ở đây có, v.v… chính việc này càng làm người dân thờ ơ với chính trị hơn, họ tưởng lầm đó là cuộc sống mơ ước.

Những điều này giải thích tại sao phong trào đấu tranh không có quần chúng? Còn nhiều lý do khác, như chính sách nhồi sọ của CS,… tuy nhiên, về mặt khách quan, lật đổ CS khác với chống giặc ngoại xâm, người Việt chưa quen với ý nghĩ này, không nhận diện được kẻ thù, không biết bắt đầu từ đâu, phương pháp nào để đấu tranh v.v… Về chủ quan, theo tôi phong trào đấu tranh có thể chưa đi đúng hướng.

Vẫn theo cách đấu tranh quen thuộc trong tiềm thức từ thời phong kiến, muốn diệt CS phải tấn công vào CS. Diệt và diệt. 40 năm qua chúng ta vẫn đấu tranh theo cách này, chửi bới CS, tố cáo tội ác CS, đập tan luận điệu tuyên truyền giả dối của CS, kêu gọi biểu tình, xuất hiện công khai làm gương để người dân thức tỉnh v.v… Điều này không sai, nhưng không đủ sức mạnh, chúng ta quên đi một điều: người dân chưa có ý thức về xã hội, họ vẫn quen kiếp sống thần dân. Bao nhiêu phong trào đưa ra người dân vẫn tỉnh bơ, vậy vấn đề ở đâu? Tấn công vào CS chỉ là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ và quan trọng nhất, phải vực dậy quần chúng. Nếu không có quần chúng anh sẽ không làm được việc gì cả.

Nhiều bài viết trước kia của tôi đã đề cập đến vấn đề này:

1- Chưa vượt qua sợ hãi thì không thể có bất tuân dân sự.

2- PTDC phải làm việc ở giai đoạn trước bất tuân dân sự mà tôi gọi là giai đoạn “Theo dân sự”. Để chi? Để tìm hiểu người dân, nguyện vọng của họ với xã hội là cái gì, tại sao họ sợ hãi, cách giải quyết như thế nào. Chính giai đoạn này anh mới lôi kéo được người dân bởi vì chưa đụng chạm tới chính quyền nhiều.

Theo tôi tiến trình tâm lý vượt qua sợ hãi phải qua 3 giai đoạn:

a- Thay đổi nhận thức

b- Thoát khỏi ràng buộc

c- Vượt qua sợ hãi

Sau đó mới tham gia những chương trình bất tuân dân sự. Tại sao phải thoát khỏi sự ràng buộc? Hãy nhìn lại vấn đề này chuẩn xác hơn. Không phải vượt qua sợ hãi mà người dân đứng lên, bao nhiêu người nhận thức về xã hội từ tri thức đến sinh viên đến những người dân thường, nhưng tại sao trí thức trùm chăn, sinh viên lạnh cảm chỉ có những anh em facebooker bình thường xuất hiện, phải chăng sự nhận thức, ràng buộc kinh tế, ràng buộc gia đình, quyền lợi trong công việc lôi kéo họ lại, không dám cất lên tiếng nói của mình vì họ sợ CA là một nhưng sợ mất công việc, phiền toái, sợ mất sổ hưu, sổ gạo là mười, chứ đâu phải dân trí. Cho nên thay đổi nhận thức và thoát khỏi ràng buộc là 2 yếu tố chính quyết định việc tham gia của người dân, trong đó thay đổi nhận thức là tấm mặt nạ mà PTDC chắc chắn tác động được, có nhiều xác suất thành công, sau đó chính họ tự quyết định thoát khỏi sự ràng buộc.

Cốt lõi căn nguyên nhất là thay đổi nhận thức của người dân về đảng và trách nhiệm của người dân với xã hội, chứ không phải nâng cao dân trí. ĐH 12 là một ví dụ, người dân vẫn chưa nhận thức đúng về đảng. “Họ vừa muốn lật đổ đảng, vừa muốn đảng tốt lên, vừa muốn đảng thay đổi, và nghĩ rằng xã hội sẽ tốt lên” trong khi đảng bầu bán, hội nghị, nghị quyết, nhân sự là để bảo vệ cho đảng, làm cho đảng trường tồn, chứ không quan tâm đến sự phát triển của xã hội. (*)

Thay vì tấy chay cái hội nghị đó của đảng, chúng ta lại bàn tới bàn lui về nhân sự, theo dõi đảng hằng ngày mà quên đi sức mạnh quần chúng mới là giá trị dứt khoát làm thay đổi mục tiêu của ba cái hội nghị này.

Bây giờ, phong trào tự ứng cử quốc hội.

Hiện tại có 2 luồng ý kiến: tẩy chay và tự ứng cử. Theo những phân tích ở trên tôi ủng hộ việc tự ứng cử quốc hội. Vì sao?

1- Trước nhất phải xác định rõ ràng về mặt tư tưởng. Trong tình hình hiện tại, chúng ta chưa có khả năng nào thắng đảng trong cuộc bầu cử này. Đảng cho 10 người, 2 người hay 0 người vào làm chim cá cảnh cho quốc hội thì chúng ta vào chứ không thể nói đòi mà được. Sau đó làm được cái gì, cũng chẳng làm được cái gì cả, cao lắm làm được hoa lá cành cho đảng. Vì vậy đừng nghĩ rằng sẽ có thắng lợi trong việc chống chọi với đảng trong cuộc bầu cử này. Hoặc cũng sẽ không có thắng lợi nào cả nếu có 5-10 người chễm chệ ngồi trong quốc hội. Lý do tại sao, chắc ai cũng trả lời được. Giả sử Nguyễn Tấn Dũng có ý tốt cho dân tộc, phe cánh đầy mình, 10 năm làm thủ tướng NTD cũng bó ta rút lui kia huống chi là 5-10 người đơn độc trong cái quốc hội bù nhìn ấy. Đảng để yên chắc?

2- Người dân chưa vượt qua được giai đoạn sợ hãi, đang nằm ở giai đoạn 1, thay đổi nhận thức, chưa thoát khỏi ràng buộc mà chúng ta kêu gọi tẩy chay bầu cử, thử hỏi bao nhiêu người tham gia. Đừng yêu cầu người dân vượt qua khỏi tầm vóc của mình. Tẩy chay bầu cử nghĩa là không đi bỏ phiếu cũng giống như kêu gọi biểu tình, 10g30 tổ trưởng tổ dân phố đến từng nhà đôn đốc đi bầu, nếu ai không bầu tổ trưởng bầu thế, qua 12g tổ ta vượt chỉ tiêu, 100% cả nhà đi bầu sớm hơn dự định. Còn ai cương quyết phản bác, để đó giải quyết sau. Dự đoán Sài gòn khoảng 100 người, hầu hết là facebooker hay đi biểu tình không đi bỏ phiếu. Còn lại cuộc sống vẫn vậy.

3- Biết rằng không thắng lợi, vậy chúng ta kêu gọi tự ứng cử để chi? Không thắng lợi trong việc trực tiếp chống chọi với đảng nhưng chúng ta cần thức tỉnh người dân. Cần người dân quan tâm đến xã hội, cần cho họ thấy rõ bản chất dân chủ thật sự của đảng, bản chất lừa lọc của đảng, bản chất xấu xa đê hèn của đảng, thông qua những chiêu trò chống lại việc tự ứng cử này. Lột mặt nạ của đảng để người dân thấy rõ chân dung kẻ thù hơn mà lâu nay họ vẫn bán tín bán nghi để đảng lừa lọc.

4- Ở trong nước đấu tranh, gần như 100% dùng facebook. Hiện tại, một người tự ứng cử đạt được khoảng 1500-2000 like. Quá ít ỏi với số lượng 3.600.000 người dùng facebook ở VN. Vậy thử hỏi chúng ta sẽ làm được gì, trứng chọi với đá, trong cuộc cách mạng DC này? Chỉ khi nào số lượng đó đạt được 5000-10.000 like mới có thể nghĩ đến biểu tình hay tẩy chay bầu cử. Nghĩa là chúng ta vẫn còn quá sơ sài, quá ít ỏi, việc chúng ta cần nhất là phát triển lực lượng, mở rộng quần chúng, chứ không phải đương đầu với địch thủ để rồi hao mòn số lượng.

5- Vì vậy điều chúng ta cần thật sự là thay đổi nhận thức để mở rộng quần chúng. Tại sao không nghĩ đến tới việc “người người ứng cử, nhà nhà ứng cử, làng làng ứng cử” mà tự giới hạn số lượng lại vậy.? Ai ai cũng có thể tự ứng cử nếu đủ điều kiện về luật pháp. Trong đó sẽ có những người ứng cử thật sự, có những người ứng cử màu mè, và kể cả câu like. Người dân họ không dại dột đến nỗi không phân biệt được ai là ai đâu! Một status trên facebook thế này, không lẽ chúng ta cấm họ sao:

“Tôi Nguyễn Thị Út, 26 tuổi, bán phở ở Cầu Ông Lãnh, xét thấy đủ điều kiện ứng cử theo luật lệ hiện hành, hôm nay tôi xin ra tự ứng cử, nếu được trúng cử việc đầu tiên nhất là tôi sẽ dẹp ba cái thằng dân phòng hốt của lòng lề đường của người dân. Ai ủng hộ hãy bầu cho tôi.”

Hoặc “Em, Trần văn Tèo, bán nước mía chợ ông Tạ, em mới học hết lớp 9 thôi, nhưng xét thấy nhân cách đạo đức em hơn mấy ông nghị gật bù nhìn kia, nên hôm nay em xin tự ứng cử. Ai ủng hộ xin bầu em, em sẽ lắng nghe ý kiến của nhân dân, không ngủ gật như mấy ổng. Em hứa.”

Tôi mong muốn được đọc tất cả những chương trình hành động, cương lĩnh tranh cử của tất cả 90 triệu dân này, dù nó buồn cười rẻ tiền hay sâu sắc.

Do đó, vấn đề đặt ra, là làm sao để mọi người dân quan tâm, chứ không phải để thắng hay thua trong cuộc bầu cử này. Biến cuộc bầu cử trở thành trò hề, trò chơi châm biếm đảng, một đại nhạc hội cười đảng, một chương trình “lẩu thập cẩm” của đảng cũng là một cách gián tiếp lật đổ đảng vậy? Nếu trong cuộc bầu cử này số lượng người dân tham gia càng ngày càng đông, rộn ràng trên web, ngày nào mọi người cũng trông vào để biết tin là kể như chúng ta đã thắng lợi. Chính trong việc quan tâm này người dân mới thay đổi nhận thức, vì vậy chúng ta phải làm tất cả những chương trình nào lôi kéo được người dân, lợi dụng bầu cử, đại hội đảng, thay đổi nhân sự, thay đổi nghị định và kể cả những chương trình chúng ta tạo ra để thay đổi nhận thức của người dân. Cũng rất cần những cương lĩnh bác học sâu sắc để nâng cao tầm nhìn của quần chúng.

6- Giai đoạn đầu cứ để phát triển tự do, để kích thích người dân tham gia, từ đây đến tháng 5, một quá trình dài để thay đổi nhận thức những người còn bàng quang, những người đắn đo. Giai đoạn 2, khi những người ứng cử quyết định thật sự đã ra phường xã như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Luật sư Lê Văn Luân, Võ An Đôn, Nguyễn Kim Anh, Phạm Thành, Nguyễn Thúy Hạnh, Đặng Bích Phượng, Hoàng Cường, Nguyễn Đình Hà, v.v… phong trào mới chốt lại, đi vào đúng quy trình, cần phải có những chương trình bảo vệ họ nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn. Đây mới là lúc đối đầu thật sự giữa đảng và người dân. Đây chính là lúc đảng lộ nguyên bộ mặt thật của mình, rất cần người dân nhìn thấy. Nếu cần, sau khi thất bại ở khâu “gởi xe” chúng ta lên chương trình tẩy chay. Tại sao không?

Người dân từ kiếp thần dân chuyển qua cuộc sống công dân họ chưa quen với cách nhìn nhận xã hội, thêm nữa CS tước đoạt toàn bộ quyền công dân của họ, cho nên chương trình tự ứng cử một cách nào đó giúp họ hiểu biết thêm về xã hội dân chủ, nhận thức lại sức mạnh của mình, và sức mạnh ấy có thể lật đổ CS mà lâu nay họ quên mất. Biết rằng tẩy chay bầu cử là đòn mạnh giáng vào CS, nhưng sức mạnh quần chúng của chúng ta chưa đủ lực để làm điều đó, nên giải pháp tự ứng cử gián tiếp bước đầu lật đổ CS, người dân phải có trách nhiệm với xã hội, anh muốn xã hội tốt hơn anh phải tham gia chứ không ai giải quyết dùm anh, lá phiếu của anh, tiếng nói của anh cũng là một dạng trách nhiệm. Dân cử dân bầu, chứ không phải đảng cử dân bầu.

Tấn công trực tiếp vào đảng là châu chấu đá xe. Muốn lật đổ đảng phải có quần chúng, muốn có quần chúng phải có sân chơi, và cần rất nhiều sân chơi, tẩy chay Tân Hiệp Phát là một sân chơi, ĐH 12 là một sân chơi, phong trào tự ứng cử là một sân chơi để lôi kéo quần chúng. Chỉ khi nào sức mạnh quần chúng liên kết lại, liên kết lại, lớn lên, thì khi đó ĐCS mới quỳ gối xin tha tội, còn không chúng vẫn tiếp tục lừa dối nhân dân hết chặng này đến chặng khác.

Sân chơi tự ứng cử lớn hơn sân chơi tẩy chay, vì vậy tôi ủng hộ phong trào tự ứng cử vào quốc hội.

Sài Gòn 15/2/2016

Trần Duy Sơn

danlambaovn.blogspot.com

Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

  • Chuyện có thật mà cứ như đùa ấy.

Bài 2 – Giai thoại trong thời chiến tranh Việt nam

Đoàn Thanh Liêm

 (Chuyện kể từ một nhà báo và tác giả nổi tiếng quốc tế : Oriana Fallaci).

Oriana Fallaci (1929 – 2006)

Oriana Fallaci sinh trưởng tại thành phố Florence nước Ý Đại Lợi. Bà là một

nhà báo nổi danh quốc tế. Trong suốt mấy chục năm lăn lộn trong ngành báo

chí, Oriana đã phỏng vấn rất nhiều nhân vật có danh tiếng trên thế giới và

gây được tiếng vang trong dư luận khắp nơi. Điển hình như các nhân vật sau

đây : Giáo chủ Ayatollah Khomeini, Đức Dalai Lama, Lành tụ Đặng Tiểu

Bình, Tiến sĩ Henry Kissinger, Lãnh tụ Yasir Arafat, Nữ Thủ tướng Ấn độ

Indira Gandhi, Bà Thủ tướng Do Thái Golda Meir v.v…

Bà còn viết nhiều cuốn sách được rất nhiều độc giả ưa chuộng tìm đọc, cụ

thể như cuốn “Nothing, and so be it ” viết chủ yếu về chuyện chiến tranh ở

Việt nam hồi cuối thập niên 1960. Và nhất là trong mấy cuốn xuất bản gần

đây sau cuộc khủng bố 11 tháng Chín năm 2001, như : “The Pride and the

Rage ”, “ The Force of Reason “, bà đã thẳng thắn phê bình chê trách số di

dân người Ả rập và Hồi giáo đã gây khó khăn cho nước Ý, cũng như cho

toàn thể Âu châu. Mấy cuốn sách này đã gây ra một cuộc tranh luận gay go,

sôi nổi giữa bên bênh và bên chống đối với lập trường cứng rắn dứt khoát

của bà. Một số tổ chức của người Hồi giáo còn đâm đơn kiện bà ra tòa về tôi

phỉ báng và kỳ thị đối với người theo đạo Hồi.

Chuyện quan hệ giữa người di dân Hồi giáo với người Âu châu rất phúc tạp,

đến nỗi mà vừa mới đây vị Thủ tướng nước Pháp Francois Fillon đã phải lên

tiếng với lời lẽ rất cương quyết đanh thép, để nhắc nhủ người di dân Hồi

giáo như sau : “ Những người di dân không phải là gốc Pháp, thì phải thích

nghi (với xã hội Pháp) “ (nguyên văn tiếng Pháp : “ Les immigrants, non

francais, doivent s’adapter “).

Về chuyện liên quan tới Việt nam vào thời chiến tranh trước năm 1975, ta có

thể ghi lại vài mẩu chuyện như sau đây :

  1. a) Trong cuốn “Nothing, and so be it”, tác giả có kể lại cuộc phỏng vấn

một cán binh trong nhóm “đặc công” cộng sản, mà chuyên đặt mìn

phá hoại và sát hại tại các địa điểm quân sự cũng như dân sự ở Saigon

vào các năm 1964-66, rồi bị cơ quan an ninh của chánh quyền Việt

nam bắt giữ. Anh này khai tên là Nguyễn Văn Hai, người miền Nam.

Nhưng anh ta rất gan dạ, nhất quyết không chịu khai báo một chi tiết

nào về các vụ đặt mìn của mình. Cuối cùng, cơ quan điều tra phải cử

một sĩ quan rất có kinh nghiệm để tiến hành việc thẩm vấn nghi can

 Hai này. Điều tra viên này lập kế, khêu gợi “ bản lãnh anh hùng” của

nghi can, bằng cách dụ dỗ anh ta như sau : “ Chúng tôi đã thâu thập

được đày đủ bằng chứng do chính các đồng đội của anh mà cũng bị

bắt sau anh, thì họ đều xác nhận anh là kẻ chủ mưu chính yếu trong

mấy vụ đặt mìn này. Chúng tôi cần lời khai của anh để anh có dịp xác

nhận cái hành động anh hùng dũng cảm của anh trong khi theo đuổi lý

tưởng cách mạng giải phóng dân tộc. Như vậy, nếu mà anh có bị tòa

án xử thế nào đi nữa, thì mọi người cũng sẽ biết được cái nghĩa khí

anh hùng của anh. Và tổ chức Mặt trận Giải phóng sẽ vinh danh con

người “dũng sĩ cách mạng” của anh. Ngược lại, nếu mà anh cứ nhất

định không chịu khai báo gì cả, thì rồi anh cũng sẽ bị sát hại như “một

kẻ vô danh bị tai nạn xe cán tại một xó xỉnh nào đó” mà thôi…” Nghe

vậy, rốt cuộc nghi can Hai đã khai báo mọi chi tiết về hoạt động đặt

mìn phá hoại của mình. Và cơ quan điều tra đã có thể kết thúc hồ sơ

để truy tố đương sự ra trước tòa án quân sự mặt trận.

Khi Oriana được cho tiếp súc với nghi can để tiến hành việc phỏng

vấn này, thì cuộc điều tra đã hoàn tất. Nên nhà báo muốn khai thác

nhiều chi tiết về đời sống riêng tư của người đặc công gan dạ này. Tác

giả đã ghi lại khá nhiều chi tiết về sở thích cá nhân, về gia cảnh … của

đương sự. Và có chi tiết này rất đáng chú ý, đó là cuối cùng đặc công

Nguyễn Văn Hai tâm sự với nhà báo rằng : “ Tôi thật ân hận là vẫn

còn ham chuộng cái danh vọng hão huyền, để cho mình được ca tụng

như là một “người anh hùng”, nên mới khai báo chi tiết về hành động

của mình khiến cho các đồng chí bị liên lụy và bị bắt giữ, làm cho tổ

chức bị tan rã. Thật là chuyện đáng hối tiếc lắm lắm vậy đó…!”

  1. b) Cuối năm 1968, Oriana ra Hanoi và có dịp phỏng vấn Tướng Võ

Nguyên Giáp lúc đó còn giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Khi về

lại Saigon, Oriana có kể lại chi tiết cuộc phỏng vấn này với Luật sư

Trần Văn Tuyên vốn hồi trước năm 1945 là bạn bè gần gũi thân thiết

với ông Giáp. Tôi được Luật sư Tuyên thuật lại cho nghe về câu

chuyện phỏng vấn này, đại ý như sau : “ Oriana mô tả Tướng Giáp

tiếp bà tại văn phòng Bộ trưởng với một căn phòng rộng mênh mông

(une salle immense), và ông Giáp người thấp lùn với dáng điệu, kiểu

cách giống hệt như là Tướng Napoleon ngày xưa của Pháp ấy. Khi

được hỏi về chiến dịch Tết Mậu Thân ở miền Nam, thì tướng Giáp coi

bộ “sửng sốt, mất bình tĩnh” ( il s’énerve), ông đứng dậy đi đi, lại lại

trong phòng coi bộ suy nghĩ đăm chiêu lắm, và rồi cuối cùng thì ông

Giáp “đổ hết tội cho Phạm Hùng là người chỉ huy Trung Ương Cục

Miền Nam lúc đó (incriminer) đã gây ra những sự tổn thất nặng nề

trong chiến dịch này…” Chuyện Tết Mậu Thân năm 1968 này cho đến

nay vào năm 2010, thì vẫn còn là một bí hiểm, vì dù đã sau 42 năm,

chưa có bất kỳ một tài liệu chính thức nào tại cấp lãnh đạo chóp bu ở

Hanoi mà được đưa ra công khai công bố cho công chúng cả.

  1. c) Về một số nhân vật khác mà Oriana có dịp gặp gỡ trao đổi, thì bà

cũng thuật lại với lời lẽ rất thẳng thắn, chẳng hề dè dặt e ngại gì cả.

Điển hình như chuyện bà mô tả cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc

nằm tại bệnh viện sau lúc bị bắn trọng thương trong vụ chỉ huy phản

công chống lại quân cộng sản xâm nhập đợt hai vào Saigon hồi tháng

5 năm 1968, thì ông tỏ ra là con người chẳng còn một chút dũng khí gì

cuả một ông Tướng chỉ huy ngành cảnh sát quốc gia đày quyền uy và

rất là năng nổ trước đó. Tác giả cũng kể lại cuộc gặp gỡ với ông

Nguyễn Ngọc Linh với lời lẽ không mấy thiện cảm, đại khái như là ăn

diện rất trau chuốt kiểu cách, nói tiếng Anh cũng như tiếng Pháp đều

rất trôi chảy, nhưng mà lại xa rời quần chúng v.v… Nói chung, thì

cũng như nhiều ký giả quốc tế vào hồi đầu thập niên 1970, Oriana

không có mấy thiện cảm với các nhân vật lãnh đạo của chế độ Việt

nam Cộng hòa, trái lại họ có vẻ nghiêng về phía Việt cộng, mà họ cho

là có lý tưởng, có chính nghĩa hơn.

  1. d) Nhưng sau 1975, thì Oriana cũng như nhiều nhà báo thượng thặng

khác như Jean Lacouture của Pháp lại có cơ hội tìm hiểu rõ nét hơn về

thực chất của chế độ cộng sản Việt nam. Và bà đã có sự “đánh giá, xét

lại” về phong trào cộng sản ở Việt nam. Bà đã trao đổi chuyện này với

tác giả David Horowitz là người rất nổi tiếng vì đã thay đổi lập trường

180 độ, từ phía cực tả “thân cộng sản” sang phía “cực hữu”, khiến gây

sôi nổi trong công luận thế giới vài chục năm gần đây. Câu chuyện

xung quanh nhân vật David Horowitz “gây nhiều tranh cãi” nổi cộm

này (controversial figure), cũng như sự thay đổi quan điểm của Oriana

Fallaci kể từ sau thập niên 1980 trở đi, sẽ là đề tài cho một bài tìm

hiểu chi tiết hơn, mà người viết sẽ cống hiến với quý bạn đọc trong

một dịp khác vậy nhé./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

 

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

(Luca 9,28b-36 – CN II MC – C)

 Lm FX Vũ Phan Long, OFM 

1.- Ngữ cảnh

Đây là biến cố cuối cùng trong thời gian Đức Giêsu hoạt động tại Galilê (Lc 3,1–9,50): Người đang ở tại một khúc quanh quan trọng trong sứ mạng; công việc rao giảng tại Galilê đã kết thúc; Phêrô mới đây đã tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (9,20) và nhân dịp đó, Người đã củng cố thêm hiểu biết của các môn đệ bằng cách loan báo cuộc Thương Khó (9,22). Cũng giống như ở Mc 9,2-8, truyện Hiển Dung của Đức Giêsu trong TM III (9,28-36) đi theo sát lời Đức Giêsu nói về đời môn đệ và dường như trả lời một loạt các câu hỏi về chân tính của Đức Giêsu (x. 9,7-9.18-22). Cuộc Hiển Dung cho các môn đệ được thấy trước vinh quang của Đấng Phục Sinh, vinh quang Nước Trời. Truyện giới thiệu tư cách thuộc thiên giới của Đức Giêsu đối lại với hai dung mạo Cựu Ước và thúc bách các Kitô hữu lắng nghe Người như lắng nghe Con Một của Thiên Chúa và Đấng được Thiên Chúa ưu tuyển.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (9,28);

2) Cuộc Hiển Dung (9,29-35):

  1. a) Lý do (cc. 29-32),
  2. b) Cuộc đối thoại (cc. 33-35);

3) Kết thúc cuộc Hiển Dung (9,36).

3.- Vài điểm chú giải

– dung mạo Người đổi khác (29): Cụm từ này đã thay thế cho động từ “được biến hình” (metamorphôthê) trong Mc (9,2) và Mt (17,2) để tránh những truyện về hóa thân, hóa kiếp trong thần thoại ngoại giáo.

– có hai nhân vật (30): Vì được giới thiệu là “hai nhân vật, hai người đàn ông” (andres dyo), ta có thể nghĩ đến “hai người đàn ông y phục sáng chói” trong truyện Phục Sinh (Lc 24,4) hoặc “hai người đàn ông mặc áo trắng” trong truyện Thăng Thiên (Cv 1,10). Như thế, quả thật Môsê và Êlia là hai chứng nhân của Đức Giêsu, nhưng ở đây, hai vị có mặt trong tư cách là những nhân vật thuộc thiên giới, nhằm loan báo vinh quang tương lai của Đức Kitô. Và nếu vậy, quang cảnh này trước hết là một hình ảnh báo trước cuộc Lên Trời (x. Cv 1,9: đám mây).

– Xuất hành (31): Rất có thể tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó – Phục Sinh – Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang của Thiên Chúa (# Đất hứa).

– ngủ mê mệt (32): Dịch sát là “bị đè nặng trong giấc ngủ” (bebarêmenoi hypnô).

– vinh quang (32): Tác giả Lc là tác giả duy nhất sử dụng từ “vinh quang” ở đây. Kiểu ngài nối kết Khổ Nạn với Vinh quang ở đây rất gần với truyện Ga 12,27-28 (vẫn được coi như tương tự với truyện Hiển Dung trong các TMNL).

– thật là hay (33): Hay cho ai? Chúng ta không rõ. Dù sao, ta hiểu là Phêrô không hiểu rõ hoàn cảnh, nhưng cảm thấy vui, nên mơ ước kéo dài tình trạng này.  

– đám mây (34): Phải chăng đám mây bao phủ cả các môn đệ, nên các ông mới sợ (sợ chết?)? Có bao phủ ba nhân vật kia không? Nhưng bản văn lại nói là “từ đám mây có tiếng phán ra”. Vậy có lẽ các môn đệ ở ngoài đám mây. Nhưng dù thế nào, đám mây thường đi liền với cuộc thần hiển (x. Xh 16,10; 19,9.16; 24,15-16; Lv 16,2; Ds 11,25) và được coi như nơi ở (shơkinâh trong sách Talmud, có nghĩa là “sự hiện diện của Thiên Chúa”) của Thiên Chúa. Khi thấy đám mây xuất hiện và dường như còn bao trùm lấy mình, các môn đệ kinh hãi.

– Người được Ta tuyển chọn (35): Xem các “Bài ca về Người Tôi Trung” (Is 42,1; 49,7).

– trong những ngày ấy (36): nghĩa là trong thời gian Đức Giêsu đi hoạt động. Công thức này đối lại những gì được kể sau này, sau khi Đức Giêsu đã sống lại.

4.-Ý nghĩa của bản văn

Khung cảnh của bản văn này như sau: Ngay trước bài tường thuật này là các giáo huấn về đời môn đệ (Lc 9,23-27) và ngay sau bài, là truyện Đức Giêsu chữa lành một em bé bị quỷ ám (9,37-43). So với các Tin Mừng khác, ta thấy tác giả không kèm theo mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ trong khi các ngài xuống núi (x. Mc 9,9-10; Mt 17,9), cũng không có lời nói về ngôn sứ Êlia (x. Mc 9,11-13; Mt 17,10-13).

Độc giả đã thấy giáo huấn về đời môn đệ “vác thập giá” và thị kiến về “vinh quang” được nối kết chặt chẽ trong kinh nghiệm về cuộc Hiển Dung. Không thể hiểu được ý nghĩa của biến cố huyền nhiệm này nếu không đặt nó vào bên trong hai chiều tư tưởng thần học chủ đạo: sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu, yêu cầu đi theo Người trên con đường thập giá, và ánh sáng vinh quang của sự phục sinh của Người.

* Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (28)

Chỉ tác giả Lc xác định biến cố xảy ra vào “khoảng tám ngày sau khi (Đức Giêsu) nói những lời ấy” (c. 28), tức là các giáo huấn về đời môn đệ (cc. 23-27). Cả ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê vừa chứng kiến Đức Giêsu làm cho con gái ông Gia-ia sống lại (Lc 8,51-56), nay Người đưa các ông đi ra khỏi tình trạng ồn áo huyên náo của cuộc sống thường ngày và đưa các ông lên núi (không được xác định), biểu tượng của thế giới Thiên Chúa. Mới trước đó, Người yêu cầu “vác thập giá mà theo” Người, bây giờ Đức Giêsu quyết định “đem theo” ba môn đệ và kết hợp các ông vào sứ mạng của Người, để các ông có thể chia sẻ kinh nghiệm vinh quang nhằm đi tới chỗ hoàn tất trong Ngày Phục Sinh.

Điều đáng ghi nhận: tác giả cho biết mục tiêu Đức Giêsu nhắm không phải là tỏ mình ra cho các môn đệ, nhưng là “cầu nguyện”. Việc cầu nguyện được đặc biệt nêu bật trong TM III.

* Cuộc Hiển Dung (29-35)

Đang khi Người cầu nguyện, thì “dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà” (c. 29): cuộc hiển dung xảy ra như là kết quả của việc cầu nguyện. Tác giả không dùng động từ metamorphousthai (= biến hình) có trong McMt (x. Mc 9,2; Mt 17,2). Theo một vài nhà chú giải, tác giả Lc muốn tránh làm cho độc giả hiểu đây giống như những cuộc hóa thân của thần thánh ngoại giáo; có những tác giả khác lại cho rằng đây là một gợi nhắc đến biến cố Môsê đã trải qua trên núi Sinai (Xh 24,29-30): trong bản văn này có nói rằng dung mạo Môsê phản ánh vinh quang của Đức Chúa. Tầm quan trọng được gán cho biến cố huyền nhiệm này đưa độc giả đến chỗ nghĩ rằng Đức Giêsu đang tự mạc khải ra như là Đấng sống lại và đang ở trong thế giới siêu việt và vinh quang của Thiên Chúa.

Vậy, vẻ rạng rỡ của dung mạo và nét trắng tinh chói lòa nơi y phục của Người cho biết Người thông dự vào đời sống của Thiên Chúa, Người có bản tính Thiên Chúa, và báo trước cuộc Phục Sinh. Các môn đệ nhận ra rằng dung mạo quen thuộc con người trần gian của Đức Giêsu lâu nay không diễn tả hết tất cả thực tại của Người; các ông hiểu rằng Người không bị khóa kín trong những giới hạn của thực tại trần gian. Đàng sau dung mạo phàm trần của Đức Giêsu, có ẩn giấu thực tại siêu phàm thần thiêng của Người.

Không những các giới hạn của thực tại trần thế bị vượt quá, các biên cương của thời gian cũng bị lướt qua. Bên cạnh Đức Giêsu, xuất hiện hai ông Môsê và Êlia, hai dung mạo nổi bật trong lịch sử dân Israel (cc. 30-31). Môsê nhà giải phóng Dân tộc, cũng là trung gian đón nhận Luật Sinai. Êlia là vị ngôn sứ đã bảo vệ tôn giáo độc thần và tái lập giao ước của Thiên Chúa với Dân. Các ngài đại diện cho mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa và cuộc chiến đấu của Người cho dân tộc này. Các ngài cũng chia sẻ kinh nghiệm bị từ khước và bị bách hại. Nay hai ngài đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành” Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem (c. 31). Tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó–Phục Sinh–Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang (# Đất hứa). Nhưng toàn bộ cuộc Xuất Hành mới này liên hệ đến lịch sử Israel (đại diện bởi Môsê và Êlia); Đức Giêsu sẽ đưa lịch sử của những mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa đối với Dân Người đến chỗ hoàn tất.

Đáng tiếc là các môn đệ nặng nề trong giấc ngủ (c. 32). Khi Thầy làm phép lạ, hoặc khi đám đông hoan hô Người, các ông thức, nhưng khi Người bắt đầu nói đến chương trình của Thiên Chúa, việc hiến dâng mạng sống, phục vụ người nghèo, thì họ từ khước hiểu biết, họ nhắm mắt lại và ngủ. Sau này, tại núi Ôliu, các ông cũng ngủ (Lc 22,45), bởi vì các ông chờ đợi được vỗ tay hoan hô và tôn vinh, chứ không hiểu vai trò của thập giá mà Thầy đang đi tới. Tuy nhiên Phêrô còn tìm ra sức mà lên tiếng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều…” (c. 33). Ông mong muốn kéo dài mãi mãi kinh nghiệm về vinh quang này, tương quan đặc biệt này giữa thiên quốc và trần gian, một nếm cảm trước  sự viên mãn cánh chung, thiết lập tức khắc Triều Đại Thiên Chúa trên mặt đất (G. Rossé). Chi tiết “dựng ba cái lều” vừa có tính lịch sử (Nhà Tạm của Hòm Bia Chứng Ước trong cuộc xuất hành qua sa mạc) vừa mang tính phụng vụ (Lễ Lều: Lv 23,42; Dcr 14,16-19). Thật ra, ông không biết mình đang nói gì” (c. 33). Ông chỉ dừng lại với một khoảnh khắc sống ở bình diện cá nhân chứ không nghĩ đến được số phận cánh chung của toàn thể Dân Giao ước. Ông không hiểu giá trị của cuộc Hiển Dung trong chương trình cứu độ phổ quát.

Quang cảnh hiển vinh đột nhiên bị một đám mây che phủ. Khi đi vào trong hoàn cảnh mới này, các môn đệ hoảng sợ (c. 34), điều này cho hiểu là con người mỏng dòn đang tiếp cận với mầu nhiệm của sự thánh thiêng. Đám mây là sự chấm dứt kinh nghiệm về vinh quang, vừa là nơi phát ra tiếng nói thiên quốc. Đây là vai trò biểu tượng của đám mây (x. Xh 19,9.16; 24,15-18; 40,34t; 2 Mcb 2,8; Cv 1,9). Tiếng nói bảo: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (c. 35). Khẳng định được liên kết với mạc khải trong Phép rửa (Lc 3,22), nhưng khác biệt ở chỗ tại Phép rửa, tiếng nói ngỏ lời trực tiếp với Người Con, còn ở đây, mạc khải được gửi đến các môn đệ, với lệnh vâng nghe lời Người (autou akouete: lưu ý vị trí nhấn mạnh của đại từ. Diễn ra như sau: “Chính Người, anh em hãy nghe lời!”). Mạc khải từ trời đã tổng hợp hai trích dẫn Tv 2,7, nhằm nói về tư cách Con Thiên Chúa của Đức Kitô, và Is 42,1 nhắc đến sứ mạng ngôn sứ của Người Tôi Tớ Đức Chúa, phải chịu đau khổ khi loan báo Lời Chúa. Đức Giêsu vừa có tư cách vừa mang sứ mạng được hai bản văn này giới thiệu. Mạc khải kết thúc với lời kêu gọi rút từ Đnl 18,15 nhắc nghe lời ngôn sứ Môsê (x. Cv 7,37). Từ nay, không còn phải là Môsê hoặc các ngôn sứ mà các môn đệ phải vâng lời, nhưng là chính Con Thiên Chúa, Đấng có uy quyền vượt xa uy quyền của mọi người từ xưa cho đến tận thế.  Cách nào đó lời này phi bác ý muốn của Phêrô là thiết lập ngay từ bây giờ Nước Thiên Chúa trên mặt đất. Cần phải hiểu là sứ mạng Mêsia của Đức Giêsu vượt quá những nỗi niềm chờ mong Đấng Mêsia của dân Israel và những nguyện vọng trần tục của các môn đệ.

Thế rồi bản văn Lc kết thúc đơn giản, so với Mc (Mc 9,8). Tiếng nói đã ngưng, các nhân vật Môsê và Êlia không còn ở đó nữa, chỉ còn lại Đức Giêsu và các môn đệ (c. 36). Tác giả không nhắc đến lệnh im lặng Đức Giêsu truyền cho các môn đệ (x. Mc 9,9; Mt 17,9), nhưng ghi nhận rằng các ông “nín thinh”. Đây là hậu quả của một kinh nghiệm đã ghi dấu sâu sắc trong lòng ba chứng nhân, họ nội tâm hóa biến cố này, họ không để lộ ra bên ngoài bao lâu Đức Giêsu còn ở với họ (“Trong những ngày ấy”).

* Kết thúc cuộc Hiển Dung (36)

Sau đó, các môn đệ giữ thinh lặng, không tiết lộ gì về những chuyện đã xảy ra trên núi. Ghi nhận sự thinh lặng này đúng ra là một câu tóm truyện Mc (Mc 9,9-13). Các ông cứ giữ thinh lặng như thế cho đến khi Đức Giêsu đã sống lại.

+ Kết luận

Biến cố Hiển Dung là trạm trung chuyển giữa ánh sáng loé lên quá mau của Phép Rửa và ánh sáng chói lọi của sáng ngày Phục Sinh. Trong cuộc hành trình lên Giêrusalem, Đức Giêsu thấy mình được tiếng Chúa Cha chuẩn nhận trong sứ mạng Mêsia chịu đau khổ: Người sẽ thực hiện chương trình cứu độ qua thân phận bị sỉ nhục và thất bại. Nhưng qua lời giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta biết Đức Giêsu là Lời mà ta phải lắng nghe, là vị hướng đạo chắc chắn trong cuộc Xuất Hành cuối cùng đưa đến cuộc sống viên mãn. Điều này được làm rõ ở cuối biến cố, khi tác giả nói là “chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu: Mục tiêu của Cựu Ước là dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vâng phục chương trình cứu độ của Chúa Cha. Sau Phục Sinh, biến cố Hiển Dung sẽ có một vị trí quan trọng trong truyền thống Hội Thánh, vì được coi là một trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất trong kinh nghiệm Kitô hữu (x. 2 Pr 1,16-28).

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Tác giả TM III cho biết vì sao Đức Giêsu lên núi: để “cầu nguyện” (c. 28). Người dành nhiều thì giờ mà cầu nguyện. Chỉ nhờ thế, Người mới dần dà hiểu được những gì sẽ xảy ra, đâu là nơi Cha Người đang dẫn Người đến. Giống như ba môn đệ ngày hôm ấy, chỉ khi để cho Đức Giêsu dẫn đưa vào nơi thanh vắng và đến gần Thiên Chúa, chúng ta mới ở trong hoàn cảnh thích hợp, thuận lợi, mà hiểu rõ hơn mầu nhiệm bản thân Đức Giêsu và chương trình của Thiên Chúa. Nhờ có Người làm trung gian, chúng ta biết mọi điều mà Thiên Chúa có ý làm cho chúng ta và chúng ta biết cách xử sự với Thiên Chúa.
  2. Trong khi cầu nguyện, dung mạo của Đức Giêsu “đổi khác” (c. 29). Tác giả không nói là “biến hình” như các Tin Mừng khác. Điều xảy ra trong truyện này không nhắm trước tiên cho Đức Giêsu, nhưng là cho ba môn đệ. Không phải Người là Đấng phải thực hiện một kinh nghiệm hoặc phải biết một điều gì mới, nhưng chính các ông mới phải tiến tới trong việc hiểu biết Người và tin tưởng vào Người. Ánh sáng trên dung nhan Đức Giêsu cho chúng ta hiểu, trong khi cầu nguyện, Người đã hiểu chương trình cứu độ của Cha Người và đã chấp nhận chương trình đó. Hy sinh của Người sẽ không phải là một thất bại, mà là một bước tiến tới sự phục sinh và vinh quang.
  3. Sự kiện Đức Giêsu xuất hiện giữa Môsê và Êlia và hai ông đàm đạo với Người cho các môn đệ một bằng chứng nữa để có thể nhận ra Đức Giêsu là ai: Người thuộc về thế giới Thiên Chúa. Nhưng Người cũng thuộc về lịch sử dân Chúa, một lịch sử được Thiên Chúa hướng dẫn. Người phải đưa sứ mạng của Môsê và Êlia đến chỗ hoàn tất; Người cũng đáng được trân trọng và nhận biết như hai người tôi tớ vĩ đại này. Đức Giêsu không xuất hiện bất ngờ như một sao băng không hề có liên hệ gì với quá khứ, nhưng Người tháp vào trong lịch sử dài gồm những săn sóc ân cần của Thiên Chúa đối với dân Ngài, và đưa lịch sử này đến chỗ hoàn tất.
  4. Quan hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa không phải là một vấn đề lý thuyết, không quan trọng gì bao nhiêu đối với đức tin và lối sống Kitô hữu. Phải nói là chính trong tương quan này mà bản chất của tương quan của Người đối với loài người chúng ta cũng được làm sáng tỏ, cả ý nghĩa của Người đối với chúng ta, những chờ đợi mà chúng ta có thể có nơi Người, những bổn phận phát xuất từ tương quan này đối với chúng ta.
  5. Cho tới nay, Israel đã nghe lời Môsê và Êlia, nay họ phải nghe lời Đức Giêsu. Tất cả Sách Thánh của Israel đều dẫn tới Đức Giêsu. Bằng bản thân, bằng Lời Chúaạt động và bằng lời nói của Người, Đức Giêsu đưa đến cho dân chúng sứ điệp chung kết của Thiên Chúa. Cựu Ước không có ý nghĩa nếu không có Đức Giêsu, còn chính Người, nếu không có Cựu Ước, thì chỉ là một mầu nhiệm đối với chúng ta. Vào ngày Phục Sinh, để cho các môn đệ có thể hiểu ý nghĩa của cái chết và sự sống lại của Người, Người sẽ phải giải thích Cựu Ước cho họ (x. Lời Chúa 24,17).

Lm FX Vũ Phan Long, OFM

Việt Nam cuồng tiền

Việt Nam cuồng tiền

Người Buôn Gió

Ảnh: Cafe F

Ảnh minh họa. Nguồn: Cafe F

Năm 2016, Việt Nam sẽ phát hành trái phiếu 220 nghìn tỷ Việt Nam đồng. Nhà nước Việt Nam coi việc phát hành trái phiếu là một thành công kinh tế, thực ra trái phiếu phát hành cũng như một khoản vay nợ giá cao. Khoản trái phiếu này không nằm trong những khoản vay ưu đãi của các nước tư bản đối với nước chậm phát triền. Vì thế cần phải có lãi suất hấp dẫn mới khiến người mua trái phiếu móc hầu bao mua trái phiếu.

Lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam hiện nay rơi vào khoảng 6,5%  đến 7% một năm. Lãi suất này thấp hơn các nước như Venezuela, Gambia, Ghana, Malawi, Angola, Guinea. Zimbabwe. Những nước này lãi suất đều rơi vào khoảng 8 đến 9%.  Riêng Veuzuela là 12%.

Tiến sĩ Phạm Thế Anh của trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội trả lời phóng viên báo Tuổi Trẻ vào năm 2014 cho biết, tính đến thời điểm năm 2014 mỗi năm Việt Nam phải trả lãi 6 tỷ USD. Đó là ông Anh tính trên con số cống bố của chính phủ tổng nợ công năm 2014 là 90 tỷ USD. Ông Anh nói: “Nếu số chính thức VN công bố thì nợ công hiện nay là 55,7% GDP (tức khoảng 90 tỉ USD). Đây là mức chúng ta coi là vẫn an toàn. Nhưng gánh nặng nợ là không nhỏ. Tôi chỉ tính sơ bộ, khoảng một nửa, tức 45 tỉ USD chúng ta vay trong nước với lãi suất trung bình 10%/năm thì mỗi năm VN phải bỏ ra khoảng 4-5 tỉ USD trả lãi. Khoảng 45 tỉ USD vay nước ngoài, lãi suất trung bình 2,5%/năm thì mỗi năm cần trên 1 tỉ USD nữa trả lãi. Như vậy, chưa tính trả gốc, riêng tiền trả lãi trung bình đã cần khoảng 6 tỉ”.

Ông Anh cũng cho biết đồng hồ thông báo nợ công ở Hoa Kỳ thông báo từng giây, nhưng ở Việt Nam nợ công thường thống kê con số của 2 năm trước. Ông Anh cho rằng, nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước thì số nợ sẽ là 180 tỷ USD. 90 tỷ USD của chính phủ nợ và 90 tỷ USD của doanh nghiệp nhà nước nợ đó là thời điểm của năm 2012.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nguyên vụ trưởng vụ tài khoản thống kê của Liên Hợp Quốc cho RFA biết về nợ công như sau. “Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm”.

Số nợ công của chính phủ Việt Nam được Ngân Hàng Thế Giới cho biết vào năm 2014 là 110 tỷ USD.  Nếu như theo lời tiến sĩ Phạm Thế Anh nói năm 2014 Việt Nam trả lãi 6 tỷ cho 90 tỷ USD vay thống kê năm 2012, thì năm 2015 Việt Nam phải trả khoảng 8 tỷ USD tiền lãi cho số khoản vay 110 tỷ thống kê năm 2014.

Đến năm 2016 này, chúng ta chưa có con số thống kê nợ công của Việt Nam là bao nhiêu. Nhưng mới đầu năm đã có thông báo chính phủ chuẩn bị bán 10 tỷ USD trái phiếu trong năm 2016. Điều đó có nghĩa, số nợ công trước đó không hề giảm và nó đang tiếp tục tăng nhanh chóng đến cả chục phần trăm.

Nếu như 750 triệu USD trái phiếu của chính phủ phát hành đầu tiên vào năm 2006 có kỳ hạn 10 năm, thì lần phát hành 10 tỷ trái phiếu phát hành năm 2016 có đến hơn phân nửa là kỳ hạn không quá 5 năm. Tức 5,5 tỷ USD có thời hạn thanh toán dưới 5 năm kể từ khi bán.

Dường như Việt Nam đã hết cửa vay mượn từ các nơi với lãi suất ưu đãi. Nay chỉ còn nước bán trái phiếu lãi suất cao để mượn tiền từ nước ngoài. Trong hai năm qua, không thấy nói gì đến việc ngân hàng thế giới hay quỹ tiền tệ quốc tế hoặc chính phủ nước nào đó cho Việt Nam vay tiền. Trái lại là một thông báo đến năm 2017, tức chỉ 1 năm nữa Việt Nam có thể bị dừng những khoản vay ưu đãi.

Đến giờ không có cách gì khả dĩ để giảm được nợ gốc. Các phương án của Việt Nam đưa ra bây giờ chỉ là làm sao đi vay được tiền trả lãi, hoãn được trả nợ gốc, kéo dài thời hạn thanh toán thêm năm nào tốt năm đó. Với sự thúc bách như thế thì đương nhiên trái phiếu chính phủ bán ra ngày càng phải nhiều hơn mới đáp ứng được việc trả lãi và xin kéo dài hạn thanh toán.

Có lẽ khi không có phương án nào khác để trả nợ, chắc Việt Nam chỉ còn cách học Miến Điện đổi mới thể chế. Đó là cách giảm nợ công nhanh nhất và hiệu quả nhất. Nhưng ở đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay vì để được xoá nợ công như Miến Điện thì ông ta, Nguyễn Phú Trọng, TBT ĐCSVN lại làm điều ngược lại là ép Việt Nam đi tiếp con đường bảo thủ. Đó là con đường sẽ khiến những món nợ ngày càng dày thêm trên cổ những người dân Việt Nam.

Việc đưa thống đốc Nguyễn Văn Bình vào Bộ Chính Trị là điều bất đắc dĩ của trung ương đảng CSVN khoá 12, mục đích để Bình tiếp tục cùng với Vương Đình Huệ, Nguyễn Xuân Phúc  chèo lái dây dưa được chuyện nợ nần vài năm nữa. Tránh chuyện vỡ nợ xảy ra trong nhiệm kỳ thứ hai của Trọng làm TBT.

5 năm sau nữa, các món nợ và tiền lãi sẽ càng trở nên kinh khủng. Nhưng Nguyễn Phú Trọng cần gì biết 5 năm sau nữa đổ ra Việt Nam sẽ thế nào. Năm nay ông ta đã 72 tuổi, 5 năm nữa ông ta 77 tuổi. Ông ta chỉ cần biết làm sao để cái chủ nghĩa xã hội mà ông lý tưởng tôn thờ, cái chủ nghĩa mang cho ông quyền lực và danh vọng tột đỉnh ấy sẽ tồn tại với song song với ông 5 năm đó.

Còn khi ông đã 77 tuổi và từ giã chính trường, đất nước nợ bao nhiêu đâu là cái bắt buộc ông phải lo. Ở tuổi 80, một Nguyễn Phú Trọng nếu còn sống sẽ là một ông cụ tóc bạc phơ, nụ cười nhân hâu như một tiên ông, cụ đã thoát tục khỏi phàm trần.

Lúc ấy 15 tỷ USD hay 20 tỷ USD mà đất nước, nhân dân oằn mình trả lãi, không phải là việc của ông.

17.2.1979-17.2.2012.

17.2.1979-17.2.2012.

Song Chi.

RFA

Bài cũ nhưng vẫn còn giá trị.

BBT

17.2.2012. Đúng vào ngày này, 33 năm trước, Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới đường bộ giữa hai nước. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt với hệ lụy kéo dài nhiều năm sau cho phía VN cũng như những trận chiến sau đó giữa 2 bên vào những năm 1984, 1988 đã không bao giờ được nhà nước VN công khai nhắc đến.

Rất nhiều người dân bình thường nếu không theo dõi thông tin từ các nguồn bên ngoài, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau năm 1979, sẽ không biết gì về những cuộc chiến này, kể cả thực tế một số khu vực, vủng đất dọc biên giới mà TQ vẫn còn chiếm giữ từ đó. Vụ Hoàng Sa, Trường Sa cũng chỉ mới được công khai nói đến nhiều vài năm gần đây, sau rất nhiều cuộc biểu tình tự phát phản đối TQ xâm lược Hoàng Sa Trường Sa của người dân tại 2 thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn. Nói một cách ngắn gọn, trong toàn bộ mối quan hệ giữa hai đảng và nhà nước cộng sản VN-TQ từ bao nhiêu năm nay, chưa bao giờ có cái gì được công khai, minh bạch cả. Đất nước là của chung nhưng 85 triệu người dân VN lại không có quyền được biết những gì đã xảy ra với chính đất nước mình, dân tộc mình. Trái ngược hẳn với cách tuyên truyền nhồi sọ nhân dân được đảng và nhà nước VN tích cực áp dụng đối với hai “cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp, chống Mỹ”-cho đến tận ngày hôm nay.

Một cuộc chiến cố tình bị lãng quên. Những trang lịch sử như không hề tồn tại. VN từ ngày đảng và nhà nước cộng sản lên nắm quyền có bao nhiêu ngày tháng, sự kiện lịch sử không tồn tại như thế, hoặc tệ hơn nữa, được viết lại một cách méo mó, sai lệch hoàn toàn?

Thiệt thòi chính là tuổi trẻ VN. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi được hiểu biết đầy đủ, chính xác về chính mình và thế giới, về quá khứ hiện tại lẫn tương lai. Để có thể có được những chọn lựa, những bước đi sáng suốt. Có lần một chị bạn nhà văn của tôi đã nói một câu: bi kịch của dân tộc VN là trước phần lớn những sự lựa chọn có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, họ lại thường có những lựa chọn sai. Và đã phải trả giá quá đắt cho những chọn lựa sai lầm vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch đó.

Còn từ khi có đảng và nhà nước cộng sản, đảng và nhà nước đã giành cho mình cái quyền nghĩ thay, chọn lựa, quyết định thay cho nhân dân, nhưng lại luôn luôn dán cái nhãn nhân dân: nhân dân chọn lựa, nhân dân đồng tình với đảng, nhân dân đứng về phía đảng, nhân dân bất bình chuyện này chuyện kia…

Người dân không cần suy nghĩ, quan tâm gì nữa-chuyện chính trị đã có đảng và nhà nước lo.

Khi một dân tộc bị tước đi quyền suy nghĩ, chọn lựa, dân tộc ấy không thể trưởng thành.

Trước kia, đảng cộng sản VN thắng Pháp, thắng Mỹ-hay ít ra họ tưởng là như thế, (bởi còn phải định nghĩa lại thế nào là thắng, thua, được, mất…), đó là vì ít ra họ không sợ hãi và biết cách tuyên truyền làm cho người dân không sợ hãi.

Chỉ riêng đối với TQ, nhà cầm quyền VN không chỉ sợ mà còn truyền cái nỗi sợ ấy cho nhân dân, làm cho dân tộc VN trở nên hèn yếu đi. Điều này càng nguy hiểm hơn bởi kẻ thù mà chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai gần đã từng là kẻ thù nghìn năm trước, kẻ thù của hôm qua và cả hôm nay, trong cái lớp vỏ tình anh em hữu nghị. Một kẻ thù/người láng giềng mà người VN không thể tránh né. Sau cuộc chiến, Pháp, Mỹ rút đi, nhưng TQ thì luôn luôn còn đó, núi liền núi sông liền sông với VN. Và tệ hại hơn, thâm hiểm hơn gấp nhiều lần những kẻ thù khác. Một nhà cầm quyền khinh thường mọi quy ước, luật lệ của quốc tế và của nhân loại văn minh trong mọi lĩnh vực từ ngoại giao, kinh tế cho đến nhân quyền, sẵn sàng tàn bạo với chính người dân của mình thì có hy vọng gì tử tế với các dân tộc khác?

Trong khi đó thì người VN lại không được công khai học những bài học lịch sử từ trong mối quan hệ giữa hai bên và những cuộc chiến sai lầm trong quá khứ để chuẩn bị cho tương lai.

Trong khi đó thì người VN lại đang bị chính nhà cầm quyền làm cho bạc nhược đi trong sự lãng quên, vô cảm với chính số phận của đất nước.

Như sự lãng quên đang diễn ra ở VN vào đúng cái ngày 17.2 này.

Sự tha thứ khó khăn

Sự tha thứ khó khăn

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Do thời thế chính trị biến động, một người kia không may đã giết chết một quan chức cấp cao, đối nghịch với ông ta.

Vì bị chính đồng đội trở mặt tố cáo, nên người ấy đã bị bắt giữ và bị kết án tử hình. Ông ta thành tâm sám hối tội lỗi của mình, nhưng nhất quyết không tha thứ cho kẻ tố cáo hèn hạ. Linh mục tuyên úy nhà tù ra sức khuyên giục ông xưng tội . Phạm nhân đáp lại: “Không thể được , bởi vì con hối hận về các tội lỗi của con, nhưng con không sao tha thứ được cho người bạn tráo trở kia. Như thế thì xưng tội chỉ tổ phạm sự thánh mà thôi.”

Một nữ tu tốt lành dòng Nữ Tử Bác Ái đã làm cho phạm nhân phải cảm động trước tấm lòng nhân ái và tế nhị của chị. Chị cũng ra sức khuyên giục ông xưng tội, nhưng luống công.

Chiều tối trước ngày tội nhân thụ án tử hình, nữ tu ấy lại hết sức cố gắng để thuyết phục ông.

Chị nữ tu hỏi:

– Ông có biết tôi là ai không ?

Phạm nhân đáp:

– Chị là thiên thần từ trời xuống.

Chị nữ tu lắc đầu:

Tôi không phải là thiên thần từ trời xuống, nhưng là em gái của nạn nhân đã bị ông giết hại. Tôi đã tha thứ cho ông, tôi đã ăn chay, đã cầu nguyện và đã làm tất cả những gì có thể làm được để cứu lấy linh hồn của ông.”

Hết sức ngạc nhiên, phạm nhân đáng thương ấy đã phục xuống, giàn giụa trong nước mắt và hôn kính bàn chân của chị dòng.

-Quả thật , quả thật chị là thiên thần của Chúa, thực sự là một thiên thần . Tận đáy lòng tôi, tôi xin tha thứ cho người bạn tráo trở của tôi và xin chị cũng hãy tha thứ cho tôi.

-Thật vậy hành vi tha thứ của nữ tu ấy là một hành vi thật anh hùng.

Như chúng tôi đã nói, nhiều khi chỉ một hành vi mà thôi đủ chứng minh sự thánh thiện, anh hùng.

Sự dâng cúng của bà góa nghèo đã được Chúa Giê-Su đánh giá cao. Chúa phán: “Bà ấy đã cho đi nhiều hơn tất cả những người khác.” Bà góa chỉ dâng cúng một đồng xèng, nhưng bà đã cho với tất cả tâm hồn.

Lời khẩn cầu của người trộm lành trên thập giá đã xin được ơn tha thứ cho toàn bộ tội lỗi của mình.

Lời cầu nguyện của người thu thuế thật ngắn gọn: “ Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tôi lỗi” nhưng đã làm cho linh hồn của ông trở nên tinh sạch như tuyết.

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Trích sách: “ Con Đường Nên Thánh Dễ Dàng” của Linh mục Paul O’Sullivan, O. P