Chuyện đầu năm xứ Việt, ai vô văn hóa hơn ai?

Chuyện đầu năm xứ Việt, ai vô văn hóa hơn ai?

Blog RFA

VietTuSaiGon

29-2-2016

Đầu năm, bắt đầu từ mồng Một tháng Giêng, câu chuyện đầu năm xứ Việt có vẻ như không giống xứ nào bởi có quá nhiều chuyện để kể và càng kể càng thấy sợ. Từ chuyện các lễ hội cho đến chuyện đi chùa xem bói, đi chùa xin lộc, đến đền miếu vay vốn cõi âm rồi ngày thơ Việt Nam, dâng bánh chưng nặng vài tạ cho mẹ bác Hồ… Kính thưa các loại lễ. Đó là chưa muốn nói đến số lượng người chết, bị thương vì đi chơi Tết, gặp tai nạn xe, đánh nhau, cướp lộc, tranh lộc, đâm chém nhau vì lộc… Dường như chuyện nào cũng nổi cộm.

Từ thị trường lộc đầu năm béo bở

Chỉ riêng chuyện đánh nhau và tai nạn, con số đã lên đến vài vạn, môt con số kinh đầu Bác! (nói theo cách của người miền Bắc), miền Nam gọi là con số kinh đầu gà! Đó là chuyện tai nạn, đánh nhau, chặt chém, chuyện mà nhà nước xem là vô văn hóa, là nằm ngoài khả năng quản lý của họ, họ đang cố gắng khắc phục và chấn chỉnh. Còn chuyện lễ hội, chuyện tranh ấn, cướp lộc, chà đạp lên nhau thì sao?

Phải nói rõ rằng đây là những lễ hội do nhà nước tổ chức. Nếu không có nhà nước đứng ra tổ chức thì không có đền miếu, ông từ hay ông thầy nào dám đứng ra tổ chức một lễ hội to lớn như vậy. Và cũng không phải ngẫu nhiên hay vô tư mà các đài truyền hình nhà nước đưa tin, loan tải những hình ảnh tranh ấn, cướp lộc. Nói cách khác, đây là một kiểu PR cho lễ hội mà nhìn bề ngoài khó thấy được. Mọi năm, lễ hội chỉ có những người nông dân xứ Bắc tranh lộc, giành giật nhau một cách vui vẻ, không đến mức đổ máu, ngất xỉu như hai năm trở lại đây. Vì sao?

Vì cách đây năm năm, các đài truyền hình đã đưa hình ảnh tranh giành, cướp lộc một cách hồ hởi, vui vẻ của người nông dân miền Bắc. Và điều này gây tò mò cho những nhà giàu miền Nam. Đương nhiên những người giàu họ không có thời gian, sự liều lĩnh cũng như sức khỏe để xông vào cướp lộc mà họ chỉ mua lại lộc của người đã cướp được. Ví dụ như lộc hoa tre ở Đền Gióng chẳng hạn, giá sẽ dao động từ vài trăm triệu đồng đến một tỉ đồng. Tương đương với vài chục ngàn đến năm chục ngàn đô la Mỹ. Một con số có thể kích thích cho các băng nhóm, các tổ chức xã hội đen vào cuộc để giành lấy.

Trước lễ phát lộc một ngày, giới nhà giàu cả Bắc lẫn Nam có một cuộc đấu giá bên ngoài đền, họ làm rất có tổ chức, ngồi đấu giá hẳn hoi, có giá sàn, giá trần. Giá sàn lộc hoa tre của lễ hội đền Gióng năm nay là một trăm triệu đồng, và mức đấu cuối cùng là bốn trăm bảy chục triệu đồng, sau năm lần bảy lượt mua qua bán lại, giá cuối là một tỉ một trăm triệu đồng, rơi vào một tay nhà giàu người Bình Dương.

Thường những tay nhà giàu rất tin vào lộc và phép ở các lễ hội miền Bắc. Kể cả giới nghệ sĩ, ví dụ như Hoài Linh và Xuân Hinh, hai nghệ sĩ này thường đến các các đền ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai… để hầu đồng và hát chầu văn.

Riêng Hoài Linh có cả một CD anh ngồi đồng và cậu nhập vào anhh để hát múa, cho lộc, CD này bán khá nhiều ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội. Nhưng trong giới đi đền miếu phía Bắc kháo nhau rằng Hoài Linh ngồi đồng xấu hơn Xuân Hinh và cho lộc cũng không linh nghiệm bằng Xuân Hinh ngồi đồng. Nhưng đó chỉ là những chuyện ngoài lề, vấn đề vẫn là cướp lộc.

Một khi lộc ở đền miếu được biến thành một sản phẩm có giá hời, trong đó có cả những quan chức đứng sau những “đại gia” mua lộc thì câu chuyện sẽ còn đi xa nữa. Bởi tay mua lộc hoa tre người Bình Dương mua lộc một tỉ một trăm triệu đồng không phải để mang về nhà mà để mang đến biếu cho một anh cả đang công tác trong trung ương đảng. Đương nhiên không có cách đầu tư và lót tay nào chắc và khôn hơn cách lót tay này. Vài chục tỉ lót tay cho anh cả cũng chỉ là cái phong bì. Nhưng một tỉ mốt trầy vi tróc vảy để có được lộc hoa tre mang về cho anh cả thì còn gì hơn!

Và cũng theo thông tin của giới giang hồ phía Bắc, hai năm nay họ tổ chức được những đội chuyên đi tranh lộc, cướp lộc để bán. Những nông dân không bao giờ vào tranh được lộc và nếu có tranh được chăng nữa cũng sẽ bị cướp trên đường về. Lộc chỉ rơi vào tay các quan và giới quyền lực, có nhiều tiền, lộc ở các đền miếu không bao giờ rơi vào tay dân nghèo. Điều này giống như một chân lý thời bây giờ.

Và chuyện tranh cướp lộc, giẫm đạp lên nhau, chém giết nhau vì cướp lộc chỉ dừng lại, chỉ chấm dứt khi nó không còn giá tiền tỉ. Hay nói cách khác, chuyện tranh lộc, cướp ấn sẽ không còn lộn xộn như hiện tại nếu các quan biết từ chối món quà cầu may đầu năm của đàn em tặng. Thị trường lộc cầu may ở các đền miếu trở nên lộn xộn và phức tạp bởi vì các quan quá tin vào lộc và đàn em sẵn sàng bỏ ra hàng núi tiền để mua lộc tặng cho các quan. Một khi các quan cùng với đàn em trọc phú biến các lễ hội thành thị trường mua bán lộc đầu năm thì chuyện người ta giết nhau vì lộc vẫn có thể xảy ra.

Đài truyền hình nhà nước, trong thời điểm này đưa tin về chuyện cướp lộc và thả sức chê trách người dân vô ý thức là một chuyện hoàn toàn sai phạm với nhân dân. Bởi không có người dân nào sai trong chuyện cướp lộc, không những thế, người dân đi lễ với tâm thành kính bị ảnh hưởng không nhỏ do giẫm đạp cướp lộc. Nếu các đài trong nước còn một chút tự trọng thì phải tìm hiểu, điều tra tận gốc rễ vấn đề. Mà vấn đề dễ tìm nhất là thử điều tra các ấn, lộc, hoa tre, tú cầu may… trong ba năm nay đang nằm trên bàn thờ gia đình nào. Kết quả điều tra này sẽ nói lên tất cả!

Đến cúng nhương sao và ngày thơ Việt Nam

Nếu như chuyện mua bán lộc đầu năm béo bở chừng nào thì chuyện nhương sao và ngày thơ Việt Nam cũng béo bở không kém phần. Bởi theo qui luật, người ta gây bao nhiêu tội thì sợ bấy nhiêu, tham nhũng, hối lộ, đút lót càng nhiều thì lễ nhương sao, cầu an càng đắt đỏ bấy nhiêu. Khi cả một xã hội nháo nhào lên vì lòng tham thì cái xã hội đó cũng cuống cuồng lo sợ tội lỗi. Chính vì vậy những ngày tháng Giêng là ngày hốt bạc ở các chùa chiền, đền miếu nhờ vào lễ nhương sao, cầu siêu…

Nhưng còn ngày thơ Việt Nam thì liên quan gì đến lộc? Có đó, đây là ngày mà những ban bệ tổ chức (gồm các nhà văn, nhà thơ quốc doanh) hốt bạc. Họ hốt ở cả hai phía, từ tiền tổ chức đến thành phần tham gia, tham dự. Về phía tiền tổ chức, một đêm thơ nguyên tiêu cấp huyện tốn ít nhất ba trăm triệu đồng, cao nhất chừng một tỉ đồng. Tiền chuẩn của nhà nước rót là ba trăm triệu, tiền mạnh thường quân cho thêm thì không biết được. Ban tổ chức thả sức chi tiêu và ghi hóa đơn.

Về phía người tham gia, hầu hết những đêm nguyên tiêu đều là đêm thăng hoa của các nhà thơ hưu trí. Họ làm thơ Đường, thơ lục bát, vè lục bát và kính thưa các loại ò e í e vần vèo. Nếu xét về mặt nghệ thuật thì không có gì nhưng họ lại được lăng xê hết mức như những nghệ sĩ lớn trong đêm nguyên tiêu. Và, phía ban tổ chức đã có sẵn những tham luận về thơ của mấy vị hưu trí. Họ viết phê bình, tham luận, bình luận để đọc trước khi vị nhà thơ hưu trí lên đọc thơ.

Và để được như vậy, các nhà thơ hưu trí đã có một cuộc chạy đua ngấm ngầm trước đó, từ tháng Chạp, họ đã quà cáp, biếu xén, lót tay ban tổ chức. Thậm chí có những vị hưu trí mạnh tiền sẵn sàng bỏ ra vài trăm triệu đồng để ban tổ chức mạnh tay làm riêng cho mình một đêm thơ nguyên tiêu.

Xét trên khía cạnh này, ngày nhà thơ cũng là một ngày cầu lộc, cầu siêu. Nếu như việc đọc thơ của các nhà thơ hưu trí là một cái lộc cho ban tổ chức thì đêm thơ nguyên tiêu lại là nơi cầu siêu, làm cho những bài thơ hưu trí được siêu thoát sau một năm mắc kẹt trong giấy bút của các vị. Và không chừng, tuy nghỉ hưu nhưng các vị vẫn còn đàn em, chân rết trong hệ thống nhà nước rất mạnh. Như vậy, nịnh những nhà thơ hưu trí cũng là cách để nhanh chân bước lên ghế cao của ban tổ chức nếu các nhà thơ hưu trí thấy đẹp lòng, chịu cúi xuống để gởi gắm, nhờ đàn em giúp đỡ cho “đứa cháu văn nghệ” đang công tác tại chỗ cơ quan A, B, C… nào đó!

Có thể nói rằng câu chuyện đầu năm ở Việt Nam là một câu chuyện hết sức lộn xộn và chợ búa. Mà sở dĩ nó trở nên lộn xộn và chợ búa như vậy là do hệ thống lãnh đạo đã không những tìm cách làm cho nó giảm đi mà còn nhúng tay vào để khuấy cho nó đục thêm. Nó đục đến cỡ nào thì phải hỏi chính các ông lãnh đạo. Và các ông lãnh đạo, các đài truyền hình nhà nước cũng nên thôi huênh hoang chê dân vô văn hóa. Chính các ông và hệ thống tuyên truyền, truyền thông của ông mới là những kẻ vô văn hóa đúng nghĩa!

Duy Hân giới thiệu sách / Slideshow Ước Mơ Của Thủy

Chúng tôi vừa nhận được bài viết Duy Hân giới thiệu sách và Slideshow Ước mơ của Thủy

Xin mời độc giả bỏ chút thì giờ xem Slideshow này không uổng công đâu.

Ban biên tập Kẻ đi tìm

Duy Hân giới thiệu sách / Slideshow Ước Mơ Của Thủy

Các bạn mến,

Chúng ta ai chắc cũng đã từng ấp ủ nhiều mơ ước và đọc qua những câu danh ngôn hay về giấc mơ.

Bài diễn văn “Tôi Có Một Ước Mơ” có lẽ là bài diễn văn ý nghĩa nhất của Mục sư Martin Luther King.

Nói về sách thì đã có Duyên Anh với câu chuyện “Mơ Thành Người Quang Trung”. Phạm Duy trong bài hát Kỷ niệm cũng đã chia sẻ “Tôi mơ thành triệu phú cứu vớt gái bơ vơ“, hoặc “Tôi đang mơ giấc mộng dài, đừng lay tôi nhé, cho tôi mơ mòng.”  ban nhạc ABBA rất nổi tiếng khi hát bài “I have a dream“… Có khi ước mơ hơi viễn vông, có khi rất thực tế, nhưng ước ao xây mộng thì ta cứ đắp bồi, coi như không tốn tiền dù Eleanor Roosevelt nói “Ước mơ cũng tốn nhiều năng lượng như lên kế hoạch”
Gần đây một nữ tác giả trẻ với tên Lê Việt Kỳ Nhi đã tốn nhiều năng lượng để viết cuốn sách Uớc Mơ Của Thủy, mà tôi vừa có duyên may đọc qua. Ngoài tấm lòng với đất nước, Kỳ Nhi viết hay, vẽ giỏi và đặc biệt sinh hoạt trong nhóm Bước Chân Lạc Hồng – một phong trào cho giới trẻ Việt Nam, với chủ trương khơi dậy lòng tự hào về nguồn gốc Lạc Hồng, quay về giá trị Nhân Bản để phục hưng đất nước và chấn chỉnh đạo con người, cùng nhau phát huy trí tuệ Việt & văn hiến Việt.

Kỳ Nhi viết “Đã đến lúc dân tộc Việt góp phần làm cho thế giới tươi đẹp hơn lấy châm ngôn sống là “Sống để làm đẹp thế giới“. Vâng, quả thật đọc xong Ước Mơ Của Thủy tôi thấy niềm tin rực sáng hơn, tình yêu đất nước dân tộc khơi dậy cao hơn và mơ ước một đời sống tốt đẹp hơn, đặc biệt về tinh thần.

Cuốn sách này do Nguyễn Phương Uyên viết lời tựa và vì thế đã bị công an bắt câu lưu cùng với người chủ tiệm cà-phê dám chứa sách là cô Chiêu Anh, cũng may cuối cùng hai cô đã được thả.

Sách chỉ dầy 100 trang, nhưng chuyên chở suy tư, lý luận và một giấc mơ lớn, giấc mơ mà có lẽ ai trong chúng ta cũng nặng lòng xây đắp, không chỉ cho riêng mình, mà cho người chung quanh, cho đất nước, cho thế giới để giá trị tinh thần và cuộc sống ngày càng hoàn mỹ, “diễm lệ” hơn.

Như tác giả đã chia sẻ, cô không có ý định viết một cuốn tham luận chính trị, không dạy đời, không đưa ra những điều hay ho mới lạ để mọi người phải làm theo, Kỳ Nhi chỉ viết về ước mơ của mình, của một cô gái trẻ với cái tên rất thông thường, rất Việt Nam, rất yêu nước: Thủy.

Thật vậy, những tâm tình chuyên chở trong cuốn sách có lẽ chúng ta đã từng biết qua, đọc qua, làm qua, nhưng không thiết tha và chân tình như thế. Triết lý về Trống Đồng, tinh thần Bách Việt, Lạc Việt, Lạc Hồng, kinh nghiệm với Cộng Sản… có thể nhiều người còn rõ hơn, thấm thía hơn, nhưng riêng tôi rất ngạc nhiên và thích thú đọc được sách này. Cũng như một bà mẹ hàng ngày phải vất vả nấu ăn cho gia đình, con cái, bỗng một hôm được ăn một bữa cơm đặc biệt do con gái tự động nấu cho cả nhà. Cũng với số gạo ấy, số mắm muối ấy, nhưng cô con gái đã uyển chuyển, dùng cả trái tim và khối óc để chuẩn bị được bữa cơm đầy ắp yêu thương, trình bày đẹp mắt, hương vị ngọt ngào, chua chát, thơm tho, cay đắng quyện vào nhau, để cả nhà phải tấm tắc ngạc nhiên, để bà mẹ rưng rưng nước mắt cảm động vì biết con gái mình đã lớn, đã trưởng thành, đã bắt đầu thực sự ý thức và làm được việc hữu hiệu để giúp đỡ gia đình.

Với sự đồng ý của Kỳ Nhi, Duy Hân đã chọn ra hơn 30 câu nói ý nghĩa nhất trong cuốn sách Ước Mơ Của Thủy để làm thành một slideshow Lời Hay Ý Đẹp, xin mời bạn bấm vào link dưới đây theo dõi:

https://www.youtube.com/watch?v=joTVN8tghog

Tôi tin bạn sẽ đồng ý rằng Lê Việt Kỳ Nhi đã rất khôn ngoan, sâu sắc và đầy ắp ước mơ của giới trẻ, của háo hức, chân thành và năng động khi viết sách này. Bạn ráng tìm đọc và cùng mơ với giấc mơ của Thủy nhé.

Chúc Kỳ Nhi, Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Viết Dũng, Nguyên Khang, Huỳnh Thục Vy, Đỗ Thị Minh Hạnh, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển ….tất cả những người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám viết cho Sự Thật và Tự Do Dân Chủ trên quê hương được luôn tràn đầy nghị lực để thực hiện giấc mơ của mình.

Nếu ở xa Toronto, quý bạn có thể mua trên Amazon Books hoặc gởi $15 Mỹ-kim về: 6433 Northanna Drive, Springfield, VA 22150-1335. ĐT: (703) 971-9178.

Có câu danh ngôn: Nếu bạn muốn biến những ước mơ của mình thành hiện thực, điều đầu tiên mà bạn cần phải làm là thức dậy. Vâng, xin chúc bạn luôn tỉnh thức và dù phải mở mắt đối đầu với một hiện thực Việt Nam còn nhiều khó khăn, tăm tối, nhưng bạn cũng sẽ luôn có những giấc mơ đẹp cho quê hương.

Tôi cũng riêng cảm ơn anh Lê Hữu Chính, người bạn luôn làm việc âm thầm nhưng rất đắc lực trong Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội, đã cho tôi cơ hội đọc và viết về cuốn sách này, cũng như đem sách về Toronto phổ biến.

Tôi xin mượn lời Kỳ Nhi để kết thúc bài giới thiệu này:

Tôi tên là Thủy …

Tôi mơ ước nước Việt Nam sẽ như thế đó!

Nước Việt đang cần những người con Việt xây dựng lại cơ đồ.

Không thể chần chờ thêm!

Hãy là con sư tử mang chính khí Việt…..

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Lời Hay Ý Đẹp : Ước Mơ Của Thủy- Lê Việt Kỳ Nhi [TÌNH CA, Hòa Tấu] -DuyHan

Những Quả Nho Dữ Dội

Những Quả Nho Dữ Dội

Nancy Nguyễn
QUA NHO

Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quanh năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.

Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy khinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: niềm đau.

Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?

Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: Đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. “Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông”. “Niềm đau” có là một danh từ quá nhẹ?

Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.

Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: Một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.

Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.

Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.

Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau “giải phóng”, những-tháng-năm-cấm-vận.

Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quạnh hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao? cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.

Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì … hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi … “đưa ánh nắng vào nhà” (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.

Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép “uyên ương”. Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày Tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không … vá đít là đủ hấp dẫn rồi!

Và quả nho, những quả nho … dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất Tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mỹ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp Tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mỹ, giống y chang mấy chùm nho … giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàn toàn mộng muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay … vẫn tiếp tục công cuộc … mưu cầu hạnh phúc. Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa … sung sướng , vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ còn trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần … ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng … và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.

Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận.

Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: “Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác”.

Cứ mỗi mươi năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi “thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm”, còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng “đặc thù” và cái nào cũng “nhất”!

Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?

Câu chuyện Nhân Quyền tại Washington Giữa Mùa Lễ Hội Hoa Anh Đào năm 2013.

Câu chuyện Nhân Quyền tại Washington Giữa Mùa Lễ Hội Hoa Anh Đào năm 2013.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

 * * *

Sau một tuần lễ ở thành phố Baltimore tiểu bang Maryland, tôi đã trở lại

Washington vào hai ngày 10 và 11 tháng Tư – để tham dự vào công cuộc

vận động Nhân quyền cho Việt nam tại Quốc Hội Mỹ và tại Ủy Ban Tự

Do Tôn Giáo. Cuộc vận động thật quy mô này do tổ chức BPSOS (Boat

People SOS) với nhân vật chủ chốt là Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng phát

động và dự trù kéo dài trong hai năm 2013 – 2014.

Trời nắng đẹp, lại vào đúng lúc Hoa Anh Đào nở rộ, nên trên khắp các

nẻo đường thành phố chỗ nào cũng thấy các đòan khách thập phương tấp

nập lui tới ngắm cảnh, chụp hình – nét mặt người nào cũng vui tươi phấn

khởi. Nhân viên phụ trách cho biết Lễ Hội Mùa Hoa Anh Đào (The

National Cherry Blossom Festival) kéo dài từ giữa tháng Ba đến tháng

Tư có thể thu hút đến con số hàng triệu du khách đến thăm viếng thành

phố Washington lịch sử này.

So với mọi năm, thì vào giữa tháng Ba năm 2013 này trời trở lạnh bất

thường – nên hoa Anh Đào nở muộn. Vì thế mà phần đông các chị em

nữ sinh Trưng Vương từ xa về tham dự Đại Hội Tòan Cầu được tổ chức

trong ba ngày 22, 23 và 24 tháng Ba – đã không được ngắm hoa như

lòng ước ao mong muốn. Trong khi tôi, thì nhân cái vụ vận động Nhân

quyền nói trên lại được dịp thưởng ngọan cả một rừng hoa tưng bừng nở

rộ – tô điểm thêm khởi sắc cho khung cảnh vốn đã xinh tươi hài hòa êm

dịu của vùng thủ đô nước Mỹ. Xin mời bạn đọc cùng đi ngắm cảnh và

theo dõi chuyện vận động Nhân quyền tại Washington vào mùa Xuân

năm 2013 này.

 

I – Tại khu vực Tidal Basin và công viên trước Điện Capitol.

Vào ngày thứ Năm 11/4 lúc 6 giờ sáng, anh Nguyễn Quốc Khải đã chở

tôi đến khu vực Tidal Basin (Đầm Thủy Triều) nơi sát với Đài Tưởng

niệm Tổng thống Jefferson (Jefferson Memorial). Trời còn mờ tối, ấy thế

mà đã có rất nhiều xe đậu dọc theo bờ sông Potomac và bà con lũ lượt

kéo nhau đi với máy ảnh các lọai để chuẩn bị chụp phong cảnh cả một

rừng cây Anh Đào đang ở độ nở mãn khai – tập trung nhiều nhất trong

chu vi dài đến ba bốn dặm của cái Đầm ăn thông với con sông Potomac

là ranh giới giữa Washington với tiểu bang Virginia.

Tôi đã lững thửng thả bộ suốt 3 tiếng đồng hồ xung quanh Tidal Basin

này, luôn tiện còn ghé thăm Đài Tưởng niệm Tổng thống Franklin

Delano Roosevelt (FDR) cùng với Đệ Nhất Phu nhân Eleanor và Đài

Tưởng niệm Mục sư Martin Luther King. Các lời phát biểu lịch sử của

cả hai vị danh nhân này được khắc họa thật rõ nét trên các bức tường

quanh Đài Tưởng niệm – quả thật người Mỹ đã rất lấy làm tự hào và tỏ

lòng kính trọng đối với những nhân vật xuất chúng như vậy ngay trong

những năm vào giữa thế kỷ XX gần đây thôi.

Các người bạn ưa thích nghệ thuật chụp ảnh như chị Như Lan bà xã của

anh Chánh án Nguyễn Văn Thành hay anh Nguyễn Quốc Khải, thì cho

biết là phải tranh thủ mà chụp ảnh trước lúc mặt trời lên cao – như vậy

mới có thể có hình ảnh đẹp được. Dọc lối đi theo chu vi của Đầm, tôi

thấy các nhiếp ảnh gia tài tử bố trí la liệt những máy hình gắn chặt trên

chân đỡ máy để chụp liên tục nhiều tấm ảnh dưới những tàng cây chi

chít những hoa màu trắng tinh hay màu phớt hồng. Có người còn chụp

riêng một vài cánh hoa lẻ loi mọc từ trong thân cây nữa, có lẽ họ cho là

mấy cánh hoa hiếm hoi đó mới thật là độc đáo chăng?

Bữa hôm trước là cỡ 8 giờ sáng ngày thứ Tư 10/4, lúc vừa từ nhà ga

Union Station đi tới khu công viên ở hướng Bắc của Điện Capitol trụ sở

Quốc Hội – tôi đã thật ngây ngất trước những cụm cây Anh Đào đang rộ

nở những chùm hoa dày đặc với cánh mỏng như tơ lụa và màu hồng lạt.

Từng cụm cây xen kẽ với những cây thông xanh ngắt và cả với những

cây sồi, cây phong vẫn còn khẳng khiu trụi lá – cảnh tượng trái nghịch

đó lại càng làm tăng vẻ cao quý của lọai hoa được du nhập mãi từ nước

Nhật vào nơi đây đã trên một thế kỷ nay. Tính chất đa dạng sinh học thật

là rõ nét nơi vùng thủ đô này.

Sau không bao lâu, tôi lại gặp các anh Đỗ Như Điện, Hùynh Hữu Thuận

cũng mới từ thành phố San Diego California đến để tham dự cuộc Họp

Báo ngòai trời ngay dưới bậc thềm của Trụ sở Hạ Nghị Viện phía góc

đường Independence và First street khu Đông Nam của Capitol. Vì chưa

đến giờ khai mạc cuộc Họp báo, chúng tôi đã tranh thủ chụp một số hình

kỷ niệm nơi công viên kỳ thú này.

Anh Điện mang theo một số ấn bản tiếng Anh của “ Báo cáo về Tình

hình Nhân quyền tại Việt nam trong năm 2012” – mà Mạng Lưới Nhân

Quyền VN cho phổ biến vào ngày 11 tháng Tư trong một cuộc Họp Báo

ở California. Tài liệu này đã được trao tận tay cho một số Dân biểu và

giới báo chí truyền thông

 

II – Hai ngày Hội Họp liên miên.

Phái đòan do Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng tổ chức mời gọi gồm đến vài

chục người thuộc giới Tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành,

thuộc Sắc tộc Thiểu số như Hmong, Montagnard và Đại diện của Mạng

Lưới Nhân Quyền v.v… Phải nói ngay rằng trong hai ngày 10 và 11

tháng Tư này, phái đòan đã phải làm việc rất căng thẳng theo sự sắp xếp

thật sít sao của Ban Tổ chức với các văn phòng và cơ quan tiếp đón.

1 – Chỉ riêng trong một ngày 10/4 thôi, thì bà con trong phái đòan đi vận

động đã phải tham dự liền liền ba cuộc sinh họat như sau :

– Thứ nhất là cuộc Họp Báo ngòai trời trong công viên sát bậc thềm của

trụ sở Hạ Nghị Viện đã khai mạc vào đúng 10.45 AM. Dân biểu Chris

Smith là người chủ trì đã phát biểu khởi đầu và lần lượt giới thiệu với

giới truyền thông báo các diễn giả Việt nam là Cựu Dân biểu Cao Quang

Ánh, Hòa Thượng Thích Giác Đẳng, Hòa Thượng Thích Viên Lý, Mục

sư Nguyễn Minh Thắng, Kỹ sư Đỗ Như Điện, Tiến sĩ Nguyễn Đình

Thắng – để trình bày về tình trạng vi phạm Nhân quyền ở Việt nam hiện

nay. Trong vòng chưa đày một giờ, các diễn giả này đã thu hút được sự

chú ý của các ký giả đại diện những cơ sở truyền thông lớn ở Mỹ và chi

tiết của cuộc Họp Báo đã được phổ biến rộng rãi ngay vào buổi chiều tối

ngày hôm 10/4 đó.

– Tiếp theo là cuộc Trao đổi với các chuyên viên là Phụ tá của Tiểu ban

Nhân quyền thuộc Ủy ban Ngọai vụ diễn ra tại Tòa nhà Rayburn của Hạ

Nghị Viện. Buổi Sinh họat này kéo dài từ 12.00 đến 13.00 Giờ – để phía

đại biểu Việt nam thông báo chi tiết hơn về tình trạng vi phạm Nhân

quyền ở Việt nam – nhằm giúp cho việc chuẩn bị cho buổi Điều trần mở

rộng cho công chúng (Public Hearing) sẽ diễn ra tại phòng họp của Ủy

ban Ngọai vụ vào ngày hôm sau 11/4. Các chuyên viên của Quốc Hội

đều tỏ ra thông hiểu rành rẽ về tình hình chính trị xã hội ở Việt nam, nên

cuộc trao đổi đã diễn ra trong bàu không khí rất cởi mở thông cảm về cả

hai phía Việt và Mỹ.

– Phái đòan cùng nhau xuống ăn trưa tại Phòng ăn dưới tầng hầm của

Rayburn Building – ai nấy chọn đồ ăn và thanh tóan theo lối self-service

Và đến 3.00 PM, phái đòan lại di chuyển đến trụ sở của Ủy Ban Tự Do

Tôn Giáo (USCIRF = US Commission on International Religious

Freedom) để trao đổi với giới lãnh đạo của cơ quan này. Chủ tịch

USCIRF là Bà Katrina Lantos Swett và Tiến sĩ Scott Flipse là Phó Giám

Đốc đã trao đổi thảo luận với phái đòan trong hai giờ liền và các đại biểu

đã có dịp trình bày cặn kẽ hơn về khía cạnh đàn áp các tu sĩ, tín đồ cũng

như hạn chế sinh họat tôn giáo ở Việt nam. Lãnh đạo USCIRF đã tỏ ra

rất thông cảm với tình trạng khó khăn ngặt nghèo của các tổ chức tôn

giáo dưới chế độ độc tài khắc nghiệt của chính quyền cộng sản ở Việt

nam từ nhiều năm nay. Nhân tiện, cũng xin ghi là Bà Katrina chính là ái

nữ của Cố Dân biểu nổi danh Tom Lantos (1928 – 2008).

2 – Phiên Điều trần trước Tiểu Ban Nhân Quyền vào ngày 11/4.

Đây mới là buổi Điều trần có quy mô nhất trong lọat sinh họat của hai

ngày vận động này tại Quốc Hội Mỹ. Dân biểu Chris Smith, Chủ tịch

Tiểu ban Nhân quyền một lần nữa đã chủ trì phiên họp được diễn ra tại

văn phòng của Ủy ban Ngọai vụ – với sự tham dự của 6 Dân biểu trong

đó có cả Dân biểu Ed Royce Chủ tịch Ủy ban Ngọai vụ vốn là một nhân

vật quen thuộc của cộng đồng người Việt tại miền Nam California. Các

Dân biểu được vị chủ tọa mời phát biểu trước, rồi mới đến phần Điều

trần của đại diện phái đòan Việt nam.

Nói chung, các Dân biểu đều xác nhận tình trạng vi phạm Nhân quyền

do chính quyền Hanoi gây ra. Đặc biệt Nữ Dân biểu Karen Bass đại diện

đơn vị 37 California còn nhắc đến các báo cáo đáng tin cậy của các tổ

chức Amnesty International, Human Rights Watch và của Mạng Lưới

Nhân Quyền Việt nam đều ghi nhận rõ ràng các vi phạm này.

Tiếp theo là đến phần trình bày của phái đòan Việt nam với các đại diện

là Cựu Dân biểu Cao Quang Ánh, Giáo sư Võ Văn Ái, Tiến sĩ Nguyễn

Đình Thắng và đặc biệt là hai nhân chứng Danh Hui (về nạn Buôn

Người tại nước Nga) và Trần Thanh Tiến (về sự đàn áp tại giáo xứ Cồn

Dầu). Hai nhân chứng này phát biểu bằng tiếng Việt và được Tiến sĩ

Thắng dịch ra Anh ngữ rất chính xác. Cả hai người đều đưa ra được

những chứng từ cụ thể về sự đối xử tàn ác rất thương tâm đối với các

nạn nhân – đo đó mà có sức thuyết phục cao độ đối với cử tọa.

Hai bức ảnh phóng lớn về cảnh Linh mục Lý bị bịt miệng trước Tòa án

và về nạn nhân Nguyễn Thành Năm bị tra tấn đến chết ở Cồn Dầu – đã

được đưa ra để minh họa cho sự chà đạp nhân quyền ở Việt nam hiện

nay.

Người phát biểu cuối cùng trong buổi Điều trần này là ông John Sifton

đặc trách văn phòng Đông Nam Á của Human Rights Watch – ông

Sifton cũng xác nhận có sự vi phạm trầm trọng về nhân quyền ở Việt

nam trong những năm gần đây – chứng từ này có giá trị bổ túc rất vững

vàng cho lời trình bày của các nhân chứng Việt nam.

 

III – Để tóm lược lại.

 Đang là Mùa Xuân, khí hậu tại Washington thật mát mẻ dịu dàng với

nắng nhẹ chan hòa và hoa Anh đào đang độ nở mãn khai. Khắp công

viên trước điện Capitol lúc nào cũng tấp nập các nhóm du khách viếng

thăm – mà cũng còn là cử tri từ các địa phương đến thăm vị đại diện dân

cử của mình. Trước cửa các văn phòng của Hạ Nghị Viện, luôn luôn có

nhiều người như chúng tôi xếp hàng để được vào gặp gỡ thăm viếng hay

hội họp với các Dân biểu. Quang cảnh thật là sinh động phấn khích.

* Nói chung, cuộc vận động Nhân quyền của phái đòan Việt nam trong

hai ngày 10 – 11 tháng Tư năm 2013 tại Quốc Hội Mỹ đã gây được một

ấn tượng tốt nơi các vị Dân biểu. Và điều đáng ghi nhất là phát biểu của

vị Chủ tọa phiên Điều trần chính là Dân biểu Chris Smith, người có

thâm niên kỳ cựu – đại diện đơn vị 4 tiểu bang New Jersey liên tục từ

năm 1980 . Ông Chris Smith đã nói dứt khóat không úp mở rằng : “Cần

phải đặt Việt nam vào lại danh sách CPC” (đó là danh sách các quốc gia

cần quan tâm đặc biệt vì sự vi phạm trầm trọng về Nhân quyền =

Countries of Particular Concern).

* Tuy đây mới chỉ là bước đầu trong tiến trình vận động kéo dài suốt hai

năm 2013 – 2014, việc làm của phái đòan VN lần này đã tỏ ra được sự

chú ý thuận lợi của giới dân cử cũng như giới truyền thông báo chí.

Trong thành phần phái đòan kỳ này, thì giới am hiểu tình hình sinh họat

tại Quốc Hội Mỹ đã có sự ghi nhận rằng : Cựu Dân biểu Cao Quang Ánh

cùng với Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng rõ ràng là hai nhân vật đã gây

được sự tin tưởng và mối thiện cảm đáng kể nơi một số Dân biểu – đặc

biệt là với Dân biểu Chris Smith vốn từ lâu đã từng được coi như là một

“người bạn tốt” của lớp người tỵ nạn chính trị Việt nam tại Hoa Kỳ.

* Với cái đà tiến triển trong công cuộc vận động rộng rãi như thế, chúng

ta có quyền tin tưởng được nơi sự thắng lợi tất yếu của chính nghĩa Tự

do, Dân chủ và Nhân quyền của tòan thể nhân dân Việt nam chúng ta

trong tương lai không bao xa nữa vậy./

Baltimore Maryland ngày 14 tháng Tư 2013

Đoàn Thanh Liêm

Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam Tại Nam California

Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam Tại Nam California

Garden Grove/ Tâm Nguyên-

Ngày “Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam” được tổ chức vào lúc 6.30 Pm-9.30 Pm ngày thứ Bảy 27-2-2016 tại Thư Viện Việt Nam, thuộc thành phố  Garden Grove, với lời chia sẻ của Ban Tổ Chức: “Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan” được tổ chức để chúng ta cùng chia sẻ nỗi đau và đồng hành với dân oan trên toàn quốc đòi bạo quyền Cộng sản phải trả lại đất đai tài sản của đồng bào dân oan, phải trả lại quyền Sở hữu Đất đai cho người dân. Được tổ chức để công luận toàn thế giới biết đến và hiểu rõ hơn về thảm cảnh của đồng bào dân oan, nỗi đau oan nghiệt của người dân bị cường quyền đỏ, tư sản đỏ cướp đoạt đất đai ruộng vườn đang chịu cảnh màn trời chiếu đất trên quê hương khốn khó của chúng ta.

BAN TỔ CHỨC GỒM:- Phong Trào Diên Hồng Thời Đại: GS Nguyễn Thanh Liêm – Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam: Phạm Trần Anh- Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam: TS Nguyễn Bá Tùng- Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do: Điếu Cày Nguyễn Văn Hải- Khối 8406: Vũ Hoàng Hải- Liên Ủy Ban Chống Cộng và Tay Sai: Phan Kỳ Nhơn- Phong Trào Dân Chủ Cho Việt Nam: GS Nguyễn Bảo- Cộng Đồng Việt Nam Nam Cali: KS Trương Ngãi Vinh- Ban Tù Ca Xuân Điềm- CLB Tình Nghệ Sĩ…

Sau nghi thức chào cờ Việt Mỹ & phút mặc niệm do CLBTNS, BTCXĐ & Ban Tổ Chức thực hiện. MC : Bích Ty, TS Nguyễn Bá Tùng, MLNQ thay mặt BTC  lên chào mừng & cám ơn quan khách  tham dự “…Hôm nay, ngày 27-2, dân oan trên ba miền đất nước VN đang xuống đường để đòi lại đất đai và ruộng vườn bị bạo quyền cộng sản cưỡng chiếm; và cũng chính hôm nay  đồng bào hải ngoại trên toàn thế giới tập họp ở 20 tụ điểm khác nhau để bày tõ tình liên đới với dân oan trong nước qua logo “Je suis Dân Oan” mà trong nước và các nơi cùng sử dụng. Cái biểu tượng đó vượt qua biên giới ngôn ngữ để nói lên cho thế giới thấy sự hiệp nhất và liên đới của người Việt khắp nơi. Buổi sinh hoạt hôm nay không mang tính cách diễn thuyết, mà là chứng từ của những dân oan như Lê Thị Kim Thu đang có mặt và Cấn Thị Thêu từ Việt Nam qua slide show chiếu ra từ trong nước ….”

Tiếp theo chị Lê Thị kim Thu, một dân oan, một chứng nhân đã sang Mỹ  chia sẻ những gì mà chị, gia đình và một số người dân oan mà chị đã tận mắt chứng kiến đã bị chế độ cộng sản đánh đập và tước đoạt qua slide show. Cá nhân của chị phải chịu cảnh lao tù khi đấu tranh đòi lại nhà và đất bị cộng sản cường hào cướp đoạt…

Nối tiếp, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải lên giới thiệu về Ngày Quốc Tế Đồng Hành Cùng Dân Oan Việt Nam 27-2-16…

Sau đó CT CĐ, Trương Ngãi Vinh lên chia sẻ cảm tưởng NQTĐH/Dân Oan VN…

Cuối cùng, ông Phạm Trần Anh thay mặt Ban Tổ Chức và các Hội Đoàn đọc những lời nhận định và lên án chế độ cộng sản Việt Nam với chính sách đàn áp và cướp đoạt sở hữu của người dân, biến họ trở thành những người dân oan, những nạn nhân bất hạnh của chế độ cộng sản “ác với dân, hèn với giặc”….Trả tự do cho các tù nhân lương tâm VN. Thực hiện những công ước quốc tế đã ký kết…

Xen kẻ chương trình là các bản nhạc tranh đấu hùng mạnh “ Dân Oan Tiến Về SG/Xuân Điềm-Việt Nam Ơi & Vì Sao/CLBTNS- Kết thúc CT nhạc là  những ngọn đuốc thắp sáng  thể hiện niềm tin đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền cho Việt Nam đã được các anh chị em trong Ban Hợp Ca Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ  cùng Ban Tổ Chức và quan khách tham dự giơ  cao qua bản nhạc  “Thắp Sáng Việt Nam”.

“Đốt nến lên! Đốt nến lên thắp sáng Việt Nam tiến theo nhân quyền. Một nắm tay, muôn vạn nắm tay, vượt như giông bão quét quân đê hèn!” …Rồi “ Quê Hương Ngạo Nghễ “ như một lời khẳng định cho một  VN sống trong tự do, nhân quyền…vang lên tiển đưa quan khách ra về…

BÍCH-VÂN-THIÊN

BÍCH-VÂN-THIÊN

Lang Thang Chiều Tím

“Bích-Vân-Thiên” là một trong những tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Dao.  Chuyện kể về mối tình tay ba giữa hai người phụ nữ Bích, Vân và một người chồng chung tên Thiên.  Vì người vợ không thể sinh con nối dõi tông đường cho chồng, nên nàng đành chấp nhận người em kết nghĩa như người vợ lẽ cho chồng.  Dù là tự nguyện, nhưng những ích kỷ ghen tương của kiếp nhân sinh đã khiến họ nhận ra rằng, cả ba không thể cùng hạnh phúc chung dưới một mái nhà.  Một người chấp nhận ra đi để hai người ở lại hạnh phúc hơn.
Những tưởng chuyện tình thơ mộng sầu muộn chỉ có trong tiểu thuyết, qua sự tưởng tượng phong phú của nhà văn.  Nhưng đâu ai biết rằng cuộc sống muôn màu sắc cũng đang dệt nên một chuyện tình tay ba đẹp lãng mạn như một bài thơ, trắc trở với những cảnh đời éo le, với phần kết vẫn còn dang dở.   “Bích-Vân-Thiên” của đời thực là một chuyện tình tay ba giữa Thu Bích, người con gái vô tư hồn nhiên, duyên dáng như viên ngọc xanh biếc giữa đời, và một Đình Vân thư sinh trắng trẻo nho nhã với cặp kiếng cận, như một áng mây lững lờ quyện lấy viên ngọc bích trong trời thu.  Hiện diện giữa họ là một Thiên Chúa vô hình lúc ẩn, lúc hiện, lúc hiền hòa yêu thương, lúc thinh thặng đến lạnh lùng.

Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình sùng tín đạo Phật có lòng thờ kính ông bà tổ tiên, Vân đến với Bích khi chẳng biết Thiên Chúa là ai.  Đúng rồi, Thiên là Trời, là Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, dạy cho con người những điều hay lẽ phải.  Thiên Chúa của Đạo Công Giáo cũng là Ông Trời thân thiện gần gũi của dân tộc Việt Nam đấy mà, người quen cả chứ có phải ai xa lạ đâu.  Nhưng ngược với sự suy nghĩ đơn giản của Vân, người con gái mà anh đem lòng yêu mến ở đảo, trước biến cố 30 tháng Tư năm 1975 là một đệ tử đã từng được nuôi dưỡng bởi câu kinh ê a mỗi sáng chiều trong nhà dòng các Sơ.  Nàng mong muốn vợ chồng sẽ cùng chia sẻ và đồng hành bên nhau trong đời sống tự nhiên cũng như trong đời sống thiêng liêng.
Bản chất vốn dĩ hiền lành và chân thật, mang trong tâm hồn phần nào vẻ đẹp của Đấng Chân Thiện Mỹ, Vân tự ý tìm hiểu Thiên Chúa của Bích là ai.  Khởi đầu Vân cảm thấy khó hiểu, chuyện một Thiên Chúa từ bỏ vương quyền cao sang để sinh ra làm người trong máng cỏ nghèo nàn, rồi lại lang thang bồng bế nhau đi tị nạn xứ người.  Cũng là kiếp tị nạn cả thôi, nghe sao đồng cảm quá, giống như cảnh đời của Vân-Bích đang vất vưởng ở đảo chờ ngày định cư.  Lạ thay, càng tìm hiểu anh lại càng thấy mến thương một Thiên Chúa với tình yêu bao la dành cho con người hay phản bội chóng quên, một Thiên Chúa mặc lấy xác phàm để rồi cuối cùng bị chết thảm thương nhục nhã trên cây thập giá.

Sau những tháng ngày học hỏi tìm hiểu về Đạo Thiên Chúa, năm 1984 Vân cúi đầu nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội trong nỗi ưu phiền của người cha già ở phương xa, mà sau này khi đại gia đình được đoàn tụ, ông thường hay trách cứ: “Anh con theo Đạo để lấy vợ thì ba không buồn, nhưng con theo Đạo thì ba rất buồn vì con quá sùng tín.  Con là một đứa con bất hiếu, bỏ ông bà cha mẹ mà theo Đạo vợ.”  Trái tim Vân tan nát, anh chỉ biết cúi đầu im lặng mỗi khi nghe lời phiền trách của người cha yêu dấu.  Cha Vân đâu ngờ rằng đứa con trai này chịu phép rửa tội bằng con tim thổn thức của tuổi trẻ đi tìm chân lý, bằng nỗi khát khao nhiệt tình của người vừa tìm ra được lẽ sống đời mình, chứ không phải rửa tội chỉ để lấy vợ, như người đời thường nói: “Con quỳ lạy Chúa trên cao, con lấy được vợ con thôi nhà thờ.”

Từ đó Thiên Chúa luôn luôn hiện diện giữa Bích-Vân trong mọi biến cố buồn vui, thăng trầm của cuộc sống.  Cuộc tình nhẹ nhàng êm đềm như một bài thơ qua dòng thời gian lững lờ trôi.  Mối tình tay ba “Bích-Vân-Thiên” được triển nở khi Bích-Vân chính thức nên một trong Thiên Chúa qua bí tích Hôn Phối vào tháng 12 năm 1985.  Hạnh phúc gia đình thêm viên mãn với sự góp mặt của hai thiên thần nhỏ, một trai một gái.  Hơn 30 năm trôi dạt xứ người, phồn hoa phú quý nơi xứ sở giàu có văn minh chỉ làm Vân tăng thêm lời tạ ơn.  Đức tin của Vân ngày càng lớn dần theo thời gian cùng với tình yêu anh dành cho cả hai, Thiên Chúa và Bích.   Không chỉ giữ riêng đức tin cho mình, với tình yêu mãnh liệt mà anh cảm nhận được từ Thiên Chúa, anh mạnh dạn chia sẻ đức tin đó cho người cha và anh em trong gia đình mình.  Gương sống và hạt giống đức tin đã sinh hoa kết trái nơi người em gái mà lần này với sự đồng thuận của người cha: “Con đã quyết định theo Đạo Công Giáo thì theo cho đến nơi đến chốn.” Người anh kế và cậu em trai cũng một lòng tin kính Chúa mặc dầu chưa chính thức vào Đạo, nhưng bản thân họ đã tự nhận mình là Kitô hữu.  Vân không chỉ ngừng lại nơi đây, anh tích cực chia sẻ đức tin đó cho những người nghèo khó bệnh tật, cho những người già yếu trong viện dưỡng lão, cho ban Giáo Lý Dự Tòng, ban Tĩnh Tâm Linh Thao, phong trào Cursillo, cho các sinh hoạt mục vụ khác của giáo xứ, và là cánh chim đầu đàn cho phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Thung Lũng Hoa Vàng.  Với cây đàn guitar, với giọng hát sôi nổi trầm ấm, với những lời nguyện chân thành bộc phát từ trái tim cháy bỏng, đức tin mạnh mẽ của anh đã sưởi ấm bao cõi lòng băng giá vì vắng bóng niềm tin.  Trong bất cứ sinh hoạt mục vụ nào, Bích-Vân cùng sát cánh, chia sẻ và hổ trợ cho nhau như hai người bạn thiêng liêng tâm đầu ý hợp.

Ấp ủ trong tim lời mời gọi thầm thì nhưng tha thiết yêu thương của Thiên Chúa, Bích-Vân mơ ước dành trọn cuộc đời còn lại để ra đi phục vụ tha nhân.  Nhưng cuộc đời không như là mơ, dẫu giấc mơ đó thật là cao quý!  Làm chứng cho đức tin của mình bằng cuộc sống tông đồ nhiệt thành hình như chưa đủ.  Thiên Chúa muốn đức tin của Bích-Vân và gia đình phải được thử thách tôi luyện, chứng nhân của Ngài phải đổ máu trong một bi kịch oan nghiệt trớ trêu.  Trong một buổi sáng định mệnh ngày 3 tháng 3 năm 2011, khi bệnh tình trở nặng vì những ảnh hưởng nguy hại của các thuốc an thần, anh cần phải được khẩn cấp nhập viện.  Tổng đài 911 đã nhận được thông báo để cấp cứu…  Xe cứu thương và xe cảnh sát đã tới.  Nhưng than ôi, trong khoảnh khắc tích tắc, một viên đạn oan nghiệt từ một người cảnh sát không quen biết, không thù oán đã kết thúc cuộc đời anh.  Anh ra đi đột ngột không hiểu tại sao mình lại bị giết ngay trong chính ngôi nhà của mình, nơi vừa được một vị linh mục làm phép nhà cách đó ba hôm, nơi mà hai vợ chồng mơ ước sẽ làm nhà tĩnh tâm, là nơi hội họp cầu nguyện cho anh chị em… Cuối cùng anh đã trở về bên Giêsu, Đấng mà anh được rước vào lòng mỗi ngày qua bí tích Thánh Thể.  Anh đã vĩnh viễn trở về với Đấng Tạo Hóa, Đấng Chân Thiện Mỹ, Đấng mà suốt cả cuộc đời anh khát khao tìm kiếm, và cũng chính vì Ngài mà anh mang tội bất hiếu.
Từ khi bị bịnh, anh đã chuẩn bị sẵn sàng để ra đi, cho dù là cách nào, vào bất cứ lúc nào.  Nhưng thực tế cái chết tức tưởi oan ức của anh đã gây đau khổ, khó chấp nhận cho những người thân còn ở lại.  Đức tin của người vợ, hai con đang chập chững bước vào đời, hai bên cha mẹ già, anh em đạo cũ, đạo mới, chưa theo đạo bị thử thách dữ dội.  Trong giây phút mà sự dữ lên ngôi, thần chết tưởng như chiến thắng, cái ác cười ngạo nghễ trên sự thiện, người ta khó lòng mà giải thích được tại sao một người đạo đức, sống tốt lành thánh thiện như anh lại có một cái kết thúc bi thảm như vậy.  Người đời sẽ chẳng bao giờ giải thích được, trừ phi họ nhìn lên cây thập giá, nơi Chúa Giêsu Kitô chịu chết treo ô nhục trên đồi Canvê.  Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi ai trùm kín một màu tang tóc buồn bã, không phải là đích đến của những Kitô hữu.  Đàng sau ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chúa Nhật Phục Sinh chiến thắng khải hoàn.  Nhưng trong cơn sầu khổ tuyệt vọng, lệ nhòa mi mắt thì bóng dáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh xa vời mờ nhạt quá.

Giữa những tiếng xì xầm của thế gian, tiếng cười đắc chí đắc thắng của thần dữ, người thiếu phụ gục xuống trước nỗi mất mát quá tang thương này.  Chị rút vào thanh vắng một thời gian dài, xa lánh phần lớn bạn bè người thân quen.  Chị tránh những ánh mắt thương hại tội nghiệp, né những câu hỏi han tò mò, ngại ngùng khi phải nghe những lời an ủi nhiệt tình nhưng vô duyên lạc điệu:  “Thôi đừng khóc, đừng buồn nữa, hãy chấp nhận thánh giá Chúa gởi đến, như thế Chúa và anh mới vui.”  Không, Bích không muốn che dấu nỗi buồn vô tận của mình.  Bích càng bối rối hơn khi nghe người ta đổ tội cho Thiên Chúa.  Vô lý quá, làm sao mà một “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”  (Ga 3,16), lại có thể gởi những sự dữ đến cho con cái của mình được.  Sự dữ đâu đến từ Thiên Chúa!  Ngài tôn trọng sự tự do chọn lựa của người cảnh sát vô cảm kia, cũng như Ngài đã từng tôn trọng sự tự do lựa chọn của Bích-Vân vậy.
Trong bóng tối cô đơn trước cây thánh giá, với cõi lòng tan nát, Bích muốn để những tiếng rên xiết quằn quại trong cõi lòng của mình được tự do òa vỡ.  Chị kiệt sức gục đầu lên vai Chúa để mặc cho dòng nước mắt thỏa sức tuôn rơi.  Chúa không bảo chị thôi đừng khóc, bớt buồn, mà chị lờ mờ thấy Chúa lau nước mắt cho mình, cùng buồn, cùng khóc với mình.  Chị để mặc cho Chúa vuốt ve, an ủi trái tim đang gào thét lên nỗi thương nhớ.  Chúa xót xa băng bó vết thương tâm hồn bê bết máu, xoa dịu nỗi buồn gặm nhấm tâm can.  Trong cõi một mình vắng lặng, Bích cố gắng tìm lại Lời Chúa, Ý Chúa, và hình ảnh Thiên Chúa ngày xưa của mình đang ở đâu trong biến cố này.  Bích cũng đang tập làm quen dần với cảnh đời mất chồng nơi xứ lạ.

Hơn hai năm sau, khi cơn đau vẫn chưa nguôi trong trái tim mới chớm lành của người goá phụ, Bích lại tiếp tục nhận được thất bại khác.  Chị đã thua trong vụ kiện người cảnh sát bắn chồng chị.  Bích kiện không phải vì tiền, vì chẳng có đồng tiền nào có thể đánh đổi được sinh mạng của anh.  Kiện để chân lý được sáng tỏ, để tránh cho người dân thấp cổ bé miệng sau này khỏi lâm vào hoàn cảnh oan ức như anh.  Kiện để những người cầm súng đại diện cho pháp luật ở một xứ sở tự do phải ý thức hơn về những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm.  Nhưng thương thay, tiếng nói yếu ớt của một sắc dân tị nạn thiểu số, tại một nơi mà đa phần là da trắng, tiếng bào chữa của một văn phòng luật sư bé nhỏ, làm sao có thể thắng được với một tập đoàn luật sư hùng hậu của thành phố, của quận hạt.  Chân lý một lần nữa lại đứng về phía kẻ mạnh.  Thần dữ lại một lần nữa vỗ tay cười hả hê, khoái trá chờ ngày người vợ và hai con đang tuổi nổi loạn từ bỏ đức tin, trút cơn giận lên Thiên Chúa chẳng chút nhân từ.  Chuyện tình ba người “Bích-Vân-Thiên” chắc rằng sẽ tan rã từ đây….

Dù không còn cảm giác với tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa, nhưng Bích cũng ráng đến nhà thờ mỗi ngày theo thói quen, đến nhóm cầu nguyện hàng tuần dù không cảm nhận được gì.  Sự thinh lặng của Ngài trong những giây phút cầu nguyện, trong các khóa tĩnh tâm dài ngày càng làm cho chị thêm khó hiểu.  Mỗi lần nhìn lên cây thánh giá, Bích không bao giờ dám hỏi Chúa tại sao những sự dữ lại xảy đến với gia đình mình.  Người Con Một của Ngài cũng có tội tình gì đâu sao phải chết treo trên thập giá?  Nhìn vào quan tòa xét xử Giêsu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhìn vào đôi tay Người Con Một Thiên Chúa đang bị trói chặt lại trước những tiếng la hét đòi xử tử, như chân lý và tình yêu bị trói buộc trước sự dữ, chị không muốn tiếp tục vụ kiện nữa.  Chúa Giêsu có thắng đâu trước quan tòa ngày hôm ấy!  Ngài đã thua thảm bại trước một tên tướng cướp giết người khét tiếng, đã thất bại chua cay trước những vị kinh sư Pharisêu đại diện cho tôn giáo của dân tộc mình.  Cũng như viên đạn bắn anh không phải xuất phát từ một tên cướp, mà là từ một nòng súng của người thi hành pháp luật dành cho một người dân vô tội.  Cay đắng quá!  Trò mà làm sao hơn được thầy!  Chén đắng đã hai lần nhấp thử, chị phần nào cảm nhận được nỗi thống khổ tột cùng của Chúa Giêsu trong vườn Gethsemane.  Cũng như Giêsu ngày xưa, Bích xuôi tay chấp nhận mình thua để khép lại vụ kiện, chị không muốn kháng án lên toà trên, không muốn vết thương lòng lại bị khơi ra khuấy động lên, chị muốn sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, thấm thía mầu nhiệm thập giá… Từng ngày, từng ngày, trong tâm hồn chị vẫn vang lên lời nguyện xin tha thiết: “Chúa ơi, xin cứu con!  Chúa cho phép sự việc xảy ra như thế này thì sinh ích gì cho con?  Con xin tạ ơn Chúa mặc dù giờ này con chưa hiểu, nhưng con tin vào Ý Muốn Tốt Lành của Chúa vì Chúa đã nói mọi đau khổ đều sinh ích cho những ai yêu mến Chúa.”

Qua những tháng ngày đau khổ đến tê dại không còn cảm giác, qua những lúc ngã lên gục xuống, thầm khóc đến không còn nước mắt, qua những cay đắng khi nhận được tin thất bại của vụ kiện, người goá phụ từ từ cảm nhận được những nâng đỡ ủi an kín đáo của Người Cha Nhân Từ đang ẩn mặt đâu đó trong lúc này.   Gia đình, bạn bè, cộng đoàn Đức Tin, các Bí tích, Lời Chúa, Thánh Vịnh, và những bài Thánh Ca đong đầy yêu thương là những điểm tựa nương của Bích trong lúc sầu khổ lao đao: “Lạy Chúa, khi con nói: “Này chân con lảo đảo”, tình thương Ngài đã đỡ nâng con” (TV 94, 18), “Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành” (TV 147, 3), “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:4-5).  Bích không trách Thiên Chúa đã cất anh về sớm, trong cõi lòng sâu thẳm chị chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa đã ban cho chị một người chồng tốt lành, một người cha gương mẫu cho các con, một người bạn thiêng liêng thánh thiện đã cùng đồng hành với chị trong suốt hai mươi lăm năm hôn phối, mà anh chị vừa long trọng lập lại lời thề hứa ba tháng trước ngày anh đi về cõi vĩnh hằng.  Bích tạ ơn cho những gì đã có, chứ không trách móc về những gì đã mất.  Chị biết, anh vui khi được ở bên chị và anh cũng hạnh phúc khi được xum vầy cùng Thiên Chúa, Đấng mà anh hằng khát khao được diện kiến.  Chị tin rằng hình ảnh của chị và hai con luôn ở trong tim anh, và anh sẽ tiếp tục cầu khẩn cùng Thiên Chúa cho ba mẹ con.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thế mà đã năm năm trôi qua kể từ ngày Vân về với Thiên Chúa.  Trên bia mộ đá nơi anh an nghỉ, có hình của cả ba “Bích-Vân-Thiên”, với một bên còn trống để dành chỗ cho Bích, với lời ca Hallelujah của ngày Chúa Nhật Phục Sinh khải hoàn trong vinh quang.  Thiên Chúa chưa bao giờ vắng bóng trong cuộc tình của Bích-Vân.  Trong những tháng năm đầu, trên mộ Vân không lúc nào thiếu vắng hoa tươi do Bích mang lại.  Bạn bè kẻ khen người chê trước hành động lãng mạn không thiết thực đó, lãng phí cả thời gian và tiền bạc.  Nhưng Bích có cần gì đâu, chị làm theo tiếng nói con tim.  Sự chết không chia rẽ được tình yêu của anh chị.  Mỗi lần viếng nghĩa trang nơi anh an nghỉ, chị cảm nhận được tình yêu ba người “Bích-Vân-Thiên” quyện lẫn vào nhau trong gió, trong mây để chỉ còn là một.  Chẳng còn thế giới vô hình hay hữu hình nữa, cũng chẳng còn ranh giới sự sống hay sự chết.  Bích đến không để khóc than, chị đến để trái tim chị được sưởi ấm, đến để cảm nhận tình yêu chung thủy của ba người được thăng hoa.  Bó hoa tươi trên mộ anh là ngôn ngữ tình yêu nói thay cho con tim chị.  Anh yêu nhạc, chị thích hoa, cả hai cùng say mê vẻ đẹp chân thiện mỹ, Bích-Vân đang cùng hát lên bản Tình Ca Tạ Ơn bên Thiên Chúa – Hallelujah!

Năm năm với biết bao ân sủng tuôn đổ từ trời cao đủ để làm sống dậy tin yêu hy vọng trong Bích.  Tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn sự mất mát và thất bại đã làm tươi mới lại con người Bích, chị trở lại với con người hồn nhiên yêu đời như những ngày trước có anh đi bên cạnh.  Nụ cười rạng rỡ lại trở về trên khuôn mặt nhân hậu duyên dáng của chị.  Không những thế, chị được mời gọi để làm chứng cho những mảnh đời bất hạnh, những tâm tư giận hờn Thiên Chúa vì những khổ đau bịnh tật, hay những mất mát chia lìa đớn đau, những con chiên tự tách mình ra khỏi đàn vì mải mê oán than…. Chị đến để mang câu trả lời cho những câu hỏi không lối đáp, tại sao Thiên Chúa lại để sự này xảy đến với tôi, với gia đình tôi?  Tại sao Ngài không nhận lời?  Tại sao Ngài không ngăn cản sự dữ xảy ra?  Tại sao Ngài không cất đi căn bịnh hiểm nghèo cho tôi, cho người thân của tôi?  Tại sao và tại sao?  Chị đến không để nói, để thuyết phục hay hùng biện, chị chỉ nhẹ nhàng kể về câu chuyện tình của đời chị… và Thiên Chúa sẽ làm việc với những tâm hồn tan nát đó.

Tác phẩm “Bích-Vân-Thiên” của nữ văn sĩ Quỳnh Dao được khép lại khi trang sách cuối cùng được lật qua.  Trong đầu người đọc chỉ còn lưu lại thoang thoáng vài nét về một cốt chuyện hay, một tình yêu lai láng sầu muộn chỉ có trên tiểu thuyết.  Còn “Bích-Vân-Thiên” trong đời thường, không chỉ là tên của ba người trong một cuộc tình ghép lại, mà còn là tựa đề của cuốn sách mang niềm hy vọng – cuốn sách chứng nhân đức tin – đang được tiếp tục lật từng trang mỗi ngày.  Ba nhân vật chính “Bích-Vân-Thiên” vẫn luôn nắm tay cùng đồng hành với nhau.  Đình Vân đã đi xong quãng đường của mình.  Chặng đường của Thu Bích vẫn còn dài đăng đẳng trước mắt nhưng Bích không đi lẻ loi một mình.  “Vân-Thiên” vẫn luôn cùng đồng hành với Bích và chờ ngày đoàn tụ để đóng lại cuốn sách chứng nhân đức tin “Bích-Vân-Thiên”.

Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu chúc lành cho thiên tình sử tay ba “Bích-Vân-Thiên” được đẹp mãi đến trang sách cuối cùng.  Mong rằng trong ngày sau hết cả ba sẽ được tái ngộ để cùng nhau kết hợp nên một mối tình tuy ba nhưng chỉ là một.

Lang Thang Chiều Tím

Kỷ niệm năm năm ngày giỗ anh Phêrô Lê Đình Vân, 03/03/2011 – 03/03/2016

10 sự thật của xã hội hiện đại

  10 sự thật của xã hội hiện đại

 Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

Rõ ràng chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, và việc quay trở lại xã hội trước đây là điều không thể.

Một trong số những ảnh hưởng lớn nhất tới xã hội ngày nay một cách tiêu cực cũng như tích cực chính là truyền thông xã hội.

Truyền thông xã hội vốn được thiết kế để cho phép con người chia sẻ những điều thú vị trong cuộc sống của họ với bạn bè, nhưng giờ đây mọi chuyện không chỉ đơn giản như vậy.

Truyền thông xã hội giờ đây là con đường vận chuyển thông tin toàn cầu. Nhiều khi chúng ta biết về những sự kiện đang diễn ra thông qua Twitter hay Facebook trước khi biết về nó qua các nguồn tin chính thống.

Chúng ta cũng bắt đầu dựa vào các thiết bị công nghệ trong hầu hết mọi việc. Ngày nay con người dường như không thể đi bất kỳ đâu hay làm bất kỳ điều gì mà không mang theo điện thoại thông minh, máy tính bảng,máy tính xách tay

Họ cần có một mối liên lạc thường trực với nhau thông qua các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, kết nối quá nhiều với truyền thông xã hội và các thiết bị có liên quan cũng có mặt tiêu cực của nó.

Chúng ta có thể trở nên phụ thuộc quá mức, hoặc trở nên thờ ơ với những gì chúng ta đang làm với cuộc sống của chúng ta.

Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

1. Facebook đang ngấu nghiến thời gian của bạn

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian trên Facebook hoặc các trang mạng xã hội khác? Điều này có đang ảnh hưởng tới hiệu quả công việc của bạn không? Bạn có thấy mình lãng phí thời gian tới mức bạn không hề nhận ra nó đã trôi nhanh thế nào không? Nếu bạn trả lời “có,” tôi tin chắc rằng bạn không phải là người duy nhất.

2. Chúng ta trở thành những kẻ ‘nghiện Like’

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Nói tới Facebook, khi bạn đăng tải một thứ gì đó, bạn có làm vậy chỉ để xem sẽ có bao nhiêu bạn bè ấn ‘Thích’ không? Đối với một số người, những cái ‘Thích’ trên Facebook cũng như một loại chất gây nghiện họ cần bơm vào mạch máu của mình.

3. Các thiết bị điện tử còn quan trọng hơn mạng sống

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Lựa chọn giữa việc điện thoại hết pin và mạng sống của bạn, bạn sẽ chọn thứ gì? Trong trường hợp này, người đàn ông trong hình vẽ đã chọn chiếc điện thoại thay vì thiết bị hỗ trợ sống của chính anh ta. Xã hội loài người cần đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn.

4. Các thiết bị đang hủy hoại sự thân mật

Bạn và những người thân yêu đã bao giờ dành thời gian bên nhau chỉ để mỗi người cầm một chiếc điện thoại nhắn tin, đăng tweet, Facebook hay lướt web thay vì giao tiếp với nhau chưa? Xã hội phải chăng đã tới mức chúng ta không thể dành thời gian cho nhau mà không cầm trên tay chiếc điện thoại?

5. Các gia đình không còn dành thời gian quây quần bên nhau

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Đây là một bà mẹ đang nướng bánh quy cho cả gia đình. Nhưng những đưa con thì đang làm gì kia? Chúng không cùng làm bánh với mẹ, mà đứa con nào cũng đang dán mắt vào thiết bị của mình. Trước đây, các bậc cha mẹ dùng TV để trông con; giờ đây máy tính bảng, điện thoại, laptop hoặc trò chơi điện tử đang đảm nhận công việc đó.

6. Chúng ta thà quay video một ai đó còn hơn giúp đỡ họ

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Một người đàn ông da màu đang đuối nước và giơ tay ra cầu xin sự giúp đỡ. Một kẻ đang chĩa súng, còn kẻ còn lại thì chĩa chiếc iPhone về phía người đàn ông- cả hai đều không có ý định giúp đỡ người bị nạn.

7. Xã hội đang lãng phí thời gian

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Thời gian là tiền bạc. Khi chúng ta tiêu phí thời gian trên các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đang đánh mất thứ quý giá nhất chúng ta có: thời gian.

8. Dù đã có công nghệ, chúng ta vẫn muốn thứ thuộc về người khác

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

“Đứng núi này trông núi nọ” là một câu tục ngữ đã có từ lâu đời. Dù đã có những gì ta có, nhưng ngay cả những người giàu vẫn cần tình yêu, gia đình, … để được hạnh phúc.

9. Chiêu giật gân vẫn câu kéo được khách

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Với lượng thông tin tràn đầy như hiện nay, truyền thông vẫn luôn tìm kiếm yếu tố giật gân. Người phụ nữ này rõ ràng đang muốn nói lên điều gì đó quan trọng, nhưng liệu giới truyền thông có còn quan tâm tới cô nữa hay không nếu cô không còn trong tình trạng bán khỏa thân nữa?

10. Cuối cùng, chúng ta vẫn đang tàn phá trái đất

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Dù đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, song con người vẫn đang tàn phá trái đất tới mức chúng ta gần như đang chĩa súng vào “Mẹ Thiên nhiên”. Với những thành phố ngày càng lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đến khi nào những gì chúng ta làm sẽ khiến chính chúng ta sụp đổ?

Ứng viên độc lập ‘gặp khó’ từ khâu hồ sơ

Ứng viên độc lập ‘gặp khó’ từ khâu hồ sơ

BBC

Blogger Đoan Trang

Gửi cho BBC từ Hà Nội

28-2-2016

Bà Đặng Bích Phượng (trái) tự ứng cử trong kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp ở Việt Nam năm 2016. Ảnh: Dân Luận.

Bà Đặng Bích Phượng, một trong các ứng cử viên tự do ở Hà Nội, thuật lại khó khăn “trời ơi đất hỡi” mà bà gặp phải khi làm hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa 14 này.

Câu chuyện rất đơn giản: việc đầu tiên của quá trình ứng cử là bà phải làm hồ sơ, gồm đơn ứng cử, sơ yếu lý lịch, tiểu sử tóm tắt, bản kê khai tài sản và thu nhập. Sau đó, bà phải đi xin dấu xác nhận lý lịch tại ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, phường nơi bà đăng ký hộ khẩu thường trú.

Ngày 22/2/2016, UBND phường Thành Công đã xác nhận lý lịch cho bà Phượng. Tuy nhiên, ba hôm sau, khi bà Phượng đến nộp hồ sơ ứng cử, thì được cán bộ tiếp dân yêu cầu khai lại một số mục khai chưa đúng theo mẫu. Ví dụ, phải ghi trình độ văn hóa 10/10 phổ thông (bà Phượng chỉ khai 10/10 – thiếu chữ “phổ thông”).

Sau khi khai lại đầy đủ, bà Phượng đến UBND phường Thành Công để xin xác nhận lại lý lịch. Nhưng lần này thì đến lượt Chủ tịch UBND phường Thành Công, ông Nguyễn Huy Toản, nói chưa thể xác nhận lý lịch cho bà, lấy lý do bà khai “chưa trung thực” phần kỷ luật.

“Kỷ luật” vì biểu tình
Bà Đặng Bích Phượng đã không khai trong hồ sơ là bà từng một lần bị bắt giam 5 ngày ở Hỏa Lò (từ ngày 21 đến 25/8/2011) vì đi biểu tình chống Trung Quốc nhân sự kiện Trung Quốc cắt cáp dầu khí của Việt Nam, nhưng bị công an quy vào tội “gây rối trật tự công cộng”.

Lần khác, bà bị UBND phường Dịch Vọng ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 6 tháng (từ ngày 12/9/2012 đến ngày 12/3/2013) cũng vì nhiều lần bị bắt khi tham gia biểu tình chống Trung Quốc.

Tuy nhiên, tạm chưa bàn tới tính hợp pháp của các quyết định tạm giữ và áp dụng biện pháp giáo dục, thì những hình thức xử lý công dân nói trên chỉ là xử lý vi phạm hành chính và chỉ có giá trị 1 năm là hết hiệu lực, không cần ghi vào lý lịch.

Thêm nữa, chính phần hướng dẫn khai hồ sơ cũng nêu rõ:
“Trường hợp bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính trong thời gian 01 năm tính đến ngày làm hồ sơ ứng cử thì ghi rõ tên cơ quan ra quyết định kỷ luật, thời gian bị kỷ luật, lý do bị kỷ luật, hình thức kỷ luật”, “Nếu không có hoặc đã bị xử lý nhưng không thuộc các trường hợp kể trên thì ghi “Không bị kỷ luật, không có án tích””.
Do bà Đặng Bích Phượng bị xử lý vi phạm hành chính đã cách đây đến 4-5 năm, nên bà ghi “không bị kỷ luật, không có án tích” trong hồ sơ, đúng như hướng dẫn.

Điều bà không ngờ là ghi chính xác như hướng dẫn thì lại bị từ chối xác nhận hồ sơ.

Đá đi, đá lại
Bà Đặng Bích Phượng bèn quay lại nơi tiếp nhận hồ sơ ứng cử để đề nghị hướng dẫn lại. Tại đây, bà Phượng được ông Lưu Tiến Minh, cán bộ tiếp nhận hồ sơ, giải thích đúng như ghi chú trên mẫu hồ sơ:

“Nếu bác có bị kỷ luật hành chính cách đây vượt quá một năm, mà bác vẫn khai vào đây, thì tôi phải nói là bác khai không đúng”.
Có nghĩa là, nếu bà Phượng ghi hai lần bị xử lý vi phạm của mình vào hồ sơ, thì chính khi đó, hồ sơ mới trở thành không hợp lệ (vì ghi sai yêu cầu).

Như vậy là bà Phượng bị kẹt giữa UBND phường Thành Công và Ủy ban Bầu cử Thành phố Hà Nội. Không khai thì UBND phường Thành Công không chịu xác minh lý lịch. Mà khai thì Ủy ban Bầu cử Thành phố Hà Nội lại cho là hồ sơ không hợp lệ. Vậy phải ghi như thế nào bây giờ?

Đó là chưa kể, đúng ra trách nhiệm của UBND phường chỉ là xác nhận chữ ký và hộ khẩu thường trú.

Còn tất cả các phần khác trong lý lịch, cá nhân người khai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bà Phượng có hộ khẩu thường trú tại phường Thành Công, nhưng bà sống tạm cư tại phường Dịch Vọng từ cách đây 8 năm.
Thời gian đi biểu tình phản đối Trung Quốc cắt cáp tàu dầu khí trong vùng biển của Việt Nam, bà bị công an quận Hoàn Kiếm bắt giữ, và UBND phường Dịch Vọng ra quyết định “giáo dục” bà tại địa phương.

Điều này hoàn toàn không nằm trong phạm vi quản lý của UBND phường Thành Công.

Phối hợp gây khó khăn?
Tuy nhiên, một nguồn tin cho bà Phượng hay, cơ quan an ninh đã cung cấp hồ sơ của bà cho UBND phường Thành Công, để gây khó dễ.

Bà Phượng cố gắng giải thích với chính quyền phường sở tại:
“Nếu các hình thức kỷ luật diễn ra trong vòng 1 năm tính đến ngày làm hồ sơ, thì tôi mới phải kê khai.

“Nếu không nằm trong khung đó mà vẫn khai thì bên Ủy ban Bầu cử sẽ coi hồ sơ là không hợp lệ”.

Tuy nhiên, UBND phường vẫn dứt khoát bắt bà phải kê khai vụ bị bắt tạm giữ năm 2011 và bị ép giáo dục cải tạo năm 2013.
Cũng nguồn tin nọ cho biết, UBND phường đang bị “bên an ninh” nhắc nhở lưu ý về trường hợp bà Phượng.

Bà Phượng và những cử tri đi cùng thực sự ngạc nhiên và bức xúc trước việc an ninh can thiệp thông qua UBND phường và nhất là lại cứ cố ép bà phải khai hồ sơ không hợp lệ.

Phải chăng cơ quan an ninh đang gây khó khăn cho phường Thành Công, hay là họ đang phối hợp với phường gây khó khăn cho ứng cử viên tự do?

Bà Phượng quyết định sẽ làm đơn yêu cầu UBND phường xác nhận lý lịch cho bà và trả lời bằng văn bản, để bà còn kịp hoàn thành bộ hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa 14.

‘Cho xin một bộ’
Cũng trong những ngày vừa qua, công an khu vực ở một số nơi trên địa bàn Hà Nội đã đến “tiếp xúc, tìm hiểu thông tin” ở vài ứng cử viên tự do khác, chẳng hạn hỏi họ đã làm hồ sơ chưa, bao giờ xong thì cho xin một bộ…

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 (nhiệm kỳ 2016-2021) sẽ diễn ra vào ngày 22/5 tới.

Đây là lần đầu tiên, bầu cử Quốc hội có một số lượng đông đảo ứng cử viên tự do (15-20 người trên cả nước, nhất là Hà Nội), và phần lớn đều tích cực sử dụng mạng xã hội Facebook để vận động tranh cử.

Bà Đặng Bích Phượng, sinh năm 1960, là một trong số rất ít gương mặt nữ ứng cử độc lập.

Chương trình hành động của bà xoay quanh vấn đề đất đai và sửa đổi luật đất đai theo hướng bảo đảm các quyền căn bản của người nông dân, như quyền có thông tin, quyền được tham vấn, hỏi ý kiến, và quyền được thương lượng, đàm phán theo giá thị trường.

Ngân hàng thế giới không cho Việt Nam vay tiếp?

Ngân hàng thế giới không cho Việt Nam vay tiếp?

Kết quả đáng thất vọng dành cho giới lãnh đạo Việt Nam vừa hiển lộ. Ngày 23/2/2016, Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) Jim Yong Kim công du Việt Nam và đã được đến 3/4 trong “tứ trụ” tiếp đón trọng thể, từ Tổng bí thư Trọng, Chủ tịch nước Sang, và Thủ tướng Dũng. Tuy nhiên khác với những lần làm việc với Ngân nhàng thế giới trước đây thường gắn liền với một khoản cho vay tức thời hoặc cam kết cho vay, đã không hiện ra bất cứ một khoản cho vay mới nào từ phía Ngân hàng thế giới vào lần này.

Chủ tịch Nhóm Ngân hàng Thế giới, ông Jim Young Kim. Hình Internet

Mặc dù một số tờ báo nhà nước vẫn tuyên giáo về “Ngân hàng Thế giới sẽ tiếp tục hỗ trợ, ưu đãi lãi suất cho Việt Nam”, thậm chí còn giật tít “Ngân hàng thế giới cam kết cho Việt Nam vay tiền”, nhưng nếu để ý sẽ nhận ra “Chủ tịch Jim Yong Kim nhấn mạnh, để góp phần giúp Việt Nam thực hiện thành công những mục tiêu phát triển tiếp theo, WB cam kết sẽ tìm những nguồn lực khác mang tính ưu đãi để Việt Nam giải quyết những vấn đề trong phát triển kinh tế-xã hội” (bài “Công bố Báo cáo “Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ: Phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam trong 20 năm tới”, báo Quân Đội Nhân Dân; chữ đậm để nhấn mạnh).

Câu hỏi đặt ra là tại sao vào lần này, Ngân hàng thế giới lại tỏ ra “keo” đến thế?

Cần trở lại vài ẩn ý trong thời gian gần đây.

Ngày 5/12/2015,  tại Diễn Đàn Đối Tác Phát Triển tổ chức ở Hà Nội về “kế hoạch 5 năm tới của Chính Phủ Việt Nam.”, bà Victoria Kwa Kwa – Giám đốc quốc gia ngân hàng thế giới tại Việt Nam – đã nêu ra một câu hỏi rất hóc búa dành cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới?”.

Và chính Ngân hàng thế giới, vào tháng 12/2015, đã đưa ra một trong những thuyết minh giá trị nhất đối với kế hoạch “tăng trưởng kinh tế cao hơn” của phía chính phủ: Dừng vốn vay ưu đãi cho Việt Nam.

Quyết định đột ngột trên của ngân hàng thế giới xuất hiện hầu như cùng thời điểm với Diễn Đàn Đối Tác Phát Triển.

Lý do được Ngân hàng thế giới đưa ra: Giai đoạn 2011-2015 là thời kỳ Việt Nam bước vào nước có thu nhập trung bình, vì vậy chính sách của Ngân hàng thế giới cũng như nhiều nhà tài trợ khác đối với Việt Nam có sự thay đổi. Việt Nam sẽ phải đẩy nhanh tốc độ trả nợ đối với hơn 90% các khoản vay hiện hành (tương đương 9.5 tỷ USD) và các khoản vay mới thuộc IDA 17.

Ngân hàng thế giới là một trong những chủ nợ lớn nhất của chính phủ Việt Nam: Chiếm gần 30% nợ vay song phương.

Nhưng vẫn chưa hết.

Tháng 12/2015, Ngân hàng thế giới đã làm nên một hành động chưa từng có: Yêu cầu chính phủ Việt Nam sớm ban hành Luật Lập Hội.

Yêu cầu trên lại xếp hàng đầu trong bản khuyến nghị 7 điểm của Ngân hàng thế giới đối với chính phủ Việt Nam.

Cần thiết phải soạn thảo và thực hiện một bộ luật có hiệu lực mạnh về hội và hiệp hội. Chính điều đó sẽ giúp thực hiện chương trình nghị sự của chính phủ” – bà Kwa Kwa “gợi ý.”

Quá khó để có những khoản vay mới, trong khi ngay trước mắt của Nhà nước Việt Nam chỉ là trả nợ, trả nợ và trả nợ!

Nếu đến cuối năm 2016 mà không thể bán được trái phiếu, cũng như chưa bán được một đồng nợ xấu nào cho các đối tác nước ngoài, nhiều khả năng ngân sách Việt Nam sẽ chính thức vỡ nợ.

Không còn cách nào khác, giới lãnh đạo Việt Nam hậu đại hội 12 phải cải cách thể chế, kể cả cải cách chính trị.

Lê Dung / SBTN

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

 National Interest

Tác giả: Robert Beckhusen

Dịch giả: Phạm Ðức Duy

25-2-2016

Ảnh: National Interest

Hoa Kỳ không còn có thể dựa vào các căn cứ không quân của mình tại Thái Bình Dương để tránh khỏi các cuộc tấn công tên lửa trong một cuộc chiến tranh với TC. Trái lại, một bài báo đăng vào năm ngoái 2015 của cơ quan RAND đã lưu ý rằng trong trường hợp xấu nhất, “nếu phòng thủ thiếu kín đáo, các cuộc tấn công lớn hơn, chính xác và kéo dài có thể sẽ đưa đến những tàn phá, thiệt hại lớn về máy bay và đóng cửa các phi trường trong một thời gian dài”.

Căn cứ không quân Hoa Kỳ Kadena ở Okinawa tại Nhật, tương đối gần đại lục, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Vào tháng 9 năm 2015, TC cũng đã công khai tiết lộ loại tên lửa đạn đạo mới DF-26, từ đại lục có thể tấn công căn cứ không quân Hoa Kỳ Andersen ở Guam, cách xa 3.000 dặm. Andersen và Kadena là hai căn cứ lớn nhất và quan trọng nhất của quân đội Hoa Kỳ ở nước ngoài.

Tinian, hòn đảo nhỏ gần đảo Guam đang từ từ trở thành một trong những căn cứ dự bị của Không quân Mỹ. Ngày 10 tháng 2 vừa qua, Tinian đã được chọn như một sân bay chuyển hướng “trong trường hợp căn cứ không quân Andersen ở Guam, hoặc các căn cứ khác ở vùng tây Thái Bình Dương bị hạn chế hoặc phong tỏa.”

Trong ngân sách dành cho năm 2017, Ngũ Giác Ðài đã yêu cầu 9 triệu đô la để mua 17,5 mẫu đất “trong việc hỗ trợ các hoạt động chuyển hướng và các đề nghị ​​tập luyện quân sự”, báo Saipan Tribune đưa tin. Trong thời bình, Không quân Mỹ ước lượng sân bay Tinian sau khi được mở rộng sẽ chứa “lên đến 12 máy bay tiếp nhiên liệu và một đội ngũ nhân viên hỗ trợ cho các hoạt động chuyển hướng”.

Tinian hiện giờ là một nơi buồn tẻ.

Trong Thế chiến II, Sư đoàn 2 và 4 Marine của Mỹ đã chiếm hòn đảo, và sau này các phi cơ B-29 Superfortress Enola Gay và Bockscar đã cất cánh từ sân bay North Field tại Tinian và thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasakị Từng là một kho vũ khí trong thời chiến, hiện nay hầu hết các đường băng tại North Field bị bỏ hoang, không được sử dụng. West Field, một căn cứ không quân khác trên đảo lúc trước, hiện chỉ là một sân bay quốc tế nhỏ, ít được biết đến.

Lúc đầu Hoa Kỳ muốn dùng Saipan làm phi trường quân đội. Cách Tinian không xa, Saipan có dân số 15 lần hơn Tinian, một phi trường lớn hơn và một bến cảng. Nhưng đề xuất này đã gặp phải sự phản đối của các nhà hoạt động địa phương do các hiệu ứng về “san hô, nước sạch, giao thông vận tải địa phương và các yếu tố kinh tế xã hội đối với cộng đồng xung quanh,” báo Stars and Stripes đã đề cập.

Phe chống đối lập thậm chí bao gồm cả giới ủng hộ việc kinh doanh trong đó có cả Phòng Thương mại của Saipan. Họ lo ngại rằng phi trường rỉ sét Tinian sẽ bị bỏ rơi trong lần chi tiêu lớn của Ngũ Gia’c Ðài kỳ này. Phi trường Saipan hiện cũng đang quá tải, và dân địa phương không hài lòng về triển vọng của hàng trăm phi công bay đến cho các khóa diễn tập quân sự kéo dài tới tám tuần mỗi năm.

Có thể nói đây là một sự lập lại quá khứ. Lúc trước Hoa Kỳ đã phân tán các căn cứ không quân ở những mức độ khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới trong thời chiến tranh lạnh. Nhưng từ khi mối đe dọa của một cuộc tấn công tên lửa từ phía Liên Xô không còn nữa và lúc ngân sách quốc phòng sau Persian Gulf War bị cắt giảm nhiều trong thập niên ‘90, Hoa Kỳ đã chuyển sang xu hướng dùng những căn cứ rất lớn (mega-base) hoạt động theo quy mô kinh tế.

Tuy nhiên trong thời chiến mô thức phân tán các căn cứ quân sự có xác suất tồn tại nhiều hơn, Alan Vick của RAND đã nghiên cứu và kết luận trong năm 2015:

“Phân chia những phi cơ trên nhiều căn cứ khác nhau tạo ra khả năng phòng hờ, dư bị trong lãnh vực điều hành trên mặt đất và các cơ sở. Điều này giúp tăng cường sự an toàn cơ bản của các chuyến bay bằng cách cung cấp nhiều chỗ đáp hơn cho những trường hợp cần chuyển hướng khẩn cấp hoặc lúc thời tiết xấu. Nó còn làm tăng số lượng các sân bay mà địch phải theo dõi và có thể gây khó khăn hơn cho kẻ thù lúc nhắm mục tiêu (một phần vì số lượng di chuyển giữa các căn cứ của các lực lượng bạn gia tăng).”

“Ít nhất, so với mô thức tập trung, phân tán (vì làm tăng tỷ lệ đường băng và máy bay) buộc phía địch phải sử dụng nhiều năng lực đáng kể hơn để tấn công những đường băng. Mô thức phân tán cũng làm tăng chi phí xây dựng và điều hành các phi cơ trên nhiều căn cứ chính. Để giảm thiểu những chi phí này, mô thức phân tán có xu hướng dùng những căn cứ nhỏ, khiêm tốn hơn, đôi khi, có thể chỉ là những đường băng.”