Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Tác giả: Theo NTDTV | Dịch giả: Minh Nữ

Việt Đại Kỷ Nguyên
Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại. (Ảnh: NTDTV)

Thế nào gọi là cao nhân? Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.
Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.
Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!

Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.
Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa.
Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.
Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy.
Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”
Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.
Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?
Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.
Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.
Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.
Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.
Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.
Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.
Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.
Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.
Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?
Đáp án: Tất cả đều không phải!
Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

  1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.
  2. Tự giác không cần nhắc nhở.
  3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.
  4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

 MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

  1. Khỏe mạnh.

Đạt Lai Lạt ma:

Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

  1. Tình thương

Tagore:

Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

  1. Niềm vui

Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:

Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

  1. Chính trực

Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:

Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

  1. Tôn trọng

Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:

Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

  1. Nội tâm thanh tĩnh

Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:

Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

  1. Đạo đức .Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:

Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

  1. Giáo dục

Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:

Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

  1. Trí tuệ

Steve Jobs nhà sáng lập Apple:

Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

  1. Giác ngộ tâm linh

Người vô danh:

Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà an hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-03-19

25658277466_c9236bf881-622.jpg

GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016)

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Nói tới người hoạt động văn hóa ở hải ngoại không thể không nhắc tới ông, một trí thức đúng nghĩa, một bầu nhiệt huyết vì văn học, con người Việt Nam không hề chảy chậm lại trong cơ thể ông bất cứ phút giây nào và vượt lên trên tất cả, sự dấn thân suốt cuộc đời vì hai chữ tự do cho Việt Nam đã làm tên tuổi ông nằm sâu trong lòng những người từng gặp và biết ông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

Một trí thức đáng kính

Sống và làm việc ở những vị trí quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 và sau này khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Ngọc Bích là một trí thức đáng kính trọng bởi những việc làm cụ thể trước cộng đồng. Được đào tạo từ những đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ từ thập niên 50 như Princeton trong ngành chính trị học cho tới văn học cổ điển Nhật Bản tại Columbia University, cũng như tham dự những khóa học khác nhau tại Vienna, Munich, hay Madrid, Tokyo… Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích có kiến thức ngôn ngữ, chính trị và văn hóa học nhiều nước đủ để giảng dạy tại các đại học lớn của Mỹ sau này như George Mason, Trinity College và Georgetown University.

Là một học giả chuyên ngành ngôn ngữ, ông có những đóng góp đồ sộ cho kho tàng văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Những tác phẩm của ông dịch ra từ các tác giả cổ điển như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương cho tới các tác giả hiện đại như Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Trần Cao Lĩnh cùng hàng chục tác giả Việt Nam khác để giới thiệu với thế giới đang nằm trong các thư viện lớn của quốc hội Mỹ và nhiều đại học nổi tiếng.

Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam.
-Nhà báo Đinh Quang Anh Thái

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích được Tổng thống George W.H Bush (cha) bổ nhiệm chức Giám đốc song ngữ của Bộ Giáo dục Liên bang từ năm 1991 cho tới năm 1993, là Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự do từ năm 1997 cho tới khi về hưu năm 2003. Chủ tịch “Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ” cho tới ngày ông mất.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái có cơ hội biết nhiều tới ông từ khi còn là sinh viên trong nước cho tới khi về làm việc cho đài Phát thanh RFA khi GS Bích làm giám đốc Ban Việt Ngữ. Cho biết cảm nhận của anh về GS Bích như sau:

“Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam. Điển hình là lúc ông học bên Mỹ thời thập niên 50 trước khi về Sài Gòn làm việc thì ông là người đã cùng với sinh viên khác lên tiếng bênh vực chính nghĩa tự do của quân dân miền Nam trong việc bảo vệ vùng đất miền Nam. Đối đầu với đám biểu tình do hiểu sai lạc tin tức nên chống cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi ông về Sài gòn năm 1970-1971 thì ông đóng một vai trò quan trọng trong chính quyền là Cục trưởng Cục thông tin quốc ngoại. Đối với sinh viên thì ông là Tổng thư ký Viện Đại học Cửu Long. Ông gần gũi với sinh viên và ngoài tư cách như một vị thầy, một người anh lớn ông lúc nào cũng gắn bó với tất cả mọi sinh hoạt của sinh viên hồi đó, từ cứu trợ nạn nhân chiến tranh cho tới các buổi hát cộng đồng hay các sinh hoạt văn hóa của sinh viên Sài Gòn.

gs-nguyen-ngoc-bich-622.jpg

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA, ảnh chụp năm 2015.

Ông trước sáng tác nhiều, dịch thuật cũng nhiều và góp rất nhiều công lao giới thiệu văn hóa Việt Nam cho thế giới. Cho tới năm 1975 biến cố 30 tháng 4 xảy ra và ông sang Mỹ giữ vai trò trong nhiều tổ chức khác nhau không ngoài mục tiêu đấu tranh cho một đất nước Việt Nam tự do dân chủ. Lịch sử hoạt động của GS Nguyễn Ngọc Bích thì chắc chúng ta không kể xiết được nhưng có thể tóm lại về phương diện văn hóa thì ông là nhà văn hóa đã đóng góp rất nhiều trong việc giới thiệu nền văn hóa Đông phương nói chung và văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Đối với người Việt Nam ngoài nước thì ông là một người đấu tranh cho tự do dân chủ và là người xây dựng cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vững mạnh và tốt đẹp hơn.

Trong vai trò là người Giám đốc ban Việt Ngữ của Đài Á châu Tự do thì ông là người sáng lập đầu tiên của Ban Việt ngữ và đã dẫn dắt ban Việt ngữ trong nhiều năm trời. Khi ông về hưu chỉ ngồi nhà viết sách cho tới cuối đời của ông thì như chúng ta đều biết GS Nguyễn Ngọc Bích đã mất trên đường đi dự Hội nghị Biển Đông tại Manila và ông đột tử trên máy bay. Đó là bằng chứng cho thấy rằng ông đã sống cho tới lúc chết đã không bỏ sót phút giây nào trong cuộc đời mình cho những mục tiêu cao đẹp mà ông đề ra và đeo đuổi.

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ

Trên chuyến bay từ Istanbul đến Philippines vào tối ngày 2 tháng 3 năm 2016 để tham dự Hội nghị Biển Đông Việt-Phi lần thứ II ông đã từ trần đột ngột do nhồi máu cơ tim bên người vợ theo ông suốt cả cuộc đời là TS Đào Thị Hợi. Cuộc đời ông chưa bao giờ ngưng nghỉ cho riêng mình, nói với chúng tôi, nhà văn Trương Anh Thụy, người hơn nửa thế kỷ cộng tác với ông trong lĩnh vực viết lách và cùng với Giáo sư Bích khởi xướng Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ kể lại:

“Tôi lập ra nhà xuất bản gọi là Tủ sách Cành Nam hay gọi tắt là Cành Nam, anh Bích cứ thấy sách vở ở đâu là nhào tới thôi! Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác? Căn bản những người khác là ai? Họ là những văn nghệ sĩ lúc đó rất hiếm người có phương tiện in ấn và đặc biệt là không biết phát hành ở đâu trong khi tác phẩm của họ rất có giá trị, rất có ích cho văn hóa hay ngay cả cho chính trị nữa. Chúng tôi đặt ra như một thứ slogan là yểm trợ các văn nghệ sĩ để mà họ có một chút phương tiện thời giờ để tiếp tục viết lách.

Anh Bích là người đa dạng, anh ấy nhiều tài lắm thành ra anh ấy làm rất nhiều việc. Nhưng trước khi nói gì thì tôi phải thưa một điều là tôi với anh Bích cũng có những lần tâm sự thì tôi luôn luôn nói với anh Bích rằng anh giỏi quá về văn học sao anh không chuyên về văn học mà lại đi sâu vào lĩnh vực chính trị để nó chia trí và cũng đâm ra chia thời giờ công sức. Dĩ nhiên là làm việc này thì phải bớt việc kia.

Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác?
-Nhà văn Trương Anh Thụy

Thế nhưng anh ấy nói rằng chẳng may đất nước mình nó ở trong tình trạng rất nhiểu nhương và có rất nhiều nỗi đời đau khổ quá. Nếu cứ ngồi làm chuyện văn hóa không thôi thì chả hóa ra mình vô tình với nước non lắm sao? Thành ra chuyện chính trị mà ảnh dính vào là một chuyện rất bất đắc dĩ nhưng chẳng may nó lại rất nổi bật cũng chỉ vì hoàn cảnh đất nước mà thôi.”

Điều mà nhà văn Trương Anh Thụy nhận xét không có gì lạ. Hầu như ai gặp ông cũng nhìn thấy tấm lòng tin tưởng thiết tha vào một ngày mai tươi sáng cho đất nước. Ông không hề mỏi mệt bay từ nước này sang nước khác để vận động, huấn luyện cho những người trẻ có lòng với đất nước. Ông tham gia hàng trăm buổi hội thảo ở nước ngoài nhiều đến nỗi Hà Nội phải vận động nhiều nước cấm ông nhập cảnh vì lo sợ. Điển hình là vào ngày 21 tháng giêng năm 2014 Malaysia đã không cho ông nhập cảnh để làm việc với nhóm Lao Động Việt. Cùng ngày hôm ấy ông chia sẻ với chúng tôi:

“Khi vào phi trường Kuala Lumpur mấy người khác không bị gì cả nhưng tới phiên tôi thì tự nhiên nó chặn và nói rằng chúng tôi có lệnh không cho ông vào Mã Lai. Tôi hỏi lại sao lại có chuyện như vậy thì họ bảo tôi cũng không có câu trả lời cho ông chỉ vì trên headquarter nói với chúng tôi là không cho ông vào thế thôi, mặc dù ông có giấy tờ đàng hoàng.

Tôi bảo ông có thể giải thích vì sao hay không thì họ nói tôi chỉ có thể nói với ông như thế này: có phải lần trước ông vào Mã Lai vào năm 2009 phải không? Tôi nói là đúng như vậy. Họ lại nói sau khi ông vào Mã Lai lần đó thì giữa năm 2010 chúng tôi có lệnh không cho ông vào.”

Với người trẻ, GS Nguyễn Ngọc Bích không quên đưa tay ra làm một nhịp cầu cho họ trên mảnh đất tri thức mà ông đã trải qua. Nguyễn Phương Uyên, một người tranh đấu trẻ từ Việt Nam may mắn được ông dìu dắt kể lại:

“GS Nguyễn Ngọc Bích là một người đã theo tôi từ những chặng đường đầu tiên khi bước vào xây dựng phong trào dân chủ. Bác luôn luôn rất giàu nhiệt huyết và năng lượng trong việc giúp đỡ tôi ngay cả khi bác bệnh thì bác vẫn cố gắng trả lời những câu hỏi, những thắc mắc của tôi trước khi bác đi khám bệnh, bác bị bệnh tiểu đường và tim mạch cũng lo cho các câu hỏi của tôi trước.

Bác như là người cha đẻ của phong trào Bước chân Lạc hồng. Những bước đầu mình ấp ủ như thế nào, xây dựng một diễn đàn cho giới trẻ, mở rộng cho giới trẻ tham gia thì mình nói với bác cách thức ngay cả việc sinh hoạt trong nhánh, trong group ra sao đều chia sẻ với bác ngay cả in ấn và phát hành.”

Bất cứ gặp ông lần đầu hay thường xuyên người ta đều có ấn tượng về khuôn mặt hiền lành, dễ mến kỳ lạ. Nụ cười không bao giờ tắt trên môi ông như nói với mọi người rằng cuộc đời có gì mà phải buồn rầu áo não, ngay cả lúc bi thương nhất vẫn còn tia hy vọng cuối con đường kia mà!

Nhà văn Uyên Thao một bạn đời lâu năm của ông nhận xét:

“Nhận xét anh Bích trong vòng anh em thì có lẽ nhận xét của anh Nguyễn Ngọc Linh, là bào huynh của anh Bích, thì có vẻ chính xác nhất với cái nhìn của tôi. Anh Linh nhìn bọn tôi nhiều khi anh ấy nói thằng tuột. Anh ấy nói tôi với ông anh của Bích là hai anh dở người không làm được cái quái gì hết. Riêng Bích thì cái gì cũng lao vô cuối cùng do vậy chẳng có việc gì làm cho nó ra hồn, đấy là cái nhận xét của anh Linh. Tôi thì tôi nhìn thấy cái nhận xét đó của anh Linh thì thấy hình dung của Bích nó có vẻ phù hợp với cái câu tôi nghe từ bao lâu rồi. Là con người vừa là cái hạt cát lại vừa là viên ngọc.

Nó phải biết rằng nó là cái hạt cát để đừng tranh chấp, đừng mưu cầu cái gì và nó cũng phải hiểu nó là viên ngọc để lúc nào cũng giữ gìn cái chất ngọc đối với tất cả tha nhân. Tôi nghĩ nhận xét của anh Linh có vẻ chê mấy thằng em nhưng mà Bích đã thể hiện được cái câu đó. Hầu như y chẳng nghĩ cái gì mưu cầu cho bản thân của mình mà cứ làm theo tinh thần vị tha theo cái hướng mà nhìn thấy người chết đuối thì lập tức nhảy xuống dưới sông trong khi không biết mình có biết bơi hay không. Đấy là cái nhìn của tôi về Bích.”

GS Nguyễn Ngọc Bích chắc không còn cười tươi được nữa dưới ba tấc đất nhưng gia đình, bạn bè, người thân, học trò của ông đều tin rằng ông đã làm tròn trọng trách của một nhà văn hóa, một trí thức trải qua bao biến động vẫn giữ được cái tâm trong sáng và khí tiết của kẻ sĩ Việt Nam.

Bí quyết để Đan Mạch trở thành nước hạnh phúc nhất thế giới

https://1.bp.blogspot.com/-csTnE_A5b-w/Vtp7G2yWtII/AAAAAAAAhzo/CnHL50U9iu8/s1600/de-cham-vao-hanh-phuc.jpg
Hạnh phúc không phải là điều bạn phải đi tìm kiếm, mà là những gì bạn tạo dựng…”
 Đan Mạch là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới những năm gần đây. Câu hỏi đặt ra là tại sao nước này lại có chỉ số hạnh phúc cao đến vậy? Cùng tìm hiều điều đó dưới đây nhé.


Trong 4 năm gần đây, 3 năm Đan Mạch về nhất trong “cuộc đua” quốc gia hạnh phúc

Đan Mạch đã đứng đầu danh sách những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới của LHQ năm 2016, 2014 và 2013. Mặc dù thời tiết ở Đan Mạch rất u ám trong mùa đông, thế nhưng nơi đây vẫn được coi là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Tại sao?

Khảo sát về mức độ hạnh phúc thực hiện bởi Liên Hợp Quốc và Viện Trái đất tại Đại học Columbia (Mỹ), dựa trên các yếu tố như: sức khỏe, dịch vụ y tế, mối quan hệ gia đình, công việc bền vững, tự do chính trị và một bộ máy nhà nước không tham nhũng. Dưới đây là lý do tại sao Đan Mạch lại “giữ ngôi” hạnh phúc nhất trong nhiều năm như vậy.

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống
Ở Đan Mạch, trung bình một người làm việc 37 tiếng/tuần. Họ có thời gian nghỉ lễ 5 tuần/năm. Điều này có nghĩa là thời gian nghỉ ngơi chiếm phần lớn trong văn hóa Đan Mạch. Việc này rất có ích. Tan làm đúng giờ, đi xe đạp về nhà, hoặc sử dụng một phương tiện công cộng rất hiệu quả, đón con từ trường học và có một bữa ăn tối ấm cúng cùng gia đình, là định nghĩa của hạnh phúc ở hầu hết các gia đình Đan Mạch.


Người Đan Mạch chỉ làm việc 37 tiếng/ tuần

Dành nhiều thời gian để giải trí thư giãn
Người Đan Mạch thường dành thời gian rảnh rỗi của mình với người thân, gia đình, bạn bè. Những cuộc gặp mặt ấm cúng này có thể là một buổi tụ tập bên lò sưởi sau ngày Giáng sinh khi trời đầy tuyết rơi, hoặc đi dạo trên bãi biển, xuống phố, tranh thủ mọi nơi để trò chuyện, cùng nhau uống cốc bia… Người Đan Mạch luôn muốn làm những điều này. Ra ngoài uống bia hay uống café hoặc ăn tối với người thân là một trong 10 điều cần phải làm ở Copenhagen, Đan Mạch.


Thường xuyên dành thời gian với gia đình, bạn bè là chìa khóa hạnh phúc của người Đan Mạch

Ít kì vọng
Người Đan Mạch không quá tham vọng. Trong xã hội Đan Mạch, mọi người đều như nhau. “Bạn không hề tốt hơn những người khác.” là một câu nói nổi tiếng của người Đan Mạch. Không ai chỉ trích bạn vì lựa chọn sự nghiệp hoặc thiếu tham vọng, nếu bạn hạnh phúc với nó, thì cứ tận hưởng. Ít kì vọng khiến mọi thứ trở nên dễ dàng hơn với người Đan Mạch. Như người ta vẫn nói, ít hy vọng thì ít thất vọng. Người Đan Mạch thực sự thích thú với những điều đơn giản và một cuộc sống đơn giản.


“Ít hi vọng, ít thất vọng”

Chính sách phúc lợi “hào phóng”
Đan Mạch được coi là một trong những quốc gia bình đẳng nhất trên thế giới, nơi mà cả nam giới và phụ nữ đều có trách nhiệm như nhau. Thuế ở đây rất cao, giúp quyên góp vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Mọi người đều được khám chữa bệnh miễn phí. Trường học cũng miễn phí. Sinh viên được trợ cấp hàng tháng trong suốt năm. Trợ cấp thất nghiệp và các chương trình hỗ trợ thấp nghiệp đều rất hào phóng.
Chi tiêu của chính phủ về trẻ em và người cao tuổi cao hơn so với bất kỳ nước nào trên thế giới. Hệ thống phúc lợi xã hội ở Đan Mạch phát triển mạnh đã tăng cảm giác an toàn và làm cho người dân cảm thấy thoải mái, luôn tin rằng nếu họ thất nghiệp hoặc bị ốm, xã hội sẽ hỗ trợ và giúp đỡ họ hồi phục.


Sinh viên sẽ được hưởng trợ cấp tới 7 năm

An ninh tốt
Niềm tin là một yếu tố quan trọng trong khái niệm hạnh phúc của người Đan Mạch: tin tưởng vào chính phủ, tin tưởng nơi làm việc, trường mẫu giáo và trường học chăm sóc con của bạn, tin tưởng rằng bạn an toàn, với tỉ lệ tội phạm và tham nhũng thấp, tin vào lực lượng cảnh sát đáng tôn trọng và những người hàng xóm thân thiện.

Các bà mẹ có thể vô ý để quên con mình trong xe đẩy ngoài tiệm café mà không có chuyện gì xảy ra. Ở làng quê, bạn ra ngoài mà chẳng cần khóa cửa nhà. Và có lẽ chiếc xe đạp thân yêu là biểu tượng đẹp nhất của sự hạnh phúc ở Đan Mạch. Nhiều người Đan Mạch đủ khả năng để mua ô tô, nhưng vẫn chọn xe đạp: đơn giản, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và giữ cho bạn khỏe mạnh.

http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s626/2016/03/17/dan-mach-1458179932.jpg
Nụ cười của trẻ em Đan Mạch

Quốc gia này vừa được bình chọn là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2016 do Liên Hiệp Quốc công bố hôm 16-3. 

Việt Nam xếp thứ 96 trong danh sách này.


VietBF © Sưu Tầm

Chuyện về chị Ba Sen của tôi

Chuyện về chị Ba Sen của tôi

Đòan Thanh Liêm

Gia đình tôi rất đông anh chị em, có đến tất cả là 11 người gồm 3 anh em trai

và 8 chị em gái. Chúng tôi gốc gác ở miền quê, thuộc tỉnh Nam Định trong

vùng đồng bằng sông Hồng ngòai Bắc. Vì họ hàng bên họ nội cũng như bên

họ ngọai đều sinh sống trong một ngôi làng hay vài ba làng kế cận, nên bà

con rất gần gũi gắn bó với nhau.

Bà chị cả là chị Chắt bị bệnh câm điếc từ nhỏ, nên mọi việc trong nhà đều do

người chị thứ ba là chị Sen cáng đáng giúp đỡ cha mẹ để chăm sóc lũ em

nhỏ như tôi. Vì thế mà chị không được đi học nhiều, chỉ cỡ vài ba năm theo

học ở trường làng mà thôi. Mẹ tôi kể là từ nhỏ chị Sen rất tháo vát, biết lo

lắng mọi việc trong nhà đâu ra đó. Chị hơn tôi đến trên một con giáp, nên

ngay từ tấm bé tôi có sự quyến luyến với người chị dịu hiền này, với bao

nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ trong khung cảnh đồng quê êm ả nơi xóm làng có lũy

tre xanh bao bọc xung quanh. Chị tôi mất tại Mỹ năm 1993 vào tuổi 75, giữa

lúc tôi còn đang bị giam giữ tại nhà tù Hàm Tân, Phan Thiết.

Nay sắp đến ngày giỗ năm thứ 17, tôi muốn ghi lại một số kỷ niệm thân

thương với chị là người tôi luôn luôn yêu mến quý trọng. Chị tôi lập gia đình

sớm với anh Tống Huy Chỉnh, nên mấy cháu lớn cuả anh chị cũng không

thua kém về tuổi tác là bao nhiêu so với tôi. Vì thế chị hay rủ tôi khi nào

rảnh rỗi như vào các kỳ nghỉ hè, không phải đi học, thì đến ở nhà chị và chơi

với mấy cháu. Chị lại làm món ăn rất khéo và mau lẹ gọn gàng, nên tuổi nhỏ

còn ham ăn ham chơi, tôi rất thích được đến ở nhà chị chỉ cách xa nhà cha

mẹ tôi chừng 5-6 kilomet thôi.

Chị rất tháo vát năng nổ và có nhiều sáng kiến trong lối sắp xếp công việc

làm ăn kinh doanh. Nhận thấy anh rất khéo tay, nên ngay từ hồi còn ở thị xã

Bùi chu lúc vưà mới thành lập, chị đã bày vẽ ra chuyện chế biến và buôn bán

nữ trang bằng vàng là các thứ mà người dân quê thường rất ưa chuộng để cất

giữ làm vốn liếng, mà khi cần thì có thể dễ dàng đem bán đi. Và đến khi di

cư vào Nam năm 1955, chị cũng tìm cách mở lại hàng vàng ở khu Ngã Ba

Ông Tạ là nơi có rất đông người Bắc tới định cư. Tiệm vàng này có tên là

Trường Nguyên, nên mọi người mới gọi anh chị tôi là “Ông Bà Trường

Nguyên”.

Hồi đó tôi còn đang học ở trường Luật Saigon, vào các ngày nghỉ tôi

thường về ở với chị, nhiều hơn hồi xưa ở ngoài Bắc nữa. Vì lúc này cha mẹ

tôi đều đã qua đời ở ngoài Bắc, nên lũ em còn nhỏ tuổi chúng tôi phải phân

tán chia nhau ra mà tá túc tại nhà các anh chị lớn, mà đã có nhà riêng đủ

rộng rãi để chứa chấp các em. Chị luôn khích lệ cổ võ cho tôi trong chuyện

học hành thi cử. Nhờ vậy mà tôi đã học xong hết cấp đại học.

Tôi rất nhớ những chuyện chị tâm sự với tôi. Điển hình như lúc tôi ngồi tại

quầy bán hàng vàng với chị, thì có lần chị nói : “Em có biết không, làm cái

nghề buôn bán này, thì có nhiều cám dỗ để mà tham lam, gạt gẫm khách

hàng hầu kiếm lợi tối đa cho mình. Như vậy là phạm tội lường gạt, là “lỗi

đức công bằng”. Riêng một mình chị thì phạm tội để có thêm tiền cho chồng

con ăn xài. Như vậy là cả nhà được hưởng lợi, mà riêng chị thì mắc tội để

sau này bị vướng mắt trước tòa phán xét nghiêm ngặt của Chúa. Do đó mà

chị phải cảnh giác, không làm chuyện lừa gạt khiến gây thiệt hại cho thân

chủ khách hàng…” Lời chị nói như thế đó càng làm cho tôi nhớ lại điều mà

mẹ tôi thường hay nhắc nhủ chúng tôi về bổn phận của con nhà có đạo là

phải giữ “đức công bằng”. Bà cụ nói : “ Chúng con phải hết sức tránh, không

được để cho mình phạm lỗi đối với bà con, vì làm điều gian dối khiến gây

thiệt hại cho họ. Đó còn là cái tội trước mặt Chúa nữa…”

Dịp khác, chị còn nói : “ Đứa trẻ chỉ có thể lớn lên được, đó là nhờ ở tình

yêu thương ấp ủ trong cái nôi êm ấm của gia đình bằng tình yêu thương của

cha mẹ, của các anh chị em và bà con họ hàng nội ngoại …” Điều bà chị của

anh nói rõ ràng là “ do kinh nghiệm bản thân, chứ không phải là do sách vở

mà trích dẫn ra “ : Đó là nhận xét của chị bác sĩ Olivette người Bỉ nói với

tôi, khi tôi nhắc lại câu nói trên do chị Ba tâm sự với tôi vào năm 1969-70 ở

Saigon, lúc chính vợ chồng tôi cũng đã có mấy đứa con rồi.

Tôi thấy anh chị suốt đời đã rất thuận thảo và đồng lòng hợp ý chăm sóc rất

chu đáo cho các cháu, cũng như là lo lắng bảo bọc lũ em như chúng tôi.

Điểm đặc biệt tại nhà anh chị là vì bận rộn với chuyện kinh doanh làm ăn,

phải vắng nhà, thì anh chị giao toàn quyền cho Cô Đoán như là một vị

“Quản gia”, để quán xuyến mọi việc trong nhà, nhất là lo trông coi mấy cháu

nhỏ. Cô được sự tín nhiệm hoàn toàn trong mọi việc nội trợ, đến nỗi mà mấy

cháu nhỏ phải nói với tôi : “ Tụi cháu sợ Cô Đoán la rày, hơn là sợ bố mẹ

chúng cháu “. Sự đối xử tế nhị như thế làm cho Cô Đoán thật cảm phục.

Không những đối với con ruột, mà ngay cả đối với các con dâu, con rể, thì

chị cũng đối xử rất ngọt ngào, hiền dịu. Cháu Hà là con dâu trưởng nhiều lần

tâm sự với tôi : “ Cháu chưa thấy một bà mẹ chồng nào mà lại đối xử với

con dâu tốt đẹp, tươm tất như mẹ của anh Hiền chồng cháu”. Cháu Hưng là

con trai út, thì cũng tâm sự : “ Cháu đi tìm người con gái nào mà có được

đức tính như mẹ của cháu, thì mới có thể xin cưới cô ta làm vợ được. Nhưng

mà, cháu kiếm hoài vẫn chưa gặp được người nào nết na, dịu hiền như mẹ

cháu cả. Thật là khó đấy! “

Còn luật sư Đỗ Xuân Hòa, thì cũng thường nói : Ít có bà cụ nào mà có sự

khôn ngoan chín chắn và có tấm lòng nhân hậu dịu dàng như bà cụ Trường

Nguyên. Luật sư Hòa có bà xã nhận chị tôi là “ người đỡ đầu khi chị gia

nhập đạo công giáo”, nên hai anh chị thường có dịp lui tới thăm nom gặp gỡ

với gia đình chị tôi. Vì thế mà cả hai vợ chồng rất gắn bó với toàn thể gia

đình. Luật sư Hòa còn nói rõ : “ Mọi việc trong nhà, thì hầu hết là do bà cụ

sắp xếp, tổ chức đâu ra đấy. Mà ông cụ thường luôn thuận thảo, tán đồng

theo ý kiến rất xác đáng có tình có lý của bà, nhờ vậy nên công việc đều êm

xuôi “thuận chèo mát mái” cả.

Cụ thể là nhờ tính cương quyết, kiên trì của chị mà toàn bộ gia đình mới có

thể đi thoát khỏi chế độ cộng sản vào năm 1975. Chị đã lo bố trí ghe thuyền

tươm tất để tất cả gia đình và một số bà con khác có thể êm thắm ra khơi tại

bãi biển Vũng Tàu, đúng vào lúc miền Nam sụp đổ vào tay quân đội cộng

sản vào ngày 30 Tháng tư oan nghiệt năm đó. Tôi vẫn còn nhớ lúc gặp chị

vào cuối tháng Tư năm 1975 tại xưởng làm nước mắm của chị tại khu Bến

Đá Vũng Tàu, thì chị dặn tôi : “Em ở Saigon ráng thu xếp đưa gia đình di tản

đi thôi. Người trí thúc như em, thật khó mà sống với cộng sản được. Cái

chuyện “cha chung không ai khóc” khiến cho nền kinh tế tập trung kiểu

cộng sản mỗi ngày một lụn bại, làm dân chúng đói khổ lầm than mà thôi!”

Để chị yên tâm, tôi cũng nói là em có thể kiếm máy bay cho cả gia đình đi từ

Saigon cho tiện, vì các cháu còn nhỏ dại. Và đó là lần sau cùng hai chị em

chúng tôi gặp nhau.

Vì anh chị đều tận tâm chăm sóc dìu dắt lũ con như thế, nên các cháu đều

thành đạt về nghề nghiệp, cũng như noi theo được tấm gương đạo hạnh tốt

lành của cha mẹ. Đặc biệt là các cháu đều tham gia rất tích cực vào các loại

công tác xã hội từ thiện, cũng như công việc xây dụng của giáo hội công

giáo. Điển hình như cháu Hồng Vân là trưởng nữ và chồng là bác sĩ Nguyễn

Duy Thuần, khi còn sinh tiền làm ăn ở bên Texas, thì cả hai vợ chồng đã hết

sức góp phần yểm trợ cho các giáo phận ở ngoài Bắc và được Đức Hồng Y

Phạm Đình Tụng công khai tán dương công đức vào lúc cháu Vân Thuần

qua đời vì bạo bệnh.

Riêng về phần anh, thì Chúa đã cho anh sống tới tuổi thọ khá cao. Năm 2009

này, anh đã bước qua tuổi 95, kể là vào loại “thượng thọ” được rồi. Mà anh

vẫn còn minh mẫn sáng suốt. Anh vẫn thường kể lại về những kỷ niệm thật

tươi đẹp với chị trong suốt bao nhiêu năm chung sống với nhau. Và bây giờ

các cháu đều trưởng thành chững chạc, sinh hoạt thuận thảo quây quần với

nhau trên đất Mỹ. Các cháu đều hết lòng biết ơn cha mẹ đã hy sinh trọn cuộc

đời để vun đắp cho các cháu trở thành người có nhân cách thanh cao, có

nghề nghiệp đàng hoàng, và nhất là có lòng đạo hạnh và niềm tin sắt đá

vững vàng. Rõ rệt đây là trường hợp “Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.

Về phần bản thân mình là người em của chị, tôi thật tự hào là có được một

người chị vừa nết na đạo hạnh, vừa có tài ba để xây dựng được một gia đình

yên vui hạnh phúc với lũ con, cháu và chắt thật là đông đúc, mà lại rất thuận

hòa yêu thương gắn bó mật thiết với nhau. Chị tôi chẳng phải là một bậc nữ

lưu tài ba nổi tiếng ngoài xã hội ; chị chẳng có công trạng lớn lao đáng kể gì

đối với làng quê, đối với quốc gia, để mà được tung hô ca tụng. Mà chị chỉ

là một phụ nữ bình thường, là một người mẹ, một người chị suốt cả cuộc đời

chỉ biết hoạt động bên trong ngưỡng cửa của gia đình. Nhưng rõ rệt là chị đã

để lại một tấm gương sáng ngời với một nhân cách cao quý, một tinh thần hy

sinh tận tụy cho gia đình nhỏ của riêng mình, cũng như cho cả đại gia đình

bên nội và bên ngoại của các cháu. Chị là người đã giữ mãi được cái ngọn

lửa yêu thương nồng ấm của truyền thống gia phong gia đạo, do cha mẹ

chúng tôi truyền lại. Từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, tôi đã học hỏi

được biết bao nhiêu điều tốt đẹp quý báu nơi chị.Tôi thật biết ơn chị và cũng

phấn khởi với chị xuyên qua những điều cao quý như thế đó.

Tôi luôn tưởng nhớ về chị với tấm lòng yêu thương quý trọng của một

người em nhỏ trong gia đình. Và tôi cũng luôn cố gắng để xứng đáng với

người chị tuyệt vời của mình nữa./

California, Tháng 12 Năm 2009

Đoàn Thanh Liêm

Nạn hạn hán ở Mekong tệ hại hơn giữa những nghi ngờ về lời hứa của Lào

 Nạn hạn hán ở Mekong tệ hại hơn giữa những nghi ngờ về lời hứa của Lào

Đập Xayaburi do Lào xây dựng đã gây ra nhiều tranh cãi và phản đối từ các nước xung quanh vì những tác động tiêu cực về môi trường. (Ảnh: Tom Fawthrop)

Đập Xayaburi do Lào xây dựng đã gây ra nhiều tranh cãi và phản đối từ các nước xung quanh vì những tác động tiêu cực về môi trường. (Ảnh: Tom Fawthrop)

21.03.2016

Hạn hán tại Đông Nam Á đã gây lo ngại rất nhiều cho Việt Nam và Campuchia, nơi nước mặn đang vào sâu trong Sông Mekong và nhiều người nghi ngờ về những lới hứa mới đây của Lào là nước này sẽ tôn trọng quyền của những quốc gia ở vùng lạ lưu trong việc xây dựng các con đập. Thông tín viên Luke Hunt của đài VOA gởi bài tường thuật về từ Phnom Penh.

Bảo đảm từ Vientiane được đưa ra bởi ông Bounhang Vorachith, người vừa mới được bầu làm tổng bí thư của đảng Cộng sản Lào, đã mang lại mối hy vọng là ông có thể cho thấy một khuynh hướng hòa giải trong các cuộc thương thuyết với những nước cùng chia sẻ việc sử dụng Sông Mekong. Ông nói: “ Lào sẽ nỗ lực đảm bảo là sẽ không có ảnh hưởng gì cả”. Ông Bounhang vừa mới nói với chính phủ Campuchia về kế hoạch của Vientiane để xây dựng 11 con đập dọc theo Sông Mekong và ảnh hưởng của những con đập này đối với các nước láng giềng.

Ông cũng nhắc nhở Thủ tướng Hun Sen là Lào đã nghiên cứu ảnh hưởng có thể có của những con đập và hứa hạn chế ảnh hưởng của đập thủy điện Don Sahong gây nhiều tranh cãi. Báo Phnom Penh Post loan tin là con đập này sẽ được xây dựng ngay phía bắc biên giới Campuchia.

Tuy nhiên, lời hứa của ông Bounhang không trấn an được những nước phụ thuộc nhiều vào Sông Mekong, nơi mực nước thấp gây nên hạn hán trầm trọng. Tình trạng này được nhiều người cho là phát sinh từ biến đổi khí hậu, việc phá các khu rừng nhiệt đới để sử dụng trong công nghiệp và những con đập trên thượng nguồn, chủ yếu tại Trung Quốc.

Có đến 70 triệu người sống dọc theo Sông Mekong, trong đó những  sắc dân thiểu số  như Jarai, Kraol, Phnong, Ro Oung, Stieng, Su, Oey, Kreung and Tampuan.

Ông Samin Ngach, phát ngôn viên của Hiệp hội Thanh niên Bản địa Campuchia, nói nguồn cung cấp thực phẩm và nước ngọt bị thiếu hụt tiếp sau những mùa lúa với sản lượng thấp do thiếu mưa trong mùa mưa vừa qua.

Ông Samin Ngach nói:

“Cộng đồng người bản địa không thể trồng lúa. Cuối cùng họ không có lương thực để ăn. Rừng cũng cần nước và gia súc cũng cần nước. Thật là khó khăn cho mọi người”.

Ông nói khả năng ứng phó hạn hán của các chính quyền trong vùng của cũng là một vấn đề cần quan tâm. Việc này được nêu bật bằng quyết định của Thái Lan trong tháng trước nhằm chuyển dòng Sông Mekong chảy vào những vùng bị hạn hán gây nên những lo ngại tại Việt Nam và Campuchia. Hà Nội làm áp lực để đòi Bangkok dùng Ủy ban Sông Mekong (MRC) để giải quyết vấn đề, trước khi những vấn đề này leo thang trong tương lai. Tuy nhiên, MRC bị các nhà tài trợ cắt giảm ngân sách trầm trọng vì bất bình với Ủy ban Sông Mekong và những cáo buộc quản lý không tốt và tham nhũng trong ủy ban.

Ông Ou Virak, người đứng đầu cơ quan nghiên cứu ở Campuchia có tên là Diễn đàn Tương lai, nói:

“Nguồn cá nước ngọt đối với người Campuchia rất quan trọng. Tôi nghĩ biến đổi khí hậu có thể cảm nhận được hiện nay. Mùa nắng nóng đến rất sớm, không còn có mùa đông nữa, không có mùa mát nữa”.

Ông Ou Virak nói thêm là biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng tới hoạt động ngoại giao khu vực, với việc Trung Quốc kiểm soát  dòng chảy Sông Mekong xuyên qua một hệ thống mạng lưới đê đập rộng lớn được xây dựng trong 20 năm qua.

Ngư dân Thái biểu tình chống lại việc xây đập Sayabouri trên Sông Mekong.

Ngư dân Thái biểu tình chống lại việc xây đập Sayabouri trên Sông Mekong.

Đây là một lợi điểm to lớn của Trung Quốc trong những cuộc thương thuyết với những nước nằm dọc Sông Mekong như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.

Ông Ou Virak nói tiếp:

“Nhưng nếu nhìn vào những con đập trên thượng nguồn Sông Mekong ở Trung Quốc, tôi nghĩ là những con đập này chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều, không những ảnh hưởng đến nguồn cá mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước. Những nước ở hạ lưu Sông Mekong như Việt Nam, Campuchia sẽ phải tìm cách thương thuyết với Trung Quốc”.

Nông dân Việt Nam đang phải đối mặt với thiệt hại lớn về mùa màng vì hạn hán nghiêm trọng và nước mặn tràn vào đất nông nghiệp tại vùng đồng bằng Sông Mekong và 12 tỉnh của Việt Nam. Một số báo cáo cho biết nước mặn đã tràn đến biên giới Campuchia.

Ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, được báo chí nhà nước trích lời nói rằng cho tới nay đã có 139.000 hecta đất bị nhiễm mặn và con số này sẽ gia tăng ít nhất cho đến khi mùa mưa kế tiếp bắt đầu, thường là vào khoảng tháng 6.

Ông Tek Vannara, giám đốc của Diễn đàn các Tổ chức phi chính phủ, nói có thêm 200.000 hecta lúa bị tiêu hủy vì hạn hán ở Campuchia, và việc này có ảnh hưởng rất xấu đối với đời sống của nông dân.

Ông Tek Vannara nói:

“Đồng lúa bị hủy hoại vì hạn hán. Nước mặn tràn vào do phá rừng tại vùng Sông Mekong. Các khu rừng nhiệt đới bị biến đổi để trở thành đất nông nghiệp hoặc để dùng trong công nghiệp làm cho vấn đề này tệ hại hơn nữa. Tại Campuchia, Lào, Việt Nam  và Thái Lan, rừng đã biến thành đất nông nghiệp rồi lại được sử dụng trong công nghiệp. Do đó đây là một nguyên nhân căn bản khác”.

Tại Việt Nam, ông Cao Đức Phát nói tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng tới 575.000 người cùng với những cơ sở kinh doanh như bệnh viện, trường học, khách sạn và công xưởng.

Công an phá lớp học kỹ năng sống của thầy Phạm Minh Hoàng

 Công an phá lớp học kỹ năng sống của thầy Phạm Minh Hoàng

Pham Minh Hoang or blogger Phan Kien Quoc

Pham Minh Hoang or blogger Phan Kien Quoc

Hoài Hương-VOA

21.03.2016

Trưa 20/3, công an đã đột ngột xông vào một lớp học về kỹ năng mềm do thầy giáo Phạm Minh Hoàng hướng dẫn tại một quán café ở Sài Gòn, và cách ly học viên với thầy Hoàng. Lúc đó có 13 học viên, toàn là các em trẻ, theo trang mạng Dân Làm Báo.

Nói chuyện với Ban Việt ngữ VOA sáng 21/3, vợ ông – bà Lê thị Kiều Oanh cho biết:

“11 giờ trưa thì công an họ ập vào họ khống chế các em nó ở một phòng, anh Hoàng ở một phòng. Họ nói là có thơ tố cáo đây là một khóa học mà nội dung không được lành mạnh. Họ lợi dụng có thơ như vậy để ập vào và kiểm tra. Từ 11 giờ trưa tới 3 giờ chiều họ không cho các em ăn uống gì hết mặc dù tôi đã yêu cầu. Họ nói họ chỉ cho duy nhất một mình tôi ra ngoài để mua cơm cho các em. Sau đó thì tôi mới hiểu là họ cho tôi ra ngoài để không cho tôi vào nữa, mặc dù tôi đã mua cơm tới mà họ không cho tôi mang cơm vào. Sau đó các em có lẽ là đói quá nên kêu gào như thế nào đó, họ cho xe vào chở cứ 2, 3 em lên một xe để về một phường, cách ly các em ra rất là nhiều phường”.

Nhưng vì sao chính quyền Việt Nam lại quan tâm tới lớp học kỹ năng mềm do thầy giáo Hoàng hướng dẫn, bà Kiều Oanh cho biết nội dung lớp học kỹ năng mềm rất lành mạnh:

“Khóa học bao gồm những cái như luyện trí nhớ, lịch sử các triều đại Việt Nam mình chống Tàu, rồi có cả Hiến pháp của Việt Nam, cho các em biết các quyền của người dân như thế nào, những cái nằm trong pháp luật của Việt Nam”.

Bà Kiều Oanh cho biết sau khi bị giữ để làm việc từ 12 giờ trưa, ông đã được thả về vào  nửa đêm Chủ nhật nhưng sáng thứ Hai, ông đã phải lên làm việc với cơ quan công an và được yêu cầu sẽ tiếp tục làm việc với công an vào ngày mai, tức 22/3.

Khóa học bao gồm những cái như luyện trí nhớ, lịch sử các triều đại Việt Nam mình chống Tàu, rồi có cả Hiến pháp của Việt Nam, cho các em biết các quyền của người dân như thế nào, những cái nằm trong pháp luật của Việt Nam.

Bà Lê Thị Kiều Oanh – vợ GS. Phạm Minh Hoàng.

Ban Việt ngữ VOA sáng 21/3 có cuộc trao đổi sau đây với Giáo sư Phạm Minh Hoàng:

VOA: Xin cho biết phản ứng của ông sau khi sự việc xảy ra. Tại sao ông nghĩ công an gây khó dễ cho lớp học về kỹ năng sống của ông là sai pháp luật?

Giáo sư Phạm Minh Hoàng: “Họ nghĩ cái khóa học mà có sự hiện diện của một người như tôi thì chắc là phải có một hậu ý nào đấy. Họ cũng muốn tìm hiểu xem cái hoạt động này là một hoạt động của Việt Tân hay không. Chứ nói về khía cạnh nội dung thì không có gì để nói cả, họ đã mở máy và tôi cũng mở máy lên cho họ xem về những nội dung mà họ cũng nhận thấy là rất là bình thường, rất có lợi cho các giới trẻ và thậm chí cho cả người lớn tuổi nữa”.

VOA: Dạ khi công an can thiệp, có bạo lực xảy ra hay không? Có học viên nào bị đối xử mạnh tay hay không?

Giáo sư Phạm Minh Hoàng: “Thú thật với chị lúc đó nó xảy ra rất là nhanh. Sự hiện diện của công an rất là bất chợt. Họ vô một cái là họ tuyên bố lý do hiện diện của họ. Các em nhỏ thì tụi nó phản ứng rất là dữ dội. Có em thì đứng lên hỏi tôi làm cái gì sai? Có em thì lấy máy ra quay, có em thì lấy máy ra chụp. Trong lúc đó thì có một số những người công an, tôi không nhớ là ai mặc sắc phục hay thường phục, họ ngăn cản các em, thì họ dùng số đông họ trấn áp, không cho các em tiếp tục làm như vậy nữa. Phần sau thì chị biết rồi, họ tách biệt tôi ra một bên, các em sang một bên. Tôi thì bị thẩm vấn ngay tại cái quán ấy. Tôi xác nhận là có một sự xô xát, nhưng tôi không dám xác nhận cái độ nghiêm trọng như có chảy máu hay chuyện gì khác”.

VOA: Thưa, công an muốn ông trở lại làm việc ngày mai nữa. Họ có cho biết là họ sẽ tiếp tục làm việc như thế cho tới bao giờ không ạ?

Giáo sư Phạm Minh Hoàng: “Cái đó thì chắc chắn là họ không nói. Tại vì những người làm việc với tôi chỉ là những người thừa hành thôi. Họ làm việc xong thì tất cả những cái đó họ phải đưa lên cấp trên. Đây là một sự thất vọng của tôi tại vì chị cũng biết là cứ phải ngồi chờ đợi như vầy thì nó rất là mệt, không làm gì được cả. Cái tâm hồn mình nó không ổn định lắm thì tôi có bày tỏ cái sự bất bình của tôi cho họ biết để họ sớm giải quyết nhanh cái việc này. Ngày mai thì tôi cũng sẽ cố gắng, tôi sẽ đến làm việc để việc này nó kết thúc, để có thể trở lại cuộc sống nó yên ổn bình thường chị à”.

Tôi thì bị thẩm vấn ngay tại cái quán ấy. Tôi xác nhận là có một sự xô xát, nhưng tôi không dám xác nhận cái độ nghiêm trọng như có chảy máu hay chuyện gì khác.   

Phạm Minh Hoàng.

Giáo sư Phạm Minh Hoàng là người có hai quốc tịch Việt Nam và Pháp.

Bà Kiều Oanh cho biết bà đã liên lạc với toà đại sứ Pháp để xin giúp đỡ. Bà nói:

“Bị khống chế ở phía ngoài thì tôi có liên lạc với tòa lãnh sự ở Sài Gòn qua thư ký của ông tổng lãnh sự. Ảnh chỉ nói với tôi là ảnh đã thông báo toàn bộ sự việc như tôi kể cho ông tổng lãnh sự biết”.

Giáo sư Phạm Minh Hoàng bị từng bị bắt năm 2011 khi đang giảng dạy tại Đại học Bách Khoa Sài Gòn, về cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”. Ông bị kết án 3 năm tù giam, 3 năm quản chế trong phiên tòa sơ thẩm ngày 10/8/2011 tại Sài Gòn. Tại phiên phúc thẩm vào tháng 12/2011, bản án được giảm xuống còn 17 tháng tù giam với 3 năm quản chế.  Ông được trả tự do vào năm 2012.

Nhà nước Việt Nam tố cáo ông là thành viên của đảng Việt Tân, một tổ chức bị chính quyền Việt Nam đặt ra ngoài vòng pháp luật. Ông Hoàng xác nhận ông là đảng viên của đảng Việt Tân nhưng không làm gì sai với pháp luật Việt Nam.

Đức hạnh của kẻ cầm quyền

Đức hạnh của kẻ cầm quyền (RFA)

tuankhanh

Liên tục những sự kiện bùng nổ trong nhiều ngày của tháng 3/2016 đã thu hút nhanh mối quan tâm của xã hội, trong số đó phải kể đến là sự kiện Sầm Sơn, thiếu tá công an xã xách súng vào khủng bố trường học ở Gia Lai, luật số 15 gây ách tắc việc điều tra tham nhũng… Những chuyện lớn lao đó đã đủ lấp đầy suy nghĩ, che lấp nhiều điều thú vị khác trong đời sống.

Một trong những chuyện, nên được nhắc lại, đó là việc ông Huỳnh Văn Nén tiếp tục theo đuổi vụ án của đời mình lại tiếp tục gây nên nhiều dư luận. Người tù oan, có thời gian bị giam giữ đến hơn 17 năm ở tỉnh Bình Thuận, sau khi trở về nhà, đã kiên trì tiếp tục mục đích của ông là đưa 14 người có chức vụ ra toà, đối mặt với công lý.

Đầu tháng 3/2016, Cục điều tra Viện KSND tối cao đã hồi đáp đơn yêu cầu điều tra của ông Huỳnh Văn Nén. Câu chuyện cuộc đời của ông Huỳnh Văn Nén, được giới luật sư goi tên là đại kỳ án của quốc gia xem ra vẫn tiếp diễn, và chắc là sẽ mở ra thêm nhiều điều đáng chiêm nghiệm từ ngành tư pháp Việt Nam hiện nay.

Có không ít dư luận quanh sự kiện này. Có người thì cho rằng hành động quyết liệt này của ông Huỳnh Văn Nén là cần thiết, và người dân chờ đợi vào kết quả như một thái độ đúng công dân. Nhưng cũng có ý kiến rằng ông Nén đã “làm quá”, vì đã được xét bồi thường từ 10-12 tỉ đồng, và được cả nước chia sẻ vụ án oan này. Thật mới mẻ với người Việt, khi chứng kiến một người tù oan quyết đi đến tận cùng của sự việc, so với thói quen cam chịu, im lặng và dễ dàng chấp nhận từ nhiều năm nay.

Cuối năm 2015, trong một cuộc gặp mặt do báo Infonet tổ chức, tôi có được may mắn tiếp xúc với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, thầy Nguyễn Thận và luật sư Phạm Công Út, những người đeo đuổi chuyện minh oan cho ông Nén. Ông Nén bị công an điều tra đánh đập, đe doạ… buộc phải nhận tội giết 2 người trong vùng của ông, giấu nhẹm cả đơn tố cáo hung thủ thật.

Điều khiến tôi hay nhớ về ông Nén, đó là một gương mặt đầy nếp nhăn, rúm ró giấu kín mọi suy nghĩ. Rất khó phân biệt được biểu cảm của ông là đang cười hay đang khóc. Chỉ đến khi thấy giọt nước mắt của ông im lặng chảy xuống, thì mới biết. Mà lúc đó thì chung quanh cũng rất nhiều người khóc, mắt đỏ hoe. Những người đàn ông thì khóc không thành tiếng, mặt rúm ró vì những quặn đau trong lòng.

Ông Nén là người hiếm hoi, không chịu ngồi xuống và hài lòng với phần đời còn lại qua số tiền bồi thường khổng lồ. Nơi ông Nén đang sống, chỉ cần có một tài sản 1 tỉ đồng đã là đại phúc, thế nhưng ông được hứa hẹn là sẽ có gấp 10 lần như vậy. Có lời bình luận rằng có thể ông Nén còn chất chứa hận thù hoặc trở nên cơ hội trong sự kiện đời mình, nhưng quan trọng nhất, đích đến của ông Nén vẫn vô cùng công chính, đó là công lý.

Ngày 3/12/2015, ông Huỳnh Văn Nén được phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận lạnh lùng đọc thư xin lỗi công khai. Trong 30 phút của buổi xin lỗi đó, ông Nén nhiều lần nhắm nghiền mắt, im lặng, tay buông thõng. Có lẽ ký ức của ông dội về, với những ngày tháng ông cùng 8 người thân trong gia đình bị giam cầm, nhà cửa không còn, cái chết đến cùng bữa ăn hàng ngày.

Ông Nén từng cởi áo giữa toà để chứng minh mình bị đánh đập, bức cung ra sao. Nhưng nhiêu đó thì không đủ, làm sao tả hết những ngày ông bị trói vào ghế, công an điều tra dùng chân mang giày đá liên tục và ống chân đến thâm đen. Đến mức ông té xuống, khóc, xin tha, thì bị công an viên trẻ như con mình quát “cho mày chết luôn”. Người thân của ông, bị giữ để điều tra ở nhà tạm giam nữ, khi đến chu kỳ tháng phải tự xé quần làm băng vệ sinh, chứ không được cấp phát theo quy định, vì bị người điều tra tuyên bố “không nhận tội thì ráng chịu”.

Ông Nén chắc không ngờ vì sao mình trở thành kẻ phạm tội, và vì sao phải nhận tội. Một buổi tối ghé xin ít rượu đế từ nhà hàng xóm với lời nói đùa “uống để gột rửa tội lỗi” đã biến ông thành nghi can số một. Đã có lúc ông Nén muốn chết vì quá đau đớn thân xác và tinh thần, nhưng ông đã không thể làm vậy, vì nếu ông còn sống thì công lý còn một hy vọng, sự thật còn một cơ hội. Công lý không đơn giản là một lời xin lỗi công khai, không là con số 10 hay 12 tỉ đồng. Công lý là ánh sáng giữa cuộc đời tưởng chừng như tuyệt lộ này, công lý là đòi hỏi việc xiển dương sự thật cũng như vạch mặt những kẻ không đủ khả năng để phục vụ cho sự thật.

Khi ông Nguyễn Phúc Thành gửi đơn tố cáo thủ phạm thật, xin giải oan cho ông Nén, thì bị điều tra viên Cao Văn Hùng chỉ mặt “mày muốn chết à? Tao cho mày chết”. Sau vụ án của ông Nén, điều tra viên đó ra Hà Nội ung dung hành nghề luật sư. Thậm chí số tiền dự trù 10-12 tỉ đền bồi cho ông Huỳnh Văn Nén cũng lấy từ tiền thuế của người dân, chứ 14 cán bộ người liên quan đến vụ án của ông Nén không hề thiệt hại mảy may.

Nhưng ông Huỳnh Văn Nén hay Nguyễn Thanh Chấn chỉ là những trường hợp may mắn được giải oan, còn bao nhiêu trường hợp khác chưa được biết tới đang rên xiết trong phòng điều tra, mơ ước một sự công tâm?

Hãy cám ơn ông Huỳnh Văn Nén. Ông không đi tìm công lý cho riêng mình, mà đang dựng lại ngôi nhà chung cho mọi người. Ngôi nhà đó có cánh cửa lớn tràn ngập ánh sáng chứ không âm u với những chấn song lờ mờ chực chờ. “Công lý chính là thứ đức hạnh hàng đầu của kẻ cầm quyền”, Denis Diderot (1713-1784), nhà triết học Pháp có để lại lời nhắn đó từ thế kỷ thứ 18. Lời xin lỗi hay một mớ tiền bồi thường không thể đánh tráo khái niệm đó là là công lý và đức hạnh của một quốc gia. Tìm cách để giảm thiểu bất công, soi chiếu ánh sáng công lý vào những nơi không thể đó mới chính là đức hạnh của người cầm quyền, đức hạnh của công dân.

Và hơn ai hết, xin hãy ngã nón chào người từng bị giam cầm 17 năm 5 tháng 11 ngày ấy, vì chính ông đang thay chúng ta, lặng lẽ hành động vì đức hạnh của ngành tư pháp, vì tương lai trên đất nước này.

Hòa giải, những bàn tay gỗ.

Hòa giải, những bàn tay gỗ. (RFA)

canhco

Ba mươi ngày trong tháng Tư của năm 2015 âm thầm theo dõi những bài viết, hình ảnh trong và ngoài nước là dịp may nhận chân gần như toàn bộ quá khứ, một quá khứ rất gần bởi chỉ 40 năm, thời gian chưa đủ hình thành được một chu kỳ mà lịch sử cần, nhưng lại quá đủ để thấy được diện mạo của hai phía trong ngày kỷ niệm 40 năm này.

Bên thắng cuộc, chữ của Huy Đức, định hình đảng cộng sản Việt Nam một cách cay đắng, vẫn cười rất tươi và hát rất vui về cái ngày mà phía ngược lại chưa lau khô hết được nước mắt.

Hình ảnh của VNCH từ cách ăn mặc, cho tới sinh hoạt trong học đường, chợ búa, ngay cả những lần đồng bào đi bỏ phiếu được khoe đầy trên Facebook khiến lứa trẻ sinh sau 30 tháng 4 có thể hình dung ra một thời kỳ mà Sài Gòn hãnh diện là hòn ngọc viễn đông. Những tấm ảnh ấy đa số do phóng viên nước ngoài chụp trước khi miền Nam sụp đổ. Càng về sau năm 75 càng hiếm dần những hình ảnh sống động tiếp tục miêu tả những gì mà người dân Sài Gòn sống cùng.

Gần 5 tháng sau ngày giải phóng, ngày 22/ 9/1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là “Tiền Ngân hàng Việt Nam”, còn gọi là tiền giải phóng, với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500 đồng tiền của chế độ cũ.

Không một phóng viên nào chụp được vẻ mặt thẫn thờ tuyệt vọng của dân chúng trong ba lần đổi tiền. Gia tài dành dụm bao nhiêu năm không cánh mà bay. Người cha trở về nhà với một nhúm giấy bạc xấu xí mà giá trị chỉ sống được một tháng. Toàn bộ số tiền có thể mua vài căn nhà nay đã ra tro. Không giải thích, không trả lời người dân, các ông bà chủ mới của “Ngân hàng không tiền gửi Việt Nam” lạnh lùng phát cho dân một số tiền như nhau và phấn khởi báo cáo với Chủ tịch nước đã làm tròn bổn phận.

Ba năm sau, ngày 2/5/1978 Nhà nước tiếp tục công bố đổi tiền lần thứ 2 trên phạm vi toàn quốc, với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới.

7 năm sau đó, vào ngày 14/9/1985 Nhà nước lại công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới để phục vụ cuộc cách mạng về giá và lương. Lần đổi tiền thứ ba này đã thật sự lột sạch tới những đồng bạc ki cóp cuối cùng trong những gia đình miền Nam, trong khi đó miền Bắc không bị ảnh hưởng bao nhiêu vì đã quen với chế độ tem phiếu và thắt lưng buộc bụng từ những ngày chiến tranh chống Mỹ.

Đổi tiền là cách trưng thu tài sản đồng đều cho mọi người dân miền Nam vì thực tế dân miền Bắc không có bao nhiêu tiền để mà mất. Chính quyền “cách mạng” còn tiến thêm một bước qua việc đánh “tư sản mại bản” một cách khốc liệt trên toàn miền Nam. Hình thức cướp cạn có văn bản, có nghị quyết này đã giết bao nhiêu gia đình lúc ấy và chẳng những thế còn bao nhiêu gia đình phải sống mòn trong suốt 38 năm sau đó?

Năm 1977 chính quyền cách mạng đã phát động cuộc tố cáo và truy nã các thành phần mà họ gọi là tư sản mại bản tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Hình ảnh cải cách ruộng đất tại miền Bắc được lập lại, hàng chục ngàn gia đình bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thu và số phận của những con người bị chụp cho cái mũ tư sản mại bản ấy không khác gì những con thú hoang không còn nơi ẩn núp.

Theo Huy Đức trong Bên Thắng cuộc thì ngày đánh tư sản mại bản xảy ra các nhân vật gốc Hoa như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên, Lý Long Thân, Trần Thành cùng lúc trước sau bị bắt giam để trả lời tại sao họ lại giàu có như vậy. Có tội hay không có tội là chuyện của họ và bên thắng cuộc nhưng hàng chục ngàn gia đình khác bị đám 30 tháng tư chỉ điểm cũng cùng một số phận trắng tay thì ai sẽ là người trách nhiệm đây?

Sau cuộc đánh tư sản mại bản chính quyền cách mạng tiếp tục đánh dân miền Nam bằng một chính sách rất ác độc mang một tên gọi mỹ miều là Xây dựng vùng kinh tế mới.

Kinh tế mới là những khu đất hoang hóa, hay rừng sâu nước độc khó canh tác thành công nếu không có một kế hoạch tổng lực và dồi dào phương tiện. Hàng trăm ngàn người dân đang sống đạm bạc nhưng an lành trong thành phố bị cưỡng ép bằng những ngôn từ đầy hăm dọa lên xe về nơi mà con người khó có khả năng thích hợp. Những chuyến xe chất đầy quang gánh, quần áo tả tơi hướng về Lộc Ninh, Phước Long, Buôn Mê Thuột, Bù Gia Mập cùng hàng trăm địa diêm nổi tiếng khác của miền Nam, ghé vào và vất họ xuống với vài căn nhà mới vội vã dựng lên xiêu vẹo và chắp vá. Họ đi không nỡ ở không xong, cuộc hành trình về vùng kinh tế mới đã khép lại với hàng chục ngàn người bỏ thây vì muỗi mòng rắn rít.

Từ đó ba chữ Kinh tế mới ám ảnh họ như ma quỷ, như ác thú. Bốn mươi năm sau khi nhớ lại đoạn đường này nhiều gia đình vẫn còn ngơ ngác tự hỏi tại sao chính quyền cách mạng lại thúc ép dân vào nơi hang hùm nọc rắn như vậy? Ý đồ đích thực của họ là gì? Tận diệt một thế hệ miền Nam không thích nghi được với chủ nghĩa cộng sản hay tư duy kinh tế kiểu cộng sản đã khiến họ mù quàng chơi những canh bạc mà vốn liếng duy nhất họ có chỉ là mạng sống của người dân?

Bốn mươi năm, các bài viết nói về hòa hợp hòa giải giữa chính quyền hiện tại và hàng triệu người bị bắt, bị cải tạo cũng như hàng triệu đồng bào vượt biển tìm tự do đã bỏ mình hay suốt đời mang hận vì cướp biển Thái Lan rộ lên khắp các trang mạng. Chính quyển, họ, những khuôn mặt bóng nhẫy, láng bóng nói lời hòa giải như đào kép trong một gánh hát đình. Họ thể hiện sự ban ơn một lần nữa như họ đã giải phóng miền Nam là đã ban ơn cho đám lưu dân mất gốc này. Cách nói, cách thể hiện qua các nghị quyết hòa giải dân tộc khẳng định một thái độ: ban phát, xin cho.

Hãy nói về tù nhân cải tạo.

Ừ thì chiến tranh, người thắng kẻ thua. Thắng được phép giam giữ và cho ra khỏi trại giam lúc nào thuộc về kẻ giữ chìa khóa. Quốc tế cũng phải đứng ngoài vì quốc tế đối với cộng sản cũng chỉ là chiếc phao trong lúc túng cùng bị gậy. Bây giờ hòa giải là hòa giải thế nào? Chìa tay ra nói với anh: thôi mình bỏ qua nhé, anh đánh tôi không chết thì tôi nhốt anh cho vui, nếu lỡ tay có người chết thì cũng đâu bằng bom thả chùm chùm lên miền Bắc? thế nhé, ta cùng ngồi nâng chén giải oan hát bài hòa giải có vui hơn không?

Nếu thái độ ấy diễn ra như kịch bản này phác thảo không biết có mấy người đưa tay hòa giải? Huống chi bàn tay mà phe thắng cuộc đưa ra là bàn tay giả, chúng có thể rớt bất cứ lúc nào nếu người được hòa giải xiết nó quá mạnh.

Gia đình tôi không có liên quan tới VNCH nên chúng tôi không cần sự hòa giải của bên thắng cuộc. Nhưng gia đình tôi là nạn nhân của cả ba vụ, từ đổi tiền đến đánh tư sản mại bản và cuối cùng là chết dần chết mòn trên vùng kinh tế mới.

Tôi không cần chính quyền này nói lời hòa giải với tôi.

Điều tôi cần là chính quyền phải kéo nhau tới nhà của từng thành viên trong gia đình tôi, bây giờ còn lại 30 người, cúi đầu thật thấp và xin lỗi với thái độ chân thành. Tài sản bị mất tôi kể như xung vào công quỹ quốc gia mặc dù tôi biết chắc cán bộ thành phố là những kẻ tận thu và tư túi những tài sản ấy.

Phải sòng phẳng với lịch sử và nhận trách nhiệm trước nạn nhân. Hòa giải chỉ là chiêu bài không thể thực hiện từ một phía. Chúng tôi không chấp nhận hòa giải vì mình là nạn nhân trực tiếp cũng như hàng chục triệu người miền Nam khác. Các ông là thủ phạm làm cho bao người sống trong nước mắt thì phải xin lỗi thật tâm nếu lương tâm con người trong các ông cắn rứt. Chỉ có lời xin lỗi mới đúng với các ông, đúng với tinh thần dành cho kẻ phạm tội với nhân dân, với lịch sử.

 

‘Ứng viên tự do là hạnh phúc của đất nước’

‘Ứng viên tự do là hạnh phúc của đất nước’

BBC

20-3-2016

Ông Tuấn Khanh nói cần khởi tố những người vu khống các ứng cử viên độc lập. Ảnh: FB Khanh Tuan Nguyen

‘Việc có nhiều người tham gia tự ứng cử đại biểu quốc hội và xã hội dân sự phát triển là niềm hạnh phúc của đất nước’, Nhạc sĩ Tuấn Khanh nói trong cuộc trao đổi qua Google Hangout với BBC hôm 20/3.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh được nhiều bạn trẻ yêu nhạc biết đến với các ca khúc “Áo xanh”, “Rêu phong”, “Trả nợ tình xa” và các ca khúc khác.

Đặc biệt, thời gian gần đây, ông được nhiều cư dân mạng xã hội biết đến như là tác giả viết những bài chính sự sắc bén về thời cuộc, chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và những người yếu thế như ngư dân và người nghèo.

Nói về bước chuyển này, nhạc sĩ cho hay: “Trước đây, tôi xuất hiện trên truyền hình như một giám khảo của các chương trình giải trí.

Nhưng từ một lần chứng kiến người dân đi đòi đất cầm những lá đơn mà không được giải quyết và còn bị an ninh trấn án, khi trở về tôi quyết định không thể tiếp tục là một người nghệ sĩ bàng quan về thời cuộc.

“Nếu tiếp tục im lặng, tôi thấy mình mắc sai lầm là mình đã lớn lên trên đất nước này mà không quan tâm đến người khác”.

“Tôi muốn dấn thân về những vấn đề xã hội để chuyển tải suy nghĩ của mình về những vấn đề của đất nước.

“May mắn là blog và mạng xã hội xuất hiện giúp tôi có công cụ đem tiếng nói của mình đến với nhiều người, cho dù những bài viết này có thể khiến tôi gặp rắc rối”, nhạc sĩ nói.

‘Không là đặc quyền của giới lãnh đạo’

Đề cập về chuyện những ứng viên tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14, ông Khanh nhận định: “Chưa bao giờ thấy xã hội dân sự sôi động như vậy, đây là niềm hạnh phúc của đất nước, chứ không phải là một phong trào của một nhóm người”.

“Đây là giai đoạn người dân thật sự quan tâm đến chính trị và chính trị không phải là đặc quyền của giới lãnh đạo, mỗi người dân đều có tiếng nói và họ muốn góp tiếng nói tại nghị trường”.

“Nếu những ứng viên tự đề cử này được đối xử trân trọng và họ có đủ năng lực để thành những đại diện thật sự của người dân, tôi tin này đất nước này sẽ phát triển. Hơn bao giờ hết, nghị trường đang cần những đại biểu thấu hiểu được những nỗi đau, vấn đề cấp bách của đất nước như quyền im lặng của phạm nhân, ứng xử khôn khéo với Trung Quốc…

“Ngược lại, nếu những ứng viên tự do không được tạo điều kiện, rõ ràng đang có những trở ngại cho việc phát triển xã hội mà chưa được giải quyết”, nhạc sĩ nói.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Ben Ngô, BBC Việt ngữ về chuyện một số ứng viên tự do là nghệ sĩ như ca sĩ Mai Khôi và diễn viên Vượng Râu đang bị các báo trong nước chỉ trích, nhạc sĩ cho hay: “Họ ứng cử theo đúng luật với sự khuyến khích của chính phủ chứ không tự ý làm càn. Nhưng bước đầu các ứng viên này đã bị khích bác trên mặt báo trong nước, và tôi nghĩ chính những người bêu riếu ứng viên tự do mới không đủ tư cách và đáng bị khởi tố theo luật 258”.

“Tôi có tìm hiểu về các ứng viên là nghệ sĩ và biết họ có ước muốn cũng như khát vọng đáng quý. Anh Vượng Râu muốn xây dựng nền văn hóa truyền thống đặc sắc, còn chị Mai Khôi muốn lên tiếng về nữ quyền và xử lý nạn bạo lực xã hội đang gia tăng. Có thể họ không phải là đại biểu xuất sắc như chúng ta kỳ vọng, nhưng họ thành tâm và đáng được ủng hộ. Vì họ đang là những tiếng nói trong tiến trình dân chủ ở Việt Nam”.

Ông Khanh cũng nói thêm: “Hiện tôi đang quá đa mang nên chưa tham gia tự đề cử nhưng bốn hoặc tám năm nữa, nếu có cơ hội thì tôi nghĩ vẫn còn kịp. Dù không tự ứng cử nhưng tôi vẫn góp tiếng nói ở góc độ trung lập để giúp được nhiều người hơn”.

Để xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu?

Để xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu?

THÁI TUẾ

21-3-2016

Các lãnh đạo đảng và nhà nước. Nguồn: internet

Lấy cảm hứng từ loạt bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Từ Huy Việt Nam có thể cải cách chính trị hay không?. Trong loạt bài này, bà Nguyễn Thị Từ Huy tập trung nghiên cứu về Nguyễn Phú Trọng và đi đến kết luận: “Nguyễn Phú Trọng không tham nhũng, không tham nhũng thì còn tự trọng và tự trọng có thể thay đổi”. Cũng như Bùi Quang Vơm, tôi rất kính trọng những nghiên cứu của Nguyễn Thị Từ Huy, nhưng không hoàn toàn đồng ý với bà.

Chính vì vậy tôi xin lặp lại cách mà Nguyễn Thị Từ Huy đã dùng để nghiên cứu Nguyễn Phú Trọng. Đó là bắt đầu sự nghiên cứu bằng việc tìm hiểu về cá nhân Nguyễn Phú Trọng. Cũng như bà, tôi không tin chắc 100% những nghiên cứu này là đúng, vì thiếu thông tin, nên chắc chắn phiến diện. Nhưng dẫu sao vẫn phải nghiên cứu từ số lượng thông tin ít ỏi ấy.

Cách đây vài năm tôi được ông Nguyễn Mạnh Can, nguyên Phó ban Tổ chức Trung ương hồi Lê Đức Thọ cho xem một tấm hình. Đây là một bức ảnh chụp đen trắng từ những năm 80 của thế kỷ 20, khi ông cùng Nguyễn Phú Trọng ngồi ở bàn thư ký của Đại hội 6. Nguyễn Phú Trọng lúc đó đeo kính cận gọng đen dầy cộp, ngồi ở mép ngoài của dãy bàn thư ký, mới khoảng gần 30 tuổi. Kể từ hồi đó ông đã vào sâu trong cơ cấu của đảng Cộng sản. Đến bây giờ đã khoảng trên 40 năm. Như vậy có thể xem là ông đã tham gia rất nhiều đại hội Đảng và là người làm nghề công tác Đảng chuyên nghiệp và có thâm niên, thực tế ông đã có bằng cấp TS về xây dựng Đảng. Vậy với một người làm nghề lâu năm thì như thế nào? Sẽ xảy ra hai trường hợp: a) rất yêu nghề, hoặc b) rất chán ngán nghề, chẳng qua phải làm vì cái nghiệp, vì miếng cơm manh áo. Theo tôi Nguyễn Phú Trọng thuộc trường hợp a, tức ông rất yêu nghề và Đảng đã trở thành máu thịt của ông. Suy luận này đúng, người ta có thể kiểm chứng dễ dàng qua hành động và phát ngôn của ông. Tuy vây, ông để lại dấu ấn mờ nhạt qua rất nhiều cương vị công tác trong Đảng, chỉ từ khi ông làm Tổng Bí thư thì dấu ấn của ông trong công tác Đảng bắt đầu đậm nét. Đó là giọt nước mắt tại Hội nghị T.Ư 6 (khóa 11) năm 2012, đó là câu nói nổi tiếng “Tôi bất ngờ vì được tái bầu làm Tổng Bí thư với kết quả gần 100%”, đó là “dân chủ đến thế là cùng”.

Vấn đề là giọt nước mắt và phát ngôn của ông xảy ra khi nào. Rất dễ thấy, xảy ra sau các cuộc đấu cam go với các thế lực trong Đảng. Tại sao ông phải đấu cam go? Vì ông nhận thức rằng một bộ phận lớn trong Đảng đã suy thoái và quyết chống lại trào lưu đó. Đây là một việc vô cùng khó khăn và vì vậy nó rất cam go. Người ta còn nhớ, tại trận đấu cam go đầu tiên vào năm 2012 ông đã phải rơi nước mắt. Nhưng ông không chịu thua, trận 2016 ông đã nở nụ cười. Vậy ông đã thắng chưa? Ông đã chặn đứng được đà suy thoái biến chất chưa? Chăc chắn là chưa. Vậy lúc này đây ông đang làm gì? Ông làm tiếp cái việc tập hợp đội ngũ những Đảng viên “chưa suy thoái” để chống lại các Đảng viên “đã suy thoái”. Năm trước ông điều Bá Thanh ra Hà nội để chặn suy thoái, chống tham nhũng. Bá Thanh đã ngã ngựa giữa dòng. Năm nay ông cử La Thăng vào Sài Gòn cũng để chặn đà suy thoái, tham nhũng.

Một động thái khác quan trọng hơn. Đó là phát biểu của tướng Phan Anh Minh về chỉ thị 15 rằng công an không được trinh sát đảng viên. Ai cho phép vị tướng này tiết lộ chỉ thị tuyệt mật 15? Ai cho phép các cơ quan truyền thông đăng tải rầm rộ phát biểu này? Có phải Nguyễn Phú Trọng không. Chắc chắn rồi, trong cơ chế độc Đảng, lời nói của vị tướng đó nhất định sẽ bị vô hiệu hóa nếu không được phép từ cơ quan cao nhất.

Vậy bạch hóa chỉ thị 15 để làm gì? Để làm điều ngược lại. Để chuẩn bị cho công an được phép trinh sát đảng viên. Vậy rõ ràng là sau thắng lợi tại đại hội 12, khi mà Nguyễn Phú Trọng dùng nghị quyết 244 và 1510 đại biểu dự đại hội Đảng để loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng, thì bây giờ là lúc ông dùng công an để loại bỏ các đảng viên suy thoái khác. Có lẽ chúng ta sẽ thấy một trận chiến mới, rộng hơn, mạnh hơn, qui mô lớn hơn và tất nhiên cam go hơn. Theo dự đoán người đầu tiên bị đưa vào tầm ngắm sẽ là vị thủ tướng sắp được bổ nhiệm Nguyễn Xuân Phúc. Nguyễn Xuân Phúc sẽ được đưa lên cao để lật đổ cho dễ.

Nhưng tại sao ông Nguyễn Phú Trọng lại phải chống suy thoái? Cơ sở nhận thức nào cho phép ông tiến hành công tác chống suy thoái (chúng ta hãy tạm quên biệt danh Trọng Lú để tin rằng ông có thể nhận thức các hiện tượng vô cùng phức tạp của chính trị, xã hội)?

Cơ sở thứ nhất là tình yêu của ông đối với Đảng. Hơn 40 làm nghề xây dựng Đảng ông rất yêu Đảng, tin rằng Đảng là đạo đức là văn minh, bất chấp rất nhiều hành vi vô đạo đức và kém văn minh của Đảng. Theo ông, vì Đảng là đạo đức là văn minh thì tất nhiên Đảng phải loại bỏ các phần tử suy thoái.

Cơ sở thứ hai là triết học Mác mà ông thuộc lòng từ trẻ. Triết học Mác dạy ông và rất nhiều người rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo ra sự phát triển. Vì Nguyễn Phú Trọng muốn bảo vệ, xây dựng và phát triển Đảng nên ông đã và đang tiến hành các cuộc đấu cam go chống lại thế lực suy thoái trong Đảng.

Trong hai cơ sở nhận thức trên, cơ sở thứ nhất thuộc về trái tim. Trái tim có thể mù lòa, lạc lối và chúng ta chưa bàn sâu về sự u mê của trái tim vội. Chúng ta hãy bàn về cơ sở nhận thức thứ hai thuộc về phần trí tuệ. Nội hàm thực sự của cái gọi là biện chứng trong triết học Mác về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ là một phần sơ khai của thuyết âm-dương. Nguyễn Phú Trọng đã dựa vào nội hàm đó, lấy nó làm cơ sở triết lý cho cuộc đấu tranh chặn suy thoái trong Đảng. Ông tin rằng đấu tranh chống tham nhũng, loại bỏ suy thoái, sẽ làm trong sạch Đảng và một Đảng trong sạch sẽ hoàn thành nhiệm vụ đưa đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng. Nhưng ông đã quên rằng Đảng chỉ là một bộ phận trong mối quan hệ rộng lớn hơn đối với 90 triệu dân. Thực chất, Đảng là dương và dân là âm hoặc ngược lại. Bộ phận suy thoái trong Đảng là thiếu âm của dương và lực lượng tiến bộ trong nhân dân là thiếu dương của âm.

Khi Đảng đã suy thoái trầm trọng thì Đảng đang là dương trong giai đoạn trước dần biến màu thành âm trong hiện tại và cái thiếu âm (suy thoái) chính là lực lượng mang tính động lực thúc đẩy sự biến tính của Đảng, chuyển hóa Đảng từ dương thành âm. Trong khi đó, nhân dân vốn là âm (giai cấp bị trị) dần biến mầu thành dương và lực lượng tiến bộ trong nhân dân (trí thức, doanh nhân, các nhà dân chủ,…) đang là thiếu dương thì trở thành động lực thúc đẩy sự biến tính của âm (nhân dân) thành một lực lượng thống trị mới. Quan sát sự dịch chuyển đó, nếu Nguyễn Phú Trọng không lú, thì ông phải tiến hành cuộc tự diễn biến, nhập cuộc với lực lượng tiến bộ trong nhân dân để biến Đảng từ chỗ suy thoái thành tích cực. Do đó, nếu Nguyễn Phú Trọng giỏi về thuyết âm dương, giỏi về triết học thì ông không nên đấu tranh chống suy thoái trong Đảng mà phải tích cực ủng hộ tiến bộ trong dân. Cụ thể ông nên tiến hành dân chủ hóa từ làng xã, tổ chức bầu cử tự do, dân chủ thực sự dần dần từ làng xã, để loại bỏ cường hào cấp thấp, dần dần loại bỏ tham nhũng cấp cao và đưa đất nước đến văm minh, dân chủ. Nhưng Nguyễn Phú Trọng đã không làm như vậy, ông đã tiến hành đấu tranh trong Đảng, loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng với mong muốn qua đó loại bỏ tham nhũng. Chắc chắn ông đã và sẽ gặp trở lực rất lớn.

Thắng lợi ở đại hội 12 vừa rồi chỉ là thắng lợi tạm thời. Ông, với tư cách là người có thâm niên nghề nghiệp trong xây dựng Đảng, sẽ đẩy Đảng đến chỗ tan rã khi cứ kiên quyết chống tham nhũng. Như vậy có thể kết luận, nếu ông chiến đấu ở thượng tầng, chặn suy thoái, chống tham nhũng, thì ông đang lú và ông sẽ thua, thua trong công tác xây dựng Đảng. ‘Đánh trên đánh xuống’, nhưng trầy trật mãi cũng không đánh được thì ‘dưới lại mạnh thế ngoi lên’. Như thế, coi như Tổng Trọng thất bại, dù đã nhiều trải biến chịu trận ‘cố đấm ăn xôi’, nhưng ‘lực bất tòng tâm’… Ngược lại, nếu ông đi với nhân dân, thì ông không lú và ông sẽ đi vào lịch sử dân tộc như một người có công trong việc loại bỏ chế độ toàn trị. Nhưng thôi, với phép suy chiếu – theo ngữ luận thường dùng của Tiến sĩ Xây dựng đảng là khách quan, biện chứng – thử phân tích vậy và ‘cứ biết vậy cái hẵng’, thử xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu ?!

Th.T (Tác giả gửi BVB)