NỤ HÔN LUẬT SƯ

 NỤ HÔN LUẬT SƯ
Tiến sĩ Luật khoa Đào Quang Huy, học trò Giáo sư – Tiến sĩ – Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở trường Bưởi kể lại một về một phiên tòa diễn ra ở làng Xuân Thọ, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, vào thời kỳ 1947-1949.
Vụ án như sau:Một thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội trưởng đóng tại nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một cái, Đại đội trưởng chết ngay.
Phiên tòa mở ra với ý định xử thật nghiêm tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy tín cho bộ đội. Chủ tọa là Luật sư Lê Văn Chất. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ định bào chữa. Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình.

Diễn biến phiên tòa đúng như chủ định: Anh nông dân chịu án tử hình và được phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh tòa, nhìn Luật sư, ngập ngừng nói: “Xin phép được ôm hôn bà Chánh tòa một lần trước khi chết”. Bị bất ngờ, Chánh tòa không kịp trấn tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám hỗn láo, nói liều.

Ls Nguyễn Mạnh Tường nói: “Thưa ông Chánh tòa, ông là người có học thức, suy nghĩ chín chắn, mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết, còn nổi giận ghê gớm như thế. Phương chi, anh nông dân nghèo ít học kia, trông thấy người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành động thiếu suy nghĩ là điều có thể hiểu được”.

Kết quả cuối cùng, anh nông dân được giảm án, thực chất là tha bổng vì hồi ấy Thái Bình đâu có trại giam. Luật sư Lê Văn Chất, có người vợ trẻ, đẹp và ông này rất ghen. Biết thóp này Ls Tường chỉ dùng một mẹo nhỏ nhưng bị cáo đã được cứu mạng.

Dân gian gọi vụ án đó là vụ “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.

Hôm nay Ngày Luật sư Việt Nam, ôn lại chuyện này để chúc mừng các Luật sư, mong các Luật sư có thêm nhiều “nụ hôn” như thế nữa để bảo vệ công lý, mang lại bình yên cho cuộc sống bộn bề hôm nay.

Nguyễn Văn Đài

So sánh số tiền bồi thường giữa BP và Formosa

So sánh số tiền bồi thường giữa BP và Formosa

 Ls Nguyễn Văn Thân

Vào trung tuần tháng 7 vừa qua, công ty BP đã đưa ra con số sau cùng mà họ phải chi trả cho vụ tràn dầu trong vùng vịnh Mexico vào năm 2010 là 61,6 tỷ Mỹ kim. Con số này có thể chia ra thành ba phần. Thứ nhất là tiền phạt hình sự trả cho Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ tổng cộng lên tới 4,5 tỷ Mỹ kim. Thứ hai là tiền bồi thường thiệt hại kinh tế và phục hồi môi trường cùng với hình phạt dân sự dưới Đạo luật Clean Water Act trả cho chính quyền liên bang Hoa Kỳ, 5 tiểu bang trong vùng vịnh Mexico và các chính quyền địa phương tổng cộng lên tới 20,8 tỷ Mỹ kim. Khoảng 36 tỷ Mỹ kim còn lại là phí tổn bồi thường cho các cá nhân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư bị thiệt hại từ thảm họa tràn dầu. Có nghĩa là phải mất trên 6 năm thì BP mới có thể ấn định được mức độ thiệt hại và số tiền bồi thường cho nhà nước, cá nhân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư với con số kỷ lục như vậy. BP buộc phải bán tài sản trị giá 45 tỷ để trả tiền phạt và tiền bồi thường.

Quỹ bồi thường

Vào ngày 20/4/2010, giàn khoan Deepwater Horizon của công ty BP hoạt động trong vịnh Mexico bị nổ làm cho 11 nhân viên bị chết. Chính phủ Hoa Kỳ ước lượng là số dầu đổ ra biển lên tới 4,9 triệu thùng trong 87 ngày tạo ra một thảm họa môi trường khủng khiếp ảnh hưởng đến đời sống và kinh tế của hàng triệu cư dân trong 5 tiểu bang vùng vịnh Mexico gồm có Texas, Louisiana, Mississippi, Alabama và Florida.

Vào ngày 16/6/2016, Tổng Thống Obama triệu tập Chủ tịch và các thành viên lãnh đạo BP tới Nhà Trắng. Sau một phiên họp kéo dài hơn 4 tiếng đồng hồ, BP tuyên bố là sẽ tiến hành bỏ 20 tỷ Mỹ kim vào quỹ bồi thường cho cá nhân và doanh nghiệp bị thiệt hại. Obama nhấn mạnh 20 tỷ không phải là con số giới hạn trách nhiệm của BP. Mục đích của quỹ bồi thường là để BP lập tức dành riêng một số tiền thể hiện trách nhiệm và giúp cư dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng có thể xin bồi thường khẩn cấp. Số tiền này sẽ được trao cho một nhân viên độc lập là ông Kenneth Feinberg để điều hành. Feinberg là người đã từng điều hành quỹ bồi thường cho nạn nhân của vụ khủng bố 9/11 tại New York. Lãnh đạo BP cũng chính thức gửi lời xin lỗi đến chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ.

Quỹ bồi thường bắt đầu hoạt động vào ngày 23/8/2010. Chỉ trong tuần lễ đầu tiên thì đã có tới 19.000 đơn nộp xin bồi thường. Tới tháng 7 năm 2011 thì quỹ đã trả 4,7 tỷ Mỹ kim cho hơn 198.000 nạn nhân. Feinberg cho biết là nếu có đầy đủ chứng từ, cư dân bị thiệt hại sẽ nhận tiền bồi thường trong vòng 48 tiếng đồng hồ và doanh nghiệp thì trong vòng một tuần. Những người khác nếu không muốn nộp đơn xin bồi thường với Quỹ thì vẫn có quyền tiến kiện riêng hoặc gia nhập vào các đơn kiện tập thể.

Vào ngày 8/3/2012, BP và một đội ngũ luật sư của các nguyên đơn trong một vụ kiện tập thể đồng ý tiến trình thoả thuận bồi thường dưới sự giám sát của tòa và thủ tục này chấm dứt quyền điều hành của ông Feinberg. Tính tới ngày 30/6/2013, tổng cộng số tiền trả cho nạn nhân từ quỹ bồi thường đã lên tới 19,7 tỷ. Sau khi trả hết 300 triệu còn lại, BP phải bồi thường trực tiếp cho nạn nhân từ thu nhập của họ. Ngoài quỹ bồi thường 20 tỷ, BP cũng ước lượng là phải dành thêm 15 tỷ để bồi thường cho cư dân và doanh nghiệp bị thiệt hại.

Phạt hình sự

Vào tháng 12 năm 2010, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ tiến hành truy tố hình sự đối với BP vài đối tác liên hệ là Transocean và Halliburton về cái chết của 11 nhân viên. Ngoài ra, BP cũng bị truy tố là cố tình gian lận khi cho biết số dầu đổ ra biển rất thấp so với thực tế. Tới tháng 11 năm 2012 thì BP nhận tội ngộ sát và bị phạt 4 tỷ Mỹ kim cho Bộ Tư Pháp và 525 triệu trả cho Ủy Hội Chứng Khoán (Securities and Exchange Commission). Ngoài ra, BP phải bị các cơ quan chính quyền giám sát thường xuyên trong 4 năm cũng như tạm thời không được tham gia đấu thầu các dự án của chính quyền.

Về trách nhiệm cá nhân, Robert Kaluza và Donald Vidrine là hai nhân viên cao cấp có trách nhiệm quản lý giàn khoan Deepwater Horison cũng bị truy tố về tội ngộ sát. Hình phạt tối đa là 10 năm tù cho mỗi tội. Một nhân viên khác là David Rainey cũng bị tố về tội khai gian với nhà chức trách. BP thú nhận là Rainey cố tình đánh tráo số liệu để BP tuyên bố trước công chúng là chỉ có khoảng 5.000 thùng dầu bị đổ ra biển mỗi ngày. Trong khi đó con số thật sự lên tới 60.000 mỗi ngày. Nếu bị buộc tội thì Rainey có thể bị tuyên án tù tới 5 năm.

Bồi thường cho chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương

Vào tháng 10 năm 2015, sau một tiến trình thương lượng kéo dài hết mấy năm thì BP đồng ý bồi thường tổng cộng 20,8 tỷ cho chính quyền liên bang, năm tiểu bang trong vịnh Mexico và hơn 400 chính quyền địa phương bị thiệt hại về sự tràn dầu. Trong số này gồm có 8,1 tỷ bồi thường cho thiệt hại môi trường và tài nguyên thiên nhiên, 5,9 tỷ cho thiệt hại về kinh tế của các tiểu bang và địa phương, 5,5 tỷ tiền phạt dân sự dưới Đạo Luật Nước Sạch (Clean Water Act), 600 triệu để hoàn trả chi phí dọn dẹp và 700 triệu cho những hậu quả chưa lường được.

Số tiền bồi thường 20,8 tỷ này đã được Thẩm Phán Carl Barbier của Tòa An Liên Bang chính thức phê chuẩn vào ngày 4/4/2016. Đây là số tiền bồi thường lớn nhất trong lịch sử. Nhưng cũng nhờ vào quyết định này của tòa mà BP có thể nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Cái giá phải trả là 61,6 tỷ để đóng lại một chương sử đau thương của một đại công ty được thành lập từ năm 1909.

Tóm lại sau sáu năm từ khi thảm hoạ tràn dầu thì tổng cộng có tới 384.000 đơn kiện của cá nhân và doanh nghiệp mà đại đa số đã được giải quyết bồi thường xong. Chỉ còn lại một số là vẫn còn tranh cãi về mức độ thiệt hại nhưng BP dự đoán là những vụ kiện cuối này sẽ không ảnh hưởng đáng kể tới tiến trình phục hồi uy tín và thế đứng của công ty.

BP và Formosa: 61,6 tỷ và 500 triệu

Vào ngày 30/6/2016, chính phủ Việt Nam tổ chức họp báo công bố nguyên cá chết tại bốn tỉnh miền Trung là do Formosa xả thải gây ra. Chính phủ cũng cho biết là Formosa đã cam kết năm điểm trong đó Formosa hứa là sẽ “Bồi thường thiệt hại cho dân và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, bồi thường phục hồi môi trường biển với tổng số tiền là 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.” Điều 5 của bản cam kết cũng có nhắc tới là Formosa sẽ “Thực hiện đúng cam kết nêu trên, không tái diễn vi phạm, nếu vi phạm sẽ chịu chế tài theo quy định pháp luật Việt Nam.”

Bản cam kết này đưa ra nhiều câu hỏi. Thứ nhất, như vậy có nghĩa là Formosa chỉ mất 500 triệu thôi sao? Trong số 500 triệu này thì phần nào là để bồi thường phục hồi môi trường và bao nhiêu là bồi thường thiệt hại cho dân? Như vậy là Formosa không bị truy tố về vi phạm hình sự và dân sự? Tại sao chỉ trong một khoảng thời gian ngắn như vậy mà chính phủ lại có thể định đoạt mức độ thiệt hại “chính xác”’ như vậy? Tại sao chính phủ không công bố nguyên nhân thủ phạm là Formosa rồi từ từ tính toán thiệt hại cũng như để người dân và doanh nghiệp nộp đơn xin bồi thường theo đúng mức độ thiệt hại của từng trường hợp một? Theo Điều 5 của cam kết thì có phải chính phủ đã tước quyền kiện đòi bồi thường dưới Luật Dân Sự đối với ngư dân và doanh nghiệp bị thiệt hại hay không? Tại sao một quyết định nghiêm trọng và bất hợp pháp như vậy lại được ban hành một cách vội vã và không minh bạch?

Đáng lẽ ra tương tự như vụ tràn dầu do BP gây ra, chính phủ Việt Nam có thể truy tố  hình sự và dân sự vì Formosa vi phạm luật môi trường và bắt Formosa trả tiền phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại kinh tế. Nhưng chính phủ không thể tùy tiện ấn định số tiền bồi thường thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp. Chỉ có chính họ mới có quyền thương lượng với Formosa và thỏa thuận số tiền bồi thường tho đúng mức độ thiệt hại từng trường hợp một.

Ngư dân và doanh nghiệp của bốn tỉnh miền Trung có hai sự lựa chọn. Một là vượt qua sợ hãi và đứng lên kiện Formosa đòi bồi thường thích đáng. Còn hai là chấp nhận cho chính phủ và Đảng Cộng Sản Việt Nam bán đứng cũng như chấp nhận cho Đảng cắt xẻo khúc ruột miền Trung ra từng mảnh vì sau 70 năm khi dự án Formosa kết thúc thì miền Trung chỉ còn là một bãi rác khổng lồ. Rồi đây sẽ có nhiều ngư dân ở miền Trung có thể phải bỏ nghề đánh cá đồng nghĩa với việc Việt Nam không xác quyết hoặc hành xử chủ quyền hữu hiệu tại Biển Đông. Như vậy thì Trung Quốc sẽ bất chiến tự nhiên thành.

Và Đảng sẽ hát bài “Thương về miền Trung” cho những người Việt Nam vẫn còn u mê mơ tưởng về thiên đường Cộng Sản.

N. V. T.

‘Giật mình’ với những con số tham nhũng ở Việt Nam

‘Giật mình’ với những con số tham nhũng ở Việt Nam

Nguoi-viet.com

Bà Louise Chamberlain, Giám đốc UNDP Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc. (Hình: báo Người Lao Ðộng)

Bà Louise Chamberlain, Giám đốc UNDP Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc. (Hình: báo Người Lao Ðộng)

SÀI GÒN (NV) – “Người dân phải ‘lót tay’ gần 14.5 triệu đồng/lượt để có giấy tờ nhà đất” và nhiều lĩnh vực khác nữa. Ðó là số liệu khảo sát được từ Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc vừa công bố.

Theo báo Người Lao Ðộng, trong cuộc làm việc với ủy ban thành phố Sài Gòn, do ông Trần Vĩnh Tuyến, phó chủ tịch ủy ban chủ trì vào ngày 10 tháng 8, Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã công bố một nghiên cứu về “Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam – Ðo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân,” được thực hiện từ 2009-2015, với gần 75,000 người thuộc 63 tỉnh, thành của Việt Nam có độ tuổi trên 18, được chọn khảo sát ngẫu nhiên.

Trong đó, Hà Nội và Sài Gòn là hai nơi có số lượng người tham gia khảo sát đông gấp ba lần các tỉnh thành khác, chiếm khoảng 10% số dân có hộ khẩu thường trú của mỗi địa phương.

Kết quả khảo sát cho thấy, có hơn 28% người dân Sài Gòn tham gia khảo sát cho hay, họ phải trả chi phí “lót tay” để làm xong thủ tục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giá trị tiền “lót tay” gần 14.5 triệu đồng/lượt.

Ðối với chỉ số nội dung “Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công, giá trị chi phí bồi dưỡng giáo viên/ban giám hiệu trường tiểu học công lập (chi phí ngoài quy định) tại Sài Gòn năm 2015 là gần 853,000 đồng/học kỳ, tăng so với năm 2011 chỉ ở mức 510,000 đồng/lượt/học kỳ. Mức bồi dưỡng này ở Hà Nội thấp hơn Sài Gòn với khoảng 630,000 đồng/học kỳ năm 2015.”

Cũng theo khảo sát của UNDP, năm 2015 có hơn 30% người dân được hỏi cho biết, đã trả chi phí không chính thức (ngoài quy định) khoảng 700,000 đồng/lượt cho cán bộ y tế ở các bệnh viện để được chăm sóc tốt hơn.

Một kết quả đáng quan tâm khác được UNDP đưa ra là “quyết tâm chống tham nhũng của cả chính quyền và người dân có xu hướng suy giảm thời gian qua.”

Năm 2015, có 37% số người được hỏi cho rằng “lãnh đạo cấp tỉnh đã nghiêm túc trong giải quyết vụ việc tham nhũng ở địa phương, thấp hơn so với năm năm trước. Trong khi đó, mức độ chịu đựng tham nhũng của người dân lại có xu hướng gia tăng khi năm 2015, chỉ có gần 3% người bị vòi vĩnh, đưa hối lộ cho biết sẽ tố giác hành vi đòi hối lộ của cán bộ chính quyền, giảm 7.5% so với năm 2011.”

Ngoài ra, theo đánh giá của người dân, việc tuyển dụng công chức, viên chức phần lớn không dựa trên năng lực thật sự mà dựa trên các quan hệ cá nhân. Trong 5 năm liên tiếp, quan hệ cá nhân được coi là quan trọng hoặc rất quan trọng. Có hơn 50% người được khảo sát cho hay, có tình trạng phải đưa tiền “lót tay” để xin được việc trong cơ quan nhà nước.

Cũng theo tin Người Lao Ðộng, tỉ lệ người dân được khảo sát cho rằng, cán bộ dùng tiền công quỹ cho mục đích riêng cũng gia tăng. Nếu như năm 2011 chỉ có hơn 21% đồng ý có chuyện này thì năm 2015 tỉ lệ đã tăng lên hơn 25%. (Tr.N)

Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

 Hợp tác hóa và nạn đói dưới thời Stalin

Nghiên cứu Quốc tế

Biên dịch: Ngô Việt Nguyên

Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Bài báo

Tám mươi năm trước, vào mùa thu năm 1930, Joseph Stalin đã áp đặt một chính sách làm chuyển dòng chảy lịch sử và đã gây nên cái chết của hàng chục triệu người trong nhiều thập niên và ở khắp thế giới. Trong một chiến dịch “Hợp tác hóa” quy mô lớn và đầy bạo lực, ông đã đặt quyền kiểm soát nền nông nghiệp Liên Xô vào tay nhà nước.

Stalin theo đuổi chính sách hợp tác hóa mặc cho những đợt chống đối quy mô lớn sau nỗ lực áp dụng chính sách lần đầu tiên của nhà chức trách Liên Xô vào mùa xuân trước đó. Giới lãnh đạo Liên Xô đã phụ thuộc vào những đợt bắn giết và trục xuất tới các trại gulag (lao động khổ sai) nhằm chặn trước những sự chống đối. Nhưng người dân Liên Xô vẫn chống cự với số lượng lớn; những người du mục Kazakh trốn qua Trung Quốc, còn những người nông dân Ukraine thì trốn qua Ba Lan.

Vào mùa thu, những đợt bắn giết và trục xuất vẫn tiếp diễn, cùng với những cưỡng bức về kinh tế. Nông dân bị đánh thuế cho đến khi họ tham gia hợp tác xã, và các nông trường hợp tác được quyền tịch thu hạt giống cho mùa vụ tiếp theo từ tay của những người nông dân độc lập.

Khi nền nông nghiệp Liên Xô đã hoàn toàn bị hợp tác hóa thì nạn đói cũng bắt đầu. Bằng cách tước đoạt ruộng đất của nông dân và biến họ trên thực tế trở thành nhân viên nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp cho phép Moskva quản lý cả con người lẫn những sản phẩm của họ.

Nhưng sự kiểm soát không giúp tạo nên hiệu quả. Việc biến những người du mục Trung Á thành những người nông dân làm việc hiệu quả chỉ trong thời gian một mùa vụ là điều bất khả thi. Bắt đầu từ năm 1930, khoảng 1,3 triệu người ở Kazakhstan đã chết đói khi lượng thu hoạch ít ỏi của họ bị trưng thu theo chỉ định của trung ương.

Ukraine bị mất mùa vào năm 1931. Có nhiều lý do dẫn đến mất mùa, bao gồm thời tiết xấu, côn trùng gây hại, thiếu sức kéo động vật sau khi những người nông dân giết hết gia súc để tránh bị mất vào tay hợp tác xã, thiếu máy cày, những đợt bắn giết và trục xuất những nông dân giỏi nhất, và những gián đoạn về cày cấy và thu hoạch bởi quá trình hợp tác hóa.

“Làm sao mà chúng tôi có thể xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,” một người nông dân Ukraine hỏi, “nếu  tất cả chúng ta đều  sẽ chết đói?” Bây giờ chúng ta biết, sau 20 năm tìm hiểu các tài liệu của Liên Xô, rằng vào năm 1932 Stalin đã cố tình biến đổi nạn đói do hợp tác xã thành một chiến dịch cố tình bỏ đói mang động cơ chính trị. Stalin mô tả sự mất mùa như một dấu hiệu phản kháng của người Ukraine, và điều này yêu cầu Liên Xô phải mạnh tay chứ không được nhân nhượng.

Khi nạn đói bắt đầu lan rộng vào mùa hè năm đó, Stalin giải thích một cách rõ ràng hơn, rằng nạn đói là do phá hoại, các nhà hoạt động cộng sản địa phương là những kẻ phá hoại, được bảo vệ bởi giới chức cấp cao hơn ở khu vực, và tất cả đều  ăn tiền của những điệp viên nước ngoài. Vào mùa thu năm 1932, điện Kremlin ra một loạt những nghị định với hậu quả đảm bảo khiến nhiều người chết. Một trong những nghị định trên cắt đứt toàn bộ hàng tiếp tế cho những cộng đồng không đạt được mức thu hoạch ngũ cốc tối thiểu.

Cùng lúc đó, những người cộng sản chiếm đoạt tất cả những thực phẩm họ có thể tìm được, “đến từng hạt lúa nhỏ bé cuối cùng,” và vào đầu năm 1933 biên giới Ukraine bị đóng lại, để ngăn cản những người đang dần chết đói tìm kiếm sự trợ giúp. Những nông dân chết dần chết mòn phải thu hoạch vụ xuân dưới họng súng của các tháp canh.

Hơn 5 triệu người chết đói hoặc chết vì những căn bệnh có liên quan đến đói khát ở Liên Xô vào đầu thập niên 1930, trong đó 3,3 triệu người chết  ở Ukraine, và trong con số đó 3 triệu người có thể đã sống sót nếu Stalin đơn thuần chỉ tạm ngưng thu mua và xuất khẩu trong vài tháng và cho phép người dân được tiếp cận các nguồn cung cấp lúa mì.

Những sự kiện này vẫn là trọng tâm của chính trị Đông Âu cho đến ngày hôm nay. Mỗi tháng 11, người Ukraine tưởng niệm những nạn nhân của năm 1933. Nhưng Viktor Yanukovych, tổng thống đương nhiệm (vào thời điểm của bài viết – ND), không công nhận sự thống khổ đặc biệt của người Ukraine, như một cách đồng ý theo quan điểm lịch sử của Nga, vốn tìm cách để làm lu mờ những tác hại cụ thể của chính sách hợp tác hóa thành một thảm kịch mơ hồ đến mức không có nạn nhân và những thủ phạm cụ thể.

Rafal Lemkin, luật sư người Ba Lan gốc Do Thái, người đã lập nên khái niệm “genocide” (diệt chủng) và nghĩ ra thuật ngữ này, sẽ phản đối điều đó: ông gọi nạn đói ở Ukraine là một ví dụ điển hình về diệt chủng dưới tay Liên Xô. Như Lemkin đã biết,  khủng bố sẽ đi theo nạn đói: những người sống sót qua nạn đói và trại cải tạo trở thành những nạn nhân tiếp theo của Stalin. Cuộc đại thanh trừng vào thời kỳ 1937-1938 bắt đầu bằng một chiến dịch bắn giết nhắm phần lớn vào nông dân, cướp đi mạng sống của 386.798 người, đa phần ở Ukraine.

Hợp tác hóa có tác động lâu dài. Khi Đức Quốc xã xâm lược phía Tây Liên Xô, người Đức giữ nguyên những nông trường hợp tác xã, vì họ coi nó như là một công cụ cho phép họ điều động thực phẩm Ukraine cho những mục đích riêng của họ, và bỏ đói những ai họ muốn bỏ đói.

Sau khi Mao khởi động cuộc cách mạng của ông vào năm 1948, những người cộng sản Trung Quốc  bắt chước hình mẫu phát triển của Stalin. Điều  này có nghĩa là 30 triệu người Trung Quốc đã chết đói trong giai đoạn 1958-1961, trong một nạn đói rất giống như ở Liên Xô. Hợp tác hóa kiểu Mao cũng được tiếp theo bằng những đợt bắn giết quy mô lớn.

Thậm chí bây giờ, hợp tác xã nông nghiệp là nền tảng cho quyền lực độc đoán ở Triều Tiên, nơi mà hàng trăm ngàn người chết đói vào thập niên 1990. Và ở Belarus, nền độc tài duy nhất còn sót lại ở châu Âu, hợp tác xã nông nghiệp không bao giờ chấm dứt, và một cựu giám đốc hợp tác xã nông nghiệp, Aleksandr Lukashenko, đang đứng đầu đất nước.

Lukashenko đang tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ tư liên tiếp vào tháng 12/2010. Bằng cách kiểm soát đất đai, ông ta cũng kiểm soát phiếu bầu. Tám mươi năm sau chiến dịch hợp tác hóa, thế giới của Stalin vẫn còn với chúng ta.

Timothy Snyder là giáo sư lịch sử tại Đại học Yale. Cuốn sách mới nhất của ông là Bloodlands: Europe Between Hitler and Stalin.

Nguồn: Timothy Snyder, “Stalin, our contemporary”, Project Syndicate, 16/11/2010

GIÁM ĐỊNH TÂM THẦN CHO CÁC QUAN ĐÀ NẴNG: SAO KHÔNG?

GIÁM ĐỊNH TÂM THẦN CHO CÁC QUAN ĐÀ NẴNG: SAO KHÔNG?

FB Trần Song Hào

12-8-2016

Trung tâm hành chính Đà Nẵng, tòa nhà "quả bắp" bên trái. Nguồn: báo Đà Nẵng.

Chuyện TP Đà Nẵng xây “Ngọn Hải đăng” làm “biểu tượng Đà Nẵng” phối-kết-giao-hợp với công năng Trung tâm Hành chánh đã bộc lộ cái sự “quyết tâm chính trị” hơn là vấn đề xem xét khoa học về môi trường và sức khoẻ.

Về hình dáng không gian, khi khánh thành cách nay 3 năm, dân tình có góc nhìn khác quan và đã gọi “biểu tượng Đà Nẵng” là QUẢ BẮP.

Tốn 2000 (hai ngàn) tỷ Cụ để xây nên một “QUẢ BẮP” bắp bằng sắt thép, bê tông, bao bọc bỡi các lớp vỏ bắp bằng kính chịu lực,… thì không nóng không bí mới lạ. Đó là một thiết kế phản khoa học ở xứ nhiệt đới nắng nóng quanh năm như miền Trung từ Nam đèo Hải Vân.

Quả Bắp như cái lồng ấp bằng kính hấp nhiệt và tia tử ngoại. Thế mà đưa nhau vô đó ngồi thì đi ngược với khoa học môi sinh và xu hướng xanh, bền vững thế giới đang hướng đến…

Vấn đề là khi phê duyệt thiết kế và xây dựng QUẢ BẮP, các quan Đà Nẵng có hỏi dân đâu? Cái “quốc hội địa phương” cũng chẳng có chất vấn ý kiến gì. Giờ lại bàn lui, đòi di dời và “thăm dò ý kiến dân” thì lạ quá. Chẳng khác chi lãnh đạo và “quốc hội” Đà Nẵng muốn đá trách nhiệm về cho dân?

Mình nghĩ, Đà Nẵng nên theo gợi ý của Facebook. Làm cuộc vận động nhân dân ký tên giám định tâm thần lãnh đạo và “quốc hội” Đà Nẵng trong việc phê duyệt thiết kế, xây dựng và bàn chuyện…”di dời biểu tượng…. QUẢ BẮP !

P/S: Facebook xếp bàn chuyện di dời quả bắp của HĐND Đà Nẵng cùng loại với “giám định tâm thần ông Trump Donald” !

______

FB Nhân Thế Hoàng

11-8-2016

Quan thiếu ôxy, nóng bức dẫn đến tình trạng mất tập trung khi làm việc, thế là vất mịa nó cái toà nhà hành chính hình quả bắp trị giá 2000 tỷ ông cụ từ tiền thuế của dân, xây cái khác tốt hơn.

Dân quằn quại vì cá chết, bỏ quê sang Lào, sang Cam mần thuê, bỏ xứ sang đất khách quê người “đánh trống, thổi kèn”, kệ mịa tụi bây, nhớ gửi đô về xây dựng đất nước là được.

2000 tỷ tiền thuế của dân còng lưng mà nó làm như của ông cố nội nó để lại, muốn vứt là vứt cái rẹc.

Nói về độ tàn phá, bom nguyên tử phải gọi mấy ông nội cộng sản bằng cụ.

_____

Tuổi Trẻ

Bất ngờ việc Đà Nẵng bàn chuyện dời trung tâm hành chính

Việt Hùng

11-8-2016

Tại kỳ họp thứ 2 HĐND TP Đà Nẵng sáng 11-8, chuyện di dời tòa nhà trung tâm hành chính thành phố đã được đại biểu Trần Văn Trường chất vấn lãnh đạo UBND TP khiến nhiều người bất ngờ.

Đại biểu Trần Văn Trường (huyện Hòa Vang) chất vấn vấn đề tòa nhà trung tâm hành chính thiếu oxy ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ, công chức làm việc trong tòa nhà. Vậy thành phố có ý định sử dụng trung tâm hành chính này nữa hay không và đã có tính toán di chuyển chưa, chuyển đến đâu và khi nào thì chuyển? Ngoài ra, trụ sở trung tâm hành chính hiện tại sẽ được sử dụng làm việc gì?

Ông Đặng Việt Dũng, phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho hay trung tâm hành chính không chỉ là nơi làm việc tập trung của các cơ quan hành chính mà còn là biểu tượng của thành phố. Đây là vấn đề hết sức lớn nên việc di dời sẽ được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân thành phố.

Ông Dũng nói, trung tâm hành chính thành phố mới được khánh thành được 3 năm, có nhiều ưu điểm như thúc đẩy việc cải cách thủ tục hành chính nhanh hơn, tạo nên chỉ số PCI cao trong nhiều năm, thể hiện được năng lực quản lý, lãnh đạo, điều hành của thành phố và các cơ quan hành chính.

Ông Dũng cũng thừa nhận trung tâm hành chính còn có những tồn tại như không khí chưa sạch, quá nóng. UBND thành phố đã chỉ đạo ban quản lý tòa nhà phải khắc phục cho được các tồn tại này, như bơm khí tươi vào, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho anh em làm việc.

Ông Dũng cũng xác nhận lãnh đạo thành phố đang tính đến phương án xây dựng khu hành chính để thay thế trung tâm hành chính hiện nay và tập trung thêm các đơn vị khác.

Thành ủy đã giao các ngành chức năng nghiên cứu thực hiện và sau này sẽ có sự lựa chọn, tính toán sau khi các ngành đề xuất, thành phố sẽ lấy ý kiến nhân dân.

“Nếu xây dựng được khu hành chính thì đây cũng là biểu tượng của thành phố và cũng thuận lợi cho việc di chuyển trung tâm hành chính hiện nay” – ông Dũng nói.

Song, đại biểu Trường chưa hài lòng, đứng lên hỏi tiếp: “Trung tâm hành chính này đã tính hết chi phí điện, nước chưa và có hiệu quả không. Thành phố nói đây là vấn đề lớn, lấy ý kiến nhân dân, vậy trung tâm hành chính trước đây có lấy ý kiến nhân dân đâu mà vẫn làm”.

Ông Dũng giải trình thêm: “Trung tâm hành chính để phục vụ dân nên cần lấy ý kiến nhân dân để xây dựng, chứ không phải trước đây mình không lấy thì bây giờ cũng không lấy”.

Ông Nguyễn Xuân Anh, bí thư Thành ủy, chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng tiếp lời, trong chương trình hành động của thành ủy có đặt ra vấn đề di chuyển trung tâm hành chính và đã giao cho các sở chức năng xem xét, đánh giá. Sau đó tổng hợp các ý kiến có thể di dời, có thể không di dời.

Nhưng triển khai phải có lựa chọn kĩ, dời nơi cũ sang chỗ mới thì như thế nào, tốt hơn mới làm, phải làm kỹ.

“Đây là việc rất quan trọng nên phải lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, xin ý kiến HĐND” – ông Anh nói.

Trung tâm hành chính TP Đà Nẵng có hai tầng hầm, 34 tầng nổi, cao 166,8m theo thiết kế hết sức đặc biệt, mang hình dáng của một ngọn hải đăng, đế tòa nhà là một con thuyền căng gió vươn khơi với tổng mức đầu tư gần 2.000 tỉ đồng.

Tòa nhà mới đưa vào hoạt động tháng 9-2014 với khoảng 1.200 cán bộ, công chức TP Đà Nẵng làm việc.

Truyền thông Xã hội và Formosa

Truyền thông Xã hội và Formosa

Mặc Lâm, RFA

nguyenlanthang-622.jpg

Blogger Nguyễn Lân Thắng

Photo: RFA

Vai trò của Truyền thông Xã hội trong vụ Formosa

7:03/07:05

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Truyền thông mạng xã hội đang chứng tỏ sức mạnh của mình qua việc chia sẻ tin tức khiến người dân ngày càng gần gũi và biết rõ hơn những việc đang xảy ra chung quanh, không còn bị bức tường mù thông tin bao vây như trước.

Một trong những người cổ súy cho truyền thông mạng là blogger Nguyễn Lân Thắng vẫn miệt mài sử dụng phương tiện video clip để chuyển tài sự thật những điều mà anh quan tâm tời cộng đồng mạng, đặc biệt về vấn đề Formosa. Mặc Lâm có cuộc trao đổi về chủ đề này sau đây.

Phản ảnh sự thật

Mặc Lâm: Chào anh Nguyễn Lân Thắng, anh đã có mặt tại Quảng Bình để theo dõi việc Giáo phận Vinh cầu nguyện cho môi trường, xin cho biết anh đã chứng kiến điều gì thưa anh?

Blogger Nguyễn Lân Thắng: Giáo phận Vinh thì địa bàn trải dài từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, những ngày đó tôi có mặt ở Quảng Bình và chứng kiến trực tiếp những hoạt động của truyền thông, cầu nguyện của tất cả giáo phận. Tôi đã tham gia một lễ thắp nến và cầu nguyện của giáo xứ Cồn Sẻ. Tôi đã được chứng kiến sự biểu thị mối quan tâm của bà con giáo dân Cồn Sẻ với vấn đề môi trường.

Truyền thông xã hội nó là công cụ cực kỳ mạnh mẽ để xóa bỏ độc tài mang đến tin tức, thông tin cho người dân để họ thức tỉnh.

Blogger Nguyễn Lân Thắng

 

Mặc Lâm: Anh là người gần như đầu tiên ra tận Vũng Áng quay những clip video bên trong công ty Formosa cũng như cảnh sinh hoạt của người dân tại vùng biển này. Xin anh cho biết việc làm khá táo bạo này bắt nguồn từ thúc đẩy nào thưa anh?

Blogger Nguyễn Lân Thắng: Tôi là người rất cổ súy sự phát triển truyền thông xã hội tại Việt Nam. Truyền thông xã hội nó là công cụ cực kỳ mạnh mẽ để xóa bỏ độc tài mang đến tin tức, thông tin cho người dân để họ thức tỉnh. Tôi luôn quan niệm làm cách gì đó mang sự thật lại cho mọi người và khi vụ Formosa xảy ra và có dấu hiệu bưng bít từ phía nhà cầm quyền thì tôi nghĩ là bằng cách nào đó thì mình phải vào trong đó để trực tiếp ghi lại những sự việc có thể phơi bày một phần nào đó sự thật bên trong Formosa.

Quan trọng hơn là khi tôi thực hiện những việc đó thì tôi mong muốn những việc mình làm sẽ có nhiều người khác làm theo. Bởi vì tôi chỉ là một cá nhân rất đơn lẻ cho nên không thể nào bao quát hết tất cả mọi vấn đề và tôi mong ngày càng có nhiều người hơn nữa hoạt động trong lĩnh vực truyền thông trên mạng xã hội, mang lại thông tin cho tất cả mọi người cùng biết sự thật.

Đối diện nhiều khó khăn

Mặc Lâm: Và mới đây sau khi Vũng Áng bị phanh phui anh lại có những thước phim mới nhất bên trong hàng rào của nó. Đích thân anh vào hay nhờ một ai khác?

Blogger Nguyễn Lân Thắng: Tôi xin bật mí là cho đến bây giờ tôi không phải tài thánh gì để lúc nào cũng có thể lọt qua sự kiểm soát của lực lượng an ninh. Ờ Formosa nó có một lực lượng an ninh khổng lồ lúc nào cũng có hàng chục người hoạt động thường trực ngoài ra còn có một lực lượng rất đông ở trong các cổng khác nữa. Người ra vào phải có thẻ từ kiểm soát tại các camera rất gắt gao.

Những thước phim mới nhất mà tôi có được không phải do tôi quay nhưng bên trong Formosa thì các bạn biết là có rất nhiều người Việt Nam làm việc và hoàn toàn co khả năng quay clip video gửi cho tôi. Tôi rất vui bởi vì đấy chính là những thành quả mà bấy lâu nay tôi theo đuổi, đấy là truyền thông xã hội. Họ đã góp phần với tôi đưa những thông tin sự thật bên trong Formosa mà tôi tin rằng không có cách nào an ninh Việt Nam có thể bưng bít, có thể ngăn chặn thông tin từ Formosa ra.

Truyền thông xã hội, rồi những thông tin về hậu quả tai hại do Formosa gây ra cho môi trường Việt Nam đã dần dần thay đổi tư duy nhiều người.
Blogger Nguyễn Lân Thắng

 

Mặc Lâm: Anh có sự quan hệ khá thân với người làm việc cho Formosa, anh có được họ cho biết tình trạng tâm lý của nhân công người Việt hiện nay ra sao hay không?

Blogger Nguyễn Lân Thắng: Thực sự thì những người làm việc bên trong Formosa rất khác nhau. Họ là công nhân, là nhà thầu xây dựng hay là lắp đặt thiết bị là người Việt. Họ là những nhà thầu phụ tham gia cùng với các nhà thầu chính. Ban đầu họ đến Formosa thì thật sự vì vấn đề cơm áo gạo tiền thôi họ không nhận thức gì về công việc họ đang làm. Tuy nhiên lần lần thì truyền thông xã hội, rồi những thông tin về hậu quả tai hại do Formosa gây ra cho môi trường Việt Nam đã dần dần thay đổi tư duy nhiều người.

Chuyện cơm áo gạo tiền thì họ phải cố gắng trong công việc tuy nhiên họ không làm việc một cách toàn tâm toàn ý như trước nữa mà trong nhận thức của họ đã thay đổi. Bằng chứng là họ vẫn làm việc vẫn lãnh lương nhưng vẫn giúp tôi trong việc thu thập tất cả các thông tin bên trong Formosa.

Mặc Lâm: Đó là bên trong Formosa, còn bên ngoài thì sao? Người dân các tỉnh mà anh có dịp tiếp xúc hiện nay họ sống ra sao và tâm lý của họ đối với Formosa như thế nào?

Blogger Nguyễn Lân Thắng: Phải nói là dư luận ở miền Trung người dân thực sự họ rất phẫn uất nhưng họ cũng chưa biết cách nào để thay đổi cho cuộc sống của mình. Cái mong muốn chung của người dân là họ không muốn Formosa hoạt động nữa bởi vì chắc chắn là chính họ phải gánh chịu hậu quả và họ cũng hiều rõ là rất lâu dài. Họ mong muốn các hoạt động của những nhóm xã hội dân sự cũng như người làm truyền thông mạng xã hội làm cách nào cập nhật nhanh chóng mọi mặt của biển miền Trung để họ có thể phần nào gây sức ép có thể đóng cửa Formosa và bảo vệ được môi trường Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh!

NHÌN LÊN TRỜI, ĐỂ BIẾT SỐNG CUỘC ĐỜI TRẦN THẾ

NHÌN LÊN TRỜI, ĐỂ BIẾT SỐNG CUỘC ĐỜI TRẦN THẾ

Gm. Gioan B Bùi Tuần

  1. Từ rất nhỏ, tôi đã hay nhìn lên Trời. Mẹ tôi dạy tôi hãy nhìn lên đó. Đức tin của tôi lôi kéo tôi hãy nhìn lên đó.

Nhìn lên Trời, để cầu nguyện với Chúa.

Cho đến hôm nay, việc nhìn lên Trời để cầu nguyện với Chúa, đã trở thành như hơi thở của tôi.

Tôi thở để sống thế nào, thì tôi cầu nguyện với Chúa trên trời cũng được tôi coi là cần thiết để tôi sống tốt đời tôi như thế.

  1. Nhìn lên Trời để cầu nguyện, đó là một chặng đường dài của đời tôi. Trên chặng đường dài đó, tôi đã được giáo dục, được tập luyện, được dạy dỗ, được dắt dìu từng bước nhỏ. Chặng đường nào cũng có dấu  ấn của Chúa Thánh Thần.

Dấu  ấn của Chúa Thánh Thần trong chặng đường hôm nay nơi tôi là: Cùng với Đức Mẹ Maria, mà nhìn lên Trời.

  1. Trong tinh thần hiệp thông, tôi xin được phép chia sẻ đôi chút về con đường tôi đang đi, mà trên đó tôi đang cảm nhận được sâu sắc  sự bình an, vui mừng, hy vọng và hạnh phúc.
  2. Trước hết, tôi nhìn lên Trời cùng với Đức Mẹ Maria.

Cùng với Mẹ, nghĩa là tôi đã không chọn số đông, mà chỉ chọn số ít.  Số ít mà Chúa đã chọn, là Mẹ Maria.

  1. Cùng với Mẹ, để nhìn lên Trời, tôi đang làm gì? thưa tôi ca ngợi chúc tụng Chúa, như Mẹ đã làm qua kinh  “Linh hồn tôi tung hô Chúa” (Lc 1,46-55).
  2. Tôi ca tụng Chúa, vì đời tôi cũng chỉ tóm gọn vào hai chữ “xin vâng”, như Đức Mẹ đã nói xưa (x. Lc 1,38).
  3. Xin vâng cùng với Đức Mẹ, là tôi luôn hết  lòng vâng theo ý Chúa Cha. Luôn theo ý Chúa, đừng bao giờ theo ý tôi (x. Lc 1,38).
  4. Xin vâng cùng với Đức Mẹ là tôi luôn kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Như cành nho với thân cây nho(x. Ga 15,5).
  5. Xin vâng cùng với Đức Mẹ là tôi luôn để Chúa Thánh Thần hướng dẫn.“Thánh Thần xuống ngự trên Bà”(Lc 1,35).
  6. Xin vâng cùng với Đức Mẹ là tôi luôn cùng với Đức Maria đi làm chứng nhân cho Chúa bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào(x. Cv 1,8).
  7. Cùng với Mẹ, tôi làm chứng cho Chúabằng việc rao giảng Lời Chúa, thực thi công bằng bác ái.
  8. Cùng với Mẹ, tôi làm chứng cho Chúa bằng cuộc sống khiêm nhường, khó nghèo, phục vụ.
  9. Thú thức là mấy điều tôi vừa chia sẻ trên đây đều có thể đọc được ở nhiều tài liệu đạo đức. Tôi cũng đã thấy như vậy. Nhưng chỉ khi nhìn lên trời bằng cầu nguyện, tôi mới thực sự gặp được chính Đức Mẹ, để cùng với Đức Mẹ,tôi được Chúa biến đổi tôi nên kẻ xin vâng thực sự.
  10. Tôi vừa được may mắn đọc cuốn sách mới nhất của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Sách xuất bản đầu năm 2016 này. Sách mang tựa đề: “Linh hồn của cầu nguyện”.

Nội dung cuốn sách này dạy tôi rất nhiều về cầu nguyện.

Sùng kính Đức Mẹ, là hãy học với Đức Mẹ, để trở nên người cầu nguyện, và để cộng đoàn đức tin biết cầu nguyện. Đó là ý kiến của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đáng kính của chúng ta gởi cho Hội Thánh.

Ý kiến trên đây của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cho tôi thấy thao thức của Ngài hiện nay chính là sự cần thiết phải biết cầu nguyện.

  1. Cuốn sách 360 trang chữ nhỏ nói về sự cầu nguyện, do Đức Thánh Cha về hưu viết đang chứng tỏ sự xác tín của Ngài về con đường cứu độ rất cần cho thời nay.Con đường đó là cầu  nguyện.

Cầu nguyện là ơn Chúa ban. Nhưng cầu nguyện cũng là việc mỗi người chúng ta cần phải phấn đấu để cộng tác vào ơn Chúa.

  1. Như thế, nhìn lên Trời là việc không đơn giản.

Tôi rất mừng là hiện nay, việc nhìn lên Trời, tuy không đơn giản, nhưng đang được thực hiện nơi rất nhiều  tâm hồn.

Tôi có cảm tưởng họ thuộc về một đoàn chiên, mà Chúa Giêsu đã gọi là “đoàn chiên bé nhỏ” (Lc 12,32).

  1. Đoàn chiên bé nhỏ này không đặt cho mình mục tiêu phải làm sao tăng số người theo đạo Chúa lên cho thực đông, nhưng hay tự hỏi mình xem phải làm gì để mình là thiểu số, mà vẫn làm chứng được cho Chúa bằng sự nghèo khó và khiêm nhường  xin vâng,  như Đức Mẹ. Đó là vấn đề và cũng là cơ may đặt ra cho chính tôi lúc này. Thiết tưởng cũng là vấn  đề và cơ may cho Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay.
  2. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI dạy:

Để cầu nguyện, con người phải biết  hồi tâm, sống  thinh lặng, để lắng nghe Chúa và gẫm suy Lời Chúa,  nhất là phải có một tâm tình mật thiết thường xuyên hướng về Chúa và phó thác mình cho Chúa.

Lời dạy trên đây của Đức Bênêđictô XVI đang giúp tôi rất nhiều, để tôi là kẻ tội lỗi hèn mọn, biết nhìn lên Trời với niềm vui và hy vọng.

  1. Riêng tôi, tôi có cảm tưởng là ở trên trời, Chúa dành cho những người đang sống dưới đất,  mỗi người một cuốn sổ. Trong đó ghi tất cả lịch sử của mỗi người. Từ tư tưởng, lời nói, việc làm, thái độ và những gì là thiếu sót. Chính cuốn sổ đó sẽ phân định số phận mỗi người ở đời sau.

Khi cùng với Đức Mẹ mà nhìn lên Trời, tôi được đọc thoáng qua cuốn  sổ đang viết về tôi, tôi  hết  lòng cảm tạ Chúa, vì tôi thấy tôi là kẻ tội lỗi đang được cùng với Mẹ và nhờ Mẹ mà về với Cha trên trời.

Giờ đây, tôi nhìn lên Trời, chính là để biết  sống tốt  cuộc đời trần  thế của tôi đang càng ngày càng già yếu. Hôm nay của tôi đang bắt  đầu cho cuộc sống  vĩnh cửu đời đời vô cùng vô tận của tôi.

Long Xuyên, ngày 9.8.2016 

Gm. Gioan B Bùi Tuần

From:vongtaysongnguyen

Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’

Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’

1450086990932.jpg

Nữ ca sĩ Thái Thanh.

Courtesy of nhaccuatui.com

Một đêm mùa đông cách đây gần 40 năm, những người từng hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên tại Sài Gòn trước năm 1975 gặp nhau tại tư gia của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ở Virginia, Hoa Kỳ. Cố nhạc sĩ Phạm Duy, người hiện diện trong đêm hôm ấy chợt thốt lên:

“Bây giờ mà nghe tiếng hát Thái Thanh thì sướng bỏ một đời.”

“Đêm về trên bánh xe lăn.

Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng.

Tìm tôi đèn thắp hai hàng.

Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây.

Ngỡ hồn tu xứ mưa bay.

Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa…” (Đêm nhớ trăng Sài Gòn)

Lúc ấy, nữ danh ca Thái Thanh vẫn còn ở Việt Nam.

Nhà văn Phạm Xuân Đài nhớ lại:

Mỗi chữ Thái Thanh hát ra như một giọt nước mắt của người Việt Nam sống xa quê hương.
– Nhà thơ Trần Mộng Tú

“Sau 1975, theo tôi được biết thì bà Thái Thanh ở lại trong nước, bà từ chối không hát gì hết. Bà giữ im lặng, không xuất hiện trước công chúng. Tôi có một câu chuyện là khi Thanh Tâm Tuyền ở tù về, Thái Thanh có đến thăm và hát cho Thanh Tâm Tuyền nghe một số bài hát phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, trong tình cảm bạn bè với nhau chứ không xuất hiện trước công chúng.” (nhà văn Phạm Xuân Đài)

Rất nhiều danh xưng được đặt ra dành tặng riêng cho bà, nữ danh ca của Việt Nam từ những năm 50. Người miền Nam thời bấy giờ gọi bà là “đệ nhất danh ca”. Nhà văn Mai Thảo cuối thập niên 60 tặng cho bà cái tên “Tiếng hát vượt thời gian”. Người nghe nhạc Phạm Duy gọi bà bằng hình ảnh của “Tiếng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.

Tiếng hát cho quê hương, cho tình Mẹ

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

Mẹ hiền ru những câu xa vời

À à ơi ! Tiếng ru muôn đời…” (Tình ca)

“Nghe Thái Thanh hát mới thấy thấm thía thế nào là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi nghe Thái Thanh hát bài Tình ca của Phạm Duy. Mỗi chữ Thái Thanh hát ra như một giọt nước mắt của người Việt Nam sống xa quê hương.”

Đó là tâm trạng của nhà thơ Trần Mộng Tú khi bà nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên ở một nơi không phải là Việt Nam.

Phải nói ngay rằng, tiếng hát của Thái Thanh, không phải là tiếng hát của u buồn, không sầu bi nức nở. Đó là tiếng hát của sự hoan lạc. Trong tiếng hát ấy chứa đựng cái réo rắt của tiếng suối, pha lẫn sự lan tỏa của ánh sáng, và toát lên cái hạnh phúc của một tình yêu, tình yêu quê hương, tình Mẹ.

“Rất nhiều lần tôi đã tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát Thái Thanh đã tác động vào làm cho mình cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, Tình ca, Bà mẹ Gio Linh chẳng hạn.”

Tiếng hát ấy, theo lời nhà văn Phạm Xuân Đài, là cả một thế giới đặc biệt, làm cho người ta rung động một cách kỳ diệu. Và từ sự rung động ấy, mà mỗi một người, trong một hoàn cảnh và thân phận của chính họ, sẽ nhận thấy những cung bậc tình cảm khác nhau dành riêng cho mình.

Tiếng hát ấy, hơn nửa thế kỷ, kể từ khi bà bắt đầu đi hát 1951 đã trở thành tiếng hát tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam với dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình.

dJLEU.png
Bìa CD Hội Trùng Dương của ca sĩ Thái Thanh. Courtesy of baomoi.com

“Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Ôm nghiêng tập vở

Tóc dài tà áo vờn bay…” (Ngày xưa Hoàng Thị)

Nhắm mắt lại và nghe tiếng hát Thái Thanh, người ta sẽ không chỉ nghĩ đến tình yêu lứa đôi thôi, mà người ta sẽ cảm nhận được tình yêu to lớn hơn, thiêng liêng hơn, vĩ đại hơn, đó là tình yêu đất nước. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, phu quân của cố ca sĩ Quỳnh Giao, một người bạn tri âm của bà cảm nhận rằng:

“Khi nghe tiếng hát của Thái Thanh, thì chúng ta có thể nghĩ đến lời ru của Mẹ. Khi mình không còn ở tuổi yêu đương nữa mà mình nghe mình vẫn còn thấy nức nở thì đó không phải chỉ vì tình yêu không thôi, mà nó còn có tình yêu con người và tình yêu của người Mẹ.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

“Mẹ già cuốc đất trồng khoai

Nuôi con đánh giặc đêm ngày

Cho dù áo rách sờn vai

Cơm ăn bát vơi bát đầy

Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!…” (Bà mẹ Gio Linh)

“Thái Thanh với tâm hồn của người Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương nhất của thế kỷ 20. Từ một thiếu nữ hát những bản tình ca gây xúc động sang giai đoạn đi hát cũng là giai đoạn có cuộc chiến lầm than nhất của đất nước. Những ca khúc Thái Thanh hát về chiến tranh cho thấy điều quan trọng hơn là quê hương và người Mẹ trong chiến tranh.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

Hạnh phúc, lầm than của dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương của lịch sử được tái hiện trọn vẹn qua tiếng hát Thái Thanh. Bà hát với tất cả tâm hồn, trái tim của người Việt Nam. Những âm thanh của quá khứ, của dân tộc trong các bài dân ca, chầu văn, hát chèo đều được bà bộc tả bằng những cảm xúc tự nhiên nhất.

Nhà văn Phạm Xuân Đài cho rằng những yếu tố văn hoá dân tộc, âm thanh của dân tộc ấy có sẵn trong con người của Thái Thanh. Khi cần, những yếu tố ấy được bà diễn tả ra một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên làm cho người nghe dù chợt thoáng qua cũng rung động ngay.

‘Tiếng hát thông minh’

“Khi mà tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh, từ hồi còn trẻ, rồi qua thời gian lớn lên, rồi lúc mình chín chắn hơn…kết luận riêng của tôi, tiếng hát của Thái Thanh là một tiếng hát thông minh. Thái Thanh là một người rất thông minh. Vì khi mình nghe bà diễn tả thì hầu như bài hát nào cũng rung động đến tận tâm can. Hình như mọi ý tình của nhạc sĩ sáng tác thì bà Thái Thanh đã chuyển trọn vẹn đến người nghe qua giọng hát của bà. Phải là người thông minh lắm, hiểu hết sắc thái của người nhạc sĩ, và hiểu âm nhạc, hiểu âm thanh thì mới có khả năng diễn đạt hết tất cả những tinh tế đó.” (Phạm Xuân Đài)

Nghe bà diễn tả thì hầu như bài hát nào cũng rung động đến tận tâm can. Hình như mọi ý tình của nhạc sĩ sáng tác thì bà Thái Thanh đã chuyển trọn vẹn đến người nghe qua giọng hát của bà.
– Nhà văn Phạm Xuân Đài

Chính nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhiều lần tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát của bà đã tác động vào làm cho người nghe cảm động, rung động nhu thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, tình ca, Bà mẹ Gio Linh…?

“Thứ nhất Thái Thanh là người nắm vững nhạc lý. Thái Thanh đàn piano rất hay. Thứ nhì, Thái Thanh có giọng hát thiên phú thì đã đành rồi nhưng có một biệt tài là phát âm rất rõ những lời ca. Nhờ vậy mà cho đến sau này, nếu người ta nghe lại người ta mới biết người Việt lúc đó đã yêu thương, than khóc hay khóc cười theo mệnh nước nổi trôi như thế nào.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

“Có được tiếng hát như vậy thì cũng phải có một đời sống bên trong rất phong phú thì mới có thể diễn tả được, ngoài chuyện có được tiếng hát thiên phú trời cho. Mà tồn tại được mãi như vậy thì phải có một kỷ luật trong đời sống.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

Một đời nghệ thuật

Thái Thanh đối diện với tác phẩm nghệ thuật như là người sắp diễn tả nó chứ không mang sẵn tâm trạng của mình. Bà không để cảm xúc riêng của mình, tình cảm riêng của mình trong một tình cảnh nào đó của đời mình vào trong bài hát. Bà chỉ sống trọn vẹn với bài hát ấy mà thôi.

“Thái Thanh khi hát chỉ đối diện vời bản nhạc đó thôi, không để cảm xúc riêng của mình trong đó. Đối với Thái Thanh, nghệ thuật là trên hết khi diễn đạt. Khi nhìn vào một bản nhạc thì biết ngay tác giả muốn nói cái gì, mình đối diện với cái gì, mình sẽ diễn đạt cái gì chứ không phải mình nói tâm trạng của mình. Thái Thanh rất khách quan trong việc trình bày một nhạc phẩm.” (Phạm Xuân Đài)

“Khi hát Dòng sông xanh, Mối tình xa xưa, hay Serande thì Thái Thanh hát trong tâm cảm của một người ở phương trời Tây, của nhạc Tây phương.”

Hơn nửa thế kỷ tiếng hát trôi qua, tiếng hát của bà đã đi cùng lịch sử văn hoá, âm nhạc Việt Nam với những cung bậc thâm trầm khác nhau. Không biết là giờ đây bà có còn khóc cười theo vận nước nổi trôi nữa hay không, nhưng chắc chắn rằng, tiếng hát của bà sẽ mãi mãi vượt thời gian, không gian để trở thành một di sản của nền âm nhạc Việt.

“Một yêu câu hát Truyện Kiều

Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta

Và yêu cô gái bên nhà

Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh

Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình

Nhìn trùng dương hát câu no lành…”

Philippines ‘kiểm tra kỹ công dân VN’

  Philippines ‘kiểm tra kỹ công dân VN’

Người Việt thường được đưa sang làm các nghề giúp việc nhà, bán hàng rong, thợ mộc hoặc lao động phổ thông (hình minh họa)

Sở Di trú Philippines cảnh báo các công dân Việt Nam phải đảm bảo có những lý do hợp lệ nếu muốn tới nước này.

Cơ quan này mới đây đã ra lệnh kiểm soát chặt việc công dân Việt Nam nhập cảnh sau khi phát hiện ra có đường dây chuyên tuyển dụng người làm việc bất hợp pháp tại Philippines, trang tin inquirer.net nói.

Giám đốc Sở Di trú, Jaime Morente, tuyên bố các chiến dịch triệt phá đường dây buôn người bất hợp pháp cho thấy có tình trạng người Việt được đưa lậu sang Philippines để làm việc, theo trang tin sunstar.com.

Tin tức nói có 78 công dân Việt Nam ở quá hạn visa, và những người này thừa nhận họ được tuyển mộ đi Philippines làm việc.

Luật sư Tonette Bucasas-Mangrobang nói yêu cầu kiểm soát chặt được đưa ra từ sau vụ khám phá ra đường dây bất hợp pháp trên.

Trước khi nhóm 78 người này bị phát hiện, theo luật sư Mangrobang, đã có hơn 100 người khác đầu hàng giới chức và xin được tuyên bố là thuộc dạng nghèo khổ.

Lao động Việt tại Philippines thường làm các công việc giúp việc nhà, bán hàng rong, thợ mộc hoặc các ngành nghề lao động phổ thông, rải rác ở các tỉnh khác nhau.

“Họ tới từ khoảng hai, ba năm trước, nhưng không xin gia hạn visa được do khó khăn tài chính,” bà Mangrobang được Inquirer dẫn lời.

“Họ không đi theo nhóm mà đi đơn lẻ một, hai hoặc ba người mỗi chuyến bay. Họ chỉ được trả khoảng 5.000 peso (tiền Philippines – khoảng 105 đôla Mỹ) mỗi tháng,” bà luật sư cho biết thêm.

Hiện Sở Di trú Philippines nói tính đến thứ Ba 9/8/2016 họ đã nhận được 69 yêu cầu tương tự, xin được cứu xét là thuộc dạng nghèo khổ.

Giám đốc Sở Di trú đã ra lệnh cho các nhân viên di trú tại sân bay quốc tế Ninoy Aquino kiểm tra chặt chẽ các trường hợp là công dân Việt Nam vào nước này.

“Philippines không chỉ phải chặn đứng việc trở thành nguồn cung ứng các nạn nhân của tình trạng buôn người. Chúng ta còn phải không được phép để đất nước mình trở thành đích đến của họ,” ông Morente nói.

Trong một diễn biến khác, giới chức Malaysia cũng mới tiến hành các chiến dịch bố ráp người nhập cư bất hợp pháp tại thủ đô Kuala Lumpur trong hôm 8/8.

Tin tức nói trong số hàng chục người bị bắt giữ, có một số người đến từ Việt Nam.

KHÔNG THỂ PHÓ MẶC

KHÔNG THỂ PHÓ MẶC

“Và trách nhiệm đầu tiên của việc kiến thiết đất nước thuộc về giới trí thức, và như ông Lev Tolstoy đã nói: điều đáng sợ không phải người ngu dốt, mà là sự hiểu biết giả, trí thức giả nó sẽ phá hoại đất nước nhanh hơn bất cứ sự ngu dốt nào”.

_____

FB Luân Lê

9-8-2016

Ngộ độc thực phẩm. Ảnh: internet

Các bạn, các ông bố, bà mẹ có thể chặc lưỡi, chuyện đó (tức chính trị, quản lý) là của nhà nước. Nhưng các bạn thử nghĩ, nếu phó mặc kiểu đó thì nếu họ cùng đồng loã với những kẻ vô lương, bất nhân tuồn vào thị trường những thực phẩm sữa, bột cho trẻ em độc hại như thế này thì ai là người gánh chịu hậu quả?

Cũng giống như hàng triệu chai nước ngọt của URC nhiễm chì vẫn tuồn được ra thị trường tiêu thụ, rồi thực phẩm bẩn tràn lan mà không ai kiểm soát được, cũng bởi đóng góp trong đó có kiểu coi thường luật pháp như tên cục trưởng của Bộ Tài nguyên Môi trường sẵn sàng cấp giả tới 800 loại giấy an toàn vệ sinh thực phẩm cho các doanh nghiệp thoả thích làm ăn.

Và nếu chúng ta không có cơ chế kiểm soát hành vi quản lý của nhà nước bằng một thiết chế quyền lực hữu hiệu khác thì chúng ta làm sao có thể biết và cũng không đủ chức năng, thẩm quyền để xử lý các hành vi trái luật nếu các nhà chức trách của chính quyền vi phạm luật pháp? Hay chúng ta lại tiếp tục phó mặc với kiểu tư duy: việc đó họ tự xử và giải quyết với nhau, đó đâu phải việc của mình?

Chúng ta cứ cần mẫn làm ăn, kiếm chác lợi ích, đóng thuế, bỏ mặc xã hội muốn vận động và biến đổi ra sao thì ra, nhưng cuộc sống lại bao trùm chúng ta và bủa vây quanh mỗi người là những thứ vô cùng độc hại mà chúng ta cứ thản nhiên sử dụng, hoặc vì tin tưởng vào lòng tốt của người khác đem cung cấp sản phẩm đó cho mình cũng như đạo đức của nhà chức trách, hoặc vì thiếu hiểu biết về chúng. Rồi những đứa trẻ của chúng ta cũng phải chịu cảnh bủa vây bởi sữa giả, bột nhiễm độc, môi trường giáo dục nặng thành tích, gò ép hay nỗi lo sợ bị xâm hại tình dục (kể không hết các trường hợp này) hoặc sợ bị bắt cóc (tại một ngôi trường ở Hải Phòng mới diễn ra hôm qua).

Chúng ta đi làm ăn, lắm khi còn đút lót, chạy chọt hoặc cấu kết với quan chức để làm sao cho qua các “cửa an ninh” và “các giấy phép nhiêu khê” mặc dù biết chúng, tức thứ ta đem kinh doanh, không đảm bảo chất lượng. Ngay chính chúng ta còn cố làm bậy để đạt mục đích, thì chúng ta phải luôn nghĩ rằng cũng sẽ có người khác, thậm chí nhiều người khác, cùng làm như thế chỉ để kiếm lợi ích.

Và vì vậy, khi cán bộ, công chức thiếu phẩm chất, và nhất là khi nó thiếu một cơ chế quyền lực độc lập với đảng cộng sản để kiểm soát chính quyền, thì với sự bất chấp tìm kiếm lợi ích của chính chúng ta nữa, thì xã hội và con người này ngày càng trở nên tha hoá, suy đồi và bất an là điều hiển nhiên thấy rõ.

Đã đến lúc mọi người cùng nhìn vào thực tại để thấy những tồn tại, bất công và nguy hiểm trong cuộc sống đang thực sự đáng báo động đến mức nào, để từ đó thay đổi và chung tay xây dựng đất nước sạch hơn, đẹp hơn, đàng hoàng hơn và phát triển hơn. Và chúng ta cũng cần một chính phủ mạnh, liêm khiết, thông qua những chính đảng chính trị khác nhau cùng tồn tại và kiểm soát nhau. Như vậy chúng ta mới thoát ra được cái vòng luẩn quẩn suốt mấy chục năm do cơ chế tự mâu thuẫn lẫn tự tha hoá của quyền lực độc quyền, toàn trị.

Và trách nhiệm đầu tiên của việc kiến thiết đất nước thuộc về giới trí thức, và như ông Lev Tolstoy đã nói: điều đáng sợ không phải người ngu dốt, mà là sự hiểu biết giả, trí thức giả nó sẽ phá hoại đất nước nhanh hơn bất cứ sự ngu dốt nào.

‘Người ta chơi tôi!’: Giờ thì chẳng còn mấy quan chức ‘an toàn’

‘Người ta chơi tôi!’: Giờ thì chẳng còn mấy quan chức ‘an toàn’

Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tổng Bí thư Trọng – bắt đầu từ tháng 6/2016 – đang có triển vọng gây chấn động lớn trong giới chính trị gia nửa mùa nhưng thậm tham.

Tháng Bảy năm 2016, không hiểu vì lẽ gì mà “bỗng dưng” gia đình Thiếu tướng Trần Kỳ Rơi, Giám đốc công an Đắc Lắc, lại bị một tờ báo nhà nước là Dân Việt lôi ra với một bài báo có tựa đề “Cơ ngơi ngàn tỷ” – ám chỉ ngôi nhà chứa đầy gỗ quý của con gái tướng Rơi, cũng là dân công an. Ngay sau đó, ông Trần Kỳ Rơi đã phải thanh minh trên mặt báo: “Người ta chơi tôi!”.

“Người ta” nào?

Giờ thì chẳng còn mấy quan chức, dù là cấp trung hay cả cấp cao, được “an toàn”.

‘Mặt trận’ liên tục phát triển

Từ đầu tháng 6/2016 đến nay, “mặt trận” đã liên tục phát triển về chiều sâu ở các địa phương và bộ ngành. Đầu tiên là Hậu Giang với vụ Phó chủ tịch Trịnh Xuân Thanh nhận xe Lexus 5,7 tỷ đồng, kéo theo quá khứ ông Thanh gây lỗ ở Tổng công ty dầu khí PVC đến 3.200 tỷ đồng. Từ “ruồi” Trịnh Xuân Thanh, cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng lại bị một số dư luận và báo chí cáo buộc phải chịu trách nhiệm hành chính và kể cả trách nhiệm hình sự. Vũ Huy Hoàng là nhân vật nghe nói “giàu nứt đố đổ vách”, từng được coi là một trong những cánh tay mặt của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và tưởng như đã “hạ cánh an toàn”. Ông Hoàng còn bị coi là phải chịu trách nhiệm trong việc “bổ nhiệm” con trai còn trẻ của mình làm giám đốc doanh nghiệp và gây lỗ cho doanh nghiệp này.

Sát kỳ bầu bán Quốc hội trong tháng Bảy, bất chợt một đại gia có phạm vi hoạt động liên tỉnh – bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường – lại bị bác tư cách đại biểu Quốc hội vì có quốc tịch ở tận… Malta. Ngay sau đó, báo chí lề dân lẫn lề nhà nước đã dồn dập lên tiếng tố cáo bà Hường đã thao túng các dự án bất động sản và đẩy đuổi nông dân đến mức khốn quẫn ra sao…

Nhưng vẫn chưa hết. Mỏ Núi Pháo ở Thái Nguyên là một trong những địa chỉ gây ô nhiễm môi trường mà có lần phóng viên nhà nước đến điều tra đã bị côn đồ hành hung tàn bạo nhưng Hội Nhà báo Việt Nam đã không dám có hành động tối thiểu nào để bảo vệ hội viên của mình. Mỏ Núi Pháo có trữ lượng wolfram lớn vào hàng thứ hai trên thế giới, đã bị Bộ Tài nguyên Môi trường thanh tra toàn diện. Chưa biết kết quả thanh tra sẽ ra sao, nhưng ấn tượng lớn nhất liên quan đến vụ này là Bộ Tài nguyên Môi trường – cơ quan hầu như đã không đưa ra một tuyên bố nào sau vụ cá chết trắng biển 4 tỉnh miền Trung, nhưng lại đang trở thành một mũi tiên phong trong công cuộc “hồi tố” dự án Núi Pháo mà đằng sau đó ai cũng biết là có bàn tay giao dịch đắc lực của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Đến cuối tháng Bảy, vụ Mobifone mua AVG với gần 9.000 tỷ đồng đã chính thức được Ban Bí thư và Chính phủ giao cho Thanh tra chính phủ tổ chức thanh tra. Vụ này từng được một bàn tay bí mật phanh phui đến từng chi tiết trên mạng xã hội mấy tháng trước và còn báo trước là “Thanh tra chính phủ sẽ vào cuộc”. Một lần nữa cái tên Nguyễn Thanh Phượng lại được nêu ra như một “người đứng sau ông Lê Nam Trà ở Mobifone”.

Rồi cũng “không hiểu sao”, một tờ báo nhà nước lại đùng đùng lôi ra vụ một công ty chỉ có vốn điều lệ 3 tỷ đồng nhưng lại tặng siêu xe có giá trị đến 6 tỷ đồng cho Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình. Trước vụ việc gần như y hệt vụ Trịnh Xuân Thanh này, một số dư luận không khỏi đặt câu hỏi: nếu Hậu Giang được coi là “đất” của ông Nguyễn Tấn Dũng thì Ninh Bình là “lãnh địa” của ai?

Còn có một ẩn ý khác.

Bất an ‘thay máu’

Chiến dịch “chống tham nhũng” của Tổng Bí thư Trọng nhắm đến những “mỏ vàng” như Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Thị Nguyệt Hường, mỏ Núi Pháo và Mobifone đang khiến dư luận xôn xao với câu hỏi: phải chăng phía sau chiến dịch này là mưu toan thâu tóm thị trường của nhóm lợi ích mới đối với nhóm lợi ích cũ?

Câu hỏi trên là có “cơ sở thực tiễn”.

Ngay sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng mất chức thủ tướng vào tháng Giêng năm 2016, đã có nhiều đồn đoán về một chiến dịch từ tranh giành đến thâu tóm doanh nghiệp và thị phần kinh doanh, xuất phát từ những nhóm lợi ích liên quan mật thiết đến những nhóm quyền lực mới. Lãnh địa của tay chân ông Nguyễn Tấn Dũng lại được coi là vô cùng lớn và vô cùng màu mỡ, bao gồm nhiều ngành nghề trải rộng ở nhiều tỉnh thành, đặc biệt là khối tài chính và ngân hàng mà đã có đủ thời gian phát triển thành một thế lực tài phiệt – tức có quyền năng chi phối, can thiệp đáng kể vào không chỉ các chỉ số kinh tế quốc gia mà còn vào cả thế lên xuống của chính trường Việt Nam.

Đương nhiên, những lãnh địa đó là điểm nhắm của mọi con mắt thèm thuồng của những kẻ muốn thâu tóm trong bối cảnh đất nước đang gần như cạn kiệt các nguồn tài nguyên.

Khi mà “rừng vàng biển bạc” đã trở nên trơ trụi và kiệt quệ, khi các nguồn tài trợ lãi suất ưu đãi và viện trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á châu, kể cả một số quốc gia như Nhật Bản, Úc, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy… đã tắt dần đến tắt ngấm, thì việc sát phạt nhau về mặt chính trị đang trở thành thủ đoạn bảo đảm mang lại lợi nhuận lớn nhất, chứ chẳng còn phải là kiểu kinh doanh “một vốn bốn lời” trong việc trục lợi các chính sách của nhà nước như trước đây.

Không khó hiểu nếu đảng muốn những quan chức như Trịnh Xuân Thanh, Vũ Huy Hoàng hay đại gia như Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nguyễn Đăng Quang, Lê Nam Trà… phải “ói ra” – như cách nói rất dung tục của giới giang hồ chính trị chuyên sát phạt lẫn nhau.

Thậm chí, chiến dịch thâu tóm thị phần không chỉ dừng ở các con “hổ nhỏ” mà còn có thể dẫn đến những con “hổ lớn” như Ngân hàng Bản Việt cùng nhiều dự án khác của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái ông Nguyễn Tấn Dũng.

Nếu quả chiến dịch thanh tra môi trường mỏ Núi Pháo và Mobifone là muốn nhắm vào vai trò của bà Nguyễn Thanh Phượng, thì chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tổng bí thư Trọng đang tiến một bước dài đáng kể.

Nếu ông Trịnh Xuân Thanh là “lính” của ông Vũ Huy Hoàng, thì ông Vũ Huy Hoàng lại là “lính” của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Tất cả đều liên quan với nhau, và các “quy trình xử lý” cũng đều có vẻ logic.

Bàn cờ chính trị Việt Nam cũng bởi thế đang sôi động trở lại và trở nên cực kỳ rối rắm sau cuộc đọ sức giữa các kỳ phùng địch thủ trước Đại hội XII vào cuối năm 2015.

Thậm chí bàn cờ chính trị ấy còn diễn ra gay go, ác liệt giữa nhiều phe phái hơn cả thời kỳ đấu đá tranh giành quyền lực vào năm ngoái. Nếu trước Đại hội XII, giới quan sát chỉ tập trung vào hai lực lượng chính trị chủ yếu là “phe chính phủ” và “phe đảng”, gây ra sự xung đột giữa hai nhóm lợi ích lớn – thì hiện nay, chủ thuyết “đa trung tâm quyền lực” đang xuất hiện ngày càng rõ, kéo theo lý thuyết “đa trung tâm lợi ích”.

Vào lúc này, các nhóm lợi ích mới, hoặc nói cách khác là những nhóm lợi ích mới xuất đầu lộ diện theo từng bước chân của những nhân vật quyền lực mới, đang ở thế công. Không chỉ “anh Hai, anh Ba, anh Tư…”, mà tầm lợi ích còn trải rộng ra những trung tâm quyền lực mới như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và một số tỉnh thành. Chiến dịch “sáp nhập ngân hàng” mà nhóm lợi ích cũ tiến hành vào những năm 2011, 2012 coi chừng sẽ bị “thâu tóm” lại. Những dự án béo bở như mỏ Núi Pháo, Mobifone và hơn thế nữa sẽ không thoát khỏi cặp mắt cú vọ của những kẻ đi sau nhưng muốn “hốt trọn ổ”.

Từ quy luật cùng logic “xét lại” ấy, mỗi chiến dịch của nhóm lợi ích mới thanh toán nhóm lợi ích cũ lại có thể gắn liền với một chiến dịch “đả hổ diệt ruồi”, hay gọi nôm na là “quyết tâm chống tham nhũng” nổ ra ở những cấp, ngành và địa phương liên hệ. Những chiến dịch này tất yếu sẽ dẫn đến việc “thay máu” về nhân sự ở các cấp, ngành, địa phương đó.

Giờ thì chẳng còn mấy quan chức “an toàn”.

Đoàn xe của Thủ tướng VN gây ‘sốt’ mạng xã hội

Đoàn xe của Thủ tướng VN gây ‘sốt’ mạng xã hội

Đoàn xe của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rầm rộ kéo vào phố cổ Hội An, bất chấp bảng cấm xe cơ giới.

Đoàn xe của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rầm rộ kéo vào phố cổ Hội An, bất chấp bảng cấm xe cơ giới.

 

Video và hình ảnh đoàn xe khoảng 10 chiếc màu đen của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại các tuyến đường được cho là phố đi bộ ở Hội An, Quảng Nam, đang gây ra các phản ứng trái chiều trên mạng xã hội.

Đài tiếng nói Việt Nam đưa tin, ông Phúc chiều tối 8/8 tới thăm khu phố cổ ở miền Trung, trước khi tham dự một hội nghị toàn quốc về phát triển du lịch.

Các hình ảnh được truyền thông nhà nước đăng tải cho thấy ông Phúc tươi cười nói chuyện với người dân địa phương, du khách và thậm chí còn chụp cả ảnh “selfie” với một số người. VOV dẫn lời ông Phúc nói rằng “tôi quảng bá cho du lịch Hội An đấy nhé”.

Trong khi đó, trên các trang mạng “lề trái”, xuất hiện các hình ảnh và video, mà VOA Việt Ngữ chưa thể kiểm chứng độc lập, cho thấy khoảng một chục chiếc xe tháp tùng ông Phúc lăn bánh trên các con phố nhỏ, hẹp trong khi các du khách vẫn đi lại.

Hình ảnh cho thấy khoảng một chục chiếc xe tháp tùng ông Phúc lăn bánh trên các con phố nhỏ trong khi các du khách vẫn đi lại.

Hình ảnh cho thấy khoảng một chục chiếc xe tháp tùng ông Phúc lăn bánh trên các con phố nhỏ trong khi các du khách vẫn đi lại.

Ông Quang Ba, nhân viên một quán ăn ở Hội An, cho VOA Việt Ngữ biết ông có thấy đoàn xe đi qua khu phố cổ.

Ông nói thêm: “Đoàn xe đi ngang qua đây ra đường Bạch Đằng rồi lên quảng trường Sông Hoài đó. Tuyến đường đó là đường đi bộ. Trong phố cổ thì phải đi bộ, không được đi xe điện. Ôtô phải đậu ở phía ngoài đó rồi thì bắt đầu đi bộ vô phố cổ. Thấy hôm qua đi ngang qua đó thôi, còn mục đích gì thì không biết”.

Theo truyền thông trong nước, đề án “Phố dành cho người đi bộ và xe không động cơ” được thực hiện từ năm 2004 trên tất cả các phố nằm trong nội vi đô thị cổ Hội An gồm ba trục đường chính gồm Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng làm trung tâm”.

Tờ Lao Động điện tử đưa tin rằng “ban đầu chủ trương này nhằm giảm thiểu tiếng ồn từ tiếng động cơ của xe máy, đảm bảo an toàn cho du khách, đến nay đã trở thành sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng của Hội An, góp phần rất lớn trong công tác quảng bá văn hoá, du lịch Hội An”.

Ông Nguyễn Duy Tuấn, quản lý nhà hàng Vĩnh Hưng ở Hội An, cho VOA Việt Ngữ biết rằng ông cũng thấy đoàn xe của ông Phúc.

Ông nói tiếp: “Đi tới mười mấy chiếc, tối thui luôn, nhìn vô không thấy ai, không biết là chú Phúc. Đi một vòng quanh phố cổ vẫn là đi xe ôtô. Mặc dù ở đây cấm xe máy, xe ô tô trong thời điểm đó nhưng mà ổng vô thì phải ưu tiên chứ? Sau đó thì đi bộ, đi bộ vô thăm phố cổ”.

Ông Tuấn cho biết thêm rằng người đứng đầu chính phủ Việt Nam “có ghé thăm nhà hàng” của mình, “hỏi tình hình kinh doanh, các món ăn đặc sản rồi khách nào là chính” thì “mấy nhân viên ở đây có nói thực tế rằng khách Trung Quốc dạo này nhiều lắm”.

Báo điện tử của chính phủ Việt Nam dẫn lời phát biểu của Thủ tướng Phúc hôm 9/8 rằng hội nghị quy mô lớn đầu tiên do chính phủ tổ chức sẽ “góp phần vào phát triển du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với chính quyền Hội An để hỏi rõ về các thắc mắc của các cư dân mạng liên quan tới đoàn xe của ông Phúc ở phố đi bộ.

Trong khi đó, một số cư dân mạng trích Luật Giao thông Đường bộ về quyền ưu tiên của một số loại xe để chứng minh rằng đoàn xe của ông Phúc “không phạm luật”.