Vì sao CS ghét người Công Giáo

Vì sao CS ghét người Công Giáo      

Vt: Người Công Giáo vừa là công dân Nước Trời vừa là công dân của một nước trần thế. Vì thế, họ luôn luôn ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng xã hội trần thế ngày càng tốt đẹp như Chúa muốn. Đó là ơn gọi của họ. Tuy nhiên, họ không  chấp nhận những luật nào trái với Thiên luật và không chối bỏ đức tin của mình vào Thiên Chúa là Cha. Bài viết sau đây của Nguyễn Châu & Ku Búa nói lên phần nào nỗi đau của người Công Giáo vì người Công Giáo không có thù ghét ai cả và luôn nhắc nhở mọi người đều là anh em, dù họ là ai, quan điểm và cách tuyên tín thế nào. Công Giáo chỉ loại bỏ cái xấu chứ không loại bỏ con người.

——————–

Vì sao CS ghét người Công Giáo


Nguyễn Châu & Ku Búa


Có một nhóm người mà CS không thể nào chịu được và gần như thất bại trong việc lôi kéo họ theo lý tưởng của mình, đó chính là người Công Giáo. Vậy có bao giờ bạn tò mò tự hỏi vì sao? Sau đây là lời lý giải của một bạn người Công Giáo.

Người Công Giáo tin rằng họ thuộc về Chúa. Chúa là người ban cho họ sự sống, quyền lợi cũng như tương lai. Và chỉ có Chúa mới có quyền phán xét và lấy đi quyền lợi của họ, vì những thứ đó đến từ Chúa chứ không phải chính phủ. “Tôi thuộc về Chúa” và chỉ có Chúa mới có quyền lấy đi quyền lợi tự nhiên và linh hồn tôi.

Chính phủ, trong trường hợp này, một chính phủ thực hiện lý tưởng CS, yêu cầu mọi người phải từ bỏ tất cả mọi thứ để trung thành với chủ nghĩa và lý tưởng CS. Nghĩa là mọi người phải theo chủ nghĩa vô thần, vì chỉ khi họ không có tôn giáo thì họ mới dành hết linh hồn mình cho chính phủ. Điều này hoàn toàn nghịch với những giá trị của Công Giáo, vì người Công Giáo không thể nào từ bỏ Chúa để trao mình cho chính phủ hay một lý tưởng vô thần.

Nếu chúng ta nhìn rộng hơn nữa, xuyên suốt lịch sử các nước Châu Âu, quá trình phát triển văn minh nhân loại được thúc đẩy nhờ vào tổ chức Công Giáo. Chính các tổ chức Công Giáo và những giá trị đạo đức, tinh thần của họ đã cứu vớt nền văn minh Châu Âu sau khi Đế Chế La Mã sụp đổ. Chính những giá trị của Công Giáo đã tạo ra chủ nghĩa tư bản, hệ thống an sinh xã hội. Và cũng chính những giá trị đó đã tạo ra nước Mỹ.

Chẳng hạn vào thời Trung Cổ, chính các nhà thờ là nơi giữ gìn chữ viết, văn hóa và tinh hoa của nền văn minh Tây Phương. Kinh thánh được xem là một tài liệu lịch sử thu nhỏ. Hệ thống giáo dục, đại học cũng đến từ tổ chức Công Giáo và vô số những công trình kiến trúc nổi tiếng trên khắp thế giới như nhà thờ Notre Dame – Paris và ở Việt Nam như Nhà thờ Con Gà – Đà Lạt, nhà thờ Đức Bà.

Không phải ngẫu nhiên mà các Nhà Sáng Lập Mỹ lại ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập câu sau đây:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Công Giáo và người Công Giáo là mối đe dọa lớn nhất đối với chủ nghĩa CS vì họ thuộc về Chúa nên không thể nào thuộc về chính phủ hay một lý tưởng vô thần.

nguồn: fb cafekubua

Tàu Đêm Năm Cũ & Ngày Trở Về & Sầu Tím Thiệp Hồng

httpv://www.youtube.com/watch?v=tTdOfcmG0sk&list=PLfe9JTtbGcgVlCym3-0tFo7Crf9-WhqMP&index=12

 Tàu Đêm Năm Cũ -Trúc Phương -Thanh Thúy -NNS

httpv://www.youtube.com/watch?v=roIq2NopLbQ&index=28&list=PLfe9JTtbGcgVlCym3-0tFo7Crf9-WhqMP

Ngày Trở Về -Phạm Duy -Hồng Hạnh -NNS (Super HD)

httpv://www.youtube.com/watch?v=aK24AhPU-4g&index=39&list=PLfe9JTtbGcgVlCym3-0tFo7Crf9-WhqMP

Sầu Tím Thiệp Hồng -Minh Ky & Hoai Linh -Cẩm Ly & Quốc Đại -JN

CỐ GẮNG! RỒI CŨNG SẼ QUA THÔI

CỐ GẮNG! RỒI CŨNG SẼ QUA THÔI

Lê thị hoài Niệm

Đã là người sống ở thế gian, mỗi lần nghe tin một người thân hay bạn bè, hàng xóm, thậm chí không hề quen biết mà “ra đi” đột ngột trong bình an, không kịp chào từ  biệt một ai ngay cả vợ- chồng- con- cháu của mình, nói theo kiểu thơ thẩn một chút là “người đang vui sống, chuyển sang từ trần”, thì sẽ xuýt xoa trầm trồ “sao mà sung sướng quá, chắc kiếp trước …khéo tu?” Chỉ buồn cho người còn ở lại, chưa kịp “vẫy tay, vẫy tay chào nhau một lần cuối và trọn cuộc đời”.

Nằm ngủ rồi…đi luôn về bên kia thế giới chẳng đau đớn về thân xác chút nào, ai mà không muốn, nhất là những người tuổi tác cũng đã vào lúc “xế xế, chiều chiều” rồi (trẻ quá thì không nên đi sớm, uổng đời). Có ai thích bị …bệnh đau, nhất là những chứng bịnh ngặt nghèo, nhiều khi bị nó “hành hạ” tơi bời khói lửa. Dẫu biết rằng “sinh lão bệnh tử” là chuyện thường tình trong đời của kiếp người sống cõi nhân gian. Nhưng mấy ai “thờ ơ” với căn bệnh của mình mà không có chút lo lắng, hay u sầu, nhiều khi sốt vó lên để chạy chữa ( thuốc tây chưa dứt liền tìm thuốc ta, thuốc dược lá, cây cỏ mà uống) vì…sợ chết khó coi đã đành, còn tiếc nuối chưa “được hưởng” chút thảnh thơi nào sau những ngày làm việc vất vả, và để người “bạn đồng hành” ở lại (nếu còn có đôi) chẳng biết có được ai chăm sóc đàng hoàng hay là …dì nó, dượng nó vào …hưởng ráo những gì mình kí cóp suốt cuộc sống bao nhiêu năm(?) mà không lo tròn phận sự người…kế tục!.(chúc mừng cho những người thực hiện được chữ “buông” trước khi “giã từ gác trọ”, nhưng chắc đa số khó mà thực hiện được ngoài mấy tiếng nói cho dzui?).

Người viết bài tâm sự này tính đến ngày 17/2/2016 là đã một năm hai tháng và mười bảy ngày khi biết mình bị vướng vào căn bệnh “breast cancer”. 

Khi vị bác sĩ gia đình gọi đến báo tin cho biết bị bệnh sau khi đi chụp hình mammogram định kỳ hằng năm (năm nào cũng normal), tôi đã bật cười thành tiếng, làm bác sĩ cũng rất ngạc nhiên. Dĩ nhiên tôi rất tin lời Bác sĩ, không ai dám đùa với bệnh nhận kiểu chết người như vậy, hoạ chăng là xét nghiệm có thể lầm, và hy vọng thử nghiệm lại cho chính xác là điều bệnh nhân mong mỏi (và đã làm lại). Tôi nói với B/S nếu bị bệnh thì lo chạy chữa, hãy giới thiệu dùm bác sĩ chuyên môn cho tôi, cứ “tỉnh bơ” vì nếu có “buồn, lo, sợ, khóc” thì căn bệnh (nếu chắc chắn) cũng…không đi chỗ khác chơi, có đúng thế không?

Cá nhân tôi thuộc lớp người năng động, chưa bao giờ ngồi một chỗ hay …nằm dài xem phim. Có thể nói một ngày 24 tiếng, chỉ có mấy giờ đồng hồ để ngủ, còn thì tôi làm việc toàn thời gian, rồi săn sóc vườn tược với nhiều hoa trái, nấu ăn theo đúng tiêu chuẩn vệ sinh “an toàn thực phẩm” cho gia đình, và tập thể dục đều đặn không bỏ sót bữa nào, nhất là các lớp nhảy zumba ở 24 hours fitness, và tôi cũng không thuộc một “cao” nào trong những thứ bệnh mà B/S nhắc nhở bệnh nhân phải để ý ngăn chận. Về mặt tinh thần thì “hoàn toàn ổn định” với một gia đình trên dưới vui vẻ, còn ngồi gõ máy tính để…viết truyện vui cho đời nữa, chưa nói đến chuyện ca hát mình ên cho..nở phổi, lâu lâu có người bạn đưa lên youtube để “hù” bà con chơi, còn sinh hoạt bên ngoài cộng đồng nữa chứ.

Nhưng tôi còn lo…một chuyện như đã nói ở trên, vì lỡ mình đi thẳng, thì ai nấu nướng cho ông “chồng già” những bữa cơm nóng như lâu nay, ai san sẻ những buồn vui trong cuộc sống? khi những đứa con đã có đời sống riêng lại ở xa. Nhưng khi nói với ông chồng điều này, bị ổng phán một câu xanh dờn với giọng Nam kỳ cục chỉ vỏn vẹn bốn chữ “bà sao dzô dzuyên”! ngồi ngẫm nghĩ lại, tôi thấy mình …vô duyên thật nên phát cười hảhảhả…

Thật ra tôi là người bình thường, không có gì đặc biệt, vậy mà khi bị vướng bệnh thì lại…đặc biệt, hiếm quí, trèo cao, nhảy vọt. Phải chi nó đi “từng bước từng bước thầm” thì dễ chữa. Vì căn bệnh Breast cancer, mà những người phụ nữ mắc phải, thường thì trải qua bốn gia đoạn, B/S cho biết đại khái như sau:

-Giai đoạn một là chỉ có một bướu nhỏ trong ngực, B/S chỉ cắt bỏ là hy vọng khỏi, có thể uống thuốc trợ giúp.

-Giai đoạn hai: những tế bào ung thư đã lan nhiều trong ngực, cắt bỏ nhưng phải chạy chữa, có thể chemo, hay radiation, uống thuốc….

-Giai đoạn ba: là trường hợp đặc biệt, hiếm khi xảy ra khi mà những tế bào ung thư không tìm thấy trong ngực, nó đã nhảy xổ vào các huyệt đạo, gọi là “lymph node” (?), rất sợ lây lan.

-Giai đoạn 4: tế bào ung thư đã phân tán đi khắp các vùng chiến thuật, có chạy chữa khỏi hay không là chuyện …hạ hồi phân giải….

Bỗng dưng tôi phải làm thân với bệnh viện, cứ như chỗ “thân tình” tới lui thăm viếng thường xuyên. Ban đầu một tuần phải vào 3 lần là ít, không kể ngày lễ lạc gì ráo, bác sĩ bảo phải đi chụp hình, đi ultrasound, đi biopsy, chụp MRI, chụp và chụp từ đầu đến chân, rồi chụp xương v..v..Có bữa vừa ra khỏi cổng bệnh viện là bị gọi trở lại vì họ chụp hình bị …thiếu sót. Bác sĩ rất lo ngại vì bệnh cancer của tôi đã vào giai đoạn thứ Ba rồi. Đúng là “bước tiến nhảy vọt”! thiệt hết biết.

Trước khi vào chữa bệnh, Bác sĩ mời vợ chồng tôi vào một căn phòng nhỏ, giải thích mọi nguy hiểm mà bệnh nhân đang gặp, an ủi và khuyến khích cũng như “cầu nguyện” cho bệnh tình của bệnh nhân được chữa khỏi. Ở bệnh viện, họ cho mình xem một DVD với đầy đủ những diễn biến của căn bệnh và cách chữa trị cũng như những điều mình cần phải tránh, những khó khăn nguy hiểm mà bệnh nhân sẽ trải qua, họ còn chỉ chỗ để…mua tóc giả nữa kìa, vì hầu như mọi người khi chạy chemo đều bị rụng hết tóc.(có thể vào trang nhà của breast cancer để apply xin đầu tóc giả, hoặc tự mua lấy nếu mình chọn, và b/s sẽ cho giấy giới thiệu để được giảm giá).

Những năm về trước, có lẽ căn bệnh ung thư làm nhiều người…rùng mình, nghĩ đến chuyện chữa chạy chắc khó khăn lắm, ngay ở nước Mỹ này, nhưng bây giờ thì khác rồi, dễ dàng và..thoải mái nữa. Trong một căn phòng, người ta đặt thành hàng dài những chiếc ghế dựa, có gắn TV để xem, một bên là cây cần để máng những bình thuốc. Bệnh nhân vào thuốc qua một cái “port” (B/S đã giải phẩu để đặt vào trước đó), rất thoải mái, khi chạy chemo thì lâu khoảng 4 đến 5 tiếng đồng hồ, tùy loại bệnh, dĩ nhiên trước đó y tá đã lấy máu và thử ngay, để b/s “liệu” mà vào thuốc tùy từng cơ thể mỗi người.

Ngày mồng một Tết mà đúng kỳ vô thuốc, cứ 3 tuần một lần, thì tôi cũng có mặt.

Sau vài ba ngày chạy chemo lần đầu tiên, bắt đầu bị thuốc hành, cơ thể mệt mỏi, không thể ăn uống gì được, ăn cái gì vào thì nó muốn ói ra, dù B/S đã cho uống thuốc ngăn ói. Lưỡi không còn vị giác, ăn cái gì cũng giống như …nhai cát, uống sữa như một cực hình….Nhưng phải cố gắng, (nếu uống được sữa ensure plus, có nhiều protein thì đỡ hơn) vì bạch huyết cầu và hồng huyết cầu sắp bị diệt. Nếu không đủ các tiêu chuẩn của máu, b/s sẽ không cho chạy thuốc tiếp (sợ bệnh nhân yếu quá, bị thuốc giật…chết?), mà ngưng lại một kỳ là kéo dài thêm ba tuần lễ… đau khổ (cô người Mỹ trẻ tuổi ngồi ghế bên, đã bị b/s ngưng cho chạy thuốc, vì cô nói ăn không được, nên cứ uống nước juice, làm sao có đủ máu?).

Phải nói là khi chạy chemo, thuốc nó hành liểng xiểng, chừng hơn một tuần lễ, lấy tay sờ vào sợi tóc nào là nó theo tay nắm của mình mà ra đi không luyến tiếc.Và khoảng vài tuần sau, khi gội đầu là cả mái tóc rụng ráo, nó quện vào nhau mà không cách chi…gỡ nổi. Cái đầu “trọc lóc” kể từ đây khỏi cần cạo, cắt.

Bài thơ “Tự trào về MÁI TÓC”

Một sớm mùa Đông biết thân mang bịnh

Chứng “ung thư” người nghe cũng hỡi ôi

Cứ như là đời sắp chấm than thôi

Sẽ  …đi thẳng khi lòng không mong đợi!

 

“Không  dễ chết!!!” cuộc sống còn tiếp nối
Cứ vững tin mà chạy chữa thuốc thang
Bởi từ lâu tâm thanh thản an nhàn
Vui sống khỏe, tuần 6 ngày…Zumba-Fitness !

 

Vốn biết …thân già sớm lo từ trước
Sức khỏe định kỳ chẳng họ …3 cao
“Mỡ -đường-máu” chỉ số vẫn tự hào
Thời gian nghỉ vun xới mảnh vườn xanh biếc

 

Ngày đầu tiên chính thức vào bệnh viện
Cứ ngỡ mình đang vào tiệm ..nail Salon
Người bệnh cancer ngồi chật căn phòng
Chạy “chemo” mà tha hồ…hóng chuyện.

 

Thời gian đầu bị “thuốc hành” xiểng liểng
Miệng, mũi máu vờn, nóng đốt ruột gan
Người bần thần chẳng thiết chuyện uống ăn
Rồi từng lọn tóc vẫy tay chào …giã biệt!

 

Tay sờ đầu miệng bỗng cười thành tiếng  
“Khỏe vậy sao? khỏi tốn ..lover’s hair  luôn” 
 Khỏi cần nhìn  cũng đoán giống….Thiên Tôn*
Đầu không tóc, mảng da đầu lạnh ngắt…

 

Tôi dửng dưng khi chồng tôi nín lặng
Rồi thở dài: -“Sao nhanh quá vậy em  
Nhìn em cười, ruột anh xoắn quặn thêm   
 Dù nhắm mắt, lòng cũng buồn muốn khóc!

 

Ngày xa xưa anh thường hay vuốt tóc 
 Thả lưng chừng hay ôm trọn tấm lung 
 Mùi hương chanh, bồ kết gội thơm lừng 
 Để anh nhớ những lúc hành quân khó nhọc”

 

-“Cười lên đi! Đó chỉ là ..mái tóc!   
 Dáng vẻ ngoài nhìn có chút…khó coi 
Không than phiền, không buồn nản buông xuôi  
Đầu …trọc lóc, ta đội đầu ….tóc giả(hahhaha..) 

Nhìn quanh ta nhiều mảnh đời nghiệt ngã 
Trong cam go còn cố vượt cơn nguy
 Sống vươn lên không nản chí thụt lùi 
Dù thiếu thốn vẫn thấy đời…hạnh phúc!

“Sinh-lão-bịnh-tử! loài người cõi tục 
Cứ bình tâm mà chấp nhận phận đời
Em bây giờ thấy …khỏe quá đi thôi
Khỏi tốn bạc đi…Hair Salon làm tóc !

 

Nếu ai bảo giống… “Sư cô đầu trọc!”  
Càng vui mừng vì mình được …dựa hơi     
Những vị chân tu không tha thiết bề ngoài 
Nhiều người tóc đẹp chắc chi lòng đã đẹp? 

 

 Đầu… trọc lóc! vì thuốc men dồn ép 
 Bệnh chữa lành, tóc sẽ mọc lại thôi 
Lại cười vui vì tranh..rẽ đường ngôi  
Nếu không thể, hãy nguyện cầu… SỐNG SÓT!

Cảm ơn Phật Trời độ trì cho trót lọt
Cảm ơn chồng con, chị em, các cháu, bạn thân nhà 
Cảm ơn Y-dược khoa của xứ sở Cờ hoa
Cảm ơn ..tôi luôn vì mãi cười …hả hả hả!” 
 Mar-2015.  *Ca sĩ TNcủa TNBN.

Nếu có sức mạnh về tinh thần cũng là điều làm cho căn bệnh giảm nhẹ(?). Tôi là “con của Phật” nên mỗi lần vào thuốc hay là trước khi lên bàn mổ để lấy tế bào ung thư ra khỏi người, tôi đều niệm Quan thế Âm Bồ Tát. Dĩ nhiên không có Phật Trời nào sẵn sàng giúp mình dứt bệnh. Nhưng giữ cho phần tâm linh được vững vàng cũng là điều nên thực hiện. Nhất là chồng con và anh chị em, cháu chắt trong gia đình, cùng những bạn bè thân sơ, từ ngoài đời thường và trên những “diễn đàn ảo”, người nào cũng “phát tâm cầu nguyện” cho  mình, nên tôi càng vững tâm hơn nữa.

Có đau bệnh mới hiểu thấu giá trị “sức khỏe là vàng”! Không ai có thể gánh dùm cái đau bệnh của mình được, nhất là những người gần gũi với mình. Nếu mình “than vãn” chỉ làm cho họ thêm buồn lo, nhưng không giúp gì được hết. Nên tôi cứ “không sao” là tốt nhất. Bạn bè đến nhà thăm, tôi vẫn cười hả hả, dù có lúc ..không còn hơi để thở. Thương lắm, cảm động lắm, ai cũng muốn đến thăm hỏi và đem thức ăn, sữa uống đến tặng,(những người cơ thể không được khỏe, xin miễn tiếp, vì trong người không còn kháng thể chống đỡ nên dễ bị nhiễm trùng), nhưng có sờ đến được chút nào đâu. Cảm ơn tấm thạnh tình của ACE nhưng phải nhờ…chồng thanh toán dùm, sợ bỏ phí mang tội chết. Thương chồng; con bao nhiêu, tôi tự nhủ phải cố gắng để vượt qua, dù rằng uống một lon sữa có khi kéo dài đến một tiếng đồng hồ..chưa xong. Vị Bác sĩ của tôi còn cẩn thận dặn đủ điều, nào là phải “cữ ăn những trái cây sống mà có vỏ mỏng, sợ bị nhiễm trùng mà mình không thấy được, tất cả rau củ đều phải luộc chín, cữ ra đám đông vì dễ bị …lây bệnh của họ…, nhất là không nên uống những loại  ..nutrition, không giúp gì cho việc chữa bệnh. Thế là tôi cứ trùm mền nằm nhà xem phim vui cười của Mỹ, để đầu óc …thảnh thơi. (Vị Giáo sư nguyên là hiệu trưởng trường TH năm xưa, Thầy ở tận bên Đan Mạch, có dịp sang Mỹ, Thầy đến thăm học trò bị bệnh, Thầy nhìn học trò mà.. hỡi ôi, vì cái đầu thì…trọc lóc, mà vừa giải phẩu xong dây nhợ mang lòng thòng, Thầy nói: nhìn mà muốn khóc, Thầy bảo khi nào …tóc mọc lại nhớ chụp hình gửi cho Thầy…mừng! và bây giờ thì Thầy đã..mừng.)

Gia đình nào còn vợ chồng thuận thảo, những lúc bệnh đau mới thấy nó quí hiếm dường nào. Chồng tôi vẫn phải đi làm full time, vì phải giữ bảo hiểm quá tốt, chỉ phải trả tiền co pay và một số “out of pocket để được vô thuốc, nếu không có tiền để trả cho bệnh viện, mình…đi thẳng như chơi, (người có “trợ cấp bảo hiểm y tế của chính phủ xin không đề cập đến). Buổi sáng phải đưa vợ đi nhà thương, chiều đi làm cả đi lẫn về 10 tiếng, còn phải lo làm …y tá bất đắc dĩ khi tôi đi giải phẩu về, lại còn tự lo cho bao tử của mình. Nói chung là bao thầu mọi chuyện từ A đến Z, ở sở làm cứ hai tiếng gọi về nhà thăm vợ…có sao không? Ngần ấy chuyện, nếu bệnh nhân vợ còn “than thở” thì làm sao kham nổi. Câu nói “không có gì” hay “không sao hết” rồi cố gắng cười hìhìhi…Chuyện gì cũng sẽ qua thôi. Thương chồng và cảm ơn biết dường nào.

Tôi cũng có viết “Một ngày vui” sau khi chấm dứt những ngày Radiation.

Một ngày vui

Một ngày đi qua mà mình còn mạnh khỏe là một ngày vui, nhất là trong thời gian “chữa bệnh”. Không biết có bao nhiêu người đi đến bệnh viện mà phải “đếm” từng ngày như tôi không? Hôm nay là ngày cuối cùng trong 33 ngày chạy “radiation”, một trong 3 cách trị liệu bệnh “cancer” mà tôi đã chịu đựng trong suốt thời gian qua. (dĩ nhiên thời gian chữa trị bằng phương pháp chemo, giải phẩu đã qua rồi, nhưng không phải đi bệnh viện hằng ngày như đi “radiation”)

Vừa không phải dậy sớm đến bệnh viện, vừa không còn bị tiếp tục….thiêu đốt da thịt đến …phỏng nặng đen thui, ngứa rát quá trời đất, nên…khỏe vô cùng. Bây giờ chỉ còn chờ thời gian cho những vết bỏng trên da lành lặn trở lại, cũng không khó khăn gì mấy.

Vừa mừng vui cho cá nhân mình đã xong một thời gian và một phương cách trị liệu, còn vui hơn nữa khi văn phòng B/S ….trao tặng cho một mảnh “bằng chúc mừng” (Congratulation) với tất cả chữ ký của B/S + y tá, và  nhân viên trong phòng. Trước khi nhận “bằng chúc mừng”, bệnh nhân còn phải đọc những lời ..giải thích về căn bệnh, (giống như đọc lời “tuyên thệ” để vào quốc tịch hoa kỳ? chắc chỉ có ở nơi này?), xong rồi …kéo dây chuông  ba hồi vang vang, rộn rã, thế là tất cả mọi người đều vỗ tay,  có nhiều bệnh nhân ngồi phòng chờ đợi bên ngoài cũng…chúc mừng phụ. Vui thì thôi!

Cảm ơn Bác sĩ, y tá, và tất cả….nhất là chồng tôi, người đã làm …tài xế và lo lắng cho việc chữa trị bệnh tình của vợ suốt những ngày dài.

Hy vọng và hy vọng những ngày sắp đến là những ngày mạnh khỏe, không còn mang trong người tế bào bệnh nan y thời kỳ thứ ba. Vẫn chờ đợi một ngày bác sĩ báo: “chúc mừng cancer free” vào đầu tháng hai năm tới (2016), đúng theo lịch trình chữa bệnh, vẫn phải 3 tuần một lần vào bệnh viện chạy thuốc, nhưng không còn là…”thuốc độc chemo”

lthn 4/9/15

Thật ra khi chữa trị bệnh cancer, chỉ có “khó khăn” trong lúc chạy chemo, còn giải phẩu và radiation chỉ là ngoài da, đau đớn, khó chịu, bỏng rát chỉ là giai đoạn, nhưng phải chịu khó tập therapy cánh tay phía bên giải phẩu, nếu không chịu đau lúc ban đầu, cánh tay sẽ bị…cứng đơ, không cách chi giơ tay lên được, và những đầu ngón tay sẽ bị tê cứng, có hại về lâu về dài. Và tôi, đã chịu khó đến phòng tập hằng ngày khi sức khỏe vừa cho phép, cũng là cách tự giúp mình vượt qua cơn đau bệnh. Cố gắng và cố gắng.! lắm khi “tỉnh bơ” coi như mình chưa hề mắc bệnh.

Và hôm nay, lại là những ngày dài vui mừng kế tiếp, khi vị Bác sĩ trị liệu tuyên bố không còn chạy thuốc vào người nữa.(chỉ phải uống …mười năm dài, không biết có còn sống đến ngày…ngưng thuốc?) Tôi đã kéo một hồi chuông dài thật dài, mừng rơi nước mắt trong khi mọi người chung quanh đều cười vui, chúc mừng!..

Ông bà xưa thường nói “ở hiền gặp lành”. Dù có gặp trắc trở bệnh hoạn gì rồi cũng sẽ qua thôi. Nhất là những người có ‘phước đức” được sống trên đất nước Tự do, giàu có Hoa Kỳ này (?), khi nhìn lại những bệnh nhân nằm la liệt trong căn phòng ở bệnh viện tại đất nước VN. Ở đây,

 benhnhan
Bệnh nhân(đội nón) và các y tá chữa trị trong bệnhviện.

đúng là “lương y như từ mẫu”! (Có bảo hiểm tốt mà!) Các Bác sĩ thì lo lắng cho bệnh nhân, các y tá làm việc nhẹ nhàng, hỏi han săn sóc vui cười tử tế, người bệnh cảm thấy được an ủi và yên tâm chữa trị, với những phương tiện đầy đủ, vệ sinh. Cảm ơn vô cùng đến những Bác sĩ, y tá, y công, những người mang đến cho tôi sự sống còn sau cơn bệnh cancer đã đến thời kỳ thứ ba..

Làm sao cảm ơn cho hết những ân tình của chồng con, anh chị em, cháu chắt, bạn bè thân hữu chung quanh từ hội đồng hương, bạn học và trên nhiều trang mạng “ảo”, đã dành thật nhiều tình cảm, thăm viếng, hỏi han, săn  sóc, và góp lời cầu nguyện. Nhất là chồng tôi, người “bạn đời” đúng nghĩa, một người suốt những năm tháng dài chỉ biết lo cho gia đình và vợ con, người đã chăm lo từng chút một giúp cho vợ đang trị bệnh, lúc nửa đêm về sáng cùng vợ vào emergency ở nhà thương, những lúc gió mưa tầm tã chở vợ đi vào thuốc, những nửa khuya vợ lên cơn đau chuyển mình không được, và những miếng cháo ân tình dù vợ không cách chi…nuốt nổi vì bị thuốc hành.v..v… Nhiều và nhiều lắm lời cảm ơn chân thành đến với tất cả, còn sống đến….ngày nào là ngày ấy mãi mãi biết ơn.

Lê thị hoài Niệm.
2/2016

Khi trẻ em bị gieo mầm dối trá và bạo lực

Khi trẻ em bị gieo mầm dối trá và bạo lực

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
2016-04-09

033_ria04-047946_3000-622

Hồng vệ binh Trung Quốc, ảnh chụp năm 1967.

AFP

Mo Bo, một trong những người từng là Hồng vệ binh trong thời cách mạng văn hoá ở Trung Quốc đã nói rằng ông cùng rất nhiều bạn bè của mình trở thành những kẻ hoài nghi và mất hoàn toàn niềm cảm hứng với cuộc sống của mình, khi nhìn lại lịch sử và những gì mình đã tham gia.

Những kinh nghiệm “kinh hoàng”

Mo Bo đã góp tiếng nói của mình trong các hồ sơ về kinh nghiệm bạo lực tuổi thiếu niên trên tạp chí New Internationalist, sau khi đến Anh học ngành nghiên cứu về ngôn ngữ, định cư ở đó.

“Sau những gì đã diễn ra, chúng tôi rơi vào tình trạng hoài nghi, luôn hoài nghi và không còn ai có thể nói với chúng tôi về lý tưởng được nữa, vì chúng tôi sợ hãi mình sẽ rơi vào một vòng xoáy, tạo ra những điều kinh hoàng khác”, ông Mo Bo nói, những kinh nghiệm “kinh hoàng” mà ông ta nói đến là ký ức của thời niên thiếu, khi ông mới 14 tuổi.

Tài liệu trên thư viện điện tử AsianHistoryAbout cho biết vào thời Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc từ năm 1966 – 1976, tư tưởng của Mao Trạch Đông đã tập hợp được hàng chục triệu Hồng vệ binh trẻ tuổi, có người chỉ mới 12 tuổi.

Nhiệm vụ khởi đầu của các đứa trẻ đó là nhận lấy những quyền lực mà thầy cô, bạn bè, nhà trường phải e dè.

Từ chuyện hạch sách những người bạn cùng lứa về kỷ luật học sinh, dần dần chúng phát triển đến chuyện theo dõi quan điểm của thầy cô để tố cáo, lập thành tích.

Không khác gì những câu chuyện điện ảnh kinh dị của Hollywood về các đứa trẻ là hiện thân của quỷ, những Hồng vệ binh trẻ tuổi đó đã phấn khích tràn ra đường, đánh đập thầy cô của mình, lục soát nhà bạn bè mình, đập phá chùa chiền và các di tích cổ, cũng như góp phần vào đại nạn thảm sát hàng chục triệu người trong giai đoạn đó.

Mới đây, báo Tuổi Trẻ có đưa ý kiến của một giáo viên về chuyện nạn Cờ Đỏ trong các nhà trường.

Đây không phải là ý kiến đầu tiên được nói lên, mà lâu nay đã là những điều băn khoăn của giới phụ huynh và các nhà xã hội học, rằng việc trao cho những đứa trẻ trong cùng một môi trường công việc rình mò, theo dõi bạn bè mình và quyền lực “báo cáo” để trừng phạt có phản lại giá trị giáo dục chung hay không?

Hơn nữa, bệnh thành tích và quyền lực giả tạo đó tạo nên những ảo tưởng và sự dối trá như một thói quen cho những đứa trẻ, sẽ tạo ra những nhân cách và phẩm chất gì cho xã hội trong tương lai?

Nhưng không phải chỉ có những đứa trẻ bị trao quyền lực sớm bị tổn thương tinh thần, mà cả những đứa trẻ khác trong môi trường đó cũng bị ảnh hưởng.

000_APP1999090927679-400

Ảnh minh họa chụp tại Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1967. AFP PHOTO.

Bằng cách làm thân, cầu cạnh, hoặc “lót tay” cho các thành viên đội Cờ Đỏ để không bị ghi sổ khi đi học quên mang khăn quàng, cũng tạo nên một môi trường phản giáo dục và lừa dối thầy cô.

“Không chỉ học sinh sợ thành viên trong đội Cờ Đỏ mà chính thầy cô giáo cũng không muốn làm mất lòng các em đó, bởi chúng nắm trong tay quyền sinh sát của lớp”, cô giáo Phạm Huyền, tác giả của bài viết đăng tải trên báo Tuổi Trẻ ngày 3/4/2016, với tựa đề Đội Cờ Đỏ – “ngáo ộp” trá hình ở trường học đã nói đủ hết hiện trạng của nhiều trường học hiện nay, với chỉ vài dòng chữ.

Trong tài liệu về vệ sinh học đường Việt Nam do UNICEF tài trợ từ năm 2006, có tên “Formative Hygiene Research” với nhóm nghiên cứu hỗn hợp nhiều quốc gia, cũng ghi nhận việc theo dõi các bạn học sinh có “đủ vệ sinh” trong trường hay không, được giao cho các đội Cờ Đỏ (bản tiếng Anh viết là Red Flag Team) ghi vào sổ báo cáo, và rất nhiều em học sinh rất vui mừng khi trở thành người có quyền nhận xét ấy.

Đội Cờ Đỏ trong các trường học Việt Nam

Trong sách nghiên cứu về nền giáo dục Việt Nam, có tên Vietnam’s Political Process: How Education Shapes Political Decision Making(2009) của Casey Lucius, giáo sư của trường Naval War College – và từng là trợ lý dự án cho toà đại sứ Mỹ tại Việt Nam, bà cũng giới thiệu về “mô hình” khá đặc biệt về các đội Cờ Đỏ trong các trường học Việt Nam, thường được giới thiệu với tư cách “trợ giúp” cho các học sinh bạn.

Mô hình đội Cờ Đỏ này từ khi xuất hiện xuyên suốt trong cả nước vào năm 1976, đã vô hình trung vô hiệu hoá các công việc của đội ngũ thầy cô giám thị, giáo viên kỷ luật… cũng như các chức danh lớp phó kỷ luật, lớp phó học tập, lớp phó thi đua…

Và hiển nhiên biến hình thái nhóm theo dõi và kiểm tra, thậm chí quyết định giá trị của bạn cùng lứa, trở thành một cơ cấu chính trị trong một môi trường giáo dục.

Cựu thành viên Hồng vệ binh Mo Bo nói rằng thời tuổi trẻ, ông tin rằng những điều mình làm là tạo ra con người và xã hội tốt đẹp.

Cuộc gặp mặt những người bạn cùng thời, sau đó 50 năm, chỉ đem lại một cảm giác chua chát và niềm ước muốn tuyệt vọng: phải chi họ có được một cuộc sống học đường bình thường.

Điều họ mang nặng là tuổi thiếu niên của mình, họ là những kẻ bị gieo mầm dối trá và bạo lực, khiến hôm nay họ ngại ngùng với cả con cháu.

Trong sự cuồng điên và nhiệt thành của mình, các thiếu niên được trao quyền lực ấy luôn là ngọn lửa âm ỉ của nạn bùng phát bạo lực thiếu lý trí.

Lịch sử Trung Quốc ghi nhận rằng hàng triệu các di tích và văn hoá cổ quý giá của đất nước này bị tiêu diệt. Nhiều học giả và giáo sư bị đánh đập chôn sống bởi chính các học sinh và sinh viên của mình, mà ngày hôm qua họ chỉ mới làm nhiệm vụ nhỏ bé là theo dõi và ghi chú về trường học của mình.

Rất nhiều bậc cha mẹ đã khóc và nói rằng họ đã thiếu dứt khoát và tri thức để ngăn con em mình tham gia các đội học sinh được giao quyền hành động ấy.

Một khi môi trường giáo dục bị chi phối bởi những hoạt động không thuần tuý giáo dục, mà nặng về răn đe và trừng phạt, tức môi trường của trẻ em đã bị xoá mờ ranh giới của trừng giới và học đường.

Có thật sự các ngôi trường Việt Nam cần phải giao việc và quyền, khác với tôn chỉ của mình, cho các học sinh?

Ở thế kỷ 21, việc mơ ước rằng các ngôi trường trên đất nước này chỉ có giáo dục – và thuần tuý giáo dục mà thôi – có phải là một điều quá nhiêu khê?

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Số người Việt Nam đầu tư vào Mỹ để có thẻ xanh tăng vọt

Số người Việt Nam đầu tư vào Mỹ để có thẻ xanh tăng vọt
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Nhà nước cố chèo kéo tư bản ngoại quốc đổ tiền vào các dự án đầu tư sản xuất tại Việt Nam, người giàu có tại nước này lại đua nhau đổ tiền vào Mỹ để lấy thẻ xanh sống ở đó.

Một bài viết tường thuật trên tờ Lao Ðộng hôm Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016 về một cuộc hội đàm ở Hà Nội giới thiệu chương trình đầu tư định cư Mỹ EB-5 với lời mời hấp dẫn: Chỉ cần đầu tư $500,000 vào Mỹ sẽ được cấp “thẻ xanh.”


Một chương trình hội thảo giới thiệu đi Mỹ đầu tư trực tiếp EB-5 đổi thẻ xanh vĩnh viễn của 36Visa phát trên mạng YouTube. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo Lao Ðộng kể lại về cuộc hội đàm được tổ chức tại một khác sạn sang trọng, “con số do công ty tư vấn USIS (công ty tư vấn cho cá nhân và công ty Việt Nam đầu tư vào thị trường Mỹ) đưa ra khiến nhiều người giật mình: Năm 2015, chỉ riêng với loại hình EB-5 tăng chóng mặt so với các loại hình khác như EB-1, EB-2. Cụ thể EB-5 được dành riêng cho các nhà đầu tư và các doanh nhân đầu tư vốn đáng kể vào nền kinh tế Mỹ, từ 6,418 suất năm 2014, đến năm 2015 đã tăng vọt 17,662 suất.”

Trong đó, dẫn đầu là Trung Quốc, và Việt Nam hiện đang đứng thứ hai, bỏ xa hàng loạt các nước khác như các nước ASEAN hay Ấn Ðộ,…. báo Lao Ðộng kể lại.


Một website quảng cáo đầu tư để nhận “thẻ xanh” định cư tại Mỹ. (Hình: Lao Ðộng)

Hình thức đầu tư EB-5 của chính phủ Mỹ là đầu tư $500,000 hoặc $1 triệu vào dự án EB5. Mỗi “suất” đầu tư phải tạo ra được tối thiểu 10 việc làm toàn thời gian cho người lao động Mỹ. Nhà đầu tư và gia đình được cấp thẻ xanh Mỹ.

Tuy nhiên, luật lệ Mỹ không đơn giản, đặc biệt Hoa Kỳ khá chặt chẽ về “chống rửa tiền.” Nếu người đổ tiền vào Mỹ đầu tư mà không chứng minh được nguồn gốc “sạch” của ngân khoản, sẽ bị trở ngại.

Hồi năm ngoái, có một số bản tin của VNExpress và Tuổi Trẻ viết về những công ty ngoại quốc tới Việt Nam mở văn phòng hoặc sử dụng những công ty môi giới ở Việt Nam để lôi kéo, bắt mối cho dịch vụ đầu tư lấy thẻ xanh EB-5. Trên Internet, người ta có thể tìm thấy một số công ty quảng cáo dịch vụ này.


Thuyết trình tại Sài Gòn về dự án đầu tư và triển vọng tương lai qua chương trình đầu tư EB5. (Hình: VNExpress)

VNExpress ngày 21 tháng 9, 2015 có bản tin tường thuật về cuộc hội thảo tại khách sạn Renaissance Riverside Hotel Sai Gon, số 8-15 đường Tôn Ðức Thắng, quận 1, giới thiệu chương trình mà người ta đổ ra khoảng $500,000 “đầu tư vào dự án Europa Village, bạn có cơ hội nhận được thẻ xanh cho cả gia đình định cư tại Mỹ.”

Ðáng để ý là bản tin này nói dự án Europa Village do thị trưởng thành phố Temecula làm chủ tịch dự án đầu tư. Theo tường thuật, dự án Europa Village là một tổ hợp nhà máy rượu, nằm ngay trên ranh giới thành phố Temecula, quận Riverside, California.

“Dự án có diện tích khoảng 188,000 feet vuông (tương đương 16,920 mét vuông) gồm nhà máy rượu vang, cơ sở nếm rượu vang, 60 phòng khách sạn bổ sung, một spa, nhiều nhà hàng, cơ sở phục vụ tiệc lớn trong nhà, ngoài trời và các địa điểm bán lẻ hàng hóa. Tổ hợp này sẽ nằm trên diện tích 45 mẫu Anh (hơn 18 ha) ngay phía đông lối vào chính của thung lũng rượu vang Temecula. Khu vực này hiện có 44 nhà máy rượu vang và dự kiến mở rộng đến 104 nhà máy trong vòng 20 năm tới,” VNExpress kể.

Trước đó, ngày 17 tháng 8, 2015, tờ Tuổi Trẻ kể lại một số trường hợp đầu tư đổi lấy thẻ xanh với nhiều bấp bênh và “rủi ro cao” vì người đầu tư không nắm vững vấn đề. Nếu việc đầu tư không được chấp thuận, chi phí môi giới dịch vụ hàng chục ngàn có thể mất trắng. (TN)

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ

Sưu tầm

Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác, có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lí này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm.

Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm: mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc.

Nhưng những công ty này không hiểu vì lí do gì, lúc đầu còn rất nhiệt tình nhưng về sau đều từ chối cô. Thất bại liên tiếp khiến cô tức tối. Cô nghĩ nhất định những công ty này phân biệt chủng tộc, không nhận người nước ngoài.

Cuối cùng có một lần, cô trực tiếp đến bộ phận nhân lực của một công ty, yêu cầu giám đốc đưa ra một lý do vì sao từ chối cô. Kết cục họ đưa ra một lí do khiến cô không ngờ.

“Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt chủng tộc, ngược lại chúng tôi rất coi trọng cô. Lúc cô đến phỏng vấn, chúng tôi đều rất hài lòng với môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô, thực ra nếu xét trên phương diện năng lực, cô chính là người mà chúng tôi tìm kiếm.”

“Vậy tại sao công ty ngài lại không tuyển dụng tôi?”

“Bởi chúng tôi kiểm tra lịch sử tín dụng của cô và phát hiện ra cô đã từng ba lần bị phạt tiền vì tội trốn vé”

“Tôi không phủ nhận điều này, nhưng chỉ vì chuyện nhỏ này, mà các anh sẵn sàng bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần được đăng luận văn trên báo như tôi sao?”

“Chuyện nhỏ? Chúng tôi lại không cho rằng đây là chuyện nhỏ. Chúng tôi phát hiện, lần đầu tiên cô trốn vé là khi mới đến đất nước chúng tôi được một tuần, nhân viên kiểm tra đã tin rằng do cô mới đến và vẫn chưa hiểu rõ việc thu vé tự giác, cho phép cô được mua lại vé. Nhưng sau đó cô vẫn trốn vé thêm 2 lần nữa.”

“Khi đó trong túi tôi không có tiền lẻ.”

“Không, không thưa cô. Tôi không thể chấp nhận lí do này của cô, cô đang đánh giá thấp IQ của tôi ư. Tôi tin chắc trước khi bị bắt trốn vé, cô đã trốn được cả trăm lần rồi.”

“Đó cũng chẳng phải tội chết, anh sao phải cứng nhắc như vậy? Tôi sửa là được mà.”

“Không không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ hai điều: Một là cô không coi trọng quy tắc. Cô lợi dụng những lỗ hổng trong quy tắc và sử dụng nó. Hai, cô không xứng đáng được tin tưởng. Mà rất nhiều công việc trong công ty chúng tôi cần phải dựa vào sự tin tưởng để vận hành, nếu cô phụ trách mở một khu chợ ở một nơi nào đó, công ty sẽ cho cô toàn quyền lực phụ trách. Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi sẽ không lắp đặt các thiết bị giám sát, cũng như các hệ thống xe công cộng mà cô đã thấy đó. Vì vậy chúng tôi không thể tuyển dụng cô, tôi có thể chắc chắn rằng, tại đất nước chúng tôi, thậm chí cả châu Âu này cô sẽ không thể xin vào được nổi một công ty nào đâu.”

Đến lúc này cô mới tỉnh ngộ và cảm thấy hối hận vô cùng. Sau đó, điều khiến cô ghi nhớ nhất là câu nói cuối cùng của vị giám đốc này: Đạo đức có thể bù đắp cho sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng trí tuệ mãi mãi không thể bù đắp cho sự thiếu hụt về đạo đức.

Đạo đức là phẩm chất cơ bản nhất của con người, cũng là nhân cách của một người. Một người dù ưu tú đến đâu nhưng nhân cách có vấn đề, cũng sẽ mất đi niềm tin và sự ủng hộ của người khác. Trên phương diện việc làm, những hành vi mất nhân cách thế này càng đáng sợ hơn, vì cái lợi nhỏ trước mắt mà phá bỏ nguyên tắc, điều này chắc chắn sẽ hủy hoại tiền đồ của bạn. Tôi cho các bạn lời khuyên chân thành, trong sự nghiệp cần phải dựa vào năng lực và chân thành của bản thân, mất thứ gì cũng không bằng mất nhân phẩm.

sưu tầm

https://www.facebook.com/bang.uong.5/posts/570687559769956

Cuộc đời và cái chết rất buồn của một con người chính trực

Cuộc đời và cái chết rất buồn của một con người chính trực
Nguoi-viet.com

Bài này của tác giả Mai Thanh Truyết viết sau khi cố BS Dương Quỳnh Hoa mất. Mới mà đã 8 năm rồi. Một số các bạn muốn biết về nữ chí sĩ được xem là người đầu tiên thẳng thắn ra khỏi đảng cộng sản ở Việt Nam vào năm 1979. Bài viết tương đối đầy đủ. Ai chưa đọc thì nên đọc, vì gần đây rộ lên phong trào ra khỏi đảng của những nhân vật một thời sùng kính đảng cộng sản như một tôn giáo. Hôm nay, tôi xin lưu lại ở đây như một nén hương tưởng nhớ 8 năm ngày mất của Bà, một đồng nghiệp đàn Chị, mà tôi đã từng gặp, và tâm sự năm 1986 và vài lần sau đó năm 2001. Vẫn còn nhiều vấn đề về Bà mà một số bài báo phỏng vấn sau này đều bịa đặt để bôi nhọ Bà.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Mai Thanh Truyết

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày Thứ Ba, 28 tháng 2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Ðài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28 tháng 2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trải và chia sẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

ÔB DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Ðà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?).Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Ðảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Ðảng CSVN. Tháng 12, 1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu-Mõ Vẹt xuyên qua Ðồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như ông chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo. Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ bộ trưởng Kinh Tế nhưng ông từ chối.

ÔB DQH và Ðảng Cộng Sản VN

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ,” Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau “Các ‘toi’ muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Ðừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng.” Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Ðại Học Ðà Lạt), Nguyễn Ðình Long (Nha Hàng Không Dân Sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4, 1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7, 1975, Hà Nội chính thức giải thể Chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Ðịnh… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ: “Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Ðảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.” Ðến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ thứ trưởng. Dĩ nhiên là Ðảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng Ðảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố: “Trong hiện trạng của Ðất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập trung tâm nhi khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các loại vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì… nhân dân (của Ðảng!). Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1 tháng 12, 2003 tại Hà Nội: “Hiện Việt Nam có 5.1 triệu người khuyết tật chiếm 6.3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92.3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là: “Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn.” Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói: “Ðây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại.”

BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn Nhân Chất Ðộc Da Cam/Dioxin Việt Nam ngày 10 tháng 1, 2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội Vụ ngày 17 tháng 12, 2003. Ðây là một hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của hội lúc ban đầu gồm:

– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

– Thượng tướng Ðặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QÐND làm Chủ tịch;

– GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng: “Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hóa học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp.” Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hóa học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Ðược biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30 tháng 1, 2004, hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Ðược biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Ðại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoản. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

– Hội Nạn Nhân Chất Da Cam/Dioxin Việt Nam;

– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Ðại Học Hà Nội;

– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

– Những người cùng cảnh ngộ.

Ðây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để: (1) Ðòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) Yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) Ðể hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Ðại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Ðại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Ðể tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5, 2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì

“Người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

“Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.” Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng: “Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Ðến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện. Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bõ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ðối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Ðất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QÐ-TTg ký ngày 21 tháng 10, 2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết cưỡng quyền.

Tổ quốc là đất nước chung – Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau. Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3 tháng 3, 2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân Y miền Nam, một người bạn chiến đấu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Niềm tin vào cái ác

Niềm tin vào cái ác

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, viết từ Sài Gòn
2015-04-09

Con gái nạn nhân Ngô Thanh Kiều hôn di ảnh cha trong phiên xét xử 4 công an đánh chết anh Kiều

Photo courtesy of phapluatdoisong.com

Your browser does not support the audio element.

Trong cùng một buổi sáng đầu tháng 4, khi ông Lê Đức Hoàn, phó thủ trưởng cơ quan Cảnh sát đều tra TP. Tuy Hoà nhìn nhận “chúng tôi đã sai rồi” trước vành móng ngựa về vụ 4 công an đánh đập, tra tấn và bức tử công dân Ngô Thanh Kiều, thì cũng là lúc ở Hưng Yên lại tái diễn một sự kiện tương tự.

Anh Nguyễn Đức Duân, 34 tuổi, khi bị đưa về phòng tạm giam của công an huyện Khoái Châu (Hưng Yên) đã bất ngờ đột tử, dĩ nhiên, trên người xuất hiện nhiều vết đánh đập. Một kiểu chết mà rất nhiều phòng tạm giam, đồn công an trên toàn cõi Việt Nam vẫn nói mình vô can, bất chấp trong 3 năm (2011 đến 2014) có đến 226 người đã chết tương tự như anh Kiều, anh Duân vậy.

Những công dân chưa bị kết án này, được tìm thấy có nhiều chứng cứ đã bị một hoặc nhiều người đánh đến chết, ở khu vực chính quyền quản lý. Trong trường hợp anh Kiều, giám định viên thi thể cho biết họ không thể đếm hết các vết thương tích trên người của nạn nhân. Điều làm người ta kinh sợ là một bộ mặt khác trong đời sống đã lộ diện: có những nơi đã gây nên tội ác và tin cái ác là cần thiết, người dân chỉ còn biết ngửa mặt lên trời cất lên tiếng khóc bi phẫn.

Lời của một công an viên đánh chết đồng bào của mình, nói rằng họ chỉ muốn “giải quyết mọi việc cho nhanh”. Cái “nhanh” đó chưa biết đã đem lại được bao nhiêu đáp án đúng của công lý nhưng đã cướp đi mạng sống của con người, thoả mãn những thú tính và gieo rắc sự sợ hãi trong nhân dân về những nhân vật mặc sắc phục, sẳn sàng bóp chết những người cùng màu da, tiếng nói với mình.

Mới đây (ngày 9-4) thông tin quốc tế cho biết, Dzhokhar Tsarnaev, 21 tuổi, sẽ phải ra toà để chịu phán xét về vụ khủng bố trong cuộc đua marathon ở Boston (Mỹ) vào năm 2013. Tsarnaev đã cùng anh mình nổ bom, làm chết 3 người và hàng trăm người bị thương mà mọi chứng cứ nay đã rõ ràng. Thế nhưng toà án và cảnh sát Mỹ đã phải mất đến 2 năm để điều tra và thu thập dữ liệu, để đưa ra toà một kẻ khủng bố còn khoẻ mạnh và xét xử. Trả lời Q.News, văn phòng công tố nói rằng họ đã tận lực cố gắng để “nhanh” đưa vụ này ra toà.

“Nhanh” của chính quyền ở những nơi khác nhau, rõ ràng cũng khác nhau. Có nơi làm tất cả để trình bày về cái ác. Có nơi thì chính nhân viên công quyền giành nhau để vào vai cái ác, thậm chí tin vào cái ác.

Cũng có ý kiến tiếc thương cho thanh niên 21 tuổi Dzhokhar Tsarnaev, với lý luận rằng “người chết thì đã chết rồi, thôi thì hãy dành chút cơ hội cho người còn sống”. Lập luận này cũng được nghe quanh phòng xử án anh Ngô Thanh Kiều, rằng như thế nào chuyện cũng đã “lỡ” rồi, có xử nặng thì cũng không giúp anh Kiều sống lại. Quả đúng vậy, người chết thì đã chết rồi, nhưng cái ác vẫn nhởn nhơ sống và còn được những cơ hội đẹp, như một dẫn chứng mạnh mẽ cho niềm tin vào cái ác.

3 năm và 226 công dân chết trong nhiều khu vực của chính quyền có nhiều không? Và con số này vẫn không dừng lại. Nếu công lý không được lập lại. Nếu sự nguỵ biện và dung dưỡng cho cái ác vẫn còn mạnh mẽ, người dân chỉ còn có thể suy ra rằng đã có những nơi trên đất nước này, như Phú Yên hay Hưng Yên… công an đã trở thành những bộ phận cát cứ hoành hành trên tính mạng con người. Lịch sử nhân loại vẫn ghi lại rằng việc im lặng gieo rắc sự sợ hãi trong tâm lý dân chúng là một phép tính cai trị, đời đời bị nguyền rủa, như bạo chúa Nero (54-68) khi không còn đủ khả năng đồng hành cùng người dân La Mã đi đến tương lai.

Xã hội Việt Nam có quá nhiều ví dụ cho thấy những kẻ phạm tội trong chính quyền, dù trên danh nghĩa là bị kỷ luật, nhưng sau đó lại được chuyển vào những vị trí bù đắp khác, vị trí có thể còn cao hơn, thậm chí thong dong hơn.

Mọi thứ đang đảo lộn. Lẽ phải bị thử thách như với những người cần phải tử đạo. Cái ác có đang là thứ để tin, để chọn, như một cách để khác biệt với đồng loại mong manh của mình?

Ngày xưa, các bậc cha mẹ vẫn mong con mình thành đạt trong đời, để là bác sĩ, kỹ sư… Nhưng thời nay, không ít gia đình chạy vạy cho con mình vào ngành công an như một bước đi vững chắc và an toàn trong đời. Mọi ngành nghề đều bình thường, và là điều công chính đáng tự hào biết mấy trong xã hội an sinh. Nhưng nếu từ những câu chuyện như của anh Kiều, anh Duân… mà công lý và pháp luật không thể thượng tôn, cái ác trở thành một loại niềm tin, dù chỉ là của một phần rất nhỏ trong dân chúng, thì cũng đó là ngày bất hạnh của dân tộc Việt Nam đã điểm.

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

 

TÌNH MUỘN TÌNH GIÀ

TÌNH MUỘN TÌNH GIÀ

Ảnh cưới của chú rể 80 tuổi và người vợ ‘nhặt’ từ bãi rác

Gặp nhau ở bãi rác, về chung sống trên bãi giữa sông Hồng (Hà Nội) gần nửa thế kỷ, ông Thành bà Thủy lần đầu mặc đồ cô dâu chú rể khi đã trên dưới 80.
Ông Nguyễn Văn Thành (80 tuổi) mồ côi cha mẹ từ nhỏ, đã phiêu bạt khắp nơi xin ăn kiếm sống rồi tình cờ gặp bà Nguyễn Thị Thủy (hiện 75 tuổi) ở một bãi rác tại Hà Nội. 
Con số 26/9/1969 ông Thành xăm lên cánh tay chính là ngày ông gặp và “nhặt” được vợ. “Nhìn bà ấy lúc đó ngơ ngác, tôi đến hỏi thăm thì biết hoàn cảnh cũng éo le nên rủ về chung một nhà luôn”, ông kể lại. Người phụ nữ quê Thái Bình, mồ côi mẹ từ nhỏ đó đã tìm thấy sự đồng cảm ở người cùng cảnh ngộ và đồng ý theo về làm vợ ông.
Hai vợ chồng ông cùng ngày ngày lượm rác, tối ngủ bờ bụi, rau cháo bên nhau. Năm 1990, do cuộc sống khó khăn, ông bà quyết định chuyển tới bãi sông Hồng thuộc phường Phúc Xá, Hà Nội để an cư.
Suốt từ đó đến nay, họ vẫn cùng nhau chia sẻ cuộc sống đạm bạc trong con chòi nhỏ ở bài giữa. Ngoài thu gom phế liệu để đổi lấy vài chục ngàn đồng lo từng bữa ăn, ông Thành còn đảm đương thêm nhiệm vụ vớt xác trôi sông, cứu người không may ngã nước…
Về sống với nhau suốt gần nửa thế kỷ, cặp vợ chồng già chưa từng nghĩ sẽ có ngày họ mặc đồ cô dâu chú rể, ôm hoa, bưng đồ lễ làm đám cưới. Một nhóm các nhiếp ảnh gia tại Hà Nội đã giúp ông bà thực hiện ước nguyện này.
Ông Thành chia sẻ, đến bây giờ, tình cảm ông dành cho vợ vẫn như ngày đầu. Ông thương bà lấy phải người chồng cảnh cùng khổ nên chẳng nhờ cậy được gì.
Điều ông đau đáu nhất là thương vợ chưa một lần được hưởng niềm hạnh phúc làm mẹ. Ông kể rằng mình sống đơn giản không nghĩ ngợi gì nhiều nhưng bà thì héo hon vì buồn dù chẳng nói ra.
“Con cái không có, chỉ có hai vợ chồng già, tôi cứ một câu nhịn 9 câu lành, cho đến khi khuây khỏa, ổn định ngồi mâm cơm, 2 ông bà lại tâm sự, nói chuyện với nhau”, ông Thành chia sẻ trong một phóng sự truyền hình.
Trong căn chòi nhỏ của cặp vợ chồng này hầu như không có đồ đạc gì giá trị nhưng ai đến cũng phải chú ý ngay tới hai chiếc điếu cày đặt ngay ngắn. “Phải sắm hai cái cho khỏi tranh nhau”, ông Thành nói vui.
Ông Thành kể, nhiều lúc buồn, bà Thủy hay ngồi hút thuốc lào một mình, có khi còn uống rượu. Ông hiểu tâm sự của bà và những lúc có chút tiền, ông còn mua bia về cho bà uống.
Còn bà Thủy, khi được hỏi về điều cảm thấy thích nhất ở chồng, bà nói thẳng thắn: “Chả thích điều gì, cốt phải thật với tôi, đừng nên dối trá là được rồi”.
Tác giả bộ ảnh cưới của cặp vợ chồng đặc biệt này, nhiếp ảnh gia Lê Cao Hải cho biết, với anh, được ghi lại những hình ảnh này là một sự may mắn bởi nó khiến anh thay đổi suy nghĩ về tình yêu và hạnh phúc.
Bộ hình này sau khi được chia sẻ trên trang cá nhân của anh Hải đã thu hút sự chú ý của đông đảo người dùng mạng, với hơn 22.000 người thích, gần 4.600 lượt chia sẻ và hơn 1.000 bình luận.
Vương Linh
Ảnh: Lê Cao Hải

“Xác loài người ngày sau sống lại” – Là xác nào sống lại?

“Xác loài người ngày sau sống lại” – Là xác nào sống lại?

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

dongten.net

Xin cho con hỏi trong kinh Tin Kính, có tín điều “tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Cha xứ dạy chúng con rằng chúng ta sẽ không sống lại với thân xác hiện nay vì nó đã bị hoen ố bởi tội lỗi rồi nhưng thân xác sẽ phục sinh là một thân xác khác đang do chính Chúa Thánh Thần cất giữ. Xin cho con biết có đúng như thế không ạ?

Chào bạn,

Nhiều người trong chúng ta cho rằng chỉ có linh hồn ta là được về trời, còn thân xác là thứ nhơ nhuốc, đầy những xấu xa, nên không thể được cứu. Vào những thế kỷ đầu, có rất nhiều trường phái triết học cho rằng thân xác chính là tù ngục của linh hồn, là cái đã giam hãm linh hồn con người. Hồn lìa khỏi xác cũng hệt như một cuộc giải thoát. Bởi thế, việc phải trở lại kết hiệp với xác chẳng khác nào đưa hồn vào tù ngục. Chính vì lý do này mà thánh Phaolo đã thất bại khi rao giảng về việc người chết sống lại tại Aten, một thành phố đậm mùi triết coi thường thân xác và chỉ tin vào sự bất tử của linh hồn (x.Cv 17,16-34). Ngoài ra, thật khó để có thể tưởng tượng được là khi thân xác phục sinh thì nó sẽ thế nào. Thân xác phục sinh của tôi sẽ là thân xác lúc tôi bao nhiêu tuổi? Những người đã chết từ hàng ngàn năm trước, xương cốt đã thành tro, họ sẽ sống lại thế nào? Thậm chí, có những người đã chết không toàn thây, bị thú dữ ăn thịt, xé xác… thì phục sinh ra sao? Còn nữa, chẳng lẽ những người có thân hình xấu xí, bị thương tật, bị khiếm khuyết gì đó lại phải sống thân xác tồi tệ này khi phục sinh? Nếu thế thì thà chẳng phục sinh còn hơn!

Vậy tại sao Giáo Hội lại tin rằng thân xác cũng phải phục sinh? Là bởi vì chúng ta chỉ có thể là con người trọn vẹn khi có cả hồn (phần linh thiêng) và xác (phần vật chất). Nếu chỉ có hồn hoặc chỉ có xác thôi thì không phải là ta. Thân xác là một phần của ta, hay thậm chí có thể nói, nó chính là ta. Ta sẽ không thể nhận ra, tiếp xúc, đụng chạm với ai nếu người đó không có thân xác, và ngược lại. Trong khi đó, Đức Giêsu đến thế gian này là để cứu con người của ta một cách trọn vẹn, chứ không chỉ cứu linh hồn ta mà thôi. Nếu Ngài chỉ cứu linh hồn ta thì Ngài đang cứu “cái gì đó”, chứ không phải là ta. Đấng Cứu Thế đã muốn mặc lấy xác phàm và trở thành một con người thực thụ chính là muốn cứu lấy cả “xác phàm”, phần vật chất của con người, chứ không chỉ là phần thiêng liêng. Bởi thế, nếu thân xác không được phục sinh thì việc xuống thế làm người của Đấng Cứu Thế trở nên vô nghĩa. Tin vào sự phục sinh của thân xác chính là tin vào phẩm giá cao quý của thân xác và tin vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người xét như một tổng thể đầy đủ của hồn và xác.

Nhưng phải làm sao để giải quyết những vấn đề khúc mắc ở trên liên quan đến thân xác? Hay nói cách khác, chúng ta cần phải hiểu như thế nào về sự phục sinh của thân xác? Dựa vào mặc khải của Kinh Thánh và dựa vào lý trí, chúng ta có thể tìm được câu trả lời dù rằng trong chúng ta, chưa ai trải nghiệm được điều này. Hơn hết, chúng ta có một mẫu gương rõ ràng và khả tín nhất là chính Đức Giêsu phục sinh. Căn cứ vào những gì Kinh Thánh nói với chúng ta về Đức Giêsu sau khi Ngài đã phục sinh, chúng ta có thể biết chắc hai điều:

Thứ nhất, thân xác được phục sinh phải là một thân xác đã chết vì nếu không chết thì cũng sẽ không có chuyện phục sinh. Đó cũng phải là thân xác mà ta đang sở hữu đây vì nếu hồn của ta kết hợp với một thân xác khác thì sẽ trở thành người khác, chứ không phải là ta. Nếu Thiên Chúa làm nên một cái xác khác hoặc sử dụng cái xác của ai đó để kết hợp với hồn của ta thì càng không phải là ta. Quả vậy, khi Đức Giêsu phục sinh, thân xác phục sinh của Ngài là chính thân xác Ngài đã sống trước đó, với tất cả những dấu đinh, vết sẹo (x. Lc 24,39). Thân xác Ngài phải như trước thì các môn đệ mới nhận ra Ngài được. Nếu Đức Giêsu phục sinh với một thân xác khác thì hẳn là xác chết của Ngài vẫn còn trong mộ. Nhưng thực tế là từ sau ngày phục sinh, không ai – kể cả những kẻ thù của Ngài – có thể tìm thấy xác Ngài. Ngoài ra, thân xác được phục sinh phải là thân xác mà ta có thể đụng chạm được cách cụ thể, chứ không phải là một cái bóng mờ mờ ảo ảo. Đức Giêsu cũng khẳng định với các môn đệ rằng Ngài vẫn “có xương có thịt”, chứ không phải ma (x.Lc 24,39). Chính Tôma là người đã được Đức Kitô phục sinh cho đụng chạm vào cạnh sườn mình (x. Ga 20,27).

Thế nhưng – điều thứ hai và điều rất quan trọng – thân xác phục sinh là một thân xác được biến đổi theo một cách thức mà thánh Phaolo gọi là “mầu nhiệm” (1Cr 15,51), bởi vì “xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (1Cr 15,50). Ngài còn nói thêm: “…tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát… Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1Cr 15,52-53). Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolo nói: “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,31). Ở đây, ta thấy thánh nhân nói rằng Đức Giêsu sẽ biến đổi “thân xác chúng ta” (chứ không phải một thân xác lạ lẫm nào khác), và thân xác được biến đổi ấy sẽ giống như “thân xác vinh hiển của Người”, nghĩa là thân xác phục sinh của Đức Giêsu thế nào thì thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ giống như vậy.

Như thế, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ là một thân xác không còn bị huỷ hoại, không còn vết tích của sự dữ, không còn lệ thuộc vào thời gian không gian, không phải chịu một giới hạn nào, không bị lão hoá, không bệnh tật…Thân xác ấy sẽ như thân xác của Đấng Phục Sinh. Chúa sẽ thanh tẩy thân xác hư nát này của chúng ta thành một thân xác thanh thiết và ngập tràn ân sủng. Thân xác ấy trông như thế nào, chẳng ai trong chúng ta biết được, nhưng với mạch suy tư này, ta có quyền đi đến kết luận rằng vào lúc phục sinh, người khác nhìn vào ta thì sẽ thấy ta và nhận ra ta (vì ta có thân xác) và sẽ nhìn thấy nơi ta một sự sáng láng tuyệt đẹp, thanh khiết đến lạ kỳ (vì những hậu quả xấu xa của sự dữ và tội lỗi làm cho thân xác của chúng ta bị huỷ hoại và xấu đi đã bị ơn cứu độ của Đức Giêsu gỡ bỏ).

Thánh Phaolo cũng lấy hình ảnh hạt giống gieo vào đất và nảy mầm thành một cây mới để minh hoạ cho sự phục sinh này. Khi chẻ đôi một hạt lúa, ta không hề thấy trong đó có cây lúa nào. Vậy mà khi gieo xuống đất, tưới nước, bón phân, ta lại thấy chính tại nơi ta gieo hạt lúa nảy sinh một cây lúa. Cây lúa này chính là hạt lúa lúc trước chứ không phải từ một hạt gì khác, hay thậm chí là hạt lúa khác. Ta biết chắc rằng cây lúa này từ hạt lúa kia mà ra, nhưng ta không biết được là tại sao hạt lúa lại trở thành cái cây như vậy. Hạt lúa trước kia chính là cái cây mà ta đang thấy lúc này đây. Hạt lúc không còn nữa, chỉ còn lại cây lúa. Nói cách khác, hạt lúa ấy đã được biến đổi để trở nên một cái gì đó khác đi, hoàn hảo hơn, tràn đầy sức sống hơn.

Hình ảnh minh hoạ này giúp chúng ta hiểu về sự biến đổi thân xác diệu kỳ mà ơn phục sinh của Thiên Chúa sẽ thực hiện trên chúng ta. Chúng ta chỉ đang ở trong giai đoạn “hạt lúa”, cần phải chết đi trong niềm tin vào Đấng Phục Sinh, để Đấng ấy làm nơi ta một sự biến đổi lạ thường chỉ “trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên.” (1Cr 15,52).

Đề tài này vẫn còn nhiều chi tiết cần bàn đến nhưng hy vọng một vài gợi mở nhỏ bé này đã đủ để giải đáp thắc mắc của bạn cũng như khơi lên niềm hy vọng trong lòng bạn.

Thân ái,

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Quê Ngoại

Quê Ngoại

Vân Hà

Hè đến theo mẹ về thăm ngoại
Cả đêm không ngủ cứ nôn nao
Buổi sáng tinh mơ, sương còn đọng
Xe đò, dằn xóc, vẫn muốn mau

Ngồi ngắm hai bên đường chăm chú
Qua Cầu Ông Thìn nắng vừa lên
Nhìn mây tưởng tượng hình muôn thú
Líu lo, con nói, mẹ đố tên

Cần Giuộc rồi ngang qua Chợ Trạm
Nhà Dài rồi sẽ tới Tân Lân
Cần Đước xe qua nhìn thấy chợ
Cồn cào nghe bụng cứ lâng lâng

Cần Đước không xa bằng Tân Trụ
Chưa hề đặt bước tới Tầm Vu
Xa thêm Đức Huệ cùng Mộc Hoá
Không bằng Nàng Hương ở Chợ Đào

Thơm ngọt không đâu bằng Bến Lức
Rượu nếp đừng quên tới Gò Đen
Bình Chánh giờ lạc qua Thành Phố
Chợt nhớ Phước Đông , xã Ao Xoài

Bần Ổi, lo nghèo Kinh Nước Mặn
Mắm Còng con nhớ Cầu Nổi xưa
Ký ức , đâu rồi phà Mỹ Lợi?
Chiếc cầu sừng sững nối Gò Công

Ngoại đã qua đời, lâu lâu lắm
Mẹ cũng ra người thiên cổ rồi
Bao năm, con mới về Quê Ngoại
Ngậm ngùi nhớ lại đất LONG AN

Vân Hà

22/3/2016
(Nhớ chuyến về quê với anh ba, chị năm,
em mười và em Trang nhân dịp giổ má 2015)