Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Nam Nguyên, phóng viên RFA

000_Hkg10113116.jpg

Một cửa hàng quần áo bán các sản phẩm sản xuất trong nước ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2014.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Khó có nền kinh tế nào có thể cất cánh trong tình trạng doanh nghiệp chết hàng loạt, giải thể hay ngừng hoạt động. Giới chuyên gia mô tả tình trạng bất bình thường, qua sự kiện 46% doanh nghiệp ngừng hoạt động trong vòng 10 năm qua. Nam Nguyên trình bày một số khía cạnh liên quan.

Theo các số liệu chính thức của các cơ quan chuyên môn như Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, riêng trong năm 2015, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là hơn 71.000 đơn vị, tăng hơn 22% so với năm trước. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động gia tăng hàng năm, đến nỗi có sự ví von là một doanh nghiệp ra đời chưa kịp tham gia thị trường, thì lại có một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn, lâm cảnh nợ nần và phải ngừng hoạt động.

“ Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp.
– Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành”

Có nhiều nguyên do để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải rời sân chơi thị trường, thứ nhất là cạn vốn mà không có chỗ để vay thêm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá thành cao, phẩm chất hàng hóa chưa tốt vì công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Ngoài thuế và phí theo qui định, tất cả doanh nghiệp ở Việt Nam dù công hay tư đều phải chấp nhận những khoản chi tiêu không chính thức, không biết kê vào mục nào.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt Kiều về nước làm việc ở Hà Nội từ hơn 20 năm qua, nhận xét về nguyên nhân mà ông cho là lớn nhất khiến các doanh nghiệp tư nhân chết hàng loạt.

“Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp ấy chưa có được sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển từ nhiều mặt. Thí dụ doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn, nếu tiếp cận được thì lãi suất vẫn còn quá cao. Vì vậy trong thời gian tới cần có chính sách tiền tệ như thế nào để cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý. Ngoài ra Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp. Nhà nước nói là tạo mọi điều kiện để cho doanh nghiệp phát triển, thế thì mọi điều kiện đó là cái gì…Nhà nước cần ngồi lại với các doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách mới…”

Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nguyên thành viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, từng phân tích là về nguyên tắc, nguồn tín dụng trên thị trường mà các doanh nghiệp tư nhân trông chờ có thể bị giảm đi khá nhiều, vì các nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận cao hơn và chắc chắn hơn, thông qua việc mua trái phiếu chính phủ được phát hành rất nhiều trong thời gian qua. Trong dịp đề cập tới những vấn đề bất ổn đang giăng bẫy nền kinh tế Việt Nam, chuyên gia Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Về khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp bị ngừng hoạt động, số ngừng hoạt động cứ tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn không phải ngừng hoạt động, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua các thương vụ mua lại sáp nhập… Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước…”

000_Hkg10237188.jpg

Một cửa hàng tiện lợi Hàn Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội, ảnh chụp ngày 08 tháng 12 năm 2015.

Theo báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phổ biến, tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập vào khoảng 941.000 đơn vị, tính từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000. Riêng trong giai đoạn từ 2007 đến 2015 tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động lên tới 428.000 đơn vị tương đương 45,5% tổng số doanh nghiệp. Như vậy tính đến cuối năm 2015 Việt Nam đang có khoảng 513.000 doanh nghiệp, đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Bên cạnh các vấn đề thuộc về chính sách như thuế, phí và tỷ giá, doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính nhiêu khê và bất hợp lý. Vấn đề này vô hình chung góp phần tăng thời gian và chi tiêu của doanh nghiệp. Báo chí Việt Nam thường ví von thủ tục hành chính: hành là chính, còn nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì từng cám cảnh, thủ tục bây giờ ác độc lắm không có tiền là không xong.

Trong xu hướng cải cách ở Việt Nam, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng việc cần làm ngay là cải cách một cách thực chất về thủ tục hành chính. Ông nói:

“Lãnh đạo nhà nước đã nói bế tắc lớn nhất của chúng ta là vấn đề thủ tục hành chính chưa được khai thông. Cho nên cải cách hành chính là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với việc quản lý nhà nước. Như vậy đã biết hướng đi rồi còn lại là cải cách hành chính như thế nào. Ở cấp Trung ương phải làm gì, ở cấp địa phương thực hiện ra sao, đi đến chỗ những người tiếp cận với nhân dân có thái độ như thế nào để được nhân dân ủng hộ. Việc này không chỉ thay đổi tư duy mà còn là phong cách xử lý trong quan hệ với dân, để cho nhà nước và nhân dân gần nhau hơn, có được sự hợp tác chặt chẽ giữa nhân dân và nhà nước để có thể vươn lên, việc này là ưu tiên hàng đầu…”

Được biết Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cải cách hành chính theo nghị quyết 30 năm 2011. Cho đến nay, kế hoạch này đã đi nửa đoạn đường 2011-2020 nhưng kết quả đạt được không đáng kể. Tình trạng này đã được các đại biểu Quốc hội khóa 13 nhận xét nặng nề, trong kỳ họp cuối cùng trước khi mãn nhiệm.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành tiếp lời:

“ Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước.
– chuyên gia Phạm Chi Lan”

“Muốn cải cách hành chính thì cải cách thể chế như thế nào. Cái gì cần cải cách trong thể chế, cái gì cần phải đưa ra trong những qui định mới, trong việc xử lý công việc của các bộ các ngành như thế nào, tổ chức ra những cơ chế gì để ủng hộ doanh nghiệp phát triển, cơ chế gì để cho nhân dân có thể tham gia phát triển, không chỉ kinh tế mà thôi mà còn về vấn đề tự do, phát huy dân chủ, làm chủ đất nước…”

Tệ nạn tham nhũng làm suy yếu hệ thống công quyền và mất niềm tin của nhân dân. Trong các cuộc hội thảo, giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp phản ánh rất nhiều về tình trạng phải thực hiện các khoản chi không chính thức. Riêng ông Bùi Kiến Thành mô tả tham nhũng ở Việt Nam là một quốc nạn, mà đã đến lúc phải có các nỗ lực quyết liệt để giảm bớt tình trạng này. Ông nói:

“Phòng chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt hơn các thời trước, phải có phương pháp nào để trên bảo dưới phải nghe…phải có kỷ cương phép nước như thế nào, để cho các công chức nhà nước thực sự phục vụ nhân dân chứ không phải là lãng quên trách nhiệm của mình là người phục vụ nhân dân…”

Vấn đề doanh nghiệp chết hàng loạt có xu thế gia tăng trong thời gian tới. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp tư nhân dự kiến vào cuối tháng 4/2016 sắp tới tại Dinh Thống Nhất Saigon. Tân Thủ tướng mong muốn lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để tìm giải pháp phát triển, trong bối cảnh đã có tới 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì khó khăn trong 10 năm qua.

Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?

 “Nào đâu có trăm năm, mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau, đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?”

(Nhạc: Phạm Duy/Thơ: Lưu Trọng Văn – Trăm Năm Bến Cũ)

(1Gioan 3: 23-24)

           Trần Ngọc Mười Hai

Tư-tưởng này, bất chợt đến với bần-đạo sau khi nghe cô em dâu hát lên lời hát của Lưu Trọng Văn trong buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 5/3/2016 ở Sydney.

Tư-tưởng này, đã trở về với bần đạo cũng, sau khi nghe tin …tức từ vị chóp bu Đạo Chúa ở Rôma hôm rồi, rằng:

 “Hôm 21-1-2016, Phòng báo chí Tòa Thánh đã phổ biến thư của ĐTC Phanxicô gửi ĐHY Robert Sarah, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích, để thông báo quyết định về vấn đề này, và Sắc lệnh của Bộ Phụng tự thay đổi qui luật trong sách lễ theo cùng chiều hướng trên đây.

 Thư của Đức Giáo Hoàng gửi Hồng Y Sarah ký ngày 20-12-2014 có đoạn viết: ”Sau khi suy nghĩ chín chắn, tôi đi đến quyết định du nhập một sự thay đổi trong qui luật của Sách Lễ Roma. Vì thế, tôi qui định thay đổi qui luật theo đó những người được chọn để được rửa chân phải là đàn ông hoặc trẻ nam. Từ nay các vị mục tử của Giáo Hội có thể chọn những người tham dự nghi thức rửa chân trong số tất cả các thành phần dân Chúa. Ngoài ra, nên giải nghĩa thích đáng cho những người được chọn về ý nghĩa nghi thức rửa chân”.

 Trong Sắc Lệnh ký ngày 6-1-2016, Hồng Y Sarah và Đức TGM Tổng thư ký Arthur Roch của Bộ nhắc lại rằng cuộc cải tổ nghi thức Tuần Thánh với Sắc lệnh ”Maxima Redemptionis nostrae mysteria” (Các Mầu nhiệm quan trọng nhất của ơn cứu chuộc chúng ta, ngày 30-11-1955) cho phép cử hành nghi thức rửa chân cho 12 người đàn ông trong Thánh Lễ kỷ niệm Chúa lập phép Thánh Thể.. Khi cử hành nghi thức ấy, các GM và LM được mời gọi trở nên đồng hình dạng trong tâm hồn với Chúa Kitô, ”Đấng đã đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mt 20,28), và được tình yêu ‘đến cùng’ (Ga 13,1) thúc đẩy, hiến thân cho phần rỗi của toàn thể nhân loại.

 Sắc lệnh nhắc đến quyết định của Đức Phanxicô thay đổi qui luật đó và qui định rằng ”Các mục tử có thể chọn một nhóm như các tín hữu đại diện mỗi thành phần dân Chúa. Nhóm nhỏ ấy có thể gồm cả đàn ông lẫn phụ nữ, người trẻ, người già, người lành mạnh và bệnh nhân, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân”.

 Do năng quyền Đức Giáo Hoàng ban, Bộ Phụng Tự và kỷ luật bí tích du nhập sự đổi mới này vào trong các sách phụng vụ và nhắc nhớ các vị mục tử về nghĩa vụ giáo huấn thích hợp cho các tín hữu được chọn (rửa chân) cũng như cho những người khác, để họ tham gia nghi thức này một cách ý thức, tích cực và nhiều thành quả”. (X. Lm G. Trần Đức Anh OP, Radio Vaticana 21.01.2016)

 Đọc tin…tức từ đấng bậc chóp bu, bần đạo bầy tôi chạnh nhớ thân phận người nữ-phụ ở Hội thánh. Chạnh lòng rồi nhớ đến nhiều lời bình về sự việc này, trong đó có lời của đấng bậc vị vọng như sau:

“Thánh tổ-phụ Giêrônimô có lần nói: “Khi một nữ-phụ ao-ước được phục-vụ Đức Kitô nhiều hơn cả và thế-gian này, thì khi ấy chị sẽ thôi không còn là phụ-nữ nữa và người ta sẽ gọi chị là nam-nhân.”

 Huyền-thoại Do-thái-giáo khi xưa ta biết được là nhờ sách Sáng Thế Ký được mở để nói rằng Kinh thánh hiểu rõ rất nhiều sự/việc. Huyền-thoại Do-thái-giáo có mục-tiêu diễn-giải điều đó là những gì. Là bảo rằng: nam-nhân là những người mà ta không còn ngờ-vực gì nữa, từng hun-đúc nên các chuyện bí-nhiệm thần-thoại như thế. Để rồi, cuối cùng ra, đã ghi-chú các sự/việc này , do bởi các nữ-phụ trong xã-hội ấy không được tiếp-cận với thứ quyền-lực để diễn-giải mọi sự về Thiên-Chúa và/hoặc cũng chẳng có khả-năng để viết lách và diễn-giải nữa.

 Thêm vào đó, phụ-nữ xưa nay vẫn bị mọi người nghĩ rằng: các chị không thích bon chen tìm hiểu và/hoặc hiểu/biết gì về mọi thứ và cả những thực-tại xảy ra cùng sự thật của các sự-kiện từng xảy ra, nữa. Thế nên, phụ-nữ nói chung không gây ảnh-hưởng nào hết cách trực-tiếp lên các trách-nhiệm này/khác về văn-hoá. Là phụ-nữ, các chị cũng chẳng có quyết-định ban đầu nào khả dĩ có thể tạo hình-hài cùng khuôn-thước về bản-chất của bất cứ sự gì. Các chị cũng không tham-gia dự-phần vào bất cứ tiến-trình tạo quyết-định về sự việc nào hết.

 Thành thử, ai trong chúng ta cũng chẳng lạ gì khi thấy các truyện-kể hoặc bài viết do nam-nhân viết hoặc tạo hình-hài ở Kinh-thánh đều tìm câu trả lời cho thắc-mắc hỏi rằng: làm sao ác-thần/sự dữ lại đi vào công-cuộc tạo-dựng rất tốt đẹp của Thiên-Chúa được. Câu trả lời vẫn có thể có từ lời tuyên-bố bảo rằng: sở dĩ có chuyện đó là do lỗi của thụ-tạo “dưới-cơ con người” do Thiên-Chúa tạo ra để thoả-mãn nhu-cầu của nam-nhân đầu đời. Và ác-thần/sự dữ ấy có tên là nữ-nhân-đầu-đời, tên Evà…”  (Xem thêm Tgm John S. Spong, The Woman as the Source of Evil trong The Sins of Scripture, HarperCollinsPublishers 2005 tr. 87-93)

Nghe các đấng bậc biện-luận với nhau như trên, bần đạo chẳng biết làm gì hơn, là: lại quay về với nhạc-bản của nghệ sĩ họ Phạm phối nhạc cho bài thơ của Lưu Trọng Văn, vẫn hát thêm:

“Trăm năm đầu lỗi hẹn hò,

Chứ cây đa bến cũ, con đò khác đưa…

Thôn-nữ CHỊ, đã qua cầu, thóc lép,

Thôn-nữ EM, như trăng tuột khỏi chồi tay,

Thôn-nữ ÚT, đã lên đòng, nào ai biết.

 Khúc tình xưa, xưa ấy đã xưa rồi,

Con chuồn chuồn không lung nhùng trong mạng nhện.

Con bướm vàng nằm xoài dưới chân anh.

Một vùng trăng cỏ non như níu áo

Ngọn tre xanh đủng đỉnh muộn màng

Á a á a a…

A á ạ à Á à à a…

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

Cũng trong đêm nhạc này, trong hai bài phổ nhạc của nghệ-sĩ Phạm-Duy, bài “Cô Hái Mơ” là bài viết đầu tay của ông và bài “Trăm Năm Bến Cũ” được viết vào cuối đời trong đó tác-giả gói-ghém tâm-sự “Ngày trở về” sau khi đọc bài thơ của Lưu-Trọng-Văn có đầu đề là “Nào Đâu Có Trăm Năm, Mà Chờ Mà Đợi”, rất đúng ý.

Vâng. Ở nhạc-bản trên, chỉ mỗi câu ngâm “Á a à à a ..” thôi, thì tôi và bạn nghe qua cũng đã hiểu. Hiểu rất nhiều, về thân-phận người nữ-phụ, xưa nay. Nói đúng hơn, nữ-phụ khi xưa thì như thế. Còn, phụ-nữ hôm nay, rày đã khác. Khác rất nhiều. Khác, hơn xưa khi người người góp mặt biểu đồng tình với người chị/người em ở thánh hội. Như, lời đấng bậc khác, từng diễn tả như sau:

“Chuyện người nữ-phụ lấy tóc lau chân Đức Giêsu… cho thấy một sự thật. Sự thật là, người nữ-phụ xử-sự theo cách hối-lỗi rất thật-tình và tha-thiết, nên chị ta có được kết quả là đạt được lòng mến tràn đầy từ Đấng có quyền thứ-tha. Ngài tha-thứ, nhưng không phô-trương uy-quyền được Cha Ngài ban. Trái lại, sự việc cải-hối và niềm tin nơi nữ-phụ ở đây đã đem lại cho chị ơn tha-thứ…

 Xã-hội hôm nay, thấy rất nhiều người làm quấy dù chỉ một lần trong đời, nhưng vẫn bị người đời tặng cho mình nhiều mũ-chụp, suốt quãng đời còn lại, của chính họ, dù họ thật tình muốn chỉnh-sửa. Thiên-Chúa không xử-sự với con người như loài người vẫn xử-sự với nhau, và cho nhau. Chúa xử-sự với con người theo tình-thế của họ ở đây, bây giờ. Quá-khứ của con người không quan-trọng đối với Chúa. Quan-trọng chăng, chỉ mỗi điều, là: nay ta sống thế nào, mà thôi. Nay, ta xử-sự ra sao với các nữ-phụ dù họ có phạm lỗi hay không. Ta có xử sự với các nữ-phụ trong tương-quan với mọi người đúng theo tinh-thần Chúa khuyên-dạy hay không mà thôi.

Trong một thế-giới mà nam-nhân hoàn-toàn khuynh-loát và làm chủ, thì nữ-phụ xưa nay vẫn bị chê-trách rất nhiều chuyện, kể từ ngày chị được tác-tạo thành con người đến hôm nay. Giả như có tên du-thủ du-thực nào đó phạm tội hãm-hiếp phụ-nữ, thì mọi người trong thế-giới nam-nhân sẽ bảo rằng: sở dĩ có chuyện này, là vì chị ta lôi-cuốn anh ấy qua cách ăn mặc rất kích-dâm hoặc lôi cuốn. Nếu có nam-nhân nào đó từng xách-nhiễu một nữ-phụ đơn-sơ/trong trắng nào đó, thì họ lại cũng bảo rằng sở dĩ có chuyện này là do chị ấy gây chuyện rồi kích-động trước, thế thôi.

 Giả như ông chồng nọ quyết ly-dị vợ mình, ắt hẳn cũng vì chị vợ nay thành loại người mà anh tự thấy mình không còn có thể chịu đựng nổi chị ấy nữa. Giả như nữ-phụ nào có khả năng chơi được trò chơi dành cho nam-nhân, thì chị ấy sẽ bị đè bẹp/vùi-dập bằng những lời xách-mé/xỉa xói nói cho hay cho tốt sẽ bảo rằng: cô ấy là thứ đàn-bà trơ-tráo không biết e-thẹn là gì, hoặc tệ hơn, lại sẽ nói: cô bé này đúng là con chó cái, thế thôi.

 Và, giả như chị phải vận-dụng mọi kỹ-năng hoặc tay nghề thực-sự mới được thế, thì thiên-hạ lại sẽ bảo là chị ta đang sử-dụng “mọi thứ của phụ-nữ” mới đạt được điều mình mong muốn có kết-quả.

 Tất cả những điều này tiếp-tục mẫu-mã dựng chuyện cho câu truyện kể về Vườn Địa Đàng, trong đó nhân-vật Evà là nguyên-nhân gây nên đổ-vỡ cho am-nhân. Chị là người hoàn-toàn trách-nhiệm trong việc đưa ác-thần/sự dữ vào với thế-giới nhân-trần. Đây là truyện kể tuyệt-vời, nhưng vẫn chỉ là: một câu truyện kể, thế thôi. Thật sự, thì: đây chỉ là truyện dụ-ngôn qua đó bậc tiên-tổ của ta khi xưa vẫn tìm cách bắt-chộp “sự thật” về sự hiện-hữu của các ngài, mà thôi.

 Và, các truyện kể ở Kinh thánh lâu nay mang tính thần-thoại mà nhiều người gọi là huyền-nhiệm hay bí-nhiệm để nói lên một sự việc gì đó mà một số người gọi là “thần-học Giao-ước” giữa Thiên-Chúa và loài người. Thần-học này, lâu nay vẫn coi nữ-giới là “kẻ cám dỗ” nam-nhân vốn dĩ là những người đáng quí đáng trọng. Theo đó, nữ-giới vẫn bị gọi là thứ “cây rái cấm-kỵ” kích thích lòng ham/muốn nơi cơ-thể của nam-nhân.

 Vì thế nên, phụ-nữ xưa nay vẫn “bị” định-nghĩa là người đồi-bại và làm sa-đoạ tính thánh-thiêng của người phàm. Các chị còn bị chê-trách coi như nguyên-nhân tạo cho nam-nhân mất đi uy-quyền của chính họ. Từ khi có truyện kể dụ-ngôn này, văn-hoá Đạo Chúa ở phương Tây bị nối-kết với khuynh-hướng xa lánh phụ-nữ, tức: diễn-tả mọi thứ thánh-thiêng theo nghĩa không giới-tính.

 Cũng từ đó, tính trinh-trong của phụ-nữ và khiết-tịnh ở nam-giới đã trở-thành phương-cách để mọi người tự thánh-hoá đời sống, theo phương-cách cao hơn. Cả đến hôn-nhân cũng bị nhiều người định-nghĩa như một châm-chước/nhượng-bộ tội-lỗi, tức: phương-án chọn-lựa dành cho những người yếu kém về nhiều thứ.

 Một trong các vị thánh từng chuyển-dịch Kinh Thánh là thánh Giêrônimô vẫn được bảo là vị thánh từng thấy khó xử trong chuyển-dịch, khi thấy rằng khiá-cạnh độc-nhất mang tính cứu-độ của hôn-nhân là ở chỗ việc này “sản-xuất ra nhiều trinh-nữ hơn nữa”. Và tuyên-bố này vẫn khiến nhiều người khó mà tin được sự việc lại có thể như thế.

 Như thế, tức bảo rằng: phụ-nữ thật sự là sự dữ/ác-thần tận cốt lõi. Đó là thông-điệp xuất tự người gửi là Hội-thánh Đức Kitô và thông-điệp này được đặc-biệt tạo-tác xuất từ dụ-ngôn truyện kể về vườn Địa Đàng có Evà là hiện-thân của sự dữ.” (Xem Lm Frank Doyle sj, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật thứ 8 Mùa thường niên năm C, nxb Tôn Giáo 2012, tr. 138)

Đó, chính là vấn-đề. Vấn-đề, là ở chỗ: ta xử-sự với các nữ-phụ có cùng kiểu, đồng quyền và theo cùng cung-cách như vẫn làm với người khác, chí ít là những người khác khác chính-kiến, khác lai-lịch hoặc khác cả giới-tính, nữa hay không mà thôi.

Và, vấn-đề còn lại đặt ra cho mọi người, là: ta đối-xử với nữ-phụ trong/ngoài Giáo-hội có theo khuôn-khổ của sự tự-do con cái Chúa, hay không? Hỏi thế, không phải để có được một trả lời ngay tức khắc cho mình và cho người. Hỏi như thế, tứ: chỉ hỏi để mà hỏi. Hỏi, để kiếm tìm một hình-thức sống sao cho vui tươi, phúc hạnh và phải lẽ.

Thế nên, để mọi người, nam cũng như nữ, được sống vui-tươi/hài hoà với nhau, tưởng cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ trong đó có những cử chỉ cũng nhè nhẹ nhưng vui/đẹp của người nữ-phục đã biết nhưng chưa quen, vẫn vui sống, như sau:

 “Có một chàng trai bị bệnh ung thư. Chàng mới 19 tuổi, nhưng có thể chết bất kì lúc nào vì căn bệnh quái ác này.Suốt ngày, chàng trai phải nằm trong nhà, được sự chăm sóc cẩn thận đến nghiêm ngặt của bố mẹ. Do đó, chàng trai luôn mong ước được ra ngoài chơi, dù chỉ một lúc cũng được.

 Sau rất nhiều lần năn nỉ, bố mẹ cậu cũng đồng ý. Chàng trai đi dọc theo con phố- con phố nhà mình mà vô cùng mới mẻ- từ cửa hàng này sang cửa hàng khác. Khi đi qua một cưả hàng bán CD nhạc, chàng trai nhìn qua cửa kính và thấy một cô gái. Cô gái rất xinh đẹp với một nụ cười hiền lành – và chàng trai biết đó là “tình yêu từ ánh mắt đầu tiên”. Chàng trai vào cửa hàng và lại gần bàn cô gái đang ngồi. Cô gái ngẩng lên hỏi:

-Tôi có thể giúp gì được cho anh ?

 Cô gái mỉm cười, và đó là nụ cười đẹp nhất mà chàng trai từng thấy.

-Ơ…,chàng trai lúng túng.

-Tôi muốn mua một CD…

Chàng chỉ bừa một cái CD trên giá rồi trả tiền.

-Anh có cần tôi gói lại không? Cô gái hỏi, và lại mỉm cười.

Khi chàng gật đầu, cô gái đem chiếc CD vào trong.

Khi cô gái quay lại với chiếc CD đã được gói cẩn thận, chàng trai tần ngần cầm lấy và đi về.

 Từ hôm đó, ngày nào chàng trai cũng tới cửa hàng, mua một chiếc CD và cô gái bán hàng lại gói cho anh. Những chiếc Cd đó, cháng đem về nhà và cất ngay vào tủ. Anh rất ngại, không dám hỏi tên hay làm quen với cô gái. Nhưng cuối cùng, mẹ anh cũng phát hiện ra việc này và khuyên anh cứ nên làm quen với cô gái xinh đẹp kia.

 Ngày hôm sau, lấy hết can đảm, chàng trai lại đến cửa hàng bán CD, rồi khi cô gái đem chiếc CD vào trong để gói, anh đã để một mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của mình lên bàn.

Rồi anh cầm chiếc CD đã được gói- như tất cả mọi ngày- đem về. Vài ngày sau…

Reeeeeeeeeeeeeeng!!!.

Mẹ chàng trai nhấc điện thoại:

-Alô!?

 Đầu dây bên kia là cô gái ở cưả hàng bán CD. Cô xin gặp chàng trai nhưng bà mẹ òa lên khóc:

-Cháu không biết sao ? Nó đã mất rồi…hôm qua…

Im lặng một lúc. Cô gái xin lỗi, chia buồn rồi đặt máy.

Chiều hôm ấy, bà mẹ vào phòng cậu con trai. Bà muốn sắp xếp lại quần áo cuả cậu, nên đã mở cửa tủ.

Bà sững người khi nhìn thấy hàng chồng, hàng chồng CD được gói bọc cẩn thận, chưa hề được mở. Bà mẹ rất ngạc nhiên, cầm một cái lên, mở ra xem. Bên trong lớp giấy bọc là một chiếc CD cùng với một mảnh giấy ghi: ” chào anh, anh dễ thương lắm-Jacelyn”.

 Bà mẹ mở thêm một cái nữa. Lại thêm một mảnh giấy ghi: “Chào anh, anh khoẻ không? Mình làm bạn nhé? – Jacelyn”

Một cái nữa, thêm nữa… trong mỗi cái CD là một mảnh giấy…..”

Và, lời bàn “Mao Tôn Cương” từ người kể, vẫn bảo rằng: “Trong mỗi cử chỉ đều có thể tiềm ẩn một món quà. Giá như chúng ta đừng ngần ngại mở tất cả những món quà mà cuộc sống đem lại.”

Thật ra thì, có những thứ quà không cần mở cũng biết rằng: quà ấy thật vô giá như quà tặng Thượng Đế biếu/tặng ta trong cuộc đời người. Đó là, sự hiện-diện của mọi nữ-phụ ở quanh ta. Nữ-phụ ấy, có thể là mẫu-thân, là vợ, người chị hoặc em gái, con/cháu rất nữ-giới. Quà nào cũng vui cũng quý-giá như sự sống đích-thật của mọi người.

Kể thế rồi, nay lại cũng mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời có lời vàng của Đức Chúa, vẫn nhủ/khuyên rất nhiều lần, như sau:

“Này là lệnh-truyền của Thiên-Chúa:

Ta phải tin vào Danh Con của Ngài,

Đức Giêsu Kitô,

Và, yêu mến nhau

như Ngài đã truyền lệnh cho ta.

Và, ai giữ lệnh-truyền của Ngài,

thì lưu lại trong Ngài

và Ngài ở trong kẻ ấy.

Và, điều này ta biết được, là:

Ngài lưu lại ở trong ta,

do tự Thần-Khí Ngài đã ban cho ta.”

(1Ga 3: 23-24)

Thần-Khi Ngài ban cho ta, ở trong ta, thì làm sao ta và người lại cứ khinh-chê, coi rẻ các nữ-phụ, trong đời. Khinh và chê, như thể họ không là người như mình. Khinh và chê, như thể người người vẫn đối-xử với các nữ-phụ như từng đối-xử với người hành-tinh xa lạ, chẳng có tình người của người cùng một hành-tinh.

Làm sao chứng-thực được rằng: Thần-khí Ngài ở trong ta, khi ta đối xử với nhau không đồng đều. Vẫn cứ tạo ranh-giới, rào cản và kỳ-thị. Kỳ-thị nam nữ rất tranh-giành. Và, đó chính là mấu chốt của mọi đối xử rất bất-công, không đồng đều, một đối-xử không phải của người hành-tinh, rất địa cầu này.

Vậy, tưởng cũng nên coi lại lề-lối sống với nhau trong hài-hoà/yêu-thương không đợi chờ gì, huống hồ là “trăm năm”.

Vâng, quyết thế rồi, tưởng cũng nên hát lên ca-từ nay trích-dẫn để có lập-trường sống kiên-định rằng:

“Nào đâu có trăm năm,

mà chờ mà đợi?”

Nào đâu có kiếp sau,

đâu có kiếp sau, mà đợi mà chờ?

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang song.

Đất MẸ, đất NÀNG, con sáo sang sông.

 Trăm năm bến cũ, có còn đó không?

Còn đó không?

Cây đa bến cũ còn lưa,

Bến cũ còn lưa

O đò năm trước đi mô không về…”

(Phạm Duy/Lưu Trọng Văn – bđd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Và những câu hỏi

rất như thế

vẫn lảng vảng

trong đầu mình

suốt mọi ngày.

Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Năm Phục Sinh năm C 24/4/2016

                             Tin Mừng: (Ga 13: 31-35)

Đức Giêsu nói: “Giờ đây, Con Người được tôn-vinh, và Thiên-Chúa cũng được tôn-vinh nơi Ngài. Nếu Thiên-Chúa được tôn-vinh nơi Ngài, thì Thiên-Chúa cũng sẽ tôn-vinh Ngài nơi chính mình, và Thiên-Chúa sắp tôn vinh Người.

 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái:

 “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”

                                      “Tình nhân-thế chua cay, người lịch-duyệt,”

“Niềm giang-hồ tan-tác lệ Giang-Châu.”

                                                                 (Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch

Tình nhân-thế, con người ra như thế. Vẫn chua cay, giang-hồ, tan-tác đầy những lệ. Tình nhà Đạo, xưa nay vẫn khác. Khác, vì có lời dạy nhân-gian nay đằm thắm.

Trình thuật hôm nay, thánh Gioan Tin Mừng lại cũng nói về thứ tình-yêu rất đặc biệt. Thứ tình trọn đầy ý-nghĩa mà Đức Chúa đã làm gương. Tình Chúa nêu gương, là tình Ngài bày tỏ không chỉ riêng tư, mà là tình người dưới thế, ta luôn có với nhau. Tình Thầy luôn yêu, là tình đượm sắc mầu thương mến, rất hy sinh. Thầy hy sinh cho tất cả. Hy sinh đến chết. Hy sinh để ta được sống. Để ta cứ yêu. Yêu như Thầy vẫn hy sinh.

Ngôn ngữ phàm trần, không thấy có cụm từ nào được người đời biết đến, nhiều bằng từ ngữ “yêu”. Yêu, là phạm trù phổ biến dễ truy cập nhất. Một đề tài nói đến cả trong mọi trường hợp, mọi địa hạt: từ nghệ thuật đến văn chương, thi tứ, tthơ nhạc, cho đến phim ảnh văn xuôi, truyện ngắn. Nhất nhất, nói về tình yêu. Tình yêu có chữ “hy sinh” ở đời, là tình ta nghe biết nhiều nhất.

Với đời thường, tình yêu là cảm xúc ướt át, diễm lệ mọi người quanh ta, hằng đeo đuổi. Đeo và đuổi cho đến khi nào không thể làm gì hơn được nữa, mới thôi. Yêu, theo nghĩa dân gian người phàm, là tình thấy đầy nơi phố chợ có thể đằm thắm lúc ban đầu. Nhưng, nhạt dần với tháng năm. Tình nào không kèm chữ “hy sinh”, chung cuộc rồi ra cũng sẽ chán, khi vừa xuất hiện đối tượng mới, tươi trẻ, hấp dẫn và tràn đầy nhựa sống hơn.

Tình đời mau chán, bởi người người chỉ chú trọng đến xác thân hoặc dục tính. Tình đời loại này, thường dẫn đến điểm thoát rất nhanh, nơi đọan cuối của đường hầm, nhiều tăm tối. Tình như thế, tuyệt nhiên là tình không mang dáng vẻ “hy sinh”, nào hết.

Tình “có hy sinh”, là mối tình được thể hiện bằng hành động, chứ không phải bằng lời. Tình đó là tình được dặn dò khuyên nhủ, như một lệnh truyền ngày Chúa chia tay giã từ. Lệnh truyền Chúa nơi tình có hy sinh vẫn được nhấn mạnh rất nhiều lần; vì Ngài vẫn thường bảo: “với dấu này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Yn 13: 35)

Làm người, ai cũng từng hơn một lần, đã biết yêu. Là môn đệ của Thầy, người người lại càng phải biết yêu thương nhau nồng nàn hơn nữa. Yêu, say đắm hơn bao giờ hết. Yêu, như Thầy vẫn thương chúng ta. Yêu thương nhau, là thứ tình thực tiễn được đánh giá qua cách thức ta đối xử với nhau. Xử sự với nhau, thật hiền hòa, thật tử tế. Ta đối xử với nhau thật kiên nhẫn, chịu đựng.

Tình ta thương nhau, là tình của những người đồ đệ theo chân Chúa. Đó là tình không kiêu sa. Cũng chẳng mượt mà, trau chuốt đánh bóng chính người mình. Tình ta thương nhau, như tình Chúa yêu ta là tình không dày đạp người khác. Dày vùi và đạp lên đó để mọi người nhìn mình cho rõ, như người hùng anh cần được yêu, phải được tôn kính. Tình ta thương nhau, là cùng vui với người vui. Cùng khóc với người đang khóc. Cùng đạt ước nguyện tạo niềm vui cho nhau. Tình ta thương nhau, là biết thương tiếc khóc than vì người khác đã mất mát, khổ đau.

Yêu thương nhau như tình Thầy yêu ta, là biết nói lên sự thật. Với lòng xót thương không bến bờ.Yêu thương nhau như Thầy yêu ta, là yêu thương đấy, vẫn yêu trong hy sinh tha thứ cho người mình thương yêu. Thương yêu rất mực tin tưởng vào người mình yêu thương. Yêu trong kiên định, cả vào những giây phút gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Yêu, cả vào lúc thấy có khổ đau. Những lúc đang trầm mình dưới bùn đen, ở dưới thấp. Yêu như thế, mới giống tình Chúa yêu thương mọi người, không xét nét.

Tình có hy sinh là chấp nhận thua thiệt, để người kia được lợi. Yêu trong hy sinh, là biết tự kiềm chế mọi đam mê, dục vọng. Yêu rất hy sinh, là như thể đang chết dần chết mòn cho những cảm xúc vênh vang, kiêu hãnh. Yêu trong hy sinh, là chết đi cho chính mình. Chết cho con người mình. Chết, không phải về thể xác. Mà, chết cho nhu cầu xác thân, tạm bợ. Dù, nhu cầu ấy vẫn  chính đáng, vẫn rất cần.

Yêu trong hy sinh, càng không phải là yêu với mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm thâm trầm, vì đã làm điều bất ưng và bất xứng, nay muốn tự hủy. Tự hủy, bằng tâm trạng âm thầm, khúm núm, cúi đầu sợ sệt. Yêu trong hy sinh, càng không phải là những khuyên răn, khích lệ bạn bè người thân hãy có cùng tâm trạng hủy diệt, vùi dập thân xác như mình. Nói khác đi, tình “có hy sinh”, là quà tặng Chúa ban nhưng-không gửi đến để người người chấp nhận một chọn lựa. Chấp nhận cơ hội vinh thăng cho tình yêu ta đang có, ngày càng tốt đẹp hơn.

Với dặn dò đàn con biết tỏ bày tình có hy sinh, Đức Chúa đã nêu gương để ta cũng có cử chỉ tự hạ làm người thấp hèn. Ngài tự giáng hạ vào chốn nghèo hèn, để Thiên Chúa là Cha sẽ nâng Ngài lên nơi vinh hiển. Noi gương Chúa, ta cũng tự hạ chính mình nhịn nhường mọi vinh hoa, phú quý sang qua người khác. Nhường nhau, để tạo cuộc sống mới dồi dào sức sống.

Tự hạ, nhưng không tự hủy. Tự hạ, không có nghĩa dứt bỏ phẩm giá con người rất vinh quang. Vinh quang, vì mang thân phận làm con dân Đức Chúa. Tự hạ, là tự giảm chính mình xuống mức thấp hơn người khác. Tự đặt mình ở mức thấp, để người khác được nổi bật hơn, hạnh phúc hơn mình. Thực tế, trong sống đời dân gian trầm hạ, cũng nên tìm ra phương cách hoặc động thái khả dĩ giúp ta cởi thoát những hành vi không mang đặc thù của người con yêu Đức Chúa. Cởi thoát, là tự mình không đòi ở chỗ cao, trên người khác. Hoặc, người khác phải cảm nhận công sức mình, đã bỏ ra. Cởi thoát, là không đòi cho được quyền ra lệnh người khác thực hành ý kiến của mình.

Tham dự tiệc thương yêu hôm nay, ta cầu mong Thầy Chí Thánh giúp ta yêu thương mọi người như một nhân vị, chứ không như sự vật. Cầu mong sao, ta tạo được cho mình và mọi người những tình tự “có hy sinh” đưa ta vào cuộc sống rất vui. Sống can đảm, để giải quyết mọi bất đồng trong tương quan với mọi người chung quanh.

Cầu và mong, tình của ta luôn là tình “có hy sinh” như Đức Chúa từng dạy bảo. Và cầu mong sao, trong yêu thương giao dịch, tình của ta với người, vẫn là tình hy sinh ở mức cao độ, như Thầy thương ta.

Và, cũng cầu lại cũng mong sao cho tình nhân-thế có con người vẫn luôn sống theo lời dặn-dò của Đấng Nhân-Hiền từng minh-chứng bằng cuộc sống của Ngài. Sống chung-tình, nhiều thương-mến, rất ngàn năm.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 MỘT BUỔI NÓI CHUYỆN LÝ THÚ CỦA CHA NGUYỄN NGỌC SƠN.

 Phan Sinh Trần

Hôm Chúa Nhật ngày 20 tháng ba , 2016 Nhóm Cầu Nguyện chúng tôi được nghe vị khách diễn giảng về Chúa Thánh Linh, tôi cho rằng bài chia xẻ này thuộc loại kinh điển, tiêu biểu cho  gốc cổ thụ lớn trong khu vườn Thánh Linh. Điều có vẻ nghịch lý một cách thích thú khi mà Ngài chưa từng một ngày ở trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, chưa từng tham dự các buổi tĩnh tâm Thánh Linh, nhưng lại rất uyên bác về nguyên lý của đời sống trong Chúa Thánh Thần, và hơn thế nữa, luôn sống trong sự sinh động, yêu thương, hòa hợp tuyệt diệu của Chúa Thánh Thần trong đời sống của một người con được Chúa chọn và yêu mến.

Cha bắt đầu buổi chia xẻ bằng sự khiêm nhường cầu nguyện khi Ngài chấp nhận để cho cả nhóm chúng tôi giơ tay cầu xin ơn Thánh Thần tuôn đổ ơn xuống trên Ngài và rồi Ngài cất tiếng lên chia xẻ cho chúng tôi trong ơn biện giảng hùng hồn Chúa ban.

Cha đưa ra một dụng cụ y khoa nhỏ để đo dung lượng thở cho mọi người thử, có anh thanh niên mạnh khỏe thì có thể thở được với dung lượng đo trên máy, tới 2200 ml, trong khi đó có bác cao niên ốm yếu, chỉ thở vào máy được có 770 ml… một sự so sánh rất cụ thể và minh họa về vấn đề, thiếu không khí trong lúc thở. Cha giải thích:

⦁ Não của chúng ta có 16 tỷ nơron thần kinh, cần tối thiểu 2.000 lít khí/ngày trong 10.000 lít tối thiểu của cơ thể. Chính bộ não ấy phát ra những lệnh cho tất cả các cơ quan hoạt động. Nếu chúng ta tăng cường dung tích khí thở mỗi lần lên 1.500ml hoặc 2.000ml, 2.500ml, bộ não chúng ta sẽ phát ra lệnh gấp đôi cho các bộ phận hoạt động; chúng ta sẽ học hành, làm việc hiệu quả và thông minh hơn nhiều. Thân thể chúng ta sẽ khoẻ mạnh, xinh đẹp nhờ các bộ phận hoạt động hài hoà…Chỉ cần 4 phút không có dưỡng khí là bộ não chúng ta sẽ chết, trong khi chúng ta có thể nhịn ăn được 30 ngày, nhịn uống được 3,4 ngày. Nói như thế để từ nay chúng ta chú ý đến việc thở hít khí tự nhiên hơn và tập thở để tăng cường chất lượng sống.

Sau đó, cha đề cập đến vấn đề sống đạo:

⦁ Vì sao các Bác, các Anh Chị có một đời sống Đạo rất chuyên cần, rất chăm chú đọc kinh mà vẫn thấy mình có một cái gì đó không được ổn, vẫn còn hoang mang cho tương lai cuộc đời, vẫn còn tìm đến cầu cơ, bói toán ?

Bởi vì, Tinh thần càng cần đến hơi thở Thần Khí hơn nữa, không biết tập thở Thần Khí thì linh hồn sẽ yếu rũ.

⦁ Vì sao chúng ta thực hành các việc đạo đức đều đặn đi lễ mỗi ngày mà vẫn không có được sự linh ứng của lời cầu nguyện?

⦁ Người tín hữu giáo dân Việt Nam rất tôn kính Mình Máu Thánh Chúa, 80% tín hữu giữ lễ Chúa Nhật và rước lễ trong những dịp lễ trọng, khoảng 15-20% đi lễ thường ngày. Nhưng chúng ta thấy rằng dù đi lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa thường xuyên nhưng chúng ta lại chưa phát huy được sự sống kỳ diệu phi thường của Thiên Chúa trong con người của mình. Cuộc sống của người tín hữu chưa toát ra được niềm vui, bình an, hạnh phúc, ơn cứu độ cho mình cũng như cho người khác. Phép lạ trong đời sống người tín hữu là những gì hoạ hiếm chứ không phải là những chuyện thường ngày mà chúng ta phải thực hiện để mang lại ơn cứu độ cho những người nghèo khổ, tật bệnh, bị ma quỷ kiềm chế có mặt ở khắp nơi trên đất nước. (⦁ nguồn: hanhkhatkito.org)

Trong không khí im lặng chú ý của phòng họp, khi mà mọi người đều thấm thía về các yếu đuối, Cha tiếp tục đặt ra các vấn nạn của Ki tô hữu:

Vì sao chúng ta không có tâm tình biết ơn, không biết ơn khi ta ăn hạt cơm nóng sốt mà người nông dân đổ mồ hôi, công sức, dãi dầu mưa nắng, có khi còn phải đổ máu, hy sinh thân mình vì cày lên bom mìn sót lại từ thời chiến tranh … Còn trong gia đình mình thí sao,   Chúng ta có khi nào biết ơn người vợ đã mấy chục năm qua rửa hàng núi chén dĩa ngày qua tháng nọ dọn nhà sạch sẽ cho ta được thoải mái, … Trong đất nước thì mình ít khi nhớ ơn bao tiền nhân, chiến sĩ vô danh, đã tận tụy khai phá, đã hy sinh xương máu cho ta có được mảnh đất này để sinh sống.

Chúng ta thử đặt tình trạng mình như một người mù trong vài phút rờ rẫm, đi từ đây ra cửa thôi, sẽ thấy khổ sở thế nào, đụng chạm lủng củng ra sao, có khi còn vấp té nữa. Trong khi đó chúng ta được sáng mắt, được Chúa ban cho không khí để thở, ban cho cặp mắt để ngắm nhìn, … có bao giờ chúng ta hít sâu vào trong tâm tình biết ơn, vì Chúa ban cho mình không khí và biết bao nhiêu tạo vật, thiên nhiên mỹ miều, hữu dụng, xinh đẹp chung quanh ta.

Sau đó, Cha tóm tắt về căn nguyên của một đời sống Ki tô hữu, phong phú và tươi mát bao gồm trong hai yếu tố chính, kết hợp với Chúa Giê Su và sống trong Thần Khí của Thiên Chúa.

⦁ Một là kết hợp mật thiết với Chúa Giê Su như cành liền với cây trong cầu nguyện, đơn sơ thủ thỉ với Chúa một câu trong tâm tình yêu mến, hướng về Chúa ở mọi lúc, mọi nơi.

Cây nho, chính là Ta,các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả,vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì.(Gioan 15:5)

⦁ Hai là, xin Chúa Giê Su thực hiện lời hứa “ban Thánh Thần” và xin cho bằng được ơn Chúa Thánh Thần, được tiếp nhận Thần Khí Chúa sống động trong mọi sinh hoạt của đời sống mình, cách xin được Chúa nhận lời là khi ta dám từ bỏ các quyến rũ của trần gian, ma quỉ và quyết tâm thuộc về Chúa một cách trọn vẹn, chấp nhận đi theo con đường do Chúa hoạch định.

Từ bỏ mình rất khó, từ bỏ cái tôi càng không dễ, tuy nhiên đã có nhiều người giống như ông Gia Kêu và Mát thêu, hành nghề thu thuế đã làm được, giống như cô Ma đa len na vốn sống buông thả nhưng sau, đã làm được, cũng như nhiều người khác đã làm được. Chúng ta, là Ki tô hữu có thể từ bỏ “cái Tôi” một khi ta dám chấp nhận sự dạy dỗ của Lời Chúa và kết hiệp với Chúa, được Chúa giúp sức cho.

Tập hít thở trong Thần khí Chúa:

⦁ Có lẽ chúng ta phải nhìn lại thái độ của chúng ta đối với Thần Khí, chúng ta cần phải gắn bó nhiều hơn với Chúa Thánh Thần và tập thở từng giây phút Thần Khí mà Chúa Giêsu thổi trên chúng ta khi Người hiện ra với chúng ta và nói rằng: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

⦁ Mỗi lần chúng ta nhớ đến Chúa Thánh Thần và cầu xin Ngài là mỗi lần chúng ta thở Thần Khí. Một ngày chúng ta dành chừng 5 phút, ngồi ở bàn làm việc hay nằm trên giường trước khi ngủ, chúng ta nói thầm với Chúa Giêsu khi chúng ta hít khí vào: “Lạy Chúa, xin ban Thần Khí cho con”. Thần khí là sức mạnh, niềm vui, tình yêu, bình an, ân sủng của Người được đưa vào trong ta để biến đổi ta. Rồi khi chúng ta thở ra bằng miệng từ từ, thân xác ta thở ra thán khí thì tinh thần cũng thở ra những uế khí, tà khí ra khỏi con người mình. Đó là: buồn phiền, chán nản, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, ghen tương… Đang khi đẩy chúng ra khỏi tâm trí, chúng ta cũng nói thầm với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin xua đuổi tà khí ra khỏi lòng con”.

CHA SON

Đời sống được Chúa Thánh Thần dẫn dắt thì rất tuyệt vời, cho dù trong đời ta đi qua bao nhiêu truân chuyên hay thác ghềnh khó khăn. Tôi xin được trích từ trang mạng công giáo hiện đang có nhiều người đọc nhất ở Việt Nam, có tên là “hành khất  Ki Tô” để minh họa các kinh nghiệm sống động này của Cha Nguyễn ngọc Sơn:

Chúa mời gọi ta quên đi quá khứ tội lỗi của mình hay của người khác, để thông hiệp với Đức Kitô và phát huy những ân sủng lạ lùng của cuộc đời làm con Chúa Cha và cũng là người tình, là hiền thê của Đức Kitô

⦁ … Anh chị em cho phép tôi được chia sẻ một kinh nghiệm về việc Chúa Kitô chữa lành bệnh nhân để xác tín về đời sống siêu việt của con cái Chúa. Sáng Chúa Nhật hằng tuần tôi thường giúp các người bệnh từ nhiều nơi tìm đến. Hôm đó, có người con trai dẫn bà mẹ chừng 65 tuổi đến xin tôi cầu nguyện chữa lành vì bà bị đau toàn thân, nhất là ở tim gan ruột. Các bác sĩ ở Canada khám không ra bệnh sau khi xét nghiệm đủ thứ. Con cháu đưa sang Hoa Kỳ chữa cũng không khỏi nên đưa về Việt Nam. Nghe tiến trình chữa bệnh như thế nên tôi chỉ còn biết đặt tay trên đầu bà, đọc 4 kinh tôi thuộc là Kinh Xin Ơn Đức Chúa Thánh Thần, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, rồi tiễn bà về. Tuần sau, bà đến đưa tôi 1 vòng đeo tay bằng vàng, 1 răng nanh heo rừng cũng mạ vàng để đeo ở cổ và nói: “Thưa cha, hôm nay con đã khoẻ mạnh và hoàn toàn bình phục nên đến cảm ơn  cha và thú thực với cha về bệnh tật của con. Con là 1 bà già sống gần nhà thờ nên sáng nào cũng tản bộ đi dự lễ. Vì già yếu không nín được đường tiểu nên con thường chui vào bụi cây bên đường. Mọi khi không xảy ra chuyện gì, nhưng một hôm con thấy đôi cánh tay đen đủi ôm chân con. Con rất hoảng sợ và phát bệnh từ đó. Sau khi các bác sĩ chữa không khỏi, gia đình đưa con đến nhiều thầy pháp. Họ cho con 1 lá bùa và con đã bỏ chung với áo Đức Bà đeo ở cổ vì con là đạo gốc! Còn chiếc lắc vàng đeo tay và răng nanh đeo cổ đã được ếm bùa Lỗ Ban. Hôm nay con giao lại tất cả cho cha để làm kỷ niệm”. ( nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự việc khiến tôi từ đó hiểu được rằng Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục chữa lành cho con người trong thời đại hôm nay.

⦁ Niềm vui và hạnh phúc đời ta chính là Đức Giêsu. Người sẽ chuyển thông cho chúng ta sự sống vĩnh hằng, quyền năng vô biên, hạnh phúc vô tận để ta cảm nghiệm được mình được là con cái của Thiên Chúa giống như Người. Tôi đã cảm nhận được niềm vui đó cách đây 2 tuần khi sang giảng tĩnh tâm cho cộng đồng người Việt thuộc Nhà thờ Thánh Polycarp, đường Chapman, California, Hoa Kỳ. Hôm đó có Ông Nguyễn Kỳ đến cám ơn vì Chúa đã chữa cho Ông khỏi bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Cách đây 3 tháng, bác sĩ cho biết ông bị ung thư và nói không thể sống quá 6 tháng. Bây giờ Chúa cho ông khỏi hẳn, không còn thấy triệu chứng của ung thư. (nguồn:hanhkhatkito.org)

Thiên Chúa chúng ta sống động vô cùng, giàu sang vô tận, đẹp đẽ vô song. Nếu chúng ta gắn bó với Chúa thì chúng ta cũng sẽ tốt đẹp, mạnh mẽ, giàu sang như thế

⦁ Tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm riêng tư: Trong dịp cứu trợ đồng bào lũ lụt năm 2010, người ta yêu cầu Caritas Việt Nam hãy làm dự án xin các tổ chức nước ngoài yểm trợ. Tôi nghĩ rằng: đất nước chúng ta có nhiều người đóng góp rộng rãi và rất quảng đại… Chúng tôi cầu nguyện, và chúng tôi nhận được số thuốc trị giá khoảng 2 tỷ đồng của Công ty Rohto Mentholatum. Chị giám đốc thương mại của công ty này không có đạo, đến gặp chúng tôi và cho chúng tôi rất nhiều thuốc cần cho đồng bào lũ lụt dù chúng tôi chưa làm một đơn xin nào. Ngoài ra, bao nhiêu nhà hảo tâm khác đã góp tiền và vật dụng cho đồng bào nghèo khổ. Tôi thầm cảm tạ Chúa và cảm nhận được quyền năng vô biên của Ngài.

(nguồn: hanhkhatkito.org)

Sự kiện này nhắc nhở tôi quyền năng chữa lành kỳ diệu của Chúa Giêsu trong một số trường hợp khuyết tật vì lý do tâm linh

⦁ Tôi xin chia sẻ 1 trường hợp cụ thể. Cách đây 3 tuần một phụ nữ trung niên dẫn theo người con gái tên Hương, đang có thai hơn 7 tháng, đến xin tôi chữa cho con bà bị câm và điếc trên 2 tuần qua. Đi theo có cả người chồng, anh trai, cô và cậu của cô gái. Cô gái tỏ vẻ rất sợ hãi không muốn vào nhà nguyện, nên tôi đành tiếp tất cả trong phòng làm việc. Người mẹ cho tôi biết tình trạng của con, chạy thầy, chạy thuốc cũng đã nhiều mà bệnh không khỏi. Vì cô gái không nghe được nên tôi giải thích cho tất cả hiểu về sức khoẻ thể chất và tinh thần. Cô Hương cứ nhắm nghiền đôi mắt như ngủ.

Sau đó tôi mời mọi người có mặt vào nhà nguyện để ban bí tích Xức dầu Bệnh nhân và Xức dầu Trừ tà. Trong khi cử hành nghi thức, cô Hương không mở mắt và tỏ ra không biết gì. Nhưng cuối cùng, trước khi cho bệnh nhân rước lễ, tôi hỏi cô Hương; “Con có muốn rước Chúa không?”. Cô trả lời rõ ràng: “Con muốn”. Bà mẹ đứng bên cạnh buột miệng kêu lớn: “Con tôi nghe và nói được rồi!”..

(nguồn: hanhkhatkito.org)

CHUA

Cảm tạ Chúa, vì cho dù ở đâu, thời nào thì Thần Khí oai quyền của Thánh Phao lô, Thần Khí thiết tha,hy sinh của Thánh Tê pha nô (Stephano), Thần Khí chữa lành và an ủi ở trong Thánh An Tôn, thánh Mác ti nô xưa và Thần Khí tuôn đổ trong Cha Nguyễn ngọc Sơn hôm nay,… và rất có thể là ngay cả trong bạn và trong tôi nữa ở thời đại hôm nay, vẫn đang có một cách dồi dào từ một nguồn duy nhất.Tôi xin mượn lời chia xẻ của Ngài để kết thúc bài làm chứng này.

“Lời nói tự nhiên chỉ mang lại niềm vui bình thường, nhưng khi ta thở được Thần Khí của Chúa Giêsu thì những lời nói của chúng ta có thể soi sáng cho tâm trí mù tối của con người, vực họ dậy khỏi tình trạng tê liệt, bất động, thậm chí chết chóc, của tâm hồn. Hơn nữa, Chúa Giêsu sẵn sàng ban cả những ơn chữa bệnh thể xác cho tất cả những ai muốn làm tông đồ, làm chứng nhân cho Người. Cầu chúc anh chị em trở thành người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến vì được tràn đầy Thánh Thần tình yêu của Đấng Phục Sinh”

Phan Sinh Trần

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản

Hành xác ở lễ hội đền Hùng: Lạc con, mất tài sản
Nguoi-viet.com

PHÚ THỌ (NV) – Gần 2 triệu người cùng đổ dồn về đền Hùng cùng lúc khiến nơi đây trở nên hỗn loạn, nhiều gia đình thất lạc con nhỏ, ngất xỉu vì chen lấn, mất tài sản do bị móc túi.

Dòng người chật kín đổ về lễ hội đền Hùng. (Hình: Thanh Niên)

Theo tin Thanh Niên, do Lễ hội đền Hùng năm nay diễn ra vào cuối tuần nên hơn 2 triệu người cùng lúc đỗ về núi Nghĩa Lĩnh để “làm lễ tạ ơn các vua Hùng.”

Mặc dù lực lượng an ninh ưu tiên cho gia đình có trẻ nhỏ lên phía trên trước. Tuy nhiên do biển người chen chân chật kín sân trước lối lên núi, bậc thang lên núi lại quá nhỏ, ùn tắc dẫn đến chen lấn, xô đẩy, gây nên hỗn loạn.

Nói với phóng viên Thanh Niên đang có mặt tại lễ hội đền Hùng sáng 16 tháng 4, chị Hà Mai Hoa, ở Hà Nội cho hay: Sáng sớm chị cùng gia đình đi Phú Thọ để dự lễ hội. Lúc đi thuận lợi, tuy nhiên khi cả nhà vừa đến nơi để đi bộ lên núi Nghĩa Lĩnh thì chị lạc mất con trai 5 tuổi và hiện đang nhờ cảnh sát gọi loa, nhờ giữ cháu và đưa cháu về khu nghỉ dưới chân núi.

Nhiều em nhỏ thất lạc bố mẹ phải nhờ an ninh đưa xuống chân núi chờ người nhà tới đón. (Hình: Thanh Niên)

Ông Hà Kế San, phó chủ tịch tỉnh Phú Thọ, trưởng ban tổ chức Lễ Hội Đền Hùng xác nhận, dù ban tổ chức đã tung toàn bộ lực lượng để bảo vệ khu vực diễn ra lễ hội, nhưng lượng người quá đông khiến nơi này bỗng trở nên hỗn loạn. Tình trạng móc túi, rơi đồ đã liên tục diễn ra, có những gia đình lạc mất con đã đến nhờ ban tổ chức phát loa gọi nhờ người giúp đỡ tìm kiếm.

“Nhiều người vì nóng lòng muốn lên đền Thượng sớm nên đã chen lấn, xô đẩy nhau để được lên trước. Các đám đông liên tục giằng kéo khiến các em nhỏ bị lạc khỏi bố mẹ. Thậm chí nhiều người đã bị ngất xỉu do bị xô ép, không đủ sức chen chân lên đền Thượng,” ông San nói. (Tr.N)

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Sáng mắt trên lễ đài chiến thắng

Daniel Burstein * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Poitiers, Pháp, 28 tháng Tám, 1980

Tháng Tám vừa qua vào cao điểm mùa gió mùa ở Biển Đông, một chiếc thuyền bị rò rỉ nước trôi giạt vào bờ biển Indonesia. 64 người tỵ nạn Việt Nam cả người ướt đẫm, đói, và sợ hãi cố tiến vào bờ.

Sự kiện này lẽ ra hầu như bị lãng quên trong toàn bộ lịch sử đau khổ mà thuyền nhân Việt Nam chịu đựng, ngoại trừ một điều: Trong 64 người sống sót ấy có Trương Như Tảng, nhà cách mạng Việt Nam cao cấp nhất đào thoát sang Phương Tây.

Trong suốt sáu tháng kế tiếp ở trại tỵ nạn trên đảo Anambas, lý lịch của Tảng là người thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là bộ trưởng tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời vẫn còn là một bí mật mà chỉ vợ ông biết. Bí mật ấy vẫn còn giấu kín ngay cả sau khi Tảng được phép định cư ở Pháp, nơi một ủy ban người Việt lo nhà cho ông ở tại Poitiers và việc làm công nhân cho ông ở nhà máy lốp xe Michelin.

Tuy nhiên, vào tháng Sáu, Tảng đã trút bỏ vỏ bọc người tỵ nạn bình thường và thông báo lý lịch ông tại cuộc họp báo Paris.

“Là người đã dành trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho sự nghiệp quốc gia Việt Nam,” ông tuyên bố, “tôi phải nói cho quý vị biết rằng công cuộc giải phóng ở Việt Nam đã bị phản bội.”

Để trốn thoát Tảng đã phải trải qua bao giông tố ngoài biển khơi, chạm trán với đội tuần tra an ninh Việt Nam, và thậm chí cả cuộc tấn công của hải tặc. Trải qua tất cả những khó khăn này, ông vẫn mơ về ngày ông có thể công khai nói thật ra những điều ông nghĩ ở Paris, và kêu gọi tất cả những người Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đấu tranh chống lại chế độ mới.

Cách đây vài tuần, trong cuộc phỏng vấn chứa đựng nhiều thông tin và chi tiết nhất từ trước đến nay, Trương Như Tảng cho phóng viên này biết sự đấu tranh có tổ chức đang bắt đầu thành hình ở Việt Nam. Đó không chỉ là kháng chiến rải rác của các lực lượng cũ, cánh hữu, thân Mỹ mà đã và đang tiếp tục từ năm 1975. Quan trọng hơn là, Tảng nói, nhiều người trước kia thuộc về “lực lượng thứ ba” và ngay cả những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam bất đồng chính kiến đang tự tổ chức thành những ổ kháng chiến.

Thừa nhận Lê Duẩn (tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) và những người khác trong giới lãnh đạo Hà Nội vẫn kiểm soát chặt chẽ đất nước, Tảng tóm tắt một số nhân tố đang phá hoại sự ổn định của chính quyền của họ. Ông nhắc đến sự thiếu hụt lương thực nghiêm trọng, đàn áp chính trị, mà ông nói “thậm chí còn tệ hơn thời chế độ Thiệu ở Sài Gòn,” thương vong nặng nề trên chiến trường ở Cambodia, Liên Xô không cung cấp viện trợ kinh tế đầy đủ như đã hứa, và sự rạn nứt trong giới lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt về chính sách đối ngoại thân Liên Xô và lập trường thù địch đối với Trung Quốc của Việt Nam.

“Nhân dân Việt Nam không muốn đánh Trung Quốc,” Tảng khẳng định. “Cho dù bao nhiều lần đi nữa Lê Duẩn nói với nhân dân rằng Trung Quốc chịu trách nhiệm về những vấn đề kinh tế của đất nước, nhưng nhân dân thấy rất rõ ràng Hà Nội phải chịu trách nhiệm chuyện ấy.”

Trong ánh sáng lờ mờ trong căn nhà hầu như chẳng bày biện gì ở Poitiers, ông có vẻ như chẳng màng đến cái giá riêng tư ông phải trả để được nói thẳng công khai. Khác với đa số những người tỵ nạn Việt Nam trốn thoát khỏi cảnh đói kém và đàn áp sắc tộc để có cuộc sống tốt hơn ở Phương Tây, ông đã đổi biệt thự sang trọng có người giúp việc, xe hơi riêng, khẩu phần thịt và đường cao hơn bình thường để lấy sự tồn tại nghèo nàn và bấp bênh của một công nhân di dân ở Pháp.

“Tôi không thể im lặng mãi,” ông nói về lý do ông trốn thoát. “Tôi không thể nào đứng nhìn một cách thụ động để thấy mọi thứ mà nhân dân tôi đã đấu tranh suốt 20 năm trời bị hủy diệt.”

Cách đây 20 năm Trương Như Tảng đã quay lưng lại với nền giáo dục từ Sài Gòn giàu có và học vấn đại học từ Paris của mình để gia nhập cách mạng Việt Nam. Ông là một trong 60 người Miền Nam tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào năm 1960.

Chẳng bao lâu sau đó bị tù vì những hoạt động cách mạng, ông thoát khỏi có lẽ cái chết dưới tay nhà cầm quyền Sài Gòn khi ông được trao đổi lấy ba tù binh Mỹ vào năm 1968. Rồi ông biến mất vào những căn cứ bưng biền của Việt Cộng.

Khi chính phủ cách mạnh lâm thời được thành lập vào năm sau, Tảng được bổ nhiệm làm bộ trưởng tư pháp. Mặc dù các đội tìm-và-diệt của Mỹ thường đến gần công sự trong rừng của Tảng trong vòng 100 mét, nhưng trong suốt thời gian chiến tranh ông tập trung thảo ra những kế hoạch để chuẩn bị cho bộ tư pháp hoạt động ở Miền Nam Việt Nam mới sau chiến thắng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Chiến thắng đến, nhưng Tảng không bao giờ có cơ hội thực hiện những kế hoạch của mình. Khi duyệt binh từ lễ đài trong buổi lễ chào mừng chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) vào tháng Năm 1975, ông bị cú sốc lớn đầu tiên: Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Lâm thời không nhìn thấy đâu cả. Khi ông hỏi tướng Văn Tiến Dũng (bộ trưởng quốc phòng Việt Nam hiện nay) về lý do tại sao chỉ có cờ Miền Bắc Việt Nam tung bay, tướng này đã trả lời ông một cách khinh thường, “Quân đội đã được thống nhất.”

Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn vỡ mộng đối với Tảng. Ông cố gắng tập hợp ban chuyên gia pháp lý cho bộ tư pháp, nhưng những ai mà các cán bộ cộng sản không thích đều lặng lẽ bị đưa đến các trại “cải tạo”. Những người dân thường đòi biết ông, với tư cách bộ trưởng tư pháp, làm được gì cho bạn bè và người thân của họ bị tịch thu tài sản hay cho những người bị buộc phải dọn lên các vùng kinh tế mới.

“Tôi chứng kiến một chế độ độc tài phát-xít đang được xây dựng lên,” Tảng buồn bã nói, “và mặc dù tôi đã tranh cãi, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Các mệnh lệnh đều xuất phát từ Hà Nội, và quân đội và công an mật luôn luôn sẵn sàng ủng hộ họ.”

Vào năm 1976 Việt Nam được thống nhất theo cách ông mô tả là “bạo lực và trả thù.” Hồ Chí Minh thường tuyên bố khi thống nhất đến quá trình thống nhất nên chậm và theo từng bước một. Nhưng vào năm 1976, vấn đề thống nhất bị áp đặt lên Miền Nam, và họ không có cơ hội phản đối điều ấy.

“Lê Duẩn ra sức củng cố quyền lực này rất nhanh chóng,” Tảng tin.“Ông ta không thể nào để Miền Nam phát triển thành nơi cuối cùng phản đối cương quyết các chính sách của ông.”

Trong số 24 thành viên của Chính phủ Lâm thời vào thời điểm hiệp định hòa bình Paris được ký vào năm 1973, chỉ có ba thành viên được trao cho những chức vụ trong chính phủ thống nhất sau năm 1976. Tảng nói ngoại trừ một vài người khác là các viên chức quân đội, còn tất cả những người còn lại của Chính phủ Lâm thời cũ đều sống trong cảnh hoàn toàn ẩn dật và trong lòng họ rất ghê tởm những gì đã diễn ra.

Nhằm cố gắng giữ ông trong đoàn thể, sau thống nhất giới lãnh đạo Hà Nội ban cho ông chức vụ nhỏ trong bộ lương thực. Ông từ chối, không muốn tiếp tục đồng lõa với chính quyền ông chống đối, ông cũng không muốn bị giám sát thường xuyên ở Hà Nội. Khi ông cuối cùng chấp nhận công việc làm giám đốc công ty cao su vào năm 1978, lý do ông làm thế là để tạo vỏ bọc nhằm tổ chức kế hoạch đào thoát.

Trong sáu tháng ở trại tỵ nạn ông có nhiều thời gian suy nghĩ về chuyện tại sao cách mạng Việt Nam không thành công. Bây giờ ông tố cáo giới lãnh đạo hiện nay đã từ bỏ định hướng về thống nhất dân tộc và phi liên kết quốc tế được Hồ Chí Minh đề ra. Từ ngữ mị dân Mác-xít, ông nói, chỉ là ngôn ngữ áp bức mới ở Việt Nam.

“Ở Việt Nam hiện nay không có chuyên chính vô sản,” ông nói. “Chỉ có điều mà chúng tôi gọi bằng tiếng Việt là ‘gia đình trị’-tức độc tài của các dòng họ. Trong trường hợp này đó là các gia đình của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ (trưởng ban tổ chức Đảng) kiểm soát tất cả mọi thứ.”

Để chứng minh điều này là đúng, Tảng kể ra danh sách gồm các con trai, anh em, anh em vợ của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đang giữ những chức vụ chủ chốt từ đứng đầu công an mật tới bí thư chính ủy lực lượng không quân.

Tiếng Pháp rất giỏi của ông hay cách nói năng nhẹ nhàng của ông vẫn không có thể che giấu sự cay đắng trong giọng nói khi Tảng nói. Nhưng bất chấp những từng trải của mình, lý tưởng của ông vẫn còn nguyên vẹn. Ông nhất định không từ bỏ giấc mơ của mình về xã hội công bằng và dân chủ ở Việt Nam.

Mặc dù ông ban đầu dự định hoạt động chính trị từ từ trong lúc ông thích nghi với cuộc sống mới ở Paris, nhưng bây giờ ông thấy mình thường xuyên đến Paris để tham gia vào các nỗ lực nhằm củng cố phong trào kháng chiến Việt Nam và để hình thành cầu nối với các lực lượng kháng chiến Lào và Cambodia. Ông đã tiếp xúc với bạn học cũ vào thời trung học – hoàng thân Norodom Sihanouk, cựu quốc trưởng Cambodia – và hai người đã trao đổi những lời hứa đoàn kết.

Tảng không mất đi sự mỉa mai khi ông nói về mặt trận chung của nhân dân Việt Nam, Cambodia, và Lào chống lại những kẻ mà ông gọi là “kẻ thù chung”: giới lãnh đạo Hà Nội và những kẻ ủng hộ Liên Xô của họ. Ông ý thức rằng điều ông đang đề xuất thể hiện sự bắt đầu lại từ đầu hội nghị thượng đỉnh của nhân dân Đông Dương vào năm 1970, nơi các nhà lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam, Miền Bắc Việt Nam, Cambodia, và Lào đã gặp nhau ở Trung Quốc để thành lập liên minh chung chống lại Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn.

Trên đất Pháp ngoại quốc, Trương Như Tảng lại bắt đầu lại từ đầu, làm những gì ông đã làm cách đây 20 năm ở Sài Gòn – đặt nền tảng cho cuộc cách mạng Việt Nam.

Daniel Burstein

Nguồn:

Dịch từ báo Christian Science Monitor số ra ngày 28/8/1980. Tựa đề của người dịch. Tựa đề tiếng Anh là “A revolution who fled the revolution”.

http://www.csmonitor.com/1980/0828/082850.html

Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Trở về Hòn Ngọc Viễn Đông hay xóa bỏ văn hóa?

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-04-16

thuvienhcm-622.jpg

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Courtesy thuvientphcm.gov.vn

Your browser does not support the audio element.

Khi việc đề nghị đốn hạ 300 cây cổ thụ trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng chưa kịp lắng xuống thì những ngày qua, thông tin về một phần của Thư viện Khoa học thành phố sẽ bị “xẻ đất” để giao cho một doanh nghiệp tư nhân nhằm mục đích xây cao ốc tiếp tục gây hoang mang cho người dân trong nước.

Đặc biệt, dư luận có sự liên kết giữa hai sự việc với câu phát biểu của ông Đinh La Thăng về việc “mong TP Hồ Chí Minh trở về vị trí số 1 Đông Nam Á” và nhiều người tự hỏi: phải chăng xóa bỏ những di tích văn hóa lịch sử là một trong những cách trở về với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông?

Xóa bỏ văn hóa đọc?

Tuy chỉ mới là dự định, và chưa có quyết định chính thức từ Sở qui hoạch kiến trúc và UBND TP, nhưng thông tin việc xây cao ốc trong khuôn viên của Thư viện Khoa học Thành phố đã gây nhiều bức xúc cho những người quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử của đất nước. Không những thế, các trang mạng xã hội đồng loạt lên tiếng cho rằng việc xẻ đất để xây cao ốc trong khuôn viên thư viện là một việc làm đi ngược lại với việc bảo tồn lịch sử dân tộc, và xem thường văn hóa của một đất nước.

Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.
-GS Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cổ, trung và cận đại, nguyên trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại khi nghe thông tin này đã thốt lên rằng:

“Thế thì đau đớn quá. Nghĩa là thời buổi này người ta không cần văn hóa và khoa học nữa rồi. Một tuyên ngôn trắng trợn, xóa bỏ văn hóa rồi còn gì. Chỉ có thể nói được thế thôi. Nếu quả thật bán đi để tiêu, mà sách vở thì cho, nhét vào chỗ khác thì là một việc xóa bỏ văn hóa. Ngạc nhiên và quá đau xót.”

Trong khi giáo sư Nguyễn Huệ Chi cho rằng đó là một xóa bỏ văn hóa, thì Giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu văn hóa VN bày tỏ sự lo ngại trước một văn hóa đọc đang ngày càng đi xuống của xã hội Việt Nam. Tuy chưa được nghe thông tin chính thức, nhưng giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết ông sẽ không đồng tình với kế hoạch này:

“Nếu việc này có thật thì tôi không đồng ý, tôi phản đối chủ trương đó. Thư viện Tổng hợp cũng không rộng rãi gì, mà bây giờ văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống. Cho nên cái việc lấy thư viện để làm cao ốc, chỗ ở, hay kinh doanh thì tôi thấy không hợp lý.”

Nói thêm về điều mà ông gọi là văn hóa đọc, Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho biết rằng “phần đông sinh viên Việt Nam ngày nay rất lười đọc.”

“Tất nhiên là bây giờ thì có internet, có đủ thứ, nhưng nói gì thì nói, một cuốn sách khi mới ra, cầm nó trong tay, có cảm giác rất thích thú, nhất là mùi thơm của giấy. Không phải là bây giờ mọi người nói internet thì có thể thay được tất cả. Không thay được hết đâu. Thế thì có thể không chủ quan lắm, tôi cho rằng văn hóa đọc của Việt Nam đang đi xuống.”

Yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông

Tân bí thư thành ủy Đinh La Thăng nhấn mạnh bên hành lang Quốc hội vào ngày 19 tháng 2 vừa qua, đó là ông mong muốn TPHCM phải giành lại vị trí số 1 Đông Nam Á.

cay-xanh-sg-622.jpg

Hơn 20 người dân tại Sài Gòn hôm 26/3 tập trung tại khu vực đường Tôn Đức Thắng để phản đối việc chặt một số cây cổ thụ tại đó để triển khai dự án giao thông.

Hơn một tháng sau đó, ngày 23 tháng 3, cơ quan quản lý đường sắt đô thị TPHCM ra thông báo sẽ đốn hạ 300 cây cổ thụ trên đường Tôn đức Thắng để phục vụ cho dự án giao thông gồm tuyến tàu điện ngầm, cầu Thủ Thiêm 2, nhà ga Ba Son.

Và như vừa nêu là thông tin về một dự án cao ốc 20 tầng, cao khoảng 80m sẽ được xây trong khuôn viên Thư viện KHTH TP với chức năng làm văn phòng, khách sạn.

Trao đổi với chúng tôi, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã nói rằng, khi người Pháp xây dựng Sài Gòn, thì đã đi trước tất cả, từ Hồng Kong cho đến Singapore còn thua kém nhiều. Để có được Hòn Ngọc Viễn Đông của Đông Nam Á là Việt Nam lúc bấy giờ, họ đã xây dựng những kiến trúc cũng như quy hoạch những con đường trong đó nhiều cây xanh:

“Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém. Phải tôn trọng tất cả những kiến trúc có giá trị vừa văn hóa vừa lịch sử. Thư viện đó mà không tôn trọng thì vấn đề học tập sẽ rất kém, không phát triển được.”

Tôi nghĩ là kiến trúc lớn như vậy thì không phải chỉ có toà nhà, mà là cả một khuôn viên. Bất cứ một công trình nào xây thì cũng sẽ phá tổng quan của kiến trúc đó. Tôi nghĩ là ý thức của vấn đề, về văn hóa cũng như lịch sử rất kém.
-TS Nguyễn Nhã

Thế nhưng, giờ đây, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nếu nói đến từ Hòn Ngọc Viễn Đông hay vị trí số 1 Đông Nam Á thì đó là cái thưở rất xưa rồi.

Nhắc đến câu nói của ông Đinh La Thăng, Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng muốn Sài Gòn quay trở lại là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng một trong những yếu tố làm nên Hòn Ngọc Viễn Đông chính là hàng cây xanh, là thư viện. Và ông đặt câu hỏi rằng: “như thế, có phải đi đang ngược lại với lời mình nói hay không?”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã cũng chia sẻ rằng, những vết tích còn lại ở Sài Gòn và cả Hà Nội, như hàng cây xanh, thư viện chính là những hình ảnh làm nên bản sắc riêng của hai thành phố này. Theo ông, việc không gìn giữ được những yếu tố lịch sử văn hóa đã chứng tỏ một tầm nhìn rất thấp của những người lãnh đạo đất nước.

Cho đến nay, chưa có quyết định chính thức nào được đưa ra. Một vị đại diện Hội đồng Nhân dân TP trả lời truyền thông trong nước rằng đang chờ báo cáo của UBND TP về dự tính quy hoạch xây cao ốc trên đất thư viện như vừa nêu.

Những người quan tâm đến việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước như Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và dư luận đều hy vọng rằng thế hệ sau này vẫn còn được biết đến Thư viện Khoa học Tổng hợp, một trong những biểu tượng văn hóa còn lại của Hòn Ngọc Viễn Đông trước đây.

Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13,

nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

 Tân chính phủ: Bế tắc với những vấn nạn cũ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-04-15

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp đầu tiên với các thành viên chính phủ mới hôm 14/4/2016.

Courtesy chinhphu.vn

Your browser does not support the audio element.

Tiếp nhận di sản đầy khó khăn

Dàn lãnh đạo mới của Đảng và Nhà nước cũng như tân chính phủ của Việt Nam tiếp nhận di sản đầy khó khăn từ các nhiệm kỳ trước để lại.

Ngày 11/4 Ngân hàng Thế giới cảnh báo rủi ro tiêu cực vẫn chiếm ưu thế trong nền kinh tế Việt Nam, World Bank đồng thời hạ triển vọng tăng trưởng 2016 của Việt Nam xuống mức 6,2% từ mức 6,5% đưa ra trước đó.

Theo SaigonTimes Online, Ngân hàng Thế giới ghi nhận thâm hụt tài khóa so với GDP của Việt Nam diễn ra ở mức cao trong thời gian dài. Ngân hàng Thế giới cũng cảnh báo tình trạng nợ công tăng nhanh trong khi dự trữ ngoại tệ thấp và đang có xu thế giảm, hiện đang là lý do gây quan ngại.

Bản cập nhật đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam bổ nhiệm lãnh đạo cao cấp và công bố chính phủ mới.

Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được.
-Phạm Chi Lan

Trả lời chúng tôi vào tối 14/4/2016,  chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan  từ Hà Nội nhận định:

“Năm nay là một năm rất khó khăn của kinh tế Việt Nam thì có thay đổi chính phủ hay không, cũng khó thay đổi được tình trạng đó. Bởi vì sự khó khăn là thực tế của Việt Nam hiện nay, một mặt là nền kinh tế trong năm vừa qua có đạt tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng còn quá nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Những vấn nạn lớn như nợ công tăng cao, tình trạng nợ xấu của các ngân hàng chưa được cải thiện, doanh nghiệp nhà nước vẫn quá nhiều và kém hiệu quả, khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, con số này tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua thương vụ mua lại sáp nhập. Như vậy nó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam còn nhiều vấn đề lắm, đặc biệt nội tại của nền kinh tế nếu loại trừ khu vực đầu tư nước ngoài ra, thì rõ ràng cỗ máy kinh tế Việt Nam còn rất nhiều vấn đề bất ổn…”

Bà Phạm Chi Lan nhấn mạnh rằng, không chỉ Ngân hàng Thế giới nhận định nhự vậy, mà chính các chuyên gia trong nước, nhiều tổ chức nghiên cứu của Việt Nam cũng nhận thấy kinh tế của năm 2016 sẽ là một năm khó khăn. Vị chuyên gia từng tham gia biên soạn Báo cáo Việt Nam 2035 đề cập tới bối cảnh Việt Nam đang phải đương đầu với thách thức hội nhập lớn hơn. Trong năm nay Cộng đồng Kinh tế ASEAN hình thành, hàng hóa cạnh tranh của các nước ASEAN ở Việt Nam sẽ tăng lên rất mạnh.

Vẫn theo bà Phạm Chi Lan, thực tế mấy năm vừa qua đã thấy hiện tượng gọi là những cuộc đổ bộ của các doanh nghiệp ở các nước Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines… họ tràn vào Việt Nam để chiếm lấy cơ hội thị trường trong nước của Việt Nam, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp trong nước còn yếu kém, mà chính sách của nhà nước thì vẫn thiên về hướng hỗ trợ nhiều hơn cho đầu tư nước ngoài so với khu vực tư nhân trong nước. Trong tình hình như thế, bà Phạm Chi Lan nói, rõ ràng thách thức của Việt Nam là rất lớn.

000_Hkg10220419-622.jpg

Từ trái sang: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội. (Ảnh minh họa chụp năm 2015)

Trò chuyện với chúng tôi, cùng ngày 14/4/2016, chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành, một Việt kiều hiện sống và làm việc ở Hà Nội cũng nhìn nhận ban lãnh đạo mới của Đảng và Chính phủ Việt Nam thừa nhận một di sản đầy khó khăn của các nhiệm kỳ trước để lại. Ông nói:

“Dự báo của Ngân hàng Thế giới dựa trên quá trình từ trước ngày chính phủ mới nhậm chức. Thế thì đối với một chính phủ mới nhậm chức nhận được những thông tin như vậy thì cũng phải vươn lên thôi… những điều gì Ngân hàng Thế giới có khuyến cáo thì chúng ta lắng nghe… Cái gì 30 năm nay từ 1985 đến nay chưa làm được thì phải tỉnh táo xem lý do khách quan, chủ quan tại sao chưa làm được, để biết phải làm gì để vượt qua những khó khăn đấy… đó là phần việc mà lãnh đạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng như tân Chính phủ phải nghiên cứu hết sức quyết liệt tìm hiểu con đường đi tới. Hiện nay tư duy đã nói hết sức làm những chuyện gì để Việt Nam vươn lên, để hội nhập quốc tế, muốn hội nhập thì phải thực hiện những hiệp định chúng ta đã ký với nước ngoài, trong đó có những điều khoản phải thi hành… có rất nhiều chuyện cần phải làm chứ không phải chỉ là ngồi bàn cãi riêng với nhau mà thôi… phải nghiên cứu tất cả mọi điều kiện để chúng ta tiến tới…”

Thâm hụt ngân sách lớn

Di sản kinh tế Việt Nam qua hai nhiệm kỳ 10 năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để lại là sự âu lo về nợ công, thâm hụt ngân sách lớn, sự đổ vỡ đầy mất mát của một số tập đoàn kinh tế nhà nước và tình trạng tham nhũng tràn lan chưa bị đẩy lùi. Việt Nam cũng đã tiến hành cải cách thể chế với kết quả không đáng kể, trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bây giờ chính phủ nhiệm kỳ mới lại vẫn tiếp tục với những vấn đề không mới mà đã được cảnh báo từ lâu. Được biết,Việt Nam theo cơ chế lãnh đạo tập thể, chịu trách nhiệm tập thể, Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện. Như vậy, phải chăng Chính phủ nhiệm kỳ mới của Việt Nam cũng sẽ tiếp tục bế tắc như chính phủ tiền nhiệm và trì trệ trong các nút thắt thể chế. Chúng tôi nêu câu hỏi này với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan và được bà trả lời:

Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…
-Phạm Chi Lan

“Tôi không nghĩ hẳn là Việt Nam ở tình trạng không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’. Con đường đi để vượt qua khó khăn từng được nêu lên nhiều rồi chứ không phải bây giờ mới nói… trong những năm vừa qua cũng có những cải cách nhất định được tiến hành…thí dụ chính phủ cũ cũng tiến hành công cuộc tái cơ cấu kinh tế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có một số thay đổi trong cố gắng để cải thiện môi trường kinh doanh…thì đã có làm một số việc nhưng vấn đề chính là làm không tới nơi tới chốn và có những vấn nạn lớn thì lại chưa được giải quyết, thành ra nó không giúp khắc phục được điều kiện kinh tế khó khăn của Việt Nam những năm vừa qua. Dù nó có thể làm cho tăng trưởng được nhất là với khu vực đầu tư nước ngoài, còn có nhiều ưu đãi dành cho họ, rồi vẫn cố gắng để tiếp nhận những dự án mới, thì họ còn có thể đóng góp cho tăng trưởng. Nhưng khi nền kinh tế nội bộ không tăng trưởng được thì nó sẽ ảnh hưởng về lâu về dài với Việt Nam…”

Cụ thể về tương lai của chính phủ nhiệm kỳ mới, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhân vật từng là thành viên Ban tư vấn kinh tế của Thù tướng Phan Văn Khải, tiếp lời:

“Tôi cho là những người lãnh đạo mới lên của nhiệm kỳ này, có lẽ họ cũng đã được thông báo và biết tình hình đó. Tôi chỉ mong họ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi. Kiến nghị rõ nhất và tập trung nhất, tôi nghĩ là thể hiện trong Báo cáo Việt Nam 2035 mà thời gian vừa rồi Ngân hàng Thế giới cùng với Chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu và đã được công bố. Trong đó thông điệp rất rõ là nếu không cải cách thể chế thì Việt Nam sẽ không thể phát triển được, khó thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, còn nếu cải cách thể chế thì Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển được tốt hơn trong những năm tới vượt qua những khó khăn hiện nay.”

Báo chí Việt Nam đưa tin ngày 12/4, tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân mô tả những thách thức đầy khó khăn đối diện Quốc hội khóa tới và tân chính phủ.

Soha News trích lời bà Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu bế mạc kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13, theo đó bà nhìn nhận nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt kế hoạch, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, nợ công, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn và đặc biệt Việt Nam không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Điểm qua truyền thông báo chí trong nước, VnExpress là tờ báo điện tử  hiếm hoi, đề cập thẳng vào những thách thức đối với các tân lãnh đạo Việt Nam. Tờ báo trích lời ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Australia nhận định rằng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chịu 4 thách thức lớn, gồm giảm nợ công, cải cách hệ thống ngân hàng để giảm nợ xấu, đẩy mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ nỗ lực giảm tham nhũng.

Rõ ràng những vấn nạn vừa nêu là không mới và như lời chuyên gia Phạm Chi Lan bày tỏ hy vọng là, những lãnh đạo mới lên “Sẽ thực sự nhận thức được sâu sắc những vấn đề của nền kinh tế Việt Nam đương đầu hiện nay và con đường thoát ra khỏi nó, mà các chuyên gia trong ngoài nước đã đưa ra nhất nhiều kiến nghị rồi.”

Bị công an ‘đánh vì 700.000 đồng’?

Bị công an ‘đánh vì 700.000 đồng’?

Báo trong nước mô tả “thượng sĩ Hà đã tác động mạnh khiến anh Phong ngã xuống đường nằm bất động”

Hôm 16/4, vợ của người bán hàng rong bị công an đánh tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh nói với BBC rằng vụ việc xảy ra do chồng bà ‘không chịu nộp 700.000 đồng tiền bảo kê mỗi tháng’.

Thượng sỹ Lương Việt Hà là người xuất hiện trong video clip đánh ông Phạm Thiện Minh Phong, 28 tuổi, người bán hàng rong tại khu vực chợ Bình Tiên, (đường Phạm Phú Thứ, phường 4, quận 6) khiến nạn nhân phải nhập viện vì “xuất huyết màng não bán cầu ở bên phải”.

Hôm 15/4, báo trong nước đưa tin ông Hà “đã bị tạm đình chỉ công tác để xác minh”.

Đại tá Nguyễn Sỹ Quang được Tuổi Trẻ hôm 15/4 dẫn lời: “Hành xử của Thượng sỹ Hà trong đoạn video là không đúng quy tắc ứng xử và điều lệnh của ngành. Công an TP. Hồ Chí Minh sẽ xử lý nghiêm, sai đến đâu xử lý đến đó”.

Khởi kiện?

Hoang Dinh Nam AFP Getty Images

Trả lời BBC qua điện thoại hôm 16/04, bà Nguyễn Ngọc Thúy, vợ ông Phong, nói: “Chồng tôi đi nghĩa vụ quân sự về, nhất quyết không đóng 700.000 đồng mỗi tháng như những người khác để được yên ổn bán rong”.

“Bán trái cây mỗi tháng thu nhập chỉ vài triệu đồng, đóng 700.000 đồng thì còn đâu ra để lo tiền thuê nhà, tiền học cho con?”.

Bà Thúy nói thêm, hai tháng trước, vì không đóng ‘hụi chết’, chồng bà bị thu chiếc xe lôi và mới dành dụm mua lại chiếc xe mới với giá 1,5 triệu đồng (xuất hiện trong đoạn clip).

Bà cũng cho hay: “Thượng sĩ Hà và mẹ có đến gặp vợ chồng tôi để nhận trách nhiệm vụ hành hung, xin bỏ qua và trả viện phí cho chồng tôi tại Bệnh viện 115. Hiện chồng tôi vẫn bị đau ở cổ và cột sống. Chồng tôi nói không thể bỏ qua vì ông Hà có thể tái diễn việc hành hung những người dân khác”.

Bà nói gia đình đang suy tính việc kiện Thượng sỹ Hà ra tòa.

Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Phúc Âm

Gioan 10:27-30

27

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.

28

Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải

diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.

29

Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không

ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.

30

Tôi và Chúa Cha là một.

THẬP GIÁ VÀ THÁNH GIÁ

THẬP GIÁ VÀ THÁNH GIÁ

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ

     Thập giá ở khắp nơi, trên mộ bia trong nghĩa trang, trên tháp cao nhà thờ, trên bàn dâng lễ, trên ngực áo, bên vành tai, trên tường đá.  Nhiều thập giá quá.  Ðức Kitô bị đóng đanh trên thập giá.  Thập giá đã mặc nhiên được coi như biểu tượng của Kitô hữu.  Nơi nào thấy thập giá, người ta nghĩ ngay nơi ấy có đạo Chúa.  Vậy có thể nói nơi nào có thập giá, nơi ấy có Ðức Kitô không?

Tôi không nghĩ như vậy.

THAP GIA VA THANH GIA

Trước khi Ðức Kitô bị đóng đanh đã có thập giá rồi.  Người Rôma dùng thập giá để lên án tử hình cho các tội nhân.  Bấy giờ, ở đâu có thập giá là có sự chết.  Người ta sợ hãi thập giá.  Bóng thập giá là tử thần.  Thập giá tới đâu có khóc than ở đó.  Bởi thế, nếu nói đâu có thập giá là có Chúa thì kiểu nói ấy e rằng rất hàm hồ.  Hôm nay, nếu nói nơi nào có bóng thập giá là nơi ấy có vết chân người Kitô hữu thì có thể đúng.  Nhưng làm sao dám khẳng định nơi nào có Kitô hữu là có Chúa hiện diện?  Người ta có thể dùng thập giá để đấu tranh.  Ðã chẳng có những xứ đạo mất bình an chỉ vì xây cất nhà thờ đó sao.  Không phải cứ có bóng thập giá là có sự hiện diện của Chúa.

Biểu tượng và ngẫu tượng

Những gì tôi thấy hôm nay, thập giá trên tháp chuông cao, thập giá trên bàn thờ nhà tôi, thập giá ở cổng giáo đường, nhiều khi rất là vô nghĩa.  Tôi quá quen thuộc với biểu tượng nên biểu tượng có thể dễ trở thành ngẫu tượng.  Khi tôi mặc nhiên cho rằng nơi nào có thập giá là có Chúa thì tôi có thể chỉ nỗ lực xây dựng nhiều thập giá.  Ðiều này dễ rơi xuống hố sâu nguy hiểm.  Biểu tượng bao giờ cũng mang hai đặc tính.  Ðặc tính thứ nhất của biểu tượng là cần nhìn thấy.  Vì thế, thập giá có thể bằng xi măng, bằng đá, bằng đồng, bằng vàng.  Ðặc tính thứ hai là biểu tượng ấy phải diễn tả một thực tại không nhìn thấy ở đàng sau.  Ðiều này gian nan chứ không đơn giản.  Một thực tại vắng mặt thì có thể diễn tả bằng một biểu tượng.  Nhưng không phải cứ có biểu tượng là có thực tại vắng mặt.  Và bi đát hơn nữa là người ta có thể đánh lừa bằng biểu tượng.  Gởi tặng cánh hoa là gởi biểu tượng để chuyển ngữ một tình cảm không nhìn thấy.  Biểu tượng ấy chỉ đúng nghĩa khi có tình yêu ở phía sau.  Như thế phải có tình yêu trước.  Biết bao người tặng hoa nhưng không tặng tình yêu.  Biết bao người nhận hoa mà trao lầm trái tim vì ngỡ rằng có tình yêu ở đàng sau cánh hoa.

Ðiều đó cũng đúng với thập giá.  Thập giá là biểu tượng thì tôi phải đi tìm thực tại đàng sau biểu tượng.  Nếu tôi gọi thập giá là biểu tượng hiện diện của Chúa mà thật sự không có Chúa thì lòng yêu mến biểu tượng ấy thành ôm giữ ngẫu tượng.  Quá quen với não trạng thập giá là biểu tượng hiện diện của Chúa, nên ta ít tự hỏi nếu không có sự hiện diện của Chúa thì tôi đang ôm giữ gì.  Không còn là biểu tượng hiện diện của Chúa, nếu không là ngẫu tượng thì ta gọi là chi?

Lý do các thượng tế đưa ra để kết tội Chúa là vì Ðức Kitô nhận mình là Con Thiên Chúa.  Theo họ, Ðức Kitô đã phạm thượng vì xúc phạm đến Thiên Chúa.  Còn họ thì phải bảo vệ Thiên Chúa (Mc 14:60-64).  Chính trong hành động nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ Thiên Chúa họ đã kết án Thiên Chúa.  Chính hành động họ nói Ðức Kitô phạm thượng, họ đã phạm thượng.  Gian nan là ở đấy.  Quá gần Thiên Chúa nên ngỡ Thiên Chúa ở rất xa.  Càng đợi trông một Thiên Chúa ở xa mà Ngài lại ở gần thì sự xa cách ấy lại càng xa hơn nữa.

Do đấy, kẻ ôm giữ thập giá là biểu tượng chứ chưa chắc có sự hiện diện của Chúa mà họ cứ khăng khăng tin rằng họ đang ôm giữ Chúa thì làm sao mà nhận ra sự xa cách ấy.  Cho nên họ tưởng rất gần Chúa mà thật sự rất xa.  Từ biểu tượng đến ngẫu tượng, họ tưởng rất xa, mà lại hóa quá gần.

Từ thập giá đến THÁNH giá

Ba cây thập giá dựng lên trong chiều ấy.  Ðức Kitô ở giữa hai tội nhân.  Trong ba cây thập giá ấy chỉ có cây ở giữa là THÁNH giá.  Khi Ðức Kitô tắt thở trên cây thập giá, Ngài đi vào Phục Sinh thì cây thập giá khốn khó ấy thành cây cứu rỗi và trở nên THÁNH.  Chất THÁNH ấy là tình yêu, là đau khổ, là sự chết, là vinh quang.  Không có tình yêu thì thập giá không là THÁNH giá.

Nhìn lại những bến bờ đã đi qua của thập giá và THÁNH giá, ta thấy ngay khi thập giá trở thành THÁNH giá rồi cũng không có nghĩa cứ thoáng nhìn là nhận ra THÁNH giá.  Vẫn có một khác biệt rất lớn.  Câu chuyện hai người trộm bị đóng đanh cùng với Chúa chứng minh điều đó.  Một người nhục mạ Chúa:

“Ông không phải là Ðấng Kitô sao?  Hãy tự cứu mình đi, và cứu chúng tôi với.” Một người thì nói: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!  Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.  Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Ðức Giêsu nói với anh: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng” (Lc 23:39-43)

Một người nhìn thấy thập giá là THÁNH giá.  Một người nhìn thấy THÁNH giá chỉ là thập giá.

Phân biệt thập giá và THÁNH giá không đơn giản.  Lại càng không giản đơn khi ta quá quen biểu tượng trong một não trạng mù mờ.  Trước THÁNH giá thật mà còn không nhận ra THÁNH giá thì trước những THÁNH giá giả vấn đề còn gian truân tới đâu.  Nếu không biết yếu tố làm nên chất THÁNH, nếu không tìm yếu tố làm nên chất THÁNH, nếu không sống yếu tố làm nên chất THÁNH thì ta không có THÁNH giá.  Cả một bến bờ cuộc sống chỉ là ngẫu tượng.

Trong xã hội hôm nay, từ tâm lý quảng cáo đến các tổ chức chính trị, văn hóa, thể thao, nghệ thuật, từ cá nhân đến tập thể, chỗ nào cũng thấy có những biểu tượng cho sinh hoạt của tổ chức đó.  Mặc dầu Chúa bảo: “Cứ dấu này mà người ta nhận ra chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con hãy thương yêu nhau (Ga 13:34-35).  Nhưng chúng ta cũng vẫn có một biểu tượng cho sự hiện diện của đạo Chúa, đó là THÁNH giá.

Biểu tượng là để người khác nhìn.  Tôi sống trên quê hương tôi thì biểu tượng là ngôn ngữ nói với những người cùng một quê hương ấy.  Tôi phải dùng ngôn ngữ nào dễ hiểu và chính xác cho thực tại là Chúa ở sau biểu tượng?  Trên một quê hương nghèo đói thì biểu tượng để nói về Chúa là bác ái, chia xẻ cảnh khốn cùng.  Giữa cảnh các bé thơ thất học không có trường lớp, thầy cô thiếu lương, thì sự hiện diện của Chúa không là biểu tượng thập giá to hay nhỏ, mà phải là THÁNH giá có tình yêu, dấn thân cho Tin Mừng bằng con tim tận tụy như chính một rung cảm chiều nọ bên đồi vắng: “Ta thương đoàn dân này… Ta không muốn để họ đói… Ta sợ rằng họ lả dọc đường” (Mt 15:32).

**************************

Lạy Chúa, không có bác ái, không có THÁNH giá, chỉ có thập giá thì con chẳng nói gì về Chúa cho những người cùng một dân tộc mà Chúa sai con tới cả.  Một biểu tượng sai về Chúa sẽ làm cho Chúa còn khổ tâm hơn nữa.  Có khi người ta càng nhìn thấy thập giá mà càng xa Chúa.  Có khi càng nhiều bóng thập giá càng làm người ta khó chịu những kẻ xây dựng nên nó.  Ðiều đó cũng đúng thôi, vì thập giá không là THÁNH giá.  Có THÁNH giá phải có bác ái.

Lạy Chúa, nhưng nếu con không hiểu rõ con đang có THÁNH giá hay chỉ có thập giá trong giáo xứ, trong gia đình, trong đời sống của con thì làm sao con biết nói với dân tộc con về Chúa qua biểu tượng THÁNH giá.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ

trích trong “Viết Trong Tâm Hồn”

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Những cái chết… “đúng qui trình”!

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

15-4-2016

(Minh họa: Ngọc Diệp)

Nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

“Đúng qui trình” đang là cụm từ “hot”. Vào trang tìm kiếm Google lúc 14g30 ngày 14/4/2016 cho 03 từ này, thấy 353.000 kết quả trong 0,47 giây với đủ các nội dung.

Từ việc bổ nhiệm cán bộ sai qui định, cấp sổ đỏ hay cho phép xây nhà trái phép, cấp cứu người bệnh cho đến tăng giá các mặt hàng thuộc nhóm độc quyền… Tất tần tật đều rất “đúng qui trình”.

Trên tờ Vn Economy, ông Nguyễn Sĩ Cương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã từng chua chát thốt lên: “Thật lạ lùng là cái gì cũng đúng quy trình! Tiêm chết người rồi vẫn khẳng định là… đúng quy trình, bỏ tù oan đến cả 10 năm vẫn… đúng quy trình, bỏ lọt 230 kg ma túy qua cửa khẩu vẫn… đúng quy trình. Tôi cho rằng đấy chỉ là sự biện hộ và rũ bỏ trách nhiệm một cách vô cảm”.

Thế nhưng Tại Hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 4 ngày 13/4, ông Lê Minh Trung, Bí thư Quận ủy Thanh Khê còn có một khái niệm mới về “qui trình”: “Chết dần dần đúng… qui trình”.

Ông Trung nói: “Thành phố có hàng trăm héc-ta rau sạch, rau sạch này bán ở đâu, địa chỉ nào, chỉ cho dân đến mua. Không biết rau sạch hay là dơ thì cứ ăn, ăn xong rồi chết dần dần, gọi là “chết đúng qui trình”.

Thật ra, chuyện thực phẩm bẩn của ta thì chả có gì mới. Nghĩa là nó cũ một cách nguy hiểm hay nói một cách khác, một mối nguy hiểm rất… cũ.

Rau tưới bằng dầu hỏa, trồng ở bãi tha ma vừa chôn người chết, rửa ở rãnh nước thải. Gạo chứa thuốc trừ sâu, diệt cỏ. Tôm cá đồng nhiều dư lượng kháng sinh, hải sản ướp phân bón ure. Thịt lợn chứa chất tạo nạc và thuốc an thần. Thịt bò bơm nước. Thịt gà bôi phẩm màu hóa chất dùng để đánh bóng bàn ghế… là chuyện thường ngày.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa kể: “Hồi ở Đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên của tôi đi công tác Hà Tĩnh về, có tặng tôi hai quả bưởi. Bưởi đặc sản, quý lắm. Tôi cất trong tủ. Đợi có khách quý thì khao. Thế rồi quên. Mấy quả bưởi lăn lóc trong đống báo đã đọc. Khi được tặng bưởi, tôi đang là Giám đốc Kênh Truyền hình. Rồi sau đó, tôi chuyển sang làm Phó Bí thư Đảng uỷ. Bốn năm sau, tôi có lệnh điều động chuyển hẳn sang Hội Nhà văn. Lúc bấy giờ, tôi mới chuyển cơ quan, nghĩa là sau khoảng 6 năm, dọn tủ, tôi bất ngờ thấy hai quả bưởi mà mình đã bỏ quên. Càng bất ngờ hơn khi sau 6 năm, bưởi vẫn tươi nguyên, và lúc bổ ra, múi bưởi vẫn đẹp, vẫn tươi mọng. Thật kinh hoàng”.

Chuyện “trường tồn” của thực phẩm ở ta thì kinh hoàng rồi. Có người hài hước nói rằng rồi đây Việt Nam sẽ có nhiều… xác ướp nhất thế giới. Lý do là bởi khi còn sống, ăn nhiều chất phocmol nên khi chết, thịt sẽ “tươi” mãi mãi…

Có một câu hỏi cũng “tươi mãi”: Ai chịu trách nhiệm?

Câu trả lời nhìn chung là giống nhau và cũ: Không ai cả!

Thế nhưng lần này, có một câu mới, mới như… cũ. Đó là của bà PGS TS Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia LÊ THỊ HỒNG HẢO: “Đầu tiên là trách nhiệm của người sử dụng”.

Lại nhớ có lần ông Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Đinh La Thăng than thở: “Các bộ nói phối hợp rất tốt, nhưng thực tế dân vẫn cứ ăn thực phẩm bẩn, thế thì tốt ở đâu, tốt để làm gì, chẳng nhẽ nói dân cứ tạm ăn bẩn đi để các bộ xây dựng lộ trình?”.

Các bộ “phối hợp rất tốt” nhưng dân thì vẫn phải “ăn bẩn”, thế thì “tốt ở đâu” và “tốt để làm gì”? Rồi giờ đây trách nhiệm “đúng qui trình” là “của người sử dụng”.

Mà quan đúng qui trình thì dân chết cũng… đúng qui trình là phải lẽ tự nhiên thôi. Cái “qui trình chết” này của dân bắt đầu từ ăn phải thực phẩm bẩn, rồi nhiễm bệnh, rồi ốm, rồi chết. Rất đúng qui trình vì chả mấy ai chưa ốm đã chết trừ tai nạn gì đó thì không tính ở đây.

Chỉ có điều, nếu đằng nào dân cũng “chết đúng qui trình” thì lập ra ban nọ, bệ kia mỗi năm tiêu tốn cả đống tiền của dân để làm gì nhỉ? Hay là giải tán quách nó đi để cho dân “chết đúng qui trình” vì đằng nào chả thế, chết là hết, cần gì đúng qui trình hay không đúng qui trình?

Vì thế tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Xuân Anh cho biết, thành phố sẽ lập lại Ban chỉ đạo an toàn vệ sinh thực phẩm mà thành viên Ban chỉ đạo phải là cấp trưởng ở các sở ngành, quận huyện và giám đốc các Sở Y tế, Công thương, Công an… cùng chủ tịch các quận, huyện.

Ban sẽ do một Phó Chủ tịch UBND TP làm trưởng ban, có cơ chế báo cáo trực tiếp với Thường trực Thành ủy và đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đây là nét rất mới bởi chao ôi, người xưa có câu “Sinh có hạn, tử bất kỳ” nhưng giờ đây nếu mà chết cũng có… qui trình thì còn có gì để nói, phải không các bạn?