CHUYỆN NƯỚC VỆ: UNG NHỌT BỊ VỠ

CHUYỆN NƯỚC VỆ: UNG NHỌT BỊ VỠ

adminbasam

Nguyễn Đình Cống

30-4-2016

Vệ Kính thăm tập đoàn Pho mô, nước Đại Long. Phó nhòm: in tẹc léc.

Ung nhọt nay đã vỡ toang. Lỡ rồi còn biết chữa làm sao đây.

Kịch 5 hồi, 5 nhân vật, tiếp theo “ĐẠI VỆ CHÍ DỊ TÂN BIÊN”. Xin mượn tên đặt của Người buôn gió.

HỒI 1- Tại trụ sở tập đoàn Pho mô, nước Đại Long

Cheng Phu (chủ tập đoàn): Này ông An Đô, trong dự án ở nước Đại Vệ, khoản bảo vệ môi trường do nước thải ra biển là đáng lo ngại vì ở đó đã có tiền sự bọn Veđa giết chết sông Thi Va và những bê bối do chúng ta phá hoại môi trường ở nhiều nơi đều đã được họ biết đến.

An Đô (chuyên gia thiết kế): Vâng thưa ông. Theo tình báo thì chỉ có một số rất ít trí thức của họ biết loa qua thông tin chúng ta phá hoại môi trường ở các nơi, còn từ vua đến các quan không ai biết, họ đang mờ mắt vì những hứa hươu, hứa vượn của chúng ta. Mà ở nước Đại Vệ có mấy quan chức tin vào bọn trí thức,  nếu có đứa nào tiết lộ thông tin xấu về chúng ta thì chỉ cần xui giục vua quan họ tìm cách vu cáo là phản động, là trốn thuế hay tàng trữ hàng lậu rồi bắt giam hoặc bí mật khử đi là yên chuyện. Tuy vậy, tôi đã cho thiết kế hệ thống xử lý nước thải đến mức có thể dùng nước đó để nuôi cá, tưới cây, chỉ là vấn đề giá thành hơi cao hơn bình thường, đến 1 vạn lạng.

Cheng Phu: Sao, đến 1 vạn lạng kia à, trong lúc toàn bộ dự án chỉ khoảng 25 vạn lạng. Ông hãy nghiên cứu cách nào rút bớt chi phí, kể cả dùng mưu lược.

An Đô: Dạ thưa, tôi cũng đã cho thiết kế phương án 2, chỉ xử lý kỹ một phần, khoảng 5% để phục vụ cho việc kiểm tra và tuyên truyền, phần lớn, khoảng 75% chỉ xử lý một phần, còn khoảng 20% không xử lý. Như vậy chỉ cần chi phí khoảng 2 ngàn lạng. Xin ông đừng lo, chúng tôi sẽ ngụy trang kỹ đến mức ngoài một số người thân tín thì không ai biết, và các chuyên gia môi trường đã tính toán rất kỹ là lượng nước thải như vậy được xả vào biển sẽ nhanh chóng hòa vào Đại dương, tai họa cho môi trường chỉ xảy ra từ từ, không thể thấy ngay được. Để đề phòng trong bọn đến kiểm tra có đứa nào giỏi, có thể điều tra ra, xin ông một khoản dự phòng chừng vài trăm lạng để kịp thời bịt miệng chúng.

Hồi 2- Tại kinh đô nước Đại Vệ

Cheng Phu: Thưa Hoàng thượng, hạ thần vô cùng biết ơn khi ngài gật đầu cho quan tổng đốc ký với hạ thần dự án cho thuê đất 70 năm với giá 80 đồng/ mét vuông mỗi năm và miễn cho 15 năm đầu. Cứ theo giá mặt bằng thị trường thuê đất và không miễn năm nào thì tổng chênh lệch là trên 12 ngàn lạng. Số này xin chia làm 3 phần. Một phần xin dâng lên Hoàng thượng, tuy chẳng đáng là bao nhưng cũng tạm đủ để ngài chia cho các cận thần dùng vào việc uống cà phê buổi sáng. Một phần xin dâng cho quan tổng đốc, cũng để chia cho đồng liêu và hầu cận, phần còn lại hạ thần xin giữ để thêm vào chi phí bảo vệ môi trường.

Vệ Kính (Vua của Đại Vệ): Điều ông vừa nói làm trẫm nhớ đến yêu cầu phát triển bền vững, mở mang kinh tế phải đi đôi bảo vệ môi trường, Việc đó đã được viết nhiều, nói nhiều mà chưa thực hiện được. Ông có dám cam đoan bảo vệ được môi trường đất, biển, không khí của cả vùng không?

Cheng Phu: Dạ, với trí thông minh của Hoàng thượng thì ngài biết rằng khoa học và công nghệ hiện thời chưa dám bảo đảm chăm phần chăm, nhưng hạ thần xin hứa là sẽ bảo đảm trên cơ bản. Trong khu công nghiệp sẽ có hàng vạn thần dân nước Đai Long. Chúng tôi có nghĩa vụ bảo vệ môi trường cho cả họ nữa chứ. Tuy vậy, hạ thần không dám khẳng định là mọi việc luôn xẩy ra êm đẹp, nếu sau này vận hành, thỉnh thoảng có tạm thời xẩy ra sự cố thì cũng rất mong Hoàng thượng thông cảm mà tìm cách bỏ qua.

Vệ Kính: Bỏ qua là thế nào, tôi mà bỏ qua cho các ông thì dân nước Đại Vệ có để yên hay không?

Cheng Phu: Dạ, phải nghĩ ra biện pháp vừa mềm vừa cứng để dân tuy có biết nhưng không đụng được đến cái gót chân của Bệ hạ chứ ạ. Để chuẩn bị cho việc này, hạ thần đã chuẩn bị một khoản 3 ngàn lạng, xin dâng lên để Hoàng thượng đưa vào công quỹ hoàng tộc.

Vệ Kính: Thế thì tạm được, nhưng trong số đó ông có kể khoản phải chi cho quan thượng thư, những người của Bộ Môi trường và những người của quan tổng đốc chưa?

Cheng Phu: Dạ có, kể tất cả các khoản đó ạ. Chi cho ai bao nhiêu là do ân điển của bệ hạ.

Vệ Kính: Thế thì không đủ, phải tăng lên, ít nhất là đến 4 ngàn lạng.

Cheng Phu: Dạ, hạ thần xin tuân chỉ.

(Vệ Kính Vương tiễn Cheng Phu ra về và cho triệu ông Lê Toan, thượng thư Bộ Môi trường)

Vệ Kính: Này quan đại phu Lê Toan, ta vừa nghe tên Cheng Phu báo cáo về môi trường của dự án Pho mô, ông chắc cũng đã xem xét qua?

Lê Toan: Dạ, không phải chỉ xem qua mà đã xem kỹ. Nước thải của họ, sau khi xử lý được tập trung lại trong một bể chứa trước khi tháo vào đường ống dẫn ra biển, miệng ống thoát đặt sâu 20 mét và xa bờ trên 1500 mét. Để chứng tỏ nước được xử lý tốt, trong bể chứa người ta sẽ nuôi cá. Chúng tôi đã cho các chuyên gia thẩm định kỹ thiết kế và đã chấp nhận, cho phép làm như vậy.

Vệ Kính: Ông có chắc rồi đây môi trường được bảo đảm chăm phần chăm không?

Lê Toan: Dạ làm sao mà dám bảo đảm trăm phần trăm ạ, thường không tránh khỏi một xác suất rủi ro nào đó.

Vệ Kính: Ý ông vừa nói phù hợp với lời tâu trình của ông Cheng Phu và cũng giống với ý của trẫm. Cheng Phu có đưa qua tôi, nhờ chuyển cho ông và các quan bên Bộ Môi trường 800 lạng để lo đối phó khi xẩy ra sự cố như ông dự đoán.

Lê Toan: Xin vô cùng biết ơn bệ hạ.

Hồi 3- Tại kinh đô nước Đại Vệ sau khi xẩy ra sự cố cá chết trắng biển

Vệ Kính: Này ông Cheng Phu, tôi vì tin ông mà tạo cho ông không biết bao nhiêu ưu đãi, thế mà ông gây ra vụ cá biển chết hàng loạt, bây giờ ông bảo tôi nên làm thế nào?

Cheng Phu: Dạ, thì từ đầu Hoàng thượng cũng đồng ý với hạ thần là không thể bảo đảm chăm phần chăm, và vì thế hạ thần đã dâng 4 ngàn lạng để xử lý sự cố.

Vệ Kính: Nhưng sự cố cũng chỉ vừa phải mới chấp nhận được để tìm các xí xóa, chứ vừa rồi không còn là sự cố mà là thảm họa, đại thảm họa, ông có biết không. Biết làm sao đây?

Cheng Phu: Dạ, chính gặp khó khăn mới tạo điều kiện để Hoàng thượng tỏ rõ trí thông minh và sự tín nhiệm tuyệt đối của quần thần. Hạ thần cũng tự biết tội lớn là quá tin vào các chuyên gia thiết kế và công nghệ. Để chuộc lỗi lầm hạ thần xin dâng thêm 1 ngàn lạng nữa, xem như để xử lý sự cố phát sinh, mong Hoàng thượng mở lượng hải hà để cứu hạ thần và tự cứu. Hạ thần sợ rằng nếu sự thật của vụ việc bị phát hiện thì hạ thần không tránh khỏi tội lớn là lôi kéo cả Hoàng thượng xuống hố cả nút. Trước mắt, để tạm trấn an dư luận, hạ thần xin Hoàng thượng chiếu cố đến thăm, kiểm tra tiến độ công trình, khen ngợi quan chức và thợ thuyền mà không nói gì đến chuyện cá chết.

(Sau khi tiễn Cheng Phu, Vệ Kính Vương cho triệu thượng thư bộ Môi trường Lê Toan).

Vệ Kính: Này ông Lê Toan, vụ cá chết ông định xử lý thế nào, đã nghĩ ra được mưu cao chước giỏi nào chưa? Đúng là một ung nhọt lớn đã bị vỡ, làm sao, làm sao để bịt lại được đây?

Lê Toan: Dạ muôn tâu. Thần cũng có lường trước nhưng không ngờ ung nhọt to đến thế, vỡ ra nhanh đến thế. Thần đã triệu tập một số mưu sĩ để vạch ra một số kế sách, nhưng quan trọng nhất là phải biết rõ ý của Hoàng thượng mới triển khai cụ thể được.

Vệ kính: Này ông Toan, ta tưởng ngươi ở dưới trướng hàng chục năm nay, hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc thì phải biết đúng ý ta chứ, dù ta chưa nói ra. Ta và nhiều người đều biết rõ thế lực chống lưng cho tập đoàn Pho mô và ta không bao giờ dám đụng đến cái lông chân của họ. Việc này cũng như nhiều việc khác, phải lấy đại cục làm trọng, tìm cách xí xóa càng nhanh càng tốt. Ta dự định phải tiến hành ít nhất 3 việc lớn. Giao cho bộ Hình theo dõi, ngăn chặn các cuộc rối loạn của dân, nắm được những tên cầm đầu xúi dục dân đấu tranh, biểu tình và có cách đối phó. Giao cho Bộ Nông tìm cách phát chẩn cho dân để làm dịu sự phản đối và tuyên truyền lòng tốt, vì dân của triều đình. Còn ông, liên kết với các Bộ khác và đặc biệt là một số tiến sĩ, giáo sư dỏm, hữu danh vô thực, đưa ra các giải thích chung chung để tạm trấn an dư luận, còn ta sẽ đi thăm khu công nghiệp để úy lạo.

Lê Toan: Dạ thưa, hạ thần vẫn đoán đúng ý bệ hạ, chỉ là được nghe thì càng thấm thía hơn. Hạ thần sẽ cho mời họp kín để thảo luận, rồi tung hỏa mù như thủy triều đỏ, như chưa đủ chứng cứ để kết luận, rằng đã cho thử nước biển mà chưa tìm ra chất độc, đồng thời tìm mọi cách trì hoãn việc các nhà khoa học chân chính vào cuộc, để khi họ đến nơi thì mọi dấu vết đã bị xóa gần hết.

Vệ Kính: Trẫm trông cậy vào nhà ngươi vì trẫm còn thì nhà ngươi còn. Công việc chắc sẽ khá vất vả vì đụng đến nhiều loại người phức tạp. Thôi thì cầm thêm 3 trăm lạng để tùy cơ ứng biến.

Hồi 4- Tại trụ sở Pho mô

Cheng Phu: Này ông Pham, nghe nói ông rất thuộc Tam Quốc, ông có thể kể lại tôi nghe đoạn Tào Tháo dặn người quản lý bớt khẩu phần của quân lính và đoạn Khổng Minh sai Mã Tốc ra trấn Nhai Đình không?

Pham (phát ngôn viên của Pho mô): Ôi, thưa ngài chủ tich tập đoàn, điều dân nước Đại Vệ chọn tôm cá hay sắt thép có phải tôi tự ý nghĩ ra đâu, tôi nói theo gợi ý của ngài đấy chứ. Tôi cũng đã vì tập đoàn mà cúi đầu chịu nhục, xin lỗi hết mọi người. Thế mà ngài định xử tôi. Tất nhiên tôi biết ngài không thể chặt đầu tôi như Tào Tháo và Khổng Minh đã làm, ngài định xử tôi như thế nào.

Cheng Phu: Xin ông an tâm tạm mai danh ẩn tích vài tháng hoặc vài năm cho sóng gió qua đi. Trong thời gian đó tôi sẽ tìm cách cung cấp cho gia đình ông như khi ông còn làm việc và sau đó sẽ nhận ông trở lại. Tôi chỉ tạm đuổi việc ông mà thôi, mong ông vì đại cục mà vui vẻ chấp nhận.

Hồi 5- Tại kinh đô cũ của Đại Vệ

Theo kế hoach từ trước, cứ 2 năm ở đây tổ chức hội hè, trước hết là lế Tế Nam Giao, từ hôm sau là các cuộc biểu diễn nghệ thuật. Trong các đoàn diễu hành người ta nhìn thấy có một ông to lớn, người sơn trắng, mồm ngậm con cá chết. Mới nhìn qua tưởng là bức tượng, té ra là một người thật. Thì cũng là một cách để các nghệ sĩ tỏ thái độ. Chưa biết Vệ Kính Vương và các quan chức Bộ Hình đối phó như thế nào.

TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH CŨNG THUA!

TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH CŨNG THUA!

Thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh ngược về phương Đông, khi ngang qua một eo Biển dài hàng trăm dặm thấy cá chết trắng bờ. Ngạc nhiên, Đường Tăng hỏi Ngộ Không:
– Con xem chuyện gì xảy ra mà cá, tôm chết khủng khiếp thế kia!
Hành giả lập tức cân đẩu vân lên mây nhìn xuống. Trời ạ! Cả một vùng Biển bao la cá, tôm chết trắng xoá bốc mùi hôi thối. Không những loại cá bình thường mà có cả những loại kình ngư to lớn hàng tạ cũng phơi bụng lềnh bềnh trên Biển. Tức quá, Hành Giả lao xuống đáy Biển tìm Thuỷ Thần:
– Nè, Thằng già Thuỷ Thần kia! Ngươi cai quản hải phận này sao để cá, tôm chết hết thế kia, hả?
– Dạ, Đại Thánh đừng nóng! Dụ này do tên Thổ Địa trên đó rước con yêu quái từ phương Bắc về. Con Yêu Tinh đó ăn cái gì không biết mà nó thải ra ngoài này lão cũng chịu không nỗi huống hồ cá, tôm!
Tề Thiên lại dzọt lên đất liền rút thiết bảng dộng xuống đất kêu Thổ Địa lên tra hỏi:
– Ông hưởng hương khói của người dân cung phụng hằng ngày sao lại dám rước Yêu Tinh từ phương Bắc về để cho nó tiểu, tiện ra Biển làm chết hết sinh linh ngoài đó là sao?
– Dạ không phải đâu Đại Thánh ơi! Cá, Tôm chết KHÔNG LIÊN QUAN gì đến con yêu tinh này cả. Chúng nó chết là do ÂM THANH ỒN ÀO, chắc là do lão Thiên Lôi gây ra!
Tề Thiên lại cân đẩu vân lên mây, bay đến trước mặt Thiên Lôi rút thiết bảng chỉ vào mặt quát:
– Mi rãnh quá hả tên kia! Sao mi gây sấm sét ồn ào làm Cá, Tôm chết hết là sao. Hả, hả,hả???
– Đại Thánh bình tĩnh! Cá chết là do lão Đông Hải Long Vương gây ra thảm hoạ THUỶ TRIỀU ĐỎ, chứ hỏng phải ta!
Tề Thiên kéo vạt áo lau mồ hôi trán rồi bay xuống Thuỷ Cung tìm lão Long Vương:
– Lão Long Vương kia! Sao mi gây ra Tảo Đỏ làm chết hết Cá, Tôm thế kia? Ủa, ủa! Mà nhà cửa cung điện của ông sao tan hoang như vậy?
Ôi, mấy năm gần đây có con Yêu Quái gì đó ở phương Bắc, nó bơi quanh hết vùng Biển này, chỗ nào nó cũng thọc xuống thăm dò, đến nỗi Cung Điện của tôi còn không đủ sức giữ, sức đâu nữa mà gây Tảo Đỏ, tảo vàng… Đại Thánh ơi!
Tề Thiên Bực quá bay lên Thiên Đình, đến trước mặt Ngọc Hoàng hỏi:
– Dưới trần Cá-Tôm chết sạch rồi, ông có biết nguyên nhân vì sao không?
– Thôi, chuyện đó bỏ đi, đừng hỏi nữa! Hỏi Cá, Tôm vì sao chết là GÂY TỔN HẠI CHO ĐẤT NƯỚC. Hiểu chưa?

BIEN CHET

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TON HAI CHO DAT NUOC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CA CHET

 

Facebook Ngô Trường An

30 tháng 4 sau bốn mươi mốt năm

 30 tháng 4 sau bốn mươi mốt năm

VietTuSaiGon

RFA

Đứng ở Bắc Vĩ tuyến 17, nhìn về phía Nam, bên kia cầu Hiền Lương, trước đây 41 năm là lãnh địa của Việt Nam Cộng Hòa. Và đứng trên suy nghĩ của người miền Bắc lúc bầy giờ thì đó là nơi “đồng bào miền Nam bị o ép, không có cơm ăn áo mặc, đau khổ vì bọn ngụy quân ngụy quyền…” theo lối nhồi sọ của người Cộng sản. Để rồi sau 41 năm, người ta lại đứng trên cầu Hiền Lương và nghĩ rằng giá như lúc đó đừng có ngày 30 tháng 4. Giá như… và giá như… cá chết sớm hơn nữa!

Thực ra trước khi cá chết hàng loạt, vấn đề người Trung Quốc xâm lược, tham nhũng, người dân nghèo mất đất, giới quan lại địa phương nhũng nhiễu… tất cả đã là những cái ung nhọt lớn của đảng Cộng sản, càng ngày nó càng lớn thêm. Mà con người thì ai cũng muốn sống trong yên tĩnh, bình an và đừng để chuyện gì trở nên náo động. Chính cái tâm lý thủ phận an thường này cộng với kiểu quản lý sắc máu của nhà cầm quyền đã làm cho hầu hết nhân dân bị tê liệt tính phản kháng. Vẫn biết, vẫn bất bình, vẫn bất mãn nhưng người ta bảo nhau “thôi kệ, ai làm gì thì làm, miễn đừng đụng tới nồi gạo nhà tôi là được!”.

Không hẳn tâm lý thủ phận, an thường như vậy đã là xấu. Bởi khi sống trong bối cảnh Việt Nam, từng va chạm với nhà cầm quyền, với công an thì mới thấy thông cảm cho thái độ lựa chọn này. Nhưng điều đó không hẳn là người Việt hoàn toàn tê liệt khi lựa chọn thái độ này. Bởi người ta đã quá ngán ngẫm cảnh tù cải tạo, cảnh dàn kịch bản để đẩy người ta đến cái chết trong trại tạm giam, nhà giam… và quá nhiều trò đẩy người ta ra đường.

Ngay cả khi rừng núi bị khai thác sạch sành sanh, thủy điện đầu nguồn tích nước làm cho ruộng đồng hạn, mặn, đất đai bị lấn chiếm, bị trưng thu một cách rẻ rúng và bất công, người Việt Nam vẫn chưa kịp đánh thức, vẫn cứ mặc kệ nó. Bởi đã sống quá lâu trong kìm kẹp, sống quá lâu trong bất công và đói khổ, mà khi đói khổ, khó khăn, thứ người ta cần đầu tiên phải là cơm áo, có bao nhiêu giữ bấy nhiêu. Đó là tâm lý chung. Cái tâm lý chung này cộng với tính chịu thương chịu khó, vị tha của người Việt Nam đã khiến cho hầu hết người ta dễ thông cảm và bỏ qua cho giới cầm quyền.

Nhưng không! Đó là lúc chưa đụng đến chén cơm manh áo. Và cũng đừng ai vội vàng kết luận rằng người Việt Nam bị tê liệt khả năng phản kháng. Hoàn toàn không phải vậy. Đến thời điểm bây giờ, có thể nói rằng người Việt Nam có tính phản kháng rất cao và sức chịu đựng cũng rất cao. Khi đã hết chịu đựng được nữa, người ta sẽ phản kháng. Và sự phản kháng này không đến từ ý nghĩa hay quyền lợi cá nhân mà đến từ tập thể, quyền lợi chung của dân tộc. Câu chuyện cá chết và lời kêu gọi biểu tình trên toàn quốc vào ngày 30 tháng 4 đã chứng minh cho chuyện này.

Trong lúc tôi ngồi gõ những dòng chữ này thì tại huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, hàng ngàn nông dân và ngư dân đã ra đường biểu tình. Người ta kéo đi cả vài xã và khí thế hừng hực. Khác với mọi cuộc biểu tình trước đây chỉ kêu gọi chống bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông và ở các biên giới. Lần này người biểu tình nêu rõ tội danh của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Người dân yêu cầu nhà cầm quyền phải trả lời gấp về nguyên nhân cá chết và giải trình trước nhân dân về khu kinh tế Vũng Áng cũng như Formosa.

Thực ra, hàng triệu câu hỏi mà nhân dân đặt ra và bắt buộc nhà cầm quyền, đảng lãnh đạo phải trả lời thỏa đáng không phải chỉ mới có ngày hôm qua hay hôm nay mà điều này đã có từ sau 30 tháng 4 năm 1975. Khi mà cả miền Nam giàu có, trù phú và thơ mộng bỗng chốc trở thành tiêu điều, hoảng loạn. Người người đau khổ, nhà nhà đau khổ sau ngày “giải phóng” đã khiến cho người phía Bắc phải thấy giật mình, tỉnh mộng rằng hóa ra lâu nay mình bị tuyên truyền, bị nhồi sọ những thứ không có thật, hóa ra miền Nam giàu có gấp bội miền Bắc và người ta sống cũng văn minh, hiện đại gấp bội miền Bắc!

Những nghi vấn về đảng cứ âm ỉ cháy, đôi khi tưởng chừng như tắt lịm bởi cơm áo gạo tiền, bởi sức ép của xã hội mà ở đó mọi chuyện đều có thể xảy ra, con người có thể bốc hơi một cách bất thường và vô lý trong sức ép tập thể. Người ta buộc lòng phải thủ phận bởi nói cho cùng thì người ta đã quá đủ khổ đau và mất mát, người ta không muốn mất mát thêm nữa!

Tuy nhiên, khi tỉnh mộng, khi thấy rằng càng cố giữ, cố thủ và cố an phận thì không những không an toàn mà càng mau chết, người ta buộc phải nghĩ lại, phải cất tiếng nói và phải đứng lên. Những bất công từ địa phương tới trung ương cũng như sự đớn hèn, nhược tiểu của nhà cầm quyền đảng Cộng sản trước thái độ hống hách của người Trung Quốc trên biển Đông và gần đây là trên bờ, cụ thể là câu phát biểu đầy ngạo mạn và mất dạy của Chu Xuân Phàm đã làm cho nhân dân tỉnh ngộ.

Câu hỏi đặt ra trong mỗi người dân Việt Nam từ Nam chí Bắc hiện nay là liệu chúng ta còn tồn tại được đến bao giờ? Và liệu chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Những câu hỏi này nhanh chóng biến thành hành động, hơn bao giờ hết, người dân sẵn sàng đứng lên để đòi lại một Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ, một Việt Nam thơ mộng rừng vàng biển bạc ngày nào.

Bởi sau bốn mươi mốt năm gọi là thống nhất hai miền đất nước, điều mà bất cứ người Việt Nam nào cũng nhận thấy là mọi thứ tài nguyên trên đất nước này nhanh chóng bị tàn phá, nợ nần quốc gia chồng chất, gia đình ly tán và nhục nhã nhất là chính những người bị cướp, bị bắt, bị hành hạ phải bỏ nước ra đi đã gởi tiền về xây dựng đất nước. Còn những kẻ lên nắm quyền làm lãnh đạo thì chỉ lo vơ vét và bán đứng dân tộc, bán đứng quốc gia.

Bởi sau bốn mươi mốt năm, cái điều mà nhân dân Việt Nam nhận được chính là kẻ ăn không hết, người làm không ra, kẻ có quyền chức thì ăn trên ngồi trốc, sống như những đế vương, người dân cô thế thì thậm chí cả cái quyền được làm người nghèo cũng không có được bởi danh sách hộ nghèo đã lọt vào tay những kẻ không hề nghèo khổ nhưng lại có thế lực đỏ che chở. Nhiều kẻ có nhà cao ba, bốn tầng nhưng để cho con cái đứng tên, tách riêng ra thành một hộ khẩu và ở nhà tuềnh toàng để được vay diện hộ nghèo, được hỗ trợ và thâu tóm mọi khoản tiền dành cho người nghèo mà mang đi cho vay nặng lãi.

Sau bốn mươi mốt năm, cái điều gọi là “độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là chiếc bánh vẽ và người thất nghiệp ngày càng cao, nạn trộm cướp, giết người tăng mạnh, giới quan chức lãnh đạo ngành giáo dục sống xa hoa và thiếu hẳn tư cách con người, bệnh viện trở thành cái lò mổ của tổ quốc và mỗi cán bộ y tế đều tiềm ẩn một đao phủ.

Sau bốn mươi mốt năm, không những chỉ riêng mỗi hệ thống cán bộ của đảng phá nát đất nước này mà bọn họ còn chơi trò cõng rắn cắn gà nhà. Một mình họ phá chưa đủ, họ đưa thêm anh bạn vàng Trung Cộng của họ sang tàn phá, môi trường bị hủy hoại, con người bị tàn hại, mọi thứ trở nên nguy hiểm và chết chóc…

Sau bốn mươi mốt năm, nếu như 30 tháng 4 năm 1975 đất nước trở nên náo nhiệt và ồn ào bởi tiếng reo hò của người miền Bắc và một bộ phận không nhỏ người miền Nam vui mừng “thống nhất đất nước” thì bốn mươi mốt năm sau, cả đất nước cũng trở nên náo động, nhưng không phải là tiếng reo hò mà là tiếng khóc, tiếng thở dài và uất hận.

Tiếng khóc, tiếng hét căm phẫn và tiếng thở dài của cả hai miền đất nước sau bốn mươi mốt năm cũng đủ nói lên rõ tính chất của nhà cầm quyền. Và một khi cả đất nước đều phải khóc, phải hét lên vì căm phẫn, uất ức và gào kêu sự minh bạch của nhà cầm quyền thì câu chuyện không còn đơn giản nữa rồi!

 

 

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

tuankhanh

http://youtu.be/wsEhrOg0TgM
Gửi một bài hát đến những ai đang muốn mở mắt nhìn quê hương, đón lấy quê hương với sự thật.
——————-

HÃY GẤP TRANG BÁO & TẮT TV

Sáng tác & trình bày: TK

——————-
Tôi đã thấy đất nước mình được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy những bóng tối phủ vây trên từng phố phường

Và tôi thấy từng mẹ già được quay hình để gắn huân chương

Và tôi cũng thấy bao người già sống lây lất trên đường

Việt Nam (x 2) là Việt Nam
Tôi đã thấy đất nước này được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy đất quê mình bị xâu xé từ bốn phương

Tôi đã thấy dân tộc mình có tên gọi tự do

Và tôi cũng thấy đời ngư dân ra khơi trong phiền lo

Việt Nam (x 2) là Việt Nam
Hãy gấp trang báo

Hãy tắt Tivi

Để thấy quanh ta chỉ là những trò hề

Mở mắt đi nhé

Hãy lắng tai nghe

Quê hương Việt Nam nghe sao bỗng muộn màng

Việt Nam nhìn nhau

Việt Nam nhìn mai sau
Hãy gấp trang báo

Hãy tắt Tivi

Để thấy quanh ta chỉ là những mộng mị

Mở mắt đi nhé

Hãy lắng tai nghe

Quê hương Việt Nam nghe sao bỗng muộn màng

Việt Nam nhìn nhau

Việt Nam nhìn mai sau
Tôi đã thấy đất nước mình được gọi tên là thiên đường

Và tôi cũng thấy người yêu nước tôi đang khóc trước bạo cường

Và tôi thấy kẻ thù nào đang muốn bóp chết quê hương

Và tôi cũng thấy con tin mình như thúc giục lên đường

Việt Nam (x 2) là Việt Nam

 

 

Lại Chuyện Tháng Tư

 Lại Chuyện Tháng Tư

 S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ Tướng, Phó Tổng Thống, và Tổng Thống trong thời Đệ II Cộng Hoà – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô Trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục:

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người!

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều:

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy . Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn!

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng…không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi
đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuânhành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng Thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám
đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp!

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất…cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện:

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau:

“… chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng.”

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp.” Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi!

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới,” vào năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn.” Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ:

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người. Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa
ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn!
(“Thương Lắm Những Búp Non Ở Trên Cành”) Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Ảnh: Báo Lai Châu

Thôi chết mẹ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng
không?

– Thưa không! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ Trưởng Nông Nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm!”

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng?

– Thế còn đám công nhân?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay:

Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh KCN Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một … quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp TP.HCM:

Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển … mình ên! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có qúi ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Người dân miền Trung biểu tình đòi giải quyết nạn cá chết

Người dân miền Trung biểu tình đòi giải quyết nạn cá chết

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2016-04-30

RFA

13095913_10154003956989718_3149994075772657578_n.jpg

Người dân gia đình làm nghề đi biển và những tiểu thương buôn bán cá tại một vài địa phương thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tập trung biểu tình từ ngày 29 sang đến ngày 30 tháng tư nhằm kêu gọi cơ quan chức năng có biện pháp trong tình hình hiện nay.

Citizen photo

Your browser does not support the audio element.

Người dân gia đình làm nghề đi biển và những tiểu thương buôn bán cá tại một vài địa phương thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tập trung biểu tình từ ngày 29 sang đến ngày 30 tháng tư nhằm kêu gọi cơ quan chức năng có biện pháp trong tình hình hiện nay.

Bị ảnh hưởng nặng nề vì cá chết

Họ là những người bị ảnh hưởng nặng nề khi nguồn cá chết hằng loạt do nhiễm độc chưa rõ nguồn xuất xứ. Trong khi chờ đợi xác định nguyên do, cơ quan chức năng yêu cầu dân chúng không ăn cá chết. Điều này khiến ngư dân mang cá đánh được từ khơi xa về cũng không ai dám mua.

Một người dân địa phương nói về điều này như sau:

“Bây giờ người dân sống hoàn toàn nhờ cá mà ra thì cũng chẳng ra làm gì vì không đánh được; mà nếu có đánh được thì về không ai mua.”

Bây giờ người dân sống hoàn toàn nhờ cá mà ra thì cũng chẳng ra làm gì vì không đánh được; mà nếu có đánh được thì về không ai mua.
-Một người dân địa phương

Linh mục Micae Hồ Thái Bạch, quản xứ Liên Hòa, xã Quảng Trung huyện Quảng Trạch nơi mà ông cho biết có 30 tàu đánh bắt cá và hiện nay đang gặp cảnh ngặt nghèo bởi cá chết, cũng như cá đánh bắt từ khơi xa về vẫn không bán được. Ông xác nhận việc dân biểu tình và  theo lời ông chuyện họ ‘phản ứng’ là lẽ tự nhiên:

“Họ phản ứng như thế là có. Đối với chúng tôi phản ứng về lâu dài là phải có vì rằng đó là cuộc sống của bà con ngư dân; chúng tôi đây sống về nghề ‘ngư’ nên nếu mà cứ để tình trạng như thế này thì bà con gặp khó khăn.”

Vào ngày hôm qua 29 tháng tư, tại thành phố Huế nhóm nghệ sĩ Viet Art Space có màn trình diễn nghệ thuật mang tên ‘Nỗi đau của những con cá’ tại khu vực bờ nam Cầu Tràng Tiền. Truyền thông trong nước đưa hình ảnh một nam nghệ sĩ chỉ mặc quần lót, toàn thân phủ chất bột trắng, miệng ngậm con cá đi cùng với những bạn diễn khác. Mục tiêu được nói kêu gọi bảo vệ môi trường biển.

Tuy nhiên những người tham gia cuộc trình diễn mà có cả một người nước ngoài đã bị cơ quan chức năng mời làm việc với lý do biểu diễn không có giấy phép.

Trong những ngày qua, trên các trang mạng xã hội còn xuất hiện kêu gọi xuống đường biểu tình vào ngày mai 1 tháng 5 với mục tiêu gióng tiếng cảnh báo về môi trường biển Việt Nam đang bị ô nhiễm trầm trọng như hiện nay.

Dân Quảng Bình tiếp tục biểu tình

Dân Quảng Bình tiếp tục biểu tình

  Tin mung cho nguoi ngheo 
  Người dân vùng bị ảnh hưởng bởi cá chết mong muốn chính phủ có giải pháp rốt ráo hơn

Chính phủ chỉ đạo ‘thu mua toàn bộ hải sản đánh bắt xa bờ của ngư dân’ trong lúc người dân Quảng Bình tiếp tục đưa ngư cụ ra đường biểu tình trong ngày 30/4.

Trong cuộc họp với các bộ ngành và lãnh đạo các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu “Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngay đường dây nóng để phối hợp với địa phương thu mua toàn bộ hải sản đánh bắt xa bờ của ngư dân”.

“Không để bất cứ một tàu thuyền nào của ngư dân có hải sản mà không tiêu thụ được,” báo Điện tử Chính phủ tường thuật lời ông Dũng hôm 30/4.

Ông cũng yêu cầu “thành lập ngay đường dây nóng, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng trong ngày 30/4, để tập trung chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn kịp thời cho ngư dân”.

‘Giảm nhiệt’

Hôm 30/4, từ TP Hồ Chí Minh, luật sư Lê Công Định nói với BBC: “Tôi chưa biết tin này, nhưng nếu có vậy rõ ràng chính phủ muốn giảm nhiệt sự phản đối của ngư dân trước tình trạng thuỷ sản đánh bắt về không ai mua, tuy nhiên liệu ngân sách trung ương và địa phương sẽ gồng gánh được bao lâu?”

Đang có mặt tại Quảng Bình, nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn bình luận trên mạng xã hội: “Đây đều là những giải pháp mà hàng trăm người đã kiến nghị suốt ba tuần qua. Giá mà chính phủ thực hiện sớm hơn.”

“Tuy nhiên, muộn còn hơn không. Hy vọng Chính phủ vào cuộc thật quyết liệt, thiếu nhân sự thì kêu gọi tình nguyên viên và các tổ chức xã hội dân sự. Ngay sau đó, hi vọng Thủ tướng quyết liệt có các giải pháp làm sạch môi trường biển và sẽ là người ăn cá đã được kiểm định đầu tiên, phát trực tiếp cho toàn dân xem.”

“Nếu được vậy, ngay sau đó, dù chả là gì, tôi cũng sẽ ăn để góp chút phần nhỏ bé giúp sinh kế ngư dân sớm trở lại bình thường.”

  YouTube 
  Người dân yêu cầu nhà chức trách “làm rõ nguyên nhân cá chết”

Hôm 30/4, các báo Việt Nam đồng loạt đăng tin “hàng chục cán bộ chủ chốt Đà Nẵng, trong đó có Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường Đà Nẵng Nguyễn Điểu tắm biển để xóa tan tin đồn nước biển Đà Nẵng bị nhiễm độc”.

“Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đà Nẵng khuyên du khách thưởng thức hải sản tươi sống. Chính quyền vẫn đang giám sát tàu thuyền ra vào âu thuyền Thọ Quang để tránh tình trạng ngư dân đánh bắt từ các vùng đang có cá chết hàng loạt đưa về Đà Nẵng bán,” VnExpress tường thuật.

Cùng ngày, nguồn tin của BBC cho hay, có hai tàu cá của hai ngư dân Quảng Bình cập bến nhưng cá đánh bắt về không ai mua khiến bà con đem số cá này diễu phố và biểu tình.

Trên mạng xã hội xuất hiện hình ảnh người dân xã Quảng Xuân, huyện Quảng Trạch, đưa nhiều các ngư cụ như thuyền thúng, lưới… rào quanh trục đường.

Trước đó có tin tiểu thương chợ Đồng Hới biểu tình trước Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình yêu cầu nhà chức trách “làm rõ nguyên nhân cá chết, mức độ biển bị ô nhiễm và thủ phạm gây ra các hậu quả này, yêu cầu nhà máy gây ô nhiễm môi trường phải đóng cửa”.

Trong hôm 29/4, người dân Cảnh Dương, một làng khác cũng thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, đã chăng lều bạt phản đối trên Quốc lộ 1A.

ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

TRẦN THỊ LAM (Hà Tĩnh)

Đất nước (Cánh Cò)

Đất nước (Cánh Cò)

Đất nước mình không những “ngộ” đâu em
Mà phải nói là rất “ngầu” mới đúng
Từ Bắc vô Nam dân không ai cầm súng
Nhưng giết đồng bào là số một em ơi

Người ở quê tưới rau bằng thuốc lạ
Kẻ thị thành dùng hóa chất nuôi heo
Miếng thịt đỏ để mười ngày không thối
Và dân ta cứ thoải mái rao mời

Thế cho nên Vũng Áng cá chết tươi
Thì Sài Gòn chạy ra mua bằng hết
Những chiếc xe to chất đầy cá chết
Vào trong Nam làm nước mắm cho dân

Đất nước mình xem ra rất tương thân
Nhưng chuyện ấy chỉ xảy ra trong đảng
Cán bộ chở che nhau vì ăn chung một ảng
Bất kể nhân dân trắng mắt ngồi chờ

Cho tới khi dân nổi dậy bất ngờ
Thì đảng mới giả vờ…xin lỗi
Em tin đi, dân sẽ cười tha tội
Bởi đất nước mình là một lũ mau quên

Đất nước mình lây nhiễm bệnh mau quên
Nên Vũng Áng cũng chỉ là chuyện nhỏ
Hãy nhìn kỹ cả nước mình bỏ ngỏ
Tàu hay Tây bất kể, tự nhiên vào.

Đất nước mình ngầu lắm mới tự hào
Mẹ liệt sĩ ngắm tượng đài quên đói
Trẻ vùng cao ở truồng chân quên mỏi

Chạy tới trường cho kịp trống điểm danh
Đất nước mình đầy một lũ lưu manh
Lấy tiếng loa phường thay cho súng ống
Dân cứ mãi tin vào ngày mai thơ mộng

Chẳng còn bao xa nên tiếp tục chịu đòn
Đất nước mình có một lũ luồn trôn
Quỳ mọp trước cả tập đoàn quỷ đỏ
Đất nước mình cứ mỗi ngày mỗi nhỏ

Vì đất đai bị chia chát trăm lần.
Đất nước mình vậy đó, cứ lâng lâng

Như say thuốc chạy lòng vòng. . . mãi mãi.

-Cánh Cò-

BAN

Quê hương rồi sẽ về đâu?

BAI THO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quê hương rồi sẽ về đâu?

Trần Lệ Nguyên, 4-2016, những tháng ngày biển chết.

facebook Tao Vo Van