DI CHÚC của một người

Hạnh phúc ở đâu ?

 Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn đấy.

 Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người. Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”.

 Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

Vào Thứ Năm, ngày 25 tháng 8 năm 2016, BachDuyen đã viết:

DI CHÚC của một người

 

Có một ngày … khi tôi nằm bất động

Trên chiếc giường nệm trắng ở Nhà thương

Và lắc đầu , bác sĩ nói : _ vô phương ! …

Là khi đó đời tôi đành … chấm dứt  !

 

Thế  là hết , tôi hòan tòan phải mất

Mọi tính toan , kế họach của tương lai

Bao công lao , danh vọng lẫn tiền tài

Và tất cả người thân yêu … _ vĩnh biệt  !

 

Vào lúc đó , xin mọi người đừng tiếc

Đừng cố công … gắn máy móc vào tôi

Đừng truyền sinh nhân tạo , cố vãn hồi …

Và đừng gọi đây là Giường tôi Chết  !

 

Xin hãy lấy xác thân tôi cho hết

Hãy gọi là : Giường Sự Sống tiếp liên

Bộ phận nào còn tốt , giúp tôi quyên

Để giúp ích cho nhiều người vui sống !

 

_ Hãy lấy mắt cho người đang ước vọng

Được một ngày nhìn thấy đứa con xinh

Hay tình yêu trong ánh mắt vợ hiền

Để hạnh phúc được nhân lên gấp bội !

 

_ Hãy lấy trái tim tôi đem chuyển đổi

Cho một người mệt mỏi với bệnh tim

Đã bao năm , bác sĩ mãi kiếm tìm

Cùng máy móc luôn đeo bên … cấp báo !

 

_ Xin hãy lấy máu tôi truyền tiếp máu

Cho một chàng trai trẻ mới đụng xe

Để anh ta còn có thể lắng nghe

Và vui sống bên đàn em nhỏ dại  !

 

_ Hãy lấy thận cho người đang khổ mãi

Lệ thuộc vào máy lọc máu quanh năm

Nhớ người thân , cũng chẳng thể đi thăm

Thời khóa biểu … hàng tuần không thay đổi !

 

_ Lấy xương cốt , thịt tôi đem ráp nối

Mang cơ may cho đứa trẻ tật nguyền

Được đổi đời , được chạy giỡn huyên thuyên

Được góp sức góp tài cho xã hội !

 

_ Hãy khảo sát … não tôi _ vừa hấp hối

Có thể nào chữa nổi được cho ai  ?!

Hãy giúp cho một bé gái điếc tai

Hay một bé trai câm thèm ca hát !

 

_ Rồi những thứ tôi còn trên thân xác

Đã hư rồi hay chẳng giúp được chi

Xin quý vị hãy giúp đốt thiêu đi

Đem tro bụi : làm phân cho hoa dại !

 

_ Nếu cứ phải đem tôi chôn , lấp lại

Thì mọi người hãy vùi lấp dùm tôi  :

Bao sai lầm , mưu chước quá tanh hôi

Bao thành kiến , bất hòa hay ghen ghét ! …

 

_ Bao tội lỗi tôi xin người trao hết

Giúp dùm tôi … trả lại Quỷ Sa Tăng

Còn Linh hồn tôi thổn thức , ăn năn

Xin hãy giúp … mang trao cho Thượng Đế  !

 

Sưu tầm

Bạch Yến Lý gởi

Cái chết rình rập trên từng mâm cơm gia đình Việt Nam

Cái chết rình rập trên từng mâm cơm gia đình Việt Nam

Nguoi-viet.com

Bình nhớt thải dùng tưới rau muống ở huyện Củ Chi, Sài Gòn. (Hình: VnExpress)

Bình nhớt thải dùng tưới rau muống ở huyện Củ Chi, Sài Gòn. (Hình: VnExpress)

HÀ NỘI (NV) – Các loại thực phẩm tại Việt Nam từ thịt cá đến rau đậu, trái cây, cà phê, đều có những hóa chất độc hại gây ung thư và các loại bệnh nguy hiểm khác.

“Cái chết đang rình rập trên từng mâm cơm gia đình, thậm chí ngay trong từng bữa ăn của trẻ nhỏ,” Ông Hoàng Đình Chân, giám đốc bệnh viện ung bướu Hưng Việt phát biểu tại buổi Diễn Đàn “Đón sóng thực phẩm sạch” diễn ra sáng 23 tháng 8 năm 2016 và được tường thuật trên tờ Dân Trí.

Người ta từng thấy có những lời kêu ca trên mặt báo trong nước là người Việt Nam đang tự đầu độc chính mình. Tuy lời kêu gào khẩn thiết này dù đã được lập lại nhiều lần, vẫn có vẻ như ném đá ao bèo. Nhà cầm quyền với đủ mọi bộ ngành ban bệ xuống tận từng ngõ ngách của xã hội nhưng lại tỏ ra bất lực.

Tại diễn đàn nói trên, ông Hoàng Đình Chân cho biết, “Đối với ngành thực phẩm, chúng ta thấy có 40/120 mẫu rau chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép; 455/ 735 mẫu thịt gia súc, gia cầm không an toàn cho người sử dụng.”

Ông Chân cũng dẫn báo cáo của Cục Bảo vệ Thực vật, “Hơn 2,000/11,000 cơ sở sản xuất và buôn bán thuốc kém chất lượng; hơn 2,500/11,000 cơ sở sản xuất và buôn bán vi phạm quy trình chuẩn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật,” nguồn tin trên kể lại.

“Việc tham gia vào quản lý, sử dụng các sản phẩm sạch sẽ rất quan trọng vì điều đó quyết định tới sức khỏe, nòi giống, tương lai của chúng ta. Bởi chỉ chưa tới 30% mắc ung thư là do kém may mắn còn lại là tỉ lệ người mắc ung thư do sử dụng thực phẩm bẩn chiếm khoảng 35%, kế đến là hút thuốc lá 30%. Trước chỉ thấy ở người già, trên 45 tuổi mắc ung thư, giờ trẻ hóa, như vậy không còn là yếu tố về tuổi tác nữa, nó liên quan rất nhiều tới yếu tố môi trường.” Lời ông Chân được báo trên dẫn lại.

Đùi heo chỉ có lớp da, còn lại là nạc, được cho ăn chất tạo nạc - gây ung thư cho người tiêu dùng. (Hình: VnExpress)

Đùi heo chỉ có lớp da, còn lại là nạc, được cho ăn chất tạo nạc – gây ung thư cho người tiêu dùng. (Hình: VnExpress)

Dịp này, đại diện phía doanh nghiệp, bà Thái Hương – chủ tịch Tập Đoàn TH nhấn mạnh, minh bạch là nguồn gốc của mọi vấn đề trong xã hội và là cội nguồn của bất kỳ nhà sản xuất nào.

Dẫn số liệu của Bộ Y Tế, bà Thái Hương cho biết, mỗi năm Việt Nam có hơn 75,000 người chết vì ung thư, nghĩa là trung bình một ngày có 250 người chết. Bộ Y Tế cũng thống kê, chỉ với 6 loại ung thư phổ biến: ung thứ vú, ung thư gan, ung thư đại tràng, ung thư khoang miệng, ung thư dạ dày, tổng chi phí trực và gián tiếp đã lên tới gần 26,000 tỷ đồng, chiếm 0.22% GDP của Việt Nam (năm 2012).

Đầu tháng 5, 2016 vừa qua, ông thủ tướng mới Nguyễn Xuân Phúc chỉ thị “ngay trong năm 2016 phải tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý nhập khẩu, sản xuất, sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y và xử lý dứt điểm việc sử dụng salbutamol, vàng ô, kháng sinh trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Người đứng đầu bộ ngành, địa phương phải chịu trách nhiệm về vấn đề này.”

Nếu có “chuyển biến rõ nét,” các báo tại Việt Nam đã được lệnh đồng ca rầm rộ về các thành tựu đã đạt được và không có lời kêu gào ai oán “Cái chết đang rình rập trên từng mâm cơm gia đình.”

Ngày 12 tháng 7, 2016 vừa qua, Hội Tiêu Chuẩn và Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Việt Nam vừa công bố bảng báo cáo khảo sát cà phê trên thị trường một số tỉnh và thành phố trong thời gian qua. Sau 3 đợt khảo sát từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016, trên các mẫu cà phê bột và cà phê nước tại Hà Nội, Sài Gòn, Bình Dương, Sóc Trăng và Lâm Đồng, kết quả cho thấy “tổng cộng có tới 9 mẫu cà phê hoàn toàn không phát hiện hàm lượng caffeine.”

Chúng chỉ là bột bắp, bột đậu nành rang cháy pha thêm hương liệu hóa chất độc hại để đánh lừa vị giác của khách hàng.

Hồi giữa tháng 11 năm ngoái, một đại biểu quốc hội sau khi nghe ông Bộ Trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát điều trần đã kêu rằng “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!”

Ông Cao Đức Phát báo cáo rằng tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm,

Năm ngoái, nhiều báo đã có những bản tin, ký sự khá dài về tình trạng sử dụng các loại chất cấm trong chăn nuôi, đặc biệt là “thuốc tạo nạc” giúp cho thị heo nhiều nạc ít mỡ đế bán được nhiều tiền hơn dù người ta biết đây là chất bị cấm, độc hại cho con người vì dẫn đến các chứng bệnh nguy hiểm, đặc biệt là ung thư.

Nông dân trồng rau đậu hoa quả sử dụng những loại thuốc bảo vệ thực vật rất độc, trái cây ngâm trong các thùng hóa chất, kể cả thuốc trừ sâu. Người bán thịt ở chợ dùng một ít bột hóa chất “không rõ nguồn gốc” biến thịt ôi thiu thành thịt “xịn,” biến thịt heo sề thành thịt bò “xịn” để lừa người tiêu thụ. Những tin loại này không hiếm trên báo chí tại Việt Nam. (TN)

BỊ UNG THƯ KHI LÀM VIỆC Ở FORMOSA

BỊ UNG THƯ KHI LÀM VIỆC Ở FORMOSA

FB Phạm Đoan Trang

25-8-2016

Anh Lê Văn Lâm và chị Nguyễn Thị Hương. Ảnh: FB Đoan Trang

Người dân phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh hầu như không ai không biết đến câu chuyện thương tâm của “cặp vợ chồng làm cho Formosa, cả vợ cả chồng đều bị ung thư”.

Anh là Lê Văn Lâm (SN 1969) và chị là Nguyễn Thị Hương (SN 1970). Gia đình anh chị hiện sinh sống tại xóm Ngâm, tổ dân phố Thắng Lợi, phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Anh bị ung thư vòm họng, còn chị bị ung thư vú. Có điều đáng chú ý là cả hai vợ chồng trước đây đều từng làm nhân viên bảo vệ, trông coi một số trong hàng trăm kho hóa chất của tập đoàn Formosa ở Hà Tĩnh.

Anh Lâm kể, anh chị vốn là người phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, sinh ra, lớn lên và thành gia thất đều ở đây. Cuộc sống của người dân nơi đây gắn chặt với biển, họ chỉ làm các nghề liên quan tới biển như đi khơi, lặn, làm muối, buôn bán hải sản. Bản thân anh cũng theo tàu đánh cá nhiều năm, hoặc làm công nhân xây dựng bên Lào… Cho tới năm 2012, Formosa bắt đầu triển khai dự án ở Việt Nam, thì hai vợ chồng cùng vào làm cho một nhà thầu của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh.

Chẳng ai biết chính xác tên của nhà thầu đó là gì; hai anh chị Lâm-Hương cũng chỉ biết đến họ với vài thông tin ít ỏi: Đó là MC5 – một công ty của Trung Quốc, chủ lao động làm việc trực tiếp với anh chị là một người đàn ông Trung Quốc tên Lưu Hán, tầm 35-36 tuổi. Công ty có phiên dịch tiếng Trung, tuy nhiên Lưu Hán cũng nói được tiếng Việt, hình như trước kia từng lấy vợ là người Việt Nam, sống ở Hà Nội, sau bị vợ bỏ.

Và tất cả thông tin chỉ có thế. Hai anh chị làm nghề coi kho cho MC5. Công việc của hai vợ chồng là trực đêm, trông coi một số container hóa chất, bốn ống khói và hai ống thoát nước (?) của MC5 trong khuôn viên Formosa, từ 6h tối mỗi ngày đến 6h sáng hôm sau. Lương tháng của anh là 9 triệu đồng, của chị 6 triệu. Cả hai đều không ký hợp đồng lao động, và thậm chí không có giấy tờ nào để chứng minh rằng anh chị từng là nhân viên làm việc bên trong Formosa. Họ cũng có đóng 200.000 đồng Việt Nam cho MC5, khoản đó được gọi là “bảo hiểm lao động”, nhưng chỉ chi trả cho những người bị tai nạn (ngã, va chạm…) trong lúc làm việc. Giấy tờ về khoản tiền này, MC5 cũng cầm cả, anh chị không được giữ.

Khoảng tháng 6/2015, chị Hương thấy đau ngực, khó chịu trong người, đi khám thì phát hiện bị ung thư vú. Chị báo lại Lưu Hán. Ông này, theo lời kể của anh chị, chỉ “à thế à mấy câu rồi lờ đi”, coi như không có trách nhiệm. Chị nghỉ việc, ở nhà chữa bệnh. Được vài tháng thì anh cũng thấy ù tai, váng đầu … và bị chẩn đoán là mắc bệnh ung thư vòm họng. Tới đây thì MC5 xong phần công trình ở Việt Nam và “rút đi đâu không rõ”, anh tiếp tục làm cho Formosa tới tháng 5/2016 thì buộc phải nghỉ vì sức khỏe đã quá yếu.

Từ khi phát hiện bệnh đến nay, anh Lâm và chị Hương đều đã qua vài đợt hóa trị; chị phải cắt bỏ phần ngực bên trái. Hai vợ chồng nằm nhà cả ngày, mỗi tháng lại đến Bệnh viện Trung ương Huế 1-2 tuần để tái khám và điều trị. Nhiều đêm, anh chị mệt và đau không ngủ được, nhưng cái đau về thể xác còn không bằng nỗi đau và lo buồn cho tương lai của ba đứa con. Con gái học lớp 10 đã bỏ học để ở nhà chăm sóc cha mẹ, còn cậu con trai đang học đại học ở Vinh cũng định bỏ nhưng anh chị không chịu, cứ động viên con cố gắng nốt ba năm nữa.

Chi phí chữa bệnh cho mỗi người giờ đã lên tới cả trăm triệu, trong khi hai vợ chồng không còn nguồn thu nhập nào. Tất cả chỉ trông vào số tiền dành dụm được từ trước tới nay, và tiền giúp đỡ của những người hảo tâm. Hội liên hiệp phụ nữ phường Kỳ Phương có một lần quyên góp tiền của người dân địa phương, giúp đỡ anh chị được hơn 23 triệu đồng; nhưng “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”, đến giờ hai vợ chồng thực sự chỉ ngồi nhà, chờ đợi… Mỗi lần có khách đến, anh chị ra nói chuyện với vẻ mặt thẫn thờ, lo lắng, và cứ nói được vài câu là chị lại rân rấn nước mắt: “Con người ta còn được đi học, con mình thì bỏ học vì cha mẹ…”.

Nhà thầu “MC5” nào đó mà anh chị từng làm việc, giờ đã rút về nước hoặc chuyển đi đâu không rõ. Formosa Hà Tĩnh thì càng chẳng một lời hỏi thăm – có lẽ họ cũng không biết đến hai người lao động bị ung thư này. Hai vợ chồng đã làm việc gần bốn năm trời bên trong Formosa, tiếp xúc với nhiều hóa chất, thậm chí như anh Lâm khẳng định, với nhiều lần rò rỉ hóa chất, mà không có một thứ gì để tự bảo vệ mình: Không quần áo bảo hộ, không trang thiết bị bảo hộ, không hợp đồng lao động, không một khoản phụ cấp nào ngoài lương, không bác sĩ, không kiểm tra sức khỏe, khám chữa bệnh, không một chút thông tin cảnh báo hay hướng dẫn nào từ chủ lao động, và đương nhiên, không công đoàn.

Được hỏi, có nghĩ tới chuyện kiện Formosa để đòi bồi thường thiệt hại không, anh Lâm ngần ngừ: “Cũng khó, vì bảo hiểm lao động của họ chỉ chi cho những ai bị tai nạn, như là rớt, ngã hay va chạm gì đó thôi, còn chúng tôi bị bệnh”. Và, cũng không thể chứng minh căn bệnh ung thư của hai vợ chồng là do công việc coi kho hóa chất ở Formosa trực tiếp gây nên…

Đến giờ, có lẽ ai cũng đã thấy khoản tiền 500 triệu USD mà Formosa hứa bồi thường cho Việt Nam chẳng đủ bù đắp thiệt hại cho một thôn làm nghề biển ở Hà Tĩnh. Mà đấy là còn chưa kể tới thiệt hại của hàng chục nghìn dân địa phương không làm nghề biển, trong đó, có những người như vợ chồng anh Lâm – chị Hương này. Những người lao động không hợp đồng, không bảo hiểm, không thông tin… Ai bảo vệ quyền lợi cho họ?

* * *

Bạn đọc trong và ngoài nước, có lòng hảo tâm muốn giúp đỡ anh Lê Văn Lâm và chị Nguyễn Thị Hương, xin gửi về địa chỉ:

Anh Lê Văn Lâm, xóm Ngâm, Tổ dân phố Thắng Lợi, phường Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

Hoặc về tài khoản của con trai anh chị là: Lê Công Tuấn, số tài khoản 711AC1006393, ngân hàng Viettin Bank.

Cách người Đức dạy trẻ về tính lương thiện

Cách người Đức dạy trẻ về tính lương thiện

Người Đức có quan điểm rất nghiêm khắc về việc giáo dục lòng tốt cho thế hệ trẻ. Ngay từ nhỏ trẻ đã được giáo dục về lối sống hướng thiện và lương thiện thông qua rất nhiều bài học ở nhà và ở trường.

Giáo dục trẻ yêu động vật

Bài học về sự lương thiện đầu tiên mà nhiều trẻ em ở Đức phải học là yêu thương các loài động vật nhỏ. Khi trẻ vừa mới chập chững đến trường, không ít gia đình người Đức nuôi các động vật nhỏ như chó con, mèo con, thỏ con, cá vàng… cho con mình. Trong quá trình tự chăm sóc, nuôi nấng những con vật ấy, trẻ sẽ học được cách nâng niu, trân trọng những sinh linh nhỏ bé. Ở trường mẫu giáo cũng nuôi những động vật nhỏ, bọn trẻ sẽ luân phiên nhau phụ trách nuôi dưỡng, chú ý quan sát sự trưởng thành của động vật… và phát động thi đua lập các kỷ lục nuôi dưỡng động vật cho trẻ.

Biết yêu thương, chăm sóc các động vật nhỏ bé là bài học về lòng tốt từ rất sớm cho trẻ em ở Đức.

Các bé sau khi chính thức nhập học, các bạn học sinh sẽ có những bài viết, bài phát biểu trước toàn trường về các bạn thú mà mình đã nuôi dưỡng. Ngoài ra, trẻ được khuyến khích dùng tiền mình dành dụm được để nhận nuôi dưỡng những động vật nhỏ bị bỏ rơi, hoặc quyên tiền để cứu những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng. Những hoạt động này thường diễn ra rất sôi nổi trong các trường học ở Đức.

Lớn hơn, ở các trường tiểu học và trung học, các em thường xuyên có những cuộc thảo luận và thi sáng tác có liên quan đến việc đối xử tốt với động vật như bài viết của một cậu bé 13 tuổi về cuộc chiến chữa lành vết thương cho một con chim nhỏ, rồi thả nó về với bầu trời hay các hội thảo về việc làm thế nào giúp các chú chó mèo bị bỏ rơi được chăm sóc tốt hơn. Ngược lại, trẻ em ngược đãi với động vật nhỏ, nhẹ thì bị phê bình, nặng thì bị phạt, nếu nghiêm trọng hơn có thể còn được gửi đi trị liệu về tâm lý.

Luôn giúp đỡ những người yếu thế

Trẻ em ở Đức luôn được cha mẹ, thầy cô, người lớn hướng dẫn và khích lệ giúp đỡ người già, người khiếm thị, người tàn tật… Điều đó thậm chí đã trở thành một thói quen hành vi tự nhiên đối với mọi đứa trẻ. Thông điệp mà người Đức dạy cho những đứa trẻ ngay từ khi còn nhỏ là “Ngưỡng mộ kẻ mạnh là sự thường tình của con người, đứng về cùng phía với kẻ yếu mới thể hiện tâm hồn đẹp đẽ”.

Ngoài ra, người Đức cũng luôn dạy con biết khoan dung với mọi người, dạy trẻ biết cách đặt mình vào vị trí của người khác để học cách cảm thông và chia sẻ trước khi oán trách hay giận hờn.

Căm ghét bạo lực

Nước Đức nổi tiếng về chế tạo các vũ khí tối tân, nhưng người Đức lại không tán thành những đồ chơi mang tính bạo lực, càng không ủng hộ trẻ em, đặc biệt là con trai, làm bạn với súng, pháo, xe tăng. Vì người Đức đã đi sâu nghiên cứu và tìm được ngày càng nhiều bằng chứng xác thực: khi nhỏ nếu thường xuyên chơi những đồ chơi bạo lực thì lớn lên rất khó trở thành người yêu chuộng hòa bình.

Đặc biệt trong môi trường học đường, các hành vi bạo lực với bạn bè được kiểm soát vô cùng chặt chẽ và quyết liệt, các hoạt động giúp học sinh học cách đối thoại, kỹ năng giao tiếp… cũng thường xuyên được tổ chức.

nuocduc.org / Nước Đức (Tổng hợp)

Đau khổ và Sự chết

 Đau khổ và Sự chết

Dongten.net

      Đau khổ và sự chết, một thực tại hiển nhiên mà không ai dám chối cãi, nhưng tâm lý chung thì ai cũng sợ và muốn quên nó. Chân lý hiển nhiên nhất lại là chân lý dễ quên nhất, để đến khi con người đối diện với sự chết thì mới giật mình tỉnh thức, như một khẩu ngữ trong dân gian: “chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ”. Đau khổ và Sự chết gắn liền với nhau như hình với bóng, nó là mối dây hệ lụy với nhau như nhân với quả hoặc như quả với nhân. Vậy con người nói chung nhìn vào đau khổ và sự chết như thế nào, nó có ý nghĩa và giá trị ra sao, cũng như con người cần phải chấp nhận đau khổ và sự chết bằng cách nào?

Alzheimer's patient in an emergency room near death while suffering from pneumonia
Alzheimer’s patient in an emergency room near death while suffering from pneumonia

NHẬN THỨC CHUNG CỦA CON NGƯỜI

Với cách nhìn nhận thông thường, chết là một cuộc vĩnh biệt đơn độc và hãi hùng nhất. Không ai có thể đau khổ và chết thay cho nhau, cho dù đó là người thân yêu nhất. Các triết gia xưa nay đều mải miết đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Con người từ đâu đến và đi về đâu? Tại sao con người lại đau khổ và phải chết? Nhiều triết thuyết ra đời để lý giải cho câu hỏi này. Những triết thuyết mang chữ “duy” không giải đáp rốt ráo về nguyên lý của sự chết. Những thuyết không tìm ra ý nghĩa đích thực của đau khổ và sự chết thì thấy cuộc đời chỉ toàn bế tắc, có muôn vàn  mâu thuẫn và xáo trộn. Khi con người không nhận thức đúng đắn về nó thì tất nhiên họ chỉ lao vào danh  lợi, lao vào sự tranh chấp để được thỏa mãn những khát vọng thống trị và hưởng thụ, hoặc khinh thường sự sống đi đến sự khắc kỷ lệch lạc mất quân bình. Dù là tổng thống, là tỉ phú hay ăn mày thì cũng chỉ là kiếp người, để khi đối diện với sự chết cũng phải run giùng sợ hãi trở về tay không với bao tiếng khen chê, tốt xấu hay đáng nguyền rủa.

Đời được gắn liền với nước mắt:”Thoắt sinh ra thì đà khóc choé / Trần có vui sao chẳng cười khì” (Nguyễn Công Trứ) – ngay từ lúc sinh ra là đã phải đối diện với đau khổ rồi. Có lẽ không có sách nào suy xét, phân tích kỹ lưỡng và sâu sắc về đau khổ của con người cho bằng “Tứ Diệu Đế” trong kinh điển nhà Phật, nó xoay quanh một kiếp sống trong “Sinh-lão-bệnh-tử”, để rồi phải kết luận bằng một câu bất hủ: “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn đại dương”. Con người luôn luôn gặp đau khổ hằng ngày, trong mọi nơi mọi lúc, và đau khổ tột cùng là sự chết. Đau khổ do mình bị lầm lỡ, do con người làm khổ lẫn nhau, do không được như ý muốn, do bị chia lìa người thân yêu, do tính toán thất bại, thất vọng, do bị hiểu lầm, bị phản bội, do tai nạn, do Tham-Sân-Si hoành hành… Đau khổ do nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, động đất, chiến tranh, do quy luật sinh tồn, luật đào thải, do muôn vàn những khắc nghiệt của nhiều sự dữ đang hiện diện.

Có sống được trăm tuổi cũng chẳng ra sao: Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy / cảnh phù du trông thấy cũng nực cười (C.B.Quát).  Như Hoàng đế Napoleon bị đày ở đảo St. Helena, chỉ có con rùa làm bạn với ông, cuối đời ông thốt lên: “Ôi nước Pháp ! Ôi Josephine”. Đau khổ dẫn ông về cõi ngàn thu. Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của ông đã tiêu ma. Lev Tolstoi, nhà qúy tộc, đại văn hào Nga, chết trên bãi tuyết, trong túi ông có mảnh giấy ghi câu: “Đừng để tôi gặp mặt vợ tôi”. Ôi thảm thương biết bao! Cũng như vua Salômôn, một Hoàng đế giàu sang, quyền thế, khôn ngoan và được toàn dân kính trọng, khi về cuối đời đã phải thốt lên: “phù vân, quả là phù vân, tất cả chỉ là phù vân – Vanitas vanitatum, ommia, vanitas”(GV 1, 2-3). Salômôn đã cảm nghiệm được cuộc đời chỉ có đau khổ và tất cả chỉ là ảo vọng, ông đã “ngộ” ra chân lý đời đời.

Xưa nay, con người  tìm đủ cách để chấp nhận hoặc để giải thoát đau khổ. Đạo gia Á đông đã thấy quy luật tổng quát và tương đối: “Hữu sinh tất hữu diệt; Hữu thành tất hữu huỷ”, và “Thuận thiên tri thiên mệnh”. Đức Phật muốn giải thoát chúng sinh qua biển khổ bằng cách tiêu diệt mọi ước muốn (diệt dục) để vào Niết Bàn, vì Ngài thấy rằng sự vật, sự việc ở đời chỉ là “giả huyễn”, để rồi sinh sinh tử tử nối tiếp nhau trong một đại dương đầy nước mắt do bị nô lệ vào dục vọng. Trang tử nhìn cuộc sống hư hư thực thực, ông thấy mình là bướm rồi lại thấy bướm là mình. Khi vợ chết, Trang tử lấy đàn ra gảy, ông thấy có cũng như không và không cũng như có. Lão tử lại thấy cuộc sống đầy rẫy những mầm loạn trong cái mê muội, nên ông chống lại mọi ý chí đấu tranh để chủ trương một đạo “vô vi”, tìm đến một lẽ sống tự nhiên về đạo an tịnh, để sống cũng như chết, mọi sự không thể tác động để gây đau khổ cho con người. Còn Khổng tử thì chủ trương một lối sống thực tế rất nhân bản và cao đẹp, một lối sống quân tử, vì “quân tử bất ưu bất cụ” (người quân tử không buồn lo, không sợ) và “quân tử thản đãng đãng” (người quân tử có sự bằng an thanh thản lồng lộng), nhờ đó tạo nên một trật tự mang lại an hoà cho con người và xã hội. Hiền triết Sorcates suốt đời tranh đấu cho sự thật, mong muốn cho con người thoát khỏi mê muội bằng cách “hãy tự biết mình”, ông rất thản nhiên trước đau khổ và sự chết. Ông tình nguyện (bị ép) uống thuốc độc rồi nhìn cái chết đến từ từ như nhìn một công việc đến hồi kết thúc phải có trong cái quy luật của nó.

Và dĩ nhiên, còn nhiều cá nhân, tín ngưỡng, tôn giáo từ đông tây kim cổ có những quan điểm hoặc niềm tin khác nhau về đau khổ và sự chết qua những ý niệm với nhãn quan riêng biệt.

ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT CÓ Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ KHÔNG

Con người đã tốn rất nhiều nước bọt và giấy bút để bàn về vấn đề này, nhưng đề tài vẫn không có đoạn kết. Xét rằng con người hầu như bất lực để hiểu thấu hay ít ra cũng không thể nói về nó một cách rốt ráo, dù rằng qua lịch sử, nhiều triết thuyết, nhiều tôn giáo đã tung hứng đủ lý lẽ để lý giải về vấn nạn này. Con người chỉ biết rằng nó đang hiện diện, như một chân lý không thể chối cãi. Người ta chưa biết rằng hai với hai là bốn từ đâu mà có, hoặc như bóng tối xuất hiện vì không có ánh sáng, đau khổ hiện diện vì thiếu hạnh phúc, sự dữ có mặt vì vắng bóng sự thiện… Nào ai có thể chứng minh được nó từ đâu mà có? Nó xuất hiện với mục đích gì? Có phải để tàn phá hay hủy diệt, hoặc để tồn tại và phát triển? Để làm quân bình như trong quy luật đào thải? Và muôn vàn vấn nạn trong những chuyện tương tự.

Con người nhận thấy rõ rằng, quy luật sinh tồn, quy luật đào thải là vô cùng khắc nghiệt, sinh muôn vàn đau khổ và sự chết cho mọi sinh vật. Ngay cả vũ trụ được ổn định cũng nhờ tiếng nổ vĩ đại làm vỡ tung khối hỗn mang (Big Ben), và thiên nhiên cũng chẳng khác: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn. Mỗi bước chuyển tiếp là một cơn đau đớn, trong cái đã đến, đang đến và sẽ đến. Từ vi sinh vật, côn trùng, thú vật cho tới con người đều nằm trong quy luật sát phạt này. Nhưng đặc biệt, ai cũng nhận thấy rằng quy luật này rất hợp lý và hữu ích, vì nếu chỉ có yên lặng trong sự tĩnh mịch thì đồng nghĩa với sự chết, chẳng sản sinh ra được điều gì. Cá lớn nuốt cá bé, sinh vật này giết sinh vật kia để sống, nhờ thế hệ sinh thái mới được quân bình. Ai cũng thấy rằng, muốn đạt được điều gì tốt, phải vượt qua những khó khăn thử thách. Mỗi cá nhân muốn đạt được ước mong nào thì buôc phải trải qua gian nan thử thách, sau đó mới gặt hái được hạnh phúc của điều mà mình đã trả giá (ai nên khôn không khốn một lần). Người giàu có, người thành công hay thành đạt thì buộc phải chiến đấu qua gian khổ. Thế giới được nhiều thành quả và tốt đẹp như hôm nay, chính nhờ vào bao cố gắng, bao gian nan, bao đau khổ của nhiều cá nhân, của những cộng đồng tập thể qua nhiều thế hệ…

Nếu không có đau khổ, chắc rằng con người không cần cải thiện để bất chấp tất cả, sẽ tự bị hủy diệt, vì đâu còn lý do để khắc phục và xây dựng nữa. Nhất là không có đau khổ và sự chết thì con người sẽ mặc sức sống theo thú tính để thỏa mãn mọi ngạo mạn của mình, tất cả dục vọng nơi con người sẽ ngự trị, và như thế con người trở thành nô lệ, tàn sát lẫn  nhau, và như thế lại có sự nghịch lý không thể chấp nhận được.

Song song với nó là những dục vọng nơi con người, mà nhà Phật cho rằng đây là nguyên nhân chính tạo nên mọi nghiệp, mọi kiếp. Những thất tình (hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục), lục dục-lục tặc (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) dẫn con người đến đau khổ và sự tiêu ma.

Quy luật sinh tồn và đào thải từ đâu mà ra, cũng như dục vọng nơi con người từ đâu mà có? Có thể nói đó là một bí nhiệm. Bí nhiệm như ánh sáng và bóng tối từ đâu. Chỉ biết chắc rằng quy luật mâu thuẫn luôn phải có thì mới sản sinh ra được điều kỳ diệu, nó nương tựa và đun đẩy nhau để phát triển (âm thịnh dương suy và dương thịnh âm suy). Đối cực này giải nghĩa và làm rõ cho đối cực kia chứ không thể lý giải hơn được. Triết lý Á đông nhận rằng đây là sự khiếm khuyết của trời đất nhưng lại mang được ý nghĩa để chấp nhận cặp đối lập trong niềm lạc quan tích cực. Nếu đứng ở góc độ lý trí con người, thì Đức Phật được xưng tụng là đại trí, Khổng tử là “vạn thế sư biểu”, Lão tử có trí huệ nhìn xuyên suốt được mọi quy luật để  thấy được cái “Đạo” là nguyên ủy và cứu cánh của mọi sinh vật, dù rằng bản thể của “Đạo” chưa ai giải thích và hiểu thấu được… Con người suy tư chỉ biết rằng đau khổ và sự chết bởi chính cặp mâu thuẫn mà ra, chứ không nhất thiết phải giải thích, càng không thể giải thích hơn được nữa, “ra sống thì vào chết; vào chết thì ra sống” (Lão) chính là vậy. Cũng như“Vật cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” (kinh dịch) là như thế.

KITÔ GIÁO CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT BẰNG CÁCH NÀO

Như trên đã đề cập đến sự nhận thức và quan điểm của con người xuyên qua những cảm nhận và lý lẽ trong triết lý, trong đạo học cũng như trong những sắc thái của tôn giáo Á đông. Dù sao ta cũng nên nhìn nhận tính chất ưu việt từ trong các tôn giáo, vì chỉ có tôn giáo mới có đủ uy tín và thế giá để xác nhận những vấn đề thuộc tâm linh như việc chấp nhận đau khổ và sự chết bằng niềm tin nào đó, nhờ vào đấy biến nó thành niềm vui cho cuôc sống, còn hơn thế nữa, là tìm được hạnh phúc trong chính cái đau khổ và sự chết.

Dù chủ quan hay khách quan (theo niềm tin tự nhiên hay lý trí phân tích), nếu tìm hiểu kỹ lưỡng, ta nhận thấy rằng, đức tin trong Kitô giáo rất coi trọng giá trị của đau khổ và sự chết. Coi đây là một ân huệ, một phúc lộc của Thiên Chúa ban cho con người. Đau khổ và sự chết là hậu quả của tội lỗi: “lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta là cái chết” (Rom 5, 12).Nhưng chính nhờ đau khổ, cái chết và sự phục sinh, Đức Kitô đã biến nó thành hy vọng, thành niềm vui, thành niềm hoan lạc trong sự sống đời đời cho tất cả nhũng ai theo Người: “Ai muốn theo thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt, 24). Trong niềm tin, qua đau khổ và sự chết, chắc chắn con người sẽ được vinh quang và hưởng phúc lạc đời đời, vì “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống minh, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.(Ga 12,24-25).Trong cựu ước, ông Giop là người đau khổ tột cùng khó ai có thể chịu đựng được, nhưng ông vẫn vui lòng chấp nhận nó trong niềm tin yêu vững bền:  “Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ. Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Chúa đã ban cho, Chúa lại lấy đi. Xin chúc tụng danh Chúa (G 1:21), và kết quả là ông  gặt hái được những thành quả mỹ mãn không ngờ được.  Bởi vậy một trong những điều kiện để đo lường sự thánh thiện trong đạo Chúa là xem người đó có bằng lòng chịu đau khổ hay không. Thiếu điều kiện này là chưa thể bảo đảm được sự thánh thiện.

Đau khổ và sự chết không ai có thể trốn tránh và chống lại nó, nếu chống lại, con người sẽ trở nên trống rỗng trong mọi sự, vì:“Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” ( 1 Cr 1, 18). Khi chống lại đau khổ, con người chỉ tìm cách ngủ yên trong cái vỏ ốc để bảo vệ cho mình được thoải mái, tránh mọi phiền phức bất cứ từ đâu đến. Lúc đó con người biến thành ích kỷ vô cùng, là điều nguy hiểm dẫn con người đến sự hư mất.

Người Kitô hữu dễ dàng chấp nhận những đau khổ và sự chết nhờ tin vào Đức Kitô và biết được mục đích cuộc sống ở trần gian này để làm gì (Sinh Ký Tử Quy là như vậy). Nếu con người bám vào tiền tài, danh vọng và chạy theo nó thì sẽ mắc vào sự mù tối (vô minh) tai hại, lúc đau khổ và thần chết đến, họ sẽ vô cùng hoảng hốt kinh hãi.

Sự sống đời đời nếu sánh với đời này thì như thánh Giacôbê nói: “Đời người chỉ như một chút hơi nước bay đi rồi biến mất”. Bởi vậy không lạ gì các thánh rất coi thường danh lợi thế gian, các ngài coi đau khổ và sự chết đời này là một phương tiện cần thiết quý báu để đến được cõi hoan lạc viên mãn. Thật cũng không lạ gì có bao vị thánh sung sướng chịu chết vì đạo, các ngài biết rõ”Quê hương chúng ta ở trên trời”(Pl3,20). Vì thế, chết là thay đổi chứ không mất đi, được biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác tốt hơn, hoàn hảo hơn, có được hạnh phúc bất diệt : “Tôi nói anh em biết mầu nhiệm này là, không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi”(1 cr 15, 51).

Đức tin của người Kitô hữu vượt trên lẽ thường tình đến nỗi người ta nhận thấy một sự nghịch lý : “khi Chúa thương gọi con về, lòng con hân hoan như trong một giấc mơ”. Đó là nhờ Đức Kitô đã dành cho những ai tin và sống trong người. Đau khổ và sự chết trở thành một bí nhiệm nên “bất khả tri”, như bác học Newton nói: “Điều tôi biết như giọt nước, điều tôi chưa biết như đại dương”.  Thiên Chúa đã gieo vào lòng con người những mối cảm thức tư duy để ít nhiều con người có thể cảm nghiệm được về đau khổ mang lại ơn ích và sinh ơn cứu rỗi cho họ, dù rằng nó khá mơ hồ và mênh mang. Khi cảm nhận được giá trị của nó thì đau khổ và sự chết trở thành vui mừng, vì được thanh lọc nên tinh tuyền và là giờ được huởng kiến Thiên Chúa là đấng toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, toàn ái, gốc của mọi hạnh phúc. Thánh nhân đều nhận thấy như thế, như Thánh Têrêsa Avila mỗi khi nghe thấy đồng hồ đổ một giờ qua đi là ngài cảm thấy sung suớng vì giờ chết lại gần hơn để về với Chúa. Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu cũng vậy, ngài nói:”với ý nghĩ được chết, tôi sung sướng lắm”.

Nếu con người nhìn nhận được giá trị, và nhất là có được niềm tin vào một Đấng là nguồn của sự thiện, là cứu cánh thông qua đau khổ và sự chết, thì chắc rằng con người sẽ được thanh thản trước cuộc sống trong bất cứ hoàn cảnh hay tình huống nào. Khi đó con người đã được giải thoát và tìm được hạnh phúc ngay từ cuộc sống đời này rồi. Nếu không nó sẽ làm cớ vấp phạm cho con người, để rồi đau khổ trở thành án phạt, từ đau khổ này chồng chất lên đau khổ khác, cho đến lúc phải quằn quại trong sự chết để chấm dứt một kiếp sống nô lệ và đọa đày.

Chung quy, người có đức tin và theo chân Đức Kitô thì dễ dàng đón nhận đau khổ và sự chết bằng niềm lạc quan và hy vọng, trong an bình và thanh thản.

Hàn Cư Sĩ

Nếu một ngày tôi mất đi…….

  Nếu một ngày tôi mất đi…….

Nếu một ngày tôi mất đi, người yêu tôi và người ghét tôi sẽ như thế nào?

Giả sử một ngày tôi không còn trên đời này nữa, những người yêu tôi và ghét tôi sẽ thay đổi như thế nào?

Neu Mot Ngay 1

(Ảnh minh họa)

Giả sử có một ngày, khi tôi chết đi…

Người ghét tôi, họ sẽ nhảy múa…

Người yêu tôi, họ sẽ khóc như mưa…

Ngày thứ 2 qua đi…

Thân xác tôi sẽ được chôn dưới lòng đất…

Người ghét tôi, nhìn thấy mộ tôi, họ chỉ mỉm cười và bước đi…

Người yêu tôi, không dám quay đầu nhìn lại, dù chỉ một lần.

NEU MOT NGAY 2

1 năm sau…

Thân xác thịt của tôi đã trở nên mục nát.

Ngôi mộ của tôi, cỏ mọc um tùm trong sương gió.

Người ghét tôi, sau khi ăn uống no say, đôi khi vẫn rất khó chịu khi nhắc đến tên tôi.

Người yêu tôi, trong đêm khuya vắng vẻ, vẫn khóc thầm gọi tên tôi.

Mười năm sau…

Thân xác tôi không còn nữa, chỉ còn lại bộ xương cốt.

Người ghét tôi, không còn nhớ mặt tôi nữa, mà chỉ còn nhớ tên tôi một cách mơ hồ.

Người yêu tôi, đôi khi trầm lắng trong giây lát khi nhớ đến tôi. Cuộc sống khiến cho mọi thứ dần dần trở nên phai nhạt…

NEU MOT NGAY 3

Mấy chục năm sau…

Ngôi mộ của tôi, trải qua bao mùa mưa gió, chỉ còn lại một bãi đất hoang vu.

Người ghét tôi… không còn nhớ tôi nữa.

Người yêu tôi, cũng đã nằm xuống đất.

Đối với thế giới này, tôi đã trở thành hư vô.

Những phấn đấu một đời của tôi, với bao của cải vật chất… không thể mang đi thậm chí là một cọng cỏ…

Nhưng ham muốn, theo đuổi một đời của tôi, không thể mang đi một chút hư danh.

NEU MOT NGAY 4

Kiếp này…

Cho dù là giàu sang hay nghèo hèn, rốt cuộc cũng phải đi đến bước cuối cùng.

Đến khi nhìn lại, mới thấy uổng phí một đời, tôi muốn khóc, nhưng không thể khóc thành tiếng. Tôi hối hận, nhưng tất cả đã quá muộn.

Hãy sống một cách thiết thực, đừng vì ánh mắt của người đời, hay tiêu chuẩn đánh giá của bất kỳ ai.

Yêu, hận, tình, thù chỉ tồn tại khi chúng ta còn sống.

Trăm năm qua đi chỉ trong một nháy mắt. Cuối cùng cũng chỉ còn lại nắm tro tàn…

Theo Daikynguyenvn

Giác Ngộ

  Giác Ngộ

Msgr. Petrus Nguyển Văn Tài

Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì?”… Lời thách thức này của Tin Mừng đã khiến cho một vị giáo sư  trẻ tuổi bỏ tương lai đầy hứa hẹn, bỏ tất cả để chỉ còn đeo đuổi một mục đích duy nhất trong cuộc đời: sự sống đời đời của chính mình và của người đồng loại.

Vị giáo sư trẻ tuổi đó chính là Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng của các xứ truyền giáo, mà hôm nay Giáo Hội kính nhớ… Chưa tròn 25 tuổi, Phanxicô đã nổi tiếng như một giáo sư triết học tài ba tại đại học Paris . Giữa lúc danh vọng đang đến, Phanxicô Xaviê đã nhận được những lời thách thức trên đây từ người bạn thân Inhaxiô Loyola.

Không còn chống cưỡng lại với lời Chúa, Phanxicô Xaviê đã đến Montmartre để cùng với Inhaxiô sống đời khó nghèo, khuyết tịnh và phục vụ tông đồ, theo những chỉ dẫn của Ðức Thánh Cha.

Năm 1537, nghĩa là 3 năm sau khi đã tuyên khấn, Phanxicô lãnh chức linh mục. Từ Italia, ngài sang Lisboa của Bồ Ðào Nha để lên đường đi truyền giáo tại Ấn Ðộ. Trong 10 năm ngắn ngủi, Phanxicô Xaviê đả rảo bước đi khắp nơi để đem Tin Mừng đến cho dân tộc Nhật Bản, Mã Lai và Ấn Ðộ. Cuộc sống của ngài là một chia sẻ cảm thông sâu xa với những người nghèo khổ nhất… Chưa đạt được giấc mơ đặt chân đến Trung Hoa và Việt Nam, thánh nhân đã qua đời trong kiệt sức, tại một hải đảo cách Hồng Kông 100 cây số. Bị những người lái buôn Bồ Ðào Nha bỏ rơi trên bãi cát, thánh nhân đã qua đời trong sự trơ trụi nghèo nàn.

Danh vọng, tiền tài, ngay cả sức khỏe… tất cả đều được đốt cháy để tìm được niềm vui đích thực cho tâm hồn và mang niềm vui đó đến với mọi người: đó là sứ điệp mà thánh Phanxicô Xaviê đã để lại cho tất cả chúng ta…

“Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”… Có lẽ người ta thường dùng câu nói trên đây không những để nói lên tính cách tương đới của đau khổ, mà còn để nói lên ngay cả sự tương đới của hạnh phúc.

Sau những tháng năm ăn độn, ăn rau, những người nghèo có thể hớn hở reo vui khi được bữa cơm trắng với chút thịt cá. Sau những tháng năm tù đày, một người vừa mới được phóng thích sẽ reo hò sung sướng khi được đi lại tự do, khi được thở không khí trong lành…

Những người giàu có, ngày nào cũng yến tiệc linh đình sẽ thèm khát đôi chút cá kho, mắm cà của người nghèo khổ… Những đứa trẻ giàu có ở đô thị có lẽ sẽ thèm khát những giây phút được cưỡi trâu hay tắm ao của những chú bé nghèo ở nhà quê…

Tựu trung, vấn đề cơ bản nhất của con người vẫn là đi tìm hạnh phúc. Và cuối cùng, sau những miệt mài tìm kiếm, ai cũng nhận thấy rằng mình sẽ không bao giờ đạt được hạnh phúc đích thực và trường cửu trên trần gian này. Kẻ đứng ở núi này sẽ luôn nhìn sang núi nọ…

Chúa Giêsu đã đề ra cho chúng ta một bí quyết của hạnh PhúcAi muốn cứu mạng sống mình, sẽ mất và ai mất  mạng sống mình vì Ta sẽ gặp lại… Chỉ có một niềm vui đích thực đó là sống trọn vẹn cho Chúa. Chỉ có một điều quan trọng nhất trong cuộc sống: đó là lắng nghe lời Chúa.

Msgr. Petrus Nguyển Văn Tài

Anh chị Thụ & Mai gởi

TRÁCH NHIỆM

TRÁCH NHIỆM

Thiên Phúc

Có một ông phú hộ rất khô đạo, thường hay nói với người vợ mỗi sáng Chúa nhật khi bà và các con sửa soạn đi lễ:

– Em hãy đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho anh với nhé.

Mỗi lần gặp gỡ bạn bè nói về chuyện đạo, ông thường khoe với họ là ông không cần đến nhà thờ, cũng không cần phải đọc kinh dự lễ, vì đã có vợ ông dự lễ, đọc kinh và cầu nguyện cho cả hai rồi.

Ngày tháng trôi qua, một hôm ông nằm mơ thấy ông và vợ đứng xếp hàng trước cửa thiên đàng đợi đến lượt mình bước vào. Cửa trời mở ra và mọi người tuần tự vui vẻ tiến vào. Khi đến lượt ông thì thiên thần giữ cửa làm hiệu cho ông dừng lại. Thiên thần quay sang mỉm cười nói với vợ ông:

– Chị hãy vào thiên đàng thay cho cả chồng chị nữa!

Thế là chỉ có vợ ông tiến vào còn ông thì phải bơ vơ đứng ngoài. Vừa tủi thân vừa tức giận đã làm cho ông thức giấc. Ông không dám thuật lại giấc mơ cho vợ, nhưng điều làm cho bà vợ ngạc nhiên hơn cả là sáng Chúa nhật hôm đó, thay vì nói với bà như thường lệ, người phú hộ đến gần vợ và nói bên tai bà:

– Từ hôm nay, anh sẽ cùng với em đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho chính anh nữa.

 ***

Giây phút hiện tại chính là thời điểm Thiên Chúa đi vào cuộc đời ta và qua ta đi vào lòng thế giới. Thế nhưng Thiên Chúa không thể đi vào cuộc đời ta nếu không có sự đồng ý của ta. Thánh Augustino đã nói: “Khi tạo dựng nên ta, Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến của ta, nhưng Người không thể cứu rỗi ta nếu ta không cộng tác với Ngài”.

Điều đó nói lên trách nhiệm của mỗi người về niềm hạnh phúc và phần rỗi cá nhân. Vốn biết rằng “không ai là một hòn đảo”, cũng không ai có thể sống riêng rẽ một mình. Việc tốt cũng như hành động xấu của người này có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với người kia. Thế nhưng, không phải vì thế mà chúng ta có thể ỷ lại vào việc lành phúc đức của người khác để trốn trách nhiệm của mình.

Mỗi giây phút hiện tại sẽ lần lượt qua đi mà không bao giờ trở lại. Mỗi người chúng ta đang đứng trước tương lai của mình, đang đối diện với vận mệnh mà Thiên Chúa đã trao tặng. Chúng ta phải sáng suốt lựa chọn sự sống hay cái chết, hạnh phúc bất diệt hay thú vui tạm bợ, Thiên Chúa và tình yêu hay cái tôi và tính ích kỷ.

Tất cả tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của ta. Không ai có thể sống thay cho ta hoặc chết thay cho ta. Thánh Phaolô đã viết: “Mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa” (Rm 14, 12). Phải chấp nhận sự thật này là mỗi người chỉ sống một lần và chết cũng chỉ một lần. Ta phải chủ động chứ không thể đề cử ai thay thế ta được.

***

Lạy Chúa, xin giúp con xác tín rằng chính con phải lo phần rỗi con, không ai có thể sống đạo thay con. Chính con phải tuyên xưng lòng tin bằng đời sống và việc làm của con, để qua con, người khác sẽ nhận biết Chúa, và cảm nghiệm tình thương cứu độ của Ngài. Amen 

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

Phần còn thiếu trong bản báo cáo

Phần còn thiếu trong bản báo cáo

Bauxite Việt Nam

Ngày hôm nay, 22 tháng 8 năm 2016, các báo và trang mạng xã hội đều giật tít cực kỳ ấn tượng. Tít như thế này: Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Miền trung sẽ có cả thép, cả cá và biển an toàn.

Lời khẳng định của ngài Bộ trưởng như để mắng lại – dầu chỉ là mắng vuốt đuôi sau gần 5 tháng – ông Trưởng đại diện Formosa Chu Xuân Phàm, người từng có lúc hách dịch thách thức cả cái nước Nam này “chọn cá hay chọn thép”. Bây giờ thì đã có người tử tế hẳn hoi xác định, “cả cá và cả thép”. Vâng, ông Bộ trưởng nói ngon lành lắm Người dân Miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và cả một môi trường biển sạch, đẹp, an toàn”.

Thôi thì, cũng có thể thông cảm với tình cảm mùi mẫn chắc là có phần chân thành của ông Trần Hồng Hà: “Tôi luôn nhận thức được việc công bố biển sạch là rất quan trọng và cần thiết đáp ứng mong mỏi của người dân được biết môi trường biển đã sạch chưa? Vùng biển nào sạch? Vùng biển nào chưa sạch? Nuôi trồng hải sản được chưa? Hải sản an toàn chưa? để đảm bảo hoạt động sản xuất, đánh bắt, sinh kế trở lại bình thường. Tại Hội nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường theo chức năng và nhiệm vụ được giao sẽ công bố báo cáo về đánh giá chất lượng môi trường biển trong và sau sự cố. Tôi đề nghị các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngay sau hội nghị này tiến hành các bước theo quy định công bố đầy đủ thông tin đáp ứng nguyện vọng chính đáng nêu trên của người dân”(1).

Đó dù sao cũng là điểm tích cực. Bản báo cáo (không đăng toàn văn mà chỉ được các báo chế biến lại và loan tải) cũng cho biết đôi ba điều mà nếu đúng là sự thực (chất phenol và cyanure ngày càng loãng đi, san hô bớt chết trắng, v.v…) thì cũng tạm thở phào. Dĩ nhiên, nếu có công bố thêm về phương pháp nghiên cứu, những số liệu thu được thật đầy đủ, chính xác, và nhất là đừng có phô ra những điều mâu thuẫn lủng củng hơi khó hiểu như trong các bản báo cáo khảo nghiệm của những vị mang danh nhà khoa học này nọ ngay trong hội nghị khiến người ta chợt nhớ đến lời ông Thiệu – đừng có tin CS nói – thì sự thở phào càng thêm phào.

Duy có một điều còn thiếu – và thậm thiếu – tại hội nghị này khiến bạn đọc chưa thể thở phào được: ấy là thiếu hẳn những nghiên cứu xã hội học liên quan đến người dân. Tình hình người dân hiện thời ra sao? Những ngư dân (không kể những thành phần “ăn theo” ngư dân) đi biển gần bờ và xa bờ hiện sống trong tình trạng thiếu hay đủ, còn lo lắng hay đã tạm bớt lo, và họ tiên lượng cuộc đời sẽ thế nào? Cũng còn thiếu hẳn sự đánh giá trung thực về bản chất và hành vi của Formosa Hà Tĩnh, khi mà, sau vụ việc thải chất độc làm cá chết và biển chết, dân chúng Việt Nam còn phát hiện được ở rất nhiều nơi những bãi chôn lấp chất thải cố ý che giấu tai mắt người Việt cũng như các cấp chính quyền Việt Nam? Vậy những bãi chất thải đó độc hại đến đâu và sự độc hại của chúng có tác động ra sao đến toàn bộ cuộc sống của đất nước chúng ta? Những bãi chất thải chôn cất giấu giếm đó có làm thay đổi cách nhìn “hữu hảo” giữa các ông chủ hưởng lợi thực tế từ Formosa với chính cụm nhà máy đang ngự trị ở Vũng Áng hay không, thay đổi đến đâu, hay là các vị vẫn bằng chân như vại ngồi chờ những quả bom môi trường sẽ lại phát nổ tại vùng biển này không chỉ một lần tới mà có thể còn hai, ba lần? Vân vân… Nhiều nữa! Nhưng cuối cùng có vấn dề này mà các ngài hình như vẫn cố tình né tránh: thực chất tâm trạng của nhân dân Việt Nam từ mấp mé ải Nam Quan đến mũi Cà Mau là như thế nào đối với cái của nợ Formosa?

Ngài Bộ trưởng sao không hề nhắc gì đến những điều nói trên? Ngài quên đi là do tình thực, ngây thơ, hay do “phép đảng” bắt ngài phải ngậm miệng? Chỉ thấy ngài lại hồn nhiên “tái bản” cái việc mà các quan chức Hà Tĩnh và một vài tỉnh lân cận đã từng phải khổ công biểu diễn: ngài cùng các quan chức có mặt, ngay sau cuộc họp đã “đội mưa” ra tắm biển ở Quảng Trị, và tắm xong lại còn ghé vào nhà hàng ăn hải sản:

“Trưa 22/8, bất chấp trời miền Trung có mưa to, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cùng lãnh đạo tỉnh Quảng Trị đã xuống tắm ở bãi biển Cửa Việt (huyện Gio Linh, Quảng Trị). Sau đó, Đoàn công tác của Bộ trưởng đã thưởng thức hải sản ở bãi biển Cửa Việt.

“Đến thời điểm này, thấy biển đẹp không, tắm biển thích không? Các nhà khoa học nói biển miền Trung an toàn. Việc thực hiện nghiên cứu rất bài bản, có nhiều phản biện. Tại sao mình không tắm biển”, Bộ trưởng Trần Hồng Hà chia sẻ với VnExpress”(2).

Diễn như thế thì kể cũng oai thật, nhưng cũng là… nhảm thật. Chẳng lẽ nói như Nguyễn Công Hoan, chỉ có mỗi một tấn tuồng cũ mèm mà cứ phải thay đào kép và lặp đi lặp lại thế thôi sao? Bởi thế, tuy ở trên chúng tôi có nói, phát biểu của ngài Bộ trưởng có những điểm tích cực, song “có những điểm” không có nghĩa tất cả đều tích cực. Chẳng cần phải xuống biển nhúng nước và lên bờ nếm cá cho nó nhàm chán, “biết rồi, khổ lắm, làm mãi”(3) làm gì. Ngài hãy cứ bắt đám cận vệ của ngài – chắc là rất đông vì biên chế hiện đang cực kỳ quá tải – đi điều tra xã hội học một cách thực sự cầu thị mà xem. Chúng tôi dám chắc sau cuộc họp long trọng do ngài chủ trì, kể cả sau khi ngài đã tắm biển và ăn cá, dân chúng vẫn không thể nào gật đầu theo ngài được. Tất cả mọi người dân, xin nói chắc như thế, trừ những kẻ đã được “phục sẵn” và được giao những “vai” chuyên làm theo lệnh của các ngài thì không kể. Lòng tin đã mất đi làm sao lấy lại được một cách dễ dàng như thế, khi mà những kẻ đã làm mất nó không quyết tâm khôi phục bằng chính hành động tìm đến dân và chọn dân làm thước đo cho mọi cuộc kiểm nghiệm – đó mới là sự trải lòng chân thành.

Lại nhớ đến vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Khởi đầu, sau những tin tức không hay như chuyện gã họ Nông ngang nhiên ký vào hai văn bản do Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào dỗ dành, một vài nhà chính trị có tầm viễn kiến như Võ Nguyên Giáp… đã lên tiếng một cách tâm huyết với đảng của mình; còn trí thức trong nước và ngoài nước hàng mấy ngàn người cũng đã thẳng thắn và chân thành kịp thời góp ý với Quốc hội, với Chính phủ Việt Nam, phân tích đủ các mặt lợi hại để các vị biết mà dừng ngay lại… Vậy mà, sau hàng loạt kiến nghị liên tiếp trong quý II năm 2009, mỗi kiến nghị có đến hàng mấy ngàn người ký, tất cả các vị chức sắc chóp bu thuở ấy đều “đồng lòng” với nhau ở một thái độ ứng xử: bịt tai từ chối hoàn toàn trí thức và nhân dân. Vậy có khác gì cách làm hôm nay, nói loanh quanh đủ chuyện rồi vẫn không hề động đến DÂN không? Cũng là Bộ Tài nguyên và Môi trường đấy thôi, dạo đó cũng đã rất “bài bản” cử ngay những người chuyên trách đi “khảo sát”, và cũng đã khảo ra được những bản báo cáo dềnh dang rất dài, đưa đọc trong các buổi họp báo như buổi họp hôm nay do ngài chủ trì đấy. Bản khảo sát cũng chẳng thiếu một mặt nào, trình tự, lớp lang và khoa học lắm, nào phân tích, so sánh về công nghệ, về giá cả, nào dự đoán mức sống của người dân Tây Nguyên sau khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ được nâng cao bao nhiêu bậc, nào quy trình hoàn thổ cho đất đỏ ở Tân Rai và Nhân Cơ cũng như nhiều nơi khác… sẽ diễn ra thuận lợi và “đúng quy trình” ra sao. Nghe bùi tai khôn kể. Tiếc thay, có một điều quan trọng bậc nhất thì các ngài lại đã cố tình bỏ qua không thèm khảo: đó là ý kiến – là tổng hợp kinh nghiệm, tri thức, quan điểm của dân chúng, là LÒNG DÂN. Không những phớt lờ không thèm đếm xỉa đến lòng dân mà hễ những ai quyết liệt phản đối dự án, lên tiếng mạnh mẽ trên các diễn đàn, các ngài còn dùng bộ máy chức năng để làm khó dễ, vu cho họ là thù địch, thẩm vấn họ suốt ngày này tháng khác, nhất quyết dập tắt tiếng nói của họ bằng được.

Thì nay, sau 7 năm thí điểm dự án theo lệnh ĐCS, không biết trong thâm tâm ngài Bộ trưởng có dám chịu thừa nhận không nhỉ, kết quả nhãn tiền đang bày ra lấp ló: một núi nợ chưa biết bấu víu vào đâu để trả đang lù lù hiện dần trước mắt, và một quả bom tấn về môi trường đã kích hoạt sẽ có nguy cơ giáng xuống đất nước Việt Nam còn ghê gớm hơn nhiều quả bom Formosa(4). Không biết đến lúc ấy, ông Trần Hồng Hà sẽ đem gia đình con cái chạy đi đâu? Hay là ông sẽ cứ ở lại họp báo tiếp về việc “Tây Nguyên sẽ có cả alumin và cà phê, hạt điều, hạt tiêu, gỗ quý…, sẽ giữ lại được nền văn hóa độc đáo bậc nhất, dân chúng Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ sẽ được sống vui sống khỏe, trong một môi trường sạch sẽ an toàn”?

BVN

(1) Xem: http://www.vnmedia.vn/dan-sinh/201608/bo-truong-tran-hong-ha-mien-trung-se-co-ca-thep-ca-ca-va-bien-an-toan-539641/

(2) Xem: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-truong-tran-hong-ha-tam-bien-duoi-mua-3456602.html

(3) Mượn một câu nói nổi tiếng của các nhà dân chủ thời Nhân văn – Giai phẩm.

(4) Xem: http://www.baogiaothong.vn/vo-duong-ong-nm-alumin-nhan-co-qua-bom-moi-truong-ngang-tam-formosa-d161551.html

 

Thuê chặt chân tay ‘để trục lợi bảo hiểm’

Thuê chặt chân tay ‘để trục lợi bảo hiểm’

BBC

Một người phụ nữ ở Hà Nội thuê người chặt chân, tay của mình với giá 50 triệu đồng để nhận 3,5 tỷ tiền bảo hiểm, theo công an.

Ngày 23/8, sau ba tháng điều tra, cơ quan điều tra công an quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội) nói họ đã làm rõ vụ tự thương nhằm trục lợi bảo hiểm nhân thọ.

Đại tá Nguyễn Thanh Tùng, Trưởng Công an quận Bắc Từ Liêm cho biết đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xảy ra vụ việc nghiêm trọng như vậy vì nếu trót lọt, người phụ nữ này có thể được thanh toán số tiền bảo hiểm lên tới 3,5 tỷ đồng.

‘Tai nạn giao thông đường sắt’

Theo VnExpress, vào 0h05 ngày 5/5, công an quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội) nhận được thông báo từ anh Doãn Văn D. (21 tuổi, trú tại Phúc Thọ, Hà Nội) về một vụ tai nạn giao thông đường sắt tại khu gian Hà Đông – Phú Diễn thuộc tuyến đường Bắc Hồng – Văn Điển, địa phận phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

Khi đến hiện trường, cảnh sát xác định nạn nhân là chị Lý Thị. N. (30 tuổi, trú tại huyện Phúc Thọ, Hà Nội) đang nằm dọc đường ray bên trái đường sắt theo chiều chạy từ Hà Đông về ga Phú Diễn, với 1/3 bàn tay trái và 1/3 bàn chân trái đứt lìa, một chiếc dép nằm phía bên trong đường ray.

Chị được đưa đến Bệnh viện 19/8 để cấp cứu và nối liền lại phần chân và tay bị đứt. Sau bốn ngày điều trị, nạn nhân xin chuyển đến Bệnh viện Việt Đức và tại đây, bác sĩ chuẩn đoán phần thân thể bị đứt đã hoại tử và buộc phải tháo bỏ để bảo toàn tính mạng.

Theo lời khai với cơ quan công an, chị Lý Thị N. là người dân tộc Tày, quê ở Tuyên Quang, hiện đã lấy chồng, có 2 con và sinh sống tại huyện Phúc Thọ, Hà Nội.

Nạn nhân cho biết vì tối 4/5 xin phép chồng về quê ở Tuyên Quang nhưng không được đồng ý, chị do buồn bã đã đi lang thang dọc đường sắt từ khu vực phường Xuân Phương về đường 32. Lúc này trời rất tối, chị nghe thấy tiếng còi tàu và thấy có ánh đèn, nhưng không thấy tàu chạy qua. Khi bước tiếp vài bước thì chị bị tàu hút vào; chị thấy đau nhói, rồi bị hất văng và bất tỉnh.

Khi tỉnh dậy, chị thấy anh Doãn Văn D. đi qua liền kêu cứu.

Nghi vấn

Theo VnExpress, chị N. liên tục đề nghị cơ quan công an xác nhận mình tai nạn giao thông đường sắt và xác định tỷ lệ thương tật để được thanh toán 3 gói bảo hiểm đã mua trước đó của 2 công ty.

Công an xác định từ đầu tháng Ba, chị liên tục mua bảo hiểm nhân thọ với số tiền lớn, và nếu có tai nạn xảy ra, tổng số tiền bảo hiểm mà chị được thanh toán lên tới gần 4 tỉ đồng.

Tiếp theo đó, Doãn Văn D. sau khi báo cáo sự việc với cảnh sát đã cung cấp sai tên, tuổi, địa chỉ cho cơ quan công an, đồng thời có hành vi đổi sim cùng điện thoại để cắt liên lạc với cơ quan chức năng và có dấu hiệu bỏ trốn.

Theo thông tin của VietnamNet, khi phối hợp với đội khám nghiệm hiện trường để khám nghiệm đầu máy cùng các toa tàu chạy qua tuyến đường sắt vào thời điểm xảy ra tai nạn, cơ quan công an không phát hiện vết máu nào bám lại tại các bánh xe, gầm máy và các toa xe.

Đồng thời, phía dưới đầu máy tiếp xúc với đường ray có thanh kim loại gạt chướng ngại vật, khoảng cách từ thanh này đến đường ray chỉ khoảng 2cm, tay hoặc chân người khó có thể lọt qua được. Thêm vào đó, việc giám định giám định kết luận thương tích tại vùng tay trái, chân trái của chị Lan cho thấy vết thương do vật sắc gây ra, không phải tai nạn đường sắt.

Sau ba tháng điều tra, công an quận Bắc Từ Liêm kết luận vụ tai nạn trên là không có thật.

Theo VnExpress, chị N. thừa nhận do làm ăn thua lỗ, nợ tiền của nhiều người, không có khả năng chi trả nên nảy ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công ty bảo hiểm.

Nó Sập Rồi Sao

 Nó Sập Rồi Sao

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

RFA

Tôi vốn hay lo nên cứ chần chừ mãi mà vẫn chưa lần nào (dám) ghé thăm Hà Nội. Đường thì xa, vé tầu thì mắc, thực phẩm thì không an toàn, và lỡ hành lý lại bị mất ráo ở phi trường (Nội Bài) thì thấy mẹ!

Đã thế, nhà cửa Hà Nội lại còn hay bị sập. Khoảng giờ này năm ngoái, ngày 23 tháng 9 năm 2015, báo Ngày Nay buồn bã loan tin: “Sập nhà 107 Trần Hưng Đạo khiến hai người chết.”

Ngày 4 tháng 8 năm nay, báo Thanh Niên lại ái ngại cho hay: “Một ngôi nhà 4 tầng tại phố Cửa Bắc, Hà Nội … bị sập trong đêm, đã có nạn nhân thiệt mạng… Theo báo cáo nhanh của Công an quận Ba Đình nguyên nhân khiến ngôi nhà số 43 phố Cửa Bắc bị sập là do xây dựng đã lâu, móng hầu như không có.”

Báo cáo này lại khiến cho tôi co8 (thêm) một nỗi lo lắng khác: nhà đương cuộc Hà Nội cũng có nền móng khỉ mốc gì đâu! Bằng giờ này hơn 70 năm trước, hôm 19 tháng 8 năm 1945, những người cộng sản đã (tay không) cướp được quyền bính ở Hà Nội.

Sau đó, cũng chỉ bằng mồm mà họ chiếm luôn thêm được Sài Gòn rồi ngồi riết trên đầu trên cổ nhân dân – của cả hai miền – không qua một cuộc trưng cầu dân ý hay bầu bán gì ráo trọi. Chế độ hiện hành vừa không chính danh, vừa không chính đáng nên cũng có nền móng gì đâu. Bởi thế, với thời gian, tiếng báo động (nghe như tiếng cú) mỗi lúc một nhiều và càng thêm rõ:

Việt Nam không chỉ chỉ cạn kiệt về tài chính mà còn khánh kiệt về niềm tin. Không còn ai cảm thấy an toàn ở xứ sở này, mọi người đều chỉ nhấp nhổm muốn đi – theo lời than phiền của nhà thơ Thái Bá Tân:

Trẻ, đua nhau du học.
Học xong không quay về,
Bỏ lại cánh đồng cháy,
Tiêu điều những làng quê.

Quan, những người cách mạng,
Lặng lẽ tích đô-la
Để thành công dân Mỹ,
Tây Âu, Canada.

Doanh nhân, chưa bị giết
Bằng sưu thuế nhiễu nhương,
Cũng lặng lẽ chuẩn bị
Để mai mốt lên đường.

Vậy là đi, đi hết,
Những người có thể đi…

Nhà ngoại giao Nguyễn Quang Dy coi đây như là “dấu hiệu của một cơn bão tố.” Bài viết của ông (trên trang BBC, hôm 15/06/16) mở đầu bằng một câu danh ngôn của thiền sư Osho: “Cuộc sống bắt đầu khi nỗi sợ kết thúc – Life begins where fear ends.”

Đúng hai tháng sau, từ Việt Nam, blogger Paulus Lê Sơn gửi bài tường thuật (“Giáo Dân Vinh Biểu Dương Sức Mạnh Oai Phong Triệt Hạ Phường Tự Đắc”) đến trang Dân Luận:

Sáng 15.8.2016, vào lúc 6 giờ 45 có khoảng 30.000 người tham dự thánh lễ “Đức Mẹ Hồn và Xác Lên Trời,” quan thầy của giáo Phận Vinh tại trung tâm Xã Đoài, đồng thời tuần hành với những biểu ngữ đồng hành lên tiếng cho thảm họa môi trường Biển miền Trung.

Ảnh: Dũng Mai

Tôi cứ ngỡ là người bạn trẻ viết lộn (chắc chỉ chừng ba ngàn là quá xá rồi) nhưng khi nhìn thấy một biển người tuần hành ở thành phố Vinh thì không khỏi thất kinh hồn vía; tự dưng, lại thốt nhớ đến lời tiên đoán của nhà văn Nguyên Ngọc: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?”

Nó sụp đổ theo kịch bản nào thì cũng có cả trăm triệu người vui, và (cỡ) một triệu kẻ buồn. Riêng tôi thì chỉ thấy lo thôi, và lo lắm!

Nó sập rồi sao nữa?

What’s next?

Cách đây chưa lâu, có bữa, tôi nghe nhà văn Phạm Thị Hoài  hỏi nhỏ:

Chúng ta thử hình dung, một ngày nào đó không xa, trong vòng một thập niên tới, Việt Nam sẽ chuyển thành công từ thể chế độc quyền dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam sang dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự.

Khi đó, cái di sản kéo dài gần ba phần tư thế kỉ ở miền Bắc và gần một nửa thế kỉ trên toàn quốc đó sẽ đặt chế độ mới trước những thử thách nào?

Một “chế độ mới” với “nền dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự” để có thể đối phó với những thử thách” mai hậu – tất nhiên – không thể hình thành qua đêm, và dường như (cho đến nay) vẫn chưa có ai chuẩn bị cho những điều “phiền phức” và “xa xôi” đến thế.

Mà dân Việt thì lúc lại chả thế. Chả chờ cho nước đến chân, hay tới cổ luôn. Hồi ký (Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua) của bác sĩ Nguyễn Tường Bách có những dòng chữ “ngơ ngác” đọc mà muốn ứa nước mắt:

Thời thế biến chuyển nhanh hơn là người ta tưởng.

Đầu tháng 8, 1945. Chúng tôi vẫn miệt mài làm báo. Tờ Ngày Nay vẫn bán rất chạy, tuy những tin tức dồn dập khiến mọi người hoang mang.

Một buổi chiều, công việc xong, tôi đương ngồi uống càphê, bỗng thấy Khái Hưng từ ngoài vội vã bước vào trong tòa soạn:

– Mỹ ném bom nguyên tử! – anh nói.

– Xuống đâu? – tôi vội hỏi.

– Hiroshima… mấy mươi vạn người đã ra tro…

Ngày hôm sau, 16 tháng 8, 1945. Chín giờ sáng, tôi đạp xe từ nhà đến tòa báo. Mọi người đều có vẻ phấn khởi, đồng thời cũng tỏ ra thắc mắc về tương lai. Pháp đã chạy, Nhật đầu hàng. Vậy thì, cục thế sẽ đi tới đâu?

Giữa lúc “mọi người hoang mang” không biết “cục thế” sẽ “tới đâu” thì ông Hồ Chí Minh đã có ngay một bức thư, không biết thằng chả thủ sẵn trong túi áo (đại cán) từ đời thưở nào rồi:

“Hỡi đồng bào yêu quí! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên.”

Cờ quạt cũng vậy, cũng đã dấu sẵn (đâu đó) hết trơn, theo Tạp Chí Xây Đựng Đảng:

“Sáng 19-8-1945, Thủ đô Hà Nội ngập tràn cờ đỏ sao vàng. Từ mọi ngả đường nhân dân cuồn cuộn đổ về Quảng trường Nhà hát lớn để tham gia cuộc mít tinh do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Cuộc mít tinh với trên mười vạn người đã nhanh chóng biến thành cuộc biểu tình vũ trang chiếm Phủ Khâm sai, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện… Chỉ trong chốc lát hầu hết các công sở của chính quyền địch đã thuộc về nhân dân. Cơn bão cách mạng thành công ở Hà Nội đã tràn khắp cả nước thúc đẩy nhân dân đứng lên tổng khởi nghĩa. Chỉ trong vòng 15 ngày chúng ta đã giành thắng lợi hoàn toàn.”

Người cộng sản quả là những thiên tài. Họ cũng đâu biết “cục thế” ra sao nhưng vẫn chuẩn bị rất kỹ việc cướp chính quyền, và đã thành công. Chỉ có điều là cướp xong được quyền bính thì họ lại biến thành thiên tai, và đại hoạ –  theo như lời phàn nàn của nhà báo Bùi Tín:

“Nhà nước cộng sản trong hơn 70 năm qua đã phá nhiều hơn xây, mang lại bất công vượt xa thời Pháp thuộc, nhà tù nhiều hơn trường đại học, y tế suy đồi, giáo dục lạc hậu, nợ quốc gia chồng chất, biên giới bị xâm phạm, tham nhũng càng chống càng tràn lan. Có thể nói tòa nhà cộng sản đã bị dột nát, xiêu vẹo, sâu mọt ăn từ mái đến móng nhà, các cột trụ đều mọt ruỗng …”

Trời, nói gì nghe thấy ghê vậy cha? Ngó bộ nó muốn sụp tới nơi … nhưng (lỡ) nó đổ thì rồi sao nữa?

Nếu ngày mai CNXH ở Venezuela đội mũ ra đi, xứ sở này đã có sẵn phe đối lập Mesa de la Unidad Democrática (MUD) gồm nhiều đảng phái và tổ chức xã hội dân sự. Họ đã giành được quyền kiểm soát quốc hội, sau cuộc bầu cử vào tháng 6 năm 2015.

Nếu ngày mốt Bắc Hàn sập tiệm thì dân Nam Hàn buộc sẽ phải “hứng” lấy nửa phần quê hương và đồng bào (không may) của họ thôi.

Nếu ngày kia Trung Cộng đổ thì hơn tỉ dân Trung Hoa vẫn có thể trông cậy ít nhiều vào Trung Hoa Dân Quốc, như khuôn mẫu có sẵn cho một nhà nước dân chủ và pháp trị.

Thái Anh Văn, Tổng Thống Đương Nhiệm của T.H.D.Q. Ảnh: Wikipedia

Còn lỡ ngày kìa mà Hà Nội sập thì ngay cả ông Trời cũng chưa chắc đã biết chuyện gì rồi sẽ xẩy ra cho đất nước Việt Nam! Dựa vào đâu, và làm cách nào để có thể chuyển sang “nền dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tự do tư tưởng và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự”?

Tôi nhìn quanh chỉ thấy vài ba nhóm nhỏ (trong cũng như ngoài nước) những kẻ “rất quan tâm, và rất có lòng với quê hương dân tộc” và … chỉ có thế thôi. Xa hơn là vài ông  thủ tướng lưu vong, cùng mấy đảng phái chính trị chỉ được công luận biết đến vì nhờ vào … tai tiếng! Tất cả đều là sản phẩm của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, một cái cộng đồng không hùng mạnh lắm!

Không lẽ, thêm một lần nữa, vận mệnh phận đất lại được sắp xếp bởi ở những hội nghị quốc tế (không biết rồi sẽ nhóm họp ở phương trời nào) và số phận dân tộc này lại sẽ rơi vào một “đám thiên tai” nào khác?

Chúng ta không có thói quen chuẩn bị cho tương lai. Lý do, tôi trộm nghĩ, có lẽ vì người mình lỡ quen với mì (gói) ăn liền rồi!

Dọn đường cạnh tranh với công đoàn độc lập

Dọn đường cạnh tranh với công đoàn độc lập

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-08-24

000_Hkg1514019.jpg

Tài xế hãng taxi Sao Sài Gòn tại Hà Nội đình công hôm 31/7/2008.

 AFP photo

Dọn đường cạnh tranh với công đoàn độc lập

02:59/06:09

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Trong 15 năm qua, Việt Nam xảy ra hơn 7.000 cuộc đình công tất cả đều được mô tả là trái luật, đặc biệt tổ chức công đoàn độc quyền do nhà nước thành lập không hề tổ chức bất kỳ một cuộc đình công nào để tranh đấu cho quyền lợi của người lao động.

Cái “khó” của công đoàn

Điểm chung của các cuộc đình công tự phát ở Việt Nam là đòi quyền lợi lương bổng, phúc lợi và chế độ làm việc của người lao động. Hầu như sau các cuộc đình công tự phát và bị coi là trái pháp luật, hầu hết giới chủ doanh nghiệp đều phải đáp ứng toàn phần hoặc một phần yêu sách của người lao động.

Các cuộc đình công bị coi là trái pháp luật vì công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên không đứng ra lãnh đạo và tổ chức đình công. Đây là điều kiện bắt buộc ghi trong các Bộ Luật Lao động 2006 và được sửa đổi trong Bộ Luật Lao động 2012. Như vậy Việt Nam có luật pháp về đình công, tuy nhiên Tổng Liên đoàn Lao Động và hệ thống trực thuộc là tổ chức độc quyền chịu sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và Nhà nước. Một điểm đáng chú ý là tất cả cán bộ công đoàn cơ sở ở doanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp trả lương. Luật sư Lê Văn Luân từ Hà Nội phân tích vấn đề này:

“Một người được sinh ra và trả lương bởi một ông chủ mà đứng ra bảo vệ người đối nghịch, thì đó chính là mâu thuẫn từ trước đến nay chưa giải quyết được. Cho nên tính độc lập của tổ chức công đoàn để bảo vệ người lao động hầu như không có.

Một người được sinh ra và trả lương bởi một ông chủ mà đứng ra bảo vệ người đối nghịch, thì đó chính là mâu thuẫn từ trước đến nay chưa giải quyết được.
– Luật sư Lê Văn Luân 

 Khi không phát huy được vai trò của công đoàn thì đương nhiên người lao động khi bị xâm phạm đến quyền lợi của mình, cho rằng là như thế, thì chắc chắn họ phải tự mình chứ không thể nhờ công đoàn được…với TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương nếu Việt Nam gia nhập thì có yêu cầu tổ chức công đoàn độc lập.

Đây chính là điểm cực kỳ tiến bộ, phù hợp nhất đối với việc điều chỉnh liên quan đến công đoàn, khắc phục điểm yếu của nó, đó là phải độc lập với người sử dụng lao động, không do người sử dụng lao động trả lương hoặc lập ra mà do trực tiếp người lao động…hoặc phải là tổ chức công đoàn được thành lập hợp pháp theo luật Việt Nam, có được quyền bảo vệ tính độc lập với doanh nghiệp. Đây chính là yếu tố quyết định đến phát triển.”

Báo chí Việt Nam trong đó có Tuổi Trẻ Online và Dân Trí Online ngày 23/8 đưa tin, Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng đề nghị Liên đoàn Lao động TP.HCM mạnh dạn tổ chức cho cán bộ công đoàn lãnh đạo công nhân đình công theo luật, nếu việc này đem lại kết quả tốt cho người lao động. Ông Đinh La Thăng đã nói như thế khi thăm Khu Chế xuất Tân Thuận hôm 23/8/2016 và được giới chức Liên đoàn Lao động TP.HCM xác định rằng, từ trước tới nay công đoàn chưa bao giờ tổ chức đình công để tranh đấu cho người lao động.

Ông Đinh La Thăng là Ủy viên Bộ Chính trị đầu tiên phê phán vai trò không hiệu quả của tổ chức công đoàn, khi mà công nhân những người là thành viên công đoàn lại không coi cán bộ công đoàn là thủ lĩnh của họ.

Trao đổi với chúng tôi, LS Lê văn Luân nhận định rằng tư tưởng của ông Thăng không phải là mới mà chỉ phù hợp với xu hướng Việt Nam hội nhập quốc tế, tham gia TPP Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương. LS Lê Văn Luân tiếp lời:

“ … Trong một môi trường có một tổ chức công đoàn khác và độc lập, anh muốn cạnh tranh được thì cũng phải thể hiện được vai trò của mình trong vấn đề bảo đảm quyền lợi người lao động. Ông Thăng đề cập vấn đề đó cũng là một bước cực kỳ mạnh dạn đối với thứ người ta coi là hoàn toàn nhạy cảm và rất khó để thực hiện. Tôi thấy đây là bước đầu tiên dọn đường cho việc ở cơ sở….”

Quyền tự do lập hội

000_Hkg10243599.jpg-400.jpg

Công ty may 10 ở ngoại ô Hà Nội hôm 20/10/2015. AFP photo

Công đoàn độc lập và sự liên kết giữa các tổ chức công đoàn là điều chưa hề có ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chìa khóa của vấn đề là quyền tự do lập hội. Quyền này tuy được ghi trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam, nhưng chưa bao giờ có luật để thi hành. Dự luật Lập hội vẫn cứ ì ạch ở Quốc hội từ khóa trước sang khóa sau. Luật sư Lê Văn Luân nhận định:

“ …Chưa có Luật Lập hội thì đúng là một vấn đề vướng mắc, tất nhiên khi tham gia TPP Nhà nước có nói rằng sẽ phải thay đổi một loạt các văn bản luật để tương thích với vấn đề công đoàn độc lập, vấn đề liên quan đến lao động ở trong TPP. Tôi tin rằng sớm muộn cũng phải ban hành, phải đặt lên bàn dự thảo Luật Lập hội, khi đó mới bảo đàm quyền thành lập công đoàn độc lập theo TPP…”

Tôi tin rằng sớm muộn cũng phải ban hành, phải đặt lên bàn dự thảo Luật Lập hội, khi đó mới bảo đàm quyền thành lập công đoàn độc lập theo TPP…
– Luật sư Lê Văn Luân 

 Trong dịp trả lời chúng tôi, Phó Giáo sư Ngô Trí Long hiện sống và làm việc ở Hà Nội tỏ vẻ băn khoăn về khả năng tiến tới tự do nghiệp đoàn ở Việt Nam:

“Triết lý chính trị cũng như quan điểm của họ chưa thay đổi thì tôi nghĩ vấn đề này khó thay đổi lắm. Thực chất đó là vấn đề tối tế nhị, một mặt đây là vấn đề nhạy cảm, vấn đề nóng và bức xúc hiện nay mà người ta đang quan tâm. Nhưng để triển khai và thực hiện được những vấn đề đó, tôi nghĩ là còn phải chờ đợi một quá trình không phải là đơn giản…”

Hiến pháp hiện hành của Việt Nam minh thị những quyền cơ bản của công dân như lập hội, biểu tình, hội họp, dù nhà nước cộng sản trì hoãn ban hành những bộ luật về vấn đề này. Tuy vậy với xu hướng hội nhập để phát triển, giới học giả cho rằng đã tới giai đoạn mà Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam phải chấp nhận hé mở cánh cửa hẹp về dân chủ hóa, ít nhất là vấn đề quyền lựa chọn nghiệp đoàn ở cơ sở.

Đề nghị của ông Đinh La Thăng Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM về việc Công đoàn phải gánh vác trách nhiệm của mình, đứng ra lãnh đạo và tổ chức đình công tranh đấu cho quyền lợi của công nhân, được giới quan sát xem như một sự chuẩn bị cho tương lai đó.