Tìm một con đường. Tìm một lối đi

“Tìm một con đường. Tìm một lối đi
Ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi
Lạc loài niềm tin sống không ngày mai
Sống quen… không ai cần ai
Cứ vui… cho trọn hôm nay.”

(Đức Huy – Và Con Tim Đã Vui Trở Lại) 

 

Trần Ngọc Mười Hai

(Lc 11: 12-13)

Có lẽ là như thế. Đời người hôm nay, rẫy đầy những con người luôn kiếm-tìm một con đường và một lối đi, tựa hồ như thế. Như thế, còn là và sẽ như câu hát tiếp ở bên dưới:

“Rồi cuộc vui tàn, mọi nguời bước đi
Một mình tôi về, nhiều lần ướt mi
Chợt tình yêu đến trong ánh nắng mai
xóa tan màn đêm u tối cho tôi biến đổi
tâm hồn thành một người mới.”
(Đức Huy – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta đi vào vùng trời suy-tư có những chuyện Đạo/đời đầy rẫy ý/lời về “Tình-Yêu đích-thực” như đấng bậc vị vọng từng luận/bàn ở bên dưới:

Lời bàn rằng:

Thiên-Chúa nhìn mọi người trên thế-gian này đều nhưngười đặc-biệt, rất đặc-trưng/đặc-thù. Thành thử, đốivới Ngài, mọi tương-quan ta thiết-lập với nhau đều có giá-trị thực-tiễn. Điều này còn có nghĩa: ta cứ tiếp-cận những người mà phẩm-giá lẫn chất-lượng cuộc đời bị thương-tổn bằng cung-cách rất nể-trọng. Bởi, Tình-yêu đích-thực không là mục-tiêu nằm ở cuối đoạn đường tương-quan tình-thân giữa chúng ta, mà là con đường ta vẫn chọn để đi tới.

 Trước nhất, hãy nhìn vào cơ-thể của chính mình bằng con mắt của Thiên-Chúa, sẽ thấy tuyệt-diệu biết chừng nào khi Thiên-Chúa tạo-dựng ra nó để kết-hợp ta vào với người khác. Kết-hợp bằng và qua việc hít thở cùng một làn khí, uống cùng một thứ nước trong lành, ăn cùng một thức ăn được nuôi trồng trong trái đất. Cơ-thể kết nối con người của ta với toàn thế-giới theo cùng một kiểu cách chắc chắn.

 Và, khi có thứ gì đó xen vào đường-lối ta kết nối như thế, ta không chỉ tạo khó khăn cho chính mình mà thôi, nhưng lại cũng hạn-chế khả-năng của ta để có thể trải-nghiệm những gì Chúa muốn ta trải-nghiệm. Giả dụ như: nếu ta không ăn uống cho phải phép hoặc tập-luyện cho đủ hoặc giả như làn khí ta hít thở nguồn nước ta uống bị ô-nhiễm, cơ thể của ta sẽ không thể nào lành mạnh toàn-diện để trải-nghiệm những quà tặng ta cho hoặc nhận trong tương-quan với người khác.

 Kế đến, ta vẫn có thể nhìn vào những người đang thu hút thị-lực của ta bằng sự lo lắng kính nể, thì người khác ấy xem ra vẫn mỹ-miều, tuyệt-diệu hoặc hiểu-biết hơn ta. Điều này không giúp ích gì cho ta và người khác. Nên, cách hay nhất để nhìn ngắm họ, là: dùng cặp mắt của Thiên-Chúa mà nhìn mà ngắm họ, có như thế ta mới có thể yêu-thương họ một cách đích thực được. Và như thế, tất cả những gì ta nhấn mạnh và phác hoạ cũng áp-dụng cho những vị ấy nữa…

 Trong cuộc sống tương-quan với mọi người, nếu gặp người nào mà ta cảm thấy thích muốn đi vào tình yêu-thương đích-thực, thì ta cũng sẽ nhận ra ngay lập bởi họ là người khiến ta thấy thoải-mái/dễ-chịu khi trò chuyện và vui sướng được ở gần. Người đó, phải là người mà ta kính-trọng và đổi lại cũng tương kính như tân, cùng một kiểu giống như ta. Cũng chẳng nên làm gì nếu thấy không thoải mái/dễ chịu và tự mình đi đến quyết-định ngưng tìm hiểu hoặc đối-tác… 

Giả như ta và người thực sự yêu thương nhau, thì con đường dẫn dắt ta tiếp-tục đi tới phải là hôn-nhân theo nghĩa đứng-đắn/đàng hoàng. Và khi ấy, hẳn ta sẽ thấy tại sao Hội thánh xưa nay vẫn dạy ta rằng: đó là con đường duy-nhất để ta trải-nghiệm tình thương cách trọn vẹn có quà tặng tình-dục công khai, thẳng thắn. 

Trước khi đạt tới giai-đoạn ấy, ta có rất nhiều đường lối để vun đắp sự thân thương mật thiết với người bạn đường/đối tác mà không đòi hỏi chuyện ăn nằm thể xác gấp rút. Ôm hôn nồng ấm, chuyện trò thân mật hoặc làm việc gì đó đầy phấn-chấn khác, sẽ là cung-cách tốt đẹp nhất để đào sâu tình thương-yêu đích-thật giữa đôi bên. 

Cuối cùng, phải công nhận rằng, không thể có tình-yêu nào là trọn hảo bởi lẽ không có con người trọn-hảo. Có lúc ta làm cho người khác đau khổ hoặc bị chính người mà ta yêu thương làm ta đau khổ không ít. Thành thử, muốn đạt tình-yêu đích-thật, ta cũng phải tìm hiểu về người ta yêu thương trước khi có quyết định dấn bước đi vào mối tương-quan đằm thắm với người ấy. Tìm và hiểu hay nhất là vào lúc cả hai gặp khó khăn, trắc trở trong thông-hiểu lẫn nhau.

 Giả như ta biết chắc là mối tương-quan ta có với người ấy không hoàn toàn dựa trên sự thèm muốn xác thịt mà thôi nhưng trên cuộc sống dài lâu, cùng nhau sánh vai lập hành-trình hướng về phía trước, thì khi ấy ta có thể tin-tưởng rằng bạn đường và cũng là bạn đời của ta cũng muốn trải qua những tháng ngày đầy khó khăn/gian-khổ với mình. 

Ngược lại, nếu vào lúc tương quan giữa ta và người ấy chỉ mới chớm hoặc khi ta không chắc rằng sự ham muốn đã hiển hiện giữa đôi bên, thì khó khăn nổi lên sẽ là dấu hiệu của những vấn-đề còn đậm sâu hơn nữa. 

Trong trường hợp này, cách tỏ bày lòng từ-bi hỷ xả tốt đẹp nhất, là: để người ấy đi tìm tình yêu nào khác với người khác, là hay nhất. Không gì xấu xa, khi ta buộc phải kết-thúc tương-quan nếu nó không dựa trên nền-tảng của một thứ tình hỗ-tương, có quyết-tâm sống mật-thiết, yêu-thương thực sự và nghiêm túc. (X. Michael McVeigh, True Love: A step-by-step guide, The Australian Catholics Easter 2016, tr. 10)

Như thế có nghĩa là: khi ta “tìm một con đường”, “tìm một lối đi”, chắc chắn thế nào rồi ra cũng có lúc Thần Khí Chúa dẫn đưa ta về với Lời Vàng thánh có ý-lực như sau:

“Thế nên Thầy bảo anh em:

anh em cứ xin thì sẽ được,

cứ tìm thì sẽ thấy,

cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.

Vì hễ ai xin thì nhận được,

ai tìm thì thấy,

ai gõ cửa thì sẽ được mở cho.” 

(Lc 11: 12-13)

 Vâng. Đúng như Lời Ngài nói: Hãy cứ tìm, thì sẽ thấy. Tìm ở đây, theo người nhà Đạo ở trời Tây xứ Úc, còn có nghĩa: hãy thực-hiện bốn bước dài/ngắn rất như sau:

Vậy thì, lại sẽ mời bạn và mời tôi, ta cứ việc ra đi mà tìm mà kiếm. Và khi ta đã  “tìm một con đường”, “tìm một lối đi” rồi thì chắc chắn sẽ gặp được điều hoặc người mình lâu nay cứ rong ruổi mà kiếm mà tìm. Và, Đấng thánh mà mình vẫn tìm kiếm, lại sẽ xuất-hiện nơi người ấy. Hệt như truyện kể về mẹ chồng/nàng dâu như một thái-độ “kiếm tìm” đường sống giữa mẹ/con, như sau:

“Truyện rằng:

 Bà lão nhà đối diện ngã gãy chân, cả trăm ngày dưỡng bệnh đều được con dâu cơm bưng nước rót, chăm nom đâu ra đó. Bây giờ chân bà đỡ rồi, con dâu mỗi ngày đi làm về đều cùng mẹ chồng tập đi lại. Bà nói nói bà lấy được cô con dâu còn thân với bà hơn cả con gái.

 Mấy bà lão khác trong xóm đều ngưỡng mộ cô con dâu như vậy. Họ thường nhìn theo bóng dáng cô mà thở dài: “Nếu mà tôi có nằm liệt giường, có cô con dâu như vậy thì cũng vui.”

 Bà lão nọ trong xóm cũng than thở, bà có mỗi một mụn con trai, khó khăn lắm mới lấy được vợ cho nó, nhưng cô con dâu này có đúng là con dâu? Cơm không biết nấu, rau không biết nhặt, có chuyện gì cũng gọi con trai bà đến giúp. Ở đâu ra kiểu con dâu như vậy chứ?

Cuối tuần, bà lão đi dạo hóng gió trong xóm, vừa khéo gặp cô con dâu nhà đối diện đang dắt con đi chơi.

 Bà lão nói: “Mẹ chồng cháu thật hạnh phúc, có được cô con dâu tốt như cháu.” Bà lão nhắc đến con dâu mình, những điều chưa bằng lòng về con dâu bà cho thấy dường như con dâu bà và con dâu nhà đối diện trái ngược nhau hoàn toàn.

 Con dâu nhà đối diện nghe bà nói chỉ mỉm cười, đợi bà nói xong mới nói: “Bác ơi, cháu có thể hỏi bác vài câu không ạ? Bác đừng giận cháu nhé. ”

Bà lão đáp: “Xem cháu kìa, giận gì chứ!”

– Cô ấy tan làm muộn gọi con trai bác đến đón, bác thấy sao ạ?

– Bực mình. Con trai bác đi làm đi làm về mệt như thế, cô ta có phải là không biết đường đâu.
– Con dâu bác sinh cho bác cháu trai hay cháu gái ạ?

Cháu gái.

– Vậy bác thấy thế nào ạ?

– Bác giận, xem xem nhà người ta ai cũng sinh con trai, ai nấy đều nở mày nở mặt.
– Khi con dâu bác ở cữ, từ sáng đến tối bác có hỏi han cô ấy không ạ? Bác cảm thấy thế nào ạ?

Bác có để ý chăm sóc cô ấy không ạ?

– Bác thấy bọn trẻ bây giờ sinh ra trong sung sướng mà không biết hưởng. Không phải làm gì còn kêu chán, không phải chỉ là sinh con thôi sao? Hồi đó bác sinh con chưa được bao lâu đã phải xuống giường đi làm kiếm cái ăn rồi.

– Thật ra, cháu với con dâu bác giống nhau.

– Làm gì giống? Ai mà không biết cháu là cô con dâu tốt chứ.

– Cháu lúc trước cũng không biết nấu cơm. Lúc cháu vào giúp mẹ chồng cháu ở trong bếp, mẹ cháu bảo cháu ra ngoài xem tivi, mình mẹ làm cũng được.

– Bà lão nọ sững người một lúc.

– Lúc cháu đi làm về muộn, mẹ chồng cháu sẽ bảo chồng cháu đến đón cháu. Mẹ cháu nói phụ nữ đi đường muộn không an toàn. Khi cháu mang thai, mẹ chồng cháu ngày ngày chăm sóc cháu, không để cháu làm bất kì việc gì, còn chuẩn bị hết tất cả đồ dùng cho cháu và em bé, chờ mong ngày em bé chào đời.

– Bà lão nọ lúc này đã có chút ngại ngùng.

– Cháu cũng sinh con gái. Thời gian cháu ở cữ đúng một tháng, mẹ cháu ngày ngày mang cơm cho cháu, có thời gian thì cùng cháu trò chuyn, buổi tối thì trông con giúp cháu, không cho cháu bế. Mẹ cháu nói phụ nữ cả đời lúc khó chịu nhất chính là thời gian này, đẻ mổ rất đau, hại sức khỏe, xem tivi nhiều sẽ hại mắt, ra ngoài cũng không nên, một ngày chỉ đối diện với bốn bức tường dài bằng cả năm.

 Bà lão nọ lúc này cũng không còn ngẩng cao đầu nữa. Mẹ chồng cháu thường nói, mẹ chồng nàng dâu, mười năm nhìn mẹ chồng, mười năm xem nàng dâu. Bây giờ thì mọi người đều thấy cháu đối với mẹ chồng như đối với mẹ đẻ, mọi người không thấy được trước giờ mẹ đối với cháu như với con gái ruột. Bà lão nọ muốn nói gì đó nhưng không mở nổi miệng nữa.


– Bác ạ, bác nói xem cháu gặp được mẹ chồng tốt như vậy, cháu sao có thể không làm một cô con dâu tốt ạ? Đúng vậy, cho đi như nào sẽ nhận lại như vậy mà.
 

Bà lão nọ nghĩ sáng mai nhất định phải dậy sớm, gà và cá ở chợ sớm rất tươi ngon, con dâu bà rất thích ăn. Mười năm nhìn mẹ chồng, mười năm xem nàng dâu. Nói một cách đơn giản, mười năm đầu của hôn nhân là lúc nàng dâu gặp nhiều khó khăn và cần được giúp đỡ nhất. Mới về nhà chồng chưa thể quen ngay, lúc mang thai còn không được thoải mái, thời gian ở cữ cần được chăm sóc, lúc bận bù đầu cần người giúp trông con…

 Còn mười năm này lại là mười năm nhàn nhã nhất của mẹ chồng, sức khỏe vẫn tốt, nghỉ hưu rồi nhiều thời gian rảnh rỗi, cũng là lúc tốt nhất để cùng nàng dâu bồi đắp tình cảm. Khi nàng dâu mới về nhà chồng được mẹ chồng đưa tay ra giúp đỡ, nàng dâu có thể không cảm kích sao?

Mười năm sau, lúc này sức khỏe mẹ chồng cũng không còn được như trước, đây là lúc mẹ chồng cần đến nàng dâu. Nếu lúc đầu mẹ chồng không làm tròn trách nhiệm của mình, có được mấy nàng dâu cam tâm tình nguyện đối xử tốt với mẹ chồng?

 Những năm đầu của hôn nhân, trách nhiệm của mẹ chồng chiếm đến 70%. Tôi dám khẳng định ít nhất đến chín trên mười các nàng dâu khi vừa kết hôn đều mong muốn hiếu thuận với bố mẹ chồng, gia đình êm ấm, hòa thuận. Khi mẹ chồng đã làm hết những gì cần làm và có thể làm, có con dâu nào không dùng hết tâm tư để hiếu thuận lại với bố mẹ chồng? (Truyện kể do Sưu tầm từng siêu-tầm)

 Thế đó, bạn có chọn-lựa hoặc “tìm một lối đi” nào thì chắc-chắn cũng sẽ gặp. Gặp, cả những giòng chảy tư-tưởng hoặc ca-từ như quyết tâm của người viết nhạc họ Lê được diễn-tả ở bài hát rất như sau:

“Người nào hứa sẽ yêu tôi suốt đời
Xin hãy đến với tôi người ơi
Cuộc đời chẳng đã cho một tiếng cười
Tôi quen sống như không là tôi.

Từ ngày trước bức tranh muôn sắc màu
Giờ bạc phết tả tơi từ lâu
Ngàn đời ngỡ tiếng yêu không đổi màu
Giờ tự hỏi trái tim nằm đâu.

Tình đã hết trước khi được bắt đầu
Trước khi kịp nói lời mến yêu
Từ lâu biết trái tim đã hững hờ
Chẳng yêu nhưng cứ vờ say đắm.

Người nào hứa yêu tôi
Trọn đời mãi không thôi
Người ơi hãy mau lên
Còn chờ gì không đến.

Người hãy đến bên tôi
Dạy tôi biết vui cười
Dạy tôi nói xin cám ơn đời còn thương tôi.

(Lê Hựu Hà – Chờ Một Tiếng Yêu)

Đúng thế đấy, Bác ạ. Tiếng “Yêu” kia là cái gì đó tôi và mọi người vẫn cứ tìm kiếm và mãi chờ. Chờ cho đến hết đời, mới chịu thua. Bởi, không tìm gặp được tiếng “Yêu” ấy, kể như đời mình sẽ “ngọng nghịu” vô tâm, vô cảm không còn muốn sống nữa, huống chi là “Tìm một Con Đường” hoặc “Tìm Một Lối đi”. Dù rằng đi đâu, con đường nào ta vẫn chưa thấy hoặc chưa biết.

 Thế nên, một khi đã tìm ra “Con đường” ấy và/hoặc “Lối đi” thế đấy rồi thì người tìm và người gặp được nó, sẽ cùng với người nghệ-sĩ “trẻ mãi không già” tên là Đức Huy, hát những câu ca đầy những tiếng “Yêu”, sau đây:

“Và con tim đã vui trở lại,
tình yêu đến cho tôi ngày mai.
tình yêu chiếu ánh sáng vào đời,
tôi hy vọng đuợc ơn cứu rỗi.

Và con tim đã vui trở lại. 

và niềm tin đã dâng về người,
trọn tâm hồn, nguyện yêu mãi.
riêng người mà thôi…”

(Đức Huy – Và Con Tim Đã Vui Trở Trở Lại)

Hát thế rồi, nay lại mời bạn và mời tôi, ta sẽ nghe thêm một truyện kể của người bố chỉ/bảo cho con gái mình “tìm một con đường” trong chốn dân-gian nhiều tìm kiếm, như sau:

“Con gái à, trước khi lấy chồng, ba có đôi lời muốn nói với con như sau:

 Con không cần phải cưới người đàn ông có thể kiếm được 3.000 đô mỗi tháng, mà con chỉ cần kiếm được người có thể chọc giỡn con mỗi ngày sau đó dỗ dành con như một đứa trẻ.

 Con không cần cưới một anh chàng tay to vạm vỡ mà chỉ cần kiếm được ai đó sẵn sàng giúp con đóng chiếc đinh lên tường để treo một chậu hoa mới nơi đón ánh nắng của ngày mới thương yêu.

Con không phải đi kiếm tìm một người đàn ông biết nấu ăn ngon như một bếp trưởng; thứ con cần là một người biết cảm nhận và chia sẻ bữa ăn cùng con, con phải nhớ phụ nữ luôn là người thổi lửa cho gia đình; đừng bao giờ để căn bếp lạnh lẽo và vắng lặng tình yêu.

 Con sẽ cần một buổi chiều cuối tuần nhẹ nhàng bên một người đàn ông; bất kể anh ta là ai, nhưng anh ta sẵn sàng nghe con, nhìn con càm ràm mọi thứ trên đời vào ngay ngày đó. Đấy chính là một trong những lựa chọn mà con cần quan tâm.

 Hãy đồng ý kết hôn νới người biết làm cho con cười νui ƙhi con νừɑ mới ƙhóc một trận nức nở.

Ϲuộc đời nàу ƙhông dễ dàng, con ắt sẽ gặρ cả đɑu đớn. Ƭhế nên con ρhải được ở bên một người có thể giúρ con chịu đựng được tất cả. Hài hước là thước đo tuуệt νời củɑ trí thông minh. Khi con thấу chán ghét cuộc sống nàу, hãу tìm cho rɑ người sẽ biến những thứ νô νị trở nên có ý nghĩɑ.


Ѵiệc ɑnh tɑ không có khả năng chu cấρ những thứ con muốn là một chuуện νà νiệc ɑnh tɑ rủng rỉnh tiền trong túi nhưng lại chẳng bɑo giờ muɑ tặng con một bó hoɑ lại là chuуện khác.

Ϲon nên nhớ rằng tình νà tiền là kẻ thù ƙhông đội trời chung, có đến 62% νụ ly-dị là do những bất đồng νề chuуện tiền bạc. Ϲho nên khi con muốn chọn chồng chuẩn nhất, ρhải chắc chắn rằng ɑnh tɑ biết νiệc giữ con quɑn trọng hơn giữ tiền củɑ ɑnh tɑ. 

Con hãy xem thử trong lòng bàn tay của anh ta có vết sẹo nào không, nếu có thì đó là một dấu hiệu tốt, chứng tỏ cậu ta từng mày mò làm nhiều thứ. Những dấu νết đó cho thấу ɑnh tɑ đã biết cách để bảo νệ mình. 

Ѵới một người đàn ông chính nghĩɑ, bàn tɑу thô ráρ đáng giá hơn một bàn tɑу mềm mại, νì chúng đã được “muối” bởi cuộc đời nàу! Ϲhɑi sạn chứng tỏ chàng trɑi đó đã từng “sống”, đã từng trải quɑ nhiều sương gió, bởi lẽ có một điều chắc chắn: ở đời nàу nhiều người tàn nhẫn νới nhɑu lắm. Phải mạnh mẽ để νượt quɑ tất cả νà tất nhiên người đàn ông mà con sẽ gắn bó đời mình ρhải νững chãi để giúρ con tựɑ νào những lúc khó khăn. 

Trước khi đồng ý trao hạnh phúc của con cho nguời đó, hãy chọc giận để xem chàng trai đó tức giận như thế nào, hãy dọa dẫm để xem anh ta sợ hãi ra sao, khát khao thế nào, đau khổ bao nhiêu. Vì lẽ “stress” có thể làm thɑу-đổi một người. Khi con bắt gặρ người уêu con đɑng uống rượu giải sầu, hãу chuốc cho chàng sɑу mèm đi rồi thɑ hồ ƙhɑi thɑ́c những nỗi niềm trong lòng mà chàng tɑ chưɑ chiɑ sẻ νới con. Thêm nữɑ, con nhớ ρhải biết rõ những đɑm mê, những thứ người đó “nghiện”, để làm gì, để x℮m người уêu có đề cɑo νị trí củɑ con trước mấу thứ đó hɑу ƙhông?

 

Phải thuộc nằm lòng rằng con người tɑ không ɑi thɑу đổi được ɑi cả. Một khi đã sinh rɑ như thế nào đó rồi thì tính khí đó không thể nào mài mòn đi được. Ƭhế nên ngỡ như bâу giờ con đã không ưɑ một tính nết nào đó củɑ người đó, ắt hẳn con sẽ còn ghét nhiều hơn nữɑ sɑu mười năm chung sống. Ϲó thể con уêu người ấу nhiều nên nghĩ mọi νiệc sẽ êm xuôi nhưng khi đã ƙhông hợρ thì không tài nào thɑу đổi được. 

Con hãy yêu một anh chàng biết nhận lỗi! Cha cũng có rất nhiều khi phạm sai lầm. Việc nhận lỗi tưởng chừng đơn giản nhưng đôi khi cha không biết phải làm thế nào để nói lời xin lỗi. Khi cha đã trưởng thành và chín chắn, cha có thể nhanh chóng thừa nhận sai lầm của mình. Đó cũng là một phẩm chất cha mong bạn trai con mình có. 

Hãy yêu một chàng trai biết lắng nghe! Bạn trai con nên biết cách lắng nghe và nói chuyện với con đúng mực. Trong xã hội công nghệ thông tin, khả năng tập trung của chúng ta quá thấp để có thể lắng nghe một cách chăm chú. Không gì bằng tìm được một người bạn đời biết lắng nghe.

 

Hãy yêu một chàng trai hiếu thảo với gia đình! Con cần phải cân nhắc khi yêu một chàng trai quay lưng với gia đình và luôn làm cha mẹ anh ta buồn lòng. Vì gia đình luôn yêu thương và cảm thông cho con hơn cả, như cha và mẹ luôn mong những điều tốt nhất sẽ đến với con. Có một điều con cần phải nhớ, cách bạn trai con đối xử với mẹ mình có thể sẽ là cách cậu ấy đối xử với con trong tương lai. 

Giờ thì con gái ơi, xách ba lô lên và đi tìm kiếm hạnh phúc của mình đi nào, bố mẹ sẽ luôn dõi theo và ủng hộ con; nếu mệt thì con hãy yên tâm, hãy nghĩ về bố mẹ và con luôn có một lựa chọn nữa đó là quay về, về với tuổi thơ của mình bên gia đình chúng ta. 

Ký tên:

Ông bố yêu con!”

(Truyện do Sưu tầm vẫn từng siêu-tầm) 

Kể truyện rồi, nay ta hát tiếp câu ca còn bỏ dở, có ý/lời làm đoạn kết những hát rằng:

 Và bây giờ … ngày buồn đã qua.
Nhiều lỗi lầm cũng được thứ tha.
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai.
Xóa tan màn đêm u tối.
Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới.

Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối.
Tôi sẽ không sợ hãi gì vì Người ở gần bên tôi mãi.

Và con tim đã vui trở lại.
Tình yêu đến cho tôi ngày mai.
Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời.
Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi.
Và con tim đã vui trở lại. 

Và niềm tin đã dâng về Người.
Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi.

 

Và con tim đã vui trở lại.
Tình yêu đến cho tôi ngày mai.
Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời.
Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi.

 

Và con tim đã vui trở lại.
Và niềm tin đã dâng về Người.
Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi.

(Đức Huy – bđd)

Kiếm tìm rồi, ta lại sẽ hát được và được những câu ca đầy ý-nghĩa của người nghệ-sĩ ở trên vẫn nhất-quyết bảo rằng “Và niềm tin đã dâng về Người, cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi.” Yêu mọi người, tức sẽ còn yêu hoài và yêu mãi suốt một đời trong lúc mình vẫn “Tìm Một Con Đường”, “Tìm một lối đi” rồi sẽ thấy mình “Cứ vui… Cứ vui… cho trọn hôm nay.” Do bởi, nghệ-sĩ nhà mình lại vẫn quyết rằng:

Và Con Tim Đã Vui Trở Lại,  

Tình yêu đến cho tôi ngày mai
Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời
Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi.”

Đức Huy – bđd) 

Trần Ngọc Mười Hai

Và những tháng ngày cuộc đời mình

Vẫn cứ tìm và cứ kiếm

Ý-nghĩa cuộc đời

Nơi tình người rất đáng yêu

Và đáng mến 

Như bao giờ. 

“Ta vừa thấy một linh hồn mỏng mảnh,”

Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 27 thường niên năm C 02/10/2016

Tin Mừng (Lc 17: 5-10)

Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” Chúa đáp: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc”, nó cũng sẽ vâng lời anh em.

 “Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: “Mau vào ăn cơm đi”, chứ không bảo: “Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau! ? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” 

“Ta vừa thấy một linh hồn mỏng mảnh,”

Níu vai ta đòi trả lại yêu thương.

Lòng chơ vơ rung rợn nỗi kinh-hoàn,

Lời cay đắng tưởng vô cùng bất tuyệt.”

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch.

Chơ vơ, rung-rợn, nhà thơ chỉ muốn đòi lại yêu thương. Đòi yêu thương, chứ không đòi niềm tin yêu bất tuyệt. Tin yêu bất-tuyệt cũng là ý-nghĩa của lời dụ-ngôn hôm nay. Lời kinh, mà với nhiều người có thể là một nhận-định không chuẩn. Nhận-định một bên là nhà phú-hộ/doanh-gia, thành-đạt. Còn, bên kia là dân đen lao-động rất Lazarô.

Ở thế giới đời thường, người dân hôm nay không chú trọng nhiều đến vấn nạn “người là ai?”; mà chỉ hỏi: “người làm gì?”, “đời sống thế nào? “kiếm khá không”? Thế giới nhà Đạo, lại không thế. Dân con Đức Chúa lâu nay luôn được dạy bảo: hãy sống tin yêu suốt đời. Dù đôi lúc, có người vẫn còn toan tính nhiều chuyện riêng tư, vị kỷ. Quả thế, điều mà con dân nhà Chúa lâu nay luôn được nhắc, là: cần quan tâm đến niềm vui cứu độ. Trọng tâm của mọi tốt lành, thành đạt.

Tốt lành thành đạt, là cố tránh mọi lầm lỡ. Tránh cuộc sống mang sắc thái bạo hành, bất nhân. Lối sống chỉ chú tâm đến dâm đãng, tị nạnh, và se sua. Lối sống tích tụ những hờn căm, đố kỵ và bon chen, chẳng lý gì đến người đồng loại, đang thiếu thốn. Tốt lành thành đạt nhà Đạo, là lối sống mà trình thuật hôm nay đem đến cho con người một trạng thái biết quyết tâm xa lánh trạng huống cuốn hút vào với lỗi lầm đạo hạnh. Lỗi lầm ẩn nấp nơi lương tâm con người, trần tục.  Tốt lành thành đạt, là: không phải chỉ chú tâm đến thú vui vật chất, xác phàm. Không phải chỉ coi trọng giàu sang, hưởng thụ của lớp người chuyên ăn trên ngồi chốc, bất cần đến luật, rồi luôn coi thường cả những người đói khổ, tật bệnh.

Tốt lành thành đạt theo nghĩa nhà Đạo, là: chẳng lo toan gì cho riêng mình. Nhưng, biết đoái hoài đến người nghèo hèn, thiếu thốn. Những người như Lazarô đang chầu chực từng tấm bánh, miếng cơm, rơi rớt từ bàn tiệc của đám thành thị no ăn, phung phí. Tốt lành thành đạt, chắc chắn không là thái độ của các phú hộ đã xa hoa, thừa mứa; nhưng vẫn tị nạnh khi bất chợt thấy “hành khất buồn” như Lazarô chẳng lao động đến một ngày, mà vẫn được Ábraham mở rộng vòng tay đón nhận.          Tốt lành thành đạt hôm nay, còn thấy nơi một ít người đủ ăn đủ mặc, biết lưu tâm giúp đỡ đám cùng đinh đói khát, vẫn chực chờ. Là, biết giùm giúp thương yêu những người có nhu cầu bức thiết, hơn mình. Tốt lành ấy, chính là tinh thần của dụ-ngôn/truyện kể về đám doanh gia/phú hộ vẫn thấy ở mọi nơi, mọi thời.

Ở thời tiến bộ hôm nay, người người chú trọng quá nhiều đến vật chất. Nơi đó, có những doanh gia/phú hộ vẫn than phiền chất vấn cả Đức Chúa. Có người, cho rằng: “Tôi đây chẳng thấy Chúa đoái hoài ỏ ê điều gì. Phải chăng, tôi chỉ là giáo dân hạng thứ, bình thường bậc trung; dù rằng tôi vẫn giữ trọn 10 điều răn của Chúa. Vẫn chân chất giữ luật, cả phần Đạo lẫn việc đời.

Thật ra, doanh gia/phú hộ vẫn có thể là người tốt lành thành đạt, đúng ý nghĩa. Giàu sang/lương thiện thời nay, đâu có gì là sai quấy. Nhất thứ, những người này chẳng khai thác bóc lột kẻ nghèo hèn, bao giờ. Nhưng, với tinh thần của dụ ngôn, tốt lành như thế vẫn chưa thành đạt.

Theo tường trình, hiện có đến 1 tỷ 200 triệu người đang sống còn chỉ bằng đô rưỡi một ngày, hoặc ít hơn.  Tính kỹ, có đến 80% số người trên thế giới sống trong cảnh bần hàn thiếu thốn, thiếu điện, thiếu nước, thiếu thực phẩm cần thiết hầu đáp ứng nhu cầu căn bản vệ sinh chung. 70% dân số trên thế giới thiếu kiến thức phổ thông để tồn tại; 50% đang sống trong tình trạng suy dinh dưỡng, rất ngặt nghèo.

Điểm chính dụ ngôn hôm nay, Đức Chúa không nhắc ta đang có những người nghèo chực chờ sẵn, nơi hông cửa. Nhưng, dụ ngôn nài ta để tai nghe ngóng và học hỏi. Hiện thời, đang có nhiều dân con nhà Chúa chủ trương duy trì luật Đạo cả về tín lý, lẫn phụng vụ. Nhưng, lại làm ngơ không đếm xỉa gì đến lời dạy của Hội thánh, rằng: Tình yêu Đức Chúa không diễn tả bằng môi miếng hoặc bằng lối sống đạo hình thức, bên ngoài, nhưng bằng hành động yêu thương người nghèo.

Trình thuật/dụ ngôn hôm nay còn nói đến hình ảnh của “bàn tiệc” ngập đầy những thức ăn. Thức ăn đây phải là biểu tượng của Vương Quốc Nước Trời. Nơi đây, luôn có tiệc lòng Mến, rất thánh. Tiệc agapè dạy ta biết san sẻ tình thương yêu đồng loại, những người đang thiếu cả những nhu cầu căn bản, rất bức thiết.

Ở Tiệc Lòng Mến, không có chuyện phân biệt ai là phú hộ/đại gia, ai là Lazarô nghèo chực chầu cơm bánh, nơi khung cửa. Người dự Tiệc Nước Trời vẫn chung vui sẻ san đồng đều cùng một thức ăn. Thức ăn Ngài nuôi dưỡng tình thương yêu ngút ngàn, đầy cảm kích. Thức ăn của Vương Quốc Nước Trời san sẻ cho hết mọi người, không phân biệt ai hăng say lao động, giỏi dang, ai lười biếng, ù lỳ. Tất cả cùng lo lắng cho nhau. Tất cả đỡ đần giùm giúp lẫn nhau.

Lạ thay, nơi tiệc Lòng Mến, người túng thiếu nghèo hèn cảm thấy hài lòng hơn kẻ giàu sang. Chẳng thế mà, có người tự hỏi: ở Vương Quốc Nước Trời, ai đích thực là đại gia/phú hộ? Ai giàu sang? Ai vừa giàu lòng, lại vừa sang?

Dự tiệc Tình Thương hôm nay, ta nhớ lời cảnh báo của Đức Chúa. Cảnh báo về những lãng quên trước lời kêu gào ới gọi, từ những Lazarô thời đại đang mong ngóng từng miếng cơm, tấm bánh ở cửa hàng, nơi phố chợ. Cảnh báo, để ta chớ làm ngơ cảnh người đồng loại đang chầu chực, ở đâu đây. Không làm ngơ, nhưng nhất quyết ra tay giúp đỡ. Thêm vào đó, Ngài còn cảnh cáo về cảnh xa hoa của những đại gia/phú hộ, luôn hưởng thụ.

Lm Richard Leonard sj biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

Thánh GIÊRÔNIMÔ

Thánh GIÊRÔNIMÔ
Linh mục, tiến sĩ Hội Thánh (Ngày 30/9)

  1. Đôi dòng lịch sử

Giêrônimô sinh vào khoảng 347 trong xứDalmatia.

Lớn lên Giêrônimô du học ở Roma, học chuyên về sử và triết lý.

Giêrônimô có công tìm kiếm và mua sắm nhiều sách rất quí giá.

Lúc học ở Roma, Giêrônimô sống hơi buông thả một chút nhưng lúc nào cũng giữ được lòng kính sợ Thiên Chúa.

Chính Đức Giáo Hoàng Liberrio rửa tội cho ngài.

Sau khi học xong, Giêrônimô có đi một vòng qua nước Pháp đến thành Trèves.

Cuối cùng thì Giêrônimô sang và ở luôn tại Antioche trong xứ Syria. Thời gian ở đây đánh dấu một bước ngoặc rất quan trọng trong việc hình thành ơn gọi nơi ngài. Ngài đã được chịu chức linh mục tại đây. Một đêm kia người mơ thấy Chúa hiện ra với mình.

Chúa hỏi:

– Giêrônimô, con là ai vậy?

Ngài trả lời:

– Con là con của Chúa, con là người có đạo.

Chúa trả lời lại:

– Nói láo! Phải nói con là của Cicêrô mới đúng.

Giêrônimô hiểu là ý Chúa muốn trách mình quá say mê Cicêrô – Cicêrô vừa là một nhà văn vừa là một nhà hùng biện rất nổi tiếng ở Roma – nên Giêrônimô quyết tâm sửa mình lại.

Ngay sau đó Giêrônimô bắt đầu học tiếng Hy lạp và Do thái với một mụch đích duy nhất để có đủ khả năng dịch sánh Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp ra tiếng Latinh.

Trong thời gian này Giêrônimô được Đức Thánh Cha Damsus gọi Ngài về Roma một thời gian để làm thư ký riêng cho Ngài. Và cũng chính ở đây mà Ngài đã bắt đầu một công trình có một tầm vóc hết sức quan trọng cho Giáo hội: Ngài bắt đầu dịch Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp sang tiếng Latinh.

Ở Roma được một thời gian, có lẽ vì cảm thấy Roma không phải là chỗ thích hợp cho công việc quá đặc biệt này cho nên Ngài đã trở lại xứ Palestine, vào sống một cuộc đời thầm lặng trong một tu viện ở Belem. Ngài sống tại đây suốt 34 năm trời… vừa tiếp tục học hỏi, tra cứu thêm để phục vụ Chúa trong các tác phẩm chống lạc giáo và nhất là để hoàn thành việc chuyển ngữ toàn bộ bộ Kinh Thánh sang tiếng Latinh.

Sau này chính Công Đồng Triđentinô đã tu sửa bản dịch này và đến nay vẫn được coi là văn bản chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma.

Ngài là bạn rất thân của thánh Augustino. Chính thánh Augustinô cũng đã có nhiều lần nhắc đến Ngài như một người bạn và như một bậc thầy.

Theo cuốn niên sử ông Prosper thì thánh Giêrônimô qua đời quãng năm 420, hưởng thọ 92 tuổi tại Bethlehem.

Mặc dầu qua đời ở Palestina vào thời hỗn chiến, thánh Giêrônimô đã được toàn thể thế giới công giáo tôn sùng ngay từ mấy năm sau khi ngài tạ thế. Ở Rôma, người ta kính thánh nhân đặc biệt tại Đại Giáo Đường Đức Bà Cả. Dưới đời Đức Giáo Hoàng Bônifaciô VIII (1294-1303), thánh nhân được suy tôn bậc tiến sĩ ngang hàng với thánh Grêgôriô cả, thánh Âutinh và thánh Ambrôsiô, tức bốn vị giáo phụ ở Tây phương.

  1. Bài học
  2. Dám hy sinh vì Chúa.

Bỏ cả sở thích riêng của mình. Khi được Chúa “cảnh cáo” dù chỉ là trong một giấc mơ, Giêrônimô đã sửa lại lỗi lầm của mình ngay. Đây là một điều rất khó nhưng Giêrônimô đã làm được.

Hy sinh cả cuộc đời cho Lời của Chúa. Chúng ta hãy cứ tưởng tượng xem một công trình lớn – là công trình chuyển ngữ Kinh Thánh tử tiếng Hy Lạp sang tiếng La tinh- như vậy mà hầu như chỉ có một mình ngài thực hiện thì thời giờ và công sức phải bỏ ra lớn đến mức độ như thế nào.

Để có một chút so sánh thì chúng ta hãy nhìn vào Giáo hội Việt Nam của chúng ta. Giáo hội công giáo Việt Nam đã tạm gọi là đã có hơn 4 thế kỷ nay. Vậy mà chỉ mới đây chúng ta mới có một tin vui là nhóm Phụn Vụ Giờ Kinh cho ra đời trọn bộ Kinh Thánh bằng tiếng Việt đầu tiên. Trước đây đã có một số bản những bản này có quá nhiều hạn chế và thiếu sai sót.

Phải đợi nhiều năm trời Giáo Hội Việt Nam mới có được bộ Kinh Thánh có tầm cỡ và xứng đáng như thế.

Vậy mà một mình Thánh Giêrônimô đã làn được công việc vĩ đại đó. Giáo hội dùng bản dịch của Ngài suốt từ thời đó cho đến nay. Điều đó đã tự khẳng định về tầm quan trọng và chỗ đứng cũa nó trong lịch sử Giáo hội.

  1. Tiếp đến Thánh Giêrônimô đã biết chọn thật đúng nhu cầu của Giáo hội và đã làm hết sức mình để đáp ứng lại nhu cầu đó.

Vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, người ta đã thấy thời đại của văn hóa Hy lạp đang suy tàn và thời đại văn minh Tây phương đi lên.

Phải nói Giêrônimô là một con người rất thức thời. Hiểu được những nhu cầu của Giáo hội và đáp ứng lại một cách hết sức tốt đẹp. Đây là bài học chung cho cả Giáo hội. Công đồng Vaticanô khi cho chuyển ngữ các bàn văn Phụng vụ bằng tiếng Latinh sang tiến địa phương cũng nhắm chiều hướng này.

Hơn nữa ngày từ năm 1933 dưới triều Đức Giáo Hoàng Piô XI mà thánh Giêrônimô đã nghi đến việc phát động phong trào nghiên cứu và tìm hiểu Kinh thánh thì phải coi đây là sáng kiến và công việc hết sức mới mẻ mà mãi về sau Giáo Hội mới thấy sự cấn thiết của công việc này. Bởi vậy, khi nhắc đến huân công và thiên tài dịch bộ Kinh Thánh của ngài, giáo sư M.J. Lagrange, một nhà nghiên cứu và chú giải Thánh kinh nổi tiếng của Giáo Hội hôm nay đã viết rằng: “Đó là một trong những sự nghiệp đáng thán phục nhất của trí óc nhân loại”

Lạy thánh Giêrônimô, xin mở miệng chúng con để chúng con luôn ca ngợi và nói lời Chúa vì chỉ lời Chúa mới làm cho chúng con đi đúng đường và hạnh phúc.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Anh chị Thụ Mai gởi

“Có ai bán ve chai không“.

“Có ai bán ve chai không“.

  Đây là lời bài hát nổi tiếng kể về một câu chuyện có thật ở Đài Loan diễn ra vào những thập niên 1980, bài hát có tên:

“Có ai bán ve chai không“.

Nội dung câu chuyện có thật xúc động lòng người như sau:

Một ông lão chân bị khập khiễng sống bằng nghề thu thập vỏ chai, ông bị câm điếc và phải sống đơn độc một mình, cuộc sống khá khốn khổ.

Một ngày kia ông nhặt được một em bé bị bỏ rơi trên đường phố. Ông đã ngây ngất trong niềm vui và nghĩ rằng đó là một món quà mà thượng đế đã ban cho mình.

Ngay lập tức, ông đã đem đứa trẻ về nuôi, thu lượm những vỏ chai rượu rỗng bán đi để lấy tiền mua sữa. Ngày qua ngày, em bé bị bỏ rơi được ông cưu mang và nuôi nấng như vậy. Đến năm lên 6 tuổi, em bé đã nhặt một con cún con về nuôi và đặt tên nó là Vượng Tài.

Chú chó nhỏ, ông lão câm điếc và cô bé cùng dựa vào nhau để sống. Tuổi thơ của em lớn lên cùng những vỏ chai rượu xếp chồng lên nhau.

Chất giọng bẩm sinh tốt của em đã trở thành máy rao bán cho ông. Cứ mỗi sáng sớm em lại dắt ông lão chống nạng để đi thu lượm, vừa đi em vừa hô lớn: Có ai bán ve chai không? Có ai bán ve chai không?

Sau này khi lớn lên, cô gái bé bỏng hôm nào giờ đã có người yêu là một nhà viết nhạc trữ tình. Nhà soạn nhạc này cũng rất nghèo nhưng rất yêu cô.. Anh đã vì cô mà viết rất nhiều bài hát, cũng đối xử với ông lão hết sức tốt. Mỗi lần đến chơi đều giúp ông lão vận chuyển các chai rượu rỗng, cùng trò chuyện với ông bằng cách vẽ tay, chơi cùng con chó…

Thế rồi một ngày cô trở nên nổi tiếng. Cuộc sống hoàn toàn thay đổi, cô tậu nhà mới, xe hơi và được nhiều người theo đuổi… Cô gái vẫn rất yêu chàng trai và hy vọng anh có thể đến sống cùng với mình trong biệt thự, không phải trở lại ngôi nhà ve chai nữa bởi vì người cha vừa câm vừa điếc khiến cô cảm thấy xấu hổ!

Nhưng chàng trai không muốn, và vẫn cùng ông lão sống tại căn nhà cũ. Sau đó, cô gái ngày càng bận rộn, danh tiếng cũng ngày càng trở nên lớn hơn, cuộc sống của cô càng ngày bị chi phối bởi nhà quản lý. Ông lão ve chai cảm thấy nhớ con gái nên nài nỉ chàng trai đưa đi gặp con gái. Nhưng còn chưa vào được buổi hoà nhạc ông đã bị đuổi ra…

Sau đó cô gái cảm thấy ông khá phiền phức nên đã gửi cho ông một khoản tiền và yêu cầu ông không được làm phiền mình nữa. Ông lão nước mắt rưng rưng, lấy tay lau những giọt lệ tràn ra rồi rời đi mà không cầm lấy một đồng nào của cô!

Chàng trai lúc này đã không thể chịu được, tìm đến cô gái để nói chuyện phải trái nhưng cô không nghe. Cũng bởi giờ đây sự chênh lệch đẳng cấp và suy nghĩ của 2 người quá lớn nên kết cục chỉ có thể chia tay. Về phần ông lão, do quá nhớ thương con gái nên đã lâm bệnh nặng. Chàng trai đã cầu xin cô gái, hy vọng cô có thể trở về thăm ông một lần, nhưng rốt cuộc cô gái vẫn không nghe lời anh!

Đến lúc này, chàng trai chỉ còn cách hỏi thăm nơi diễn của cô gái và nói lại với ông lão. Ông lão cố gắng hết sức cùng chú chó già đến để nhìn mặt cô lần cuối. Nhưng thật không may, khi đi ngang qua đường một chiếc xe tải không biết từ đâu chạy tới chuẩn bị đâm vào ông lão. Đột nhiên con chó già Vượng Tài nhảy tới và đẩy ông lão ra. Nó đã bị chiếc xe tải đâm chết…

Chàng trai sau khi biết chuyện đã quyết định viết cho cô bài hát cuối cùng. Anh đã thức suốt mấy đêm để viết. Nhưng do phải đối mặt với một thời gian dài sống trong khó khăn nghèo đói, cộng thêm gánh nặng tư tưởng. Khi thân thể của anh đã sắp không thể chịu được nữa, anh đã viết bài hát này và nhờ người mang đến đưa cho cô gái.

Chàng trai sau khi viết xong bài hát cũng là lúc rời xa trần thế. Khi trong buổi hoà nhạc cô gái miễn cưỡng mở tờ giấy ra, lời bài hát này có đại ý rằng:

Thật là một giọng nói quen thuộc
Ở bên tôi suốt bao năm mưa gió.
Chưa bao giờ cần phải nhớ
Sẽ không bao giờ quên.
Không có trời, nào có đất
Không có đất, nào có nhà
Không có nhà, nào có bạn
Không có bạn, nào có tôi
Nếu như bạn chưa từng nuôi nấng tôi
Cho tôi một cuộc sống ấm áp
Nếu như bạn chưa từng bảo vệ tôi
Thì số phận tôi sẽ như thế nào !
Chính bạn là người nuôi tôi khôn lớn
Ở bên tôi khi tôi nói lời đầu tiên
Chính bạn đã cho tôi một ngôi nhà
Hãy để tôi và bạn cùng có nó
Mặc dù bạn không thể mở lời
Nói một lời
Nhưng càng hiểu rõ hơn về con người thế nhân này
Đen và trắng, đúng và sai
Mặc dù bạn không thể diễn tả cảm xúc thật của mình
Nhưng đã phải trả giá
Đó cuộc sống nhiệt thành
Từ một phương xa gửi đến bạn
Một giọng nói quen thuộc
Hãy để tôi nhớ đến bạn
Một tâm hồn hoà ái và từ bi
Khi nào
Bạn sẽ quay trở lại bên cạnh tôi
Hãy cùng tôi hát
Có ai bán ve chai không
Có ai bán ve chai không…

Đọc xong lời bài hát, bao nhiêu sự việc quá khứ như vùn vụt trở về: Một đống đầy những chai rỗng, người cha già câm điếc, vì để mua cho cô một túi hạt mà khổ sở vất vả, và con chó yêu quý nô đùa vẫy đuôi bên cô…

Cô gái đã bật khóc, cuối cùng lương tâm đã quay trở lại, những nỗi khổ, lo lắng, bất an…

Cô đã học ngay lời bài hát này. Đến cuối buổi biểu diễn cô đã thông báo với ban nhạc về bái hát cuối cùng này có tên: “Có ai bán ve chai không“.

Cô gái “vong tình” đã cất lời hát, tất cả khán giả đều cảm thấy bị sốc và họ đều rơi nước mắt. Cô gái đã kể về cuộc đời của mình ngay trên sân khấu, sau đó chạy thật nhanh đến bệnh viện, cô muốn gặp lại người cha của mình.

Khi ông lão nhìn thấy con gái, những dòng nước mắt từ trên má lã chã rơi. Ông lão không nói gì, chỉ mỉm cười với con gái và từ từ nhắm mắt lại… Cô gái khóc nấc từng tiếng không ngừng…

Đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật. Trong cuộc sống, có thể cha mẹ không cho chúng ta được một môi trường thuận lợi và hoàn cảnh vật chất đầy đủ nhất, nhưng họ đã làm hết sức mình để cho chúng ta được sống và trưởng thành. Họ đã dành cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất, kể từ lúc mới sinh còn bập bẹ, cho đến khi chập chững đi bộ từng bước, và đến khi trưởng thành như bây giờ. Họ đã phải dùng cả cuộc đời và tâm huyết dành cho chúng ta.

Vì vậy hãy luôn yêu thương và kính trọng cha mẹ mình. Bởi vì họ đã nuôi dưỡng chúng ta bằng ân tình mà cả đời chúng ta cũng sẽ không bao giờ trả hết được.

Nguồn: Sưu tầm.

Trương C Nghĩa gởi

ĐƯỜNG NÊN THÁNH CỦA TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU

ĐƯỜNG NÊN THÁNH CỦA TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU

  Vũ Duy Thống, Gm

Ngày xưa còn bé, lúc vào Tiểu Chủng Viện, người ta đã trao đến tôi cuốn “Một tâm hồn” của thánh Têrêsa như là cuốn sách phải đọc, để học đời sống thiêng liêng.  Thú thực, trong mắt nhìn của tôi lúc ấy, cuốn “Một tâm hồn” quả là một cuốn truyện vui với những trò chơi truyệt vời.  Từ truyện chui qua bụng ngựa đến truyện ngắm mãi không chán ống kính vạn hoa, từ truyện nhìn trời buổi tối bỗng thấy sao kết tên mình, đến truyện nhìn đất lượm lên một cọng rác cũng vòi Chúa giải thoát cho một linh hồn.  Tất cả đều là truyện vui của một cô bé ưa được nuông chiều.

Nhưng lớn lên, tôi mới ngộ ra rằng: đàng sau những trò tưởng là trẻ con “mít ướt” ấy lại là cả một tâm tình tự nhiên của trực giác tuổi thơ, cộng thêm những thao thức vươn lên của ước mơ xuân trẻ, và đi đi về về trên nẻo đường vừa thơ vừa trẻ ấy là nhấp nhô những cây Thánh giá của hy sinh đong đầy hy vọng.  Đó là đường nên thánh của Têrêsa.

  1. Đường nên thánh của Têrêsa được dệt bằng những tâm tình tự nhiên tuổi thơ.

teresa-hd-giesu

 

Người ta vẫn quen gọi đây là “đường thơ ấu thiêng liêng,” nghĩa là đường nên thánh khởi đi từ những tâm tình tuổi nhỏ.  Rất đẹp và rất thơ.  Một phương cách tuy không mới tuyệt đối, vì Chúa Giêsu đã gợi lên từ xưa:“Ai không nên như trẻ nhỏ sẽ chẳng được vào Nước Trời,” nhưng chính Têrêsa đã đem đến cho phương cách này một nét hấp dẫn mới và một độ rộng mới phù hợp trong tầm  với của mọi người, dù là giáo sĩ hay tu sĩ hoặc giáo dân, dù là trí thức bụng đầy chữ nghĩa hay là bình dân ít học.  Hết thảy đều có thể sử dụng phương cách này hoặc đi trên con đường này.  Người Mỹ gọi xa lộ của họ là freeway nghĩa là đường tự do ra vào, không phải thuê bao, không cân mua vé.  Đường thơ ấu thiêng liêng cũng thế, là freeway mở ra cho hết mọi người.

“Nên như trẻ nhỏ” là phương cách của Phúc Âm, nhưng nên như thế nào lại là điều thuộc về phong cách của Têrêsa.  Thật vậy, qua truyện “Một tâm hồn,” thánh nữ đã vận dụng rất tự nhiên mọi biến cố xảy đến trong đời để, phải nói là, nũng nịu và vòi vĩnh Chúa dẫn mình trên đường nên thánh.

Ai trong chúng ta cũng biết tình yêu là điều đáng giá nhất trên đời, và chẳng cần ai bảo ai người ta vẫn cứ thi nhau làm những việc càng lớn càng tốt để diễn tả tình yêu ấy. “Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.” Có biết đâu tình yêu xét cho cùng lại là điều thuộc về trật tự của tấm lòng, thế nên, khi có tấm lòng lớn thì dù việc làm có khiêm tốn đến đâu đi nữa, cũng vẫn là một tình yêu đầy đặn vuông tròn.  Nhất là khi tấm lòng ấy xin dành cho Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.  Đó là nét đầu tiên của đường thơ ấu Têrêsa.

  1. Đường nên thánh của Têrêsa cũng được ghi dấu bằng những ước mơ tươi trẻ.

Nếu “giống như trẻ thơ,” Têrêsa đã tham lam ôm lấy mọi biến cố trong đời, dù vui hay buồn dù lớn hay bé dù hữu ý hay vô tình dù được người khác biết đến hay không, để làm thành vốn liếng sinh lời trong tình yêu Chúa thì độ bền của nẻo đường thiêng liêng ấy lại ngày từng ngày làm bằng những thao thức rất trẻ trung táo bạo.

Trẻ trung ở chỗ thánh nữ luôn bị thiêu đốt bởi những ước mơ, nói theo kiểu Sea Games, là mơ “cao hơn xa hơn và nhanh hơn” trên đường thánh đức.  Có lần Têrêsa muốn yêu Chúa thật nhiều như chưa bao giờ Chúa được yêu như thế.  Lần khác thánh nữ lại muốn lên đường truyền giáo thật dài như đường đi của loài người mọi thời gom góp lại.

Táo bạo ở chỗ thánh nữ dù sống trong một đan viện kín cổng cao tường, như Đan Viện Cát Minh Sàigòn đây, ngài cũng không chịu dừng lại đôi cánh ước mơ, mà còn vươn lên những đỉnh cao thao thức, như khi một mình dưới ánh sáng Lời Chúa trong thư thứ nhất Côrintô chương 12, Têrêsa đã reo lên vì khám phá ra rằng: từ nay trong Giáo Hội mình sẽ là trái tim, trong trái tim mình sẽ là tình yêu, và trong tình yêu mình được ở trong lòng Thiên Chúa là Cha.

Thế đó, ước mơ trẻ trung và táo bạo, như con ốc nhỏ mơ uống cả đại dương tình thương Thiên Chúa, để dù phận ốc phải chôn vùi ở đáy sâu thầm lặng, cũng vẫn hiên ngang có Chúa gần kề, và dù có phải chết trong kiếp người đi nữa, cũng vẫn tin yêu phó thác, vì như Têrêsa đã quả quyết lúc lâm chung: “Tôi không chết, nhưng tôi đi vào cõi sống”.

Đường nên thánh của Têrêsa còn là đường ngả nghiêng bóng cây Thánh giá.

Đẹp như tuổi thơ, đẹp như ước mơ, nhưng trên nẻo thiêng liêng ấy, Têrêsa đã gặp không ít khó khăn.  Có điều là ngài chủ động tiếp nhận như Thánh giá gieo mầm cứu độ.

Chín tháng đầu tiên trong Nhà kín Lisieux, Têrêsa cảm nghiệm thật nhanh hương vị Thánh giá, tức là cái giá phải trả cho sự thánh đức.  Đó là những muộn phiền về gia cảnh cha già neo đơn (nhớ nhà); đó cũng là những chịu đựng trước ánh nhìn của người khác, và đó còn là những vật lộn với chính bản thân khi phải trút bỏ tất cả để thích ứng được với cuộc sống chung.  Về giai đoạn này, Têrêsa tâm sự là ngài đã gặp nhiều gai nhọn hơn hoa hồng.  Ngài viết: “Đau khổ dang tay đón tôi và tôi đã gieo mình vào khổ đau với lòng yêu mến.”

Nhưng Thánh giá thường xuyên hơn cả trong suốt chín năm tu trì của ngài chính là những nỗi đau âm ỉ trong tâm hồn kìa, như thấy mình bất toàn kiểu Phêrô “Tinh thần thì mau lẹ nhưng xác thịt lại yếu đuối,” như thấy mình bị bỏ rơi không niềm an ủi kiểu “con tim vô tình,” như thấy mình bị mỏi mệt nản lòng kiểu “hai môn đệ trên đường Emmaus.”  Song cũng khởi đi từ những Thánh giá trong lòng vốn nhiều thao thức ấy, thánh nữ khám phá ra tâm tình phó thác làm thành ý tưởng chủ đạo giúp ngài nên thánh, đó là “muốn những gì Chúa muốn”.

Đã đành, ai cũng có thể gặp đau khổ cách này cách khác, nhưng biết đón nhận đau khổ theo phong cách Têrêsa bằng niềm đam mê dâng hiến nguyện cầu truyền giáo, thì quả là đã nhận lấy Thánh giá một cách hiệu quả nhất.  Đó là đường Thánh giá của hy sinh và cũng là đường Thánh giá của hy vọng.

Tóm lại, đường nên thánh của Têrêsa là một tâm tình tuổi thơ, là một ước mơ xuân trẻ, và cũng là chia sẻ tình yêu Thánh giá.  Đó là trực giác một thời, nhưng cũng là bền bỉ một đời, và trên hết là hồng ân Thiên Chúa.  Nẻo đường ấy rất thênh thang hôm nay được đặt vào tầm tay của mọi người.

Sống tâm tình con thảo trước Chúa là Cha yêu thương gần gũi, để reo vui trước thành công, cảm thông khi thất bại và quảng đạo dâng hiến chẳng tiếc với Chúa bất cứ sự gì.  Đó là khởi đầu tập đi trên đường thơ ấu.  Vẫn biết rằng “dòng đời không êm ái như dòng sông,” như dòng tu, nhưng đẩy ước mơ lên những đỉnh cao lành thánh như góp phần hy sinh cầu nguyện cho thế giới hoà bình hơn, cho người người thương yêu hơn, cho thị trường công bình hơn, cho chân lý toả sáng hơn, cho mình cho gia đình cho cộng đoàn được nên thánh hơn.  Đó cũng là những bước chân âm thầm trên đường thơ ấu.  Và với tình yêu phó thác sẵn sàng đón nhận tất cả như hồng ân, cho dẫu là hồng ân vinh quang hay Thánh giá, thể xác hay tâm hồn, cá nhân hay Giáo Hội, đó chính là tuyệt chiêu trẻ trung trên đường thơ ấu Têrêsa.

Đường nên thánh của Têrêsa như chiếc “thang máy tình yêu” rộng mở.  Ai vào, thang sẽ tự động nâng lên.  Vấn đề là ta có thích bước vào hay không?  Câu trả lời xin dành cho riêng từng người hôm nay.  Còn bây giờ là chứng từ của cô Linsay Younce người đóng vai chính trong một cuốn phim mới về thánh Têrêsa thành Lisieux.  Cô đã trở lại đạo sau khi cuốn phim được hoàn thành.  Được hỏi: điều gì hấp dẫn nhất nơi Têrêsa?  Cô trả lời: việc nên thánh ở ngay trong tầm tay của mọi người.  Mong rằng đó cũng là điều hấp dẫn chúng ta.

 Vũ Duy Thống, Gm

Langthangchieutim gởi

 

Khoe

Khoe

(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)

Tạp ghi Huy Phương

Sử gia Trần Trọng Kim có nhận xét về đặc tính của người Việt Nam như sau: “…hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài…” Nhận xét này có phần đúng nếu chúng ta chịu khó quan sát ngay trong đời sống cộng đồng của người Việt chúng ta. Có người khoe cá lạ đắt tiền trong hồ, người lại thích khoe chim quý trong lồng, người thì khoe vườn cây cảnh, không có những điều này thì khoe gia thế, địa vị, con cái, nhà cửa, xe cộ, tiền của… Các bạn có quan sát ở ngoài đường, những người có bắp thịt thì thích mặc áo ba lỗ không?

Khoe cái mình có đã không ai thích, vin vào cái bóng râm của người khác để khoe mình, kiểu “tiêu bạc giả” lại là một điều tệ hại. Một ông nhà văn kể chuyện ở tù mà cũng dẫn ra là ông chung trại với nhà văn này hay ông họa sĩ kia, hay một thời đã chơi thân với cô ca sĩ nổi tiếng này, uống rượu với nhạc sĩ lừng danh nọ.

Ông bạn viết lách của tôi có kể câu chuyện một người, trong lúc có chuyện đụng chạm với người lạ, cao hứng đã vỗ ngực hỏi người kia: “Ông có biết tôi là ai không?” Sau này hỏi ra mới biết ông ấy là chuyên viên hộ tống, theo xách cặp cho một ông tướng.

Chuyện khoe khoang rất dễ thấy nếu bạn ở xa mới lại. Trừ khi là người cần bán ngôi nhà đang ở hay đang làm công việc môi giới bán nhà, còn thì đừng bao giờ khoe nhà với bất cứ ai cả. Ngày nọ, một người mới chân ướt chân ráo đến Mỹ, gặp một ông bạn trên phố Bolsa, khẩn khoản mời về nhà, không phải là để dùng bữa tối hay hàn huyên tâm sự, mà là để “xem nhà cho biết!” Ông chủ nhà sợ bạn từ chối nên nói nhà ông cách đây có năm mười phút, nhưng đến ngôi nhà đẹp đẽ này, họ phải mất gần nửa giờ.

Người bạn mới gặp được yêu cầu cởi giày trước bậc cửa, và theo sự hướng dẫn của chủ nhà, lần lượt đi từ phòng khách, phòng gia đình đến nhà bếp, từ phòng ngủ lớn đến phòng ngủ nhỏ và mấy cái nhà cầu. Khi khoe nhà, người chủ dùng mấy chữ tiếng Anh để chỉ các loại phòng, khiến người mới đến cũng ngẩn ra. Ở mỗi nơi khách cũng lịch sự ghé đầu vào một tí, mà chủ nhà cũng không muốn cho khách vào sâu hơn, chỉ đủ cho người xem gật gù, chậc lưỡi hay xuýt xoa để làm vừa lòng bạn.

Đương nhiên, trong một ngôi nhà sang trọng phải có những vật dụng quí giá, đó là mức “tra tấn” tiếp theo về giá trị của mấy bức tượng mua từ Thái Lan trong chuyến du lịch 10 năm về trước hay một bức tranh thủy mặc được đem từ Đài Loan về. Tất cả đều xa lạ và làm buồn lòng cho khách viếng. Người vui và thỏa mãn trong buổi chiều hôm nay chính là người chủ của ngôi nhà lộng lẫy này, kiếm được người khoe nhà đâu phải chuyện dễ.

Những người Việt Nam mới sang, thường là những ngày đầu còn bị chao đảo vì múi giờ khác nhau, nhưng được bà con chở đi thăm một vài gia đình quen biết, mà đáng lý ra người mới sang là người được thăm viếng mới phải. Chủ nhà sau khi trà nước, đem một DVD cuốn phim đám cưới cô con gái đầu ra, bỏ vào máy cho phát hình, gọi là “để chú thím xem cho biết, kẻo hồi đám cưới cháu, chú thím ở xa.” Những hoạt cảnh của một buổi tiếp tân trong một nhà hàng Tàu với những ông bà áo quần lượt là, những lời chúc tụng được lặp đi lặp lại nhiều lần, MC nói chuyện nham nhở cùng với những trò chơi sàm sỡ lai căng, kèm theo lời thuyết giảng của ông bà chủ nhà là những gì rất xa lạ, mà khách buồn ngủ cũng phải lịch sự mở mắt xem. Không là phim đám cưới thì cũng là phim quay trong một chuyến du lịch, hay sinh nhật đứa cháu. Những cuốn phim này thường thường bỏ xó tủ, không có khán giả nên cần người xem.

Nhiều người thường đang ngồi trên ghế trong một tiệm hớt tóc hay uốn tóc, tay chân không động đậy được thì phải mở miệng, thường cao hứng đem hết chuyện gia đình, con cái ra khoe. Cũng tại nơi này, thỉnh thoảng đi hớt tóc, tôi lại bị một ông khách đang ngồi ghế bên cạnh tra tấn khi kể chuyện du lịch phương xa mới về, thường là Việt Nam mới có cái để nói, huênh hoang với số tiền đã tiêu. Thường thì khoe khoang hay đi đôi với khoác lác. Có những người phụ nữ, chỉ sau mấy phút sơ giao, không ai đánh đập, tra hỏi, cũng đã cung khai hết sự thành đạt của các con bà: bao nhiêu bác sĩ, nha sĩ, bao nhiêu ngôi nhà bạc triệu ngoài biển hay trên đồi. Nhiều ông bà muốn khoe con vừa tốt nghiệp, phải dùng lối quảng cáo bằng cách đăng một cột báo cha mẹ chúc mừng con (!), không chúc mừng kiểu này thì ai biết đến phúc nhà.

Trong đám cưới, khi giới thiệu anh em cô dâu chú rể cũng không quên kèm theo văn bằng. Có gia đình gặp cảnh tang tóc, cũng ráng ghi chức tước bằng cấp của con cái người chết trên trang cáo phó, một công đôi việc, không ghi thì ai biết con cái làm rạng rỡ tông môn.

Nếu hai người cùng khoe cái mình có như nhau thì không ai nghe ai, nên thường người ta muốn khoe cái mình có trước mặt những người thiệt thòi hơn mình. Vì vậy nên có những người vụng về không có ý tứ, khoe nhà trước mặt người suốt đời ở nhà thuê, khoe con thành đạt với những gia đình có con chỉ làm thợ hay thất bại trong học vấn. Đã có lần giữa bạn bè, tại Sài Gòn, trong thời điểm có nhiều người vượt biên, một người bạn có con vượt biển, khoe con vừa được tàu Hòa Lan vớt trên Biển Đông, được nữ hoàng xứ này tiếp đón, được trợ cấp nhà cửa và tiền bạc, trước mặt một người bạn có con mới tử nạn trên biển cách đó không lâu. Khi người ta hứng khởi, sung sướng bởi cái mình có, khó mà giấu kín trong lòng.

Được khoe khoang nhiều nhất là chức tước và học vị. Nhiều khi tước vị không xứng với kiến thức và tài năng. Trên truyền hình có người để luôn hai tước vị giáo sư (!) và nhà văn cùng một lúc, nhưng khi nghe ông này giải thích với người nghe và người xem rằng Bộ Lại là… Bộ Học (dưới triều Nguyễn), nghĩa là Bộ Nội Vụ là… Bộ Giáo Dục thì xem chừng ông bà xưa có câu “dốt hay khoe chữ” quả không sai. Trong cộng đồng này nhiều người chưa đến tuổi sắp chết đã làm tổng kết tự khen mình với những tác phẩm kiểu “Vừa Đi Vừa Kể Chuyện” của “bác” như “60 Năm Viết Văn,” “50 Năm Sân Khấu,” “40 Năm Hoạt Động Cộng Đồng,” “20 Năm Làm Truyền Thông.”

Có nhà thơ dùng thêm một bút hiệu khác để tiện cho việc…tâng bốc mình.

Trong 10 cuốn hồi ký xuất bản ở hải ngoại thì đã có tám cuốn viết ra để kể công trận, khoe tài, chứ không thấy ai đấm ngực nhận lỗi mình hay sám hối.

Một bác sĩ tâm thần người Pháp, Dominique Esquirol, đã ví von một câu nghe thấm thía: “Con người cũng như bông lúa: Khi không hạt, nó ngẩng cao đầu, khi trĩu hạt, nó cúi mình xuống!”.

Báo chí cám cảnh Saigon ngập như sông

Báo chí cám cảnh Saigon ngập như sông

000_APH2001061150264.jpg

Mưa ngập sau một trận mưa lớn ở Việt Nam.

AFP photo

Hai trận mưa lịch sử ngày 26 và 27/9/2016 biến Saigon kể cả Phi trường Quốc tế Tân Sơn Nhất và nhiều thành phố khác ở miền Đông Nam Bộ chìm ngập trong biển nước. Báo chí do Nhà nước quản lý tích cực đưa tin bài hình ảnh và có những tựa bài thể hiện sự mỉa mai đối với trách nhiệm Nhà nước về quản lý đô thị.

Nghệ thuật giật tít

“Mưa vượt ‘tầm nhìn’, chống ngập ra sao?” “Dân thừa nước ngập, thiếu nước sạch”; “TP.HCM ngập khủng khiếp có nguyên nhân sai lầm từ qui hoạch và thiết kế lỗi thời” là những tựa bài có thừa sự phê phán lẫn cay đắng của nhà báo, họ thể hiện sự chia sẻ nỗi lòng nặng trĩu cùng 5 triệu dân Saigon. Suy cho cùng nhà báo cũng là nhân dân và họ cũng lội nước đẩy xe hoặc tát nước chạy lụt trong nhà như mọi người.

Tuy vậy cao trào của nghệ thuật đặt tít khiến người đọc báo không thể bỏ qua không xem bài thuộc về báo Lao Động Online: “Đừng im lặng: Họ đã làm gì với 20.000 tỷ chống ngập của chúng tôi, thưa ông trời!”

Không chỉ người dân và nhà báo, giới doanh nhân cũng mệt mỏi về chuyện đường phố biến thành sông. Ông Nguyễn Văn Mỹ Chủ tịch Du Lịch Lửa Việt trụ sở ở TP.HCM nói với chúng tôi là, tình trạng ngập như lụt ở Saigon và các tỉnh khác sau các trận mưa lớn, ảnh hưởng nặng cho ngành du lịch, xe chở các đoàn khách bị tắc đường không thể vào thành phố, chưa kể sự nguy hiểm mà khách nước ngoài cảm nhận. Ông Nguyễn Văn Mỹ đưa ra nhận định đầy suy gẫm về vấn đề quản lý đô thị:

“Trước hết câu chuyện không có hiệu quả thì ai cũng thấy rồi, đáng lo hơn nữa là những người giữ trọng trách lo nhiệm vụ chống ngập cho thành phố không thấy được cách làm không hiệu quả của mình mà cứ đổ cho tại và bị thôi. Điều này rất là nguy hiểm, cách đây mấy hôm tôi có tham gia một talk show TV cùng kỹ sư Phạm Sanh, anh em chúng tôi cùng ngồi lại đưa ra rất nhiều nhận định về các nguyên nhân và cách chống ngập. Bởi vì ngập và kẹt xe là vấn nạn của tất cả những thành phố lớn nhưng họ làm càng ngày càng hiệu quả nhưng Việt Nam thì càng ngày càng trầm trọng, càng ngày càng xấu hơn.”

Ta đã thấy trước chỉ có điều nguồn lực không đủ, phối hợp lại chồng chéo nó làm cho việc chống ngập đi chậm hơn so với phát triển hạ tầng…
– Chuyên gia Hồ Long Phi

Báo Pháp Luật Online ngày 28/9 có bài Mưa vượt ‘tầm nhìn’, chống ngập ra sao? Trong bài, Trung tâm chống ngập TP.HCM cho rằng nguyên nhân chính là do mưa vượt xa tần suất thiết kế. Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.HCM đến năm 2020, vũ lượng mưa đạt 90 phút ứng với chu kỳ 100 năm chỉ tới mức 137,70 mm. Trong khi đó, trận mưa chiều 26/9, vũ lượng mưa lên đến hơn 179,6 mm. Ngoài ra tình trạng xả rác, lấn chiếm kênh rạch cản đường thoát nước cũng góp phần gây ngập nặng.

Pháp Luật Online dẫn lời ông Hồ Long Phi chuyên gia chống ngập cho rằng, việc mưa vượt tần suất thiết kế là chuyện đã được cảnh báo từ lâu, nhưng vấn đề nằm ở chỗ bao giờ thì sửa được quy chuẩn thiết kế, tăng tiết diện cống thoát nước lên cao để chống ngập. Ngoài ra nguồn vốn đầu tư cũng là vấn đề khá nan giải.

Trả lời Mặc Lâm Đài RFA, ông Hồ Long Phi nguyên Phó ban điều phối và chống ngập TP.HCM, hiện là giảng viên đại học chuyên ngành, không đặt nặng vấn đề lỗi kỹ thuật vì theo ông quy hoạch thoát nước tổng thể ban hành 2001 là do chuyên gia quốc tế soạn thảo và chính phủ Nhật Bản tài trợ. Tuy vậy Theo chuyên gia Hồ Long Phi nguyên nhân chính là TP.HCM không có đủ tiền để làm đúng như thiết kế quy hoạch. Ông nói:

“Định hướng tầm nhìn cho tới 2020 chúng ta phải tiêu tốn từ 6 tới 7 tỷ đô la để hoàn thiện hệ thống thoát nước, nhưng chúng ta mới có chưa tới phân nửa mà đã 2016 rồi, có nghĩa là quá chậm so với định hướng đó chứ không phải đỉnh hướng đó sai. Ta đã thấy trước chỉ có điều nguồn lực không đủ, phối hợp lại chồng chéo nó làm cho việc chống ngập đi chậm hơn so với phát triển hạ tầng…”

Theo báo Pháp Luật Online, chuyên gia không muốn nêu tên cho rằng, lãnh đạo TP.HCM bố trí nguồn vốn không hợp lý. Hiện nay TP.HCM  đang dồn sức thực hiện dự án ngăn triều cường nước sông dâng tràn bờ  với tổng mức đầu tư 10.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tình trạng ngập do mưa mới là vấn đề gây bức xúc, cần ưu tiên giải quyết trước.

Đừng im lặng hãy phê phán

dfa6fb64-8574-496c-b9b5-b479e770e110.jpg-400.jpg
Sau một cơn mưa lớn. AFP photo

Một trong những bài báo gây chú ý thuộc về báo Lao Động Online với bài: “Đừng im lặng: Họ đã làm gì với 20.000 tỷ chống ngập của chúng tôi, thưa ông Trời!”. Bằng thái độ vừa cười cợt vừa mỉa mai nhà báo Hà Phan muốn người dân bắc thang lên hỏi ông Trời về trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với vấn đề thoát nước chống ngập của TP.HCM.

Báo Lao Động Online kêu gọi bạn đọc là Đừng im lặng! hãy cùng Tòa soạn bình luận về vấn đề Saigon chìm trong nước, sau khi 20.000 tỷ đồng đã được giải ngân và tiêu hết trong các dự án thoát nước chống ngập. Nhà báo đã dẫn lời bà Phạm Phương Thảo nguyên Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân TP.HCM nhiệm kỳ 2004-2011.

Được biết khi công bố các dự án thoát nước chống ngập sử dụng vốn ODA và ngân sách quốc gia khi còn tại nhiệm, bà Phạm Phương Thảo từng hứa hẹn nhân dân là với các dự án triển khai, TP.HCM sau này có thể chỉ còn một điểm ngập. Bài báo khá diễu cợt trong đoạn mở đầu khi cho rằng tiên đoán của Bà Phạm Phương Thảo sắp trở thành hiện thực, hàm ý TP.HCM chỉ còn một điểm ngập nhưng rộng lớn phủ trùm toàn thành phố. Bài báo dẫn nhập, Tối 26/9/2016, Saigon hỗn loạn trong biển nước và dân chúng chỉ còn biết ngửa mặt cầu Trời ngừng mưa. Và người ta nhìn trời, rồi lại nhìn nhau ngơ ngác hỏi hơn 20.000 tỷ đã giải ngân chống ngập đi đâu rồi?

Ngược dòng thời gian báo mạng Sống Mới Online, trụ sở chính ở Hà Nội, bản tin trên mạng ngày 13/7/2015 cho thấy số tiền chi cho chống ngập ở TP.HCM còn cao hơn nữa. Tờ báo lúc đó có bài với tựa: “Dân Sài Gòn lội nước “gánh nợ” 24.000 tỷ đồng cho các dự án thoát ngập. Theo đó, suốt 10 năm qua TP.HCM đã đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng cho các dự án chống ngập của thành phố.

Nhưng cho đến nay, bình quân mỗi năm người dân và thành phố vẫn đang vừa lội nước, vừa phải gánh nợ khoảng 4.250 tỷ đồng để chi trả nợ gốc và lãi vay cho các dự án trên. Trong chi phí 24.300 tỷ đồng đã tiêu hết, gồm 9.000 tỷ đồng vốn ngân sách và 15.000 tỷ đồng vốn ODA. Thế nhưng, cho đến thời điểm tháng 7/2015, cứ khi nào mưa thành phố lại ngập trong nước. Nhiều tuyến đường bị nước ngập cao tới nửa mét, gây ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống người dân. Các điểm ngập úng giống như chiếc túi bục, cứ bịt chỗ nọ lại tức nước bung ra chỗ khác.

Khắp thế giới có nước nào mà cứ đào lên rồi lấp xuống như Việt Nam không. Đào thì đào một lần thôi, nhưng đây cứ đào lên rồi lại lấp xuống, cứ mạnh ai nấy làm. Tư duy kiểu đó thì làm sao không ngập mới là lạ.
– Ông Nguyễn Văn Mỹ

Ông Nguyễn Văn Mỹ, Chủ tịch Du lịch Lửa Việt trụ sở ở TP.HCM là một người đi nhiều thấy nhiều, nhận định về tình trạng mưa là ngập ở TP.HCM và các tỉnh thành khác.

“Việt Nam đang làm khác quy luật của thế giới rất nhiều kênh rạch của thành phố bị lấp và thay bằng cống hộp để lấy đất làm dự án…rồi xây cất vô tội vạ không tính tới hệ thống thoát nước, rồi ý thức người dân kém…rất nhiều nguyên nhân. Nhưng mà suy cho cùng nguyên nhân lớn nhất vẫn là của nhà nước, vừa rồi Trưởng ban chống ngập thành phố tuyên bố rằng không chống ngập được vì người dân lấn chiếm…ai cho người dân lấn chiếm, anh quản lý thế nào bây giờ nói tại với bị…”

Nhắc lại sự kiện xảy ra mà báo chí tường thuật, đó là đường xá cứ đắp cao hơn nhà dân để chống ngập trên đường, mặc mưa nước đổ vào nhà dân.  Ông Nguyễn Văn Mỹ tiếp lời:

“ Khắp thế giới có nước nào mà cứ đào lên rồi lấp xuống như Việt Nam không. Đào thì đào một lần thôi, nhưng đây cứ đào lên rối lại lấp xuống, cứ mạnh ai nấy làm. Tư duy kiểu đó thì làm sao không ngập mới là lạ. Đó là kiểu tư duy quản lý làng xã, bây giờ ra quản lý đô thị lớn cả chục triệu dân làm sao quản lý nổi. Nhưng không chịu nhận sai lầm không dám dũng cảm…đâu có nghe các nhà phản biện nói, đâu có nghe người dân góp ý…Cho nên vấn đề hiện nay cái gốc nằm ở chỗ khác, không riêng TP.HCM mà chỗ nào cũng ngập như thế cả, tư duy quản lý kiểu đó thì không ngập mới là lạ…”

Saigon mưa là ngập đã diễn ra 20 năm qua với tốc độ đô thị hóa thiếu kiểm soát, cộng với tình trạng dân trí thấp. Nhưng chỉ năm 2016 này mới có hiện tượng toàn thành phố đắm chìm dưới nửa mét nước và  Phi trường Quốc tế Tân Sơn Nhất cũng ít nhất đả hai lần ngập nặng, làm hàng chục chuyến bay phải hạ cánh ở phi trường khác, hay bay sang nước khác.

Trận ngập ngày 26 và 27/9 ở TP.HCM và một số tỉnh thành miền Đông Nam Bộ có thể vẫn tái diễn trong mùa mưa hàng năm, cùng với hoạn nạn của người dân và sự chia sẻ của báo chí.

CHỨNG NHÂN KYTÔ HỮU

CHỨNG NHÂN KYTÔ HỮU

Bùi Ngọc Thắng.

Tôi vào chùa tu học Từ khi còn bé tôi đã thắc mắc tại sao linh hồn người chết có thể về ăn đồ cúng? Tại sao khi sống thì người ta bất lực nhưng sau khi chết thì linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến? Những thắc mắc này thúc đẩy tôi vào chùa tu học. Trong chùa có bàn thờ một vị Bồ tát có nét mặt dữ tợn, cái lưỡi của ông dài hơn lưỡi rắn. Tên ông là Tiêu Diện Đại Sĩ. Theo giáo lý nhà chùa thì đây là vị thần cai trị các linh hồn vất vưởng đói rách không được ai cúng thức ăn. Mỗi buổi chiều nhà chùa cúng một bát cháo lỏng đặt ngay bàn thờ ông Tiêu Diện và tụng bài kinh Thí thực. Niềm tin này rất thich hợp với người bình dân Việt Nam. Tôi đã học giáo lý đạo Phật để tìm giải đáp, nhưng càng học càng có thêm những thắc mắc khó giải thích hơn. Ví dụ có chùa chuyên làm bùa Quang Minh và bùa Hải hội, để giải oan cho những linh hồn nghiệp nặng, chết nhầm vào ngày xấu. Ngày nay nhiều chùa bói toán xin quẻ. Là một tu sĩ tôi phải học nhiều giới cấm. Càng nhiều giới cấm người ta càng dễ phạm giới, vì thế có một giới cấm đặc biệt là tu sĩ cấp dưới không được tò mò giới luật của tu sĩ cấp trên. Mỗi sáng thức dậy, ai quên đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất là mắc tội sát sanh, vì vô ý đạp chết côn trùng trong ngày đó. Hoặc quên đọc câu thần chú uống nước, là mắc tội ăn thịt 8 vạn bốn ngàn con vi khuẩn trong một ly nước. Cạo đầu mà không đọc thần chú cũng có tội. Ở chùa ăn nhiều rau, lắm lần tôi thấy sâu chết trong rau muống luộc. Luộc những nồi rau to tướng như thế là giết rât nhiều sinh vật, thế nhưng không ai học câu thần chú luộc rau cả.

Ngày xưa Đức Phật cấm nam tu sĩ đứng tiển tiện, nhưng sau đó dân chúng tưởng rằng tất cả đệ tử của Phật là phụ nữ, Đức Phật phải hủy giới cấm ấy để tránh hiểu lầm. Vì giới luật nhà tu qúa chi li, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới luật nào cả. Chẳng ai muốn tiết lộ sự phạm giới của mình. Đáng tiếc là đạo Phật không nhìn nhận một cách minh bạch về vấn đề tội lỗi. Để phá chấp người tu sĩ câp cao, học về ý nghĩa của sự phi giới và cao hơn nữa là vô phi giới. Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin mình làm được. Thậm chí người ta đọc quen đến nỗi không cần một ý niệm tha thiết chân thành.

Một là từ bỏ tât cả việc ác (nguyện đoạn nhât thiết ác) .

Hai là làm trọn tât cả việc lành (nguyện tu nhât thiêt thiện).

Ba là hóa độ tât cả chúng sanh (thề độ nhât thiết chúng sanh). Khi học đến giáo lý cao siêu, tôi được dạy rằng không có tội lỗi, không ai tha tội cho ai, không có địa ngục, không có niết bàn, không ai dựng nên vũ trụ vạn vật mà chỉ do tâm con người tạo ra. Giáo lý nhà Phật không tin vào Đấng Tạo Hóa, không tin nguyên nhân khởi đầu, mà chỉ tin vào lý nhân duyên điệp trùng tiếp nối, khiến vạn vật lưu chuyển như là đang hiện hữu. Vạn vật vốn là vô thủy vô chung, không có cái gì vĩnh cửu (vô thường). Tâm con người chấp vào đâu thì có vào đó, chứ thật ra chẳng có cái gì hiện hữu thật sự. Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi. Phần đông tín đồ Phật giáo không hiểu giáo lý của Phật, mà chỉ nghe theo các vị tu sĩ. Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ.

Có tám nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Sinh khổ. Lão khổ. Bịnh khổ. Tử khổ. Thương yêu mà không được gần nhau là khổ (ái biệt ly khổ). Ghét nhau mà phải gần nhau là khổ (oán tăng hội khổ). Ước muốn không thành là khổ (cầu bất đắc khổ). Thân thể và tâm hồn mất thăng bằng là khổ (ngủ ấm thạnh khổ).  Giáo lý quan trọng đầu tiên của đạo Phật là Chân Lý Của Sự Đau Khổ. Muốn diệt đau khổ thì phải diệt sanh sản (diệt dục), diệt gìa nua (diệt lão), diệt bịnh tật, diệt sự chết. Nhưng chưa đủ, còn phải diệt thương yêu (ái nghiệp), diệt ham muốn (tham), diệt giận hờn (sân si). Muốn diệt khổ tuyệt đối thì phải diệt luôn cả ý muốn thành Phật (vì ai muốn thành Phật là còn tham). Đạo Phật tin vào luật quả báo thiện ác, nhưng không chấp nhận ai là đấng tạo ra luật quả báo thiện ác công minh, cũng không giải thích luật nhân quả công minh này từ đâu mà ra. Tôi cần mẫn học từng bậc, đến khi tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật Học Viện Nha Trang, tôi tự cảm thấy mình đi tu như thế vẫn không tiêu diệt bớt tội lỗi trong tôi. Chưa kịp tiêu diệt tội cũ, tội mới ló mặt ra trong tôi. Nếu có địa ngục, chắc tôi phải vào trước nhất. Làm một ông thầy tu phải biết che dấu tội lỗi để được các đệ tử thờ lạy khi mình còn sống. Người tu hành sau khi đã lên đến bực Đại Đức, thì khó hoàn tục vì được sự kính trọng quá cao và hưởng nhiều ưu đãi quá lớn. Tôi cởi áo nhà tu. Tự xét lấy mình tôi đã từng thất vọng trong con đường tu. Đã có khi tôi cảm thấy cần tìm một cái chết, để giảỉ quyết ngõ bí trong tâm hồn mình. Nhưng sau bao năm quen sống trong chiêc áo tu hành, tôi trở thành người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thất bại.. Ý nghĩ tự tử càng dễ xuất hiện trong tôi.Một cuộc đời rắc rối đầy rủi ro và thât bại như thế thì chẳng có gì đáng sống nếu theo con mắt phàm tục.

Lúc đầu tôi không có thiện cảm với Kinh Thánh, nhưng lạ thay, càng đọc Kinh Thánh, tôi càng thấy lời dạy của Chúa là rõ ràng và thực tế hơn giáo lý nhà Phật. Kinh Thánh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo, trong khi đạo Phật dạy rằng không ai dựng nên vũ trụ mênh mông vô lượng này cả, mà chỉ do tâm con người châp có nên mới có. Kinh Thánh dạy rằng Chúa là tình yêu, trong khi đạo Phật dạy rằng yêu là một sự cảm thọ, là ái nghiệp. Chúa dạy về tội lỗi, nguồn gốc của tội lỗi, quyền năng tha tội và cách giải quyết vấn đề tội lỗi tận gốc để chiến thắng điều ác. Nhưng đạo Phật dạy rằng tội bổn tánh không (tội lỗi vốn là không), không ai tha tội cho ai, con người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi. Chúa dạy phải hiếu kính cha mẹ khi họ còn sống với mình, còn đạo Phật dạy cắt ái từ sở thân (lìa bỏ tình thương cha mẹ) như Đức Thích Ca đã lìa bỏ cha mẹ vợ con, nhưng lại thờ cúng cha mẹ sau khi họ đã qua đời. Chúa dạy chúng ta lấy thân thể mình làm đền thờ Ngài, nhưng Phật giáo dạy sự thờ phụng hình tượng trên bàn thờ gỗ, đá, xi măng. Chúa dạy con người dâng lời cầu nguyện để mở lòng tương giao với Chúa, nhưng Phật giáo dạy dâng nhang đèn, trầm hương lễ vật lên hình tượng, để bày tỏ lòng thành.

Chúa mặc khải ơn cứu rỗi để giải phóng con người ra khỏi bản tính tội lỗi trước, rồi sẽ học làm điều lành sau; nhưng Phật giáo dạy rằng con người phải giữ giới cấm, để tự làm cho mình trở nên toàn thiện, không cần ơn thiên thượng. Trên thực tế, con người dễ làm ác khó làm điều lành. Có những tu sĩ thật tâm tu niệm, họ tự cấm khẩu hàng tháng trời, cũng có vị tự nhập thất giam mình hàng tháng trong phòng kín để ngồi thiền hoặc tụng kinh. Nhưng bản chất của tội lỗi trong con người không thể xóa sạch bằng hành vi hãm mình khổ hạnh. Lắm khi vì hãm mình khổ hạnh, người tu sĩ vấp phải những tội lỗi kỳ cục hơn người ngoài. Trong giới tu sĩ Phật giáo có nhiều người tốt, nhưng người tốt chưa hẳn là người chiến thắng tội lỗi của mình. Thậm chí có người biết mình tu không được, đã từng đốt từng ngón tay để thề nguyện, quyết tâm tu; hoặc tự chặt đứt bộ phận kín của mình, nhưng sau đó vẫn phạm giới rất thê thảm. Chỉ có người quyết chí đi tu mới phải đau lòng khi thấy mình không làm sao tu được. Nhưng đa số tu sĩ khó rời chiêc áo, vỉ quyền lợi của một bậc tu hành trong Phật giáo qúa lớn. Người Phật tử phải thờ ba ngôi Tam bảo : Phật Bảo (tất cả các Đức Phật), Pháp Bảo (tất cả giáo lý nhà Phật), Tăng Bảo (hàng ngũ tu sĩ). Hồi đó tôi sợ nhất là mình được xêp vào hàng ngũ đáng tôn thờ, vì tôi nghĩ đây là lý do khiến tôi dễ vào địa ngục nhất. Khi ngồi trên cao cho hằng trăm người khác lạy, làm sao người ta thể hiện đức khiêm nhường và vô ngã trong thâm tâm?

Cầu nguyện Chúa có kết quả, tôi phải tin . Khi đọc Kinh Thánh, tôi thấy lời Chúa dạy rõ ràng và đơn giản. Nếu mình thật lòng thực hành là có thể thấy kết quả đúng hay sai. Lúc đầu tôi chỉ làm thử; nếu đúng tôi tin, nếu sai tôi bỏ Kinh Thánh. Sau khi tôi đã thử cầu nguyện âm thầm một mình, theo lời dạy của Chúa trong sách Gioan: 3:16. Chúa đã ban cho tôi những phép lạ thật kỳ diệu và thật là cụ thể. Bước đầu tiên tôi không dám tin lắm, nhưng nhiều lần cầu nguyện có kết quả tôi phải tin.

Ngày nay tôi sống trong Đức Tin của Chúa, sự cầu nguyện và kết quả của sự cầu nguyện chẳng khác gì mình thụ hưởng thức ăn điều độ và hít thở khí trời trong lành, ắt phải có sức khỏe tốt cho mình mà thôi. Sau khi trở về trong Chúa, tôi được Chúa thay đổi bản tính tội lỗi, để được mặc vào bản tính mới: tự do, nhẹ nhàng, khoan khoái thật là tuyệt vời. Chúa cho tôi đắc thắng tội lỗi mà không kiêu ngạo và Chúa cũng cho tôi thấy cái vực thẳm giữa sự thanh khiết và tội lỗi là rât mong manh, nhưng hai thế giới ấy cách xa nhau lắm. Mỗi ngày sống trong Chúa quả thật là qúy báu.

Dù bị thế gian hiểu lầm, bị xuyên tạc, tôi vẫn là một người hạnh phúc và yêu qúy mọi người. Không thất vọng, không nghi ngờ, tôi vui thỏa từng giờ, từng ngày. Đó là sự bình an, sự yên nghỉ mà Chúa hứa ban cho bât cứ ai muốn đi theo Ngài.

Tôi tiếp tục sống với Lời Chúa và nhận được những kết quả vô cùng lớn lao. Khi cầu nguyện linh hồn tôi bình tĩnh, tỉnh táo, nhẹ nhàng, khiêm hạ và thực tế chứ không mù mờ như khi ngồi thiền trước đây. Bản tánh nhân từ thánh khiết của Chúa, được bồi đắp thêm trong con người mới của tôi mỗi ngày rất cụ thể.

Đây là những kết quả qúy báu, để làm bằng chứng về nước Thiên đàng mai sau như lời Chúa hứa. Đối chiếu Phật Học và Kinh Thánh, nhất là kinh nghiệm tu hành theo đạo Phật với kết quả kỳ diệu trong Đức Tin Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy rằng Thái tử Tất Đạt Đa là một người thiết tha tìm con đường giải thoát, sau bốn lần ra khỏi cung vua để nhìn thấy cuộc đời toàn là đau khổ. Với bản tính một người Ấn Độ, thái tử đã suy niệm sâu xa về sự huấn tập đức tánh xấu trong con người, nhưng thái tử chưa thấu đạt nguyên nhân của sự huấn tập ấy, là tội lỗi của con người như Kinh Thánh đã nói rõ. Vì thế thái tử cho là nghiệp lực thay vì là tội lỗi. Tiếc thay thời đó Kinh Thánh Cựu Ước chưa được truyền qua Ấn Độ, mặc dù thái tử đã học nhiều tôn giáo khác nhau. Là một người thông minh vượt bực, lại có lương tâm nhạy bén, thái tử Tât Đạt Đa không thỏa mãn với những luồng tư tưởng và tôn giáo nặng thần bí theo văn hóa Ấn Độ. Sáu năm đầu sau khi từ bỏ hoàng cung để quyết chí tu học, thái tử đã thất bại với pháp môn khổ hạnh đầu đà. Rốt cuộc thái tử Tất Đạt Đa cương quyêt ngồi thiền bên bờ sông Ni Liên. Ngài thề rằng : Nếu ta không tìm ra chân lý thà chết chứ không đứng dậy khỏi chổ này. Khi ngồi thiền, thái tử đã thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng mình đã thành Phật. (Ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã tự xưng mình đã thành Phật). Giáo lý của Ngài đã bị các thế hệ sau thêm thắt qúa nhiều, khiến cho mâu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật giaó Việt Nam có nhiều điều không bà con gì với Phật giáo Ấn độ. Các bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ, trước khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Đó là lý do khiến kinh Phật bị thất bản và bị thêm thắt thành thiên kinh vạn quyển, khiến nhiều người học đạo đã lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biết gì cả, hoặc có biêt phần nào cũng cam chịu nhắm mắt đưa chân. Phần đông người ta không đủ can đảm để tự hỏi đâu là chân lý ngoài các nghi thức cố châp và triêt lý mơ hồ. Vì không có chân lý, những mâu thuẫn sờ sờ cũng không ai màng che đậy. Ví dụ nghi thức quy y thì có ba câu thề nguyện, câu đầu là Qui y Phật, tôi thề sẽ không quy y, trời, thần, quỷ vật, nhưng câu nói đầu tiên ở cửa miệng người ta là Cầu Trời, khẩn Phật. Nghĩa là cầu Trời trước, khẩn Phật sau. Còn thờ lạy thì thờ lạy đủ các loại thần mà họ không biết, kể cả thần Quan Công, thần Hộ Pháp, thần chú, thần hoàng thổ địa, thần cô hồn các đảng.  Kinh nghiệm theo Chúa của tôi .

Sau khi tin Chúa, mọi thắc mắc của tôi đã được Kinh Thánh giải đáp cả ba mặt: thân thể, tâm trí và tâm linh. Tôi đã nhận được nhiều phép lạ lớn lao. Bản thân tôi được Ngài chữa lành bịnh. Những thói hư tật xấu của tôi được loại bỏ, để được thay thế vào những đức tánh mới mẻ, nhân từ, thánh khiết từ Chúa mà tôi không cần phải khổ công tu luyện như trước đây.

Giải đáp lớn nhất đối với tôi là sự hiện diện của Chúa Thánh thần trong con người vốn tầm thường yếu đuối của tôi, để làm cho tôi nên mạnh mẽ. Chúa đã cho tôi kinh nghiệm sống để biết Kinh Thánh là Lời sống trong năng quyền của Đức Thánh Thần chứ không phải là lý thuyết suông. Để mạc khải ơn tha thứ, trước hết Ngài đã tha tội cho tôi. Để mạc khải tình yêu thiêng liêng, trước hết Ngài đã yêu tôi và gánh chịu tội lỗi cho tôi trên thập gía. Tình yêu của Chúa là một bản tính thực tế đầy hiệu năng trong cuộc sống thường nhật, chứ không chỉ là một sự diễn tả bằng lời nói hay chữ viêt. Với những bằng chứng thực tế này, tôi quả quyết tiêp tục vui mừng và tin cậy Chúa như những gì Ngài dạy trong Kinh Thánh, dù hôm nay tôi chưa nhìn thấy hết. Chúng ta có thể tu và sửa cái phong cách bề ngoài cho tốt đẹp, nhưng bản tính tội lỗi bên trong thì không thể nào tự sửa chữa được.

Vì thế Ngài ban Con Một của Ngài đến thế gian để gánh cái ách tội lỗi cho chúng ta. Điều đáng tiếc là còn nhiều người đang khước từ ơn cứu rỗi của Chúa. Ai muốn giải quyết nguồn gốc tội lỗi thì phải quay về với Đấng dựng nên chúng ta. Ngài có quyền xét đoán chúng ta và cũng có quyền tha thứ cho chúng ta. Ngài ban cho chúng ta Ảnh Tượng của Ngài, nhưng chúng ta phạm tội nên đã đánh mât Ảnh Tượng thiêng liêng của Ngài.

Tôi thành tâm tha thiết kêu gọi anh chị em từ mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc nên mạnh dạn trở về trong Chúa để nhận ơn tha tội, để được tái sinh, để được sống đời đời và được nhận lại bản tính nhân lành của Cha thiêng thượng.

Bùi Ngọc Thắng.

21226 Somerset Park Ln

Katy, TX 77450.

(713) 820 – 1470

Anh chị Thụ & Mai gởi

Thấy gì sau ngày 30 tháng 04 năm 1975.

 Thấy gì sau ngày 30 tháng 04 năm 1975.

Vài hôm sau ngày 30-4-1975, tôi đi trên đường Lê Lợi, thấy từng đống sách bị đem ra để trên vĩa hè, trước nhà sách Khai trí mà đốt. Tôi nhìn thấy những quyển sách bìa cứng, dày, giấy trắng đẹp như tự điển Anh Việt, Pháp Việt, những sách về y khoa, những sách về văn học quí hiếm bị đem ra đốt, làm tôi liên tưởng đến thời Tần Thủy Hoàng ( tháng 12 năm 259 TCN  đến tháng  8 năm 210 TCN)….    của Trung Hoa , đốt sách chôn học trò.

Tôi không biết thời đó đốt sách ra sao, chứ thời này, cuối thế kỷ 20, các sách rất quí, được biểu tượng cho sự hiểu biết của nhân loại bị đốt , lòng tôi chán nản và buồn vô hạn. Rồi đây dân tộc này sẽ ra sao? Khi sách vở đã bị đốt, bị xem thường.?

Nhà tôi có những sách quí như bộ Chiến tranh và Hoà Bình của Leon Tolstoi do nhà văn Nguyễn Hiến Lê dịch, có 4 cuốn, sách giấy trắng, đẹp cũng phải xé bìa vất vào thùng rác. Mất một tủ sách xé bìa, bán ve chai hoặc đốt bỏ. Đau lòng lắm khi đốt những sách mà tôi yêu quí.

Tần Thủy Hoàng 

Tần Thủy Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương

Để tránh sự phản kháng của dân chúng, Thừa tướng Lý Tư đã áp dụng chính sách “ngủ gia liên bảo” , năm nhà xài chung một con dao và năm nhà kiểm soát lẫn nhau. Một nhà làm tội trừng phạt bốn nhà kia.

Tần Thủy Hoàng giết hơn 460 nho sinh đã mang tiếng ngàn đời là tội “đốt sách chôn học trò”

Trong cuối thế kỷ 20 này, sau hơn hai ngàn năm, thì người cộng sản Việt nam đã dựa theo chính sách của Tần Thủy Hoàng, áp dụng triệt để chánh sách này. Để lường gạt dân miền nam hiền hậu, thơ ngây , nhà cầm quyền cộng sản ra thông báo , người lính đi học ba ngày rồ về. Sau ba ngày lính được thả về thực. Sau đó thông báo sĩ quan cấp úy đi trình diện học trong 10 ngày,  sĩ quan cấp tá , hành chánh cấp phó quận, đảng phái phó chủ tịch cấp quận trở lên , đi trình diện  đem thức ăn đi học một tháng. Mục đích để quân cán chính Việt nam cộng hòa lầm tưởng đi học trong 10 ngày hay một tháng rồi sẽ về.

Nhà tù không dùng trại tù  mà dùng chữ mỹ miều “ Trường học tập cải tạo” giống như trường trung học, trường đại học để lừa gạt nhân dân miền nam thơ ngây.

Một sự lừa dối lường gạt vĩ đại vô tiền, khoáng hậu trong lịch sử nhân loại

Số người đi học tập 

Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443.360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9.306 người trong các đảng phái “phản động”.[18] Theo Phạm Văn Đồng, con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện.[19] Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam xác nhận có 26.000 người vẫn còn giam trong trại. Tuy nhiên một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam.[9] Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam.[2

Chưa kể trong một tháng đầu sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 sự giết chóc, trả thù lén trong toàn miền nam ước tính khoảng 60,000 người.

Tác giả Phùng văn Phụng

Quý soeurs Dòng Phaolo Hàng Bột, Hà Nội đang bị khủng bố tinh thần

Quý soeurs Dòng Phaolo Hàng Bột, Hà Nội đang bị khủng bố tinh thần

Nhà thờ Thái Hà

29-9-2016

Những thanh niên mặc thường phục, họ có liên quan gì đến lợi ích khi muốn chiếm đất đai các nữ tu Dòng Phaolô? Ảnh: Nhà thờ TH

Thái Hà – Soeurs Nguyễn Thị Vi, Bề trên Tu viện cho biết, ông Phương, giới thiệu là Giám đốc Công ty dược tuyên bố: “Tôi thuê lại đất của nhà nước. Tôi đóng thuế cho nhà nước. Tôi không biết các soeurs là ai. Vụ việc này xảy ra, các soeurs đừng cho giáo dân đến. Nếu không sẽ có đổ máu’.

Ông Phương nói với soeur Bề Trên khi 40-50 thanh niên ‘côn đồ’ chĩa máy quay, một số nhảy vào khu vực đất của Tu viện đòi đo đất.

Những người trong nhóm ‘côn đồ’ đe dọa: Tối nay sẽ cắt điện Tu viện, cài đặt thêm 2 camera thông dụng không dây để theo dõi (hiện đang đặt 1 camera)

Vụ việc chiều này, như sau:

15 giờ, 29.09, khoảng 10 người mặc thường phục và một số người cầm máy đứng quay khu vực đất phía sau Tu viện.

Khoảng 17 giờ có ông Khương, công an Quận Đống Đa (có lúc ông nói an ninh tôn giáo) có mặt tại khu vực nhà của quý soeurs đang cho Công Ty Dược thuê.

Khi ông Khương rút đi có khoảng 40-50 thanh niên chĩa máy quay, xông vào khu đất của Tu viện đo đạc.

Cùng lúc này, một người giới thiệu tên là Phương Giám đốc Công ty dược vào gặp soeur Bề Trên Tu viện. Ông nói với soeur: “Tôi thuê lại đất của nhà nước. Tôi đóng thuế cho nhà nước. Tôi không biết các soeurs là ai. Vụ việc này xảy ra, các soeurs đừng cho giáo dân đến. Nếu không sẽ có đổ máu’.

Trong khi ông Phương có lời như đang đe dọa, quý soeurs thấy những thanh niên ngang nhiên vào khu vực Tu viện hoành hành nên đứng lên phản đối. Những người này xô đẩy quý soeurs,quyết đo đất.

Lúc này chuông nhà thờ đổ, kêu gọi bà con đến trợ giúp. Những người này rút dần, tụ tập về Công ty dược.

Quý soeurs cho biết, khu vực Công ty dược vốn trước là Trại Tế Bần của Dòng. Xí Nghiệp Xưởng Bào Chế Trung Ương Nước Việt Nam đã thuê lại của quý soeurs.

Hợp đồng thuê từ những năm 1955 đến nay quý soeurs vẫn còn giữ. Từ những năm 1993, phía công ty nhà nước vẫn còn trả tiền thuê đất thuê nhà.

Sau năm 1993, Công ty Dược không trả tiền thuê đất, thuê nhà, nhưng cũng không trả đất, trả cơ sở cho quý soeurs.

Quý soeurs cho biết, Công Ty Dược Phẩm Hà Nội đang dần chuyển đi và đang cho tư nhân thuê lại.

Tối 27.09, một số người những người bên Công ty Dược cho người đưa thép gai bít cửa sổ, cửa từ Tu viện ra khu đất sau Tu viện.

Quý soeurs và bà con giáo dân đã phản đối hành động phi pháp này.

Sáng 28.09, quý soeurs và bà con giáo dân đã đưa đơn khiếu nại khẩn cấp đến UBND Tp. Hà Nội, UBND Quận Đống Đa và Phường Hàng Bột cũng như Công an Phường Hàng Bột và Công an Quận Đống Đa.

Khi các cơ quan công quyền chưa trả lời thì vụ việc như chúng tôi nói đã diễn ra.

h1

h1

h1

Truyền Thông Thái Hà

‘Bộ tham nhũng, quyền lực’ đầu độc môi trường Việt Nam

‘Bộ tham nhũng, quyền lực’ đầu độc môi trường Việt Nam

Nguoi-viet.com

Người dân Hà Tĩnh biểu tình chống Formosa. (Hình: An Thanh Linh Giang)

Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Sau sự kiện Formosa đầu độc biển, dạo gần đây người ta thấy hệ thống tuyên truyền của nhà cầm quyền Việt Nam khuếch tán nhiều diễn văn, câu nói về quyết tâm bảo vệ mội trường của chóp bu chế độ. Ai nghi ngờ, ai cả tin u mê thì đó là quyền cá nhân nhưng chỉ cần tay tư sản đỏ Lê Phước Vũ, chủ tập đoàn Tôn Hoa Sen, lên giọng vài câu nói về dự án thép Cà Ná là phơi trần sự thật về quyền lực ngầm ở Việt Nam.

Ông ta nói: “Chúng ta chỉ mới có mỗi vụ Formosa mà đã lớn chuyện! Tại sao chúng ta lại quá sợ sệt như thế?” Rồi ông ta hăng máu tuyên bố tiếp: “Ngu gì mà không làm thép.” Từ lâu dư luận Việt Nam đã hiểu: Yếu tố quyết định sự sinh tồn của môi trường sống Việt Nam hiện nay và tương lai không phải là các lãnh tụ Hà Nội, hay các tay tư sản trong và ngoài nước ăn theo chế độ mà chính quyền lực ghê tởm của đồng tiền tham nhũng.

Dưới chế độ hiện hành, ai dám nói có quyền lực lớn hơn quyền lực của đồng tiền tham nhũng. Thật vô ích khi chối bỏ thực tế đó! Ngay cả các ông được gọi là cộng sản tốt cũng phải cay đắng thừa nhận tham nhũng là số một. Dưới chế độ này, câu khẩu hiệu duy nhất được coi là đúng đã thuộc về hệ thống tham nhũng lũng đoạn: “Cái gì không mua được bằng tiền sẽ mua được bằng rất nhiều tiền.”

Hôm coi TV thời sự về Hội Nghị Cấp Cao Khối Đông Nam Á, 2016 ở Lào. Ông H, người xe ôm la lớn trong quán cà phê. “Tao thấy có thằng Vũ -Tôn Hoa Sen ngồi sau lưng ông thủ tướng mới, có thằng nào cá với tao chầu nhậu không? Tao đố ai cản được vụ siêu nhà máy thép Ninh Thuận của thằng Vũ, nó sẽ ăn trùm?” Cả quán cà phê bình dân im phăng phắc.

Nhưng vụ Lê Phước Vũ đang âm mưu hốt nuốt cả vùng biển Nam Trung Phần chỉ là bề nổi của thảm trạng hủy hoại môi trường sống của cả dân tộc. Dự án nhà máy giấy Lee & Man đang chực chờ như lưỡi dao tẩm độc hạ sát sông Hậu, dư luận được biết thêm trên sông Tiền cũng sẽ có siêu nhà máy giấy của Trung Quốc, dự án siêu nhà máy giấy Đại Dương với 100% vốn đầu tư Trung Quốc. Đã được tỉnh Tiền Giang cấp phép. Sông Cửu Long đang chờ chết!

Lê Phước Vũ và dự án sản xuất thép Cà Ná bị dư luận tại Việt Nam chỉ trích. (Hình: Báo Lao Động)

Lê Phước Vũ và dự án sản xuất thép Cà Ná bị dư luận tại Việt Nam chỉ trích. (Hình: Báo Lao Động)

Từ khi có các cuộc biểu tình chống Formosa đầu độc biển Bắc Trung Phần bị chế độ đàn áp, nhưng các công dân ý thức thuộc các vùng miền khác của Việt Nam vẫn tin rằng chỉ cần không ăn cá và tắm biển Hà Tĩnh là có thể tạm thời tự vệ được trước các độc tố của tập đoàn tội phạm Formosa và bọn tham nhũng. Nhưng thời gian tới đây dân Việt cả Bắc Trung Nam sẽ chạy đâu cho thoát trước sự đầu độc có hệ thống này.

Một số nhà khoa học có lương tri lên tiếng rằng: Dù cho nước thảy công nghiệp có xử lý đúng tiêu chuẩn an toàn cũng sẽ không bao giờ bằng nguồn nước tự nhiên vốn có. Hơn thế nữa, thực trạng chế độ hiện hành cho thấy, dù hệ thống xử lý nước thải có hiện đại cỡ nào cũng chỉ là hệ thống bình phong mị dân, che cho các đường ống được lắp đặt với sự gật đầu của quyền lực tham nhũng xả thẳng chất độc ra môi trường.

Sau sự việc chế độ Hà Nội nhận tiền đền bù rồi ngó lơ không truy tố tập đoàn Formosa – Hà Tĩnh, dư luận cho rằng, ở Việt Nam, dưới chế độ hiện hành, ai cũng biết hệ thống chóp bu cầm quyền sống trên pháp luật của chính họ; nay lại có thêm một thành phần mới sống và làm ăn trên pháp luật, đó là các băng lợi ích sân sau của cán bộ cấp cao và các tập đoàn tư sản đỏ đa quốc tịch, mà nhiều nhất là quốc tịch Trung Quốc và các vùng lãnh thổ khác thuộc Trung Quốc.

Như vậy từ hạt cơm, cọng rau, con cá… cho đến các dự án công nghiệp đang được quyền lực tham nhũng cò con đến cấp cao bảo kê thì lấy đâu ra một tòa án nghiêm khắc dám xử lý.

Có người nói rằng đã lác đác vài vụ tịch thu, bỏ tù các thương buôn bán chất cấm trong nông nghiệp, thực phẩm… Nhưng người công bằng thì cho rằng chưa hề có vụ án đóng cửa khu công nghiệp, siêu nhà máy nào dù họ đã có bằng chứng phạm tội hủy hoại môi trường, đơn cử là Formosa hay trước đây là Vedan…

Thế nên, dư luận rành “luật chơi” của quyền lực tham nhũng nói với nhau rằng: Càng có nhiều con buôn hủy hoại môi trường thì cán bộ tham nhũng lớn ăn kiểu cá mập, cán bộ nhỏ ăn kiểu cá chốt, bọn nào cũng no nê cả.”

Không lạ khi dư luận khắp cả nước đều chung một nhận định về hệ thống cầm quyền Hà Nội hiện hành rất chính xác như sau: “Ở Việt Nam chỉ có một bộ duy nhất và bộ ấy có quyền lực bao trùm tất cả đấy là: Bộ tham nhũng!”

Những người yêu thích nhạc vàng ở Hà Nội xưa và nay

Những người yêu thích nhạc vàng ở Hà Nội xưa và nay

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-09-29
loc-vang-622.jpg

Ông Nguyễn Văn Lộc hát tình ca tại quán Cà Phê Lộc Vàng.

Hình do Ông Lộc Vàng cung cấp

Nhạc phẩm Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Đoàn Chuẩn Từ Linh, với tiếng hát của Nguyễn Văn Lộc hay Lộc Vàng, người một đời đam mê gắn bó với nhạc vàng từng bị cấm bị liệt vào dạng văn hóa đồi trụy ở miền Bắc và suốt hai thập niên sau 1975 ở miền Nam:

Tôi sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, bạn bè gọi tôi là Lộc Vàng vì ngày xưa tôi mê nhạc vàng, tôi hay hát nhạc vàng.

Nhạc vàng là dòng nhạc từ trước 1954, khi đất nước Việt Nam là một nước, thì những nhạc sĩ sáng tác những nốt nhạc những lời văn quí như vàng cho nên người ta gọi đó là nhạc vàng . Đấy là dòng nhạc trữ tình của Việt Nam, thí dụ như những tác phẩm của Văn Cao, Đoàn Chuẩn Từ Linh, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tý, Đặng Thế Phong, Châu Kỳ, và cả Phạm Duy nữa… mà người ta gọi là nền tân nhạc cũng là đúng.

Tù tội vì trót yêu nhạc vàng

Năm 1965, ba cậu thanh niên cùng mê nhạc vàng là Thành, Toán Xồm và Lộc Vàng gặp nhau:

Anh Toán nhiều tuổi hơn tôi, sinh năm 1932, còn anh Thành sinh năm 1944, hơn tôi một tuổi. Ba anh em đều thích đàn thích hát, tập trung với nhau thành một tốp 3 người đóng cửa hát ở trong nhà. Toàn hát nhạc tiền chiến ngày xưa thôi, bạn bè ai thích nghe thì đến. Cứ đóng của hát với bnhau, hát dấm hát dúi, hát không cho hàng xóm nghe. Bọn tôi thậm chí một bao thuốc lá một ấm trà có thể ngồi hát thâu đêm suốt sáng được.

Họ bảo bọn tôi phản động, tuyên truyền văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc, chống lại chính sách của nhà nước, phá hoại nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội.
-Nghệ sĩ Lộc Vàng

Bởi duyên nợ ba sinh với nhạc vàng, ông Lộc Vàng kể tiếp, năm 1968 cả 3 anh em Toán Xồm, Thành, Lộc Vàng bị bắt và bị nhốt tại Hòa Lò. Cho đến năm 1971 mới được mang ra xét xử tại tòa án thành phố Hà Nội:

Họ bảo bọn tôi phản động, tuyên truyền văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc, chống lại chính sách của nhà nước, phá hoại nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội.

Ngưởi ta cũng nghi là bọn tôi ăn lương ở trong miền Nam, tung tiền cho bọn tôi ăn chơi.

Kết quả, ông Toán Xồm bị kêu án 15 năm tù cộng 5 năm mất quyền công dân, ông Lộc Vàng 10 năm tù cộng 4 năm mất quyền công dân, ông Thành 5 năm tù và 3 năm mất quyền công dân. Năm 1973, sau khi Hà Nội ký kết Hiệp Định Paris thì cả 3 được giảm án:

Người ta giảm cho anh Toán Xồm 3 năm, tôi thì họ giảm 2 năm, anh Thành được giảm một năm rưỡi. Tức là trong văn bản Hiệp Định Paris 73 là Ủy Ban Quốc Tế có trách nhiệm giám sát đáp ứng tù nhân giữa hài miền nhưng miền Nam họ làm mà miền Bắc họ không làm, họ giảm án cho bọn tôi thôi chứ không cho Ủy Ban Quốc Tế giám sát. Cuối cùng tôi ở 8 năm tôi về, anh Toán Xồm 12 năm còn anh Thành ở 3 năm 6 tháng.

Buồn nhất và đau nhất không chỉ là những năm dài tù tội đối với những thanh niên trót yêu nhạc vàng mà còn là cái chết thương tâm của ông Toán Xồm, tên thật là Phan Thắng Toán

Anh Toán Xồm thì cuộc đời bi thảm nhất, sau khi về thì mất hết nhà cửa thề là anh ngủ vĩa hè và cuối cùng chết ở vĩa hè. Tấm ảnh chụp tôi châm thuốc lá cho anh tôi treo ở quán cà phê của tôi được nhiều người chụp đưa lên mạng. Sáng 30 tháng Tư 1994 anh Toán Xồm chết còng queo ở vĩa hè ngoài đường, anh được 62 tuổi.

Từ Paris, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả tập truyện Đêm Giữa Ban Ngày, cho Thanh Trúc biết ông Lộc Vàng là bạn tù của ông ở trại Phong Quang ngày trước.

Cái này thì nó buồn cười, nó phải xuất phát từ những cái đầu cực kỳ ngu xuẩn thì mới làm như vậy. Những người như anh Toán Xồm hay anh Lộc Vàng mà bị bắt lên và ở tù cùng với chúng tôi thì chúng tôi chỉ lấy làm lạ tại sao họ có thể làm một việc phi lý đến như vậy được mà lại có cả tòa án xử. Chứ còn như chúng tôi thì không có tòa án xử nà người ta cứ bỏ vào tù và khi nào hỏi là các anh đinh giam chúng tôi đến bao giờ thì họ chỉ tay lên trời nếu lúc đó đứng ở ngoài trời, còn nếu ở trong nhà thì họ chỉ tay lên trần, họ nói cái này là ở trên chứ chúng tôi không biết.

nguyen-van-loc-phan-thang-toan-400.jpg
Nghệ sĩ Lộc Vàng và người bạn cùng hát nhạc vàng Phan Thắng Toán ( đã chết).

Chuyện yêu và hát nhạc vàng đến phải đi tù như những người mang trọng án đã gây chấn động một thời ở Hà Nội. Nhạc sĩ tài danh Tô Hải, hiện đang sống ở Pháp, từng ghi lại chuyện nàytrong tác phẩm Hồi Ký Một Thàng Hèn của ông. Một nhà báo độc lập là ông Trần Ngọc Quang, từ Hà Nội vào sống ở Nha Trang, cho biết:

Nhạc vàng nó đi vào lòng người Việt Nam. Bọn tôi lúc trẻ bắt đầu vào đại học thì vụ của anh Lộc Vàng đã ầm ĩ cả lên rồi. Suy ra thì một chế độ mà cứ theo cái quan niệm tuyên truyền rằng những bài hát đi vào lòng người như vậy thì nó ảnh hưởng đến ý chí chiến đấu của những người cộng sản thì đấy là quan điểm phiến diện của họ, không thể nào hội nhập với ý thức của nhân loại.

Cuốn Hồi Ký Một Thằng Hèn của anh Tô Hải nhắc lại vụ án như vậy bởi nó hằn sâu trong ký ức của mỗi người Việt. Cho nên lịch sử Việt Nam hiện đại là một lịch sử đau thương nhục nhã bởi cái lề thói nắm quyền của một chế độ mà người ta coi đấy là quyền năng vô hạn.

Cà phê Lộc Vàng ra đời

Thế rồi, từ những qui định ngặt nghèo và những cấm đoán khắc khe như tận diệt văn hóa đồi trụy, tiêu hủy tàn du đế quốc, giữa thập niên 90 trở về sau nhạc vàng gần như được cởi trói, và giữa lòng Hà Nội, bên cạnh một số quán cà phê hiếm hoi mang dư vị nhạc tiền chiến, quán Lộc Vàng ven Hồ Tây cũng góp mặt một cách khiêm tốn nhưng bền bỉ.

Tại đây, mỗi tối thứ Ba, thứ Năm và thứ Bảy, người từng bị tù 46 năm xưa, nay là nghệ sĩ Lộc Vàng với mái tóc ngã màu năm tháng, đêm đêm say đắm mà trang trọng thả hồn và trải từng lời ca đẹp như thơ như mơ vào lòng người thưởng ngoạn. Những bài ca ngày xưa, những tiếng hát bây giờ ở Cà Phê Lộc Vàng gợi nhớ một thời thanh xuân lãng mạn trước chiến tranh, khiến người thưởng thức suy gẫm về giá trị của dòng nhạc mà ông Lộc Vàng cho là đã ngấm vào máu của ông và bằng hữu:

Sau 75 thì tất cả những băng đĩa miền Nam tràn ngập ra ngoài Bắc và mãi đến năm 97 nhà nước Việt Nam này mới khôi phục, ca ngợi, tôn vinh dòng nhạc đó. Cho đến ngày hôm nay chính bản thân dòng nhạc vàng đó nhà nước người ta gọi là nhạc tiền chiến và người ta còn bảo là di sản văn hóa của dân tộc.

Tất cả những thứ đó nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng tình cảm, nuôi dưỡng trí tuệ, nuôi dưỡng tình người của bọn tôi mà tôi có được như ngày hôm nay.

Nhưng đó là sau nhiều lần mở quán cà phê hát nhạc vàng mà bị cấm cản thì cuối cùng Cà Phê Lộc Vàng mới ra đời và trụ được tám năm ở một Hà Nội đang phát triển một cách hối hả. Nghệ sĩ Lộc Vàng chia sẻ:

Sau 75 thì tất cả những băng đĩa miền Nam tràn ngập ra ngoài Bắc và mãi đến năm 97 nhà nước Việt Nam này mới khôi phục, ca ngợi, tôn vinh dòng nhạc đó. Cho đến ngày hôm nay chính bản thân dòng nhạc vàng đó nhà nước người ta gọi là nhạc tiền chiến và người ta còn bảo là di sản văn hóa của dân tộc.
-Nghệ sĩ Lộc Vàng

Tôi mở quán cà phê không phải lần thứ nhất mà lần này là lần thứ tư. Năm 91 tôi mở một quán, 94 mở một quán, 97 mở một quán, ba lần đều mất trắng hết, không có giấy phép của nhà nước. Cuối cùng, đến 2008, tôi quyết tâm gây dựng lên một quán cà phê đẹp ở Hồ Tây. Thời điểm này nhà nước bung ra, nhạc tiền chiến được ca ngợi, tôi mới tồn tại được 8 năm trời.

Nhưng trong 8 năm này tôi lỗ vốn hàng mấy tỷ đồng, tôi bán sạch hết nhà cửa, tôi chấp nhận bù lỗ để mở một quán cà phê. Tôi gây dựng lại nền tân nhạc Việt Nam cũng chỉ vì mê hát, tôi mở quán ra để tôi được hát cho những người yêu thích dòng nhạc xưa đến quán tôi thưởng thức. Tôi hát và tôi bảo vệ đúng gốc của những bản nhạc đó.

Sức cuốn hút của quán Cà Phê Lộc Vàng như thế nào được chủ nhân của nó trình bày như sau:

Dòng nhạc này là dòng nhạc trí thức của người Việt Nam. Người già bản thân đã có tâm hồn và trí tuệ và yêu thích dòng nhạc này thì không nói làm gì thì không nói làm gì. Còn lớp trẻ, tôi bảo những người trẻ đã đến quan tôi, đã tìm và đã hiểu được những lời văn sâu sắc, những nét nhạc mượt mà và những tình cảm chứa đọng của con người… Những lớp trẻ đó tôi đánh giá là có trí thức,có ý thức, có tâm hồn. Bây giờ các cháu đến tìm hiểu nhiều lắm.

Còn trẻ mà thấm thía và say mê nhạc vàng để rồi trở thành người chuyên hát nhạc vàng thì không ai hơn được Hồng Hải, hiện là ca sĩ thường trực của Cà Phê Lộc Vàng:

Hồng Hải sinh năm 78, sinh ra thì đã hết chiến tranh rồi. Hồng Hải đi hát từ lúc nhỏ, sinh hoạt ở Khu Văn Hóa. Năm 17 tuổi thì hình như nghe và hát dòng nhạc vàng trữ tình này thì tự nhiên nghe thấm thía lắm, nó cứ ngấm vào trong máu của mình thôi, và cứ thế là theo đuổi là hát dòng nhạc này thôi. Cộng theo với cả biết chú Lộc, biết về cuộc đời của chú, cùng hát với chú ở trên quán thì cũng ảnh hưởng những ca khúc mà ở lứa tuổi Hồng Hải thì không thể biết được.

Tất cả những ca khúc mà ngày xưa bị cấm thì bây giờ đang hát trên truyền hình. Những ca khúc này đi vào tình yêu đời sống của từng người một. đời sống, Theo như cá nhân Hồng Hải nghĩ thì chắc là do thời cuộc, do vì đất nước hai miền chia cách rồi là chiến tranh cho nên có thể hát những ca khúc này thì nó làm chùng lòng xuống. Thời bây giờ thì không đúng rồi, đấy là theo như những người trẻ như Hồng Hải cảm nhận như thế.

Theo nhận xét của Hồng Hải, khách đến Cà Phê Lộc Vàng khá là đa dạng, người lớn tuổi đương nhiên là đông mà người trẻ cũng không thiếu, đặc biệt có cả những người xa xứ về thăm quê hương và kể cả người ngoại quốc. Điều này được ông Lộc Vàng xác nhận:

Có những người khách quốc tế tôi hỏi người ta thì người ta bảo người ta không biết tiếng nhưng mà nghe giai điệu người ta thích. Thì cũng giống như tôi nghe nhạc Mỹ, tôi có biết tiếng Mỹ đâu, thế nhưng nghe giai điệu, nghe ca sĩ hát hay là tôi vẫn mê.

Ông Lê Đắc Long, khách quen thuộc của quàn Cà Phê Lộc Vàng, nói rằng ông thích không khí văn nghệ đầm ấm và thân mật của quán cà phê cũng như đồng cảm với tình yêu mà ông Lộc Vàng dành cho nhạc vàng:

Dòng nhạc này tôi thích từ xưa chứ không phải vì tôi là người Hà Nội mà tôi thích. Cùng một ý cùng sở thích là thích chứ không phải cứ người Hà Nội mới thích đâu.

Quán của anh Lộc là môt quán bình thường ở Hà Nội, chúng tôi đến quán vì chúng tôi thích nghe lời những bài hát. Bọn tôi trong xã hội chủ nghĩa thì được đào tạo như nhau nhưng mà con người vẫn là con người. Tôi may mắn là vợ cũng thích nghe những dòng nhạc này, mình cảm tưởng có mình trong đó, có vợ mình ngày xưa yêu đương như thế nào. Chứ còn nói xin lỗi nhạc cộng sản tôi không bao giờ nghe. Chúng tôi thích những cái về tâm hồn, về những vui buồn sướng khổ đúng tâm hồn của mình. Cứ rỗi tối nào thì vợ chồng tôi lên đây, uống cà phê là phụ nhưng gặp bạn bè, gặp anh em rồi nghe nhạc là chính.

Quí vị có đồng ý với Thanh Trúc là có những người, dẫu ít ỏi như ông Lộc Vàng hôm nay, không chỉ nhờ giọng ca để có thể say sưa hát ngày nay qua ngày khác những nhạc phẩm lừng danh của những Đoàn Chuẩn Từ Linh, Văn Cao, Nguyễn Thế Phong, Nguyễn Văn Khánh, Phạm Duy, mà còn làm cho những ca từ tuyệt vời của các nhạc sĩ lừng danh đó bay cao, bay xa và thăng hoa trong cảm xúc rất đổi chân thật và rất đời.

Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí vị thứ Năm tuần tới.