Đức Giáo hoàng Phanxicô viết thư cho một bé gái ung thư đang hấp hối

Đức Giáo hoàng Phanxicô viết thư cho một bé gái ung thư đang hấp hối

Đức Giáo hoàng Phanxicô – EPA

 

Vatican City – “Paolina thương mến, tấm hình của con đang ở trên bàn của cha, bởi vì trong ánh nhìn rất đặc biệt của con, cha nhìn thấy ánh sáng của điều tốt lành và ngây thơ vô tội. Cám ơn con đã gửi chúng cho cha!” Một lần nữa, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chiếm được các con tim với lá thư trào dâng nước mắt gửi cho một bé gái người ý đang hấp hối vì bệnh ung thư.

Bức thư đề ngày 22/09, được gửi cho bé Paolina Libraro, 10 tuổi, đang bị ung thư. Mẹ của bé Paolina đã viết thư cho Đức Giáo hoàng xin ngài chúc lành và cầu nguyện cho con gái. Ngài đã  gửi thư trả lời với một vé đặc biệt để tham dự ngày yết kiến chung vào ngày 26/10 mà ngài sẽ có thể chúc lành trực tiếp cho bé Paolina.  Nhưng thật buồn là lúc đó bé Paolina đã quá yếu và không thể đi từ Massafra, một thành phố ở đông nam nước Ý để đến Vatican. Và bé Paolina đã về với Chúa vào ngày 22 tháng 11 và được chôn cất trong ngày.

Trong Thánh lễ an táng của bé Paolina tại nhà thờ thánh Leopold Mandic với sự tham dự của hầu như toàn thành phố nơi em ở, có cả vị thị trưởng thành phố, cha chủ tế Michele Quaranta đã đọc lá thư của Đức Giáo hoàng, trong đó ngài khẳng định là ngài nắm tay ngài với em và với những ai cầu nguyện cho em. Ngài nói: “Bằng cách này chúng ta sẽ làm thành một sợi dây xích dài, cha chắc chắn, sẽ đụng đến trời.” Ngài cũng nhắc Paolina nhớ rằng “mối xích đầu tiên của sợi xích này là con, bởi vì con có Chúa Giêsu trong tim con. Hãy nhớ điều đó!”. Ngài còn bảo Paolina hãy nói với Chúa Giêsu không chỉ về em nhưng về cha mẹ em, “những người cần được giúp đỡ và an ủi rất nhiều trước những bước khó khăn mà họ đang gặp.”

Đức Giáo hoàng còn nói: “Chắn chắn con sẽ rất tốt để đề nghị Chúa Giêsu những điều cần làm cho họ” và ngài yêu cầu Paolina thưa với Chúa Giêsu những gì Chúa cũng cần làm cho ngài trong khi ngài nhắc Chúa điều Chúa cần làm cho Paolina.

Cuối thư, Đức Giáo hoàng nói: “Cha ôm con và chúc lành cho con với trọn trái tim cha, với cha mẹ và những người thân yêu của con.” Chính tay ngài đã ký lá thư. (CNA 03/12/2016)

Hồng Thủy

Những đặc tính truyền thống cơ bản của Nền Giáo Dục ở Miền Nam thời trước Năm 1975

Nhân vụ các cô giáo tỉnh Hà Tĩnh bị ép “tiếp khách, rót rượu, hát karaoke cho quan chức tỉnh”, nhìn lại những đặc tính truyền thống cơ bản của Nền Giáo Dục ở Miền Nam thời trước Năm 1975

Phạm Cao Dương (Danlambao) – …Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ “phá sản” để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác còn tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975…
*
Bồng bồng mẹ bế con sang, 
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
(Ca dao Việt Nam)
 
“Tôi muốn thấy có sự kính trọng trong một trường học. Ông thầy tới, học trò phải nghiêm chỉnh đứng dậy chào thầy…” Nicolas Sarkozy, khi tranh cử Tổng Thống Pháp.
(Từ Nguyên, “Tựu Trường 2006”, Báo Người Việt, 10 tháng 9, 2006)
*
Một người bạn mới về thăm Việt Nam trở lại Mỹ trước ngày Lễ Tạ Ơn 2016 ít ngày cho biết rất nhiều người trong nước hiện tại đã đánh giá cao nền giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975; riêng bà con ở Miền Nam lại lấy làm hãnh diện là đã được đào tạo bởi nền giáo dục ấy, trong những học đường Miền Nam và bởi các thầy cô Miền Nam.
Bạn tôi là một nhà nghiên cứu. Anh đã khách quan kể lại không thêm bớt. Sau đó dư luận lại ồn ào về chuyện xảy ra ở trong nước: 21 cô giáo ở Thị Xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh bị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh ép phải “tiếp khách, rót rượu, hát karaoke” cho quan khách. Chưa hết, các nạn nhân lại còn bị vị Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, ông Phùng Xuân Nhạ, thay vì bênh vực cho những nhân viên thấp cổ bé miệng nhất của bộ mình, trước sự bắt nạt của những ông vua con ở các địa phương, lại công khai trách cứ họ là không biết phản đối, khiến dư luận trong và ngoài nước vô cùng phẫn nộ, nhiều người lấy làm tủi hổ.
Việc làm của các quan chức Cộng Sản tỉnh Hà Tĩnh này phải nói là chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn luôn hãnh diện tự coi mình là có nhiều ngàn năm văn hiến.
Nhân dịp này, tôi xin được cùng bạn đọc ôn lại những ưu điểm qua một số những đặc tính cơ bản của sinh hoạt giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975 nói riêng và văn hóa miền Nam nói chung, chính yếu là sự liên tục lịch sử. Nói như vậy không phải là trong thời gian này miền đất của tự do và nhân bản mà những người Quốc Gia còn giữ được không phải là không trải qua nhiều xáo trộn. Chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác luôn luôn tồn tại và có những thời điểm người ta nói tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng. Nhưng ngoại trừ những gì liên hệ tới chế độ chính trị, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn diễn ra một cách bình thường, người nào việc nấy, người nào trách nhiệm nấy và được tôn trọng hay tôn trọng lẫn nhau. Sự liên tục lịch sử do đó đã có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt giáo dục.
Trong bài này tôi chỉ nói tới tới giáo dục và giáo dục công lập. Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, và tất nhiên là không đầy đủ. Đồng thời mỗi người có thể có phần riêng của mình. Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết.
Giáo dục và người làm giáo dục
Giáo dục công lập ở Việt Nam đã có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, tới một mức độ nào đó định chế này đã tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung. Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học cả. Có điều coi trọng thì coi trọng, các vua Việt Nam, nói riêng và các triều đình Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư ở rải rác khắp trong nước. Sinh hoạt này hoàn toàn do các thày ở các trường do các tư nhân đảm trách. Giáo dục là của người dân và của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, những nguyên tắc căn bản của giới này. Sang thời Pháp, do nhu cầu bảo vệ và phát triển văn minh và văn hóa của họ, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức và yêu mến nghề dạy học dù chỉ là tạm thời về phía người Pháp cũng như về phía người Việt. Họ mở các trường sư phạm để huấn luyện giáo chức chuyện nghiệp.
Đặc tính kể trên đã liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của Cựu Hoàng Bảo Đại. Chức vụ Bộ trưởng hay Tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như đổng lý văn phòng, chánh văn phòng, bí thư tức thư ký riêng của Bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong bộ, từ Thứ trưởng, Tổng thư ký, Tổng giám đốc, Giám đốc cho tới các Hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các Giáo sư, Giáo viên, đều là những nhà giáo chuyên nghiệp, không có đại diện đảng phái chính trị ở bên cạnh.
Lý do rất đơn giản: họ là những người vô tư, biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề. Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc, hay ít ra là của những thế hệ tới mới, là quan trọng. Trong phạm vi lập pháp, rõ hơn là ở Quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban, dù là Thượng viện hay Hạ viện đều do các Nghị sĩ hay Dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đã ngưng lại trước ngưỡng cửa của học đường. Thày cô giáo là nhân viên của Bộ giáo dục, do Bộ giáo dục bổ nhiệm, trực thuộc vị Hiệu trưởng của trường sở tại, rồi các nha sở của bộ giáo dục ở trung ương chứ không trực thuộc các Quận hay Tỉnh trưởng.
Về tên các trường, tất cả các trường trung, tiểu học đều được gọi bằng tên của các danh nhân hay anh hùng dân tộc thời trước, được mọi người công nhận, Trưng Vương, Ngô Quyền, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Gia Long, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Lê Ngọc Hân,… không hề có tên nào là của các lãnh tụ đương thời dù đó là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, kể cả Trần Văn Hương gốc nhà giáo… thay vì những tên hoàn toàn xa lạ đối với quảng đại quần chúng Miền Nam về sau này như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám…, những người của một đảng chính trị hay, tệ hơn nữa, là ngụy tạo, không có thật.
Tôn chỉ – mục đích – quốc gia – dân tộc và con người
Nói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ý không thích ba nguyên tắc này. Lý do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là vì ba nguyên tắc này phần nào đã được người Cộng Sản Việt Nam nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ. Ba nguyên tắc đó là Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học.
Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này vì dù không thích, không đồng ý, ba nguyên tắc Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng này vẫn đã trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam mà không ai lưu tâm tới vấn đề là không biết. Chúng đã giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những gì của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời… Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được, phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc. Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng giáo. Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Ký sau đây là một trường hợp điển hình:
Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâm.
Sự khủng hoảng hiện tại của nền giáo dục ở trong nước là do ở sự thiếu những yếu tố chỉ đạo này. Điều này đã được thấy rõ qua sự vô cùng lúng túng của ông Vũ Đức Đam, đương kim Phó Thủ Tướng, đặc trách văn hóa, xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo trong một buổi điều trần trước Quốc hội và bị hỏi câu hỏi là “có hay không một triết lý giáo dục Việt Nam?” Điều khiến cho người ta ngạc nhiên là không lẽ là một cán bộ ở cấp cao chuyên lo về văn hóa, như vậy, ông lại không biết tới Đề Cương Văn Hóa 1943 của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong đó ba nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cho các vận dụng văn hóa, nói chung, văn học và giáo dục… nói riêng, là: dân tộc hóa, đại chúng hóa, và khoa học hóa đã được nêu cao hay sao? Không lẽ ba nguyên tắc này đã trở thành lạc hậu trong tình thế mới, trước quyền hành và quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam?
Liên tục trong phạm vi nhân sự
Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Tôi muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng cho mình và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học hãnh diện với vai trò làm thầy, làm cô của mình, dù đó là sư phạm Tiểu học hay sư phạm Trung học. Một nghề bị coi là “bạc nghệ”, là bị xếp sau so với các nghề khác:
Dưa leo ăn với cá kèo,
Cha mẹ anh nghèo, anh học noọc-man. (nghề Thầy giáo, theo hệ thống giáo dục Pháp xưa)
Tất cả các vị này vẫn còn nguyên vẹn khi đất nước bị qua phân và đã ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa, không mấy người tập kết ra Bắc.
Sau khi đất nước bị chia cắt và qua cuộc di cư của non một triệu người từ miền Bắc vô Nam, họ lại được tăng cường thêm bởi một số đông các đồng nghiệp của họ từ miền Bắc vô cùng với các trường được gọi là Bắc Việt di chuyển: Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục… Tất cả đã cùng nhau hướng dẫn và điều hành các học đường miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập, đồng thời cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới.
Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp, cho phép học trò ngồi, tới cách viết bảng và xóa bảng, cách chấm bài hay phê bài, các vị này đã để toát ra một sự chừng mực và vô cùng thận trọng của những nhà sư phạm nhà nghề, khác hẳn với một số các đồng nghiệp của họ từ ngoại quốc về chỉ lo dạy các môn học chuyên môn. Học đường do đó đã tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập. Nhiều vị vào những lúc tình thế vô cùng tế nhị đã giữ được thế vô tư và độc lập, nghiêm chỉnh của học đường và tư cách của giáo chức. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn còn có mặt ở các học đường, đặc biệt là các Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn và Huế như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Giác, Cử Nhân Thẩm Quỳnh, Tú Tài Kép Vũ Huy Chiểu… mà không ai là không quý trọng.
Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của Chương Trình Pháp và Chương Trình Hoàng Xuân Hãn, Phan Huy Quát
Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những gì người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà còn được thận trọng giữ gìn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc. Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đã biết phân định những gì là kìm kẹp và những gì là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại, thay vì cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối tiếc. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đã tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định. Những gì gọi là cách mạng vội vã, nhất thời dường như không được chấp nhận. Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ đã trở nên rất mạnh.
Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đã tồn tại dưới hình thức Việt hóa bắt đầu từ thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, với chương trình Hoàng Xuân Hãn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời, sau này là Phan Huy Quát thời Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập. Nó cho phép người ta, từ thầy đến trò, dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc. Ngay từ cuối niên học 1944-1945, trong rất nhiều khó khăn, từ giao thông, vận chuyển đến thông tin, liên lạc, người ta đã tổ chức được những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại. Điều nên nhớ là Chính Phủ Trần Trong Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng hay hơn một trăm ngày, vô cùng ngắn ngủi, với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn. Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đã không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp, hệ thống học và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Nhật… vì đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế.
Duy trì mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người quốc gia. Điển hình là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đã được không những các thày mà luôn cả các trò sử dụng làm tài liệu hay để tự học. Trong phạm vi văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đã được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đã được soạn thảo. Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở. Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đã được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công trình của họ thay vì gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay vì căn cứ vào chuyện họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này. Tô Hoài, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… là những trường hợp điển hình.
Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy trì, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài. Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đã bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương trình viện trợ khiến cho nhiều người Mỹ đã tỏ vẻ bất bình. Hình thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đã đón nhận nó với những nhận định khác nhau. Tiếc rằng chỉ vài năm sau Miền Nam đã không còn nữa.
Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng gì quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hãy còn chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà còn luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa. Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đã luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đã tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho mình hay biết khôn ngoan né tránh cho mình và cho các đồng nghiệp của mình khi phải lãnh nhiệm vụ ở những vùng xa thủ đô Sài Gòn, an ninh và giao thông không bảo đảm.
Nên nhớ là trong thờ gian này hệ thống trung ương tập quyền vẫn còn tồn tại. Ra đề thi, in đề thi và gửi đề thi về địa phương với tất cả sự bảo mật cần thiết là vô cùng khó khăn, tế nhị và phức tạp. Về phía chính quyền thì từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp. Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh phui mọi chuyện.
 
Xã hội tôn trọng sự học và những người có học
Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xã hội Miền Nam nói chung và nền giáo dục Miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đã được biểu lộ không riêng qua tinh thần tôn sư trọng đạo mà còn được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị. Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị. Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc. Người làm công tác giáo dục được tôn trọng và từ đó có được những điều kiện ít ra là về phương diện tinh thần để thực thi sứ mạng của mình mà những người làm chánh trị, những nhà chủ trương cách mạng, kể cả những người cấp tiến nhất cũng phải kiêng nể. Nhưng bù lại, người ta lại trông đợi rất nhiều ở các người làm công tác giáo dục, ở đây là các thày, cô. Giữa những người cùng làm công tác dạy học cũng vậy, tất cả đã tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng các bậc tôn trưởng, kể cả những người đã khuất.
Sự thiết lập những bàn thờ tiên sư ở các trường trung học Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho và Phan Thanh Giản ở Cần Thơ phải được kể là tiêu biểu cho tinh thần giáo dục của miền Nam. Đối với các phụ huynh học sinh, sự trông đợi các thày nhiều khi qua mức, ngày nay khó ai có thể nghĩ được điển hình là chuyện “giáo sư mà cũng ăn phở”. Câu chuyện do một vị giáo sư từ Bắc vô Nam sau Hiệp Định Genève và được cử xuống Mỹ Tho chấm thi tú tài kể lại. Buổi sáng, các thày rủ nhau đi ăn phở trước khi nhập trường. Ở tiệm phở, ông nghe người địa phương thầm thì “giáo sư mà cũng ăn phở”. Nên nhớ là Mỹ Tho là một tỉnh nhỏ và hồi giữa thập niên 1950, bằng tú tài là to lắm rồi trong khi các vị giáo sư này lại là giám khảo chấm thi tú tài lận!
Tạm thời kết luận
Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ “phá sản” để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác còn tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975.
Ở đây, như đã nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản liên hệ tới nền giáo dục ở Miền Nam thời truớc năm 1975. Một công trình nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn còn cần phải được thực hiện trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này. Tuy nhiên có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm cách mạng. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác trong đó có giáo dục một cách máy móc, không thận trọng. Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và là một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm. Có điều vì bằng kinh nghiệm nên khi biết được là sai lầm thì đã quá muộn. Những gì thuộc về quá khứ, kể cả quá khứ bị coi là phong kiến, lạc hậu không phải là luôn luôn tệ hại, là cổ hủ và những gì được coi là canh tân, đổi mới không phải luôn luôn là tốt đẹp. Tất cả cần phải có thời gian để “gạn đục, khơi trong”. Duy có một điều không bao giờ thay đổi là: khi giáo dục không còn được coi là một giá trị và khi các thày cô không còn được coi trọng thì xã hội sẽ không còn là xã hội của loài người nữa.
Trở về với thực tế trước mắt, với vụ 21 cô giáo ở Thị Xã Hồng Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, nhiều người tự hỏi nếu các cô không được chính Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cơ quan trực tiếp phải lo cho đời sống và điều kiện hành nghề của các cô bênh vực, thì nghiệp đoàn giáo chức của các cô ở đâu? Tự hỏi nhưng ai cũng biết là ở Việt Nam hiện tại làm gì có nghiệp đoàn vì các luật về lập hội, lập nghiệp đoàn, biểu tình vẫn chưa được Quốc Hội đem ra thảo luận.
Tưởng cũng nên nhớ là ngay từ thời Vua Bảo Đại, qua Chính Phủ Trần Trọng Kim, các đạo Dụ về tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập nghiệp đoàn đã được ban hành ngay từ Tháng Bảy năm 1945. Tất cả đã xảy ra trong một tuần lễ đầu tháng Bảy khiến cho báo chí đương thời đã mệnh danh tuần lễ này là Tuần Lễ Của Các Tự Do. Nhưng chỉ chưa tới ba tuần lễ sau ngày tuyên bố nền độc lập và thành lập Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ngày 22 tháng 9 năm 1945, bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Việt Nam. Đồng thời Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp đã ký nghị định giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức và cho Hội Văn Hóa Cứu Quốc tư cách pháp nhân. Trong khi đó, ở các nước tiền tiến, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, các nghiệp đoàn giáo chức rất mạnh và được phía chính quyền kính nể. Tương lai của các giáo chức Việt Nam, nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam, nói chung, quả thật không có gì sáng sủa.
(*) DLB: Tác giả là một GS, Tiến sỹ Lịch sử đã nghỉ hưu.

Tranh nhau xẻo thịt trâu chết ngay trên quốc lộ

Tranh nhau xẻo thịt trâu chết ngay trên quốc lộ

Nguoi-viet.com

Nhiều người dân tranh nhau xẻ thịt trâu ngay giữa quốc lộ. (Hình: báo Thanh Niên)

BÌNH DƯƠNG (NV) – Một đoạn clip ghi lại cảnh người dân “hôi của” tranh nhau xẻo thịt trâu bị xe đụng chết ngay giữa đường khiến dư luận bất bình, ngán ngẩm.

Theo báo Thanh Niên, vào ngày 5 tháng 12, trên mạng xã hội Facebook “lan truyền chóng mặt” đoạn clip ghi lại cảnh một số người dân lao ra giữa đường quốc lộ để tranh nhau “hôi của” xẻo thịt một con trâu vừa bị xe tải đụng chết.

Nói với phóng viên Thanh Niên, ngày 6 tháng 12, ông Hồ Quang Thành, phó trưởng công an thị xã Thuận An xác nhận có nhận được tin báo có một nhóm người “hôi của” đang tranh nhau xẻo lấy thịt trâu trên đường Mỹ Phước Tân Vạn, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An.

Sau đó, công an tới hiện trường thì con trâu đã bị xẻo lấy hết thịt và xương. Công an đã xác định được chủ của con trâu nhưng chưa thể xác định được những người tranh nhau xẻo lấy thịt trâu.

Theo ông Thành, có thể do con trâu bị xe tải qua lại đụng phải và chết lúc rạng sáng nhưng không có chủ đến nhận, sau đó những người qua đường xẻ lấy thịt. Vụ việc được người dân quay lại clip rồi tung lên mạng xã hội. (Tr.N)

Tốn 128 tỷ đồng nạo vét Hồ Tây nhưng ‘không thấy bùn’

Tốn 128 tỷ đồng nạo vét Hồ Tây nhưng ‘không thấy bùn’

Nguoi-viet.com

Hồi tháng 10 vừa qua, hàng trăm tấn cá ở Hồ Tây bị chết do lòng hồ ô nhiễm “thiếu oxy.” (Hình: Thanh Niên)

HÀ NỘI (NV) – Ðể hút 1.2 triệu khối bùn ở Hồ Tây, các nhà khảo sát đưa ra số tiền từ 170-180 tỷ đồng và trong 4 năm qua Ban Quản lý Hồ Tây đã chi hết 128 tỷ đồng nhưng không thấy một khối bùn nào.

Chiều 5 tháng 12, trong cuộc họp về tình hình kinh tế-xã hội của hội đồng thành phố Hà Nội, sau khi ông Nguyễn Văn Thắng, bí thư quận Tây Hồ kiến nghị cho rằng, trong kế hoạch của thành phố Hà Nội, Hồ Tây được xác định là điểm đến du lịch. Ðể tạo cảnh quan, Hà Nội cũng đã đầu tư thực hiện cải tạo, xây dựng xong 18 cây số xung quanh Hồ Tây.

“Thành phố đã đầu tư rồi, chỉ cần hơn 100 tỷ đồng nữa là xong. Còn nếu cứ để như vậy thì không thể khai thác được,” ông Thắng nói và cho biết, hiện các hộ dân trong khu vực đã đồng thuận với việc giải tỏa mặt bằng phục vụ dự án.

Trả lời ông Thắng, ông Nguyễn Ðức Chung, chủ tịch ủy ban thành phố Hà Nội cho biết, trực tiếp kiểm tra lại và nhận thấy từ năm 2011 đến nay quận Tây Hồ đã thực hiện 4 dự án nạo vét Hồ Tây có tổng vốn đầu tư khoảng 128 tỷ đồng, trong đó có gói thầu liên quan đến nạo vét ở khu vực đường Thanh Niên hơn 33 tỷ chưa được thực hiện.

Thế nhưng, sau sự cố cá chết, ban cán sự ủy ban Hà Nội đã mời một số công ty tư vấn trong và ngoài nước khảo sát Hồ Tây. Theo con số khảo sát của 3 công ty độc lập, nếu muốn làm sạch Hồ Tây, phải nạo vét khoảng 1.2 triệu khối bùn, bởi ở Hồ Tây có những khu vực hiện nay chỉ còn sâu 0.5 mét nước và bùn sâu 1.7 mét… Muốn biến Hồ Tây thành khu du lịch trong tương lai của thành phố phải có kế hoạch tổng thể.

“Với những lý do như vậy, thành phố không thể bố trí vốn cho Ban Quản Lý Hồ Tây được. Ðể hút 1.2 triệu khối bùn, các nhà khảo sát đưa ra số tiền từ 170-180 tỷ đồng, thế nhưng trong 4 năm vừa qua, Ban Quản lý Hồ Tây chi hết 128 tỷ đồng nhưng tôi không thấy một khối bùn ở đâu cả,” ông Chung buộc miệng tiết lộ.

Tại hội trường, ông Chung đề nghị ông Thắng giải thích cho cử tri quận Tây Hồ biết được chủ trương của thành phố là giao cho Sở Xây Dựng Hà Nội khởi động làm lại tổng thể dự án ở Hồ Tây. (Tr.N)

Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên bị thu thẻ nhà báo

Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên bị thu thẻ nhà báo

Sản xuất nước mắm

GETTY

Thông tin sai sự thật về nước mắm có thạch tín đã ảnh hưởng đến nước mắm truyền thống

Phó TBT báo Thanh Niên Đặng Việt Hoa bị Bộ Thông tin Truyền thông thu thẻ nhà báo sau khi báo này bị phạt nặng vì “thông tin sai về nước mắm”.

Theo quyết định số 2184/QĐ-BTTTT được Bộ Trưởng Trương Minh Tuấn ký ngày 5/12, ông Đặng Việt Hoa (tên thật là Đặng Ngọc Hoa) bị thu thẻ nhà báo vì đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo.

Nguyên Ủy viên Ban Biên tập, Tổng thư ký tòa soạn Võ Văn Khối cũng bị thu thẻ nhà báo theo quyết định số 2185/QĐ-BTTTT ký cùng ngày.

Ông Khối trước đó đã bị xử lý kỷ luật cách chức.

Báo Thanh Niên hôm 21/11 cùng 49 cơ quan báo chí khác đã bị xử phạt hành chính trong vụ điều tra “các cơ quan báo chí đăng thông tin sai sự thật về việc nước mắm có hàm lượng thạch tín vượt ngưỡng quy định”.

Báo này bị phạt mức cao nhất là 200 triệu đồng.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam lúc đó nói Báo Thanh Niên, và sau đó là Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas), vào tháng 10 đã công bố thông tin “mập mờ” về tỷ lệ nhiễm thạch tín trong nước mắm, không giải thích loại nào là độc hại, loại nào là không độc hại.

Từ hai nguồn này, hàng chục cơ quan báo chí Việt Nam đã đăng “170 tin, bài công bố kết quả khảo sát có nội dung sai sự thật từ báo Thanh Niên và Vinastas”.

Báo Thanh Niên trước đó đã đăng lời cáo lỗi và gỡ bỏ 5 bài viết về nước mắm ra khỏi trang mạng của họ.

XÃ HỘI DỐI TRÁ.

From facebook: Hằng Lê

 XÃ HỘI DỐI TRÁ.

Xã hội Vn, một xã hội dối trá và luôn luôn duy trì sự dối trá. Ngành GD nhà nước csVn đưa sự dối trá vào nhà trường nhồi sọ học sinh.

Nào anh hùng Lê Văn Tám tẩm xăng vào người đốt cháy rồi chạy vào kho xăng cả hàng trăm mét; Anh hùng Kpă Klơng 13 tuổi bắn 3 viên đạn hạ 7 tên giặc, bắn tiếp 7 viên giết trọn 19 tên giặc, mới 13 tuổi đầu mà đã giết 80 tên giặc, phá hủy 12 xe tăng…; Nào dùng rìu chém rớt trực thăng… Rồi Ong cũng đánh Mỹ, Trâu cũng đánh Mỹ…

Toàn những chuyện phản khoa học, vậy mà nhà trường dạy cho học sinh được mới tài chứ! Thử hỏi 7 viên đạn làm sao bắn chết 19 người? (Cho dù anh bắt người ta sắp hàng đi nữa)? Toàn những chuyện hoang tưởng của những người làm cách mạng ngu dốt!

Anh nhà báo Phùng Hiệu – Quyền đại diện báo Nhà báo & Công luận (Cơ quan TW Hội nhà báo Việt Nam), đã bị thu thẻ, mất chức vì viết trên FB cá nhân nội dung (như trong hình dưới). Chỉ có vậy thôi mà chính quyền ghép tội anh bôi nhọ lãnh tụ (?) Có nghĩa là họ (nhà cầm quyền) không muốn nói lên SỰ THẬT mà phải ca ngợi ông Fidel, vì ông là lãnh tụ cộng sản. Mà lãnh tụ cộng sản thì phải được ca ngợi, cho dù trong nửa thế kỷ cầm quyền ông ta ngửa tay xin gạo khắp nơi, mà xin ở cả nước có công dân chết đói mới đáng lên án!

Chính quyền csVn buộc mọi người tôn vinh ông là lãnh tụ vĩ đại, là người chiến sĩ cách mạng tiên phong. (sic!) Cứ nhìn vào đất nước Cuba nghèo nàn, xin gạo cứu đói quanh năm đủ biết trình của ông đến đâu rồi, cần gì phải nói nhiều!

Trước kia, Chính quyền bắt dân kêu tổng thống Mỹ là thằng Kenedy, thằng Rigan, thằng Diệm, thằng Thiệu…Thậm chí có mấy tên sĩ quan quân đội đặt tên chó nuôi là Diệm, là Thiệu.. thì có xúc phạm lãnh tụ không? Anh nhà báo Phùng Hiệu chỉ nêu lên sự thật bằng những lời lẽ ôn hòa thì các người ghép tội xúc phạm lãnh tụ? Thời đại internet ngày nay mà chính quyền csVn vẫn cố ép người ta tin vào sự dối trá, sự mị dân là điều không thể!

(Ngô Trường An)

Một thời ‘Bình Dân Học Vụ’

Một thời ‘Bình Dân Học Vụ’

Huy Phương (Danlambao) – …Tiểu sử của đảng chính thức nói ông có bằng cử nhân kinh tế, trình độ ngoại ngữ thì ghi rõ: “Anh văn B, Nga văn B.” Nhưng qua những bài diễn văn, người ta thấy ông thường cắm đầu cắm cổ vào giấy mà đọc, phát ra những câu nói như “Ma Dze in Việt Nam,” và mới đây là “Cờ-Lờ-Mờ-Vờ và Cờ-Lờ-Vờ,” thì thiên hạ có quyền nghi ngờ những bằng cấp “tại chức” và trình độ học thức “bình dân học vụ” rất “lờ-mờ” của ông…

Bỏ qua những chuyện “công, tội, khen, chê” của những nhà viết sử dành cho giáo sĩ Alexandre Rhodes, chúng ta phải công nhận chữ Quốc Ngữ (tiếng nước ta) được thành hình là do công lao của ông.

Vào năm 1651, ông cho in cuốn từ điển Việt-Bồ Đào Nha-Latin (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) dựa trên các ký tự tiếng Việt của những giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý trước đó. Có thể coi đây là sự kiện đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc Ngữ. Về cách phát âm thì:

1-Những nguyên âm như chữ a, i, u, o, e thì đọc nguyên.

2-Những phụ âm như chữ s, r, m, b, p, đọc theo cách đọc của alphabet là et-sờ, er-rờ, em-mờ, bê, pê.

Nhưng theo kiểu sáng tạo của phong trào “Bình Dân Học Vụ” thời Việt Minh (1945) thì những chữ phụ âm, học sinh phải đọc là sờ, rờ, mờ, lờ, pờ (hay phờ-ph): “bờ-a-ba,” “mờ-a-ma, “ cờ-a-ca, sắc cá…”

“Bình Dân Học Vụ” là phong trào xóa nạn mù chữ trong quần chúng do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (thời Việt Minh) phát động từ năm 1945. Vì có đến 95% dân chúng Việt Nam mù chữ, các lớp bình dân học vụ được mở khắp ngang cùng ngõ hẻm, tối tối, nam phụ lão ấu, ai “mù chữ” cũng thắp đèn đến lớp học, được mở ra trong các đình, chùa, miếu… Cũng vì “Bình Dân Học Vụ” học đêm, thời này đã có câu ca dao thời đại:

“Bình dân! Khổ lắm anh ơi!

Không đi thì dốt, đi thời bụng to.”

Năm 1945, người viết bài này mới lên 8 tuổi, còn học lớp Nhì (lớp 4) trường làng, nghĩa là đã biết đọc biết viết. Chúng tôi được phân công kiểm soát các o, các mụ đi chợ xem họ có biết chữ hay không? Để khuyến khích và kiểm soát việc chống nạn mù chữ của dân làng, đầu các con đường vào chợ đều có những trạm gác và những rào cản, làm bằng một thân tre bắc ngang ngõ vào chợ. Ai đến đó, đọc được chữ “a,” chữ “bờ,” chữ “cờ” thì chúng tôi mở cây tre chắn lên cho vào chợ. Thật ra đây chỉ là một chuyện kiểm soát tượng trưng, hình thức, vì nhiều bà đã vào bày hàng trong chợ từ sớm khi chúng tôi còn ngủ, hay khi người ta cần bán nải chuối, mớ rau để lấy tiền mua thức ăn về nhà, ai mà nỡ “cấm chợ, ngăn sông!” Do đó, ai “mù chữ” thì đứng chờ hay năn nỉ, khi không có người lớn đứng đó thì chúng tôi làm lơ cho qua.

Ban vận động “Bình Dân Học Vụ” đó đã đặt những câu có vần điệu cho dễ nhớ mặt chữ. Các bạn để ý các phụ âm ta vẫn thường đọc là “tê” được đọc là “tờ,” “en-lờ” được đọc là “lờ.”

– “i, t (tờ), có móc cả hai.

i ngắn có chấm, t (tờ) dài có ngang;

– e, ê, l (lờ) cũng một loài.

ê đội nón chóp, l (lờ) dài thân hơn;

– o tròn như quả trứng gà.

ô thì đội mũ, ơ thời thêm râu.”

Ngày ấy dân tiểu tư sản thành thị thường dùng thành ngữ trình độ “Bình Dân Học Vụ” hay chữ “i-tờ-rít” để nói về những người dốt nát, ít học, thành phần cán bộ Việt Minh “răng đen mã tấu.”

Cả nước dưới thời Pháp thuộc hay miền Nam VNCH, học sinh miền Nam không dùng cách đọc “mờ-cờ-bờ.”

Hai câu “ca dao” khá tếu sau đây theo cách đọc của miền Nam, mà ngay từ hồi nhỏ chúng tôi đã thuộc nằm lòng là:

N K M H U Ơ (Anh ca em hát u ơ )

M K N H N R Q M (Em ca anh hát anh rờ cu em)

Hai câu này sẽ trở thành vô nghĩa khi nó đọc theo lối “Bình Dân Học Vụ” thời Việt Minh và sau này là Cộng Sản miền Bắc:

Nờ Kờ Mờ Hờ U Ơ

Mờ Kờ Nờ Hờ Rờ Cu Mờ

Mới đây xảy ra chuyện liên quan tới lối phát âm Lờ Cờ Bờ, là trong một cuộc hội nghị kỷ niệm 50 năm của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (The Asian Development Bank- ADB), ông thủ tướng CSVN đã phát biểu những câu nói mà thiên hạ ngơ ngác hoàn toàn không hiểu ông nói gì!

Câu nói của ông Nguyễn Xuân Phúc trên diễn đàn ADB như sau:

– “Mong ADB tiếp tục hỗ trợ, đồng hành cùng chính phủ Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác của khu vực như tiểu vùng Mekong, ACMRCS, Cờ-Lờ-Mờ-Vờ và Cờ-Lờ-Vờ về kết nối các nền kinh tế, hạ tầng giao thông, giảm nghèo bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu.”

Ông Nguyễn Xuân Phúc tập kết ra Bắc từ năm 1966 khi 12 tuổi (ông sinh năm 1954). Sau năm 1975, đảng đưa ông trở về quê cũ là đất Quảng Nam, có lẽ ông có chuyên môn kinh tế, sơ khởi cho ông làm chức vụ “cán bộ ban quản lý kinh tế.” Đây là thứ cán bộ, như sau năm 1975, chúng ta thường thấy xe khách dồn cục ở các trạm kinh tế, để mấy ông cán bộ xét hàng, nắn bóp thân thể người đi buôn, bắt đóng thuế, hay tịch thu gạo, thịt, đường của dân đi buôn hàng chuyến. Từ đó ông len được vào Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, leo lên tới chức phó thủ tướng rồi thủ tướng.

Tiểu sử của đảng chính thức nói ông có bằng cử nhân kinh tế, trình độ ngoại ngữ thì ghi rõ: “Anh văn B, Nga văn B.” Nhưng qua những bài diễn văn, người ta thấy ông thường cắm đầu cắm cổ vào giấy mà đọc, phát ra những câu nói như “Ma Dze in Việt Nam,” và mới đây là “Cờ-Lờ-Mờ-Vờ và Cờ-Lờ-Vờ,” thì thiên hạ có quyền nghi ngờ những bằng cấp “tại chức” và trình độ học thức “bình dân học vụ” rất “lờ-mờ” của ông.

Ví dụ như tên các tổ chức quốc tế như NATO (Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương) hay IOM (Tổ Chức Di Dân Quốc Tế) khi đọc phải dùng tiếng Anh hay một sinh ngữ thông dụng, chứ không thể đọc “Nờ-A-Tờ-O” hay “I-O-Mờ” thì người nghe cũng phải trố mắt ra. Mặt khác, trong bản văn, thư ký soạn diễn văn có thể viết tắt LHQ, nhưng ông thủ tướng phải biết để đọc nguyên chữ là Liên Hiệp Quốc, chứ không thể ngu đến mức đọc là “Lờ-Hờ-Cu” được. Hơn 41 năm ở hải ngoại này, tôi chưa nghe ai đọc VNCH là “Vờ-Nờ-Cờ-Hờ” cả, đó chính là trình độ học vấn.

Trong bài diễn văn của ông thủ tướng, cũng vì chủ quan “tại chức” ông đã không đọc trước, và người nào soạn diễn văn cho ông cũng ác độc, ông không hiểu những chữ viết tắt CLMV hay CLV là gì, nên đành đem cái trình độ “Bình Dân Học Vụ” (bờ-dờ-hờ-vờ) của ông ra mà giải quyết nhanh, gọn. Thay vì đọc nguyên chữ Cambodia-Laos- Myanmar-Vietnam hay Cambodia-Laos-Vietnam, vì không biết, nên ông phát ngôn đại là “Cờ-Lờ-Mờ-Vờ và Cờ-Lờ-Vờ” cho xong.

Trên Facebook nhiều vị đã ra sức bênh vực cho bài diễn văn của người cầm đầu chính phủ (Cờ-Hờ-Xờ-Hờ-Chờ-Ngờ-Vờ-Nờ) CHXHCNVN, nhưng theo tôi, ở Việt Nam bây chừ, chuyện này cũng thường thôi! Mới đây có chuyện một ông hiệu trưởng ở Sóc Trăng bị khiển trách vì cho một học sinh trình độ lớp 1 ngồi nhầm ở lớp 6.

Trong trường hợp ông Nguyễn Xuân Phúc ngồi nhầm chỗ, quý vị định khiển trách ai đây?

06.12.2016

Huy Phương

danlambaovn.blogspot.com

MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Lm. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang 
me-maria

Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, người độc nhất vô nhị khi bước vào cuộc đời trần thế nầy, không phải như tất cả chúng ta, là nạn nhân của tội nặng tổ tông truyền; không phải như chúng ta, là nạn nhân mang án lệnh phải chết trên vừng trán công khai; không phải như chúng ta, là nạn nhân bị dìm mình trong vũng bùn nhơ  của các tình tư dục; không phải như chúng ta, là nạn nhân bị vây hãm bởi mọi mùi xú uế của bảy mối tội đầu.  Nhưng…, nhưng khi bắt đầu vào đời, trong ngay tích tắc đầu tiên được thụ thai trong lòng mẹ, Người Nữ Do Thái thành Nadarét nầy đã được trang hoàng rực rỡ bằng muôn vạn ân sủng vô cùng quý giá, để xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên Chúa cao sang vinh hiển, để xứng đáng làm Nữ Vương mọi loài trên trời dưới đất, ngay cả các quỷ dữ trong hỏa ngục, Đức Trinh Nữ Maria cũng đạp dập đầu dưới chân mình.

Tất cả những ai sinh ra bởi Ađam, đều mắc tội tổ tông truyền.  Chỉ trừ một mình Đức Mẹ Maria không mắc tội nầy.  Vì thế, Giáo Hội tôn kính Đức Mẹ Maria là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ dành riêng cho một mình Đức Mẹ Maria để Ngài xứng đáng làm Mẹ Đức Chúa Trời, xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên Chúa.

Khi dựng nên tổ tông loài người là ông Ađam và bà Eva, Thiên Chúa yêu thương đã ban cho hai ông bà những ơn đặc biệt tốt đẹp: một thân xác mạnh khỏe, xinh đẹp, với một linh hồn trong sáng, kèm theo những ơn đặc biệt: không đau, không khổ, không chết; thông minh, hiểu biết, hướng thượng.   Nhất là ơn siêu nhiên thánh sủng là được thông phần vào chính bản tính của Thiên Chúa, sống đầy tràn hạnh phúc trên đời nầy, và sau khi từ giã trần gian, được về với Thiên Chúa trên Nước Trời.   Những ơn đặc biệt nầy, hai tổ tông Adam và Eva sẽ truyền lại cho con cháu được hưởng.

Nhưng than ôi, vì mắc mưu xảo quyệt của ma quỷ cám dỗ, hai tổ tông Ađam và Eva đã phạm tội chống lại Thiên Chúa là Đấng dựng nên họ.  Và hai ông bà đã làm mất tất cả những ơn đặc biệt nầy, không nhữmg làm cho mình mất đã đành, mà còn làm cho con cháu mình mất nữa.

Tội đầu tiên, ông Ađam và bà Eva phạm, gọi là Tội Tổ Tông, đã truyền lại cho tất cả con cháu loài người theo con đường sinh sản tự nhiên.   Thánh Phaolô nhấn mạnh điểm tín lý nầy trong thư gởi cho giáo đoàn Rôma: “một người đã đem tội vào thế gian, và theo sau sự tội, là sự chết, vì thế, mọi người phải chết vì mọi người đã phạm tội.”… “vì tội một người mà sự chết do người ấy gây nên, đã thống trị loài người”…..“vì một người không vâng lời, nên đã làm cho mọi người mắc tội.” (x. Rôma 5,12-19).

Tội Tổ Tông là tội chung cho tất cả loài người do hai nguyên tổ Ađam Eva truyền lại cho con cháu mình, vì thế, ai cũng là nạn nhân của tội tổ tông truyền nầy.  Đáng lý Đức Trinh Nữ Maria, vì là con cháu của Adam Eva, nên cũng mắc tội tổ tông truyền như mỗi người chúng ta, nghĩa là sinh ra mà không có ơn thánh sủng, không có những đặc ân tự nhiên và siêu nhiên khác, bị dìm sâu trong vũng bùn nhơ của các tình tư dục và các mối tội đầu, phải chịu nằm dưới quyền thống trị của ma quỷ, phải đau, phải khổ và phải chết.  Nhưng, vì Đức Trinh Nữ Maria được Thiên Chúa thương chọn làm Mẹ Con Thiên Chúa, làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên đã được Thiên Chúa ban cho đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhờ hưởng trước, và hưởng đầy tràn những công nghiệp vô cùng của Đấng Cứu Thế, là Con của mình sau nầy.

Đó là tín điều về Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội mà hôm nay chúng ta tuyên xưng và dâng thánh lễ mừng Đức Mẹ Maria.  Tín điều nầy đã được Đức Giáo Hoàng Piô IX long trọng tuyên bố năm 1854, cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo phải tin để cho được rỗi linh hồn: “Được đầy Ơn Cứu Chuộc của Đấng Cứu Thế là Con mình một cách đặc biệt, Đức Trinh Nữ Maria, ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng mẹ mình, không mắc tội tổ tông truyền.”

Ôi!  Sung sướng biết bao cho chúng ta, vì Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của chúng ta, là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ đẹp tuyệt vời, Mẹ không chút bợn nhơ.  Thiên Chúa đã trang điểm cho Mẹ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội để Mẹ xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên, xứng đáng làm Nữ Vương các thánh thiên thần và các thánh nam nữ ở trên trời, xứng đáng làm Nữ Vương mọi loài ở dưới đất.

Trong Kinh Thánh, có hai đoạn liên quan đến đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Maria.

Đoạn thứ nhất, trong Cựu-Ước: sách Sáng-Thế (3,15).  Sau khi hai ông bà tổ tông loài người phạm tội, Thiên Chúa liền hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu chuộc loài người khỏi tay ma quỷ.  Thiên Chúa nói cho ma quỷ biết về một Người Nữ Đặc Biệt: “Ta sẽ đặt oán thù giữa ngươi và Người Nữ, giữa dòng dõi ngươi và Dòng Dõi Người Nữ.   Người Nữ sẽ đạp dập đầu ngươi, còn ngươi thì rình cắn gót chân Người.”  Người Nữ đặc biệt mà Thiên Chúa nói đây, chính là Đức Trinh Nữ Maria sau nầy.

Qua lời tuyên bố trên đây của Thiên Chúa, chúng ta thấy có hai điều.  Một là, có một sự đối nghịch hoàn toàn giữa ma quỷ và Người Nữ nầy (vì thế, nếu Người Nữ nầy mắc tội tổ tông truyền như mọi người khác, dẫu mắc trong một giây phút mà thôi, thì Người Nữ nầy cũng không thể nào đối địch lại hoàn toàn với ma quỷ được).  Hai là, Dòng Dõi Người Nữ nầy cũng phải đối địch lại hoàn toàn với ma quỷ (vì thế, Chúa Giêsu Kitô, Dòng Dõi của Đức Trinh Nữ Maria, sẽ không chiến thắng ma quỷ hoàn toàn được, nếu Mẹ của mình là Đức Trinh Nữ Maria không được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội).

Đoạn thứ hai, trong Tân Ước: bài tường thuật Truyền Tin của thánh sử Luca mà chúng ta nhắc đi nhắc lại mỗi ngày ba lần qua kinh Nhựt Một.  Theo lời thiên sứ Gabirie khi truyền tin Đấng Cứu Thế, chúng ta thấy có ba điều nói lên đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Maria.  Một là, Đức Mẹ được đầy ơn Chúa ban (Kính Mừng Maria đầy ơn phước!): nếu Đức Mẹ mắc tội tổ tông truyền, thì Đức Mẹ không thể nào được đầy ơn phước được.  Hai là, Đức Mẹ luôn được Chúa ở cùng (Đức Chúa Trời ở cùng Bà): Đức Chúa Trời là Đấng vô cùng thánh thiện, hằng ở với Đức Mẹ, thì Đức Mẹ làm sao mắc tội tổ tông truyền được.  Ba là, Đức Mẹ là Người Nữ diễm phúc hơn hết trong loài người (Bà có phước lạ hơn mọi người nữ): phước lạ hơn tất cả mọi người, ở đây, là phước lạ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Như vậy, khi thiên sứ Gabrie được Thiên Chúa sai từ trời xuống thành Nadarét, miền Galilêa, thuộc nước Do Thái, đến với Người Thanh Nữ Do Thái thành Nadarét, và cung kính chào: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ”, thì cũng giống như thiên sứ chào Đức Mẹ rằng: “Kính chào Bà là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Năm 1854, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra tại Lộ Đức, nước Pháp, cho trẻ gái nhỏ Bênêđétta và xưng rằng: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội!”

 Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con đầy tràn tin tưởng vào Mẹ: chúng con tin rằng, dù quyền phép vô cùng, Thiên Chúa cũng không thể nào dựng nên một ai cao trọng hơn Mẹ được; dù cao sang vô biên, Thiên Chúa cũng không thể lấy gì để ban thêm cho Mẹ, hơn là Ơn ban cho Mẹ được Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con là những kẻ tội lỗi đang chạy đến cùng Mẹ.  Chính vì Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, thương loài người tội lỗi chúng con, nên mới ban cho Mẹ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội để Mẹ trở nên Mẹ Đức Chúa Trời, và cũng là Mẹ của chúng con.  Chúng con tin rằng trên đời nầy, không ai có lòng trông cậy chạy đến cùng Mẹ, mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời.

 Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cho chúng con biết sống xa lánh tội lỗi, Xin cho lòng tin của chúng con vào Chúa được luôn luôn mạnh mẽ.  Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ, luôn trung thành theo Chúa cho đến cùng.

  Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con.  Amen!

Lm. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang 

Langthangchieutim gởi

O Holy Night

httpv://www.youtube.com/watch?v=fhcZ6b2FSsk

O Holy Night – Incredible child singer 7 yrs old – plz “Share”

httpv://www.youtube.com/watch?v=cZ-8jYpa1-o&feature=youtu.be

Celtic Woman / Chloe Agnew – ”O Holy Night”

Việt Nam – Cuba: Tương đồng và khác biệt

Việt Nam– Cuba: Tương đồng và khác biệt

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-12-05
Ảnh chụp tại Tòa Đại sứ Cuba ở Hà Nội hôm 04/12/2016.

Ảnh chụp tại Tòa Đại sứ Cuba ở Hà Nội hôm 04/12/2016.

AFP

Sau 56 năm từ ngày Chính phủ Cộng hòa Cuba và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao (2/12/1960 – 2/12/2016), giữa Việt Nam và Cuba đã tồn tại một mối quan hệ được cho là mật thiết và kỳ lạ xuyên hơn 50 năm.

Phóng sự sau đây nhìn lại những điểm tổng quát tương đồng của hai quốc gia Việt Nam – Cuba, từ đó đã dẫn đến những cải cách mà hai quốc gia có được ngày nay như thế nào.

Ý thức hệ

Ngay sau khi Chủ tịch Fidel Castro của Cuba qua đời ở tuổi 90, những cơ quan truyền thông lớn của thế giới đồng loạt đăng tải những bài viết liên quan đến cuộc đời cách mạng và lịch sử của chính quyền do ông lãnh đạo. Những bài viết này hầu hết khai thác những điều mà thế giới đã biết nhất là người dân Cuba.

Sau khi Fidel Castro qua đời, Bảng tin AP vào ngày 29 tháng 11 vừa qua đã đang tải ngay trên dòng đầu tiên của bài viết về Fidel Castro rằng: “Fidel Castro đã thay đổi khẩu  vị của sữa vào mỗi buổi sáng của trẻ em Cuba. Khuyến khích sử dụng nồi cơm điện tiết kiệm năng lượng, và phát sóng hai giờ học trên truyền hình quốc gia.”

Cả hai nước đều đi theo ý thức hệ cộng sản, đều có một lịch sử xây dựng một chế độ mà thật sự những người khởi xướng chế độ ấy người ta nghĩ là rất tốt đẹp.
-TS Nguyễn Quang A

Những bài viết của AP cũng cho biết cuộc nổi dậy của lực lượng vũ trang lật đổ chính phủ độc tài của Tổng thống Cuba Fulgencio Batista thành công cùng với lời hứa đưa công lý và bình đẳng đến các hòn đảo Caribbean là một sự kiện lịch sử bật nhất của thế kỷ 20.

Hai năm sau khi cuộc cách mạng thành công và giành lấy chính quyền, năm 1961, chính quyền Fidel Castro đã tung ra một chiến dịch đầy tham vọng là xoá nạn mù chữ. Khoảng 700 ngàn người dân đã được học đọc và viết trong những năm đó.

Trong cùng thời gian, Fidel Castro lập ra Ủy ban Bảo vệ Cách mạng, bao gồm những nhân vật được huấn luyện như là “tai và mắt” của chính quyền, theo dõi các hoạt động bị nghi ngờ làm chia rẽ chính trị của Cuba. Các nhóm này được hình thành để đảm bảo rằng người dân trung thành với mục tiêu chủ nghĩa xã hội của chính phủ, và hành động như một người giám sát với hàng xóm chống lại các hoạt động “phản cách mạng”. Chiến lược này tương tự với Việt Nam đã áp dụng từ nhiều chục năm qua.

Những chiến lược này được Tiến sĩ Nguyễn Quang A, từ Hà Nội, cho chúng tôi biết về suy nghĩ của ông:

“Cả hai nước đều đi theo ý thức hệ cộng sản, đều có một lịch sử xây dựng một chế độ mà thật sự những người khởi xướng chế độ ấy người ta nghĩ là rất tốt đẹp. Và muốn xây dựng một xã hội tốt cho tất cả mọi người. Người ta thường dùng cụm từ là xây thiên đường trên mặt đất này.”

Tuy nhiên, Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng chính vì thiên đường không có trên mặt đất cho nên rất đáng tiếc là những ảo vọng xây dựng nó hoàn toàn thất bại. Và cũng theo ông, đây là điểm tương đồng giữa Việt Nam và Cuba:

“Chính cái nét tương đồng về tư tưởng, suy nghĩ ấy nó định hình toàn bộ mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba trong hơn năm mươi năm qua. Hai nước đều đứng lên chống lại đế quốc Mỹ. Thật sự lúc đó ý thức hệ và trong bối cảnh của chiến tranh lạnh là nó định hình toàn bộ cái não trạng của các nhà lãnh đạo của cả hai nước. Họ nghĩ rằng việc đó là họ làm tốt cho dân tộc mình nhưng thật sự nó lại là làm tay sai cho những người ở đâu đâu, chẳng dính dáng gì đến dân tộc Cuba hoặc dân tộc Việt Nam.”

Theo một vài tài liệu cho thấy vào thập niên 1960, Cuba là nơi cung cấp vũ khí, cố vấn quân sự , cung cấp y tế, giáo dục cho các nhóm quân nổi dậy ở Venezuela. Đặc biệt Cuba là quốc gia ủng hộ triệt để chế độ miền Bắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ nhằm “thống nhất đất nước”:

“Những người Cuba đã giúp Việt Nam rất nhiều, từ chuyện cử người sang đây, bác sĩ, kỹ sư xây dựng, xây khách sạn Thắng Lợi, xây đoạn đường đến Sơn Tây, đẹp nhất bắc Việt Nam thời đó.”

Theo những ghi nhận lại từ báo chí trong và ngoài nước, ông Fidel Castro đã ba lần đến Việt Nam trong thời gian diễn ra cuộc đấu tranh chống Mỹ, đi đến Quảng Trị, và tuyên bố những điều rất được lòng dân.

Việt Nam rất ủng hộ Cuba trong những chính sách chống Mỹ:

“Hai nước đều theo một tư tưởng như thế, thống nhất một đường lối như thế nên họ là những người bạn rất keo sơn với nhau.”

Kinh tế

000_Mvd6289515.jpg
Ảnh minh họa chụp tại Havana, Cuba hôm 23/04/2012. AFP PHOTO

Theo nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa từ Canada từ khi Cuba trở thành một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 1961, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều biện pháp mang tính chính sách tạo ra các hiệu ứng mạnh cả về chính trị và kinh tế với hòn đảo này; chúng được nghiên cứu kỹ để thực hiện mục đích lật đổ giới lãnh đạo và khuyến khích Cuba tiến hành thay đổi chính trị theo hướng đa đảng.

Với Việt Nam, Hoa Kỳ cũng từng áp dụng chế độ cấm vận từ năm 1975 đến 1994. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng đây là một biện pháp bên ngoài và rất quan trọng. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh biện pháp này chỉ phát huy tác dụng nếu chế độ bị cấm vận không còn phương sách nào, không còn nguồn nào khác để dựa vào, mà điều này thì không xảy ra với Việt Nam và cả Cuba trong thời gian bị Hoa Kỳ cấm vận:

“Mỹ cấm vận Cuba hay cấm vận Việt Nam nhưng lúc đó các nước này lại dựa vào ông Nga, ông Tàu, thì biện pháp cấn vận như thế chưa chắc mang lại hiệu quả.”

Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử văn hoá khác nhau và nó tuỳ thuộc cái tư duy của người lãnh đạo cao nhất mà nó có thể dẫn mỗi xã hội đi theo 1 con đường khác nhau. Chính vì điều đó, con đường phát triển kinh tế của Việt Nam trong 30 năm qua và con đường phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian đó là hoàn toàn khác nhau:

“Đảng cộng sản Việt Nam sau khi bị mất nguồn tài trợ từ Liên Xô thì đời sống nhân dân rất khó khăn. Người dân phải tự xoay sở cuộc sống của mình. toàn bộ cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam nó xuất phát từ người nông dân, người thợ, người dân bình thường không thể sống được nữa thì phải tìm cách lách. Đỡ hơn của Việt Nam là những vị lãnh đạo của việt Nam lúc đó họ bị dồn vào chân tường, đành phải chấp nhận sự phá rào của người dân.”

Và khi đó, quyền làm kinh tế, quyền kinh doanh, là quyền rất cơ bản của con người được trả lại cho người dân.

Quyền con người

Nội dung tờ AFP đăng tải vào ngày Fidel Castro qua đời có đề cập đến một số đông người dân Cuba nghĩ về Fidel Castro như một người hùng đã mang đến cho quốc gia Cuba một nền cải cách giáo dục và một hệ thống y tế miễn phí:

“Ông ấy là người cha của người dân Cuba. Cha của tôi đã không cho tôi được những gì mà ông ấy (Castro) đã cho, đó là tự do, là nhân phẩm. ” Lời của 1 công dân Cuba, Lourders Rivera trả lời phỏng vấn của AFP.”

Dòng người tỵ nạn

Là điều kiện bên ngoài, là sự đàn áp, sự bức chế của nhà cầm quyền cùng lên 1 mức cao độ khiến cho người dân bất chấp mọi nguy hiểm vẫn phải ra đi bằng đôi chân của mình.
-TS Nguyễn Quang A

Năm 1954 tại Việt Nam đã có 900 ngàn người di cư từ Bắc vào Nam để tránh cộng sản. Tháng 4 năm 1975, có khoảng hơn một trăm ngàn người Việt di tản sang Mỹ. Từ 1976 tới 1995 có khoảng 800 ngàn người Việt vượt biển bằng đường thủy và đường bộ, tới nơi an toàn; khoảng 500 ngàn người khác chết và mất tích trên đường tị nạn.

Trong khi đó, tại Cuba năm 1980, khoảng 7000 người tràn vào sứ quan Peru xin tịn nạn chính trị, sau đó phầh lớn được định cư tại Costa Rica. Tháng 4 năm 1980, Fidel cho phép dân chúng tự do ra đi trong một tháng, và 125 ngàn người Cuba đã sang Mỹ từ hải cảng Mariel.

Cuộc di tản từ quá khứ đến hiện tại ở hai quốc gia được Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhìn nhận là có một điểm tương đồng, đó là:

“Là điều kiện bên ngoài, là sự đàn áp, sự bức chế của nhà cầm quyền cùng lên 1 mức cao độ khiến cho người dân bất chấp mọi nguy hiểm vẫn phải ra đi bằng đôi chân của mình.”

Việt Nam và Cuba hơn 50 năm vẫn vững vàng một mối quan hệ sâu sắc. Nếu xét về quan hệ ngoại giao, thì hoàn toàn đúng như lời báo chí trong nước nói rằng “một mối quan hệ thân thiết kỳ lạ.” Tuy nhiên, trong những điểm tương đồng, giống hoặc khác nhau như đã nêu, và qua những phản ứng của người dân thể hiện trên mạng xã hội, Tiến sĩ Nguyễn Quang A đặt câu hỏi rằng “nếu lùi sâu về lịch sử, phải chăng nên đánh giá lại những chế độ ấy cũng như những lãnh tụ của họ?”

Đọc báo trong nước

Mỗi ngày 20 tỷ thuốc trừ sâu Trung Quốc: Việt Nam tự đầu độc mình

Trong 5 tháng đầu năm 2016, Việt Nam chi tới 140 triệu USD (hơn 3.080 tỉ đồng) để nhập khẩu TTS Trung Quốc, tính ra mỗi tháng Việt Nam phải chi hơn 616 tỉ đồng, mỗi ngày Việt Nam phải dành ít nhất 20,5 tỉ đồng để nhập TTS của Trung Quốc.

 

Sai phạm hơn 4,4 tỉ đồng, rút kinh nghiệm lãnh đạo trường

TTO – Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Kiên Giang đề nghị kiểm điểm rút kinhnghiệm tập thể đảng ủy và ông Nguyễn Đông Hải – Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng cộng đồng Kiên Giang để xảy ra sai phạm trên 4,43 tỉ đồng.

Lời bình : Chỉ duy nhất xảy ra ở Việt Nam.