16 năm ngồi tù oan chỉ vì cung cấp thông tin kẻ giết người

Facebook: Lê hồng Song
16 năm ngồi tù oan chỉ vì cung cấp thông tin kẻ giết người

(PLO) – 16 năm ngồi tù, cho đến tận khi đã thi hành xong bản án, ổn định cuộc sống, ông Chiến mới được minh oan khi hung thủ thực sự bị bắt.
Bỗng dưng bị khép tội giết người
Vụ án oan xảy ra ngày 19/5/1979. Khi đó, chàng thanh niên tên ông Trần Văn Chiến (SN 1960, ngụ ấp Nam, xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang) vừa đi làm đồng về. Cùng lúc này, em họ tên U chạy ngang qua nói: “Tao giết thằng Sên” rồi lấy chiếc túi nhét vội mấy quần áo bỏ đi.
Hai ngày sau, cả ấp rúng động khi trưởng công an xã được phát hiện đã chết ngoài bãi đất hoang. Cảnh sát xác định nạn nhân bị giết. Hay tin, ông Chiến giật mình nhớ lại lời U nói, vội sang kể với người thím, rồi chạy đến công an xã cung cấp thông tin.
Lạ rằng vừa khai xong mấy câu, ông bị công an xã bắt trói, ép nhận tội giết người. “Ở trại tạm giam khoảng 2 tuần, ông Chiến đành nhận tội giết trưởng công an vì bị đánh quá đau. Ngày CQĐT dựng lại hiện trường, ông Chiến cầm gậy quơ tứ tung theo “hướng dẫn” của điều tra viên. Chàng thanh niên 19 tuổi bị khép vào tội giết người. “Tìm được hung thủ”, CQĐT mới thả những người bị tạm giam trước đó.
Ngày 20/3/1980, TAND tỉnh Tiền Giang đưa bị cáo ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không nhận tội và khẳng định hung thủ thật sự là U. Nhưng HĐXX vẫn tuyên ông Chiến án chung thân với tội “giết người”:
“Tui đã kí hết vào các giấy tờ, lúc trong trại tạm giam nói câu nào bị đánh câu đó, đau quá mới kí bậy. Ra toà kêu oan cũng chẳng ai nghe. Tui ức quá nhận hết, ai bảo gì tui đều gật đầu nhận”, ông Chiến kể.
Nhờ cải tạo tốt, ông Chiến được giảm án, thả tự do từ ngày 21/8/1995. Thời gian ngồi tù tổng cộng 16 năm 3 tháng.
16 năm tù oan được bồi thường hơn 200 triệu
Ra tù đã gần 36 tuổi, ông Chiến mang trong mình bản án giết người, nỗi mặc cảm tương lai tối mịt. Cầm 100 ngàn đồng cán bộ trại giam cho, ông ở lại Gia Lai tìm việc. Thanh niên vừa ra tù may mắn được cô gái Nguyễn Thị Hồng Loan đem lòng cảm mến, cưu mang.
Sau khi người vợ sinh con được 3 tháng, ông xin phép đưa gia đình về quê. Cuộc trở về không như ông mong đợi. Mọi người đều nhìn ông bằng con mắt xa lạ, ghét bỏ. Gia đình nghèo khó không giúp được gì. Ông đành dắt vợ con ra dựng tạm chòi lá tá túc nhờ mảnh đất hoang của người cậu. Tiếng xấu giết người vẫn đè lên cái tên. Mỗi lần đi làm thuê ở đâu, ông đều bị “soi” bởi lý lịch “đen”.
Mãi gần 2 năm sau ra tù, ông Chiến mới được minh oan. Đó là một ngày giữa tháng 10/1997, ông Chiến đang trồng rau ngoài đồng thì hay tin U bị bắt bên Lào, công an đã giải về Tiền Giang.
Cơ hội được minh oan đã đến, ông Chiến bỏ lại cuốc, cào chạy ào về nhà hỏi chuyện. Ông khóc òa vì sung sướng, từ nay đã được thoát tiếng oan giết người. Mấy ngày sau, công an tỉnh cứ vài ngày lại mời ông lên làm việc.
Nhà có mỗi chiếc xe đạp, ông lại lạch cạch đạp hơn 40km “hầu án”: “Bắt thằng U rồi, họ (ý nói cán bộ công an) vẫn chưa tin tui. Phần tui chẳng nghe đả động gì đến chuyện giải oan, nhà lại thiếu gạo đành bỏ dở đi làm thuê”.
Trở lại diễn biến vụ án trưởng công an xã bị sát hại, hung thủ thực sự Trần Văn U khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. U khai nghiện rượu, mỗi lần say xỉn gây mất trật tự địa phương nên bị công an xã mời đến giáo dục nhiều lần. Nhưng U không sửa đổi mà vẫn chứng nào tật ấy mà còn sinh ra thù hằn người lập hồ sơ đưa mình đi cưỡng bức lao động.
Khoảng 14h ngày 19/5/1979, U thấy anh Sên đi bộ đã bí mật chuẩn bị 2 cây gậy “mai phục”. Nạn nhân bị đánh vào đầu dẫn đến tử vong. Sau khi gây án, hung thủ kéo xác nạn nhân đến giấu tại nghĩa địa, bỏ trốn về Cà Mau, Bà Rịa Vũng Tàu, sang tận Lào sinh sống. Ngày 24/10/1997, U bị bắt theo lệnh truy nã số 82 ngày 13/6/1979 của CA Tiền Giang.
Ngày 5/7/2001, TAND Tiền Giang đưa ra xét xử vụ án. Bị cáo khai một mình thực hiện hành vi giết người, không liên quan gì đến ông Chiến. Bị cáo U nhận án chung thân về tội giết người, 3 năm tù về tội cướp tài sản. Ông Chiến được tuyên không phạm tội giết người.
Ông Chiến sau đó đã làm đơn yêu cầu các cơ quan gây oan sai cho mình đền bù 800 triệu đồng. Đến tháng 12/2004, ông Chiến được TAND Tiền Giang đền bù oan sai 252 triệu đồng, đồng thời công khai xin lỗi tại địa phương, trên báo đài.
Những người thực thi công quyền cẩu thả, ông Chiến đã bị “nhốt” cả đời trai trẻ trong nhà lao. 16 năm tù đủ dài để con người ta xây dựng một cuộc sống đàng hoàng. Chừng đó thời gian cũng đủ biến một thanh niên trẻ khoẻ thành ông già trong nhà tù.
“Ra tù, tui mất hết tương lai. Căn nhà vợ chồng đang ở là do một người Việt kiều biết hoàn cảnh tù oan đã tài trợ xây dựng. Nhưng chủ đất nói gần nói xa, ý muốn đòi lại đất. Các con tui vì nghèo phải bỏ học giữa chừng. Tất cả do tù oan mà ra”, ông uất ức.
Tiễn khách ra ngõ, người đàn ông nhắc lại: “Hồi trước toà án tỉnh gọi tui lên thương lượng. Họ nói chỉ bồi thường chừng đó tiền (chính xác là 252,7 triệu đồng), nếu không đồng ý thì ra toà. Lúc đó toà xử xử. Tui không hiểu, đành gật đầu chấp nhận”./.

tu-oan

Giáo hội Tin lành Lutheran không được tổ chức Giáng Sinh

Giáo hội Tin lành Lutheran không được tổ chức Giáng Sinh

Thanh Trúc, RFA
2016-12-25
Mục sư Nguyễn Công Chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai hôm 26/3/2012

Mục sư Nguyễn Công Chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai hôm 26/3/2012

Courtesy of baomoi.com
Giáo Hội Tin Lành Lutheran Việt Nam Hoa Kỳ, được biết đến qua Mục sư Nguyễn Công Chính với bản án 11 năm tù giam, sẽ không được phép tổ chức lễ Giáng Sinh năm nay.

Hôm 22/12, một thầy truyền  đạo người dân tộc trong giáo hội này bị đánh vì phản đối lệnh triệu tập cũng như lệnh cấm tổ chức lễ Giáng Sinh.

Công an trao khảo, cấm tổ chức Giáng Sinh

Người báo tin này là vợ Mục sư Nguyễn Công Chính, cũng từng bị công an sách nhiễu đánh đập trước  đây:

“Tôi là Trần Thị Hồng, vợ của Mục sư Tin Lành Nguyễn Công Chính. Từ ngày 15/12 cho đến ngày hôm nay những anh em đồng đạo trong Giáo Hội Tin Lành Lutheran Việt Nam Hoa Kỳ chúng tôi, đặc biệt một số anh em ở tình Đak Lak, thì ngày nào cũng bị công an tỉnh Dak Lak bắt lên khảo tra và cấm anh em chúng tôi không được thờ phượng, không được tổ chức lễ Giáng Sinh trong mùa lễ này.

Anh em không đồng ý thì công an tỉnh Dak Lak dùng vũ lực đánh đập anh em, đó là tin tôi mới được báo lại. Khi họ đưa giấy mời thì chúng tôi vẫn có giấy mời và ngày giờ đàng hoàng, nhưng khi lên trên đó làm việc thì họ cấm anh em bằng miệng thôi, họ không có văn bản rõ ràng.”

Thanh Trúc: Xin bà cho biết rõ hơn về trường hợp một thầy truyền đạo ở Dak Lak bị công an đánh hôm 22/12 vừa qua?

Bà Trần Thị Hồng: Công an tỉnh Dak Lak bắt thầy truyền đạo Y Khen và đánh đập thầy rất dã man. Thầy Y Khen B’đáp là người dân tộc Ê-đê. Y Khen B’Đáp và Y Ven là hai thầy ở Dak Lak, nhưng người bị đánh ở đây là thầy Y Khen.

1506075-622.jpg
Bà Trần Thị Hồng vợ của mục sư Nguyễn Công Chính, ảnh minh họa chụp trước đây. File photo

Chúng tôi có hình ảnh 2 thầy và có giấy triệu tập của công an địa phương ở tỉnh Dak Lak. Khi mà họ đưa giấy mời thì anh em không đồng ý, họ dùng lực lượng công an xuống để áp tải anh em đi.

Đây là những thầy đã từng bị bắt và kêu án, đã từng nhiều năm ở trong tù rồi, nay họ được về và đang tiếp tục bị đàn áp. Chúng tôi có đủ bằng chứng để chứng minh sự đàn áp về mặt tôn giáo ở tại Daklak.

Thanh Trúc: Theo bà thì trong tình hình như vậy, Giáo Hội Tin Lành Lutheran Việt Nam Hoa Kỳ có dám tổ chức thánh  lễ, có hội họp để cầu nguyện không?

Bà Trần Thị Hồng: Chúng tôi đã từng ra đến chính phủ để mà đăng ký về tư cách pháp nhân rồi nhưng chính phủ nói đợi thời gian xem xét, cuối cùng thì bị công an địa phương đàn áp.

Cho nên khi đến  mùa lễ Giáng Sinh thì chúng tôi chỉ thờ phượng một cách âm thầm, chứ còn đến đăng ký thì họ không bao giờ cho phép đâu.

Sức khỏe Mục sư Nguyễn Công Chính trong tù

Thanh Trúc: Nhân đây xin được hỏi thêm là hôm 11/12 vừa qua bà cho biết tin mục sư Nguyễn Công Chính bị dời từ trại giam An Phước ở Bình Dương về Xuân Lộc ở Đồng Nai. Ngày 13/12 bà đi thăm nuôi và được gặp mặt ông, bà thấy sức khỏe của mục sư Chính như thế nào?

Bà Trần Thị Hồng: Tình trạng sức khỏe của ông rất kém bởi vì hiện ông đang bị cách ly tức  biệt giam, kèm theo đó bịnh huyết áp của ông cũng nặng rồi bịnh viêm xoan mũi cấp tính nữa.

Ông không được điều trị, thuốc men tôi đem vô thỉ họ cũng trả về họ không cho ông dùng. Kinh Thánh, Thánh ca tôi đem vô họ cũng trả về.

Thanh Trúc: Thưa bà Trần Thị Hồng, hiện tại bản thân bà còn bị trở ngại gì không?

Bà Trần Thị Hồng: Từ ngày 13 tôi đi thăm nuôi trở về là tôi bị công an tỉnh Gia Lai bố rắp, canh giữ mẹ con tôi ngày đêm. Họ không có đánh đập tôi như vào tháng  Tư năm 2016 , tuy vậy họ canh giữ tôi ngày đêm.

Khi tôi đưa con đi học thì họ cũng áp tải đi, khi tôi về họ cũng áp tải về, coi tôi giống như một phạm nhân vậy đó. Nhà tôi họ canh giữ ngày đêm, tối đến thì họ canh gác phía ngoài phía trong.

Họ biến ngôi nhà của mẹ con tôi không khác gì nhà tù cả, không cho tôi ra khỏi địa bàn tỉnh Gia Lai.

Theo qui định của trại giam Long Khánh, Đồng Nai một tháng họ cho thăm nuôi một lần. Nếu đi thăm nuôi thì tôi phải xuống Sài Gòn, từ Sài Gòn xuống Đồng Nai, từ Đồng Nai đi tiếp tới Long Khánh rồi từ Long Khánh lại đi vô tiếp tới trại giam.

Một đoạn đường rất xa xôi, rất khó khăn, đó là một trong những điều tôi thấy lo lắng.

***

Trên đây là một số thông tin mới nhất về trường hợp của Mục sư Nguyễn Công Chính và Giáo Hội Tin Lành Lutheran Việt Nam Hoa Kỳ mà ông là một trong những người truyền đạo.

Mục sư Nguyễn Công Chính bị bắt ngày 28/04/2011, với cáo buộc “âm mưu chống phá nhà nước Việt Nam”, vi phạm Điều 87 Bộ Luật Hình. Phán quyết 11 năm tù giam mà tòa sơ thẩm tuyên buộc đối với mục sư Nguyễn Công Chính được tòa phúc thẩm sau đó giữ y án.

Không chỉ mục sư Nguyễn Công Chính bị đối xử hà khắc trong tù, vợ ông là bà Trần Thị Hồng cùng 4 con nhỏ thường xuyên bị công an chận đường đe dọa, thậm chí mạnh tay hành hung bà.

NOEL! NGÀY LỄ HÒA BÌNH

NOEL!  NGÀY LỄ HÒA BÌNH

Ở thế chiến thứ hai, trên một mặt trận giữa hai nước Pháp và Đức, quân của hai bên giành nhau từng chiến hào; gây cấn đến độ vô phúc cho người nào sơ ý ló đầu ra khỏi chỗ núp là nát đầu ngay.  Đó là tình hình vào những ngày 21, 22, 23 tháng12, 1943.  Các sĩ quan hữu trách của cả hai bên đều đề phòng cấm ngặt binh sĩ của họ không được lơ là bỏ vị trí chiến đấu kể cả ngày Noel.  Đến chiều 24 tháng 12, vẫn là bầu khí ngột ngạt của tử thần.  Không có hưu chiến.  Đó là lệnh cấp trên truyền xuống.

noel

Đêm về, trong bầu khí yên lặng căng thẳng đó, bỗng một tiếng hát vọng lên từ một thông hào: “Đêm thanh bình, đêm ơn lành!” (Silent Night), rồi nhiều tiếng hát vọng theo, rồi người ta nghe cả hai phía Pháp Đức đều vang dậy tiếng hát Giáng Sinh; không ai bảo ai, bất chấp quân lệnh, binh sĩ của cả hai bên đều bật dậy, bỏ vị trí chạy lại bên nhau, ôm nhau cười nói, chúc lễ Giáng Sinh cho nhau.  Họ trao cho nhau đồ dùng, cùng ăn uống với nhau như thể là những người bạn thân lâu ngày hội ngộ.  Trước cảnh đó, các vị chỉ huy đều đồng ý hưu chiến đến hết ngày hôm sau.

Ngày 25-12 năm 1943 là một ngày đáng ghi nhớ cho những người ở trận tuyến đó.  Hai bên Đức, Pháp cách đó mấy giờ là tử thù của nhau, bây giờ họ cùng chụp hình, trao kỷ niệm, chơi bóng, ăn chung với nhau như những người anh em rất yêu quí.  Noel, ngày lễ Hoà bình.

******************

Giáng Sinh là lễ của Hòa Bình.  Hàng năm, cứ vào lễ Giáng Sinh, dù chiến trận có sôi sục đến đâu, người ta cũng thường dàn xếp để hai bên có được thời gian mừng lễ.  Đó gọi là ngày hưu chiến.  Sở dĩ có hưu chiến trong ngày lễ Giáng Sinh vì Ngôi Hai đã xuống thế làm người để giao hòa giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và loài người.  Giao ước cứu chuộc sẽ được ký kết bằng máu của Ngôi Hai là Thiên Chúa và cũng là người thật.  Đó là niềm vui vô cùng lớn lao của cả loài người được ơn cứu độ.  Từ nay, tội tổ tông đã được tẩy xoá nhờ máu thánh của Con Thiên Chúa.  Con người không còn vương vấn tội nhơ thì an bình sẽ ngự trị trong tâm hồn: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm.”

******************

Lạy Chúa, tâm hồn bình an thì không còn hận thù, đố kỵ, ganh ghét, nhưng luôn tin yêu, hy vọng, vui sống. Xin ban cho con sự bình an của Chúa để con luôn là sứ giả của an bình.  Chúa đã hứa: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con.”  Xin cho cầu nguyện cảm nếm được sự ngọt ngào của an bình trong tâm hồn và như thế là đủ cho con rồi.  Vì có Chúa là đời con bình an.  Amen!

Thiên Phúc

Di chúc của nhà tỷ phú

Di chúc của nhà tỷ phú

Bất ngờ với di chúc của nhà tỷ phú và bài học nhận được từ cô bé nghèo
Một cô bé nghèo đói, mồ côi cha mẹ nhưng lại khiến một nhà tỷ phú rút ra được bài học đáng quý.

30 năm trước, vào một đêm đông lạnh, người vợ của một doanh nhân trong lúc sơ ý đã làm rơi ví ở bệnh viện. Vị doanh nhân đó vô cùng lo lắng liền đi tìm ngay trong đêm, bởi trong ví không chỉ có 10 triệu đô la Mỹ mà còn có thông tin cơ mật về thị trường vô cùng quan trọng.

Lúc chạy đến bệnh viện, ông nhìn thấy một cô bé gầy gò ốm yếu run run ngồi dựa vào sát tường ngoài hành lang yên tĩnh và đang ôm chặt cái ví mà chính vợ ông đã đánh rơi.

di-chuc-ty-phu-1

Cô bé có tên là Linh Linh, cô đến đây để chăm sóc mẹ đang bị bệnh, nhà chỉ có hai mẹ con nương tựa vào nhau, hoàn cảnh gia đình vô cùng khó khăn: thứ gì cần bán thì đều đã bán hết, số tiền gom góp lại cũng chỉ đủ tiền thuốc trong một đêm. Ngày mai, nếu không có tiền điều trị, mẹ con họ sẽ bị đuổi ra khỏi bệnh viện.

Mỗi tối, cô bé đi đi lại lại ngoài hành lang cầu nguyện, luôn mong có vị thượng đế phái một người tốt nào đó xuống để cứu giúp mẹ.
Đang đứng có một người phụ nữ đi qua hành lang và đánh rơi chiếc ví mà bà ấy không hề hay biết. Lúc đó, ngoài hành lang chỉ có một mình Linh Linh, cô bé vội vàng chạy lại nhặt chiếc ví rồi đuổi theo ra ngoài cổng nhưng không kịp, người phụ nữ đó đã lên xe và đi mất.

Cô bé quay về phòng mẹ, lúc cô mở chiếc ví ra, hai mẹ con đều kinh ngạc bởi những thứ có trong ví.

Cả hai mẹ con họ đều biết rằng với số tiền này có thể đủ thanh toán tiền viện phí cho mẹ cô bé nhưng người mẹ lại bảo cô bé mang chiếc ví quay lại hành lang rồi đợi người mất ví đến nhận.

Mẹ cô bảo rằng, người mất tiền nhất định đang rất lo lắng, việc nên làm ở đời người đó là giúp đỡ người khác, lo cho sự lo lắng của người khác; việc không nên làm đó chính là ham tiền của bất chính, nhìn thấy tiền mà quên tình nghĩa.

Mặc dù nhà tỷ phú đã cố gắng hết sức giúp đỡ nhưng mẹ cô bé vẫn không qua khỏi được. Hai mẹ con họ không chỉ giúp vị doanh nhân tìm lại 10 triệu Đô la Mỹ mà quan trọng hơn đó là tìm lại được thông tin thị trường quan trọng đó, giúp cho việc kinh doanh của ông ta thành công mỹ mãn, không lâu sau thì trở thành tỷ phú.

ty-phu-2

Sau đó, cô bé được ông nhận nuôi, cô hoàn thành chương trình học Đại học và quay về giúp đỡ ông xử lý việc kinh doanh.
Mặc dù nhà tỷ phú không giao cho cô bất cứ trọng trách cụ thể nào nhưng trong thời gian học hỏi và rèn luyện, mọi kỹ năng kinh nghiệm cũng như trí tuệ của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến cô, giúp cô trở thành một nhân tài kinh doanh thành thục.
Lúc về già, làm bất cứ việc gì ông đều tham khảo ý kiến của cô.

Trước lúc qua đời, ông có để lại một bức di chúc khiến mọi người đều kinh ngạc: “Trước khi quen hai mẹ con Linh Linh, tôi đã là một người có rất nhiều tiền. Nhưng khi gặp con bé và đứng trước giường bệnh của mẹ cô bé, tôi nhận ra rằng hai mẹ con họ là người giàu có nhất, bởi tấm lòng của họ đã đạt đến tiêu chuẩn làm người mà không ai với tới được, đó chính là cái mà người doanh nhân như tôi còn thiếu sót nhiều nhất. Họ giúp tôi tỉnh ngộ rằng tài sản lớn nhất của con người chính là nhân phẩm.

ty-phu-3

Tôi nhận nuôi Linh Linh không phải là để báo đáp ơn huệ, cũng không phải là tôi đồng cảm với họ mà là vì muốn mời một hình mẫu về cách làm người. Có nó bên cạnh, việc kinh doanh trên thị trường tôi có thể nắm bắt nhanh chóng, những việc gì nên làm, những việc gì không nên làm, tiền gì nên và tiền gì không nên kiếm.

Đó chính là nguyên nhân chủ chốt giúp sự nghiệp của tôi đạt đến sự hưng thịnh sau này, và tôi đã trở thành một nhà tỷ phú. Sau khi tôi đi, toàn bộ gia sản sẽ do Linh Linh kế thừa, như vậy, sự nghiệp của tôi sẽ tiếp tục hưng thịnh, ngày càng đạt đến đỉnh cao thành công. Tôi đặc biệt tin tưởng rằng, đứa con trai thông minh của tôi sẽ hiểu được nỗi lòng của bố nó”.

Khi con trai của ông từ nước ngoài trở về, anh ta liền đọc kỹ di chúc của bố rồi không một chút do dự liền ký tên vào tờ hiệp ước kế thừa tài sản: “Tôi đồng ý việc Linh Linh kế thừa toàn bộ gia sản của bố tôi, tôi chỉ có một yêu cầu là Linh Linh hãy làm vợ của tôi”.

Sau khi nhìn thấy con trai của bố nuôi ký tên, cô cũng cầm bút ký: “Tôi tiếp nhận toàn bộ tài sản của bố nuôi để lại, bao gồm cả con trai của ông”.
Đọc xong câu chuyện, bạn rút ra được điều gì không?

Nếu bạn lạnh nhạt với người khác, họ cũng sẽ lạnh nhạt với bạn như vậy; nếu bạn thường xuyên phê bình người khác, bạn cũng sẽ nhận được nhiều sự phê bình như thế; nếu bạn thường ra ngoài với bộ mặt cau mày, nhăn nhó thì đương nhiên, người khác cũng sẽ không tươi cười với bạn; tất cả đều có luật nhân quả.

Chỉ cần bạn luôn nỗ lực làm người tốt, bạn nhất định sẽ được báo đáp. Những việc bạn cố gắng làm cho người khác thì cũng chính là làm cho bản thân mình, vì thế, bạn luôn mong muốn bản thân có được, trước tiên bạn nên làm cho người xung quanh bạn có được.
Nếu bạn luôn mong muốn có được những người bạn tốt thì trước tiên bạn phải hết lòng với bạn bè. Nếu bạn mong mình luôn được vui vẻ thì trước tiên hãy mang niềm vui ban phát cho người khác.

Giúp đỡ người khác chính là mở ra cho bản thân một con đường, cho bản thân thêm một cơ hội và cũng chính là cho người khác thêm một cơ hội. Sống trong đời nên bớt ích kỷ đi một chút, quan tâm đến người khác nhiều hơn, như vậy thế giới của chúng ta mới tràn đầy ánh sáng, tràn đầy niềm vui được.

Theo Thu Hương (MTG)

Có bao nhiêu án oan tại Việt Nam?

Có bao nhiêu án oan tại Việt Nam?

Nguoi-viet.com

Ông Nguyễn Thanh Chấn, một người bị oan nổi tiếng, trong ngày được trả tự do. (Hình: Pháp Luật Thành Phố)

HÀ NỘI (NV) – Có bao nhiêu người bị kết án oan ức dù người ta không phạm tội tại Việt Nam trong hàng trăm ngàn vụ án?

Đây là câu hỏi được luật sư Lê Công Định nêu ra trong một bài viết ngắn trên mạng xã hội hôm Thứ Sáu, 23 Tháng Mười Hai, 2016, khi ông hỏi rằng “Còn bao nhiêu bản án và nghi án oan khuất nữa đang dày vò thân phận của bao người mà chúng ta biết và không biết đến?” nhân có tin tử tù Hàn Đức Long mới được trả tự do sau 4 lần bị kết án tử hình khi bị vu cho tội hiếp dâm và giết một bé gái 5 tuổi hàng xóm.

Buổi tối 20 Tháng Mười Hai, 2016, ông Hàn Đức Long (57 tuổi, cư dân thôn Yên Lý xã Phúc Sơn huyện Tân Yên, Bắc Giang) trở về nhà trong sự ngỡ ngàng của gia đình theo “quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can” đối với ông vì “không đủ căn cứ kết tội” của Viện Kiểm Sát tỉnh Bắc Giang.

Luật sư Ngô Ngọc Trai, một trong những luật sư theo đuổi vụ này, từng có nhiều bài viết liên quan đến vụ án. Vợ ông đã cầm cố cả nhà đất, hàng ngày đi làm thuê, lấy tiền chạy ngược chạy xuôi kêu oan cho ông hơn 11 năm trời. Cả ông cựu tổng bí thư đảng, Lê Khả Phiêu, cũng đã viết thư cho ông Trương Tấn Sang, khi đang là chủ tịch nước, yêu cầu xét lại bản án.

Trước nhiều áp lực, ông Hàn Đức Long mới được trả tự do. Ra tù, ông nói rằng nếu không “nhận tội” thì ông đã bỏ xác trong tù bởi những trận tra tấn khủng khiếp bên trên sức chịu đựng. Không có chứng cứ nào từ nhân chứng đến vật chứng chứng tỏ ông là thủ phạm, công an CSVN chỉ căn cứ vào lời “tố cáo” của mẹ con một người hàng xóm dù không nhìn thấy cảnh bé gái bị hãm hiếp và giết hại.

Khi bị lôi ra các phiên tòa, ông Hàn Đức Long đều phủ nhận hành vi hiếp dâm, giết người mà nói đã bị bức cung, nhục hình, ép phải nhìn nhận cái tội không hề phạm. Ngày 22 Tháng Mười Hai, 2016, một số báo ở Việt Nam trong đó có cả tờ “Pháp Luật Việt Nam” của Bộ Tư Pháp đưa tin các điều tra viên trong hai vụ án oan Hàn Đức Long và Nguyễn Thanh Chấn “là một.”

Ngày 12 Tháng Giêng, 2015, tờ Pháp Luật Thành Phố cho hay “Đoàn luật sư thành phố Hà Nội đã thống kê 47 vụ án có dấu hiệu oan sai mà luật sư của đoàn từng trợ giúp pháp lý từ 1 Tháng Mười, 2011 đến 30 Tháng Chín, 2014.” Nguyên nhân của các vụ oan sai “chủ yếu xuất phát từ giai đoạn điều tra,” tức là điều tra viên đã tra tấn nhục hình nghi can “đánh cho ra tội.”

Tờ Pháp Luật Thành phố dẫn lời Luật Sư Lê Đức Bính (phó chủ nhiệm Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội) cho biết: “47 vụ án có dấu hiệu oan sai mà Đoàn Luật Sư Thành Phố Hà Nội thống kê chỉ mang tính ước lệ, chưa đầy đủ. Nếu thật đầy đủ thì chắc chắn các vụ án có dấu hiệu hoặc về bản chất là oan sai sẽ nhiều hơn! Việc nắm các vụ án có dấu hiệu oan sai chủ yếu là qua các báo cáo cụ thể của các tổ chức hành nghề luật sự và các luật sư thành viên. Phản ánh án oan sai từ các thành viên của đoàn, từ khách hàng, công luận cho thấy tình hình oan sai ngày càng gia tăng và phức tạp hơn.”

Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam, ngày 8 Tháng Chín, 2016, có bài viết trên trang mạng của họ rằng “tình trạng ép cung, bức cung trong giai đoạn khởi tố, điều tra của điều tra viên với người bị tạm giam, bị can vẫn còn diễn ra.”

Tổ chức này cho rằng “Pháp luật tố tụng còn thiếu quy định cụ thể về căn cứ, cách thức trưng cầu để bảo đảm sự độc lập, khách quan và hiệu quả của hoạt động tố tụng và hoạt động giám định; cơ chế xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động tố tụng với tư cách là một loại chứng cứ đặc biệt trong hoạt động tố tụng, những trường hợp bắt buộc người giám định tư pháp phải có mặt tham dự phiên tòa để trình bày và bảo vệ kết quả giám định chưa được quy định cụ thể thành điều luật.”

Nhân chuyện Hàn Đức Long được thả, Luật Sư Trần Vũ Hải viết trên Facebook hôm 23 Tháng Mười Hai, 2016, rằng “Tôi tin rằng còn có rất nhiều vụ án oan sai đặc biệt nghiêm trọng khác, nhưng khó có chuyện các cơ quan Bộ Công An, Viện kiểm Sát NDTC và Tòa Án NDTC chịu thừa nhận họ đã gây ra oan sai, bằng cách này hay cách khác.”

Chỉ kể riêng trong 3 năm (2011-2014), hệ thống công an, tư pháp CSVN đã “khởi tố, điều tra 219,506 vụ với 338,379 bị can,” thì có bao nhiêu vụ oan sai vì nghi can bị tra tấn, ép cung, không ai biết đích xác trừ phi có các cuộc điều tra độc lập và thẳng thắn, một điều không thể có trong chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam.

Luật Sư Trần vũ Hải kể rằng, sau vụ Nguyễn Thanh Chấn (ra tù Tháng Mười Một, 2013) “mỗi năm các cơ quan này lại “són” ra một vụ được thừa nhận oan sai nghiêm trọng. Năm 2015 là Huỳnh Văn Nén sau 17 năm tù và án chung thân cùng hai vụ đại oan. Năm 2016 là vụ Trần Văn Thêm, thực ra vụ này đã được xác định oan sai từ hơn 40 năm trước, nhưng với lý do thất lạc hồ sơ, đến năm nay mới chính thức xác nhận. Một vụ khác là vụ Trần Văn Vót, cơ quan pháp luật nói hồ sơ đã bị tiểu hủy do trên 20 năm, mặc dù ông Vót và gia đình kêu oan liên tục từ đó đến nay. Dù không có hồ sơ, nhưng hai cơ quan tố tụng tối cao vẫn khẳng định “xét xử đúng!” Những vụ án khác đang đợi chờ trong hy vọng mong manh là các vụ án Hồ Duy Hải, Lê Văn Mạnh, Nguyễn Văn Chưởng và nhiều vụ khác, chỉ tính những án bị tuyên tử hình hoặc chung thân.”

Mỗi năm, có vài chục người bị công an CSVN tra tấn chết chỉ vài giờ hay vài ngày khi bị bắt để điều tra. Tất cả dấu vết bầm tím, dập xương, nứt sọ, tổn thương các bộ phận trong cơ thể đầy trên thi thể các nạn nhân nhưng hầu hết các thủ phạm tra tấn đều được bao che dung dưỡng. Các nạn nhân bị đổ cho là “tự tử,” “sốc thuốc,” “có tiền sử bệnh tim” dù thân nhân của họ cả quyết các nạn nhân đều khỏe mạnh, bình thường. (TN)

Đêm hôm nay, lạnh lẽo Giáng Sinh nghèo

Video Tâm Sự Gửi Về Đâu. Tuấn Ngọc, Phạm Duy – SS: Trần Ngọc

httpv://www.youtube.com/watch?v=YsCnWFna6UU

Suy Tư Tin Mừng Tuần Giáng Sinh năm A 25/12/2016

Tin Mừng: (Lc 2: 1-4)

 Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu-chỉ, truyền kiểm-tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.

 Bởi thế, ông Giuse từ thành Nazarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình giòng tộc vua Đavít.

     *      *      *       * 

Đêm hôm nay, lạnh lẽo Giáng Sinh nghèo

Xin Thượng Đế cho tâm tư giải toả

Thời gian nào con được biết mơ say,

Con được biết tình yêu như biển cả,

Phương trời nào hạnh phúc ở tầm tay.

( Dẫn  nhập từ thơ Đào Tiến Luyện)

            “Tâm tư giải toả”- “hạnh phúc ở tầm tay”. Đó, chính là ý nghĩa của sự kiện Giáng sinh, rất hôm rày. Giáng sinh hôm nay, biểu tỏ tình yêu, như biển cả. Như mơ say, hạnh phúc Chúa gửi đến với dân nghèo khắp nơi nơi.

Trình thuật Giáng sinh, thánh Luca ghi rõ về một Đại lễ có ánh sáng, có niềm vui khi xưa, ơn giải thoát, rất đong đầy. Niềm vui khi xưa, dân thành La Mã đã mừng kính Lễ hội này như Ngày Hội Mặt Trời, khó chinh phục. Ngày hội Mặt Trời, không chinh phục nổi- bên tiếng La tinh gọi là solis invicti- tức Định Tinh nóng cháy khó lòng khuất phục. Lễ Hội Mặt Trời ở đây  là ngày lễ có Mùa Xuân chợt bừng sáng. Có niềm vui trỗi dậy, sau nhiều tháng ngủ vùi, giữa mùa Đông.

Các bài đọc Lễ Đêm hôm nay, nói đến Ánh sáng nơi Chúa Hài Đồng trong máng cỏ. Chúa Hài Đồng, là Nguồn Ánh Sáng cho thế giới gian trần. Ánh lực huy hoàng rực sáng từng bao bọc các nông dân, mục đồng. Có đạo binh thiên quốc đồng loạt cất tiếng ngợi khen :“Vinh danh Thiên Chúa nơi trời cao thẳm, bình an dưới thế cho kẻ được Người đoái thương!”. (Lc 2:14)

Đồng loạt với ánh sáng diệu kỳ , là niềm vui thiên thần. Niềm vui mục đồng và thần sứ, vây quanh Đấng Hài Nhi. Và niềm vui đây là niềm vui giải thoát Đức Giê –su mang đến với mọi người. là, niềm riêng Vua An Bình hạ giáng đến với đám dân nghèo, thân phận hẩm hiu.

Phúc Âm hôm nay, còn tô đậm sắc thái đặc thù qua lối sống của Đức Giê-su. Sắc thái đặc thù, là mục đích Ngài nắm tới. Đặc thù, nhưng không lao xao tình huống mà dân con ngoại Đaọ vẫn thêu dệt cho vua quan lãnh chúa. Đặc thù ngày Chúa đến, không nằm nơi xa hoa đèn đóm, rất phí phạm. Cũng chẳng thấy tiếng pháo nổ xum xuê, đầy lãng phí. Đặc thù ngày Chúa đến, mang màu sắc khác biệt nơi những ẩn náu trốn chạy biện pháp kiểm tra do vua quan, lúc đó. Đặc thù ngày Chúa đến, theo nhãn giới của người thời đại sẽ như thế nào?

Trả lời thắc mắc này, nhà thần học tu đức từng viết:

“Đến với đồ đệ hôm nay, chắc Chúa sẽ phải hoá trang ghê lắm mới mong đem tình yêu thương cứu độ của Cha đến với mọi người? Đến với người đương thời, Ngài xử sự ra sao, khi dân con- trong Đaọ ngoài đời-đang chết dần mòn vì các căn bệnh quái ác như SIDA? Ngài có ra tay phụ giúp, khi hàng triệu nguời không công ăn việc làm? Hàng triệu người không cón phẩm cách, tác phong con cái Chúa? Khi đàn con bé bỏng, mềm yếu cứ bị xách nhiễu về tình dục? Khi người nữ phụ vẫn bị coi như thuộc giới thấp kém, người dưới cơ? Ngài sẽ làm gì, khi hiện tượng diệt chủng vẫn xảy đến ở đâu đây?” (Lm David N Power, the Furrow 10/1998).

 Chúa đến, mang sắc mầu đặc thù thời hiện tại. Chắc chắn là như thế. Nhưng,Ngài đâu rồi có hiện hữu với con người hôm nay?

 Để trả lời , nhà văn sư huynh Thomsa Merton, đã ghi lại:

“Về với thế giới gian trần, Chúa không tìm được chốn trú chân, đành trở thành vị khách không được mời. Nhưng Ngài vẫn cứ đến. Ngài đến và cảm thấy đó như là nhà mình. Vì không nơi trú ngụ, Ngài đành ở lại với đám người nghèo hèn, cơ cực. Ngài đến, là để ở với những người không thuộc về Ngài. Những người bị giới quyền bính chối bỏ. Ngài đến, cũng bị coi như kẻ yếu đuối, thấp hèn giống như ai. Ngài đến, là đến với những kẻ không nhân vị, bị ngươì khác khinh chê tư cách làm người. Là kẻ bị bách hại, bị cắt đứt mọi hiệp thông. Những người yếu hèn như thế, nay không chỗ trú chân. Ngài là Đức Chúa ở trần gian, đang có mặt với thế giới hôm nay.” (Trích từ The Tablet, 26-12-1998)

           Cách đây không lâu, nhà văn người Brazil, Paolo Freire, người viết cuốn “sư phạm dành cho người bị áp bức”. Trong sách, tác giả đề nghị phương cách giáo dục người nghèo mù chữ, như sau: “khi học chữ, người không biết đọc, không biết viết nên học để biết là mình đang nghèo. Và đang hèn. Học để biết hỏi tại sao mình nghèo. Làm cách nào ra khỏi cảnh nghèo? Và theo tác giả, giải đáp cho bài toán ‘nghèo và hèn’, nằm trong của chính họ.

Đáng tiếc thay, ngày Chúa đến hôm nay vẫn thấy mọi hình thức bạo lực nơi thế giới hiện tai. Bạo lực, vì nhiều người mất kiên nhẫn, không áp dụng phương thức hiền hoà, bất bạo động trong cuộc sống. Bạo lực, vì nhiều người vẫn chủ trương khủng bố, làm đảo lộn chốn sống yên ổn, ôn hoà. Nhiều người vẫn kiếm tìm thoải mái nơi tiền tài,lợi nhuận ở khắp chốn. Chốn doanh thương, quyền bính, lẫn binh đao. Những người luôn chủ trương duy trì giàu sang, phú quý cho riêng mình.

Chúa đến, Ngài mặc lấy hình hài của vị Vua An Bình, thanh thoát,rất chân phương, Ngài đến, mang thông điệp thanh nhàn, Hài Nhi rất đáng yêu. Nhưng rủi thay, thông điệp yêu thương hài hoà Ngài mang đến vẫn không ngăn được con người bạo động gây chết chóc. Bạo động chết chóc, cả ở phần đất của những người lâu nay vẫn chối bỏ Ngài. Những người từng trả lời với Ngài, bằng cách này hay cách khác, tương tự như: “Rất tiếc! Không còn chỗ cho Ngài trú ngụ.”

Âm vang của tình trạng đáng tiếc còn hiện rõ nơi truyện Chúa Giáng trần, vào mỗi năm. Ở nơi đây, có linh mục,tu  sĩ và giáo dân đã và đang dần mòn chết, trong cách sống xa hoa trần tục. Trong lúc đó muôn ngàn người nghèo đói, túng bấn, đang kêu gào ở nhiều nơi.

Giáng Sinh hôm nay, không là lễ hội đình đám chỉ một đêm. Giáng Sinh, không là ngày lễ để ta vui hưởng với thịt ngỗng gà quay, hay bánh ngọt. Giáng Sinh cũng không là tiệc rượu đình đám, ăn nhậu, tiêu phí, rất xa hoa.

Giáng Sinh phải chính là dịp để ta nhớ mà cử hành mừng kính việc Chúa đến với người nghèo khổ, không nhà. Những người chiụ cảnh hẩm hiu, lép vế thiệt thòi đủ mọi thứ. Chúa đến, Ngài mang tín thư Hy Vọng giải thoát đến với người chịu thiệt thòi trong thế giới, đem yêu thương vào nơi bất hoà. Cử hành mừng lễ, là chấp nhận gia nhập tiến trình giải thoát cứu độ mà Chúa kêu mời. Cử hành mừng lễ, là gột bỏ đi mọi tàng tích, âm hưởng của kiếp nghèo sa đọa. Của những bóc lột và kỳ thị đang hiện hữu torng môi trường xa hoa, phung phí.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cử hành mừng ngày Chúa Giáng hạ, nhưng không quên mục đích mình mừng kính, không quên thông điệp còn đó, đằng sau bầu khí phàm tục, mọi ngày lễ. Tham dự tiệc, để rồi ta cầu mong cho thông diệp ngày Chúa Giáng trần giúp mọi người nhớ lại trọng trách của người tín hữu Đức Kitô. Trọng trách về với người nghèo hèn, thiếu thốn để đỡ nâng, như Chúa hằng giao phó. Cho ta. Cho mọi người.

Trong ý thức trách nhiệm ấy, ta hân hoan cất lên lời kinh xưa, hát rằng:

           “Và bây giờ, ngày buồn đã qua

mọi lỗi lầm cũng được thứ tha

Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai

Xoá tan màn đêm u tối

Cho tôi biến đổi tâm hồn

Thành một người mới…”

(Đức Huy- Và con tim đã vui trở lại)

 Chúa đến, mọi màn đêm u tối được xoá tan. Xoá tan trong tâm hồn. Nơi thể xác, của mỗi người. Ngài đến, biến đổi mọi tâm hồn thành người mới. Người tuy nghèo, nhưng đã vui. Vui với niềm vui ngày Chúa mặc lấy cùng số phận. Vui vì Ngài vẫn vui như ta. Với ta.

 Lm Frank Doyle sj biên-soạn –

Mai Tá lược dịch

Ngoài ấy tuổi xuân lạnh rét căm lòng cỏ hoa

Chuyện phiếm đọc trong tuần Giáng Sinh Năm A 25/12/2016

“Ngoài ấy tuổi xuân lạnh rét căm lòng cỏ hoa”
“em nhìn mây không cánh bay về phương trời xa
nghẹn ngào em thầm hỏi người đi có nhớ nhà
nghẹn ngào em thầm hỏi người đi có nhớ nhà…”

(Nhạc: Phạm Duy/Lời: Lê Minh Ngọc – Tâm Sự Gửi Về Đâu)

(Mt 24: 37-44)

Trần Ngọc Mười Hai

 Gửi về đâu, tâm sự tràn đầy ư?  Tâm-sự là tâm-sự gì? Phải chăng là “Tuổi xuân lạnh”, hoặc “nghẹn ngào nhìn mây không cánh bay” ? Hoặc còn là: “thầm hỏi người đi có nhớ nhà”? Nếu quả thật có thế, thì mời bạn và mời tôi, ta lại nghe thêm câu hát tiếp, như sau:

 “Ra đi mùa xuân ấy, mây hồng bay cuối thôn.
Hoa vàng cài trên tóc, em ngây thơ mắt buồn.
Trời sáng trong lòng anh, vực thẳm trong lòng em.
Hai đứa hai tâm sự, xa nhau như đêm ngày…

Người đi vì lý tưởng, em ở lại hờn căm.
Mỗi mùa hoa lại nở, mỗi hình bóng người xa.
Đã bạc phai mầu áo, nổi trôi dưới gốc dừa.
Một trời hoa gạo đỏ, và mưa nắng hai mùa…”

(Phạm Duy/Lê Minh Ngọc – bđd)

 À thì ra, như thế tức: “người đi vì lý-tưởng”, rồi “Xuân về quạnh quẽ” có “người gái quê”, “buồng xuân vắng vẻ”, “Bước dài thương nhớ”, “mây trùng dương cách chia.” Ôi thôi là lời lẽ đầy nhung nhớ. Nhớ cảnh kẻ ở người đi đến là buồn. Thế nhưng, nếu đó là lý-tưởng của nhà Đạo, thì sao anh cứ hát như lời buồn và nhớ như sau:  

“Hẹn mai về, hẹn mai về,

xuân rồi xuân quạnh quẽ.
Người gái quê, người gái quê,

xuân buồng xuân vắng vẻ.
Đường anh đi, đường anh đi,

ôi bước dài thương nhớ.
Giờ em ơi, giờ em ơi,

mây trùng dương cách chia.

Lìa nhau vì lý tưởng,

hỡi em người quê hương!
Đâu phải vì biên giới,

đâu phải vì nghìn phương.
Muôn ngàn năm còn mãi,

lệ trên đá rơi hoài.
Chuyện mình ai người biết,

và ai sẽ xót thương.

Hẹn mai về, hẹn mai về,

xuân rồi xuân quạnh quẽ.
Người gái quê, người gái quê,

xuân buồng xuân vắng vẻ.
Đường anh đi, đường anh đi,

ôi bước dài thương nhớ.
Giờ em ơi, giờ em ơi

mây trùng dương cách chia.”

(Phạm Duy/Lê Minh Ngọc – bđd)

À thì ra, ở đời mỗi khi thấy em nói buồn và nhớ vì xuân này anh đi, vì lý tưởng gì gì đó “đâu phải vì biên giới”, cũng chẳng “vì nghìn phương”. Có khi, chỉ vì “mây trùng dương cách chia”“lệ trên đá rơi hoài.”

 Thế nhưng, ở nhà Đạo thì khác. Khác, như đấng bậc vị vọng ở đâu đó, từng biểu tỏ như sau:

“Phúc Âm hôm nay, chưa nói nhiều về Nhiệm Tích Nhập Thể. Nhưng, Đấng Huyền Diệu Quang Lâm được cảnh báo như một thời có nhiều xáo trộn. Xáo trộn ngày Đức Chúa Quang lâm, được mô tả giống thời Nô-ê. Một thời cần cảnh giác và tỉnh thức. Tỉnh thức, vì Ngài đến bất chợt, rất đột xuất.

 Đấng Huyền Diệu đến, sẽ không như buổi xử phạt, vào ngày cuối. Ngày Chúa đến, sẽ nhắc nhở con dân của Ngài đừng vì cảnh ly biệt tách lìa, mà hãi sợ. Cảnh giác và tỉnh thức để mọi người nhận ra Chúa luôn hiện diện, trong huyền diệu.     

 Việc đề cao tỉnh thức, còn được thánh Phao-lô tông đồ nhắn nhủ, qua thư gửi giáo đoàn Rôma lành thánh, rằng:

 “Đã đến lúc anh chị em phải tỉnh giấc …

Đêm hầu tàn, ngày sắp đến.

Hãy vất bỏ những việc tối tăm

và mặc lấy khí giới của sự sáng”.

(Rm 13: 12)

 Đi vào đời sống, người người cần nhận ra, rằng: đã đến lúc ta nên cảnh tỉnh. Cần giác ngộ về các hành động mình đã và đang làm. Cảnh tỉnh/giác ngộ, để không còn gì phải sợ sệt hoặc che giấu. Giấu Chúa và giấu người phàm. Và khi đã cảnh tỉnh rồi, ta sẽ không tủi hổ vì đã có hành vi bất chính. Không còn hãi sợ vì đã hành xử phản lại tâm trạng người đón chờ ngày Chúa Quang Lâm.

 Đón chờ ngày Đấng Huyền Diệu Quang Lâm, là biết sẵn sàng trong tư thế của người con bình thường. Người con bình thường, là người không sợ phải quay về với thời ông Nô-ê, khi trước. Người con ở tư thế bình thường, là người không còn sợ ngày xét xử, vào lần cuối.  

 Tâm trạng của người con chờ ngày Chúa đến, còn là tâm trạng phó thác để Chúa hiện diện với chính mình. Ngài hiện diện qua tương quan rất hiện tại. Tương quan mang hình thái của một “nhiệm tích hiện tại”. Nhiệm tích xảy đến vào mọi lúc, với mọi người. Nhiệm tích thể hiện qua hành vi, và qua công việc thường nhật. Ngài sẽ đến bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu.

 Sống trong tương quan “nhiệm tích hiện tại”, ta nhận ra Ngài đang hiện diện nơi mọi người trong cuộc sống. Và, nhận ra bàn tay thân thương Ngài đặt nơi sự kiện đang xảy đến. Khi ấy, không còn hãi sợ. Không còn e dè ngần ngại về mọi cảnh báo. Nhưng, sẽ phấn khởi sống tình thương của Chúa. Phấn khởi, nhận ra Ngài đang gần gũi chính mình. Gần hơn cả nhịp đập rộn rã, của con tim, nhịp tình yêu. Nhịp của “nhiệm tích hiện tại”.   

 Sống tương-quan nhiệm tích, là sống một đời sống tử-tế, dễ thương cả khi ăn khi nói, cả khi giảng-giải hoặc lắng nghe Lời Chúa từ đâu đó, trong thinh-lặng. Lắng nghe hoặc giảng giải, bao giờ cũng cần ngắn gọn, để người nghe dễ nhớ những gì đã nghe và cần nghe.

Đây cũng là điều mà Đức Phanxicô từng nhắc nhở mọi người, chí ít là các đấng bậc có trọng trách giảng-giải Lời của Chúa, ở nhà thờ như sau:

“Trong khi cử hành nghi thức tấn phong tân giám mục, Đức Giáo hoàng Phanxicô khuyến khích các linh mục hãy dùng những lời lẽ đơn giản khi giảng dạy, và hãy rút gọn bớt bài giảng của mình trong thánh lễ ngày chúa nhật.

 Đức Phanxicô thúc  các linh mục hãy nghĩ lại về thời thơ ấu của mình, và nhớ xem giáo dân mừng thế nào khi các linh mục giảng những bài ngắn gọn. 

 ‘Hãy nhớ cha của các cha, và thấy ông hạnh phúc thế nào khi biết có một linh mục gần đó cử hành thánh lễ mà không có bài giảng!’

 Các bài giảng phải là sự thông truyền ơn Chúa, 

và phải đơn sơ để tất cả mọi người đều hiểu được, 

và khi ra về ai cũng mang theo một khát khao muốn sống tốt hơn.’

 Các bài giảng ngắn gọn cũng là chủ đề mà Đức Phanxicô đã lặp lại nhiều lần.

Tháng 4 năm ngoái, Đức Giáo hoàng truyền chức cho 19 linh mục, và thúc giục họ hãy phục vụ hơn là điều hành đàn chiên, và hãy cho dân Chúa của ăn với những bài giảng từ trái tim hơn là những bài thuyết đáng chán.

 ‘Hãy để bài giảng là nguồn nuôi dưỡng Dân Chúa, 

để cho bài giảng của các cha không đáng chán, 

để cho bài giảng của các cha vươn đến tâm hồn mọi người, 

bởi bài giảng đó xuất phát từ tâm hồn các cha, 

bởi các cha nói ra những gì các cha mang trong tim mình.’

 Đức Giáo hoàng cũng thúc giục các tân linh mục hãy thực hành những gì mình giảng, để làm gương lành, làm chứng cho sự thật trong những lời mình nói. 

 ‘Một gương lành làm cho mọi người phấn chấn, 

lời nói mà không có hành động thì là những lời vô nghĩa, 

chúng là những khái niệm không bao giờ đến được tâm hồn mọi người,

 và sẽ gây hại hơn là tốt.’

 Trong thánh lễ ngày thường ở Nhà nguyện nhà trọ thánh Marta, nơi ngài sống, 

Đức Giáo hoàng Phanxicô thường giảng các bài ngắn gọn,

không bao giờ vượt quá 10 phút, và thường là ngắn hơn nhiều.”

(J.B. Thái Hòa chuyển dịch)

Giảng ngắn gọn ư? Ối chà là cách mạng. Xưa giờ, bạn cũng như tôi, chúng ta đều biết thế nhưng nào ai dám nói. Biết, cả những điều khá lạ-kỳ khi đấng bậc giảng-dạy gọi là “Chia sẻ Lời Chúa” vẫn cứ kể vào những lúc cứ là dài giòng giảng giải hay kể lại những điều đã được kể khá dài ở Phúc Âm. Như thế, là giảng-giải dài giòng, đến buồn ngủ.

Giảng ngắn gọn “không bao giờ vượt quá 10” ư? Dạ thưa Đức Ngài, thưa cha/thưa má có một điều, rằng: ở xứ Úc này, các đấng bậc nhà em mỗi khi giảng đến 7 phút thôi, đã bị cho là “Ngài không tìm ra bãi đáp”, nên mới thế. Như thế, tức: sự tử-tế cũng nên hiểu là: nên tử-tế với giáo-dân/người nghe đang ngồi ở hàng ghế dưới cứ phải nghe vị thuyết giảng cứ lai rai, dài giòng, ít vắn gọn.

“Quái-đản” hơn, có vị lại nói những lời “tục-tĩu”/gợi hình như: “con ma xinh xinh chân dài ngày Halowwen”, “Ba vua dâng tặng “nhũ-hoa”, Vàng và Mộc-dược lên Hài Nhi Chúa”, vv..”. Hoặc, cứ vẫn kể những truyện chẳng ý-nghĩa và cũng chẳng ăn khớp với “ý” và “nghĩa” của Tin Mừng/Lời Chúa, rất thanh-tao.

“Kỳ-quái” hơn nữa, có vị lại cứ múa may, hát hò cho bà con vỗ tay khen hay ngay trong nhà thờ/nhà thánh. Ôi quái lạ, dị-kỳ, và vô-nghĩa. Thôi thì, kể sao cho hết những “kỳ-quái, “kỳ-khú” và “dị-kỳ” về đấng bậc nhà Đạo.

Nếu trí-nhớ của bần-đạo đây và của giáo-dân ở xứ-đạo Fairfield, Sydney còn tốt, thì có vị bảo rằng: giáo-dân người ta đến nhà thờ là đã hy-sinh thời-giờ và cũng bỏ công việc gia đình, sở làm thế nên cũng hơi mệt mỏi. Thế nên, cũng đừng nên hành-hạ thêm lỗ nhĩ của những người ấy khi buộc phải nghe các bài giảng dài giòng “văn-tự”.

Lại nữa, nói về “sự tử-tế” giữa con người, cũng còn phải hỏi xem ta có đối xử tử-tế với Thiên-Chúa, không? Bởi lẽ, con người là “ảnh-hình” của Thiên-Chúa, nên đôi lúc con người cũng không “tử-tế” với Đấng tạo ảnh-hình cho chính mình.

Đối xử tử-tế với Chúa và với Chúa-ở-trong-mọi-người, ta có thể làm bằng đủ cách. Cả những cách thường hay thấy hoặc ít thấy. Có cả những cách tưởng rằng mình thường thấy, nhưng lại sai quấy, vì không biết. Như thế, tức có nghĩa: nhiều lúc, ta cứ tưởng rằng mình hiểu và biết rất nhiều về Thiên-Chúa là Đấng-ta chẳng-bao-giờ-biết”, như tác-giả Marcus J. Borg, từng tỏ lộ đôi giòng sau đây:

“Có đến trên ba, bốn chục năm này, nhiều người cứ theo cung-cách cổ-lỗ khi nghĩ về Thiên-Chúa như Kinh Sách, như Đức Giêsu và Đạo Chúa chẳng hạn, cũng đã thôi không còn thúc-ép hoặc ràng-buộc người tín-hữu nữa, đặc-biệt là những vị thuộc các Giáo-hội chính, rất liên-đới.

 Cung-cách khi xưa hiểu và biết Thiên-Chúa là Đạo Chúa của dân-gian ở cấp thấp thuộc thế-hệ thời trước. Theo hình-thức cứng rắn hơn hoặc mềm-dẻo hơn, là thứ đạo-giáo nặng về luân-lý, tín-điều, theo nghĩa đen rất từng chữ và cũng độc chiếm, độc-quyền, lại chuyên hướng về sự sống vào thời sau. Đường-lối các vị này chủ-trương, nay có nghĩa: là Ki tô-hữu, tức là tin vào tập-hợp gồm một số triết-thuyết hoặc tín-điều nào đó tưởng-như-là-có-thật và điều đó có nghĩa: hãy cứ tìm về sống rập-khuôn với giáo-huấn đúng theo luân-thường đạo-đức của Đạo Chúa, là được.

 Đường-lối đây, có khuynh-hướng hiểu Kinh Sách và tín-điều theo từng chữ, rất nghĩa đen, phi trừ có lý-do bắt buộc không được như thế. Như thế, tức bảo rằng: chỉ mỗi Đạo của Chúa mới được hưởng ơn cứu-độ. Và Đạo Chúa đây, xưa nay định-nghĩa ơn cứu-độ là “sự sống vào thời sau”, chẳng hạn như được lên thiên-đàng thẳng cánh.

 Tựu-trung thì. Đạo Chúa khi ấy là đạo-giáo vẫn cứ tin vào các giáo-huấn chung chung của hệ-cấp Giáo-triều từng dạy dỗ vào lúc này vì thiên-đàng, vào thời về sau…”         

 Đường-lối hiểu biết Thiên-Chúa theo kiểu cũ nói ở đây, vẫn được rất nhiều bậc mẹ cha và/hoặc ông/bà nội/ngoại vẫn duy-trì. Thế nhưng, vào hậu bán thế kỷ thứ 20, thì đối với nhiều người, chuyện này cũng bớt đi phần tin-tưởng cũng khá nhiều, nhất là những người Công-giáo tự cho mình là chính-cống, hoặc chính-thống. Thế nhưng, ngày nay, lối hiểu và biết về Thiên-Chúa và Đạo Chúa như thế, không còn hiệu-nghiệm và tồn-tại bao nhiêu nữa…” (X. Marcus j. Borg, The GOD We Never Knew,HarperOne 1997, tr. 84-85)

“Dân địa phương

đối xử tử tế với chúng tôi

một cách hiếm có.

Họ đốt một đống lửa to

và niềm nở tiếp đón tất cả chúng tôi,

vì trời đã bắt đầu mưa và lạnh.”

(Cv 28: 3-4)

Đối xử tử-tế, là: “đốt một đống lửa to” cho khỏi lạnh. Và là: “niềm-nở tiếp-đón tất cả chúng tôi, vì trời bắt đầu mưa và lạnh.” Như thế, còn là đỡ đần, giùm giúp. Như vậy, lại là thân-thương đùm bọc, như truyện kể và châm-ngôn để sống cho tử-tế được nói đến ở bên dưới:

“Ngày đầu tiên đi làm về, em tôi vứt phịch túi xách xuống giường và phàn nàn:

“Sao em ghét cái con đồng nghiệp ngồi cạnh thế không biết!”

Tôi hỏi:

-Tại sao?

Nó trả lời:

-Em không biết, nó lì lì ít nói nên em thấy ngột ngạt, em ghét!

 Tôi bật cười, kể cho em tôi nghe những ngày đầu tôi bước chân vào môi trường công sở. Phòng tôi ngoài tôi thì còn 2 người, một bạn thì có vẻ ngoài lạnh lùng, khó gần, và cũng không hòa đồng cho lắm, bạn còn lại khá xinh, chủ động bắt chuyện và nhận giúp đỡ tôi trong công việc.

 Tôi chơi thân với bạn đồng nghiệp xinh xinh ấy, và cũng chẳng bao giờ trò chuyện gì với bạn còn lại trừ khi có công việc.

 Cho đến một ngày, tôi đi làm muộn, đứng ở ngoài nghe thấy người bạn đồng nghiệp mà mình luôn tin tưởng, nói chuyện với sếp tôi. Khi sếp tôi tới kiểm tra và hỏi tôi đâu, bạn nói: “Nó chưa đến anh ạ! Ngày nào cũng đi muộn. Làm việc thì vớ vẩn lắm!”

 Tôi đứng im như phỗng, ruột gan đảo lộn, tim thắt đau. Người đồng nghiệp còn lại nói đỡ cho tôi: “Em nhờ bạn ấy tiện đường rẽ qua cơ sở mới lấy giấy tờ giúp em nên tới muộn thôi anh!”

 Lúc sếp đi ra cửa, tôi chạy vội vào nhà vệ sinh. Đợi tinh thần ổn định mới trở vào phòng làm việc. Tôi vẫn cười nói như bình thường, giấu sự thật mà mình biết trong lòng. Có những điều dù mình đã tường tận nhưng vẫn nên im lặng, chỉ để cho lòng mình biết phải cư xử với đối phương thế nào.

 Một thời gian rất lâu sau, người đồng nghiệp xấu tính của tôi nghỉ việc, chỉ còn tôi và bạn còn lại lo công việc trong phòng. Lúc này chúng tôi tiếp xúc nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn, và quan trọng là đối với nhau chân thành không toan tính vụ lợi. Và chúng tôi chơi thân với nhau cho tới tận giờ.

 Thế đấy! Lòng người vô cùng khó đoán. Không phải ai lạnh lùng khoảng cách với mình là không quan tâm mình, không phải ai cười cười nói nói thân thiết với mình là yêu thương mình. Chiếc dao giấu dưới đệm, người nằm lên khó lòng biết được, đâu phải ai cũng như nàng Công chúa trong truyện cổ, ngủ trên 7 tầng đệm mà vẫn cảm nhận được vài viên đậu dưới giát giường?

 Vậy nên, tôi nói với em tôi, em đừng ghét ai vô nghĩa, bởi nhiều khi người em vô cớ ghét, lại là người sẽ thương em hết lòng.

 “Thực ra, lời nói nhiều khi đều là giả, chỉ có những điều cùng nhau trải qua mới là thật. Người tốt thường chẳng khéo miệng, người xấu lại luôn biết nói lời hay”

 Thế nên,

 Đừng ghen tị vì người khác chín chắn trưởng thành hơn bạn, chẳng qua vì họ gặp nhiều người xấu hơn bạn mà thôi.

  1. Bạn thông minh hơn kẻ khác không phải lỗi của bạn, nhưng diễu võ giương oai trước mặt họ thì bạn sai rồi.
  2. Niềm vui lớn nhất trên đời là làm được những điều mà bạn nghĩ rằng mình không làm được, niềm vui lớn thứ hai là làm được những điều mà người khác nghĩ rằng bạn không làm được.
  3. Đừng mất thời gian và công sức để kêu than với đám đông làm gì, một nửa sẽ không quan tâm, còn một nửa thì mừng thầm khi thấy bạn xui xẻo hơn họ.
  4. Đừng mất niềm tin vào tình yêu, thế giới rộng lớn thế, cũng sẽ có người có khẩu vị khác lạ say bạn như điếu đổ thôi.
  5. Để duy trì một mối quan hệ tình cảm tốt đẹp, ngoài thật lòng và tử tế, còn cần phải không ngừng nỗ lực trở lên ưu tú hơn nữa.
  6. Hãy trân trọng khoảng thời gian còn được đến trường, đừng nghĩ đi làm rồi tự kiếm được tiền rồi mới là tự do. Sau này bạn sẽ thấy, công việc thì áp lực mệt mỏi hơn bài tập, đồng nghiệp thì xấu tính đáng ghét hơn bạn học, mà bạn lại chẳng thể đánh người, vì bạn đã thành người lớn rồi.” (Truyện sưu tầm từ mạng vi-tính)

Với quyết tâm thực-hiện cuộc sống rất tử-tế với mọi người, mời bạn và tôi, ta lại hát lên những lời ca ê-a ở trên làm kết đoạn cho vui cuộc đời:

“Hẹn mai về, hẹn mai về,

xuân rồi xuân quạnh quẽ.
Người gái quê, người gái quê,

xuân buồng xuân vắng vẻ.
Đường anh đi, đường anh đi,

ôi bước dài thương nhớ.
Giờ em ơi, giờ em ơi,

mây trùng dương cách chia.

Lìa nhau vì lý tưởng,

hỡi em người quê hương!
Đâu phải vì biên giới,

đâu phải vì nghìn phương.
Muôn ngàn năm còn mãi,

lệ trên đá rơi hoài.
Chuyện mình ai người biết,

và ai sẽ xót thương.

Hẹn mai về, hẹn mai về,

xuân rồi xuân quạnh quẽ.
Người gái quê, người gái quê,

xuân buồng xuân vắng vẻ.
Đường anh đi, đường anh đi,

ôi bước dài thương nhớ.
Giờ em ơi, giờ em ơi

mây trùng dương cách chia.”

(Phạm Duy/Lê Minh Ngọc – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hiên ngang hướng về phía trước mà sống. Sống hùng, sống mạnh không phải để rồi sau khi chết “sẽ được lên thiên-đàng”, nhưng sống thân-thương, hoà-hợp với mọi người ngay ở thời này. Sống cho ra sống, đúng chức-năng và nhân-vị của con người. Người Kitô-hữu được Kitô-hoá theo cung-cách rất Kitô.

Trần Ngọc Mười Hai

Còn đó những quyết-tâm

Sống đời hiền-hoà

của Kitô-hữu

luôn sở-hữu Đức Kitô. 

Sống và yêu

Sống và yêu

Trầm Thiên Thu

Chị Brittany Maynard, 29 tuổi, được chẩn đoán có khối u ác tính trong não ở giai đoạn 4 từ hồi tháng 4-2014, và bác sĩ nói chị chỉ còn sống thêm trong vòng 6 tháng.

Ngày 1-11-2014, chị sẽ kết thúc cuộc đời với sự trợ tử của bác sĩ bằng phương pháp “an tử” (làm cho chết êm ái). Chị cho biết rằng chị không muốn chị và gia đình chịu nỗi đau khổ vì chứng ung thư não của chị. Chắc chắn đây là tình cảm tốt đẹp khi người ta không muốn những người thân chịu đau khổ, nhưng đó không phải là cách yêu thương!

Các phương tiện truyền thông hết lời ca tụng quyết định của Brittany là can đảm. Thật mắc cười khi các phương tiện truyền thông khen chị dám chết vì không muốn gia đình đau khổ, và kêu gọi những người khác hủy hoại sự sống mà không cần bác sĩ trợ tử. Nhưng các phương tiện truyền thông ca tụng một phụ nữ trẻ mới kết hôn mà lại muốn chết chứ không muốn sống. Các phương tiện truyền thông ca tụng sự chết, dù đó là phá thai, an tử, hoặc trợ tử, họ gọi đó là sự chọn lựa, sự tự do, hoặc sự can đảm. Tuy nhiên, Thiên Chúa cấm chúng ta nghĩ rằng chúng ta có thể là gánh nặng cho người khác vì sức khỏe giảm sút hoặc cần được chăm sóc về y tế.

Sợ hãi là động lực có thật: Sợ những gì ở phía trước, sợ đau khổ, sợ không thể kiềm chế,… Các phương tiện truyền thông và xã hội muốn chúng ta sống trong nỗi lo sợ vì nỗi lo sợ khiến chúng ta phải kiểm soát. Nỗi lo sợ biến chúng ta thành nô lệ dưới chiêu bài của sự tự do, sự can đảm, và sự tự tha thứ cho mình. Nỗi lo sợ xoay chúng ta hướng vào bên trong (tự hướng nội) và làm cho chúng ta tin rằng mình đáng bị thu nhỏ lại.

Chân phước Chiara Luce Badano đã không sống trong nỗi lo sợ mặc dù Chị chịu đau khổ và chết vì chứng ung thư xương rất đau nhức khi còn ở độ tuổi thiếu niên. Thay vì đầu hàng nỗi đau đớn thể lý, Chị đã chịu đựng đau khổ và nhìn cha mẹ thấy Chị chống chọi với bệnh tật. Chị dùng đau khổ để thánh hóa chính mình và những người khác. Chị dùng đau khổ làm phương tiện để hy vọng.

Ngược lại, chị Brittany Maynard lại dùng đau khổ làm phương tiện để tuyệt vọng! Buồn biết bao khi Brittany cho phép bóng tối làm tiêu tan chính mình. Chân phước Chiara được một người bạn đặt cho biệt danh Luce khi Chị gia nhập phong trào Focolare, vì Chị là ánh sáng cho người khác. Chị như ánh đuốc soi sáng trong bóng đêm của cuộc sống này để đi tới Chúa Giêsu và sự sống đời đời.

Các phương tiện truyền thông chẳng bao giờ ca tụng những loại ánh sáng này của con người. Bạn sẽ không bao giờ nghe nói về những con người thầm lặng chịu đau khổ trên đời này, hoặc thời gian kỳ diệu mà họ cố gắng sống tốt, và hôm nay họ vẫn sống vô thường dù ngày mai họ sẽ chết, họ sống như thể là bất tử. Những con người này là những ánh đuốc sáng thực sự trong thế giới này, họ đối diện với bóng tối và tuyên bố: “Mi cứ làm điều tồi tệ nhất! Tôi sẽ không bị hủy diệt”. Những người này sống trọn vẹn tình yêu thương, hoàn toàn biết từ bỏ mình, ngay cả khi họ phải đối diện với tử thần, họ không bao giờ chịu thua sự cám dỗ của nỗi thất vọng, vì họ biết rằng SỰ SỐNG và TÌNH YÊU đáng tận hưởng. Dù sao thì cuộc đời cũng vẫn đáng sống, không đáng chấm dứt.

Bạn sẽ chẳng bao giờ nghe nói về những con người như Ginnie Levin. Chị được chẩn đoán bị ung thư vú, mặc dù cắt cả hai vú và các khối u, chứng ung thư vẫn di căn tới nhiều bộ phận khác trên cơ thể. Chỉ còn ít thời gian ngắn ngủi trên thế gian này, chị muốn dành tất cả cho gia đình. Người bà và người mẹ của chị đã chết vì ung thư, người cha của chị cũng đang phải điều trị ung thư. Ginnie muốn tới thế giới của Walt Disney với gia đình một lần nữa, tạo ký ức vui mừng một lần cuối. Xin mọi người hãy cầu nguyện nhiều cho chị Gennie Levin!

Trong một thế giới ca tụng việc hủy hoại sự sống, chúng ta hãy ca tụng Sự sống. Hãy tạo sự khác biệt trong cách sống của chúng ta hôm nay!

Thánh nữ Teresa Margaret Thánh Tâm Chúa (Dòng Kín Chân Đất, 1747-1770) nói: “Không có gì phải than phiền, tôi sẽ chịu đựng mọi thứ vì yêu mến Chúa, tôi không có gì phải lo sợ”. Chân phước Chiara Luce được an táng với chiếc áo cưới vì Chị sẽ đi gặp Đức Lang Quân là Chúa Giêsu trong cõi trường sinh. Chết lúc mới 19 tuổi vì bệnh trầm kha, nhưng chân phước Chiara Luce vẫn khả dĩ nói: “Tôi không còn lại gì, nhưng tôi vẫn còn trái tim, và tôi có thể yêu thương bằng trái tim đó”.

Chị Chiara Luce Badano sinh ngày 29-10-1971 tại ngôi làng nhỏ Sassello ở Ý quốc, qua đời ngày 7-10-1990 sau một năm đau đớn vì chứng ung thư xương. Chị được Giáo hội tôn phong chân phước ngày 25-9-2010.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

Anh chị Thụ Mai gởi

Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai

Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…

Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỹ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận

Đừng quyết đinh khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức (trên 50 t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70 t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90 t …ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !)

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu

Anh chị Thụ Mai gởi

Ba điều sướng nhất?

Ba điều sướng nhất?

Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày.

Thấy lạ, có người hỏi:
– Tại sao ông vui tươi mãi như thế? 

Ông lão đáp:
Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất, “Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người.  Ấy là điều sướng thứ nhất.

Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn,   ấy là điều sướng thứ hai

Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa, không lo lắng gì cả.   Ấy là điều sướng thứ ba

Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai tránh được. Ta cũng như mọi người,  làm gì phải buồn?.

Nghĩ tới ba điều sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình, mắc mớ chi phải hỏi.

(Cổ Học Tinh Hoa)