Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

From facebook:  Honolulu Nguyen

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

Phạm Tín An Ninh

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình.

Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng”nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”.

Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…”v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản.

Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc.

Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”.

Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!

Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế.

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn, Nguyễn Văn Tý… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này.

Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

4/9/2017

 V Phung Phung :  Bài viết rất chính xác. Hồi còn bị giam giữ ngoài Bắc, khoảng năm 1978-1979 ; ai hát nhạc vàng thì cấm ,có thể bị giam sà lim, tù trong nhà tù, nhưng khi tôi đi làm tạp dịch ở khu nhà cán bộ, tôi nghe nhiều bài hát nhạc vàng, nhạc bolero trong máy hát, băng dĩa…
Trong đầu tôi đã nghĩ ngay nhạc miền Nam đã ảnh hưởng ra miền Bắc. Không còn nghe ai hát nhạc cách mạng nữa như bản Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Nền văn minh miền Nam, âm nhạc đi vào lòng người của miền Nam đã ảnh hưởng, xâm nhập vào miền Bắc cộng sản. Cán bộ cộng sản lúc bấy giờ đã mê Nhạc vàng, nhạc Bolero miền Nam rồi.

Rồi Hết Chiến Tranh….

From facebook:  Van Pham added 3 new photos.

Chuyện Phiếm – Bi Hài đáng để Suy ngẫm…

Rồi Hết Chiến Tranh….

“Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng.”
T.C.S

Hơn bốn mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình làm say đắm lòng nguời: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đuờng.”

Sau cuộc chiến, quả nhiên, trẻ con có la cà và tụm năm tụm ba hơi nhiều trên đường phố. Chỉ có điều là tuyệt nhiên không nghe một đứa nào hát đồng dao; đã thế, phần lớn tụi nhỏ đều tham dự tích cực vào nhiều sinh hoạt không thích hợp cho lắm với tuổi thơ: bới rác, móc túi, ăn mày, bán cần sa, và nài nỉ mời khách mua… dâm – với một thứ ngôn ngữ sỗ sàng và sống sượng đến độ có thể làm đỏ mặt một người da đen hay da đỏ: “Chú ơi, chú chơi cháu đi…” (Hoàng Hữu Quýnh– Tôi Bỏ Đảng, Tập I: Bản Cáo Trạng Chế Độ Hà Nội, trang 140, 1989, trích từ Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Võ, Thông Vũ xuất bản năm 1999).

Đó là những chuyện chỉ có tính cách “hiện tượng,’’ xẩy ra mấy thập niên về trước, khi hòa bình mới đuợc vãn hồi, và xã hội còn nhiều tệ đoan do tàn tích của chiến tranh và xã hội cũ để lại. Với thời gian, bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam mỗi lúc được nhận biết rõ ràng hơn.

Từ Hà Nội, ký giả Huw Watkin tường thuật rằng “cứ năm đứa bé đang lê trên vỉa hè của ba mươi sáu phố phuờng là có một đứa… ăn xin. Bốn đứa còn lại, xem chừng, cũng bận: đánh giầy, năn nỉ người đi đường mua vé số, dắt mối, bán ma túy…”(“VIETNAM: CHILDREN SOLD INTO BEGGING, PIMPING AND DRUG DEALING”). Cũng vẫn theo y như lời Huw Watkin thì lực lượng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy… ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (“… recent media reports that children are being increasingly used by organized begging gangs, pimps and drug dealers”).

Chuyện này thì thằng chả nói hơi… thừa! Ở một xứ sở mà nhà nước bao biện mọi chuyện, và lãnh đạo khắp nơi – kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất… – làm sao để cho trẻ em (những mầm non tương lai của tổ quốc) sống vô tổ chức được, cha nội?

Trong tương lai gần, lũ trẻ thơ bụi đời ở Việt Nam (dám) sẽ được đoàn ngũ hoá – và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau – để dễ điều phối. Đại loại như, khăn quàng xanh: đánh giầy; khăn quàng tím: dắt mối; khăn quàng trắng: ma túy; khăn quàng hồng: mãi dâm; khăn quàng nâu: ăn mày; khăn quàng đỏ: thu thuế và theo dõi hoạt động, cũng như tư tưởng, của những loại khăn quàng khác!

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng chấm dứt luôn sự chia cách giữa hai miền Nam – Bắc. Viễn tuợng thống nhất (cũng) đã đuợc hình dung bởi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn truớc đó, và cũng là một hình ảnh khiến cho không ít kẻ phải ước mơ: “Một đoàn tầu đi tỏa khói trắng hai bên đường…’’.

Một lần nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại đúng, dù vẫn chưa đúng hết. Sau cuộc chiến, quả nhiên là có đoàn tầu Thống Nhất xuôi ngược Bắc – Nam. Điều đáng tiếc là hành khách lại luôn luôn ở tâm trạng bất an. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo bị công an xét hỏi và tịch thu hàng hoá, nếu là dân buôn lậu. Và tất cả đều lo sợ bị ném đá vỡ đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng – đợi xe lửa đi qua – thi nhau ném vun vút vào cửa sổ!

Do vậy, tầu Thống Nhất đuợc “cải tiến” bằng cách rào kín mọi khung cửa bởi dây kẽm theo hình mắt cáo. Từ đó, nó trông y như những toa xe dùng để chở tù. Những đoàn tầu như thế mà đi phom phom, hớn hở hú còi, và hân hoan thơ thới, sung sướng ’’toả khói trắng hai bên đuờng’’ thì trông (e) hơi mỉa mai và (có phần) lố bịch!.

Trịnh Công Sơn chỉ gần hoàn toàn đúng khi mô tả thảm cảnh sau đây: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình…’’ Nói là “chỉ gần hoàn toàn đúng” vì cuộc chiến đã tàn từ lâu. Thế hệ của những “mẹ già lên núi tìm xuơng’’ đã qua nhưng chuyện đào bới hài cốt vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất – theo như tuờng thuật của Rajiv Chandrasekaran, trên The Washington Post: ’’Vietnamese Families Seek Their MIAs.”

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt mấy muơi năm qua, chị của ông ta (Bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong… vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located – and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này…’’ Vẫn theo lời ông Ban: “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những nguời đã chết (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm sống của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót sau cuộc chiến vừa rồi. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Trần Bạch Đằng nào đó đã giải thích với phóng viên Rajiv Chandrasekaran như sau: ’’…tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót.’’ (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Vì đảng viên Cộng Sản Việt Nam là những nguời theo chủ thuyết duy vật nên không quan tâm đến những việc làm có tính cách duy tâm chăng? Nói vậy e không được ổn. Nhìn cái cách họ ’’thờ’’ ông Hồ Chí Minh thì biết. Họ có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ lăng ông ta mà. Họ đâu phải là những kẻ vô tâm và lo tốn kém.

Họ ướp xác ông Hồ và bảo trì cũng như bảo vệ nó tới cùng chỉ vì nó có giá trị như một thứ môn bài (patent) cho phép họ tiếp tục hành nghề cách mạng – hay ít nhất thì họ cũng tưởng hoặc mong như thế; còn 300.000 ngàn bộ xuơng của đám binh sĩ chết dấm chết dúi đâu đó, trong cuộc chiến vừa rồi, đâu còn một chút giá trị thực tiễn nào nữa khiến họ phải quan tâm.

Rõ ràng họ không phải là những người duy vật, cũng không phải là những kẻ duy tâm mà là những tên duy… lợi ! Hãy nhìn vào thực tế, xem cô nhi quả phụ hay bố mẹ của những kẻ đã hy sinh được “chăm lo’’ ra sao – từ nửa thế kỷ qua ?

‘’Lúc ấy nguời ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt nguời cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó… họ sợ nhất là sau cái ’lễ truy điệu trọng thể để ’Tổ Quốc ghi công’ là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng.’’ (sđd trang 136 -138).
“’Lúc ấy’’, qua đoạn văn vừa dẫn, là hình ảnh của xã hội miền Bắc vào thập niên 60 và đầu 70 – khi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cần động viên xương máu nguời dân cho chinh chiến. Cuộc chiến đã tàn. Bây giờ thì họ còn cần gì đến ai nữa? (Nói chi đến mộ phần của những tên “lính ngụy” ở Nghĩa Trang Quân Đội!)

Do đó, khi thấy một phế nhân lê la xin ăn trên hè phố Sài Gòn hôm nay đừng vội nghĩ đó là thương binh của quân đội miền Nam. Không nhất thiết như thế đâu. Bây giờ ăn mày là một cơ hội đồng đều (equal opportunity), không phân biệt tuổi tác, giới tính hay thành phần xã hội.

Ranh giới giữa kẻ thắng và người bại đã bị xoá nhòa từ lâu ở đất nước này. Nơi đây – trước đói rách, khủng bố và mọi bất công xã hội – tất cả đều bình đẳng. Việt Nam hôm nay chỉ còn một nhóm nguời thu tóm hết quyền bính, đất đai, cũng như sở hữu mọi tài sản xã hội, và cả một dân tộc bị trị vì đã bị lừa gạt trắng trợn – thế thôi.

Bài báo của Rajiv Chandrasekaran kết thúc bằng một tâm sự não lòng: “Tháng 4 năm nay khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm sau ngày ’giải phóng miền Nam’ và thống nhất đất nước nhiều gia đình đã đến nghĩa trang để thăm mộ thân nhân. Riêng bà Thắm thì có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Theo bà ta thì ’em tôi đáng lẽ phải nằm trong nghĩa trang liệt sĩ chứ đâu phải ở rừng sâu.’(My brother belongs in the Martyrs’ Cementery,’’ Tham said, ’’not out in the jungle’’).

Người ta có thể hiểu được tình thuơng yêu vô hạn của bà Thắm đối với người em vắn số nhưng thực khó mà chia sẻ với bà ta cái ảo tưởng rằng ông Nguyễn Dinh Duy là liệt sĩ. Cùng với hàng triệu nguời khác nữa, sự hy sinh của ông Duy – chung cuộc – chỉ đẩy cả một dân tộc vào cảnh lầm than và băng hoại.

Bà Thắm vẫn chưa nhận ra được rằng cái đuợc mệnh danh là cuộc chiến “chống xâm luợc’’ và “giải phóng miền Nam’’ vừa qua chỉ là những canh bạc bịp. Nhờ vào gian manh, thủ đoạn bạo lực, dã man và tất cả những mánh khoé lường gạt cần thiết nên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Còn nhân dân thì thua trắng tay.

Họ mất ráo mọi thứ, kể cả xương cốt của người thân, để đổi lấy… những bảng ghi công: Liệt Sĩ, Gia Đình Có Công Với Cách Mạng, Mẹ Việt Nam Anh Hùng… Hoặc giản dị hơn nữa là một cái bãi đất mênh mông (chi chít bia mộ) với bốn chữ “Nghĩa Trang Liệt Sĩ” treo ở cổng vào, và chấm hết.

Chỉ có thế thôi mà bà Thắm vẫn bị đứng ngoài. Bà ta có lý do để buồn, dù đó một nỗi buồn “không lấy gì làm chính đáng.’’ Buồn hơn nữa là gần một phần hai thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt, một số nguời Việt ở hải ngoại – những kẻ có nhiều cơ hội để nhìn vấn đề một cách khách quan hơn – vẫn tiếp tục tranh cãi và xỉ vả lẫn nhau về những chuyện rất không cần thiết và cũng chả chính đáng tí nào.

Họ giống như những nguời đàn bà nhà quê đi chợ bằng xe lam. Trên xe bị một thằng lưu manh dụ chơi bài ba lá, lột hết tiền, và đuổi xuống xe. Thay vì xúm nhau, túm cổ thằng khốn nạn, vả cho nó rụng hết răng rồi lấy lại tiền thì họ quay ra xa xả đổ thừa lỗi lầm cho kẻ này nguời nọ; sau đó, họ cãi vã và xỉa xói lẫn nhau – bằng những ngôn từ nặng nề và thô tục đến độ khó ngờ.
Tuởng Năng Tiến

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, child, outdoor and food 
 
 

Sự kiện chấn động sáng nay tại Giáo xứ Thọ Hòa, Gp Xuân Lộc

Ngày sắp tàn của độc tài toàn trị  chăng???
From facebook: Kim Loan Nguyen shared Thoai Huu Dinh‘s post.
Please share …
 
 

 
Thoai Huu Dinh added 2 new videos.Follow

 

Sự kiện chấn động sáng nay tại Giáo xứ Thọ Hòa, Gp Xuân Lộc (Xuân Thọ, Xuân Lộc, Đồng Nai): hãy xem lại clip đầu tiên do nhóm DLV mạo danh người Công giáo cầm đầu là Nguyễn Trọng Nghĩa và khoảng 20 người với băng rôn, loa, cờ đỏ sao vàng, vũ khí (súng ngắn, dùi cui điện, lựu đạn) có ít nhất một người phụ nữ tên Hạnh hung hăng, tùy tiện xâm phạm khuôn viên Giáo xứ và clip cuối cùng để thấy sự tương phản của sự kiện. Nghĩa và đồng bọn ban đầu tỏ ra côn đồ, bất chấp pháp luật, nói những lời lẽ thách thức,… nhưng với sự phản ứng thông minh, cương quyết, mạnh mẽ của giáo dân Gxu cuối cùng Nghĩa đã cúi đầu xin lỗi. Công an huyện Xuân Lộc và xã Xuân Thọ cũng có mặt chứng kiến…

Rất khâm phục anh chị em giáo dân Giáo xứ Thọ Hòa, một vùng quê nhưng rất hiểu biết pháp luật và lý lẽ cũng như cha Xứ đã không rơi vào bẫy kích động bạo loạn do nhóm DLV bày ra. Ngược lại đã cho họ thất bại ngay chính trong bẫy của họ.

Chưa từng thấy những kẻ nào ngu ngốc như nhóm DLV của “Nguyễn Trọng Nghĩa và các đồng chí” hôm nay, dám đem 20 người đến chọi với hàng ngàn giáo dân….chưa kể giáo dân các giáo xứ lân cận.

Hành vi của Nghĩa và các đồng chí hôm nay đã đủ yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng có tổ chức và sở hữu trái phép vũ khí quân dụng. Đề nghị công an huyện Xuân Lộc, Đồng Nai khởi tố và bắt tạm giam ngay nhóm người này để xét xử đúng pháp luật.

Biên bản lập thừa nhận có 14 DLV nhưng chỉ có mặt 13, số còn lại bỏ trốn cùng với vũ khí bị giáo dân phát hiện…

1. Nguyễn Trọng Nghĩa (1983)
2. Trần Hiếu Nghĩa (1976) 
3. Trần Quốc Hùng (1967): người này khả nghi là an ninh chìm
4. Lê Thị Mỹ Hạnh (1987)
5. Phạm Thị Hiên (1985)
6. Trần Minh Phúc (2002)
7. Nguyễn Minh Triết (1982)
8. Nguyễn Văn Dũng (1988)
9. Nguyễn Phúc Phương (1984)
10. Trần Văn Phước (1968)
11. Phạm Minh Quân (1970)
12. Nguyễn Thị Thanh Bình (1968)
13. Phạm Minh Tuấn (1982)

P/s: – Trần Quốc Hùng (1967) mặc áo trắng bỏ ngoài quần đeo kính râm nhiều khả năng là công an chìm bảo kê cho nhóm của Nghĩa…
– nhóm DLV đã kịp tẩu tán chiếc xe ô tô chở họ đến.
– Nhiều giáo dân các Giáo xứ lân cận đã đến hỗ trợ.
– dù có vài DLV không trung thực và thái độ chưa nhận ra sai trái trong bản tường trình, nhưng hầu hết đều xin lỗi bà con giáo dân Gx Thọ Hòa. Đó chính là nhờ sự nhân ái của giáo dân chứ nếu không thì họ khó lòng ra được khỏi đó.

Nguồn video: Fbs Nguyễn Trọng Nghĩa và Duy Tan Nguyen

Giáo sư luật Harvard: ‘Chưa thể nói Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện’

Giáo sư luật Harvard: ‘Chưa thể nói Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện’

RFA
2017-09-01
 
Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.

Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.

RFA
 

Truyền thông mạng những ngày qua hồ hởi nhận định ông Trịnh Vĩnh Bình thắng trong vụ kiện đòi chính quyền Việt Nam bồi thường khoản tiền lên đến 1.25 tỷ USD.

Vụ kiện được cho là “thế kỷ” này có thật sự kết thúc chưa? Chính phủ Việt Nam cần phải làm gì hoặc rút ra bài học gì?

Thủ tục của vụ kiện đúng luật

Trước khi phiên toà diễn ra, khi còn được tiếp xúc với truyền thông một cách đúng luật, ông Trịnh Vĩnh Bình từng bày tỏ với RFA rằng ông tự tin sẽ thắng kiện trong vụ tái khởi kiện lần thứ hai này vì ông đã thực hiện đúng Hiệp thương giữa Hà Lan và Việt Nam. Ông cho biết là một doanh nhân sống và làm việc lâu năm ở Hà Lan, ông rất tôn trọng và giữ đúng những vấn đề liên quan đến luật lệ, khai thuế…

RFA đặt vấn đề về niềm tin thắng kiện của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình với Giáo sư Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên luật trường Đại học Harvard, ông cho biết chính khi vụ kiện diễn ra, ông cũng cho rằng “khả năng thắng kiện là có.”

“Đúng thế. Cái thế mạnh về thủ tục của ông Trịnh Vĩnh Bình là ổng đã đầu tư dựa vào Hiệp định Thương mại đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan. Hiệp định này chắc chắn đã qui định rằng nếu có tranh chấp thì đưa ra Toà Trọng tài Quốc tế. Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục”.

Vào đầu những năm 1990, ông Trịnh Vĩnh Bình từ Hà Lan về Việt Nam đầu tư vào một số dự án ở Sài Gòn và một số tỉnh phía Nam.

EC5D031A-2A06-4C29-9444-D63C1953F488_w900
Bộ sưu tập xe của ông Trịnh Vĩnh Bình RFA

“Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục” – GS Tạ Văn Tài

Cho đến năm 1998, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu bắt ông Trịnh Vĩnh Bình với cáo buộc đưa hối lộ và vi phạm các qui định về quản lý- bảo vệ đất đai. Ông bị tuyên án 11 năm tù sau đó và tòa buộc ông Trịnh Vĩnh Bình phải đóng tiền phạt và tịch thu toàn bộ tài sản của ông ở Việt Nam.

Vào năm 2000, ông vượt thoát khỏi Việt Nam trở về lại Hà Lan.

Năm 2003, ông Trịnh Vĩnh Bình khởi kiện nhà nước Việt Nam tại Trung Tâm Trọng Tài Thương Mại ở Stockholm, Thụy Điển, đòi bồi thường trên 150 triệu đô la.

Tuy nhiên vào năm 2006, tại Singapore Việt Nam thương lượng với ông này ngưng vụ kiện và cam kết trả lại tài sản cũng như tạo điều kiện để ông Trịnh Vĩnh Bình trở lại đầu tư ở Việt Nam…

Thời điểm này, theo lời của Giáo sư Tạ Văn Tài, phía chính phủ Việt Nam, mà điển hình là một vài lãnh đạo cao cấp lúc đó cũng đã công nhận rằng cần phải trả lại số tài sản của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.

“Tức là ổng có một phần cái chính nghĩa mà chính Việt Nam hồi đó công nhận do lời khuyến cáo của các Thủ tướng Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thị Bình chống lại các cường hào ác bá địa phương. Nhưng sau 7 năm không thấy thực hiện cái thoả ước ký tại Singapore nên ổng mới kiện lại.”

Trong một lần trả lời RFA những vấn đề liên quan đến vụ kiện, Giáo sư Nguyễn Vi Khải – thành viên Ban nghiên cứu, cố vấn Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó, hiện là Viện phó Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển (VIDS) cho biết.

“Thủ tướng có văn bản gửi xuống cho các ngành an ninh, Bộ trưởng công an lúc đó là ông Lê Minh Hương, để xem xét sự việc và tìm nguyên nhân giải quyết theo luật pháp. Khoảng hai lần Thủ tướng yêu cầu Bộ Công An giải trình.”

Tuy nhiên những cam kết không được phía Việt Nam thực hiện nên đến năm 2014, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định kiện Việt Nam lại lần nữa. Và lần này ông thuê Hãng luật Hoa Kỳ King & Spalding LLP cãi cho ông.

“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.” – GS Tạ Văn Tài

‘Chưa thể nói là thắng kiện’

Hôm 27 tháng 8, mạng xã hội tràn ngập hình ảnh và video của ông Trịnh Vĩnh Bình bước ra khỏi trụ sở Tòa Trọng Tài Quốc Tế, tại 112, đường Kleber, Quận XVI, Paris với gương mặt rạng rỡ và hai tay đưa cao dấu hiệu chiến thắng. “Vụ án thế kỷ” được nhiều người nhận định phần thắng nghiêng về phía doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.

Tuy nhiên, Giáo sư luật Tạ Văn Tài không nghĩ như thế. Ông có cách phân tích dựa theo cơ sở luật pháp của Toà Trọng tài Quốc tế.

“Đồng bào ở hải ngoại suy đoán mà thôi rằng chiến thắng rồi thì tôi nghĩ là hơi vội vàng, vì có thể ông ấy đang hào hứng giơ tay thôi. Mà theo thủ tục trọng tài thì hai bên không được nói gì để còn đi đến thoả hiệp.

Trọng tài nghĩa là họ đâu có xử án theo kiểu toà án, mà họ nghe 1 bên xong rồi họ nghe bên kia, nhiều khi là mỗi người 1 phòng, rồi họ tìm cách họ hoà giải.

Nếu không hoà giải được lúc ấy họ mới đưa ra một bản án trọng tài.

Thế thì tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.”

“Tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.” – GS Tạ Văn Tài

Về phía chính phủ Việt Nam, cho đến chiều ngày 30 tháng 8, tại buổi họp báo chính phủ thường niên, Việt Nam lần đầu tiên lên tiếng thừa nhận về vụ kiện.

Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ, Phó Thủ tướng Mai Tiến Dũng, trả lời Báo Tuổi Trẻ trong nước rằng Việt Nam đang chờ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế ở Paris về vụ ông Trịnh Vĩnh Bình, một công dân Hà Lan gốc Việt, kiện chính phủ Hà Nội đòi bồi thường 1 tỷ 250 triệu đô la.

“Quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng là tạo môi trường kinh doanh rất bình đẳng cho các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước. Hiện nay tòa án quốc tế đang xem xét, với việc tranh chấp, vi phạm điều luật. Như các báo đều biết, vì vấn đề bảo hộ đầu tư nên một địa phương, một cơ quan nào vi phạm hoặc không thực hiện đúng cam kết, không thực hiện đúng điều luật thì nhà đầu tư nước ngoài đều kiện Chính phủ. Vậy cho nên hiện nay vấn đề này tòa án đang xem xét, chúng ta phải đợi”.

Chính phủ Việt Nam phải làm gì?

Theo dõi trên mạng xã hội, chúng tôi nhận thấy trong vụ kiện thế kỷ này, vấn đề được nhiều người tranh luận nhất là chính phủ Việt Nam nên làm gì ngay lúc này để hình ảnh và uy tín về môi trường đầu tư của Việt Nam với thế giới sẽ không bị ảnh hưởng?

Giáo sư Tạ Văn Tài nói rằng chính một vị đại diện ngoại giao Việt Nam cũng đặt vấn đề này với ông và hỏi về phương cách giải quyết tốt nhất lúc này. Thuật lại câu trả lời của mình, ông cho biết.

“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.”

Rất nhiều phản ứng trong dư luận cho rằng Việt Nam đã và sẽ chịu một dư âm rất xấu đối với thương trường quốc tế. Một số khác đặt câu hỏi rằng liệu với Hội nghị thượng đỉnh các nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC 2017 sắp diễn ra cuối năm nay, Việt Nam sẽ hội nhập kinh tế toàn cầu và nhận sự ủng hộ của cộng đồng thương mại quốc tế như thế nào?

TỘT CÙNG TỘI ÁC

From facebook:Loc Ngo shared Luân Lê‘s post.
 
Image may contain: 6 people
Image may contain: 2 people, people smiling
Image may contain: one or more people, people sitting and indoor
Luân Lê added 3 new photos.Follow

 

TỘT CÙNG TỘI ÁC

Cho đến nay tôi thấy duy nhất chỉ có một bà Bộ trưởng Bộ Y tế của Việt Nam là giỏi nhất thế giới về trình độ luật pháp, bởi bà ấy đã kết luận toà án vừa rồi đã xét xử đúng người đúng tội.

Ông Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế báo cáo và làm rõ trách nhiệm của Bộ này trong vụ việc rúng động khi nhập khẩu và buôn bán thuốc chữa bệnh giả H-capita, thì bà Bộ trưởng và ông Cục trưởng Cục quản lý dược thuộc Bộ Y tế đã lên tiếng cho rằng các quy trình cấp phép là đúng quy định.

Tôi không còn lời nào tả nổi về những gì đang diễn ra nữa. Nếu luật pháp không được áp dụng và xét xử nghiêm minh, để cho một lũ gây tội ác tày trời lên truyền thông lớn tiếng đe doạ và biện minh mà để lọt tội phạm, và hơn thế là xem thường cả yêu cầu của người đứng đầu Chính phủ thì thật không còn chút hy vọng gì về Chính phủ kiến tạo, liêm chính và minh bạch của ông Thủ tướng nữa.

Nếu ai đó nhìn vào những người già, những người đàn bà hay những đứa trẻ nhỏ trọc đầu và xanh xao như tàu lá vì căn bệnh ung thư, trong những đôi mắt lạc quan và ngây thơ của những người bệnh, họ không hề biết có những tỷ lệ hoa hồng nhuốm máu đang đùa vui và ăn bớt sự sống đang mỗi ngày dần hao mòn theo cấp số nhân của mình, mới thấy hết được tội ác man rợ mà những kẻ có vị thế nhưng bất nhân âm thầm gieo lên những thân thể bất hạnh ấy.

Sự tàn ác đã được dồn đến tột cùng của những tội ác.

Anh là người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn trải qua 2 thời kỳ trước và sau 75

From facebook:  Thuong Phan and Quang Ha shared Phan Quốc Cường‘s post.
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: one or more people and people standing
Phan Quốc Cường to Miền Nam Việt Nam – Trước 1975

 

Anh là người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn trải qua 2 thời kỳ trước và sau 75. Anh xin mấy chú ngoài vĩ tuyến 17, tức là sinh sau đẻ muộn, đừng đem cái sự bịa đặt, tuyên truyền của ông cha mấy chú về viễn cảnh “Sài Gòn toàn đĩ điểm, dân Sài Gòn sống nhờ viện trợ Mỹ…” nghe nó thối lắm và nó NGU DỐT lắm. Nói về đĩ điếm, gái quán bar khi xưa Sài Gòn có đó, nhưng nó cũng không tới mức độ xuất khẩu đĩ điểm ở VN ngày nay đâu. Nhục mặt khi chính phủ Singapore kiểm soát gắt gao phụ nữ VN nhập cảnh sang Singapore, cũng bởi vì tại lượng gái bán hoa người VN, mượn cớ du lịch sang Singapore, rồi hành nghề mại dâm trái phép. Cái đó chưa kể là xuất khẩu mại dâm sang TQ và Cambodia nữa chớ. Còn cái trò lừa gạt phụ nữ, trẻ em VN bán sang TQ của mấy chú ngoài Bắc thì quả thường tình rồi.

Còn nói về kinh tế Sài Gòn trước 75, Mỹ nó viện trợ là viện trợ cho lính Mỹ, cho chính quyền miền Nam, tức là VNCH. Chứ Mỹ nó không dư tiền mà đi nuôi cả dân miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn. Dân Sài Gòn họ cũng phải cày thấy mẹ thấy cha, chứ không phải suốt ngày đợi viện trợ từ Mỹ mà ăn đâu. Nền kinh tế Sài Gòn trước 75 rất đa dạng, có rất nhiều công ty, tập đoàn nước ngoài vào đầu tư : Esso, Shell, Coca Cola, Panasonic, Philips…

Trong khi ngoài xứ Bắc Kỳ của mấy chú, có chó nó vào đầu tư. Mấy chú được sống trong thời bình, thế mà đường sắt, đường bộ, cầu Thăng Long….của mấy chú là TQ nó xây cho. Nhiệm vụ của mấy chú là trồng lúa, tăng gia sản xuất cùng với những tổ hợp tác xã. Ngay tại Hà Nội của mấy chủ, tắm còn nhảy xuống sông tắm, chứ đào đâu ra nước máy, xà phòng mà tắm. Nhà nào vớ được cục xà bông “cô Ba” trong miền Nam là quí còn hơn cục vàng, 1 chiếc đài radio là cả xóm bu vào nghe, tivi là thứ xa xỉ phẩm. Mấy chú nằm chiếu manh, dân Sài Gòn họ nằm nệm từ trước 75 rồi. Mấy chú xài bếp củi, chứ đừng nói chi bếp dầu, vì dầu đâu ra mà xài, trong khi Sài Gòn người ta xài bếp gas khi đó rồi… Còn chuyện anh dùng 3 chữ “xứ Bắc Kỳ”, thì mấy chú cứ mạnh dạn chửi anh là “thằng Nam Kỳ”, anh càng thích. Bởi vì, Nam Kỳ Khởi Nghĩa là 1 tên đường ở Sài Gòn ngày nay, còn mấy chủ tự nhột khi nghe đến 2 chữ “Bắc Kỳ” là mấy chủ phải tự hiểu sao mình nhột.

Cái dân Sài Gòn từ xưa đến nay, có những cái “tật” kỳ lắm : Khi xưa, nếu mấy chú hỏi đường người cảnh sát Sài Gòn, thì họ chỉ tận nơi, tận tình cho mấy chú. Đi đường thấy ai quên đá chống xe, thì cố rượt lên mà nói với theo : anh, chị, chú, bác, cô, dì… ơi đá chống xe kìa. Người dân Sài Gòn xưa kia không phân biệt tình lẻ như mấy chú ngoài Bắc lồng lộn vụ Hà Nội 1, Hà Nội 2 đâu. Những doanh nghiệp làm ăn xưa kia : nước ngọt Phương Toàn (giờ là nước ngọt chương dương ), Bia La-de 33 ( giờ là bia Sài Gòn), nước tương Nam Dương, kem đánh răng Dạ Lan… hầu như là của tư nhân họ phát triển. Sau ngày giải phóng, Nhà Nước VN tiếp quản các công ty, nhà máy… rồi làm ăn như quần què người ta. Mấy chú gửi email cho nhà máy bia Hà Nội, hỏi giùm anh xem tiểu sử dây chuyền sản xuất bia Hà Nội bây giờ là lấy từ đâu ra ? Không vào Nam cướp dây chuyền sản xuất bia sau giải phóng, thì mấy chú có bia uống à ?

st

-Iraqsoldier-

Bản tường trình của tên côn đồ Nguyễn Trọng Nghĩa

 
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: one or more people and text
+2
Lê Mỹ Hạnh added 6 new photos.Follow

 

Bản tường trình của tên côn đồ Nguyễn Trọng Nghĩa ( https://www.facebook.com/NguyenTrongNghiaDongThap) về vụ việc hắn cùng đồng bọn mang súng và những vũ khí nguy hiểm khác đến Giáo xứ Thọ Hoà ( Xuân Lộc – Đồng Nai) với mục đích “Vạch mặt kẻ thù” như trong livestream của hắn sáng nay đã thông báo.

Đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải được nghiêm trị. Nguyễn Trọng Nghĩa cùng đồng bọn đã rất nhiều lần tổ chức gây rối trật tự an ninh Xh và thách thức pháp luật cũng như cộng đồng.

Trong khi tên Nghĩa khai nhận trong bản tường trình là hắn đã lượm được khẩu súng và dùng để “phòng thân” thì tên Phan Sơn Hùng (fb Phan Hùng) lại khẳng định khẩu súng đó có giấy phép sử dụng (?)

Chúng ta có quyền đặt ra những câu hỏi rằng:

– Thế lực nào đứng sau và bảo kê cho những kẻ côn đồ này để chúng ngang nhiên dùng vũ khí công khai giữa ban ngày khủng bố, uy hiếp tính mạng của người dân?

– Có phải Nhà cầm quyền CSVN đang dung túng cho những tội ác, tiếp tay cho côn đồ để gây chia rẽ nhân dân? Chia rẽ tôn giáo?? 
…………………????

Đây là những chiêu trò bỉ ổi và khốn nạn, dùng quyền lực và vũ khí để khủng bố nhằm bịt miệng những người lên tiếng vì SỰ THẬT.

Nóng: Ngày 4/9/2017 Việt cộng thất thủ tại giáo xứ Thọ Hòa

From facebook:  Thuong Phan shared Nguyen Thien Nhan‘s post.
 
Image may contain: 4 people
Image may contain: one or more people and indoor
Image may contain: 2 people
Image may contain: 1 person
Image may contain: 3 people
Nguyen Thien Nhan added 5 new photos.

 

Nóng: Ngày 4/9/2017 Việt cộng thất thủ tại giáo xứ Thọ Hòa

20 tên Việt cộng mang theo súng ngắn, roi điện và loa đến Giáo xứ Thọ Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai gây rối.

Chúng mang theo cờ đỏ sao vàng, trương băng ron, cầm loa tự xưng “giáo dân” đòi gặp LM Nguyễn Duy Tân, sau đó đe dọa “có biện pháp trừng phạt” LM Nguyễn Duy Tân. Cầm đầu băng này là tên Nguyễn Trọng Nghĩa.

LM Nguyễn Duy Tân gọi giáo dân đến vây chúng và phát hiện chúng mang theo súng ngắn và roi điện. Công an đã đến rất đông, đòi đem về trụ sở giải quyết nhưng giáo dân yêu cầu lập biên bản tại chỗ. LM Nguyễn Duy Tân yêu cầu ghi họ tên, số CMND, địa chỉ những tên gây rối và bắt chúng cam kết không đến quậy phá nữa.

Thất trận, những tên gây rối tiu ngỉu. Một giáo dân đáng tuổi cha chú của chúng giải thích rằng hành vi của chúng là vi phạm pháp luật, thái độ hung hăng kéo đến giáo xứ gây rối là không chấp nhận được, tên Nguyễn Trọng Nghĩa xuống giọng “dạ, dạ, dạ” liên tục. Chúng bị giáo dân Thọ Hòa dạy cho một bài học nhớ đời.

Việt Nam sản xuất được xe hơi từ bao giờ?

From facebook:  Christina Le
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam đã cho ra đời chiếc xe hơi đầu tiên với tỉ lệ nội địa là 25%. Hồi đó, La DaLat là chiếc xe khiến cho các hãng xe hơi Nhật, Hàn Quốc gặp khó khăn ở thị trường trong nước bởi giá cả hết sức cạnh tranh. Đến năm 1975 thì bốn dòng xe thương hiệu La DaLat đã nội địa với tỉ lệ 40%.

Giờ đây, năm 2017. Một anh tư bản đỏ có nguồn gốc Đông Âu, giàu lên nhờ bất động sản đã khiến cả thế giới bàng hoàng khi tuyên bố mình sẽ sản xuất xe hơi, xe máy và xe điện.

Ơn giời ! Nếu cộng sản không giải phóng miền Nam chắc giờ chiếc xe thương hiệu Việt ngày ấy đã nội địa một trăm phần trăm và xuất khẩu ra thế giới.

Nếu không nhờ bác đảng làm gì có ngày hôm nay, làm gì có ăn khoai Mì, BoBo trộn cơm, làm gì có cảnh học sinh bị đem ra đấu tố vì chưa kịp đóng tiền học phí, làm gì có cảnh mẹ tự tử để cho con có cơ hội được học hành.

(Trương Quang Thi)

Ra đời năm 1970, La Dalat là chiếc xe hơi dân dụng đầu tiên được lắp ráp, mang thương hiệu và sản xuất hàng loạt ở Việt Nam với mức độ nội địa hóa lên đến 40%.
BAOMOI.COM
 
 

NHÂN DÂN ĐỒNG TÂM TUYÊN CHIẾN VÀ SẴN SÀNG ĐỔ MÁU ĐỂ GIỮ ĐẤT.

From facebook:  Hoa Kim Ngo and 2 others shared Chú Tễu‘s post.
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: drawing
Chú Tễu added 3 new photos — with Huynh Ngoc Chenh and 14 others.

NHÂN DÂN ĐỒNG TÂM TUYÊN CHIẾN VÀ SẴN SÀNG ĐỔ MÁU ĐỂ GIỮ ĐẤT.

Vào hồi 15h00 ngày 3 tháng 9 năm 2017, Toàn dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội đã Hội nghị để xác định cuộc đấu tranh Chống Tham Nhũng của người dân đang đi vào giai đoạn quyết liệt nhất, thách thức nhất. Hội nghị đã thống nhất lập Biên bản để thông báo rộng rãi đến nhân dân cả nước và nhân dân thế giới biết.

“Hội nghị thống nhất cao độ:

Từ ngày 3 – 9 – 2017 nhân dân xã Đồng Tâm tuyên chiến với bọn tham nhũng, giặc nội xâm.

Nhân dân xã Đồng Tâm sẵn sàng đổ máu để giữ bằng được đất của nhân dân ta.

Kẻ nào từ chính quyền, công an đến quân đội vào cướp đất sẽ bị tan xác.

Thà mất tất cả xã Đồng Tâm, còn một người cũng quyết chiến đến cùng”

Dưới đây là toàn văn Biên bản cuộc họp có chữ ký của các thủ lĩnh Đồng Tâm.

Từ cướp 1945 đến chiếm 1975

 Từ cướp 1945 đến chiếm 1975

Cứ mỗi dịp có kỷ niệm ngày 19 tháng Tám, người Cộng sản Việt Nam (CSVN) lại thi đua nói phét và nói dối với lịch sử để che đậy hành động “cướp” chính quyền từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945.

“Con đường tiến lên Xã hội Chủ Nghĩa của cộng sản VN”. Ảnh: Internet.

Cũng như thế, họ đã chiếm miền Nam tử tế và văn minh của Việt Nam Cộng hoà ngày 30/04/1975 mà cứ nói bừa rằng “giải phóng” để chối tội xâm lăng.

Hãy đọc những lời họ tự diễn: “Cách đây tròn 72 năm, với khí thế sục sôi cách mạng, nắm bắt thời cơ “nghìn năm có một”, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát động toàn dân nhất tề đứng lên tiến hành tổng khởi nghĩa, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”, đập tan xiềng xích nô lệ, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền trong cả nước; dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.” (báo Quân đội Nhân dân, ngày 19/08/2017).

Chả làm gì có cái gọi là “Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất” đã diễn ra trong ngày 19 tháng 8 năm 1945.

Trong lịch sử đảng CSVN, từ ngày thành lập 03/02/1930, người Cộng sản đã nổi tiếng nói thật thì ít mà nói dối thì nhiều cho nên họ cần phải học từ các trí thức đứng đắn ngay trong hàng ngũ mình để ăn ngay nói thật, nếu không sợ có ngày bị Thánh Thần cắt lưỡi.

Một trong những trí thức đàng hoàng này là Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đình Cống, nhà giáo tại Đại học Xây dựng đã nghỉ hưu.

Ông viết: “Đêm 9 tháng 3-1945 Nhật đảo chính Pháp. Trên đất VN không còn người Pháp cai trị. Ngày 11-3 vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký với Pháp. Tháng 4-1945 giải tán triều đình phong kiến với các Thượng thư, lập Chính phủ do Thủ tướng Trần Trọng Kim đứng đầu và các Bộ trưởng. Ngày 15-8 Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 17-8 Chính quyền Hà nội tổ chức mit tinh, treo cờ Quẻ Ly để chào mừng nước Việt Nam độc lập. Cuộc mit tinh này đã bị người của VM  (Việt Minh)“cướp” đoạt, hạ cờ Quẻ Ly xuống, giương cờ đỏ sao vàng lên và kêu gọi đi theo VM. Từ trước ngày 17-8 thủ tướngTrần Trọng Kim, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn đã 5 lần tiếp xúc, hội đàm với đại diện của VM tại Hà nội (Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang) với đề nghị mời người của VM tham gia Chính phủ hoặc hợp tác lập Chính phủ liên hiệp để chuẩn bị đón tiếp quân Đồng minh, nhường quyền kiểm soát phần lớn đất nước cho VM một cách hòa bình. Nhưng cả 5 lần đều bị đại diện VM từ chối với tuyên bố là VM đủ lực lượng để “cướp” toàn bộ chính quyền mà không cần sự hợp tác nào hết, chỉ có đấu tranh một mất một còn. Để tỏ rõ thiện chí không dùng bạo lực, chính phủ ông Kim và Bảo Đại không thành lập quân đội, không có Bộ Quốc phòng.

Ngày 19-8 VM “cướp” chính quyền ở Hà nội. Sau đó việc “cướp”chính quyền lan rộng ra toàn quốc. Việc “cướp” này diễn ra dễ dàng, nhanh chóng vì không gặp phải sự chống đối. Ngày 25-8 vua Bảo Đại thoái vị.”

(Trích Bauxite Việt Nam, ngày 18/08/2016).

Giáo sư Cống, 80 tuổi, quê Quảng Bình (sinh ngày 12/12/1937) tuy là người đã công tác nhiều năm trong hệ thống giáo dục nhà nước CSVN, nhưng sau khi về hưu, ông đã viết nhiều bài chỉ trích chính sách cai trị của đảng và lên án những sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Ông còn công khai ủng hộ đa nguyên đa đảng.

Vì vậy, Giáo sư, Tiến sỹ Sử học Phạm Cao Dương của Việt Nam Cộng hòa đã viết: “Trong năm lần gặp gỡ kể trên, ngoại trừ cuộc gặp gỡ lần thứ năm, bốn lần đầu lần nào phía chính phủ cũng đưa ra những đề nghị mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để cứu nước nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh với Đảng Cộng Sản đứng đằng sau đã chủ trương cướp chính quyền từ đó một mình lãnh đạo đất để thực hiện cuộc cách mạng riêng của mình bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra cho dân tộc, phản ảnh qua những câu trả lời của người đại diện Việt Minh cho những câu hỏi do chính Thủ Tướng Trần Trọng Kim đặt ra và kể lại. Biến cố 19 tháng 8 do đó đã xảy ra.”

(Trích “Trước khi bão lụt tràn tới -BẢO ĐẠI – TRẦN TRỌNG KIM và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM  (9/3/1945 – 30/8/1945)” (Phạm Cao Dương-Nhà xuất bản Truyền Thống Việt 2017)”.

Theo sách Phạm Cao Dương thì trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, Tác gỉa Trần Trọng Kim viết: “Đảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động, đánh huyện này, phá phủ kia, lính Bảo An ở các nơi, phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền, tuy chưa theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Nhân dân bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp, chưa kịp sắp đặt gì cả, công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị, cứ khao khát độc lập, nay nghe Việt Minh nói như thế, ai nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền, dân không phải đóng thuế nữa, được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc, thành ra ai cũng tin theo. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do Bộ Thanh Niên lập ra, cũng có ý ngả về Việt Minh.”

Cụ Kim viết tiếp: “Tôi thấy tình thế ấy, tôi bảo ông Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc Bộ) đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện, vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến (Lê Trọng Nghĩa), tôi nói ‘chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng của các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau, nhưng cũng cùng một mục đích như nhau, các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài để cứu nước được không?

“Người ấy (Lê Trọng Nghĩa) nói: – Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.

– (Cụ Kim): “Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn, nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.”

–  (Lê Trọng Nghĩa): “Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng để đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.”

– (Cụ Kim): “Theo như ý của các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.”

– (Lê Trọng Nghĩa): “Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù trong nước mười phần chết chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại còn hơn với chín phần kia.”

– (Cụ Kim): “Rồi người ấy đọc một bài hình như đã học thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Tôi thấy thái độ người ấy như thế tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được.”

“Tôi nói: – Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, các ông vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”.

– (Lê Trọng Nghĩa): “Chúng tôi sẽ “cướp quyền” để tỏ cho cả nước đồng minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu cho ai nhường.”

–(Cụ Kim): “Các ông chắc là các nước đồng minh tin ở sức mạnh của các ông không?”.

– (Lê Trọng Nghĩa): “Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”

– (Cụ Kim): “Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử”.

Như vậy, rõ ràng người CSVN, qua tên gọi Việt Minh đã chủ trương “cướp” chính quyền Trần Trọng Kim để dành độc quyền cai trị theo lề lối Cộng sản độc tài. Sau này, đảng CSVN cũng đã dùng mọi mánh khoé, kể cả khủng bố và ám sát để lọai các thành viên không Cộng sản, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh hội, ra khỏi Chính phủ liên hiệp Kháng chiến. Từ đó, đất nước lại lâm vào cuộc nội chiến kéo dài 30 năm (1945-1975) do đảng CSVN chủ động đã gây tang thương cho dân tộc cho đến bây giờ (2017).

NHẠC SỸ TÔ HẢI

Nhân chứng của ngày 19/8/1945 tại Hà Nội, Nhạc sỹ Tô Hải cũng viết: “Cuộc cướp chính quyền từ trong tay Nhật + Pháp không hề có! Mà đơn giản chỉ là một cuộc lật đổ một chính quyền còn non trẻ: Chính phủ Trần trọng Kim với những nhân vật nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước. 126 ngày nắm giữ một chính quyền của một đất nước hoang tàn, chết đói đầy đường, không một đồng trong ngân quỹ, 95% người dân không biết chữ…, được thế giới công nhận và sau này, đa số vẫn được mời vào “Chính phủ liên hiệp”?… Vậy vì sao mà phải “lờ tịt” cái Sự Thật đó đi?” (Theo Dân Luận, ngày 21/08/2010).

Ai lờ đi? Đảng CSVN và những người gọi là “viết Sử” Cộng sản Việt Nam vì họ không dám nói và viết sự thật khi không có lợi cho họ.

Nhạc sỹ Tô Hải, người đã tuyên bố bỏ đảng ngày 25 tháng 5 năm 2014, năm nay (2017) đã 90 tuổi mà phải viết Tập “Hồi ký của một thằng hèn” (Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ở Virginia, Hoa Kỳ in ra năm 2009) để ăn năn về những việc làm của ông thì nỗi cay đắng phải sâu thẳm lắm.

Vì vậy, ông đã cắn răng viết về ngày 19/08/1945 rằng: “Tóm lại, theo tớ, 19 tháng 8 năm 45 nếu tớ là nhà viết sử có lương tâm tớ sẽ viết hẳn một chương; CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM VÀ CUỘC ĐẢO CHÍNH 19 THÁNG 8 NĂM 45. Tiếp theo đó là những trang bi tráng nhất về lịch sử dân tộc Việt Nam sau cuộc Đảo Chính này… Vì:

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã bắt đầu bị đổi mầu từ đây.

– máu đổ xương rơi cũng bắt đầu từ đây!

– hầu hết những ai không chịu đổi mầu đã, hoặc bị thủ tiêu hoặc “tìm đường cứu nước” bằng một hướng đi khác để trở thành “kẻ thù của Nhân Dân” hoặc đơn giản hơn chỉ để sống và làm việc bằng trái tim và khối óc của chính mình. Một vài người đã mang theo nỗi oan ức xuống tuyền đài thậm chí có người phải tự sát với lời trăn trối để đời “Lịch sử sẽ phán xét cho tôi” (Nguyễn Tường Tam).

– những ai còn lại đành cam chịu kiếp sống Sợ, sống Hèn chờ đợi, hy vọng vào một ngày được thực sự Tự do, Độc lập….

Trong cùng thời diểm đó, có biết bao nước thuộc địa khác trên khắp thế giới đã chẳng phải “thề phanh thây, uống máu quân thù…” cũng độc lập tự do… mà có một thời gian dài người ta “tuyên giáo” chúng ta là “Độc Lập… giả hiệu”! Cho đến hôm nay, cho đến bao giờ? bao giờ? nước ta mới đuổi kịp các “nước độc lập giả hiệu” như Ấn Độ, Indonexia, Singapore, Thailan…. nhỉ?”

Tóm lại, là một nhân chứng đã sống và “hoạt động cách mạng quáng gà” rồi “cách mạng câm-điếc” suốt 65 năm, qua 3 chế độ “Quân chủ lập hiến” Trần Trọng Kim, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam, bây giờ sắp giã từ cõi đời này, tớ thấy có nhiệm vụ phải nói lên những gì mà lớp trẻ, kể cả các Nhà lãnh đạo trẻ, những trí thức trẻ (đối với tớ cứ từ 60 trở xuống đều coi là Trẻ cả) và đặc biệt các nhà viết sử trẻ nên đào sâu, tìm hiểu về cái thời gian lịch sử bị xuyên tạc cố ý này… Chỉ tiếc rằng: Những điều tớ kể lại chỉ nằm ở trên cái blog cỏn con của tớ, chẳng có ai hưởng ứng vì: Đa số nhân chứng sống như tớ, kẻ đã qua đời, kẻ còn sống thì đã lẫn cẫn, kẻ thì… vừa Ngu vừa Hèn cho nên, có cho ăn “cháo gan cóc tía” cũng chẳng dám nói lên cái thời tay cầm cờ vàng ba sọc đỏ, miệng hát “Này thanh niên ơi…” dưới bàn tay bắt nhịp của chính Khâm Sai Đai Thần Phan Kế Toại!”.

TIẾP TỤC NHẬN HÃO

Ấy thế mà báo chí CSVN cứ tiếp tục nhận hão những thứ không phải của mình để tự công kênh nhau vào chỗ trơ trẽn như bài Xã Luận của báo Nhân Dân ngày19/08/2017.

Với đầu đề “Cách mạng Tháng Tám và hành trình đổi mới”, Nhân Dân tự ca thế này: “Cách đây tròn 72 năm, trong mùa thu lịch sử, ngày 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cả dân tộc triệu người như một, với khí thế như sấm rung chớp giật, nhất tề đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lật đổ chế độ phong kiến, đập tan xiềng xích áp bức của chế độ thực dân, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Với thành công vang dội đó, chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới cũng có thể tự hào rằng: Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi với hơn năm nghìn đảng viên đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Ðông – Nam Á, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Bài Xã Luận viết tiếp: “Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc ta được kế thừa, phát huy lên tầm cao mới trong cuộc đấu tranh do Ðảng ta tổ chức và lãnh đạo; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt, tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén tạo thời cơ và chớp thời cơ nghìn năm có một, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ ngày Ðảng ta ra đời (3-2-1930), dưới sự lãnh đạo của Ðảng, đất nước ta, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi vẻ vang, lập nên những kỳ tích trong suốt chiều dài lịch sử: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước, non sông về một dải; công cuộc Ðổi mới đã đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vượt qua đói nghèo, vững bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa.”

Ô hay, tại sao lại “giải phóng miền nam”? Miền Nam của Việt Nam Cộng hòa từ 1954 đến 1975 có bị nước nào độ hộ đâu mà “giải phóng”? Trên 20 triệu người miền Nam đang sống hiền hòa, văn minh và sung túc đã tự nhiên bị quân miền Bắc tràn xuống xâm lăng phá làng phá xóm gây ra máu đổ thịt rơi trong suốt 20 năm mà gọi là “giải phóng” à?

Bây giờ trên 40 năm sau ngày được gọi là “thống nhất đất nước” năm 1976, người Cộng sản mới sáng mắt ra để nuối tiếc những lỗi lầm đạp đổ hệ thống kinh tế thị trường và nền giáo dục nhân bản tân tiến của miền Nam.

Bởi vì những chủ trương gọi là “Đổi mới” từ 1986 cho đến “Tái cơ cấu kinh tế” đợt 1, đợt 2 để làm cho đúng “kinh tế thị trường” mà ngóc đầu lên của đảng Cộng sản lại chính là sách lược  kinh tế rất thành công của VNCH mà người Cộng sản đã quáng gà đạp đổ khi chiếm được miền Nam năm 1975!

Bây giờ 72 năm sau ngày 19/8/1945 mà nhân dân vẫn chưa có “tự do, hạnh phúc”, hay “công bằng, dân chủ, văn minh” như “mục tiêu cao cả của Cách mạng Tháng Tám” và chủ trương “Đổi mới” đề ra thì cuộc Cách mạng này có ý nghĩa gì ngoài chiếc bánh vẽ?  -/-

Phạm Trần

(08/017)