Vụ thuốc ung thư giả: Ông Nguyễn Phú Trọng ‘bật đèn xanh’ kỷ luật bà Kim Tiến?

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

HÀ NỘI (NV) – Việc ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng CSVN, ban chỉ thị “xử lý nghiêm sai phạm” với vụ thuốc giả trị ung thư của công ty VN Pharma được dư luận cho là “bật đèn xanh” chuẩn bị kỷ luật bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến.

Ông Nguyễn Văn Nên, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng CSVN được báo Dân Trí hôm 5 Tháng Chín dẫn lời: “Với những vụ việc gây bất bình trong dư luận như VN Pharma, chỉ thị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là các cơ quan chức năng phải vào cuộc điều tra, thanh tra làm rõ, đi đến cùng và xử lý nghiêm sai phạm.”

“Có xử lý nghiêm minh các vụ việc còn gây bức xúc nhân dân mới đem lại niềm tin vào sự quyết liệt của Đảng, Chính phủ trong xử lý các vụ việc vi phạm,” báo này tường thuật lời ông Nên.

VN Pharma là công ty nhập thuốc H-Capita chữa ung thư được xác nhận là “giả chứ không phải kém chất lượng như Bộ Y tế công bố,” báo Người Lao Động ngày 1 Tháng Chín cho hay.

Ông Nguyễn Minh Hùng, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc công ty VN Pharma vừa bị tuyên án 12 năm tù giam.

Vụ việc còn khiến công luận quan tâm về vai trò của bà Nguyễn Thị Kim Tiến và người em chồng của bà, nhân vật được truyền thông ghi nhận là cựu lãnh đạo tại VN Pharma.

Trả lời báo Pháp Luật trước đó, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nói gia đình bà “không có ai tham gia VN Pharma”, trong khi cựu chủ tịch công ty này xác nhận người em chồng của bà Tiến là cựu phó tổng giám đốc ở đó, truyền thông Việt Nam tường thuật.

Trong bài phỏng vấn ông Hùng đăng trên báo Tuổi Trẻ hôm 31 Tháng Tám, người này xác nhận ông Hoàng Quốc Dũng, người em chồng của bà Tiến, “từng làm phó tổng giám đốc phụ trách về xây dựng đầu tư tại VN Pharma, hình như là năm 2013 hay 2014,” ông Hùng nói.

Tuy làm đến chức phó tổng giám đốc nhưng ông Dũng “không có quyết định bổ nhiệm” và “do chưa có xây dựng gì hết nên đâu có làm gì đâu, ngồi văn phòng vậy thôi,” Tuổi Trẻ dẫn lời ông Hùng.

Hôm 1 Tháng Chín, luật gia Nguyễn Đình Hà nói với Người Việt từ Hà Nội: “Trong cơ chế chính trị, kiểm duyệt thông tin như tại Việt Nam, không bỗng dưng mà thông tin về bà Kim Tiến – một bộ trưởng trong chính phủ bị mổ xẻ, đưa tràn lan như vậy.”

“Điều này không phải là minh chứng cho công cuộc chống tham nhũng của Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, mà có thể là biểu hiện của một cuộc đấu đá bên trong đảng.”

“Vụ việc của công ty VN Pharma không phải bây giờ mới có, mà đã có từ năm 2014. Nhưng đến bây giờ, chuyện trong công ty này có em chồng của bà Tiến bị khui ra, chính là minh chứng rõ ràng.”

“Kết cục câu chuyện này, có thể bà Kim Tiến sẽ bị “ngã ngựa giữa đường” – một chuyện chưa có tiền lệ ở Việt Nam”.

Tuy vậy, khả năng và mức độ xử lý kỷ luật bà Kim Tiến đến đâu hiện vẫn còn là một ẩn số.
Báo Người Lao Động cho hay, hôm 6 Tháng Chín, Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi) đã được Ủy ban Tư pháp cho ý kiến thẩm tra nhưng “vẫn không xem em chồng là “người thân”.

“Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) không quy định xem em chồng là “người thân” mà mở rộng sang các đối tượng: Bố nuôi, mẹ nuôi, con nuôi, con dâu, con rể, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu,” báo này tường thuật.

“Như vậy theo quy định của dự Luật nêu trên, trường hợp em chồng của bà Kim Tiến không vi phạm quy định của Luật Phòng chống tham nhũng.”

Trước đó, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Việt Tiến được truyền thông ‘lề phải’ dẫn lời: “Về việc em chồng của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng “không nói” chứ không phải nói “không có”, hai việc này khác nhau. Bên cạnh đó, luật chỉ quy định cha, mẹ, vợ, chồng, con không được làm chứ không nhắc đến em chồng. Bộ trưởng cũng không báo cáo gì trong Ban Cán sự đảng”.

Nghĩa là theo cách diễn giải “đúng quy trình”, do em chồng không được xem là “người nhà”, “không thuộc đối tượng bị cấm” nên bà Tiến có thể được kết luận là “không có sai phạm” trong vụ này.

Thời điểm cuối Tháng Tám, khi vụ thuốc giả đang là tâm điểm dư luận, trên mạng xã hội xuất hiện lời đồn đại bà Tiến làm đơn xin từ chức bên cạnh những lời kêu gọi bà từ chức.

Sau đó, Bộ Y tế phát đi thông cáo cho hay: “Bộ Y tế sẽ đề nghị xử lý nghiêm khắc các trường hợp đăng tải thông tin sai sự thật, vô căn cứ làm ảnh hưởng uy tín của ngành y tế và Bộ trưởng Y tế.”

Thực tế, đến nay gần như chưa có vụ bê bối nào dính líu đến quan chức ở cấp bộ trưởng trở lên ở Việt Nam được “làm rõ mọi góc khuất” mà công luận chỉ thấy những trường hợp “giơ cao đánh khẽ”.

Trước vụ VN Pharma, từ năm 2013, bà Kim Tiến từng bị chỉ trích trong các vụ gây căn phẫn trong dư luận như bệnh nhân phong bị ăn bớt thuốc điều trị và bị “ép” ăn thịt sống; trẻ em tử vong sau khi tiêm vắc xin; Nhân bản xét nghiệm ở bệnh viện Đa khoa huyện Hoài Đức, Sản phụ liên tục tử vong, Nhân viên y tế bị “tố” ăn bớt vắc xin, Vụ tráo thủy tinh thể tại Bệnh viện Mắt; Bác sĩ thẩm mỹ ném xác bệnh nhân…

Luật sư Nguyễn Tấn Thi viết trên Facebook: “Tôi yêu cầu ông Nguyễn Phú Trọng cách chức bà Nguyễn Thị Kim Tiến. Nếu không tôi sẽ gọi ông là thấy giàu là trọng (như tên của ông) và khiếp sợ trước vàng bạc (Kim Tiến = Kim Tiền = Vàng và Tiền)”.

Nhà báo Huy Đức bình luận về vụ việc trên mạng xã hội: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên lập một ủy ban điều tra độc lập, làm rõ điều đó và tìm thêm những dấu hiệu liệu VN Pharma có phải là “sân sau” của bà Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến hay không.”

“Là Bộ trưởng, bà Tiến không chỉ phải đối diện với các cáo buộc pháp lý mà còn phải đối diện với các áp lực chính trị. Ủy ban thường vụ Quốc hội và Ủy ban Các vấn đề xã hội nên tổ chức sớm phiên điều trần để nghe báo cáo của Ủy ban điều tra này và quyết định có đưa bà Tiến ra Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm.”

“Vụ VN Pharma cũng cho thấy cần phải bổ sung rất nhiều điều kiện nhằm tránh tối đa khả năng xung đột lợi ích. Ví dụ: Phải cấm bổ nhiệm một người giữ các trọng trách hay đứng đầu một ngành mà trong đó, cả khu vực công lẫn khu vực tư, “nhung nhúc” thân bằng, quyến thuộc.” (T.K.)

Hôm nay em đến trường.

From facebook: Phan Thị Hồng shared Hồ Duy Diệm‘s post.
Hôm nay em đến trường.

Đừng bộ, đường không, đường thủy, đường rừng, …

Trường của em be bé, …

Hôm nay em đến trường, các bác Bộ Giao thông và trạm BOT ơi. 
Sử dụng đường bộ đường thuỷ, đường rừng và đường hàng không nữa.

 
Image may contain: one or more people, bicycle, outdoor and nature
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 1 person, grass, outdoor and nature
Hồ Duy Diệm added 3 new photos.

Hôm nay em đến trường, các bác Bộ Giao thông và trạm BOT ơi. 
Sử dụng đường bộ đường thuỷ, đường rừng và đường hàng không nữa.

Tỷ Phú Mới

From facebook:  Hoa Kim Ngo shared Đinh Tấn Lực‘s post.
 
Image may contain: 1 person
Đinh Tấn LựcFollow

 

FB Nhân Thế Hoàng:

Tỷ Phú Mới

Khi nước Mỹ có thêm một tỷ phú mới, người dân Mỹ và cả thế giới sẽ có thêm một sản phẩm tiện ích, hiện đại, sành điệu để kết nối yêu thương như Iphone hay Facebook.
Khi nước Nhật có thêm một tỷ phú, người dân Nhật và cả thế giới có thêm những sản phẩm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của họ như Sony, Toshiba hay Lexus.
Nước Mỹ hay Nhật lúc đó sẽ giảm bớt đi tỷ lệ người thất nghiệp, vô gia cư, các quỹ từ thiện vì cộng đồng sẽ được nhiều lên, những nước nghèo đói ở Châu Phi sẽ được giúp đỡ, hỗ trợ.

Khi Việt Nam xuất hiện một tỷ phú mới, rừng sẽ mất đi thêm một ít, tài nguyên sẽ dần cạn kiệt đi, dân oan bị cướp đất cũng sẽ tăng lên, nợ công cũng sẽ phình to sau mỗi nhiệm kỳ, người dân bỏ xứ đi làm culi, làm điếm cũng sẽ ngày càng tăng.

Khi Việt Nam xuất hiện thêm một tỷ phú mới, quốc lộ sẽ có thêm nhiều trạm BOT hơn, thuế phí cũng sẽ tăng thêm vài %, xăng dầu cũng sẽ tăng thêm vài ba nghìn một lít.
Khi Việt Nam xuất hiện thêm một tỷ phú mới, không khí sẽ ngày càng ô nhiễm thêm, bệnh nhân ung thư cũng sẽ tăng thêm, thị trường cũng sẽ nhiều hàng giả – hàng kém chất lượng hơn, kẹt xe cũng ngày càng trầm trọng.

Thế nên, ở Việt Nam, tỷ phú tăng theo cấp số cộng thì người nghèo sẽ tăng theo cấp số nhân. Vui gì mà reo hò tung hô họ!

#typhu #vietnam #typhuVN

Trên mức cùng quẫn là sự khốn nạn

J.B Nguyễn Hữu Vinh
RFA
2017-09-05
 

Một nhóm hai chục người kéo đến xông vào nhà thờ, nhà xứ Thọ Hòa để đe dọa, uy hiếp linh mục Nguyễn Duy Tân vào ngày 4/9/2017.

Một nhóm hai chục người kéo đến xông vào nhà thờ, nhà xứ Thọ Hòa để đe dọa, uy hiếp linh mục Nguyễn Duy Tân vào ngày 4/9/2017.

 Courtesy of Danlambao
 

Sáng nay, 04/9/2017, kỷ niệm Quốc khánh xong, một đám côn đồ bao vây Nhà thờ Thọ Hòa để phá hoại, gây rối. Đám người đó ngang nhiên trang bị cả roi điện và súng để uy hiếp đe dọa linh mục Nguyễn Văn Tân cũng như giáo dân ở đó giữa ban ngày như chỗ không người.

Những thông tin trên đã làm nóng ngay lập tức mạng xã hội trong một ngày nghỉ, và rất nhiều tin nhắn, điện thoại tới tấp tìm hiểu sự việc. Các giáo dân giáo xứ Thọ Hòa và các xứ lân cận đã lập tức có mặt.

Đám người đó là ai? Chúng được ai giao nhiệm vụ và nhằm mục đích gì? Ai giao súng và roi điện cho chúng đi uy hiếp và đe dọa công dân?

Chúng là ai?

Nhìn những hình ảnh được trực tiếp đưa lên mạng, người ta chẳng mấy ngạc nhiên và ai cũng hiểu đám người này là ai, chúng đến đây với mục đích gì và theo nhiệm vụ của ai giao.

Thời gian gần đây, để đối phó với phong trào người dân bất bình và bất tuân, nhiều nhóm người được thành lập bởi nhà cầm quyền Hà Nội, đông đảo nhất phải kể đến đám gọi là “Dư luận viên” (DLV). Đây là một đám người không cần trình độ, chẳng cần nhiều lắm về hiểu biết xã hội… chỉ cần biết nhắm mắt, bịt tai để chờ mệnh lệnh và cứ vậy làm theo, bất cứ mệnh lệnh đó là gì, đúng hay sai, tốt hay xấu, hợp luật lệ và đạo lý hay không đều không cần quan tâm, tất cả “đã có đảng và nhà nước lo”.

Về quyền lợi, đám này được mỗi tháng 3 triệu đồng theo thời giá cách đây 4 năm, số tiền này từ ngân sách, nghĩa là từ tiền thuế của người dân, vì thế trên mạng xã hội gọi đám này là “Cộng đồng 3 củ”.

Theo số liệu của báo chí nhà nước, thì cuối năm 2012, ở Việt Nam đã có đến 80.000 người. Điều này, đồng nghĩa với việc mỗi tháng, riêng tiền lương cho đám DLV này, nhà nước đã phải rút ruột người dân 240 tỷ đồng, nghĩa là 2.880 tỷ đồng mỗi năm theo thời giá 2012 để nuôi nhóm này.

Thật lạ, nhà nước có hệ thống báo chí độc tài một chiều với cả gần ngàn tờ báo, đài truyền hình các loại, chưa kể cả chục ngàn hệ thống loa phường… nhưng tất cả chỉ có một Tổng biên tập là Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương. Hệ thống đó, cung cúc tận tụy hò, hát, hô hoán và nói xuôi, nói ngược cũng như phụ họa, ca ngợi mọi chính sách, việc làm của đảng. Vậy mà vẫn chưa đủ, chưa yên tâm nên nhà cầm quyền CSVN còn phải nuôi thêm một lũ những kẻ này?

Thế mới biết, việc độc quyền thông tin chưa phải đã đủ cho họ, điều họ cần là sự ru ngủ dân chúng đến mức mê muội.

Có điều là việc đó ngày càng là chuyện mò kim đáy biển khi mà mạng Internet và các tiến bộ xã hội đã xé toang bức màn sắt bưng bít của Cộng sản qua mấy chục năm. Và nếu muốn, thì họ chỉ có cách đưa đất nước trở lại thành một hầm mộ bí mật kiểu Bắc Hàn mà thôi.

Những thành phần mới

Thế nhưng, giới Dư luận viên vẫn chưa thể đủ để dùng chiêu thức cả vú lấp miệng em mà thuyết phục quần chúng. Trên mặt trận truyền thông, đám DLV này rất dễ bị cộng đồng mạng nhận biết và cách ly, xa lánh. Người ta dễ nhận biết, chỉ vì chúng là những đứa như trên đã nói: Thiếu trí tuệ để có sự độc lập trong suy nghĩ, thiếu lương tâm và đạo đức làm người để có thể cân nhắc sự đúng sai, sự đạo đức và vô luân, thiếu trình độ để hiểu biết về luật pháp và luật rừng…

Thậm chí, chúng thiếu cả văn hóa tranh luận, hay ngôn ngữ, lời nói bình thường. Khi lên mạng, chúng xông vào bất cứ diễn đàn nào với hai mục đích: Cãi lộn bằng những ngôn từ hết sức tục tĩu mà nói theo ngôn ngữ dân gian là “miệng  luôn gắn thêm phụ khoa”, xưng hô hỗn láo với bất cứ ai để thể  hiện sự cuồng cộng một các ngu xuẩn đến thảm hại.

Thường gặp những đám ấy, cư dân mạng hoặc bỏ đi, hoặc đá chúng ra khỏi sân chơi chứ không hơi đâu đi tranh cãi đúng, sai. Và quả là cả ngàn tỷ đồng tiền dân được vung vãi vô tội vạ ngày càng mất tác dụng.

Đến đây, theo “đúng quy trình” nhà cầm quyền bắt đầu sử dụng đám côn đồ.

Trước hết, là những nhóm công an giả dạng côn đồ để bắt bớ, đánh đập những người yêu nước, những tiếng nói khác biệt muốn xã hội tiến bộ. Chúng sẵn sàng dùng bạo lực để gây thương tích cho bất cứ ai nhằm đe dọa ý chí phản ứng của họ. Và qua đó, hành động côn đồ trong xã hội được ngang nhiên dung túng, trở thành hiện tượng bình thường.

Sau khi đám DLV đã không thể phát huy tác dụng trên mạng xã hội, bị xa lánh hoặc chỉ có chúng tụ tập với nhau để khoe nịnh, còm đểu kiếm tiền, một dạng khác được chiêu tập sử dụng. Đó là đám DLV bất chấp luật pháp, ngu xuẩn đến cùng cực sẵn sàng tấn công bất cứ ai bằng bạo lực và các biện pháp vi phạm pháp luật khác nhau.

Hẳn nhiên là để đám này hoạt động được, thì lực lượng an ninh, công an phải dung túng và thậm chí là đứng đằng sau. Chúng sẵn sàng vác cờ đảng đi phá hoại tưởng niệm những cuộc tưởng niệm những người đã hy sinh vì Tổ Quốc. Chúng sẵn sàng kéo đến bao vây, đánh đập và làm náo loạn không gian yên tĩnh của những người mà chúng không thể tranh luận bằng trí não và lời nói. Chúng sẵn sàng đổ mắm tôm, đẩy người khác xuống nước một cách mất dạy nhất với chiêu bài “Yêu nước” và với sự nâng đỡ của hệ thống đằng sau chúng.

Nhiều hoạt động của nhóm này đã bị xã hội lên án, thậm chí báo chí vào cuộc với những lời hứa hẹn chắc như đinh đóng cột của quan chức cộng sản. Chẳng hạn lời hứa của Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND Tp Hà Nội, nguyên Giám đốc Công an Hà Nội về vụ phá hoại tưởng niệm Gạc Ma, vụ Công an Sài Gòn cho đến nay sau mấy tháng vẫn không thể điều  tra ra những đứa nào đánh một cô gái rồi quay phim đưa lên mạng Internetm dù đã biết rõ chúng là ai…

Tất cả những điều đó, chỉ nhằm nói lên một điều: nhà cầm quyền đang sử dụng, dung túng cho các nhóm xã hội đen đi bảo vệ một chính quyền đỏ đang bất lực trước người dân.

Điều này, chỉ nói lên một trạng thái trong việc trị nước của nhà cầm quyền hiện nay: Sự cùng quẫn.

Trên sự cùng quẫn là sự khốn nạn

Trở lại sự việc ngày 4/9/2017 tại Giáo xứ Thọ Hòa, một nhóm khoảng hai chục đứa kéo đến xông vào nhà thờ, nhà xứ Thọ Hòa để đe dọa, uy hiếp linh mục Nguyễn Duy Tân.

Đám du đãng, côn đồ này mang theo cờ đỏ, sao vàng, băng rôn loa đài và được trang bị cả súng, roi điện để “chiến đấu” với linh mục và giáo dân ở đây.

Điểm mặt những đứa đến đây, người ta thấy không mấy xa lạ.

nguyen_trong_nghia

Đó là tên Nguyễn Trọng Nghĩa, một “giáo dân, kính Chúa, yêu nước” theo cách định nghĩa của Đảng và nhà nước thông qua Đài truyền hình quốc gia và báo Nhân Dân. Chính y là đứa đã kéo loa đến hô hét ầm ỹ khu phố và náo loạn, hỗn láo chĩa vào nhà thờ Kỳ Đồng thuộc DCCT mới đây.

Sở dĩ chúng tôi không lạ tên này, là bới một sự kiện khó quên. Năm 2013, khi nhà cầm quyền Hà Nội bày trò Góp ý Hiến pháp, Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã “Hưởng ứng” bằng một văn bản như một tiếng nổ giữa trời quang, làm rung chuyển cả hệ thống chính trị. Bản Góp ý dự thảo Hiến pháp của HĐGMVN đã tạo nên cơn lúng túng cho các nhà lý luận, lập pháp và luật, đã làm cho nhà cầm quyền bí lối.

Vậy là tên Nguyễn Trọng Nghĩa đã được sử dụng đến để viết một bức thư hỗn láo với cả HĐGMVN. Chính vì vậy, chúng tôi đã tìm hiểu và vạch ra chân tướng tên này, đồng thời chỉ rõ việc dùng đám tâm thần, ngớ ngẩn để công kích giáo hội Công giáo, thì đó là sự cùng quẫn về cả trí tuệ lẫn lương tâm.

Và như vậy là chạm nọc, nhà cầm quyền vội nhảy cẫng lên  như chó dẫm phải lửa. Báo Nhân Dân vội vàng đăng bài bao che và dọa nạt, Đài Truyền hình đăng lại nhằm bao biện và đe dọa…

Nhưng, tất cả chỉ là trò hề cho thiên hạ cười mà thôi. Bởi ai cũng biết rằng việc dùng đám giả giáo dân này thì chắc chắn sẽ thất bại nhục nhã. Bởi không có sự dối trá, đội lốt hoặc mạo danh nào có thể thắng nổi sự thật.

Với Giáo hội Công giáo Việt Nam qua gần thế kỷ nay dưới chế độ CSVN nói riêng và hàng thế kỷ trên toàn thế giới nói chung, biết bao mưu ma, chước quỷ đã được thi thố. Thậm chí còn có cả sự tham gia của một số linh mục, chức sắc đi theo Cộng sản mà còn không làm gì suy suyển được giáo hội, thì việc sử dụng đám tâm thần, nhố nhăng này chỉ làm xấu mặt đứa tổ chức và nhà cầm quyền mà thôi.

Xưa nay, cha ông vốn đã chẳng nói “Người dại để… đảng, người khôn xấu mặt” đó sao.

totuongtrinh_nguyentrongnghia

Và quả nhiên, đám DLV và côn đồ này đã bị người dân Thọ Hòa vô hiệu hóa, đã bỏ chạy ném cả súng mà vẫn bị tóm cổ lập biên bản giao cho nhà cầm quyền xử lý.

Những bản nhận tội, những lời hứa đã nói lên sự thảm hại không chỉ của chúng, mà của bọn tổ chức và đỡ đầu cho đám này.

Khi nhìn những hình ảnh chính chúng đã thừa nhận tội lỗi của mình là xâm nhập chỗ ở công dân trái phép, mang vũ khí đe dọa mạng sống của công dân, gây rối trật tự công cộng… nhiều người giáo dân ở các giáo xứ Miền Trung và Miền Bắc đã thốt lên rằng: Sao người dân ở đó hiền hòa đến thế? Thử xảy ra việc vác vũ khí đột nhập giáo xứ, nhà thờ ở một giáo xứ miền Trung thử xem?

Hẳn nhà người dân ở vùng Đồng Nai, và giáo dân ở Giáo phận Xuân Lộc cũng như các giáo phận ở Miền Nam còn quá hiền lành và nhẫn nhịn, vì thể chúng mới có thể làm mưa làm gió những nơi này.

Nhưng, hành động của đám côn đồ này đã ngang nhiên chà đạp pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe người dân, nhất là với linh mục, xúc phạm tôn giáo. Đặc biệt những kẻ mang danh giáo dân nhưng làm tay sai cho Cộng sản, được nhà cầm quyền bảo kê, nâng đỡ ra sao, cách xử lý như thế nào… sẽ là một cú hích, một bài học để cho hơn 1 triệu giáo dân Giáo phận Xuân Lộc nói riêng và các Giáo phận khác nói chung nhìn lại và xác định rõ thái độ của mình với hành động của nhà cầm quyền hiện nay.

Quả thật là sau sự cùng quẫn, là sự khốn nạn, và hậu quả của nó thì đúng như lời Kinh Thánh: “Khốn cho các ngươi vì đã giơ chân đạp mũi nhọn.”

Hà Nội, ngày 4/9/2017

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Chữa ung thư bằng đông y làm tăng nguy cơ tử vong

From facebook:  Honolulu Nguyen

Steve Jobs : CHẾT VÌ …..

Chữa ung thư bằng đông y làm tăng nguy cơ tử vong

Thụy My

Trong lãnh vực y học, tác giả Laurent Alexandre đặt câu hỏi trên tuần báoL’Obs : « Ai đã giết Steve Jobs ? » số ra tuần này. Nhà sáng lập tài ba của Apple đã gây ra cơn bão trong kỷ nguyên kỹ thuật số, là một con người đầy nghịch lý. Ông là nạn nhân của sự “mê tín” đông y và các biện pháp thay thế tây y.

Tháng 10/2003, khi phát hiện một khối u ở tụy tạng có khả năng chữa khỏi, các bác sĩ đề nghị mổ khẩn cấp, nhưng Steve Jobs từ chối. Dù người thân phản đối, ông tự chữa trị bằng đông dược và các phương pháp khác như châm cứu, dùng thực phẩm sạch và các viên nang chứa tinh chất thực vật, thậm chí cầu viện cả thầy pháp. Đến 2004, khối u đã di căn. Jobs rốt cuộc chấp nhận phẫu thuật, nhưng đã quá trễ.

Ông mất khi mới 56 tuổi, không thể thấy được ngày nay chiếc điện thoại thông minh mà ông phát minh đóng vai trò quan trọng như thế nào trong y học thế kỷ 21. Chiếc iPhone tương lai phụ trách liên lạc với bác sĩ, và trí thông minh nhân tạo sẽ phân tích những dữ liệu từ xa. Những phương pháp thay thế y khoa chính thống đã ngăn trở Steve Jobs tham gia vào cuộc cách mạng y học này.

Steve Jobs không phải là bệnh nhân ung thư duy nhất tử vong vì đông dược và những thứ tương tự. Một công trình nghiên cứu của giáo sư Skyler Johnson, trường đại học Yale cho thấy những nguy hiểm của việc chỉ trông cậy vào khí công, yoga, châm cứu, ăn kiêng, ngồi thiền, thảo dược…thay cho những phương pháp điều trị đã được khoa học chứng minh (phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, miễn dịch học và hormone). Những bệnh nhân này chịu rủi ro tử vong cao gấp năm lần, trong vòng 5 năm kể từ khi phát hiện bệnh, so với những người được chữa trị bằng các phương pháp cổ điển.

Tuần báo The Economist cũng báo động mối nguy hiểm của đông y, đang được Trung Quốc rầm rộ quảng bá theo chỉ thị của Tập Cận Bình. Số bệnh viện đông y tại Trung Quốc từ 2.500 năm 2013 đã tăng lên 4.000 năm 2015, số lương y được cấp phép tăng 50%, lên trên 450.000 người. Chính quyền Trung Quốc còn lợi dụng mạng lưới các Viện Khổng Tử để xúc tiến đông y tại Anh, Mỹ và nhiều nước khác.

Đúng là một xã hội vô pháp vô thiên.

From facebook: Thuc Tran shared Phương Quế‘s post.

XIN QÚY VỊ XEM HẾT VIDEO ĐỂ BIẾT BỌN VIỆT CỘNG DÙNG BỌN CÔN ĐỒ DƯỚI ĐÂY ĐÃ ĐEM LẠI MỘT KẾT QỦA Ê CHỀ NHỤC NHÃ TẠI NHÀ THỜ GIÁO XỨ THỌ HÒA VÌ CHÚNG BỊ GIÁO DÂN BẮT LẬP BIÊN BẢN CÓ SỰ CHỨNG KIẾN CỦA CÔN AN HUYÊN, CHÚNG ĐÃ QUI HÀNG NHẬN TỘI XIN THA VÀ HỨA KHÔNG GIÁM TÁI PHẠM NỮA. MỘT SỐ TRONG BỌN CHÚNG BỎ CHẠY TRỐN THÓAT .

Image may contain: 7 people, people smiling, text

Phương Quế added a photo and a video.

 Đúng là một xã hội vô pháp vô thiên.

Một chính phủ vô dụng, du côn.
Một chế độ mọi rợ.
Chỉ có csvn mới được xứng danh này.
( sự việc xảy ra lúc 10g ngày 04/09.2017)

BỐT BẨN THẤT THỦ – TƯỜNG TRÌNH TỪ HƯNG YÊN.

From facebook:  Hoa Kim Ngo shared Nguyễn Huy Cường‘s post.
 
 
Image may contain: sky, cloud and outdoor
Image may contain: 4 people, crowd, sky and outdoor
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
+4
Nguyễn Huy Cường added 8 new photos.Follow

 

BỐT BẨN THẤT THỦ – TƯỜNG TRÌNH TỪ HƯNG YÊN.
.
BOT Chợ Đường cái Cái Hưng Yên hôm nay tiếp sức cho Cai Lậy đấy!.
Hàng vài km xe cộ ùn ứ cho đến giờ này, 19h18 phút và khả năng đến đêm chưa thông đường.
.
Ngay bây giờ đã xả trạm.
BOT Chợ Đường Cái thất thủ!.
.
Nhân dân có vẻ vui mừng.
.
Anh em Cảnh sát cơ động, giao thông có vẻ ôn hòa, lịch sự và không can thiệp.
.
Nhân viên trạm vứt bỏ vẻ mặt khinh khi, lạnh như tiền như các BOT Đồng Nai., Phan Thiết mà bỏ cabin xuống tận cửa xe nhận tiền, tươi cười đếm!.
.
Trên trời, Fly cam bay vù vù theo dõi mọi hoạt động.( ảnh cuối)
.
Anh em tài xế cũng đói mệt nhưng có vẻ kiên tâm, quyết chiến.
Chúng tôi đang cập nhật. Các bạn đón coi nhé!.
.
Dòng xe tắc khoảng 10 km.
Lúc này, hoàng hôn BOT xem như đã cận kề.
Ký giả ăn cơm đã.
.
19h ngày 04/9/2017.
Huy Cường.
&&&&
Hà Thạch Hãn Hoàng Tám Bùi Mạc HồngMạc Hồng Kỳ Đăng BìnhHan Ni Dang ThiHoàng Đình Quang Phan Văn TúPhương HồNguyen Chi DungTrần Quốc HảiTran Nhat MinhQuoc Son Tran

MẸ TERESA CALCUTTA

MẸ TERESA CALCUTTA

 Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Chứng từ của đức cha Angelo Comastri về mẹ Teresa Calcutta (1910-1997), sáng lập viên dòng các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái.  Đức Tổng Giám Mục Angelo Comastri đại diện Tòa Thánh đặc trách đền thánh Đức Mẹ Loreto, miền Bắc nước Ý.

…. Từ lúc còn trẻ, tôi đã có nhiều liên hệ thân tình với mẹ Teresa Calcutta.  Một lần gặp tôi, mẹ đưa đôi mắt trong suốt và sâu thẳm nhìn tôi rồi đột ngột hỏi:

–          Con cầu nguyện mỗi ngày mấy giờ?

Ngạc nhiên trước câu hỏi bất ngờ, tôi lúng túng tìm cách chống chế:

–          Con tưởng mẹ sẽ nhắc nhở con sống bác ái, yêu thương giúp đỡ người nghèo chớ!  Đàng này mẹ hỏi con cầu nguyện mỗi ngày mấy giờ?

Mẹ Teresa liền nắm chặt hai bàn tay tôi, rồi siết mạnh như thông truyền cho tôi điều mẹ hằng ấp ủ trong lòng.  Mẹ nói:

–          Con à, nếu không có Thiên Chúa hỗ trợ, chúng ta quả thật quá nghèo để có thể giúp đỡ người nghèo.  Con nên nhớ: Mẹ chỉ là phụ nữ nghèo luôn cầu nguyện.  Chính trong khi cầu nguyện mà Thiên Chúa đặt Tình Yêu Ngài vào lòng mẹ và nhờ thế, mẹ có thể giúp đỡ người nghèo. Con nhớ cho kỹ nhé: Mẹ giúp đỡ người nghèo vì mẹ hằng cầu nguyện, mẹ cầu nguyện luôn luôn!

Tôi không bao giờ quên cuộc gặp gỡ lần đó.  Sau này, chúng tôi còn gặp nhau nhiều lần nữa..  Năm 1979, mẹ Teresa được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình.  Giải thưởng khiến mẹ gần như khép nép và trở nên nhỏ bé trong bàn tay Thiên Chúa.  Mẹ Teresa đi Oslo, thủ đô Na Uy, lãnh giải thưởng mà trong tay nắm chặt tràng chuỗi Mân Côi.  Người ta trông thấy những ngón tay mẹ thô kệch và xấu xí, vì lao công vất vả và vì thường xuyên chăm sóc các trẻ em, những người bệnh tật, già yếu và nghèo nàn.  Biết rõ thế nên không ai nỡ trách mẹ dám công khai bày tỏ lòng kính mến Trinh Nữ MARIA trong một xứ sở toàn tòng là tín hữu tin lành Luther!

Trên đường trở về từ Oslo, mẹ Teresa Calcutta dừng lại tại Roma.  Các ký giả chen chúc chờ đợi gặp mẹ trong khuôn viên nhỏ bé của ngôi nhà cộng đoàn các nữ tu thừa sai bác ái ở Monte Celio.  Mẹ Teresa không để cho các ký giả tấn công.  Trái lại, mẹ tiếp họ như những người con.  Mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay mỗi người một ảnh đeo Đức Mẹ Vô Nhiễm.  Các ký giả ráo riết bao vây mẹ để chụp hình và để phỏng vấn.  Một ký giả táo bạo hỏi:

–          Thưa mẹ, năm nay mẹ 70 tuổi.  Khi mẹ qua đời thế giới cũng sẽ như trước!  Vậy đâu có gì thay đổi sau bao nhiêu cực nhọc?

Mẹ Teresa đăm đăm nhìn chàng ký giả trẻ tuổi và nở một nụ cười thật tươi, nụ cười như một cái vuốt ve trìu mến, rồi mẹ từ tốn nói:

–          Anh thấy đó, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể thay đổi thế giới.  Tôi chỉ tìm cách trở thành một giọt nước trong, một giọt nước lóng lánh rạng ngời Tình Yêu Thiên Chúa, thế thôi.  Anh cho là quá ít sao?

Chàng ký giả trẻ tuổi lúng túng…  Các ký giả khác đứng im không nhúc nhích.  Mẹ Teresa thản nhiên tiếp tục cuộc đối thoại:

–          Anh cũng nên cố gắng trở thành một giọt nước trong, như thế, sẽ có hai giọt nước trong.  Anh lập gia đình chưa?

–          Dạ rồi, chàng ký giả đáp.

–          Vậy anh cũng nên nói với vợ và như thế chúng ta sẽ là ba giọt nước trong.  Anh có con chưa?

–          Thưa mẹ, ba đứa!

–          Tốt lắm.  Vậy anh cũng nên nói với các con anh, và như thế, tất cả chúng ta sẽ là sáu giọt nước trong!

Năm 1988 mẹ Teresa Calcutta đến thăm tôi ở Porto Santo Stefano, một thị trấn nằm gần Roma.  Năm ấy tôi là cha sở của họ đạo.

Tôi còn nhớ như in cuộc gặp gỡ.  Hôm đó là ngày 18 tháng 5, một ngày tuyệt đẹp của tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ.  Bầu trời trong xanh.  Trên biển, sóng nước lăn tăn như nhí nhảnh tươi cười.  Mẹ Teresa lặng lẽ chiêm ngắm cảnh đẹp rồi đột ngột nói với chúng tôi:

–          Cảnh vật nơi đây tuyệt đẹp.  Sống trong một khung cảnh tuyệt đẹp, quí vị cũng phải nhớ chăm sóc cho linh hồn mình thật đẹp!

Vào cuối buổi Canh Thức Cầu Nguyện tối hôm đó, xảy ra một câu chuyện như sau.  Một kỹ nghệ gia giàu có trong vùng muốn dâng cúng ngôi biệt thự sang trọng của ông để mẹ Teresa tiếp đón những người bị bệnh liệt kháng.  Ông cầm trong tay bộ chìa khóa và muốn trao ngay cho mẹ.  Nhưng mẹ Teresa nói:

–          Tôi phải cầu nguyện và suy nghĩ trước đã, vì tôi không biết có nên đưa các bệnh nhân liệt kháng vào một nơi chốn giàu sang để chăm sóc không.  Biết đâu sẽ làm cho họ đau khổ gấp đôi!

Mọi người thầm cảm phục sự dè dặt khôn ngoan của mẹ.  Tuy nhiên, nhiều người cho là mẹ đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng.  Do đó, một người cảm thấy có bổn phận khuyên mẹ:

–          Thì mẹ cứ nhận chìa khóa đi, rồi sẽ tính sau!

Nhưng mẹ Teresa quyết liệt trả lời:

–          Không, thưa ông không.  Những gì tôi không cần đều trở thành gánh nặng! 

Câu nói của mẹ làm tôi nhớ đến thánh Bonaventura viết về thánh Phanxicô thành Assisi như sau:
“Người đời yêu giàu sang thế nào Phanxicô cũng yêu khó nghèo như thế!”

… Năm 1991, cũng vào một ngày tuyệt đẹp trong tháng Năm, mẹ Teresa Calcutta lại đến thăm tôi ở Massa Maritima, cách Roma không xa.  Mẹ cho tôi biết ý định mở một nhà dành cho các Nữ Tu Chiêm Niệm Thừa Sai Bác Ái.  Mẹ giải thích:

–          Các nữ tu cầu nguyện trước Nhà Tạm có Mình Thánh Chúa, sẽ chiếu tỏa ra chung quanh ánh sáng của lòng nhân hậu.  Chúng ta cần có những con tim trong sạch để tiếp đón TÌNH YÊU!  Những con tim thật trong sạch!

Từ Massa Maritima chúng tôi dùng trực thăng để đưa mẹ Teresa đến đảo Isola d’Elba, tham dự một buổi Cầu Nguyện.  Ngồi trên trực thăng, tôi chỉ cho mẹ thấy những địa điểm quan trọng của đảo… Bỗng chốc, một người trong nhóm đến quỳ bên cạnh tôi run rẩy thú nhận:

–          Thưa cha, con không rõ chuyện gì xảy đến cho con.  Con có cảm tưởng chính Thiên Chúa đang nhìn con qua cái nhìn của người phụ nữ này! 

Quay sang mẹ Teresa, tôi lập lại lời người đàn ông vừa nói.  Mẹ Teresa nhẹ nhàng đáp:

–          Xin cha nói với ông ta, đã từ lâu lắm rồi, Thiên Chúa vẫn nhìn ông.  Nhưng chính ông đã không nhận ra Ngài!  THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU!  Rồi nhìn sang người đàn ông, mẹ Teresa giơ tay siết mạnh tay ông, và trao cho ông một vài ảnh đeo Đức Mẹ, như những nụ hôn đượm đầy hương thơm của TÌNH YÊU THIÊN CHÚA!

Đó là vài hình ảnh sống động của mẹ Teresa Calcutta: đơn sơ, hiền dịu, khiêm tốn, trong sáng và chiếu tỏa TÌNH YÊU THIÊN CHÚA!

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Langthangchieutim gởi

CẦU XIN CHÚA CHO ĐƯỢC BÌNH AN

CẦU XIN CHÚA CHO ĐƯỢC BÌNH AN

  1. Ít ngày nay tôi bị rơi vào tình trạng bất ổn. Thời tiết bất ổn, thời thế bất ổn, sức khỏe bất ổn. Tôi cảm thấy mình bất an, sợ hãi lo âu.

Tôi bối rối trước những biến cố đang dồn dập xảy ra xa gần, có vẻ như một tai họa lớn sắp giáng xuống tôi và thế giới này. Nhất là vì lúc này tôi nhớ lại ngày 01 tháng 9 năm 1939, đã nổ ra đại chiến thứ hai.

Tôi cầu xin với Chúa. Xin Người thương cứu mọi người và cứu tôi.

  1. Chúa trả lời tôi, bằng sự Chúa soi sáng cho tôi tìm đến Lời Chúa được ghi trong Phúc Âm Thánh Luca, Lời Chúa như thế này:

“Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi… Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề, vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em…

Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến, và đứng vững trước mặt con người” (Lc 21, 28, 34, 36).

Với những lời trên, Chúa dạy tôi những điều sau đây: 

  1. *Đừng bối rối. Hãy coi những biến cố mang dấu chỉ tiêu cực cho thế giới lại là những cơ hội kêu gọi đến Chúa. Xin Chúa thương cứu chúng ta.     
  2. *Đừng giải khuây lòng mình bằng những vui chơi, nhưng hãy nhìn thẳng vào những khó khăn trước mắt với lòng can đảm.     
  3. *Hãy can đảm, ngẩng đầu lên, với niềm tin vào Chúa. Tôi xin Chúa giúp tôi, vì tôi nhát đảm và rất yếu tin.      
  4. *Niềm tin vào Chúa, không là do những chinh phục của ta mà có, nhưng là một ơn Chúa ban, do vậy mà phải cầu nguyện và tỉnh thức.

Khi vâng lời Chúa mà cầu nguyện và tỉnh thức, tôi thấy niềm tin vào Chúa được thể hiện ở những việc này:       

  1. *Tôi vững tin tôi thuộc về Đức Kitô. Chính Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của tôi (Ga 14,6).

Do vậy, tôi không còn lo mình nên thuộc về ai, thuộc về phe nào. Thuộc về Chúa mới là điều cần.      

  1. *Tôi vững tin tôi có một chỗ vinh quang hạnh phúc, chỗ đó là trong Nước Chúa. Như lời Chúa Giêsu hứa: “Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ, Thầy đi dọn chỗ cho anh em… Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó với Thầy” (Ga 14,2).        
  2. Do vậy, tôi không lo đến sự mình nên có một chỗ đứng, một địa vị ở trần gian này, mà nên vui vì mình chắc chắn có một chỗ bên Chúa Giêsu trong Nước Chúa.    
  3. Trên đây là những bước đi dẫn tôi tới sự bình an. Qua kinh nghiệm của những bước đi đó, tôi nhận thấybình an nội tâm là hết sức quan trọng.      
  4. Bình an nội tâmlà một hành trình của mầu nhiệm Tình Yêu. Hành trình này luôn đòi phải lấy Tình Yêu mà thắng sự ác. Tình yêu của tôi quá non yếu, nên phải gắn kết với Tình Yêu Chúa Giêsu.      
  5. Sự ác đang mạnh lên trong lịch sử, nhưng Tình yêu Chúa sẽ thắng. Thắng của Tình Yêu là do khiêm nhường, quảng đại, bác ái, phục vụ, thứ tha.

Sự hiện diện của Tình Yêu như thế giữa một thế giới của sự ác, vẫn là một sức mạnh thiêng liêng xây dựng bình an thực chất và vững bền.      

  1. Khi tôi viết những dòng trên đây, thì năm học mới cũng vừa bắt đầu. Tôi nhìn vào các trường lớp đào tạo giáo dân, tu sĩ, chủng sinh. Tôi thấy việc đào tạo hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn và thách đố mới. Nhưng Chúa vẫn ở trong Hội Thánh.     
  2. Nhiều người đào tạo có nhiều bằng cấp và nhiều chức quyền vẫn không tự hào về những thứ đó. Nhưng họ tự coi mình như những kẻ đi gieo, mà Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm.

Họ gieo những hạt cải nhỏ vào mảnh đất nhỏ (Mc 4,31). Hạt cải nhỏ là những việc lành nhỏ, âm thầm, khiêm tốn.

Họ coi mình như những người gieo bé mọn. Không ồn ào, không danh vọng. Chỉ sống đơn sơ, mộc mạc. Như một hiện diện của Tình Yêu.       

  1. Những người đào tạo như thế, với những việc làm và thái độ như thế, chính là những người cộng tác đắc lực với Chúa, để xây dựng sự bình an cho thế giới hôm nay.

Thế giới hôm nay đang là chiến trường giữa thiện và ác. Phía ác do Satan và hỏa ngục dẫn đầu. Chúng rất mạnh. Chúng ta sẽ thắng chúng nhờ vào Chúa chúng ta.       

  1. Riêng tôi, tôi nhận mình rất yếu đuối. Ngay sự phó thác mình cho Chúa một cách khiêm nhường, cũng không là việc dễ dàng đối với tôi. Nên tôi thường hay chạy đến Đức Mẹ, xin Mẹ ủi an tôi trên con đường phấn đấu đầy mệt mỏi. Tôi hay cầu nguyện với Mẹ bằng bài hát quen thuộc:

“Lạy Mẹ, xin an ủi chúng con luôn luôn. Mẹ từ bi, xin phá những nỗi u buồn…”

Thực sự, Đức Mẹ đã và đang an ủi tôi. Nhờ vậy, mà tôi được bình an.

  1. Với kinh nghiệm riêng tư đó, đôi khi tôi cảm thấy mình được thấy “trời mở ra”, như xưa Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ đi theo Người (Ga 1, 51). Trời mở ra, để tuôn đổ ơn bình an xuống cho những người Chúa thương.

          Tôi nói là “đôi khi”, để chứng tỏ rằng: Bình thường, cuộc sống đem lại bình an vẫn là một hành trình đòi nhiều phấn đấu. Phải bắt đầu đi, bắt đầu lại.

          Bình an đang trở thành một nhu cầu khẩn thiết cho Hội Thánh và quê hương chúng ta. Bình an là điều mà mọi người đang chờ đợi nơi mỗi người chúng ta. Bình an là một ơn trọng đại, Chúa sẽ ban cho những người thiện tâm. 

Long Xuyên, ngày 04.9.2017                        

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu.

Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm
.
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.

Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.


Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim. 
.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Sàigòn có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).

Anh chị Thụ Mai & gởi