Những người phụ nữ kiên cường!

From facebook:    Hung Tran and 2 others shared Le Anh‘s post.
Image may contain: 6 people, people smiling, text
Le Anh is with Tien Bui and 2 others.

 

Nhân ngày 20/10, Ngày phụ nữ Việt Nam,

Không quên những người phụ nữ can trường vẫn còn đang bị giam giữ trong lao tù chỉ vì lòng yêu nước và đấu tranh cho tự do, dân chủ tại Việt Nam.
(Ảnh Từ trái qua phải theo thứ tự)

– Cô Nguyễn Đặng Minh Mẫn bị bắt giữ vào cuối tháng Bảy năm 2011 vì chụp hình một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và bị kết án 8 năm tù với tội danh “lật đổ nhà nước” theo điều 79. Tuy học làm nghề thẩm mỹ, cô gái 26 tuổi này là người nhiệt huyết cổ võ cho công bằng xã hội và nhân quyền, thể hiện qua việc làm của một ký giả nhiếp ảnh. Cô đến những nơi nào có bất ổn xã hội, có biểu tình công cộng để chụp hình và tạo chú ý cho các sự kiện này.

– Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – Mẹ Nấm, là một blogger viết về các vấn đề xã hội và là mẹ của hai đứa con nhỏ. Từ năm 2009 đến năm 2016, Mẹ Nấm đã bị bắt giữ nhiều lần do tham gia các hoạt động dân sự, đòi nhân quyền và biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo. Mẹ Nấm bị bắt ngày 10 tháng Mười năm 2016 tại Nha Trang với tội danh theo điều 88 – “tuyên truyền chống nhà nước”và bị kết án 10 năm tù.

– Bà Trần Thị Nga năm nay 40 tuổi và mẹ của bốn người con, trong đó có hai người con trai nhỏ. Vì những hoạt động hỗ trợ dân oan, biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, chống Formosa,… mẹ con bà Nga liên tục bị công an bắt cóc, chặn đánh giữa đường. Sau nhiều ngày bị khủng bố, đe dọa và giam lỏng tại nhà riêng, bà Trần Thị Nga đã bị công an bắt vào ngày 21/1/2017 và bị khởi tố theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự – “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” và bị kết án 9 năm tù.
– Bà Trần Thị Thúy là một Phật tử Hòa Hảo hoạt động cho quyền lợi của dân oan, đang thụ án tù 8 năm sau khi bị kết án “có những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền” theo Điều 79 Bộ Luật Hình Sự. Bà bị bắt giữ hồi tháng Tám năm 2010 và đang bị giam giữ tại trại An Phước, tỉnh Bình Dương. Mang bệnh nan y trong người và sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt trong tù, bà Thúy nhiều lần bị giới chức trách khước từ cho đi chữa trị sức khoẻ. Tình trạng của bà hiện đang được quốc tế báo động.

– Bà Cấn Thị Thêu có thể được coi là linh hồn trong cuộc đấu tranh chống cướp đất của nhân dân Dương Nội. Sau vụ cưỡng chế đất vào tháng Tư năm 2014 tại Dương Nội, bà từng bị bắt và bị kết án 15 tháng tù. Sau khi mãn án, bà Thêu tiếp tục đi đòi quyền lợi đất đai cho gia đình và những người cùng cảnh ngộ. Không chỉ hoạt động cho quyền lợi của những nông dân bị cướp đất, bà Thêu còn tham gia vào những hoạt động đấu tranh cho quyền con người, chống Trung Quốc xâm lược hay phản đối Formosa. Bà bị bắt lại vào ngày 10 tháng 6 năm 2016 với cáo buộc “gây rối trật tự công cộng”, và sau đó bị kết án 20 tháng tù.

– Lê Thu Hà là thành viên Hội Anh Em Dân Chủ, đảm trách chức vụ thư ký và ngoại giao cho hội. Cô cũng là một trong những người thực hiện chương trình Lương Tâm TV, một kênh truyền thông được phát trên Youtube nói về các vấn nạn xã hội. Ngày 16 tháng 12 năm 2015, cô Lê Thu Hà bị bắt cùng Luật sư Nguyễn Văn Đài với tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự.

  •  
     
     
     
    Hung Tran shared Le Anh‘s post.
     

    Đảng cộng sản Việt Nam run sợ trước những người phụ nữ kiên cường!

Đôi điều về Diệp Sú.

From facebook:   ‎Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.
Đôi điều về Diệp Sú.

Từ nhà cũ của tôi đến nhà bạn ấy không xa…đi bộ 10-15 phút…khi nghe tin bạn sang Mỹ trong lòng tôi rất vui giống như hồi xưa tôi sang Úc vậy…mừng cho bạn đã qua một chặn đường chông gai…

Vui chưa lâu thì tôi được biết bạn ra đi trong cú lừa ngoạn mục dưới danh nghĩa vợ chồng…đau như chính mình bị vậy…tức và hận nữa…

Vì thương gia đình còn ở lại VN nên bằng mọi giá mọi phương tiện bạn đã mưu sinh bằng đủ thứ nghề có thể và sau đó thì nấu ăn trong nhà hàng…

Bạn giới hạn liên lạc vì sự an toàn cá nhân…Năm này qua năm khác thông tin về bạn càng lúc càng nhiều hơn…cho đến khi lần đầu tiên bị bệnh bạn cũng được điều trị vì nhân đạo của chính phủ Mỹ…Cứ ngỡ mọi việc sẽ qua…công việc sẽ ổn định để bạn có thể giúp đỡ gia đình nhiều hơn…

Thế nhưng số trời đã định…hết nợ thì không cần phải trả thêm…bạn nằm trong bệnh viện không thân nhân ruột thịt chỉ có thầy cô và bạn bè là nguồn an ủi nho nhỏ…tình Lương Văn Can nơi hải ngoại…

Hôm nay bạn ra đi về miền đất ước mơ của chính mình,không còn đau đớn,không lo toan,không bận bịu quà cáp cho gia đình và phút cuối cũng không biết thể xác của chính mình là của ai…Nhưng tôi mong phần linh hồn của bạn thanh thản,bình an và nhẹ nhàng nơi đất hứa…

Thôi thì thôi…chẳng qua là đi trước đi sau thôi..hẹn ngày nào đó chúng ta sẽ được gặp lại nhau nơi mơ ước đó…

Nhớ bạn Diệp Sú.

Lâm Kim Trọng LVC75.

Image may contain: 1 person, standing, tree, outdoor and nature

Diệp sú ơi !
Bây giờ thì ai có nói gì thì mày cũng không còn nghe nữa, đã buông bỏ hết rồi.
Hồi còn ở Việt Nam, làm hồ sơ đi Mỹ mà mày dặn em mày là đừng cắt hộ khẩu : tao đi rồi tao sẽ quay về.
Bây giờ thì mày không về nữa, mày muốn khi mày chết đi thì thiêu rồi đem tro rắc xuống sông xuống biển vì mày biết ở bên đó không có người thân chẳng ai nhang khói cho mày.
Thôi, mày ra đi thanh thản như bản tính hiền lành xuế xoà của mày
Chúc mày siêu thăng tịnh độ

— feeling sad.

Số phận các Quốc gia Cộng sản hoặc theo đường lối XHCN ở châu Phi sau năm 1989:

From facebook:   Dang Tuong

Món quà dành riêng cho DLv và bưng bô cs 

Số phận các Quốc gia Cộng sản hoặc theo đường lối XHCN ở châu Phi sau năm 1989:

Algeria – Bạo loạn Tháng Mười 1988, cuộc nổi dậy Hồi giáo ở Algeria 1991, đã buộc nước này phải từ bỏ chế độ độc đảng chuyển sang cuộc bầu cử đa đảng năm 1995.

Angola – Chính phủ MPLA cầm quyền đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin vào năm 1991 và đồng ý với Hiệp định Bicesse trong cùng năm, tuy nhiên cuộc Nội chiến Angola giữa hai đảng MPLA và UNITA bảo thủ vẫn tiếp tục trong một thập kỷ nữa.

Cape Verde – Đảng cầm quyền châu Phi độc lập của Cape Verde đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ để cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.

Cộng hòa Dân chủ Congo – Chính quyền của Denis Sassou Nguesso bị áp lực phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác – Lênin vào năm 1991. Quốc gia này đã có những cuộc bầu cử vào năm 1992 và thành lập Cộng hòa Congo vào năm 1993.

Cộng hoà dân chủ liên bang Ethiopia – Một hiến pháp mới được thực hiện vào năm 1987, và sau khi Liên Xô và Cuba sụp đổ, chính quyền quân sự Cộng sản Derg do Mengistu Haile Mariam lãnh đạo đã bị đánh bại bởi phe nổi dậy trong cuộc Nội chiến ở Ethiopia và trốn chạy vào năm 1991.

Cộng hoà Madagascar – Chủ tịch nước Chủ nghĩa xã hội, ông Didier Ratsiraka bị lật đổ.

Mali – Chính quyền của Moussa Traoré đã bị lật đổ, Mali thông qua một hiến pháp mới; Tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng. Cuộc nổi dậy năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1991.

Mozambique – Cuộc nội chiến ở Mozambiku giữa FRELIMO và các đảng bảo thủ RENAMO đã kết thúc thông qua hiệp định năm 1992. FRELIMO sau đó đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội và với sự ủng hộ của Liên hợp quốc đã tổ chức nhiều cuộc bầu cử.

São Tomé and Príncipe – Phong trào Giải phóng Lao động São Tomé và Príncipe / Đảng Xã hội đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.

Somalia – Rebelling Somali đã lật đổ chính quyền quân sự Cộng sản của Siad Barre trong cuộc Cách mạng Somali.

Tanzania – Đảng Chama Cha Mapinduzi cầm quyền đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1995.

Tunisia – Đổi tên Đảng Cộng sản Tunisia ở Phong trào Ettajdid năm 1993 và đổi tên Đảng Destourian Xã hội Chủ nghĩa trong Cuộc Hiến pháp Lập hiến Dân chủ năm 1988.

Zambia – Đảng Thống nhất Quốc gia đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.

Seychelles – Dân chủ hoá năm 1991.
Guinea-Bissau – Dân chủ hoá năm 1991.
Chad – Dân chủ hoá năm 1991.
Burkina Faso – Dân chủ hoá năm 1990.
Sierra Leone – Sự khởi đầu của cuộc nội chiến Sierra Leone vào năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1992. Gắn liền với cuộc chiến này là nội chiến ở nước láng giềng Liberia

Riêng Zaire, tức cộng hòa dân chủ Congo ngày nay, rơi vào cuộc nội chiến từ năm 1996 tới tận ngày nay. Nhiều nhóm vũ trang tham gia nội chiến là những nhóm phiến quân được đào tạo bởi Che Guevara hồi những năm 60 vẫn hoạt động đến những năm 2005.

Zimbabwe là nước kiên trì nhất với XHCN, đất nước vẫn duy trì đường lối này đến năm 1999.

Châu Phi từng là châu lục có nhiều nước theo đường lối XHCN nhất thế giới, nhưng phần lớn các nước chỉ mang tính định hướng trong hiến pháp chứ không xây dựng XHCN toàn diện như các nước châu Âu và châu Á. Đa phần các nước châu Phi sau khi dành độc lập những năm 50, 60 đã duy trì quan hệ gần gũi với Liên Xô và các nước XHCN vì đã ủng hộ cuộc chiến dành độc lập của họ. Đến nay hầu hết các nước châu Phi đã từ bỏ XHCN. Chỉ còn Ai Cập, Lybia, Tanzania và Zimbabwe là giữ lại hiến pháp dựa trên XHCN, nhưng chính phủ Gadafi ở Lybia và Mubarak ở Ai Cập đã bị lật đổ trong “Mùa xuân Arap’ năm 2011.

Ảnh: Người dân Ethiopia ăn mừng bên cạnh bức tượng Lenin bị giật sập ở thủ đô Addis Ababa-bức tượng Lenin duy nhất ở châu Phi-sau khi chính phủ độc tài thân Liên Xô của Mengistu Haile Mariam bị lật đổ. Mengitsu phải trốn lưu vong sang Zimbabwe và bị tòa án ở Ethiopia kết án tử hình vắng mặt. Thủ tướng sau này của Ethiopia Addisu Legese đã nói: “Mengitsu là nỗi sỉ nhục với đức vua ( ý nói đến Haile Selassie I- anh hùng chống quân Ý xâm lược) và những người đã chiến đấu để bảo vệ đất nước này khi mang về đây bức tượng tên đồ tể của nhân loại. Hắn không bao giờ được tha thứ”.

Nguồn: Wikipedia/World History

Theo member Long Vũ

Image may contain: 11 people, people smiling, crowd and outdoor

ĐAU LÒNG QUÁ.. ..QUÂN ĐỘI Ở ĐÂU – CÁN BỘ Ở ĐÂU TRONG GIỜ NÀY..??

From facebook:    Duy Thanh‘s post.
 
Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: 1 person, crowd, child and outdoor
Image may contain: 4 people, people smiling, child and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Duy Thanh added 4 new photos.

 

ĐAU LÒNG QUÁ..

..QUÂN ĐỘI Ở ĐÂU – CÁN BỘ Ở ĐÂU TRONG GIỜ NÀY..??

Nhà cầm quyền đã để thuỷ điện xã lũ giết dân như thế, họ vẫn chưa có hành động nào lo cho những người sống sót..!!
Ở các quốc gia khác, chính quyền đã có những biện pháp khẩn cấp để cứu trợ người dân. Quân đội là lực lượng trừ bị đã phải được huy động để đưa thực phẩm, thức uống kịp thời đến cho người còn sống xót, họ cũng phải được huy động để khẩn cấp dựng láng trại, lều cho người dân có chỗ nghỉ ngơi, dưỡng sức. Về lâu dài họ còn được huy động để giúp người dân thu dọn, dựng lại nhà cửa.

Ở Vietnam ngay trong lúc này, hằng ngàn người mất cửa, mất nhà, chẳng thấy có quân đội, nhà nước nào dựng trại tạm trú cho dân mà chỉ thấy họ xum xuê trong các buổi họp hành, gặp gỡ linh đình cử tri trong thành phố. Và quân đội thì… bận làm kinh tế..!!
Chỉ có người dân tự cứu giúp nhau. Hoan nghênh các tổ chức từ thiện tư nhân như chương trình Hạt Gạo Tình Thương này.

Nguồn: Ngocbon Sansan

Thảo dược ( họ mộc hương) ở TQ, châu Á có liên quan đến bệnh ung thư gan, suy thận.

From facebook:    Trần Bang‘s post.
 
 
No automatic alt text available.
Trần Bang

 

Thảo dược ( họ mộc hương) ở TQ, châu Á có liên quan đến bệnh ung thư gan, suy thận.

Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện nhiều bằng chứng cho thấy có mối liên hệ giữa các thảo dược cổ truyền của Trung Quốc với ung thư gan trên khắp khu vực Châu Á, theo một cuộc nghiên cứu công bố ngày 18/10.

Phát hiện cho thấy cần có các biện pháp mạnh tay hơn để ngăn mọi người tiêu thụ các hóa chất gọi là aristolochic acids (AA), có mặt trong nhiều loại dược liệu trong y học cổ truyền thuộc họ mộc hương, theo báo cáo đăng trên tạp chí y học Science Translational Medicine.

Các nhà nghiên cứu thí nghiệm 98 khối u gan tại các bệnh viện ở Đài Loan và phát hiện 78% chứa các mẫu biến đổi cho thấy ung thư có rất nhiều khả năng do có tiếp xúc với các hóa chất này.

Họ cũng nghiên cứu 89 mẫu bệnh phẩm ung thư gan ở Trung Quốc và 47% cho thấy có liên hệ với độc tố vừa kể.

Tại Việt Nam, trong số 26 khối u gan được nghiên cứu thì có 5 trường hợp (19%) có liên hệ với chất acid AA trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, tỷ lệ này là cứ 9 khối u gan thì có 5 cái có liên hệ với AA.

Mối liên hệ giữa ung thư gan với thảo dược y học cổ truyền Trung Quốc ít thấy hơn ở khu vực Bắc Mỹ, chỉ chiếm 5% trong tổng số 209 ca ung thư gan được khảo sát và trong 230 trường hợp ở Châu Âu, có 1,7% như thế.

Đài Loan vào năm 2003 đã cấm dùng các thảo dược có chứa chất AA để bào chế thảo dược sau khi khám phá rằng AA có thể gây suy thận và ung thư đường niệu.

Tuy nhiên, không có lệnh cấm thẳng thừng rõ ràng tại Đài Loan hay Trung Quốc, khiến người tiêu dùng khó tránh, báo cáo nói.

Theo AFP/ Sciencemag.org

Vậy cái nhà nước này nhìn đâu cũng thấy phản động hết.

From facebook:  Bích Thủy Nguyễn is with Sophia Nguyen.
 

Nghe đâu cô Xuân vừa bị bắt vì hoạt động lật đổ nhà nước …

Chỉ là một phụ nữ đi kiếm ve chai .có tham gia dạy giáo lý cho các em xứ đạo và có tham gia với giáo dân biểu tình chống Formosa.

Hôm rồi có tham gia đi từ thiện. Có lẽ chỉ là phụ thôi vì cô ta rất nghèo .
Một phụ nữ nghèo và trình độ không có thì làm cách nào mà hoạt động lật đổ được nhà nước ….

Vậy cái nhà nước này nhìn đâu cũng thấy phản động hết.

CÓ MỘT CỤ GIÀ….

From facebơk:   Trần Bang shared Tin Mừng Cho Người Nghèo‘s post.
CÓ MỘT CỤ GIÀ….

#GNsP – Có một Cụ Già, mà khi gặp Cụ, các Đức Giám Mục đã cúi mình xuống và niềm nở chuyện trò.

Cụ già đó chính là Giáo sư Stêphanô NGUYỄN KHẮC DƯƠNG, nguyên trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa trưởng Văn khoa của Đại học Đàlạt trước 1975; người đã góp công rất lớn trong việc đào tạo nên những nhà tri thức cho Giáo hội và xã hội. Có rất nhiều Tu sĩ, Linh mục và cả Giám Mục… đã là môn sinh của thầy. Tuy nhiên, “Gia tài” mà cụ để lại không phải chỉ là những kiến thức uyên bác, nhưng là một chứng nhân của đức tin, một tình yêu cao cả mà cụ dành cho Chúa và Hội Thánh.

Thầy Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24-9-1925, trong một gia đình Nho Giáo tri thức. Tuổi thơ thầy sống với cha mẹ tại làng Thịnh Xá, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; trực thuộc Giáo họ Bình Hòa, Giáo xứ Đông Tràng, Giáo phận Vinh.

Thân phụ, cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, là một nhà nho nổi tiếng học giỏi, đức độ. Sau khi đỗ đạt, cụ được bổ dụng vào chức Tư nghiệp Quốc tử giám tại Huế. Cụ đã từng làm Tri phủ huyện Anh Sơn, Án sát tỉnh Nghệ An, Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên, và về hưu năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng thư. Cụ là một vị quan thanh bạch, trung chính, không lấy danh vị làm vinh, và nổi tiếng thanh liêm nên được dân chúng rất mến phục.

Thầy Nguyễn Khắc Dương là em ruột của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, một trong các lý thuyết gia hàng đầu về văn hóa của Cộng Sản Bắc Việt.
Sinh ra trong một gia đình Nho Giáo nên từ nhỏ, thầy Khắc Dương không mấy thiện cảm với Đạo Kitô giáo, thậm chí là khinh thường Kitô giáo. Tuy nhiên, nhờ được học trong trường Thiên Hựu ở Huế, thầy đã có cơ hội tìm hiểu về Đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên.

Việc trở thành người Kitô hữu của thầy Khắc Dương, đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là mẹ của thầy. Bà mẹ chất vấn thầy rằng: “Ông bà tổ tiên của mày có tội gì, mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ? , Tội của mày là tội bất hiếu, tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không sạch được, vậy chỉ một chút nước trên đầu thì sao mà rửa sạch được chứ”.

Lý giải về việc “bỏ” gia đình để theo Đạo, thầy Khắc Dương có lần chia sẻ rằng: Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống “trên” người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng Đời Là Bể Khổ, nên phải tránh Đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người… Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu

Một vài nét như thế, để ta hiểu hơn về con người của Cụ Già này, và để hiểu vì sao khi gặp Cụ, các Đức Giám Mục đã bước tới, cúi mình xuống và thăm hỏi chuyện trò.

Hoa Trên Ngàn
Ảnh: Vicente Nguyễn Thương

Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, text

CIA: Triều Tiên sắp đủ khả năng tấn công Mỹ

CIA: Triều Tiên sắp đủ khả năng tấn công Mỹ


Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un trong bản tin nói về vụ phóng thử phi đạn hôm 16/9/17
Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un trong bản tin nói về vụ phóng thử phi đạn hôm 16/9/17

Phát biểu trước cuộc hội thảo ở thủ đô Washington ngày 19/10, Giám đốc CIA, Mike Pompeo, nhấn mạnh ông ‘hết sức lo ngại’ về mối đe dọa tăng tiến từ Triều Tiên và khả năng mối đe dọa này có thể khơi mào một cuộc đua võ khí hạt nhân trên khắp Đông Á.

“Họ đã tiến qua xa trong việc này và giờ là lúc phải suy nghĩ cách làm sao chặn đứng bước cuối cùng,” ông Pompeo nói.

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, ông H.R. McMaster, cho biết Washington đang chạy đua để giải quyết tình hình.

“Chúng ta chưa cạn thời gian nhưng đang hết thời gian,” ông McMaster phát biểu tại cùng buổi hội thảo.

Bình luận của hai giới chức này được đưa ra giữa lúc căng thẳng Mỹ và Triều Tiên đang dâng cao sau cuộc thử nghiệm hạt nhân mới nhất của Bình Nhưỡng hồi tháng trước.

Dù cảnh báo rằng Triều Tiên chỉ vài tháng nữa thôi là có thể nhắm mục tiêu Mỹ, Giám đốc CIA cẩn trọng rằng đe dọa hạt nhân Triều Tiên ‘mạnh’ cỡ nào và liệu Bình Nhưỡng có thể chuyển nhiều đầu đạn hạt nhân tới các mục tiêu hạt nhân hay không vẫn còn là những câu hỏi chưa có lời đáp.

“Luôn có nguy cơ. Tình báo không phải lúc nào cũng hoàn hảo,” ông cho biết, đồng thời nói thêm rằng có bằng chứng cho thấy Bình Nhưỡng có thể nhận sự trợ giúp từ Iran.

Ông cũng cảnh báo mỗi một cuộc thử nghiệm của Triều Tiên đều làm tăng khả năng của một cuộc đua võ trang.

Cùng ngày, Tổng thống Nga Vladimir Putin khuyến cáo chớ dùng võ lực loại trừ đe dọa hạt nhân Triều Tiên vì sẽ không có hiệu quả.

Các giới chức Triều Tiên cũng đã nhiều lần cảnh cáo Mỹ chớ có hành động khiêu khích.

Đầu tuần này, phó đại sứ Triều Tiên tại Liên hiệp quốc, ông Kim In Ryong, cảnh báo chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào.

Ngoài ra, Bình Nhưỡng cũng tố cáo Mỹ chuẩn bị chiến tranh, viện dẫn sự hiện diện của hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan và các cuộc tập trận ở phia đông bán đảo Triều Tiên.

Ai vi phạm Hiệp định Genève (20-7-1954)?

Ai vi phạm Hiệp định Genève (20-7-1954)?  

 Trần Gia Phụng (Danlambao) – …Trong khi chính phủ QGVN rồi VNCH tôn trọng hiệp định Genève, thi hành nghiêm túc tất cả những quy định trong hiệp định Genève, thì nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay từ trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết. Đặc biệt VNDCCH vi phạm hiệp định có “biên nhận” do Trung Cộng cung cấp. Năm 1973, chuyện vi phạm hiệp định Paris lại tái diễn. Do đó, chẳng những “đừng tin những gì cộng sản nói” (lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), mà còn đừng tin những gì cộng sản viết, và cũng đừng tin những gì cộng sản cam kết, dù cam kết trên giấy tờ như hiệp định Genève…
*
Gần đây, nhân chuyện phim The Vietnam War ra mắt, có nhiều người bàn luận sôi nổi. Có người còn đặt câu hỏi ai đã vi phạm hiệp định Genève để đưa đến chiến tranh?
Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN). Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).
1.- Hiệp định Genève không đề cập chuyện thống nhất đất nước
Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Ngoài Pháp và VNDCCH tức Việt Minh, các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Trung Cộng, Lào, Cambodia. Hai chính phủ QGVN và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.
 
Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều, chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, rút quân về vị trí chỉ định trong hiệp định, thời biểu rút quân… Hiệp định không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam, nghĩa là hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhứt đất nước.
Gần một năm sau, thủ tướng QGVN Ngô Đình Diệm tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn ngày 6-7-1955 rằng chính phủ QGVN không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành hiệp định nầy. Chính phủ QGVN không phản đối nguyên tắc tổng tuyển cử, nhưng không có bằng chứng cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) 
Ngày 19-7-1955, thủ tướng VNDCCH là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhứt đất nước. Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, và xác nhận lại chủ trương của chính phủ QGVN đã được đưa ra ngày 6-7-1955. Quốc Gia Việt Nam được đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.
Tuy chính phủ VNCH nhiều lần từ chối, thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, nhằm chứng tỏ VNDCCH quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.
Hiệp định Genève hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nên luận điệu của VNDCCH cho rằng VNCH không hiệp thương để tổng tuyển cử, vi phạm hiệp định Genève, là luận điệu vu cáo trắng trợn. Luận điệu vu cáo nầy được cộng sản lập đi lập lại nhiều lần, cho đến ngày nay trong nước vẫn còn tồn tại luận điệu vu cáo nầy.
2.- Việc tổng tuyển cử được đề cập trong bản tuyên bố không chữ ký
Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. 
Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng: “Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Bản Pháp văn: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)
Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Cộng, VNDCCH, Lào và Cambodia trả lời miệng rằng “đồng ý”. Tất cả đều trả lời miệng, không phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký
Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì không thể là một hiệp ước, vì không ai ký tên cam kết để thi hành những điều đã cùng nhau thỏa ước (nên mới gọi là hiệp ước). Bản tuyên bố không chữ ký chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn mà thôi. Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là một bản tuyên bố không chữ ký? (Ở đây xin đưa ra một ví dụ đơn giản: hai người nam nữ tuyên bố kết hôn mà không ký kết hôn ước thì có hợp pháp hay không?)
Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình. 
Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm thi hành đúng đắn hiệp định Genève ngày 20-7-1954, tập trung và rút toàn bộ lực lượng QGVN về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định Genève. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, không có tài liệu nào cho thấy là chính phủ QGVN đã vi phạm hiệp định Genève. 
Riêng bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève…” ngày 21-7-1954 không có chữ ký, không ai ký tên cam kết sẽ thi hành, chỉ có tính cách khuyến cáo mà thôi, nên không bắt buộc VNCH phải thi hành. Vì vậy, cũng không thể vu cáo Việt Nam Cộng Hòa và Tổng Thống Ngô Đình Diệm không thi hành hiệp định Genève, rồi động binh gây chiến.
3.- Ai vi phạm Hiệp định Genève?
Muốn biết ai vi phạm hiệp định Genève, xin trở lại thời gian hội nghị Genève. Hội nghị khai mạc ngày 8-5-1954, kéo dài cho đến ngày 21-7-1954, có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhứt từ ngày 8-5 đến ngày 20-6-1954; giai đoạn thứ hai từ ngày 10-7-1954 đến ngày 21-7-1954. 
Giữa hai giai đoạn là thời gian 20 ngày tạm nghỉ để các phái đoàn về nước tham khảo và nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, xảy ra ba sự kiện quan trọng: 1) Tại Pháp, Mendès France được cử làm thủ tướng ngày 17-6-1954. Ông hứa hẹn với dân chúng Pháp sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, và sẽ ký kết hiệp ước đình chiến chậm nhứt là ngày 20-7-1954, nghĩa là Pháp dứt khoát rời bỏ Việt Nam. 2) Tại Việt Nam, Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại đề cử giữ chức thủ tướng QGVN. Ông Diệm nhận chức ngày 7-7-1954, thường được gọi là ngày “Song thất”. 3) Thủ tướng và là trưởng phái đoàn Trung Cộng tại hội nghị Genève, Châu Ân Lai về nước trong thời gian nghỉ họp, mời Hồ Chí Minh (HCM), chủ tịch VNDCCH, bí mật gặp nhau tại Liễu Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954. Lúc đó, dư luận thế giới hoàn toàn không hay biết đến hội nghị quan trọng nầy. 
Hội nghị Liễu Châu giữa Châu Ân Lai và HCM diễn ra từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết. Tháp tùng theo HCM có Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan. Vào họp, Châu Ân Lai báo cho phái đoàn Việt Minh biết có ba cách để đối phó với tình hình mới: 1) Thượng sách là hòa. 2) Trung sách là đánh rồi hòa. 3) Hạ sách là đánh tiếp.
Châu Ân Lai khuyên HCM và Việt Minh chấp nhận thượng sách là hòa để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ có thể can thiệp. Theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giải quyết riêng chuyện Việt, Miên, Lào, đồng thời chia hai Việt Nam ở khoảng vĩ tuyến 16. Với kinh nghiệm Trung Cộng qua chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai khuyên HCM không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở vào thế phải nhờ Hoa Kỳ can thiệp. Cũng theo Châu Ân Lai, trong trường hợp Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, với binh lực hùng hậu, Hoa Kỳ có thể lật ngược tình thế như trong chiến tranh Triều Tiên trước đây. Như vậy, theo Châu Ân Lai, Việt Minh sẽ đuổi được kẻ địch yếu (Pháp), nhưng lại rước kẻ địch mạnh (Hoa Kỳ). Hơn nữa, cũng theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giúp thủ tướng Mendès-France để ông ta không bị quốc hội Pháp lật đổ. Nếu Mendès France không thành công, chính phủ Mendès France sẽ bị lật đổ, thì có thể bất lợi cho phía cộng sản. (Tiền Giang, Châu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Châu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Châu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).
Châu Ân Lai còn bàn thêm rằng sau khi chia hai Việt Nam, Việt Minh rút quân về phía Bắc Việt Nam (BVN), nhưng không có nghĩa là Việt Minh rút hết võ khí, mà võ khí nào cất giấu được, thì phân tán mà cất giấu để tránh bị phát hiện. Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Minh chấp nhận thi hành kế hoạch của Châu Ân Lai.
Tại hội nghị nầy, Võ Nguyên Giáp đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam (NVN), mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại NVN như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273).
Sau hội nghị Liễu Châu, trong báo cáo của HCM tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng Lao Động ngày 15-7-1954, HCM chỉ nhắc sơ là có gặp và trao đổi với thủ tướng Châu Ân Lai. Việt Minh không công khai loan báo kế hoạch của Châu Ân Lai cũng như kế hoạch mai phục cán bộ ở lại miền Nam của Võ Nguyên Giáp để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Lý do đơn giản là nếu công khai, thì sẽ bị lộ ra âm mưu vi phạm hiệp định Genève. Về sau, khi ấn hành lại bản báo cáo nầy trong Hồ Chí Minh toàn tập tập 7, Nxb Chính Trị Quốc Gia, thì ban biên tập chỉ chú thích sơ lược cuộc gặp gỡ ở cuối trang 315.
Về phía Châu Ân Lai, sau khi hội nghị Genève kết thúc ngày 21-7-1954, thì Trung Cộng mới đăng lên Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh ngày 8-8-1954 bản “Tuyên bố về cuộc hội đàm Trung-Việt của chính phủ Trung Quốc”, được dịch nguyên văn như sau:
“Thủ tướng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Châu Ân Lai và chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh đã cử hành hội đàm tại biên giới Trung-Việt từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7 năm 1954. Thủ tướng Châu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề khôi phục hòa bình tại Đông Dương và các vấn đề có liên quan khác. Tham gia hội nghị còn có: Hoàng Văn Hoan, đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung Quốc và Kiều Quán Hoa, cố vấn đoàn đại biểu nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại hội nghị Genève.” (Tiền Giang, sđd., bản dịch đã dẫn, chương: “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet) Bản tuyên bố nầy cũng chỉ xác nhận có cuộc hội họp giữa Châu Ân Lai và HCM mà không đề cập đến nội dung chi tiết, như việc chôn giấu võ khí, hay cài cán bộ ở lại NVN.
Kết luận
Như thế, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN rồi VNCH tôn trọng hiệp định Genève, thi hành nghiêm túc tất cả những quy định trong hiệp định Genève, thì nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay từ trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết. Đặc biệt VNDCCH vi phạm hiệp định có “biên nhận” do Trung Cộng cung cấp. 
Năm 1973, chuyện vi phạm hiệp định Paris lại tái diễn. Do đó, chẳng những “đừng tin những gì cộng sản nói” (lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), mà còn đừng tin những gì cộng sản viết, và cũng đừng tin những gì cộng sản cam kết, dù cam kết trên giấy tờ như hiệp định Genève.
20.10.2017

Làm sao chấm dứt những cái chết “đúng quy trình” trong mưa lũ?

Làm sao chấm dứt những cái chết “đúng quy trình” trong mưa lũ?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-10-18
Một gia đình người Hmông đang đi bộ giữa những ngôi nhà bị phá hủy sau trận lũ quét tại Mù Cang Chải, Yên Bái, hôm 4 tháng 8 năm 2017.

Một gia đình người Hmông đang đi bộ giữa những ngôi nhà bị phá hủy sau trận lũ quét tại Mù Cang Chải, Yên Bái, hôm 4 tháng 8 năm 2017.

Photo: AFP
 

Số người thiệt mạng trong các đợt mưa lũ hàng năm tại Việt Nam lên đến hàng chục hay hàng trăm người. Và dư luận càng thêm phẫn nộ khi các cơ quan chức năng luôn khẳng định đã ứng phó với thiên tai một cách “đúng quy trình”.

Chết bởi nhân tai?

“Hôm bị bão lũ, chỗ khe suối bé tí thôi nhưng nước nhiều và chảy rất xiết. Lúc ấy tầm 3:30 sáng, cậu em vẫn ở trong lán và bị lũ cuốn trôi. Ở đó cũng có mấy nhà hàng xóm bị trôi. Có một nhà mất luôn 5 người, với lại một nhà khác bị mất một đứa con.”

Đây là chia sẻ của một cô gái dân tộc Thái, ở bản Hát, xã H Lìu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái về người cậu tên Mè Văn Hướng bị lũ cuốn trôi vào khi trời chưa sáng trong ngày 11 tháng 10 và đến ba ngày sau mới tìm được xác cách xa tận 50 cây số.

Không chỉ có 7 người bị thiệt mạng tại bản làng của người thiểu số như vừa nêu mà có đến 72 người chết, 30 người bị mất tích và 33 người bị thương trong đợt lũ lịch sử vừa qua ở khu vực các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, theo thông báo trên website của Chính phủ Việt Nam, đăng tải vào ngày 16 tháng 10.

Hôm bị bão lũ, chỗ khe suối bé tí thôi nhưng nước nhiều và chảy rất xiết. Lúc ấy tầm 3:30 sáng, cậu em vẫn ở trong lán và bị lũ cuốn trôi. Ở đó cũng có mấy nhà hàng xóm bị trôi. Có một nhà mất luôn 5 người, với lại một nhà khác bị mất một đứa con
-Người dân ở Yên Bái

Trước những số liệu về thiệt hại tài sản và nhân mạng được cho là quá nhiều chỉ trong vòng vài ngày mưa lũ quét qua, dư luận dấy lên sự phẫn nộ tột cùng khi giới chức của các cơ quan chức năng tuyên bố “Thủy điện Hòa Bình mở 8 cửa xả đáy là hoàn toàn đúng quy trình” hay “Đê Hữu Bùi tại Chương Mỹ, Hà Nội vỡ theo kế hoạch” và “Trong đó có nguyên nhân chủ quan của người dân”.

Trong tình thế thiên tai diễn ra liên tục khắp nơi trên toàn cầu và Việt Nam nằm ở vị trí nhìn ra biển Đông nên hứng chịu tai hoạ của thiên nhiên là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, điệp khúc thương tâm mà người dân phải nhận lãnh trong mỗi mùa mưa lũ hàng năm bị quy cho là lỗi bởi “nhân tai”, trong đó, chính quyền không thừa nhận trách nhiệm thuộc về họ.

Một ví dụ điển hình qua câu hỏi của cư dân mạng, có tên GV Tran rằng “hàng ngàn héc-ta rừng biến mất lâu nay, mưa triền miên nhiều ngày, thủy điện Hòa Bình xả 8 cửa đập vào sáng ngày 11, nước từ thượng nguồn đổ về theo con thác Khanh, tạo ra nhiều thác nước trải dài từ trên triền núi. Rạng sáng ngày 12, lở núi xóm Khanh. Có sự liên quan nào không?” Thế nhưng những thắc mắc như vậy được lãnh đạo đập thủy điện Hòa Bình, ông Đặng Trần Công giải thích với báo chí là người chết không phải do xả lũ của hồ gây ra, mà bởi mưa lớn gây sạt lở đất, lũ cuốn ở sông và suối nhỏ.

Trong khi đó, vào chiều ngày 16 tháng 10, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai, ông Trần Quang Hoài cho rằng một trong những nguyên nhân chính gây ra lũ quét, sạt lở là do phá rừng. Ông Trần Quang Hoài còn nhấn mạnh Việt Nam sẽ tiếp tục trả giá vì nhiều rừng và đồi núi đã bị “cạo trọc”.

Cần làm gì để giảm thiểu?

Để tìm kiếm giải pháp làm thế nào đối phó với nạn phá rừng tại Việt Nam, Đài RFA trao đổi với một số chuyên gia ở trong nước và được cho biết có hai biện pháp cấp thiết, bao gồm các cơ quan pháp luật phải nghiêm khắc trong việc kiểm soát chống lại lâm tặc và cần làm cho người dân ý thức bảo vệ nguồn lợi rừng.

Mặc dù vậy, giải pháp thứ nhất dường như gặp nhiều thách thức vì những vụ phá rừng mới nhất, bị phát hiện trong năm 2017, có sự cấu kết giữa lâm tặc với chính quyền. Truyền thông quốc nội, trong tháng 7 và tháng 8 vừa qua, đưa tin vụ phá rừng gỗ quý pơ-mu ở Quảng Nam và phá rừng ở Yên Bái có sự thông đồng của công an biên phòng với lâm tặc hay có người chống lưng cho những hoạt động này.

Cách đây 30 năm, trong một đề tài nghiên cứu về Tây nguyên những năm 80. Lúc bấy giờ chúng tôi đi nghiên cứu và thấy rằng vì đồng bào ở Tây nguyên khổ quá, người ta phải phá rừng đốt nương làm rẫy nên chúng tôi có một kiến nghị là giảm bớt lượng xuất khẩu gạo và lấy gạo xuất khẩu ở đồng bằng Sông Cửu Long mang lên miền núi nuôi dân để dân bảo vệ rừng… Nhưng mà chả ai nghe
-Giáo sư Tương Lai

Về giải pháp thứ hai, theo ghi nhận của chúng tôi, nhiều chuyên gia đã từng nghiên cứu cũng như đề nghị với Chính phủ Hà Nội từ những thập niên trước và đến nay các đề nghị này vẫn không được lắng nghe.

Giáo sư Tương Lai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam cho biết ông từng tham gia trong một nhóm nghiên cứu về Tây nguyên. Các chuyên gia đã nhìn thấy viễn cảnh hậu quả mà quốc gia phải gánh chịu do tình trạng phá rừng từ khi có chương trình “kinh tế mới” và dù người dân tộc thiểu số gắn bó mật thiết với rừng nhưng họ cũng bắt chước người Kinh phá rừng vì nhu cầu đời sống thường nhật. Giáo sư Tương Lai nói với RFA:

“Cách đây 30 năm, trong một đề tài nghiên cứu về Tây nguyên những năm 80. Lúc bấy giờ chúng tôi đi nghiên cứu và thấy rằng vì đồng bào ở Tây nguyên khổ quá, người ta phải phá rừng đốt nương làm rẫy nên chúng tôi có một kiến nghị là giảm bớt lượng xuất khẩu gạo và lấy gạo xuất khẩu ở đồng bằng Sông Cửu Long mang lên miền núi nuôi dân để dân bảo vệ rừng. Như vậy, rừng được bảo vệ, dân được no và đất nước sẽ được quản lý. Bởi vì phá rừng thì 30-50-100 năm sau, đất nước sẽ chịu thảm họa môi trường. Giấy tờ kiến nghị vẫn còn đây. Tôi đang còn giữ cuốn sách ‘Tây nguyên trên đường phát triển’, trong đó có kiến nghị của chúng tôi, nêu rất rõ, ký tên hẳn hoi. Nhưng mà chả ai nghe cả.”

Sau đợt lũ lịch sử hồi trung tuần tháng 10, nhiều cư dân mạng lên tiếng kêu gọi đã đến lúc Chính phủ Việt Nam cần thiết tổ chức các hội thảo khoa học để giảm thiểu những thiệt hại về người và của trong mùa mưa lũ, như Facebooker Nguyễn Phước Anh Dũng, hiện làm việc tại trường Đại học Chulalongkorn University, Thái Lan chia sẻ đã từng nghiên cứu đề tài liên quan đến việc điều tiết xả lũ đập thủy điện một cách hiệu quả và ông sẵn sàng tham gia nếu Nhà nước Việt Nam cho phép; hay cư dân mạng Loi Phan, ở Đức lên tiếng sẽ quyên góp một tháng lương cho các nghiên cứu khoa học xoay quanh chủ đề “Xả lũ đập thủy điện, nguyên nhân, hậu quả và cách chống lại”.

Giáo sư Tương Lai cũng cho rằng rất cần tổ chức các hội thảo khoa học như thế, nhưng phải mời những chuyên gia tài giỏi và trung thực chứ không nên tổ chức mang tính chất hình thức với rất nhiều chuyên gia  đến tham  dự để phát biểu những điều ”bốc thơm” nhằm mục đích làm vừa lòng lãnh đạo mà thôi.

Kinh Mân Côi – Cuốn Kinh Thánh của Đời Ta

Kinh Mân Côi – Cuốn Kinh Thánh của Đời Ta

Lm. Giuse Trần Thanh Trung, O.Carm. 

Chúng ta đang ở trong tháng 10, là tháng Mân Côi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng Hội Thánh đang mời gọi con cái mình đi sâu vào việc thực hành đạo đức bổ ích này qua việc dành riêng tháng 10 để kính Mẹ Mân Côi.

   Vì nơi việc cầu nguyện và suy ngắm Kinh Mân Côi chúng ta  khám phá được những mầu nhiệm lớn lao mà Thiên Chúa muốn tỏ cho chúng ta.

   Kinh Mân Côi được gọi là cuốn Kinh Thánh thu nhỏ thật cũng không quá! Vậy, nhân dịp lễ kính Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, chúng ta hãy thử cùng chia sẻ đôi điều về những mầu nhiệm tình yêu diệu vợi trong lời kinh đơn sơ giản dị và có vẻ bình thường này. Trong bài chia sẻ ngắn này, chỉ xin được cùng đọc lại phần đầu của lời nguyện đơn sơ này: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ.

   Ngay chương đầu của Tin Mừng Luca, chúng ta đã được thánh sử tường thuật lại cho biết một biến cố hết sức quan trọng: biến cố Truyền Tin. Phần đầu của Kinh Mân Côi được trích ra từ chính biến cố này.  Khi suy niệm về biến cố Truyền Tin này, chúng ta được biết sứ thần Gabriel của Thiên Chúa đã đến và công bố rằng: Con Thiên Chúa sẽ đến và mang lấy nhân tính, mang lấy xác phàm từ chính xác phàm của Mẹ Maria, nơi cung lòng của Mẹ Maria.  Và Mẹ đã thưa xin vâng. Hay nói một cách khác, sứ thần của Thiên Chúa hôm nay muốn kể cho chúng ta ba câu chuyện.

    Sứ thần của Thiên Chúa muốn kể cho chúng ta câu chuyện thứ I: Đó là có một cuộc hoán chuyển nhiệm mầu đã xảy ra vào biến cố Truyền Tin hôm đó. Cuộc hoán cải đó nhiệm mầu đến nỗi, khi suy niệm về nó Đức Giáo Hoàng Lêô Cả đã phải thốt lên: “Thật không thể nào hiểu thấu được mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người.

   Đấng tạo dựng nên đất trời và con người nay lại làm con của loài người. Đấng Tạo Hóa nay lại làm con của thụ tạo mình.” Cũng trong cùng một dòng suy tư đầy ngưỡng mộ đó, Thánh Âugustinô đã viết: “Đấng mà muôn loài phải vâng phục, nay lại vâng phục chính loài thụ tạo của mình.” Thật là một cuộc hoán chuyển lớn lao! Một Thiên Chúa nay lại hoán đổi vị trí để được trở nên con của thọ tạo của chính mình.

    Hãy thử quay về với sách Sáng Thế và tìm xem ở đó viết gì. Ngay từ những chương đầu, sách Sáng Thế ghi lại khi Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, trong đó có đoạn như thế này: “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người giống Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ” (St 1:27) Trong một trình thuật khác kể rằng: “Thiên Chúa lấy đất rồi nắn lên con người theo hình ảnh của Ngài. Thiên Chúa thổi sinh khí vào lỗ mũi của con người và con người trở thành sống động” (St 2:7). Như thế Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Đấng nắn đúc nên con người; Ngài là cha, là mẹ của con người và Ngài ban cho con người sự sống.

    Nhưng nay, trong biến cố Truyền Tin, đã có một khoảnh khắc, trong thời gian và không gian lịch sử này, đã có một cuộc hoán chuyển nhiệm mầu. Đấng Hóa Công đó nay lại trở thành con của thọ tạo của mình. Con Thiên Chúa xuống thế làm người được nắn đúc thành hình trong cung lòng của một thụ tạo của Ngài. Và thụ tạo ấy, theo một góc nhìn nào đó đã trở thành như  “Đấng Tạo Hóa” đối với Thiên Chúa của mình. Trở thành cha mẹ của chính Thiên Chúa của mình. Một sự hoán chuyển nhiệm mầu và điều đó xảy ra cách cụ thể nơi con người, cung lòng và tâm hồn của Mẹ Maria.

   

     Sứ thần lại kể cho chúng ta nghe câu chuyện thứ II:

Đó là đã có một sự kết hiệp mật thiết, nên một giữa Thiên Chúa và con người cho đến nổi không thể và không gì có thể tách rời.

Chúng ta hãy một lần nữa lại trở về với sách Sáng Thế. Khi ở đó tường thuật lại cho ta việc Thiên Chúa tạo dựng Adam và Evà. Khi Thiên Chúa tạo dựng Adam xong, Ngài thấy ông này ở một mình buồn quá. Chúa bảo ông này ở một mình không tốt.  Thế là Ngài rút một cái xương sườn (tuy đây chỉ là hình ảnh biểu tượng) và tạo dựng nên Evà. Sau đó Ngài dắt Evà đến với Adam. Ngay khoảnh khắc gặp mặt đầu tiên đó thì Adam reo vui lên và nói “đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2:23); nàng và tôi là một xương một thịt.

   Hôm nay trong biến cố Truyền Tin câu chuyện nên một thân xác đó lại xảy ra với Adam mới và với Evà mới là tất cả nhân loại này. Trong biến cố Truyền Tin và khi cung lòng và tâm hồn của Mẹ mở ra để thưa xin vâng với Thiên Chúa, thì ngay lập tức Con Thiên Chúa xuống thế làm người nơi cung lòng của Mẹ và trở nên “một xương, một thịt với con người.” Ngài trở thành một con người đích thực mang một thân thể, một dòng máu, một tâm hồn và một nhân tính giống như mỗi người chúng ta hoàn toàn, cho đến nỗi chúng ta có thể chiêm ngắm Đức Giêsu Kitô và thân thưa với Ngài rằng: Chúa là xương bởi xương con, Chúa là thịt bởi thịt con. Chúa và con là một.

    Kể từ giây phút nhiệm mầu đó, kể từ cái hôm nay đó, cái giờ khắc thiêng liêng đó, nhân loại này đã thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa. Một sự nên một không thể tách rời, cho dẫu là tội lỗi, cho dẫu là sự dữ. Không có bất cứ một quyền lực nào ở thế gian này cũng như trên trời và dưới đất giờ đây có thể tách con người ra khỏi Thiên Chúa được nữa. Bởi vì Thiên Chúa và con người đã nên một với nhau gần cho đến nỗi không thể gần hơn và ở trong nhau sâu cho đến nỗi không thể sâu hơn được nữa. Như chính thánh Phaolô quả quyết trong thư gửi tín hữu Rôma: “tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Kitô Giêsu” (Roma 8: 38 – 39). Quả là một sự kết hiệp nên một diệu kỳ!

    Sứ thần còn kể cho chúng ta nghe câu chuyện thứ III: Đó là câu chuyện về Đấng Đầy Ẩn Sủng.

    Chúng ta hãy trở về với thời Xuất Hành. Ở đó chúng ta đọc thấy câu chuyện Xuất Hành và trong biến cố Xuất Hành đó, dân Chúa đã ở trong sa mạc 40 năm. Trong cuộc hành trình đó, Thiên Chúa luôn đi giữa dân người và cách thế để Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân Người là gì: – Thưa, Thiên Chúa truyền cho họ dựng nên một cái Nhà Tạm và gọi là Lều Hội Ngộ. Trong Lều Hội Ngộ đó đặt Hòm Bia của Thiên Chúa. Trong Hòm Bia đó có Mười Giới Răn mà chính Thiên Chúa đã viết bằng lửa và trao cho Môisê.

    Cứ mỗi lần Môisê và dân của Thiên Chúa muốn gặp Ngài để thỉnh ý của Ngài, thì Môisê đại diện cho dân bước vào Lều Hội Ngộ, nơi có để Hòm Bia Thiên Chúa. Khoảnh khắc đó, với hình một đám mây bao phủ lấy Lều Hội Ngộ, và Thiên Chúa xuống và đàm đạo với con người.

     Biến cố đó nay lại xảy ra trong lịch sử một lần nữa vào cái giờ khắc mà ta gọi là huyền diệu kể trên, vào giây phút mà người thiếu nữ Maria thưa Xin Vâng. Cái Hôm Nay đó của lời Xin Vâng đã trở thành Hôm Nay Vĩnh Cửu. Kể từ cái Hôm Nay đó thì giờ đây Thiên Chúa không chọn một cái lều vải để mà ngự xuống.

   Không chọn một cái Hòm Bia bằng gỗ Bá Hương để ngự vào nữa, nhưng Thiên Chúa chọn một thân xác với một tâm hồn tinh khiết của Đức Maria và Ngài ngự vào trong đó. Đức Maria trở thành Hòm Bia Giao Ước mới của Thiên Chúa. Đức Maria trở thành Lều Hội Ngộ của Thiên Chúa. Chính nơi Mẹ, Thiên Chúa hiện diện cách trọn vẹn và cụ thể cho đến nỗi ai đến với Mẹ, ai bước vào trong Lều Hội Ngộ, trong tương quan với Đức Maria, thì chắc chắn người đó sẽ gặp thấy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa và Con của Mẹ Maria; mà hễ ai thấy Ngài là Thấy Chúa Cha.

   Đó cũng là một nét rất đặc biệt của bức ảnh Đức Mẹ Núi Cát Minh mà chúng ta vẫn thấy.  Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu, ánh mắt của Mẹ nhìn chúng ta mỗi người, bàn tay của Mẹ giới thiệu Đức Giêsu, và áo choàng của Mẹ như muốn ôm trọn tất cả chúng ta; như thể một lần nữa Mẹ muốn trở nên Lều Hội Ngộ để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.       Mẹ như thể đang tiếp tục  mời gọi mỗi người chúng ta: Con ạ! Hãy đến đây, hãy bước vào trong lều hội ngộ này, hãy đi vào tương quan yêu mến với Mẹ. Con sẽ được gặp chính Thiên Chúa và con sẽ được đàm đạo với Ngài. Qua việc sùng kính Đức Mẹ với kinh Mân Côi, là chúng ta đang chiêm ngắm những mầu nhiệm như thế đó. Chúng ta đang được mời gọi hãy lại gần Mẹ, đi vào Lều Hội Ngộ với Mẹ để gặp gỡ Thiên Chúa cùng Mẹ.

   Xong Lều Hội Ngộ không chỉ dừng lại ở đó, vì chính chúng ta cũng có thể trở thành lều hội ngộ, trở thành hòm bia để chính Thiên Chúa ngự nơi tâm hồn và nơi con người, nơi thân xác của chúng ta, để ân sủng của Chúa sinh hoa kết trái nơi chính những chọn lựa sống của chúng ta.

   Nói đến đây tôi nhớ đến hình ảnh rất đẹp mà trong dịp hè vừa qua tôi đã được chứng kiến trong một lần đi giảng tĩnh tâm tại một cộng đoàn dòng tu. Tại cộng đoàn này các sơ có chăm sóc các cháu bị rối loạn nhiễm sắc thể hay chúng ta thường gọi là bệnh Down. Cứ mỗi buổi chiều khi gia đình đến đón các cháu. Tôi cứ quan sát những người cha, người mẹ chăm chút cho những đứa con thiểu năng của họ. Lạ một nỗi là dường như có một điểm chung là họ tỏ ra thương yêu các cháu cách đặc biệt. Ở đó, nơi tình thương của họ như một sự bù đắp, như có cái gì đó bao trùm lên cả cuộc đời các cháu. Vì khi quan sát như vậy, tôi tự hỏi: – các bậc cha mẹ này mong gì nơi những đứa con khiếm khuyết của mình? Họ hy vọng gì và chờ đợi gì nơi các cháu? Chắc chắn họ không chờ đợi và hy vọng các cháu sẽ lớn và sẽ trở thành ông nọ bà kia như những đứa trẻ bình thường. Nghĩ tới đó tôi đã thực sự thấy thấm thía cái gọi là: – một tình yêu cho đi mà không đòi lại bao giờ!

   Tình cha nghĩa mẹ là thế đó! Điều đó ta gọi là gì, nếu không phải là TIN! điều đó ta gọi là gì, nếu không phải là XIN VÂNG!

    Thiên Chúa đã cho người những người cha người mẹ ấy những khoảnh khắc để dọn lòng, để đón nhận. Họ đã đón nhận với tất cả lòng tin và lời xin vâng quyết liệt nhất. Họ đã nên điểm tựa, nên sự kết hiệp, nên lều hội ngộ của tình thương. Họ đã nên dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa. Khoảnh khắc họ xin vâng với tất cả niềm tin đó, Thiên Chúa  bước vào cuộc đời. Thế nên, khi chúng ta biết thưa xin vâng để đón nhận tất cả; để xin Chúa hãy thực hiện tất cả những gì mà Chúa muốn trên cuộc đời của mình. Thì ngay lập tức ánh sáng được chiếu tỏa, vì chính  Thiên Chúa là ánh sáng thế gian. Và nơi đâu có ánh sáng của  Thiên Chúa thì nơi đó bóng tối của sự dữ, của tội lỗi, của bệnh tật bị xóa tan. Như thế, cung lòng của mỗi chúng ta có thể trở thành nhà tạm, lều hội ngộ, hòm bia của  Thiên Chúa Hằng Sống. Nơi đó Con  Thiên Chúa ngự trị. 

   Bàn Tiệc Thánh Thể và khoảnh khắc khi chúng ta thưa “Amen” là giây phút mà Đức Chúa Trời ở cùng bà, cùng ông, cùng anh, cùng chị, và cùng em. Đó là giây phút quyền năng của Đấng Tối Cao rợp bóng trên chúng ta. Đó là giây phút mà Đức Giêsu Kitô – Ngôi Lời của  Thiên Chúa – lại được sinh ra một lần nữa vào trong cung lòng mỗi người chúng ta. Và chúng ta trở thành đền thờ của  Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

    Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể chúng ta được nên một trọn vẹn với Ngài, cho đến nỗi có thể nói rằng thân xác, máu thịt của mỗi chúng ta là thân xác, máu thịt của Đức Giêsu Kitô, bởi Máu Thánh và Mình Thánh của Ngài tan chảy vào, hòa vào làm một nơi con người cụ thể, nơi tâm hồn của chúng ta cho đến nỗi khi rước Chúa, chúng ta có thể nói với Chúa rằng, Chúa là “xương bởi xương con, thịt bởi thịt con”. Và Chúa cũng sẽ nói với mỗi người chúng ta “con là xương bởi xương Thầy, thịt bởi thịt Thầy”. Một sự hoán chuyển nhiệm mầu! Chúa và con nên một. Cũng từ giây phút đó, chúng ta cũng trở nên cha mẹ, anh chị em và là người nhà của  Thiên Chúa. Vì Chúa nói : “Ai lắng nghe và cưu mang lời Chúa là anh chị em Ta, là Cha Ta và là Mẹ Ta.”

    Vì thế khi chúng ta quây quần cầu nguyện bằng lời kinh Mân Côi là chúng ta đang cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa ở giữa loài người chúng ta. Ở đó, chúng ta đang dần trở nên những người đầy ân sủng, và dần ý thức mình là những người có Thiên Chúa ở cùng. Sâu sa hơn nữa, chúng ta cũng được mời gọi trở Maria mới đón nhận Lời Chúa, cưu mang Lời Chúa và sinh hạ Lời Chúa cho thế giới chúng ta.

Niềm vui của việc cử hành Kinh Mân Côi chính là việc chúng ta được thần hóa dần trong việc dự phần vào mầu nhiệm tình yêu. Và theo cách đó thì chúng ta cũng có thể bắt chước  thánh Phaolô và có thể chào nhau là: các thánh của  Thiên Chúa. Chúng ta cũng có thể nói theo cách của sứ thần chào Mẹ Maria và chào nhau là: kính chào những người đầy ân sủng của Thiên Chúa. Đó là bởi vì chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời ở cùng mỗi chúng ta, và ơn sủng của Thánh Thần  Thiên Chúa rợp bóng trên chúng ta cùng với sự hiện diện Đức Giêsu Kitô mà chúng ta tiếp rước vào trong tâm hồn và cuộc đời của mình mỗi ngày. Và tất cả mọi người chúng ta đều trở thành những người đầy ân sủng.

    Nguyện xin Chúa giúp chúng ta qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria để tháng 10 này sẽ là tháng của những bông hoa Mân Côi đẹp xinh trang điểm thêm vào cuộc đời mỗi người chúng ta.

Lm. Giuse Trần Thanh Trung, O.Carm. 

From chị Nguyễn Kim Bằng

Ta xót thương, ta căm giận hung cuồng,

 Suy Tư Tin Mừng tuần 29 thường niên năm A 22/10/2017

 Tin Mừng  Mt 22: 15-21

Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy.

Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”

Nhưng Đức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?” Họ đáp: “Của Xêda.” Bấy giờ, Người bảo họ: “Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”

 “Ta xót thương, ta căm giận hung cuồng,”

“Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch.

Hung cuồng giận căm, là cung cách của người thường, rất ở đời. Rung trời thế sự, cả khi con người dám vấn nạn Đấng Nhân Hiền về việc đóng thuế cho Xê-Da, như được diễn tả ở trình thuật.

Trình thuật, nay thánh Mát-thêu diễn tả về tình thế trong đó những người “hung cuồng” dám gài Chúa vào bẫy cạm của thế sự bằng vấn nạn:“Nên chăng trả thuế cho Xê-da?” Thế sự hôm ấy, đám Pharisêu ngạo mạn và nhóm giáo gian nịnh hót vua quan Hêrôđê ở Do thái, những muốn đặt Ngài vào tình huống nóng bỏng về phục vụ ngoại bang. Họ cứ nghĩ: Ngài có trả lời thế nào đi nữa cũng sẽ làm mất lòng dân. Nếu Ngài nói khác, cũng vẫn rơi vào tròng. Nói cho cùng, họ muốn đặt Ngài vào tình trạng phải đối đầu với phe thân thực dân, để rồi chịu mọi hậu quả. Thế nên, thánh Mátthêu gọi họ là “giả hình”. Nhưng kỳ thực, phải gọi họ là “đám sùng đạo gian giảo”, mới đúng.

Ngược giòng lịch sử, ta thấy đất nước Palestine của người Do thái lúc bấy giờ nằm dưới quyền kiểm soát của La Mã. Tức, những người chuyên bổ thuế nặng nề lên đầu đám dân đen hèn mọn rất thấp cổ bé họng. Vượt biên giới cũng đóng thuế. Mua bán/đổi chác bất cứ thứ gì, cũng chịu thuế. Thậm chí dân con người người còn phải đóng cả thuế đinh, tính trên đầu người nữa.

Thực tế khi ấy, Xê-Da là Tibêrius, con trai của Thượng tế Augustus được dân coi như ông Trời con, rất đáng gờm. Cả Augustus lẫn Tibêrius, vẫn coi mình thuộc giới thần linh, cần được kính nể. Các ông còn tự ban cho mình tước vị cao vời vợi như: lãnh chúa, đấng cứu độ chuộc tội cả thế gian. Và, cho mình có trọng trách quản cai cả thiên hạ. Nên, việc trước tiên của họ là phải chiến thắng về binh bị, và an bình là đoạn kết rất dĩ nhiên. Rốt cục, người thua cuộc phải chịu mất đi sự an bình, đành phủ phục dưới đất mà ngợi khen kẻ chiến thắng.

Trong giao dịch hằng ngày, người Do thái vẫn sử dụng nhiều tiền kẽm của La Mã. Thế nhưng, khi sử dụng đồng tiền ấy để trả thuế, họ lại coi đây như công việc về tôn giáo – như sùng bái hoàng đế và coi đó là lối sống theo kiểu La Mã. Có thể nói, đóng thuế là một trong các vấn đề đưa đến cuộc nổi dậy kết thúc bằng việc thành Giêrusalem bị phá huỷ năm 70. Thành thử, với người Do thái, đóng thuế là việc tựa hồ như thờ bái ngẫu thần vậy.

Trong cuộc đời công khai của Ngài, Đức Giêsu tỏ cho mọi người thấy lối sống khác kiểu của La Mã. Và, đây là lối sống tỏ bày sự chống đối đám thực dân này. Với Ngài, cuộc sống phải đặt nền tảng trên công bình chính trực với hết mọi người. Công bình và chính trực, khiến Cha Ngài và là Chúa của người Do thái luôn tôn trọng con người. Thiên Chúa là Đấng thiết lập giao ước với con người, bởi thế nên giữa họ sẽ không còn người nghèo, hoặc kẻ hèn nào hết.

Khi Đức Giêsu nói Nước của Thiên Chúa đã đến, thì người La Mã hiểu ngay điều Ngài muốn nói. Ngài nói thế, tức: vương quyền của Xê-Da đã đến hồi kết cuộc. Người La Mã nghe vậy đều coi đó như một bội phản rất trời long đất lở. Và, họ giết Ngài là vì thế. Nhưng Đức Giêsu tin là Thiên Chúa vẫn ở với người thua cuộc. Và Chúa đã bắt tay vào việc giùm giúp hỗ trợ kẻ đau khổ về sự bất công do người La Mã và các kẻ nịnh bợ họ đem lại. Thiên Chúa dọn sạch thế giới. Ngài làm bật gốc mọi bạo động và nhờ đó, đem lại cho con dân Ngài cuộc sống an bình, dễ chịu. Ngài có chương trình khác hẳn vua quan La Mã. Không nhất thiết phải chiến thắng về binh bị, mới có thể tạo được an bình. Nhưng, trước tiên phải tạo công bằng trước đã và từ đó an bình sẽ đến sau.

Về việc đóng thuế cho vua quan La Mã, đó không là trọng trách của dân con người Do thái. Mà là, vấn đề tôn giáo cũng như công bằng chính trực rất đậm sâu. Đức Giêsu đi thẳng vào trục vấn đề, bằng cách đòi xem hình vẽ trên đồng tiền quan. Tiền này, ai cũng có sẵn ở trong người, còn Ngài thì không. Bởi thế, Ngài mới hỏi họ là: hình của ai khắc trên đó, họ mới nói: quan tiền nào cũng mang hình tượng của Xê-Da. Và, Ngài bảo: “Vậy, các ông hãy đem trả cho Xê-Da, vì chính ông ta sở hữu nó”. Câu trả lời của Ngài mang ý nghĩa của động thái bước ra khỏi cung cách phụng thờ phục vụ để chỉ chấp nhận lý lẽ của thuế má, mà thôi.

Và Ngài tiếp: “Hãy trả lại cho Chúa, những gì thuộc về Ngài.” Điều này xác nhận một chân lý lâu nay vẫn sáng tỏ với mọi người, đó là: hình ảnh Thiên Chúa đã được ghi khắc nơi tâm khảm của mọi người, ngay khi họ được Giavê Thiên Chúa tạo dựng. Nhưng hôm ấy, thật sự Chúa không có ý ám chỉ về việc ấy mà Ngài chỉ muốn nói: Thiên Chúa, theo luật Torah, đã ngăn cấm loài người tạc hình tạc tượng của chính Ngài. Điều này cũng rất đúng, nhưng không phải Chúa muốn biểu tỏ vào hôm đó.

Ý nghĩa của câu Chúa nói không nằm trong bản Kinh thánh 70, tức: Chúa chỉ muốn bảo: thuộc về Ngài, là đám người nghèo hèn, những kẻ bị nhóm quan quyền thân La Mã chèn ép, hạ bệ. Hãy cho họ một cơ hội để có thể tự vươn lên. Hãy trả lại cho họ sự cộng chính, bình an, vốn là quyền của họ, trước mặt Thiên Chúa, cho dù họ có bị chính người La Mã và đám giáo gian nịnh hót luôn thử thách, coi thường. Với Đức Giêsu, đây mới là tôn giáo đích thực. Ngài vẫn nói lên sự thật ấy dù có bị người La Mã bắt giam và xử tệ trên khổ giá.

Đọc trình thuật hôm nay không phải để kể cho nhau nghe về đế quốc La Mã dù hào hùng. Bởi, đế quốc nào mà chẳng chèn ép bắt bớ dân con nghèo hèn, ở bên dưới. Thật buồn thay, khi ta thấy “các nền văn minh hôm nay vẫn tự cho mình là sáng giá” đều quay về với thể chế rất chèn ép, thống trị hệt một phường như lịch sử thường minh chứng.

Tác giả Dominic Crossan dùng cụm từ “về với cảnh tượng rất thường ngày” để tả về trạng thái của người Do thái. Thánh Phaolô lại nghĩ về nền văn minh “tai tiếng” thời đế chế Augustus và bạo chúa Nêrô sẽ cứ thế tràn về, nếu không ai cản ngăn bước chân bạo tàn của đám người ấy. Hôm nay đây, đế quốc phương Tây cũng sắp hàng dài chạy theo cùng một kiểu cách như thế. Đế quốc phương Tây xưa nay gồm từ Hy Lạp, cho chí La Mã, Anh quốc ở thế kỷ 18, 19 và Hoa Kỳ ở thế kỷ thứ 20, và tương lai có thể sẽ là Vaticăng của chúng ta cũng chưa biết chừng, nếu ta không đề cao cảnh giác!

Hệ thống đế chế luôn hứa hẹn hoà bình đến với con dân (như thể loại Pax Romana khi xưa) bằng chiến thắng rất binh bị. Nghĩa là, cũng khởi đầu bằng khổ ải, rồi lại chiến tranh tàn phá, kết cục bằng những động thái dương oai đắc thắng, tức: những động thái rất chễm chệ, ăn trên ngồi chốc của kẻ đắc thắng đi từ hệ cấp dũng mãnh uy lực, thứ hoà bình của kẻ chiến thắng có sự hỗ trợ của Aenaeas Mars Ultor, rồi cả Nữ thần Rôma và thần Sung Mãn, cứ thế mà sinh sản. Qui luật họ đưa ra, được viết trên đá cẩm thạch. Văn minh họ khởi xướng gồm cả chế độ cha chú, chủ trương duy trì nô lệ. Lối sống của họ tuy mang dáng dấp rất tôn giáo, có toà án lẫn bàn thờ, nhưng vẫn cứ tôn sùng con người là hoàng đế lẫn vua quan, lãnh chúa.

Chủ trương đế chế, nay được sử dụng như cụm từ để diễn tả một thế giới vẫn kéo dài sự thống trị mãi cho đến thế kỷ 20. Hôm nay, tệ hại hơn lại có chủ nghĩa toàn trị và khủng bố. Và, có thay đổi chăng, thì cũng chỉ thay và đổi cung cách cũng như kỹ năng sử dụng bạo lực bằng kỹ thuật thật tinh xảo hơn thôi. Với khí giới giết người hàng loạt mà chưa một đế quốc nào xưa nay từng nghĩ tới.

An nhàn và bình yên đã trở thành ngôn từ khó hiểu, rất nhiều nghĩa. Đối với ta, đôi khi còn trở nên trống rỗng. Dominic Crossan gọi đó là: ”Hoà bình trở nên thứ hàng trang trí ta treo lủng lẳng ở trên cây thế giới vào mỗi năm. Ta sẽ chỉ mang nó đi, theo cung cách của lịch sử mà thôi.”

Đức Giêsu khẳng định: “Bình an đến với anh em”. Bình an, Ta gửi đến với anh em là sự an bình Chúa hứa ban. Nhưng, Ta chỉ ban bình an ấy hoặc để lại bình an ấy cho mọi người, trừ phi anh em thực thi công bình của Chúa, đối với nhau. Đặc biệt hơn, là những người lâu nay bị chèn ép, bị khống chế tồi tệ, không ngóc đầu lên nổi vì thể chế thống trị đầy áp bức của cái-gọi-là văn minh, tân tiến ở mọi thời. May thay, Đức Giêsu kịp giải thoát ta khỏi chốn bi ai, trầm thống rất bất công. Để, ta về với nhau sống hài hoà, bình an, thương mến.

Trong nhận thức về sự giải thoát của Đức Chúa, ta lại ngâm lên lời thơ tuy rất khổ:

“Trông thấy ra, cả cõi đời kinh hãi.

Giòng sông con nép cạnh núi biên thuỳ.

Đường châu thành quằn quại dưới chân đi,

Xao động hết loài cỏ hoa đồng nội.”

(Đinh Hùng – Bài Ca Man Rợ)

Nay hết rồi, một bài ca man rợ ấy. Dù, đã kéo dài nhiều thế kỷ. Bởi, Đức Chúa Nhân Hiền kịp kéo ta về với hoà bình và công chính, Ngài hứa ban. Nhận ra thế, ta sẽ dâng lời cảm kích biết ơn hoài. Sẽ thương hoài ngàn năm, nay là thế.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn – 

Mai Tá lược dịch.