Ngày trở về của “người thua cuộc”

Phía thất thế.

Ngày trở về của “người thua cuộc” (Đúng hơn là người của Phía THẤT THẾ)

Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh là nguyên Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. 13 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (1975-1988), ông từ trại cải tạo trở về theo chuyến xe lửa dừng lại ga Hòa Hưng, Sài Gòn.

Người vợ vẫn còn phảng phất nét xuân sắc một thời, duy chỉ có những chiếc răng đã rụng dần theo năm tháng chờ trông. Người con trai tóc ngã hoa râm đã nắm tay cha và khóc như một đứa trẻ. Nhiều người nhìn tấm ảnh này cũng đã khóc theo anh, như để chia sẻ nỗi đau ngút ngàn mà anh đã trải qua và niềm hạnh phúc mà gia đình anh đã tìm lại được sau những tháng năm đầy ác mộng. Dù sao “người thua cuộc” Nguyễn Công Vĩnh cũng còn có những năm tháng cuối đời được sống trong vòng tay thương yêu của gia đình. Nhiều người bạn tù của ông không có được diễm phúc này, họ vĩnh viễn gửi nắm xương tàn nơi đất lạ quê người.

Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
 

30 Tháng Tư

 
 
Phan Thị Hồng

Tác giả: Nguyễn Tài Ngọc

Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2012, với những bài viết linh hoạt về đời sống tại Mỹ kèm theo hình ảnh tại chỗ do chính ông chụp. Nhiều bài và hình ảnh của ông hiện được phổ biến trên mạng internet, một số đã thành sách “Xin Em Tấm Hình” và tập truyện mới, “Bắc Kỳ”. Sau đây là bài mới ghi chép sơ lược ngày 30 tháng Tư năm xưa.

Hình ảnh một thời rất quí mà tác giả còn giữ: Căn cước VNCH, áo sơ mi mặc ngày ra đi, mảnh tin báo Mỹ tháng Năm 1975.

***

30-4 là một ngày không một người Việt nào có thể quên. Phe thắng, chính quyền Bắc Việt, chọn 30-4 là ngày lễ ăn mừng. Phe thua, Việt Nam Cộng Hòa, với một số đông người Việt chạy tỵ nạn Cộng Sản sang định cư ở khắp các nước tự do trên thế giới, ghi thêm trên giấy những kỷ niệm hãi hùng của ngày 30-4.

Tôi rời SàiGòn trong khi đang học lớp 11. Tôi vẫn còn giữ chiếc áo mặc ngày ra đi, (hình trên, bên trái)

Tôi cũng vẫn còn giữ nhiều giấy tờ, hình ảnh, tiền bạc mà tôi đã mang theo.

Bây giờ đọc lại thẻ căn cước làm ngày 20-2-1973, tôi mới biết lúc 15 tuổi tôi cao 1.57 mét (5.1 inch), nặng 34 kg (75 lbs). Nhờ cái thẻ căn cước đó tôi mới biết bây giờ tôi quá phì lũ. 182 lbs (83 kg)! Tôi mập hơn xưa gấp hai lần rưỡi. Trời đất quỷ thần thiên địa ơi!

Cùng với chiếc áo, tôi giữ lại những bản tin về Việt Nam sau tháng 4 1975. Thời đó, tôi cắt những bản tin này trong báo rồi dán vào một tập vở, giữ cho đến bây giờ. Tôi dịch lại vài bản tin đó để nhớ lại một quãng thời gian không thể nào quên:

*

Tựa đề bản tin 12-05-1975:

NAM VIỆT NAM LÊN ÁN HOA KỲ VỀ VIỆC DI TẢN

12-May-1975:

Chính phủ (Lâm thời) Nam Việt Nam lên án chính quyền Ford đã bắt buộc dân chúng Việt Nam di tản và bắt cóc trẻ con đem ra nước ngoài. Ủy ban Điều tra Tội phạm Chiến tranh Đế quốc Mỹ ngụy Gây ra mới tuyên bố lên án chính quyền Ford đã phạm tội với dân chúng Nam Việt Nam:

“Việc bắt cóc con nít và bắt buộc người lớn di tản từ nhà của họ vừa được giải phóng là vô nhân loại, bất hợp pháp, và phạm tội ác.”

“Hành động quá táo bạo này vi phạm luật pháp quốc tế căn cứ theo Hiệp Định Geneva năm 1949 là phải bảo vệ dân sự trong thời chiến, cấm đoán việc bắt buộc di tản, …..”

“Chính quyền Hoa Kỳ đã phạm tội với dân chúng Nam Việt Nam, xâm phạm quy định của Tòa Án Quốc Tế tại Nuremberg, nhúng tay vào tội ác diệt chủng Hiệp Định Geneva ngày 9-12-1948 cấm cản”.

– Ghi chú: “Bắt buộc dân chúng Việt Nam di tản?” “Bắt cóc trẻ con?” “Mỹ Ngụy phạm tội ác?”…. Đọc những lời lẽ này làm tôi nhớ lại ngày xưa sống ở Việt Nam tối ngày cứ nghe những lời nói quá láo khoét của người Cộng Sản.

*

Tựa đề bản tin:

ĐỜI SỐNG DỄ THỞ Ở SÀIGÒN ĐÃ CHẤM DỨT

Hãng thông tấn AP,

25-May-1975:

… Hôm qua, thanh niên nam nữ xuống đường ở đường Tự Do lên án nhạc và văn hóa đồi trụy miền Nam, ảnh hưởng của Đế quốc Mỹ. Cuộc sống dễ thở của 3.5 triệu người SàiGòn trong thời Mỹ viện trợ chấm dứt nhanh chóng khi Cộng Sản bắt đầu xiết gông cùm kiểm soát.

… Một việc xẩy ra ngoài đường hôm Thứ Ba phản ảnh chính trị vẫn âm ỷ cháy: Tại quảng trường trước Quốc Hội cũ với bức tượng lính của VNCH xây cất đã bị giật sập đổ, một người vất vào đống rác ở đó một lá cờ Bắc Việt, một lá cờ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, rồi châm lửa tự thiêu.

Bộ đội Cộng Sản đến tịch thu một xấp lá thư người tự thiêu để lại, không cho đám đông biết nội dung là gì.

… Phim ảnh Tây Phương bị cấm chiếu. Nhà cửa người tỵ nạn bỏ chạy để lại bị tịch thu cùng với tất cả vật dụng. Lính bộ đội vào chiếm đóng khách sạn cùng nhà cửa của dân lành.

*

Tựa đề bản tin UPI:

VIỆT NAM CẤM, RA LỆNH ĐỐT SÁCH

Hãng Thông Tấn UPI, 1975:

Cả trăm sinh viên xuống đường ủng hộ chiến dịch hủy diệt sách báo và băng thu thanh của chính quyền mới SàiGòn.

Các nhật báo tiếng Việt và tiếng Hoa in chữ in lớn “Cấm bán và tàng trữ sách báo, băng thu thanh để thực hành việc hủy diệt vết tích của Đế quốc Mỹ và tay sai ngụy để lại.”

Những nhật báo này nói rằng các sinh viên sẽ thi hành chiến dịch hủy diệt tất cả sách báo của chế độ cũ để bắt đầu một nền tảng mới của cách mạng văn hóa.

Tất cả tiệm bán sách báo đã được lệnh đóng cửa, cấm bán sách báo chính quyền ngụy. Cả trăm nghìn người ở SàiGòn đốt sách ở nhà để khỏi bị bắt về tội gìn giữ sách ngụy.

Phim ảnh Tây Phương bị cấm triệt để. Rạp ciné ở SàiGòn chỉ chiếu phim Bắc Việt, hầu hết về chiến tranh.

Truyền đơn sinh viên phân phát in: “Chúng ta phải hăng say tham gia tiêu diệt văn hóa phản cách mạnh, nô lệ, và tồi bại của Mỹ Ngụy. Phim ảnh, sách báo đồi trụy, nhạc ủy mị của chế độ cũ là thuốc độc giết hại thế hệ thanh thiếu niên.”

Ghi chú: Nhạc “đồi trụy” của quân Ngụy cần phải hủy diệt năm 1975 bây giờ được dân chúng ưa chuộng số 1 từ Móng Cái đến Cà Mau, được ca sĩ gốc Bắc lẫn gốc Nam trình diễn khắp nơi từ Hà Nội đến SàiGòn.

*

Tựa đề bản tin UPI:

1546 NGƯỜI TRỞ VỀ VIỆT NAM

Hãng Thông Tấn UPI, 28-Oct-1975:

Hồng Thập Tự của Quân đội Giải Phóng loan báo một con tầu chở 1546 người Việt tỵ nạn khởi hành từ Guam đã cặp bến ở Nam Việt Nam vào ngày 27-Oct, mặc dù chưa được phép hồi hương của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời.

Con tày này tên là Việt Nam Thương Tín, rời Guam vào ngày 16-Oct. Hồng Thập Tự của Quân đội Giải Phóng đã gửi bác sĩ đến bến để chăm sóc cho những người cần y tế.

Một hành khách chết trên đường đi đã được thủy táng.

Hồng Thập Tự của Quân đội Giải Phóng lên án chính quyền Tổng Thống Ford ngoan cố không nghe lời cảnh cáo của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời nên đã có những hành động vô trách nhiệm với những người bệnh tật, già yếu, thai nghén trên tầu Việt Nam Thương Tín.

Phát ngôn viên Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời tuyên bố chấp nhận thuyền trở về Việt Nam vì lý do nhân đạo. Còn những người tỵ nạn khác được Mỹ di tản nhưng muốn trở về Việt Nam thì phải nộp đơn xin phép. Mỗi trường hợp sẽ được xét xử riêng biệt.

Hồng Thập Tự của Quân đội Giải Phóng nói rằng hai phần ba người trên tầu trở về quê hương là “binh lính tay sai và công chức của chính quyền Ngụy.”

Ghi chú: Tháng Sáu 1975 gia đình tôi ở trại tỵ nạn ở Guam. Một ngày tôi có dịp chứng kiến một đám đông sau hàng kẽm gai la hét ầm ĩ, đốt lửa vài vật dụng. Lính Mỹ đến khống chế họ. Tôi hỏi thì mới biết những người này di tản đến Mỹ nhưng bây giờ muốn đòi trở về Việt Nam. Có một chiếc tầu to -Việt Nam Thương Tín- có thể dùng để họ lái về nước nhưng người Mỹ phải sửa soạn lương thực và xem xét tầu an toàn ra biển. Sự sửa soạn này làm việc đi về bị trì hoãn nên họ biểu tình phản đối Mỹ đình trệ.

Ai cũng biết hậu quả xấu số của những người ngu dại này khi trở về Việt Nam. (Tất cả đều bị lột truồng, kiểm soát tịch thu mọi vật dụng, sau đó tống vào trại tù cải tạo). Đã đến thiên đường Mỹ mà còn không biết!

*

Tựa đề bản tin:

SAIGON SỤP ĐỔ NHANH CHÓNG LÀM CỘNG SẢN NGẠC NHIÊN

New York Times, 1976

Tầng lớp lãnh đạo Cộng Sản không dự định là cuộc tấn công tối hậu vào VNCH năm ngoái sẽ đoạt lấy chiến thắng vĩnh viễn, rất ngạc nhiên là SaiGon sụp đổ quá nhanh chóng, căn cứ theo Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Cộng Sản.

Tướng Văn Tiến Dũng nói khi nghe tin cả chục nghìn binh lính VNCH và dân sự bỏ chạy trong hoảng sợ từ miền Trung Pleiku, bắt đầu một cuộc rút lui vô trật tự, ông ta không tin là chuyện ấy lại có thể xẩy ra: “Tại sao lại bỏ chạy?” “Ai đã ra lệnh tháo quân?”

Văn Tiến Dũng tiết lộ thêm những điểm sau đây:

– Sau khi bàn thảo chiến thuật từ 18-Dec-1974 đến 8-Jan-1975, Hà nội quyết định đánh Ban Mê Thuột trước.

– Lý do Ban Mê Thuột và các tỉnh vùng cao nguyên được chọn là khởi điểm bị tấn công vì tình báo CS cho biết Nguyễn Văn Thiệu nghĩ là CS sẽ đánh vào Tây Ninh, do đó Thiệu tập trung quân ở Tây Ninh, chỉ để binh lính rời rạc giữ vùng cao nguyên.

– CS biết Tướng VNCH Phạm Văn Phú đoán lầm là CS sẽ tấn công vào Kontum và Pleiku, nên Phú chỉ giữ một Trung đoàn ở Ban Mê Thuột.

– Văn Tiến Dũng đồng ý với lời phàn nàn của Nguyễn Văn Thiệu và người Mỹ ở VN là quyết định cắt giảm viện trợ làm VNCH không đủ sức đánh nhau. Dũng đoán sự cắt giảm này giảm súng ống đạn dược của VNCH đến 60%.

– Vào mùa thu 1974, trong khi bàn thảo quyết định tổng tấn công VNCH, các nhân vật lãnh đạo CS bàn cãi sôi nổi không biết Mỹ có nhẩy vào vòng chiến nếu VNCH bị tấn công. Cuối cùng, Hà Nội quyết định cứ đánh vì nghĩ rằng Mỹ sẽ không tham gia vì vụ Watergate và kinh tế Mỹ đang đi xuống.

Ghi chú : Theo Frank Snepp, làm cho CIA với chức vụ Giám Đốc phân tích chiến lược Cộng Sản Bắc Việt, trong quyển Decent Interval (Khoảng Cách Vừa Đủ) thì khi Cộng Sản tấn công vào vùng Cao Nguyên, Thiệu quyết định bỏ miền Trung, rút quân vào SàiGòn. Lý do không những để bảo vệ Thiệu chống quân Cộng Sản, mà Thiệu nghi ngờ phe Nguyễn Cao Kỳ nhân cơ hội đảo chánh nên Thiệu cần quân đội thân cận bảo vệ mình.

*

Tựa đề bản tin:

ĐIỂM THI CỦA HỌC SINH MỸ THUA HỌC SINH TỴ NẠN

Oceanside (San Diego), 1976:

Một giáo viên tiết lộ là chương trình giáo dục của Mỹ thất bại thảm hại sau khi khám phá điểm thi của học sinh tỵ nạn Việt Nam cao hơn học sinh Mỹ rất nhiều.

J. Paul Adkins, giáo viên dạy lớp Bốn ở Tiểu học San Luis Rey School nói: “Theo ý tôi, chương trình giáo dục của chúng ta (Hoa Kỳ) đang xuống dốc. Chúng ta có trách nhiệm nặng nề đã không đào tạo một nền giáo dục xuất sắc cho con em chúng ta.”

Adkins nói là ông tổ chức một kỳ thi cho 33 học sinh tỵ nạn Việt Nam và 100 học sinh Mỹ. Về môn Toán, nhóm học sinh Việt Nam làm 93% đúng, trong khi nhóm học sinh Mỹ làm đúng chỉ có 29%.

….Adkins nói là sau khi nói chuyện với tất cả các giáo viên trong trường, ông ta mới biết là học sinh tỵ nạn Việt Nam dẫn đầu học sinh Mỹ trong tất cả các môn, ngoại trừ mỗi một môn về tiếng Anh.

Ghi chú: Tôi sang Mỹ học lớp 12 ở Trung Học Hoover High, San Diego. Ở cấp Trung học, lối dạy của Mỹ khác với Việt Nam và các quốc gia Á Châu. Ở Việt Nam học sinh không có quyền chọn lựa môn học. Chương trình đã định sẵn, tất cả phải theo. Trong khi ở Mỹ học sinh có quyền chọn lựa. Bộ Giáo Dục ấn định số lượng “units” phải học xong nếu muốn tốt nghiệp Trung học.

Tôi nói thí dụ: Thí dụ Trung học ở VN khi học hết lớp 12 thì mọi học sinh đều phải học xong 30 units Hình Học, 30 units Lý Hóa… chẳng hạn. Nhưng ở Mỹ thì chỉ cần học xong tối thiểu 10 units Hình Học, 8 units Lý Hóa… Thành ra học sinh nào không thích môn Toán, Lý Hóa thì chỉ cần học units tối thiểu thôi (học sinh giỏi vẫn tiếp tục học hơn units đòi hỏi, 20, 30 units…).

Chính vì sự không bắt buộc này mà tôi nghĩ trình độ Toán, Lý Hóa, ngoại ngữ… của một học sinh lớp 12 của Mỹ có lẽ chỉ bằng trình độ của một học sinh lớp 10 của Việt Nam. Đây là lý do khi học sinh Việt tỵ nạn vào học Tiểu học, Trung học ở Mỹ thời bấy giờ, báo chí Mỹ thường đăng tải là học sinh tỵ nạn quá giỏi! Ngoại trừ lớp sinh ngữ tiếng Anh, dĩ nhiên!

*

Những ngày tháng đầu tiên định cư ở Mỹ là thời gian “rầu thúi ruột”, nhớ bạn học, nhớ láng giềng, nhớ trường lớp, nhớ xóm Bàn Cờ, nhớ bồ, và nhớ nhà. Để kết luận, tôi copy lại bài thơ “Nhớ Nhà” tôi làm ở những năm đầu tiên trên nước Mỹ (thơ trước tuổi đôi mươi):

NHỚ NHÀ

ta ngồi đây bên ánh đèn mờ ảo,
trong đêm không, trong bóng tối chập chùng.
bao năm qua xa dấu chốn quê hương,
lòng lặng chết như màn đêm áo não.

ngày ra đi tấm lòng vang rộn rã,
rời quê hương, nơi bốc ngút chiến tranh,
nơi đau thương tràn ngập khắp thị thành,
nơi cửa nát nhà tan đầy khắp lối.

nơi con thơ khóc gào niềm mất bố,
nơi vợ hiền cay đắng ngắm xác chồng,
nơi mẹ già điên dại bên xác con,
nơi cháu nhỏ thững thờ bên xác cố.

để đến đây bên phương trời Mỹ quốc,
nơi tự do tràn ngập khắp mọi người,
nơi an lành ngự trị khắp muôn nơi,
nơi tương lai rực ngời như ánh đuốc.

tuy sung sướng tinh thần lẫn vật chất,
thế nhưng ta đã mất thật nhiều điều:
mất ngôi trường cũ rích nhưng đáng yêu,
mất những con đường cây dài, bóng mát.

mất tiếng rao bán hàng tang tảng sáng,
mất giọng cười trong trẻo chị bánh cam.
mất tiếng xe nổ giòn bác xe lam,
mất giọng nô đùa trẻ con trai gái.

ôi quê hương, biết bao giờ trở lại?
ta ra đi không hẹn một ngày về.
sống ở đây như ngủ trong giấc mê,
khi tỉnh giấc, nhớ nhà, lòng tê tái.

Nguyễn Tài Ngọc
April 2018. Sài Gòn Ocean – Home

Image may contain: people standing
Image may contain: 1 person
No automatic alt text available.

Quyết – FLC nhận tiền của Tàu Cộng để mua nước Việt Nam hộ Tàu.

Image may contain: 1 person, closeup
No automatic alt text available.

Phạm Thành is with Võ Hồng Ly and 18 others.

1. Đã từ lâu tôi nghi ngờ tay đại gia Quyết – FLC này và một số đại gia khác đã nhận tiền của Tàu Cộng để mua nước Việt Nam hộ Tàu Cộng. Nhưng trên mạng truyền thông xã hội chưa có bộc lộ ra bằng chứng, sợ nói ra, không có mấy người tin, nên không dám viết. Nhưng nay, đã có thông tin xác thực, Trịnh Văn Quyết (Quyết – FLC) lộ mặt vay tiền của Ngân hàng Công thương Trung Quốc: 105 tỷ đồng. Không phải ngẫu nhiên con số vay tiền của Tàu Cộng được công khai lộ ra. Con số này lộ ra là có chủ đích. Bởi tình hình thôn tính Việt Nam đến hồi Trung Quốc phải ngã bài, sau cú ngã bài năm 2017, 2018, Việt Nam phải ký 27 văn bản nhập nước Việt Nam vào nước Trung Quốc.

Con số vay 105 tỷ công khai này, cũng là con số nhỏ xíu, trong một dãy số tiền tệ lớn mà Tàu Cộng đã bơn cho đại gia Quyết – FLC này. Không thế, sao từ một thằng ất ơ vô nghề nghiệp, bỗng dưng năm 2008 vốn điều lệ có 18 tỷ đồng, đến năm 2014 vốn điều lệ đã tăng lên 3.140 tỷ, năm 2015 tăng lên 8.400 tỷ… sau 7 năm vốn tăng lên gấp hơn 465 lần, một mức tăng siêu tưởng. Nhờ đâu mà Quyết – FLC lớn nhanh như thổi vậy? Chưa kể, với số vốn ban đầu chỉ vỏn vẹn 18 tỷ, liệu Quyết – FLC có thể mua nổi những miếng đất vàng trị giá hàng chục nghìn tỷ hay không?

Một tên trộm tài ba trong nghề cướp nhà băng, cũng không thể giàu có nhanh chóng đến mức chóng mặt như vậy.

Quyết có tiền từ đâu? Hiện tại tổng số nợ của Quyết la 4.500 tỷ đồng. Quyết nợ ai, bao nhiêu? Nếu được bạch hóa, hẳn sẽ lộ ra, ai là chủ nợ của Quyết, ai thực sự là ông chủ chăn dắt Quyết.

Tôi dám chắc, phi Tàu Cộng, không còn có ai khác.

2. Hãy xem bước chân của đại gia Quyết thường đi đến đâu và nhìn ngắm ở chỗ đất, nước nào của nước ta, cũng có thể đoán định được.

Mặc dù Quyết có đầu tư kinh doanh ở Hà Nội, Sài Gòn với những dự án khủng, nhưng chỉ là đắp chiếu để đó. Chẳng hạn như dự án trúng thầu 6,4 ha ở quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, với số vốn đầu tư tới cả ngàn tỷ đồng, nhưng đến tháng 4 năm 2018, đã qua 8 tháng trúng thầu mà dự án vẫn đứng yên tại chỗ, thậm chí tiền mua đất (quyền sử dụng đất), Quyết – FLC còn nợ tới 762 tỷ đồng. Vậy mà quan chức Hà Nội vẫn bảo kê là chưa có lý do để bác kết quả trung thầu của Quyết, trong khi quy định phải nộp tiền đầy đủ không quá 20 ngày sau khi nhận thông báo kết quả trung thầu. Bản chất Quyết – FLC đầu tư ở Hà Nội hay Sài Gòn chỉ là nhằm lấy tiếng, thậm chí là cái khiên che lá chắn nhằm che mắt thiên hạ, làm mù lòa thiên hạ để không mấy ai nghi ngờ khi Quyết – FLC thự hiện nhiệm vụ chính của mình theo kế hoạch chỉ định của Tàu Cộng.

Mục tiêu trọng tâm của Quyết – FLC là phải mua cho kỳ được đất nước Việt Nam ở những vị trị quan trọng xung yếu nằm dọc theo bờ biển từ Thanh Hóa cho đến Nha Trang, Khánh Hòa. Tại Thanh hóa, điểm Quyết – FLC phải mua kỳ được là bãi biển Sầm Sơn. Tại Khánh Hòa, Quyết FLC phải mua cho được bãi biển ở gần Vịnh Cam Ranh.

Tại sao Quyết lại hăm hở, rốt ráo, quyết tâm mua cho kỳ được đất, nước ở những vùng biển này? Vì đây là hai địa điểm mà tàu chiến của Trung Quốc sẽ đổ bộ khi tiến hành đánh chiếm Việt Nam. Người Trung Quốc cần có hoa tiêu, cần có cơ sở và lực lượng cài cắm trước, để kế hoạch đổ bộ đạt kết quả tối ưu. Mua cho kỳ được, rồi tiến hành xây dựng cơ sở vật chất tại đây, là nhiệm vụ bắt buộc Quyết – FLC phải làm trước khi trở nên giàu có nhờ tiền đầu tư của Tàu Cộng.

Sau Quyết – FLC lộ mặt, tới đây, ông chủ Tàu Cộng sẽ còn bật mí nhiều đại gia Việt Nam trở nên giầu có nhưng đang phải gánh món nợ khổng lồ từ Tàu Cộng. Trong số đó không thể không có đại gia Tiên Văn Vũ.

Ảnh hướng tân công tư biển vào đất liện Việt Nam của Tàu Coongjj.

Kim Jong-un và Hội nghị Thượng đỉnh Nam – Bắc Triều Tiên.

 
 
 
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit
Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
+2

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 4 others.

Việc trong nước viết không hết, nhưng cũng xin góp chút xíu quan điểm về việc nhà cai trị tối cao của cộng sản Triều Tiên – kể từ năm 1953 – lần đầu tiên bước chân qua vĩ tuyến 38.

Hôm nay 27/4/2018, nhiều hình ảnh “thân thiện”, những cái bắt tay “nồng ấm”, những nụ cười “cởi mở”, những lời nói “chân thành” vang lên ở làng Hòa bình Bàn Môn Điếm trong một khu phi quân sự Hàn quốc – Triều Tiên.

Báo chí cả thế giới lên tiếng chúc mừng và ca ngợi.

Tôi cảm thấy rất vui và sung sướng cho một cơ hội hòa bình cho đất nước Nam-Bắc Triều Tiên (!?).

Tự thưởng cho mình một niềm vui êm ái, giơ bàn tay nhỏ vuốt mái tóc sau gáy, tôi bổng giật mình kinh hoàng cho sự “ăn mừng” quá sớm của cả thế giới.

Thông báo chung: Chỉ toàn là những lời HỨA HẸN và SẼ GIẢI TRỪ, mà – chúng ta – ai cũng biết: Cộng sản hứa hẹn thì cũng như nước đổ lá môn.

Một nguồn tin ngoại giao riêng, báo chí Nhật cho biết: Trong chuyến gặp gỡ với Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, Kim Jong Un đã tuyên bố Bắc Hàn có thể cân nhắc xem xét việc từ bỏ vũ khí hạt nhân, với điều kiện Hoa Kỳ chấp thuận 3 yêu cầu sau:

1- Hoa Kỳ giúp Kim Jong Un bảo vệ chế độ cộng sản hiện tại, bảo vệ vị trí lãnh đạo hiện tại của cộng sản Bắc Triều Tiên.
2- Hoa Kỳ rút quân khỏi Nam Hàn và bán đảo Triều Tiên.
3- Hoa Kỳ bỏ cấm vận và viện trợ cho Bắc Hàn cũng như ký kết các hiệp định thương mại song phương.

Điều này cho thấy Kim Jong-Un – Chủ tịch Bắc Triều Tiên – chỉ muốn duy trì chế độ độc tài và bảo vệ ngôi vi lãnh tụ độc tôn của mình. Kim Jong-Un – một tên cai trị tàn ác – không hề có thiện chí hòa bình hay tấm lòng vì sự thống nhất đất nước, dân tộc dân chủ, tự do cho đất nước bán đảo Triều Tiên !

Chẳng có gì bảo đảm là vài năm sau Kim Jong-Un – Chủ tịch Bắc Triều Tiên – lại không lật lọng ra lệnh cả nước chuẩn bị chiến tranh, tiếp tục khôi phục và thử nghiệm hạt nhân.

Kim Jong-Un đã từng 2 lần không giữ lời cam kết, lật lọng chữ ký của chính mình. Nếu thêm một (hay vài lần lật lọng nữa) thì cả thế giới cũng chỉ biết bản chất nó là cộng sản, tự trách mình chứ không làm gì được tên cộng sản độc tài và man rợ !

Tên cộng sản Kim Jong-Un mặt dày, cộng sản nói chung, tất cả bọn chúng đều quen thói dối trá, không có lòng tự trọng ! Người cộng sản luôn sẵn sàng nói láo, lừa bịp, lật lọng mà không một chút ngại ngùng !

Xin ghi lại vài lời nhắc nhở của của những người cộng sản đã từng nắm giữ các cấp lãnh đạo tối cao:

*Cựu Tổng bí thư đảng cộng sản Liên xô Mr. Gorbachev: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”

*Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin: ” Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó.”

*Tổng thống Nga Putin: “Kẻ nào tin những gì cộng sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của cộng sản, là không có trái tim“.

Phan Thị Hồng

Quốc Hận!

 
 
 
Image may contain: water and nature

Van Pham

Quốc Hận!

Nước đã mất, nhà đã tan, gia đình ly tán! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rủi may, những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền Bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.

Trên đường trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vượt thoát bằng đường bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đã chết đói vì lạc đường, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đinh, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng (tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.

Thảm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những người trốn chạy khỏi quê hương nầy bằng một biệt danh, mà trong lịch sử loài người chưa từng có: “BOAT PEOPLE” (Thuyền Nhân).

Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc, đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và chiếm lãnh miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.
Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là NGÀY QUỐC HẬN.

Không có từ ngữ nào để diễn tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc hận. Nó diễn tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó, đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ; từ tương lai trong sáng trở thành tăm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất, căm phẫn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật: ngoan ngoãn thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.

Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng tư, ngày đổi đời đó? Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.

Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại “cải tạo”. Những rường cột của Quốc Gia đã bi kềm hãm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chữa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm muớn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy. Những người tù “cải tạo” đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chửi bới,hăm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều trường hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những bài “học chính trị”, do “Bác” và Đảng chủ trương đối với những người sa cơ, thất thế.

Những người tù lương tâm đó là ai?

Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam của Tổ Quốc, giữ gìn an ninh cho người dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp.

Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cường, có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn, Đài Loan.

Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà.

Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.

Những người tù lương tâm nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã giúp đỡ cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” chống phá lại “cách mạng của nhân dân” (sic).

Ngoài những người đã bị bắt đi tù “cải tạo”, những người dân thường sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đa bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là “nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (hiện giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi vùng kinh tế mới, “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo (ngố), đã có công với “nhà nước” trong việc cưỡng chiếm miền Nam.

Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xã”. Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vuờn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là “bảng chấm công”. Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam.

Tóm lại, sau khi bọn cường bạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã cưỡng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhuợng, bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.

Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2018, đã qua 43 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những “cán bộ” Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xảo thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn.

Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nỗi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẫm ướt máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc, giúp đỡ họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu (câu nói khinh miệt của dân miền Nam), họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn Cộng Phỉ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.

Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi hận xót xa cho cả nước, chúng ta hãy tưởng niệm đến quê hương đã mất đi, tưởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hãy tưởng nhớ đến những người tỵ nạn kém may mắn đã chết trên đường đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hãy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng, để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.

Nhìn cái hình đủ các quan văn võ hai Miền Triều Tiên hôm nay tôi bật khóc.

Thái Hòa Lê shared a post.

Vn không có cha già dân tộc thì đã sánh vai với Nam Hàn rồi!

 
Image may contain: 17 people, including Minh Le, people smiling, people standing, suit and wedding

Nguyễn Tấn ThànhFollow

Nhìn cái hình đủ các quan văn võ hai Miền Triều Tiên hôm nay tôi bật khóc.

Nó làm cho tôi liên tưởng tới hai Miền Việt tưởng như cùng cảnh ngộ, bởi hai dân tộc bị chia đôi sau Thế chiến 2.

Tôi khóc vì nước Việt không may mắn để có thằng trẻ con như Ủn lãnh đạo, mà lại là một cha già lãnh đạo, để rồi đem súng đạn Nga, Tàu về tàn phá dân tộc Việt này.

Đau hơn khi rất nhiều người dân Việt còn nghĩ cha già dân tộc đó là có công lớn lắm mà không biết đích thị là nhận lương Quốc tế cộng sản, đem súng đạn về điêu linh nước Việt.  

Cái bắt tay lịch sử của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều

Hoa Kim Ngo shared a post.
 
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 1 person
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
Image may contain: 1 person, standing

Lê Công ĐịnhFollow

Cái bắt tay lịch sử của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều khiến hàng triệu gia đình người Việt thêm đau lòng vì chúng ta đã phải tổn thất sinh mạng quá lớn mới chấm dứt được một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vào năm 1975. Đó là một sai lầm khó tha thứ.

Tuy vậy lịch sử không có chữ NẾU. Cách đối diện với sai lầm quá khứ hay nhất là hành động khôn ngoan ở hiện tại nhờ vào các bài học lịch sử trong và ngoài nước.

Vì vậy, nhà cầm quyền và đảng cầm quyền ở Việt Nam ngày nay nên nhìn vào Nam Bắc Triều ngõ hầu sớm hòa giải với đồng bào bất đồng chính kiến của mình, lắng nghe và làm việc với họ, để cùng mở ra một trang sử mới cho quốc gia, thay vì mở thêm cổng nhà tù cho đồng bào mình hôm nay và cho chính mình ngày mai.

Một vài trích dẫn phát biểu của Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in trong phiên hội đàm buổi sáng ngày 27 tháng 4:

Hoang Le Thanh and 2 others shared a post.
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing and suit

VOA Tiếng Việt

Một vài trích dẫn phát biểu của Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong Un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in trong phiên hội đàm buổi sáng ngày 27 tháng 4:

(Trong lúc cùng nhau duyệt binh danh dự của Hàn Quốc)

Ông Moon: “Tôi có thể cho ông xem những cảnh tượng đẹp hơn thế này nhiều nếu ông tới Dinh Ngói Xanh (dinh tổng thống Hàn Quốc).”

Ông Kim: “Vậy hả? Tôi sẽ tới Dinh Ngói Xanh bất cứ khi nào ông mời tôi.”

Ông Moon: “Tôi chưa bao giờ tới thăm Núi Paektu (ở Triều Tiên)…Tôi rất muốn đến thăm.”

Ông Kim: “Thật tình tôi lo là hệ thống vận tải của chúng tôi tệ lắm, có thể làm ông khó chịu… Tôi sẽ mất mặt nếu ông tới thăm Triều Tiên sau khi sống trong môi trường của Hàn Quốc.”

Ông Kim nói đùa với ông Moon về những vụ phóng phi đạn vào sáng sớm của Triều Tiên:

“Tôi nghe nói ông mất ngủ nhiều lần vào sáng sớm bởi vì ông phải dự các cuộc họp hội đồng an ninh quốc gia vì chúng tôi…Tôi sẽ bảo đảm giấc ngủ buổi sáng của ông không bị quấy nhiễu nữa.”

(Trong hình, ông Kim và ông Moon đứng cho báo giới chụp hình bên trong Nhà Hòa bình tại làng biên giới Panmunjom trong Khu Phi quân sự

Lời Chúa

 Phúc Âm: 1 Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.

2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.

3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.

4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? “

6 Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

Tạp ghi Huy Phương

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam-Bắc. (Hình: Wikipedia)

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí hàng đầu để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.

Minh chứng sự tốt đẹp của việc “đất lành chim đậu,”thực tế là trong thời gian 30 năm chia cắt, chỉ thấy người miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, chứ không thấy ai ở miền Nam ra miền Bắc tìm tự do.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, nhờ thông thương đi lại, nhờ mắt thấy tai nghe, người Việt Nam của cả hai phe, đã thấy rõ sự tuyên truyền, tố cáo của chế độ bên này đối với phía kia là đúng hay sai.

Sự tuyên truyền và những thông tin của miền Nam đưa ra chưa thấm vào đâu so với sự thật tàn tệ và thảm cảnh của đồng bào miền Bắc. Sau này, chuyện đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất năm 1949 còn kinh hoàng gấp trăm lần những gì miền Nam đã biết qua các tác phẩm của các nhân chứng miền Bắc được viết sau ngày “thống nhất” như “ Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân, “Une Voix dans La Nuit” (Tiếng vọng trong đêm,) của Hoàng Văn Chí – Mạc Định, “Chuyện Làng Ngày Ấy” của Võ Văn Trực và rải rác hầu hết trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Đĩnh… mà khả năng của người viết không đếm hết.

Một cuốn phim “Tố Cộng” của miền Nam như “Chúng Tôi Muốn Sống” không nói đủ 1/10 sự thật. Sau này, trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Dương Thu Hương đã kể: “Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết.”

Về chuyện đói nghèo của dân miền Bắc, dù giàu tưởng tượng, tôi không bao giờ nghĩ ra được cái cảnh đói của ngay gia đình của chị ruột tôi ở vùng Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Chị tôi đi lấy chồng trước năm 1954, sau này làm hộ sinh nông thôn, đi đỡ đẻ về, đói quá, có lần bị té xỉu dọc đường. Anh rể có thời gian làm Trưởng Ty Thương Binh- Xã Hội tỉnh Quảng Bình, sau về làm ở Ủy Ban Nhân Dân huyện Đức Thọ. Trong bốn năm chị tôi mất ba đứa con trong thời gian chỉ có vài tháng tuổi, vì mẹ thiếu ăn, không có sữa, nhà nhiều lúc phải ăn lá bí ngô nấu với sắn mốc qua ngày.

Ở miền Bắc, chế độ Cộng Sản tuyên truyền nói xấu miền Nam thì quá cường điệu, lếu láo, không có nổi 1% sự thật. Khi vào được để “tham quan” miền Nam và thăm bà con, dân miền Bắc còn ngây thơ mang vào Nam cứu trợ mấy ký gạo đỏ và chục chén ăn cơm. Sự thật thì miền Bắc đã mang về từ vùng đất “được giải phóng” hàng chục tấn vàng, kim cương cho Bộ Chính Trị đảng và cho hàng vạn xe gắn máy, đồng hồ, radio, quạt máy và vàng bạc đủ xây lại nhà cửa khang trang từ những thân nhân mà họ đã “khai tử” trên bản lý lịch trích ngang, vì không muốn liên hệ gì với những người đã di cư vào Nam năm 1954.

Bà chị tôi sau ngày “giải phóng” thương nhớ quay quắt cha già, nhưng chỉ có nước mắt làm quà cho cha. Phía Nam, gia đình tôi toàn là thầy giáo theo nghề sư phạm, không giàu có gì, nhưng lúc nào gạt lệ trước khi ra Bắc, chị cũng được cô em dâu dúi vào tay bà một hai chỉ vàng làm quà “thất trận!” Anh tôi, mỗi lần đi thăm bà chị “bên thắng cuộc” cũng kho một nồi cá lớn, khi cá sòng, khi cá thu vì gia đình chị tôi vẫn thường “thiếu chất!”

Sự nhồi sọ đến mù quáng, khó tưởng tượng nỗi, khi một thằng cháu, con bà chị tôi đã dẫn ở đoạn trên, tốt nghiệp kỹ sư Hà Nội, từng du học Liên Xô, khi vào gặp tôi sau năm 1982 tại Sài Gòn, đã thắc mắc:

– “Cậu mang quân hàm Đại Úy mà nhà cửa chỉ thế này sao?” (Nó được tuyên truyền sĩ quan miền Nam, cắt cổ mổ bụng, bóc lột nhân dân nên ai cũng có đời sống vương giả, nhà lầu xe hơi!)

Một hôm, có vẻ sau một hồi ngần ngại, “ông kỹ sư Hà Nội” này đã rụt rè hỏi tôi một câu rất mâu thuẫn với câu hỏi trước.

– “Thế Mợ có bị cảnh sát… không?” (Miền Bắc được tuyên truyền ở Miền Nam bị cảnh sát Ngụy kìm kẹp, cảnh sát muốn hiếp dâm ai cũng được, kể cả vợ… Đại Úy Ngụy!)

Biết là “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” – Nếu một lần ta đã làm người khác mất lòng tin thì những lần sau không ai tin mình nữa! Nhưng trong vòng cương tỏa của đảng, bị bịt mắt che tai, đồng bào miền Bắc không có dịp để biết sự thật, chỉ biết nghe chuyện hoang đường. Từ chuyện Nguyễn Văn Trỗi bị trói tay vào cột, còn dùng tay giật băng vải đen bịt mắt, sau khi nhận một tràng đạn vào ngực còn dõng dạc hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” đến chuyện hồi chánh viên Nguyễn Văn Bé còn sống sờ sờ, đã miền Bắc dựng thành liệt sĩ sau khi cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và VNCH, phá hủy nhiều xe tăng. Từ chuyện Kim Đồng xa xưa tẩm xăng vào mình cho nổ kho đạn ở Thị Nghè, đến chuyện ngày nay “Hercule” Bùi Minh Kiểm tay không níu càng trực thăng chúi đầu xuống đất cho đồng đội bắn, máy bay nổ tan xác. Rồi chuyện đồng bào ở bờ Nam Bến Hải nghe tiếng loa đài phát thanh Vĩnh Linh vang lên, đã chạy ào ra bờ sông mừng rỡ reo hò: “Bà con ơi, o Nhạn, anh Tích (xướng ngôn viên) chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo.”

Rõ ràng quốc gia nói chưa được 1% sự thật của miền Bắc, trong khi cộng sản nói láo từ suốt 30 năm cho tới ngày cả nước được sáng mắt, sáng lòng.

Ai cũng nghĩ rằng nhà nước cộng sản dù chính sách ngu dân, làm cho dân càng ngày càng ngu, để tuyên truyền được hữu hiệu, nhưng ngu là đối với nông dân thất học, quanh quẩn trong rặng tre làng. Ở đây một kỹ sư có học, từng đi ngoại quốc lại nghe và tin sự tuyên truyền như vậy, thì không còn chỗ nói nữa.

Quả là nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt quá hay, nhưng không may Việt Nam có cái ngày 30 Tháng Tư đã làm rơi cái mặt nạ giả dối, phơi bày một sự thật trần truồng khiến người có lòng tự trọng thấy xấu hổ. Miền Bắc cảm thấy nếu được sống 1/10 cuộc đời bị đàn áp bóc lột của người dân miền Nam thì cũng đã sung sướng chán. (Huy Phương)