“Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.”

Image may contain: 1 person, sitting and standing

Nicolas Đặng to Salut Saigon & Salut Les Copains

“Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.”

Lần đầu gặp anh, chị mới 16 tuổi, nhỏ xíu, tóc bó đuôi gà, đôi môi mỏng lém lỉnh. Hôm ấy, Ba chị đưa về một thanh niên trẻ người Mỹ, giới thiệu người phụ tá của mình với gia đình, anh đã nhìn chị không chớp mắt. Đến khi chị vênh mặt hỏi “Tôi có chỗ nào không ổn”, anh mới ngượng ngùng sực tỉnh, lí nhí… nói câu xin lỗi!

Không biết sao anh bị chị thu hút, đến mất hồn mất vía, còn chị thì tỉnh rụi, chẳng để ý gì đến anh chàng người Mỹ đồng nghiệp của ba mình. Sau đó anh hỏi Ba chị thuê hẳn một tầng lầu trên cùng để ở, thì chị và anh gặp nhau mỗi ngày.

Sống chung nhà, nhưng đường ai nấy đi, đối với chị, anh là bạn của Ba, người lớn rồi, nên chị không coi anh như bạn bè của mình, nhưng rồi chị cũng biết anh mới 24 tuổi, đến từ Washington DC, nhiệm sở ở VN này là công việc đầu tiên của anh sau khi tốt nghiệp đại học. Tuy còn bỡ ngỡ với xã hội VN, nhưng lạ một điều là anh nói tiếng Việt giọng Bắc rất chuẩn và lưu loát như được đào tạo qua trường lớp đàng hoàng.

Anh ít nói nghiêm nghị, nhưng mỗi lần gặp chị, anh lúng túng, mặt mày đỏ gay, làm chị nổi tính nghịch ngợm, muốn trêu anh.

Có lần trong bữa ăn, chị đưa cho anh quả ớt tròn đỏ, rất đẹp, chị bỏ nguyên trái vô miệng, nói ngon lắm, và đưa cho anh một trái, bảo ăn thử. Anh tưởng thật, bắt chước chị, bỏ vô miệng nguyên trái, nhai rốt rột, rồi anh sặc, anh ho, anh khóc, còn chị nhả trái ớt ra, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Anh cay quá, có ý giận, cầm cốc nước bỏ lên lầu một mạch.

Đến tối không thấy anh xuống, thấy cũng tội nghiệp, chị sai thằng em bưng lên cho anh ly nước đậu nành tạ tội, nhưng thằng em xuống nói anh ấy không có ở trên lầu, đi đâu rồi?

Chị có ý đợi, muốn thử coi sau khi ăn trái ớt, mặt mũi anh ra sao? Nhưng mấy ngày liền anh không về, nghe Ba nói với mẹ anh đi công tác.
Cả tuần không gặp, chị thấy thiếu thiếu, chị nghĩ có lẽ tại mình chơi ác với người ta nên mình thấy có lỗi, áy náy đó thôi.

Tuần sau anh về, bước vô nhà thấy chị, còn tức nên vờ như không thấy, anh xách vali đi thẳng lên lầu, từ đó anh luôn giữ vẻ mặt lạnh lùng làm chị thấy… tự ái ghê gớm luôn.

Một hôm chị đang học thi tú tài, ban đêm ở trường thầy Hai Ngô về, từ đường Nguyễn Huệ đạp xe về tới nhà chị cũng khá xa, vừa tới góc ngã ba hơi tối, xe chị tự nhiên trở chứng, phải dắt bộ về, đường tối chị thấy sợ ma. Vừa đi vừa run, vậy mà xui khiến sao gặp anh, đang lái xe đi ngang mặt, tài thật anh nhận ra chị ngay, và “de” xe ngược lại. Dù đang giận, nhưng chị cũng để anh giúp, đem xe về nhà. Trên đường về anh không nói, chị cũng không…(đang hờn mát mà).

Gần tới nhà, anh quay qua nhẹ giọng hỏi chị: “Sao em ghét tôi quá thế?”
Bị hỏi thình lình, chị ấm ớ: “Tôi có ghét anh đâu?”.
Anh nhìn vào mắt chị (trời ạ, tối thui, sao mắt anh ấy sáng thế, xanh biếc như hai vì sao…). 
“Thế sao em vẫn muốn tôi khóc, để em cười?”
Tự nhiên chị thấy lúng túng. May quá tới nhà, chị cảm ơn, rồi vội vã xuống xe vào nhà, để anh ngẩn ngơ nhìn theo…

Đêm ấy lạ ghê, không ngủ được, chị cứ thấy đôi mắt như hai ánh sao của anh chập chờn trước mặt, lần đầu tiên chị mất ngủ vì một chàng trai.
Sáng ra, trước khi đi học chị có ý chờ xem có gặp anh không, nhưng không gặp, đến giờ, chị phải đi học thôi. Chiều về chị cũng không gặp. Ba chị nói, anh về nước có chuyện gấp.

Mấy ngày anh không có ở nhà, chị như người mất hồn, cứ ra vô, ăn ngủ không yên. Lạ nhỉ, sao tâm trạng mình bất ổn như vậy?

Đến khi anh về, vừa thấy anh bước vô từ cửa, chị mừng như bắt được vàng, ánh mắt long lanh, chị cười nói huyên thuyên. Anh bỏ vali xuống, rạng rỡ nhìn chị, âu yếm lắng nghe và cuối cùng hỏi chị một câu:

“Em nhớ tôi lắm hả???”

Câu hỏi bất ngờ làm chị khựng lại mấy giây, đỏ mặt… như ăn trộm bị bắt quả tang. Xấu hổ quá, (sao anh ta có thể đọc được ý nghĩ của mình thế nhỉ?), chị vờ có việc, kiếm cớ bỏ đi.

Sinh nhật 17 tuổi của chị, chị mời bạn bè tới nhà chơi, một đám choai choai con nít, nói cười ầm ĩ. Tới tối tiệc tan, lúc về phòng ở lầu hai, chị thấy anh đứng đó, trong bóng tối, chìa ra cho chị một bó hoa hồng rồi anh bỏ đi.

Ôm bó hoa, chị hồi hộp… Về phòng, cả đêm chị cứ ngắm bó hoa, từng cánh nhung mềm mại, đẹp ơi là đẹp, mở ra, trong cánh thiệp mỏng có bức thư ngắn kèm theo:

“Em của tôi.
Lần đầu gặp, em đẹp như một bức tranh.
Lần thứ hai gặp, em tinh quái như một con mèo.
Lần thứ ba gặp, con mèo đánh cắp trái tim tôi…
Bây giờ, tôi bắt đền … em để trái tim tôi ở đâu?
Tôi muốn xin em trả lại…!”

Trời đất! Phải làm sao đây? Đọc xong bức thư, chị tái mặt… lại cả đêm trằn trọc, sáng ra chị không dám ra khỏi phòng, lỡ gặp anh chàng thì biết ăn nói làm sao???
.

Mối tình của chị bắt đầu như vậy, dễ thương, nhẹ nhàng.

Năm ấy, chị thi tú tài IBM lần đầu ở Qui Nhơn. Tràn đầy tự tin, chị xúc tiến thủ tục đi du học…

Nhưng một sáng mùa hè, năm 75, anh đi SG họp khẩn cấp và không trở về. Toàn bộ nhân viên Ngoại giao được lệnh rút khỏi VN. Anh gọi điện thoại cho Ba chị, xin ông đưa cả gia đình đi, anh sẽ sắp xếp chuyến bay, nhưng ba chị không chịu.

Anh lại xin Ba chị cho cưới chị để đưa chị theo, nhưng ba chị cũng không chịu, đời nào ông để con gái ông lấy Mỹ?

Những chi tiết này chị không hề hay biết, thấp thỏm chờ, và lòng chị có ý trách, sao anh nỡ bỏ đi không một lời từ giã…

Biến cố 75 ập tới. Ba chị đi tù (là nhân viên ngoại giao cao cấp), nhà cửa toàn bộ bị tịch biên hết, giấc mộng du học của chị vỡ tan. 
Cả gia đình chị tan tác như chiếc lá rơi rụng cuối mùa, chị buồn đau một thời gian dài…

Rồi chị cũng gượng dậy giúp mẹ bôn ba, buôn bán nuôi đàn em dại. Và chị lấy chồng, hai vợ chồng tương đối hạnh phúc, nhưng lại gặp phải mẹ chồng khắc nghiệt nên làm chị kiệt quệ tinh thần lẫn thể xác. Chị thất vọng về chồng mình, vì thấy anh rất sợ mẹ, không giúp gì được cho chị, dù bụng mang dạ chửa, chị cũng phải quần quật không khác gì con ở, nên với chồng chị có phần oán trách, và tình cảm chị dành cho chồng, do đó phai nhạt ít nhiều.

Đứa con gái ra đời, cũng không cứu vãn được vấn đề. Mẹ chồng lúc nào cũng chì chiết, hà khắc, chị cô đơn trong gia đình chồng, đến nỗi có lần chị xin chồng ly dị, vì thấy mình khổ quá không chịu nổi. Nhưng rồi… chị phát giác mình mang thai đứa con thứ hai.

Đành vậy, có những lúc buồn, chị ôm con mà nhớ quay quắt về anh, với những thương yêu cũ. Sau này chị đã biết rõ câu chuyện do ba chị trước khi đi tù, đã kể lại với giọng ân hận: “Biết vậy Ba gả con cho nó”.

Khi chị biết anh đã tìm đủ mọi cách có thể để đưa chị đi nhưng tình trạng hỗn loạn lúc đó, anh không làm sao hơn được, chị tin chắc anh cũng đau lòng như chị, khi phải đành phải xa nhau. Và chị chấp nhận số phận, không còn oán trách anh nữa.

Sau đó không lâu, có một người lạ mặt tới đưa cho má chị ít tiền và địa chỉ và số điện thoại của anh bên Mỹ. Chị cầm đọc, mà hai hàng nước mắt chảy dài, chẳng biết để làm gì, nhưng chị vẫn cất kỹ số điện thoại và địa chỉ của anh, để thỉnh thoảng lấy ra nhìn, mà buồn vời vợi…

Mang thai lần này chị yếu hẳn, thai 7 tháng mà bụng chị nhỏ xíu, chị gầy, khô như que củi, nhìn vô gương chị không nhận ra mình, đứa con gái xinh đẹp, nhí nhảnh, năng động năm xưa đâu rồi nhỉ?

Thình lình, một tối chồng chị về, mẹ con rầm rì to nhỏ, có chuyến đi vượt biên. Mẹ chồng muốn mẹ con chị ở lại, để chồng chị đi một mình. Nhưng anh không chịu, đi thì phải đi cùng. Lần đầu tiên chị thấy anh cương quyết, cuối cùng mẹ chồng nhượng bộ. Vậy là vợ chồng, con cái chị, dắt díu nhau ra khơi.

Tàu gặp bão, giông tố tưởng đã nhấn chìm con tàu mấy lượt, vậy mà trời thương, may sao chiếc tàu rách nát vẫn còn tiếp tục chạy. Nhưng mấy hôm sau nữa thì máy hư, hết nước, hết thức ăn, lênh đênh vô định trên biển…

Môi nứt nẻ, rướm máu, sức tàn lực kiệt. Mấy lần chị hôn mê tưởng chừng không bao giờ tỉnh lại. Trong cơn mộng mị, chị thấy mình về lại ngày mới lớn, vui tươi, nhí nhảnh bên anh, những ngày lãng mạn, tươi đẹp, nhuộm xanh cả bầu trời.

Hình như giấc mơ đã giúp cho chị thêm chút sức lực, và trời thương, đã có lúc chị thấy mình mở mắt, để thấy đứa con gái bé bỏng ngủ vùi trong lòng mình và đứa con trong bụng có lúc quẫy đạp.

Có lẽ nhờ đó, mà ý chí phải sống trong chị trỗi dậy mạnh mẽ, nhưng tới lúc gặp được tàu cứu thì chị một lần nữa chìm sâu vào hôn mê.

Không biết bao lâu, khi chị tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trong bệnh xá xa lạ, tâm trí hoang mang, mơ hồ. Chị hỏi đây là đâu. Qua người y tá bản xứ, chị biết đây là một đảo thuộc Mã Lai.

Biết mình đã tới bến tự do, nhưng quá yếu, chị lại hôn mê. Trước khi ngất, không hiểu sao trong tiềm thức, như một lời trăn trối, chị rút cái địa chỉ giấu trong lai áo, đưa cho cô y tá, nhờ đánh giùm điện tín cho người này, nói chị đang ở đây.

Qua hôm sau, trong cơn thập tử nhất sinh, cái thai có triệu chứng sinh non, mà chị lại quá yếu, Bác sĩ đang lo lắng, không biết có cứu nổi cả mẹ lẫn con không? 
Trong cơn mê, chị nghe tiếng khóc của chồng, và cảm giác hơi ấm bàn tay nhỏ nhắn của đứa con gái bé bỏng vuốt ve trên mặt, chị như được được hồi sinh lần nữa. Bác sĩ quyết định mổ.

Như cơn gió lốc… 
Anh của những ngày tháng cũ, vẫn cao gầy, dáng thư sinh, tuy khuôn mặt bơ phờ, mái tóc nâu rối bời, và cặp mắt xanh lơ, giờ đã không còn sáng như hai vì sao nữa, bởi từ lúc nhận được điện tín, liên lạc được với Liên Hiệp Quốc để xác minh, anh đã không hề chợp mắt.

Chuyến bay tốc hành đã đưa anh tới đảo nhỏ này, và giờ đây, đứng nhìn chị bé bỏng, hôn mê trên giường bệnh.

Trước khi đi qua đây, trong đầu anh không hề nghĩ tới chị đã có chồng, con, và một đứa nữa sắp chào đời.

Đứng đó nhìn chị, anh đau đớn, xót xa, đầu óc anh tràn đầy xúc động. Anh véo tay mình mấy lần, để biết chắc đây không phải là một giấc mơ.

Khoảnh khắc, đau đớn, ngỡ ngàng rồi cũng qua đi, Anh thảo luận với bác sĩ, nói chuyện với chồng chị, giới thiệu sơ về mình, và anh khẩn cấp liên lạc bệnh viện lớn nhờ giúp đỡ.
.

Ngay ngày hôm đó chị được trực thăng chuyển về bệnh viện lớn ở thủ đô Kuala Lumpur, với sự chăm sóc đầy đủ nhất. Chị được cứu sống, cả mẹ lẫn con.

Biết chị đã vượt qua cơn nguy hiểm, lòng anh rộn rã. Đứng bên ngoài phòng, nhìn đứa bé gái sinh non, lớn hơn con mèo một chút, ngo ngoe trong lồng kính, cảm giác tràn ngập thương yêu như chính con mình. Anh ngỏ lời với chồng chị, xin làm cha đỡ đầu của đứa bé.

Trước hôm về lại Mỹ, anh và chị lần đầu nói chuyện trực tiếp với nhau ở bệnh viện, khi chị đã tỉnh táo. Bên giường bệnh, nhìn chị, ốm xanh như chiếc lá. Ánh mắt yêu thương, như ngàn lời muốn nói, nhưng anh biết, có rất nhiều điều cần phải giữ lại cho riêng mình.

Chị nhìn anh cảm kích, biết ơn. Những thứ này có nghĩa gì với những điều chị đang chất chứa trong lòng. Nhưng cũng như anh, chị biết mình không thể nói hay biểu lộ ra những gì mình đang nghĩ, tự nhủ lòng… phải quên thôi!

Ánh mắt nhìn nhau thăm thẳm như biển sâu, chị chỉ nói được một câu: “Em xin lỗi”.

Có những niềm riêng một đời giấu kín 
Như rong rêu chìm đắm trong biển khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi…

Trước lúc chia tay, anh trao riêng cho chồng chị một phong bì, bên trong có một xấp tiền mặt. Chồng chị tự ái, không nhận, nhưng anh cứ bắt chồng chị phải nhận, anh nói:

“Cứ coi như tôi cho mượn, sau này anh có thì trả lại tôi…”

Bốn tháng sau, giữa năm 80 gia đình chị chính thức định cư ở San Jose, Ca…

Thời gian qua nhanh, hai năm sau đó chị có thêm một thằng cu Tí ra đời. Nhìn ba đứa con ngày mỗi lớn, chị giờ đã bình thản hơn, sóng gió trong lòng đã dịu đi nhiều. Mỗi năm đến ngày lễ lớn hay sinh nhật của từng đứa con chị, anh đều gửi thiệp, gửi quà. Nhưng hai bên không ai nói chuyện trực tiếp, chị thấy vậy cũng tốt, thôi thì cố coi như “… chỉ là giấc mơ qua”!

Hai vợ chồng chị đều đi học lại, có nghề nghiệp ổn định và đời sống kinh tế vững vàng. Món tiền 7 ngàn dollars năm xưa, chồng chị gởi trả lại cho anh sau 3 năm tới Mỹ.

Nợ tiền đã trả được… nhưng nợ tình thì sao?

Có một điều làm chị bứt rứt là anh không lấy vợ, 40 tuổi anh vẫn sống độc thân. Công việc của anh đi nhiều, và anh lấy công việc bận rộn làm vui…

Mẹ anh thỉnh thoảng nói chuyện với chị qua điện thoại. Bà thương chị như con dù chưa bao giờ gặp, tuy nhiên bà biết mặt chị qua tấm ảnh trong phòng anh.

Những gì bà ấy nói thường làm chị buốt nhói trái tim, làm chị cảm động đến khóc được, và qua bà, chị biết được toàn bộ cuộc sống của anh. Hai người đàn bà, cùng nắm giữ trái tim một người đàn ông. Chị gọi bà bằng Mẹ, các con chị gọi bà là bà ngoại.

Một chiều mùa thu, bà gọi cho chị biết anh đang ốm nặng.
Chị muốn đi thăm lắm nhưng vì công việc làm không thể nghỉ, hơn nữa có những lý do tế nhị chị không đi được. Chị chỉ có thể gởi một bình hoa thật đẹp vào bệnh viện cho anh.
Hôm biết anh xuất viện, chị gọi điện thăm nhưng anh còn yếu, chưa nói chuyện được.

Mẹ anh vừa khóc vừa nói vớí chị: “Con biết không? Họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp gửi hoa tới bệnh viện rất nhiều nhưng đến lúc xuất viện, ngồi trên xe lăn, còn rất yếu mà nó chỉ ôm khư khư bình hoa của con, đem về nhà, để bên đầu giường”.

Chị khóc !

Hai năm sau đang giờ làm việc, mẹ anh gọi báo tin anh hấp hối, cuộc giải phẫu tim không thành công.

Chị bỏ hết công việc lên thăm anh lần cuối, đi cùng chị có con bé giữa, đứa bé năm nào nhờ anh mà được sống sót…

Nhìn anh thoi thóp trên giường bệnh, chị khóc như chưa bao giờ được khóc, lần đầu cũng là lần cuối, chị khóc thương cho tình yêu của anh và của chị. Khóc thương cho người đàn ông đã yêu chị bằng một tình yêu bền bỉ, không bao giờ ngưng nghỉ, chưa hề đòi hỏi ở chị một điều gì.

Trong một lúc hiếm hoi, tỉnh táo, anh bình thản nhìn chị với ánh mắt tràn ngập thương yêu… Anh cười, bảo chị đừng buồn, đời sống có sinh, có tử. Anh cảm ơn thượng đế, đã cho anh gặp và yêu chị. Chị đau đớn nghẹn lời, cũng chỉ nói được một câu: “Em xin lỗi”.

Ánh mắt xanh lơ, cái nhìn đằm thắm, anh thu hết tàn lực nói với chị rằng:

“Nếu có kiếp sau, em đừng nói câu xin lỗi”.

Đám tang anh vào một ngày đầu mùa đông… buồn. Anh ra đi ở tuổi 46.

Chị trở về cuộc sống thường ngày, thế gian này từ nay thiếu vắng anh nhưng trong lòng chị, anh vẫn có một chỗ đặc biệt dành riêng.

Ba tháng sau đám tang anh, chị nhận được thư mời của luật sư, sẵn dịp chị bay lên thăm mẹ anh, bà đã già đi nhiều sau cái chết của con trai.

Hôm mở di chúc của anh, chị mới biết cả ba đứa con chị đều có phần trong tài sản của anh để lại. Số tiền không nhiều nhưng dư đủ cho cả ba đứa vào học những trường đại học danh tiếng nhất.

Chiều tàn, bên ngôi mộ anh, chị lặng lẽ thầm thì những lời thương yêu mà lúc anh còn sống chị đã không thể nói.

Theo gió chị gửi tới anh, những lời của một tình yêu, mà chị biết kiếp này và… cho tới kiếp sau chị vẫn ao ước được có, cũng như được gặp lại.

Văng vẳng bên tai chị nghe có tiếng anh thì thầm, “Nếu có kiếp sau xin em đừng nói câu xin lỗi”…

(Người viết: Khuyết Danh)

Ảnh minh họa: Tấm ảnh cũ – Kỷ vật quý giá của cựu binh Jim Reischl trong hành trình tìm kiếm bạn gái xa cách 45 năm.

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

Trung Quốc thọc tay vào Việt Nam cũng bởi CSVN, Trung Quốc phá nát kinh tế Việt Nam cũng nhờ CSVN. Phải nói là ĐCSVN được sinh ra là để thi hành những gì Trung Quốc sai bảo. Thời Hồ Chí Minh cũng thế và nay cũng thế.

Truyền thống ĐCS là tổng bí thư mới là hoàng đế chứ không phải thủ tướng. Đến thời Nông Đức Mạnh, vì hắn ta vô năng bất tài nên đã để Nguyễn Tấn Dũng lấn át quyền hành. Thời Nguyễn Tấn Dũng, ông ta dùng tiền tham nhũng để mua chuộc tất cả và thế là hắn đưa phái chính phủ mạnh lên. Lúc này quyền lực chính trị tại Hà Nội đã chuyển từ Văn Phòng Trung Ương Đảng sang Phủ Thủ Tướng.

Như ta biết, những kí kết tầm chính phủ giữa 2 quốc gia là những kí kết công khai nội dung, những kí kết giữa 2 ĐCS là những kí kết bí mật. Mà những ý đồ của Trung Cộng được triển tại Việt Nam vốn qua ngả Văn Phòng Trung Ương Đảng. Bắc đầu từ ý đồ của Bắc Kinh, thông qua các văn kiện bí mật để chỉ đạo Văn Phòng Trung Ương Đảng của ĐCSVN. Từ đó, Tổng Bí Thư đưa những ý đồ của Trung Quốc vào Nghị Quyết Đảng. Từ Nghị quyết Đảng ý đồ đó được quán triệt cho đại biểu quốc hội bỏ phiếu luật hoá. Và sau cùng là chính phủ thi hành. Luật An Ninh Mạng và Luật Đặc Khu là ví dụ. 2 thứ đó là xuất phát từ Trung Quốc và Trung Quốc muốn nó được áp dụng vào Việt Nam để dọn đường cho người Tàu đổ bộ vào. 2 luật này không hề vấp váp gì ở Quốc hộ và chính phủ, riêng Luật Đặc Khu thì bị dân biểu tình phản đối mãnh liệt nên hoãn.

Những ý đồ của Bắc Kinh phải được bảo mật trước nhân dân Việt Nam bằng những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS. Vì sao? Vì đơn giản là cả Bắc Kinh và Ha Nội không thể để dân thấy những chỉ thị của ngoại bang đêm áp đặt lên đầu dân Việt, điều đó sẽ làm phá sản âm mưu họ. Mọi kí kết bí mật giữa 2 người đứng đầu đảng là những kí kết ảnh hưởng đến số phận Việt Nam. Thời tổng bí thư Nông Đức Mạnh, quyền lực Trung Ương Đảng yếu, quyền lực chính phủ mạnh nên những ý đồ triển khai của Trung Cộng gặp khó khăn. Không phải Nguyễn Tấn Dũng chống Tàu mà đơn giản sự chỉ đạo phải đi đúng lộ trình của nó mà thôi. Như vậy, theo đúng lộ trình thì chính phủ phải triển khai Nghị Quyết Đảng chứ không phải triển khai trực tiếp chỉ thị từ Bắc Kinh. Vì vậy, nếu Văn Phòng Trung Ương Đảng yếu, sự triển khai chỉ thị của Bắc Kinh sẽ khó khăn.

Câu hỏi đặt ra là, để khai thông sự tắc nghẽn, thì Bắc Kính phải làm gì? Đó là phải lấy lại quyền lực cho Văn Phòng Trung Ương Đảng. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh phải ủng hộ một thế lực chính trị mới lên làm Tổng Bí Thư để Văn Phòng Trung Ương Đảng lấy lại quyền lực. Thế là Nguyễn Phú Trọng được chọn. Ông này vốn là Chủ Tịch Quốc hội không có thực lực, nhưng với sự hậu thuẫn từ Bắc Kinh, trong nhiệm kì đầu ông ta đấu Nguyễn Tấn Dũng một cách mãnh liệt. Sau 5 năm, đến kì đại hội 12 để chia chác quyền lực, Trọng đã đá văng Dũng khỏi chính phủ và đưa anh khờ Nguyễn Xuân Phúc lên thay. Thế là quyền lực Văn Phòng Trung Ương Đảng được củng cố, quyền lực Tổng Bí Thư là tối thượng. Lúc này nước Việt Nam có một tổng bí thư vừa thâu tóm hết quyền lực vào tay vừa thuần phục hoàn toàn Trung Cộng. Sau đại hội 12 “thành công tốt đẹp” thì Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh kí tá những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS về số phận của Việt Nam.

Khi mọi việc đâu vào đấy, Nguyễn Phú Trọng tham gia vào Đảng bộ của Bộ Cộng An và cả đảng bộ của Bộ Quốc Phòng để nắm trọn thanh gươm và họng súng của chế độ. Như vậy, sau 5 năm đấu đá với Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng đã thắng và nắm hoàn toàn chính phủ, trong đó ông ta thọc tay trực tiếp vào công an và quốc phòng. Thế là lần lượt những ý đồ Bắc Kinh được triển khai một cách khẩn trương gồm: lộ trình kinh tế, lộ trình an ninh, và lộ trình quốc phòng mở cửa cho Tàu xâm nhập vào. Về lộ trìng kinh tế đã rõ, người Trung Quốc vào tự do, thanh toán nhân dân tệ, giảm thuế nông sản Tàu, hợp tác ngành hàng Việt Nam và Trung Quốc, đặc khu vv… Lộ trình an ninh, là cán bộ sang học tập Trung Quốc, bắt bớ gắt gao người yêu nước. Lộ trình quốc phòng thì cũng hợp tác huấn luyện, và quân đội triệt thoái hoàn toàn khỏi biển Đông vv…

Việt Nam đã quá nguy nhập, càng nguy ngập hơn là sự thờ ơ của đa số quần chúng. Ngày nay, người dân mang tư tưởng buông xuôi khá nhiều. Thậm chí, họ còn kháo nhau rằng “học tiếng Tàu đi để mà tồn tại” thế mới nhục chứ. Khi mất nước về tay Tàu, không đơn giản thế đâu. Phải nói dân trí, dân khí nước Việt chưa thời đại nào thấp như thời đại này. Đường về nô lệ chưa bao giờ rõ như thời này.

Image may contain: 9 people, people standing and text

Trung cộng đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ, bắt các tín hữu từ bỏ đức tin trong khi leo thang đàn áp.

Trung cộng đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ, bắt các tín hữu từ bỏ đức tin trong khi leo thang đàn áp.

 

Giuse Thẩm Nguyễn

 

11/Sep/2018

Chính quyền Trung cộng đang phá hủy Thánh Giá, đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ và bắt các tín hữu ký vào bản khai từ bỏ đức tin của họ nơi các cộng đoàn tại Bắc Kinh và các tỉnh lân cận.

Cuộc đàn áp tự do tôn giáo này là một phần của chiến dịch chính thức để “Hán hóa” tôn giáo bằng cách buộc giáo hữu phải trung thành với đảng Cộng Sản vô thần và loại bỏ bất cứ thách thức nào đối với quyền lực của đảng trong nước.

Ông Bob Fu thuộc ban Cứu Trợ Trung Cộng nói rằng “Cộng đồng quốc tế cần được báo động và phản ứng vì sự vi phạm trắng trợn về tự do tôn giáo và niềm tin này.”

Luât sư của T.T. Trump và cố vấn trưởng của Trung tâm Luật và Tư pháp Hoa Kỳ (ACLJ) đã viết trên một mạng tweet rằng “Tình hình của người tín hữu Trung Quốc trở nên khốc liệt từng ngày. Chúng tôi đang làm việc không mệt mỏi để áp lực tối đa với Trung Cộng nhằm chấm dứt sự đàn áp này.”

Theo Fox News, việc đàn áp đối với tín hữu ở Trung Cộng thì không có gì là mới. Một bản tường trình của nhóm giám sát tiến trình dân chủ hóa toàn cầu Freedom House cho biết rằng các Kitô hữu và những nhóm tôn giáo khác đã bị hành hạ từ năm 2012.

Một phần ba những người có tôn giáo ở Trung Cộng được coi là phải đối diện với đàn áp ở mức độ “cao” đến “rất cao”, từ việc quan liêu hành chánh và bóc lột kinh tế đến bị cầm tù khổ sai và ngay cả bạo lực.

Nhưng những nhà chuyên môn và hoạt động nói rằng đây là thời điểm mà nhà cầm quyền Trung Quốc đang thực hiện cuộc đàn áp nghiêm khắc nhất đối với các Kitô hữu ở trong nước từ khi tự do tôn giáo được công nhận bởi Hiến Pháp Trung Cộng vào năm 1982.

Chiến dịch leo thang đàn áp tín hữu trùng hợp với việc củng cố quyền lực mới đây của Tổng Bí Thư Tập Cận Bình khiến ông ta trở thành nhà lãnh đạo Trung Cộng quyền lực nhất từ khi Mao Trạch Đông, một lãnh đạo cộng sản khét tiếng đã làm cho hàng triệu người bị chết.

Các nhà hoạt động đã quay phim quang cảnh giống như những đống sách kinh thánh đang bị đốt cháy và các bản khai của những người đã ký tên đã từ bỏ đức tin của họ. Nhà cầm quyền bị cáo buộc đã bắt những người tin phải ký vào tờ khai chối đạo, nếu không họ sẽ bị đuổi học hay tước mất phúc lợi an sinh.

Một cha xứ Công Giáo ở tỉnh Hà Nam thuộc Nanyang, xin dấu tên vì sợ bị chính quyền trả thù, đã xác minh rằng nhiều thánh giá, thánh kinh và bàn ghề văn phòng đã bị thiêu cháy trong một cuộc bố ráp tại nhà thờ của ngài vào ngày 5 tháng Chín.

Ngài nói rằng chính quyền địa phương đã trong tiến trình bàn thảo với giáo hội để canh tân, nhưng chẳng có đi đến được một thỏa thuận nào.

Theo luật pháp Trung Cộng, những tín hữu chỉ được phép thờ phượng ở những cộng đoàn được chính quyền cho phép. Nhưng có hằng triệu các Kitô hữu thuộc về giáo hội hầm trú đã lờ đi những quy định của chính quyền.

Các quan chức thì lại cho rằng tranh chấp nổ ra là do tín hữu, và rằng chính quyền tôn trọng tự do tôn giáo.

Chiến dịch chống tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến Kitô giáo. Có khoảng 1 triệu người Uighur và những nhóm thiểu số Hồi giáo khác sống ở phía Tây Bắc của nước này cũng đã bị giam giữ trong các trại cải huấn, bắt buộc bỏ đạo Hồi giáo và tuyên xưng trung thành với Đảng Cộng Sản.

Chính quyền Trung Cộng từ chối thành lập các trại cải huấn, nhưng nhấn mạnh đến tầm quan trọng để giải quyết chủ nghĩa cực đoan.

Trung quốc hiện nay có khoảng 38 triệu người Tin Lành và người ta tiên đoán rằng nước này sẽ là nước có dân số Kitô hữu lớn nhất thế giới trong vài thập niên tới.

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

 *    *    *

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài “công tác” chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China – Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing – Mông Cáy và cầu Hữu Nghị – Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite – Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải – Trà Vinh 2016… vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá… của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi – công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

“…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…”(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.

Hoàng Tất Thắng

danlambaovn.blogspot.com

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

 

Từ Varsovie, nhà báo Mạc Việt Hồng vừa gửi đến độc giả của trang Đàn Chim Việt đôi (ba) câu chuyện hơi ngộ nghĩnh. Xin ghi lại một:

“Tôi đã từng đi xin giấy phép chặt một cây sồi trong chính mảnh vườn của nhà mình. Sự việc diễn ra vào năm 2011. Thủ tục này mất đúng 3 tuần. Khi tới quận kê khai đơn xin chặt cây, họ đã đặt ra những câu hỏi rất chi tiết như: Đó là cây gì, cao khoảng bao nhiêu, đường kính gốc bao nhiêu cm?

Nhưng có một câu hỏi, hoàn toàn bất ngờ và ‘đương sự’ ấp úng không trả lời được, vì thực sự không biết, không chú ý. Đó là: Trên cây có tổ chim hay không?

Sau đó vài tuần, một nhân viên hành chính quận tới thực địa. Ảnh ngó nghiêng chiếc cây rồi dùng một ống nhòm soi lên ngọn. Cây không có tổ chim. Và nhờ đó, gia đình tôi đã được phép chặt nó.

Vâng. Cơ quan hành chính Ba Lan ‘rỗi hơi’ vậy đó …”

Những di dân da trắng ở Hoa Kỳ đều có nguồn gốc từ Châu Âu nên dân Mỹ cũng “rỗi hơi” không kém. Năm 1996, tiểu bang California bán 90 mẫu đất – vốn là khuôn viên của bệnh viện tâm thần Agnews, nơi mà tôi đã được gửi đến thực tập cả năm thưở còn đi học – cho công ty Sun Microsystems khai thác.

Tiền trao, cho múc xong rồi thiên hạ mới khám phá ra là trong khu đất này có vài cây cổ thụ, vốn là nơi trú ngụ của một loài cú (burrowing owls) có tên trong danh sách cần được bảo vệ. Để giải quyết vấn đề chính quyền tiểu bang đồng ý mua lại một khoảnh đất thích hợp cho chim cú nương thân, với sự trự giúp tài chính của cả thành phố San Jose lẫn công ty Microsystems.

Phú quý sinh lễ nghĩa chăng?

E cũng không hẳn thế. Trong phim Seven Years in Tibet, tôi nhớ có đoạn Đức Đạt Lai Lạt Ma bầy tỏ sự lo ngại về sinh mệnh của giun dế khi ngài nhìn thấy phu phen đang đào đất làm nền để xây tu viện. Mà Tây Tạng thì có giầu sang hay phú quý (mẹ) gì.

Năm ngoái, sau vài tháng đi giang hồ vặt (và tiêu xài đến đồng bạc cuối cùng) tôi buộc phải quay về với … mái ấm gia đình. Vì ở townhouse nên taxi đỗ sau nhà, ga ra đã mở sẵn, vừa xách ba lô ra khỏi xe đã thấy con gái đứng ngay cửa cười toe nhưng lại đưa ngón trỏ lên miệng, và bàn tay còn lại thì xua lia (xua lịa) ra dấu im lặng và dừng bước …

Tôi đứng yên ngơ ngác… Gần cả phút con bé mới chạy ào ra đón bố, giọng hớn hở:

– Có đôi chim gi đến làm tổ trong giàn bông giấy bố ơi. Chim con nở rồi. Chim mẹ vừa tha mồi về nên nếu bố bước vào ngay sẽ làm nó sợ!

Sau đó, “ái nữ” phổ biến ngay quy luật mới của gia đình vì nhà chúng tôi vừa có thêm mấy “thành viên” nữa:

– Từ nay, mỗi khi muốn ra sân sau tôi phải dòm chừng. Nếu chim bố hay chim mẹ đang tha mồi về tổ thì dừng bước ngay, chờ cho chim con ăn xong mới được tiếp tục…

– Từ nay, tôi phải hút thuốc ở sân trước vì khói thuốc có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của lũ chim non.

– Từ nay, tôi phải ….

Ah, đù!

Tôi mới rời nhà một khoảng thời gian ngăn ngắn mà khi quay lại đã bị “tịch thu” nguyên cả cái sân sau. Nói là cái sân (nghe cho nó bảnh) chứ thực ra chỉ là mảnh đất nhỏ xíu xiu, vừa vặn để giồng một cây Ngọc Lan và giàn bông giấy. Chấm hết.

Sân trước rộng nhưng là đất chung với nhiều căn khác. Chúng tôi chỉ sở hữu cái townhouse (cũng chung vách với nhà kế cạnh) bé tí teo, mua theo kiểu trả góp, và vẫn còn nợ ngân hàng cả đống tiền chứ không phải ít. Tài sản rất nhỏ hẹp, bấp bênh như thế mà con bé vẫn vui vẻ mang chia sẻ với lũ chim trời (ơi) không biết từ đâu đến.

Cái kiểu “rỗi hơi” của người dân Ba Lan, Hoa Kỳ (và ngay cả con cái trong nhà) khiến tôi cũng hơi bị… lây, rồi suy nghĩ lan man tới những vụ “thu hồi đất” ngang xương nơi quê hương đất nước của mình. T.S EriK Harms (tác giả cuốn Luxury and Rubble Civility and Dispossession in the New Saigon) nhận xét như sau:

“Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.”

Lạ nhỉ?

Trước khi cho phép nhà báo Mạc Việt Hồng đốn hạ một cái cây – trong khu vườn của chính chủ nhân – nhà nước Ba Lan đã cử nhân viên đến tận nơi, dùng ống nhòm săm soi, sợ có dăm ba con chim mất ổ. Còn chính phủ Việt Nam hiện hành thì giải tỏa nguyên cả bán đảo Thủ Thiêm mà sáu chục ngàn cư dân ở phần đất này đều “bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại” vậy!

Tác giả Lê Hồng Hà nhận diện:

“Ở TP HCM, ‘bộ tứ’ Lê Thanh Hải – Nguyễn Văn Đua – Tất Thành Cang – Lê Hoàng Quân cũng cùng nhau ‘xẻ thịt’ đất đai Sài Gòn, bất chấp tất cả.”

Bốn vị quan chức cao cấp này đều là đảng viên của ĐCSVN khiến tôi không khỏi tôi băn khoăn tự hỏi cái đảng này chủ trương thế nào, và giáo dục họ ra sao để tất cả đều có thể trở thành những kẻ “bất chấp” (và bất nhân) đến vậy?

Trước khi đốn hạ vài cái cây cổ thụ thiên hạ còn lo cho bầy cú, sợ chúng mất nơi nương náu. Vậy mà mấy ông đảng viên CSVN (“vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”) lại có thể nhẫn tâm cướp đất của cả trăm ngàn lương dân, và đẩy họ vào cảnh bần cùng (hay màn trời chiếu đất) một cách lạnh lùng và thản nhiên như thế – được sao?

Gần hai mươi năm sau, sau khi cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống, cho đến lúc vụ cưỡng chế đất Thủ Thiêm sắp chìm xuồng (tới đáy) thì thì bỗng có tin vui giữa giờ tuyệt vọng: Ban Bí Thư Thành Uỷ và Đoàn Đại Biểu Quốc Hội TPHCM đến thăm và làm việc với dân chúng Thủ Thiêm.

Thật là quý hoá!

Thế là dàn đồng ca của Bộ Thông Tin thi nhau hợp xướng, cứ như thể là chuyện cưỡng chế đất đại ở Thủ Thiêm mới xẩy ra hồi tuần vừa rồi, hay tháng trước vậy thôi:

– Người dân Thủ Thiêm đem bản đồ cỡ lớn trình đại biểu Quốc Hội …

– Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân “vi hành” đến khu ở của cư dân Thủ Thiêm…

– Ông Nguyễn Thiện Nhân: Sẽ gặp dân cho đến khi giải quyết xong bức xúc …

– Người dân Thủ Thiêm trào nước mắt tại buổi gặp đại biểu Quốc Hội …

– Bà con Thủ Thiêm mong tin vui từ Bí thư Nguyễn Thiện Nhân

Không dưng, tôi cũng muốn “trào nước mắt” khi chợt nhớ đến một bản nhạc đã xưa:

Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh
Ôi hạnh phúc biết bao, bao năm vẫn đợi chờ
Mà niềm vui như đến bất ngờ

Niềm vui, cũng như ngày vui, thường ngắn. Hai tháng sau, sau “chuyến vi hành” của ông Nguyễn Thiện Nhân, bản tin của trang Tiếng Dân – đọc được vào hôm 8 tháng 9 năm 2018 – có đoạn (xem) rất não lòng:

“Thanh Tra Chính Phủ vừa công bố kết quả kiểm tra liên quan đến việc khiếu nại của người dân ở Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, Sài Gòn. Sự việc liên quan tới nhiều vấn đề nhức nhối, người dân khiếu kiện suốt 20 năm qua, thế nhưng TTCP chỉ cho ra báo cáo đúng 10 trang giấy.”

Mười trang giấy sơ sài, cùng vài “đề nghị” rất chung chung và rất mông lung!

Ngay từ khi nhà đương cuộc Hà Nội có quyết định “lật lại hồ sơ Thủ Thiêm”, nhà báo Phạm Chí Dũng đã bầy tỏ nghi ngại rằng đây chỉ là một cách mà các đồng chí lãnh đạo “mượn lò” để tống tiền nhau thôi!

Tôi không hoàn toàn chia sẻ với quan điểm bi quan kể trên nhưng rất đồng ý (và “nhất trí”) với nhận xét của FB Trần Đức Anh Sơn:

“Câu chuyện ‘dân oan mất đất’ ở Thủ Thiêm, đã khiến họ đau đớn, cực nhục, oán hận trong suốt 20 năm qua không phải là duy nhất. Đã, đang và sẽ có hàng vạn vụ Thủ Thiêm khác diễn ra ở khắp mảnh đất hình chữ S này. Tất cả chỉ vì cái việc xác định ‘đất đai thuộc sở hữu toàn dân’, và bị những kẻ đại diện cho ‘quyền sở hữu đó’ ăn cướp để chia chác và bán cho những nhóm lợi ích. Chúng chính là kẻ cướp. Những kẻ cướp được cấp license để cướp.”

Tưởng Năng Tiến

TƯỢNG ĐÀI và SỰ KHỐN NẠN

Quân Hoàng shared a post.
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting, outdoor and nature
Image may contain: one or more people and people standing
Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 1 person, sitting and outdoor
+2
Liên Trà

TƯỢNG ĐÀI và SỰ KHỐN NẠN

Fb : Đình Dũng Trần

Quảng Trị một tỉnh nghèo bậc nhất quốc gia vừa khánh thành Tượng đài ông Fidel Castro lãnh tụ Cuba 115 tỷ (người vừa tạ thế năm 2016 với di nguyện Nhà nước Cuba không lấy tên ông đặt tên đường, trường học, lăng mô… ).

Một số tiền không nhỏ để xây hàng trăm cây cầu cho vùng sâu xa để học sinh không còn treo lơ lửng tính mạng khi băng suối tới trường hoặc hàng trăm căn nhà cho người nghèo có nơi che mưa nắng….

Dư luận từng biết đến câu nói nỗi tiếng của GS NGô Bảo Châu khi Sơn La xây tượng đài 1.400 tỷ ——-“Số tiền này đủ để xây toàn bộ trường, các ký túc xá cho Sơn La và các tỉnh miền núi. Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm , sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.——

Không thể là Thần kinh!
Chỉ có thể là Khốn nạn!

Ý nghĩa lịch sử của tượng đài dường như không còn là yếu tố chính thúc đẩy triển khai Dự án nữa, mà yếu tố thúc đẩy chính là Nhà thầu xây dựng với đa phần là nhà thầu sân sau của quan chức.

Tôi tin rằng, nếu đưa dự án ra công khai cho tất cả các nhà thầu trên toàn quốc dự thầu sòng phẳng thì chắc chắn Tỉnh ủy Quảng Trị sẽ không thực hiện Dự án tượng đài Fidel Castro, bởi 19 tỉnh xin hỗ trợ gạo cứu đói dịp Tết Đinh Dậu 2017 mới đây có cả Quảng Trị (Yên Bái, Cao Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Đắk Nông).

Sự khốn nạn trong các Dự án tượng đài là sự thể hiện nổi bật của bất công xã hội.
Trần Đình Dũng

Gia đình ‘vui mừng vì Trần Huỳnh Duy Thức ngưng tuyệt thực’

Gia đình ‘vui mừng vì Trần Huỳnh Duy Thức ngưng tuyệt thực’

Việt Nam, tù nhân chính trị
Bản quyền hình ảnhTRAN HUYNH DUY TAN
Image captionTrong tù, ông Trần Huỳnh Duy Thức từng viết rằng ‘đấu tranh này là trận cuối cùng’

Trưa 16/9, em trai của ông Trần Huỳnh Duy Thức xác nhận với BBC về tin nhà bất đồng ngưng tuyệt thực sau 34 ngày.

Trả lời BBC qua điện thoại, ông Trần Huỳnh Duy Tân, em trai của ông Trần Huỳnh Duy Thức, nói: “Anh tôi đã quyết định ngưng tuyệt thực hôm nay, sau chuyến thăm của hai chị gái và hai con gái.”

“Có thể là vì anh Thức tiếp nhận ý nguyện của gia đình cũng như được truyền tải mong muốn của nhiều người rằng muốn anh Thức bảo toàn mạng sống.”

“Gia đình tôi vui mừng vì chuyện này. Theo tôi, cho dù chuyện gì có xảy ra thì anh tôi phải ngưng tuyệt thực trước đã.”

‘Cảm kích’

Ông Tân cũng cho biết thêm: “Gia đình tôi rất cảm kích trước tin nhiều người loan báo tiếp tục tuyệt thực đồng hành cùng Trần Huỳnh Duy Thức, dù anh tôi đã ngưng tuyệt thực, cho đến khi anh tôi được trả tự do.”

“Việc đấu tranh của anh tôi yêu cầu chính quyền thượng tôn pháp luật là công cuộc lâu dài.”

“Do vậy, tôi mong là công luận cũng như các tổ chức quốc tế tiếp tục lên tiếng về Trần Huỳnh Duy Thức.”

Việt Nam, tù nhân chính trị
Bản quyền hình ảnhNGUYEN DINH THUC
Image captionGiáo xứ Song Ngọc, Vinh, Nghệ An cầu nguyện cho ông Trần Huỳnh Duy Thức

Hôm 9/9, gia đình ông Thức đã có thư khẩn gửi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, các đại sứ quán và các tổ chức quốc tế về nguy cơ với tính mạng của ông. Thời điểm đó ông Thức đã tuyệt thực 27 ngày.

Thư có đoạn: “Điều này là quá sức chịu đựng của một cơ thể thông thường. Và như vậy, tính mạng của con tôi có thể bị cướp bất cứ lúc nào.”

Qua thư, gia đình ông Thức đưa ra hai yêu cầu: trại giam cho biết ngay lập tức tình trạng của ông Thức và cho ông gọi điện về gia đình; các cơ quan pháp luật xem xét ngay yêu cầu của ông Thức [về việc được trả tự do] và trả lời ngay theo quy định của pháp luật.

Gia đình ông Thức cũng kêu gọi các tổ chức quốc tế quan tâm tới trường hợp của ông – “về khát vọng một Việt Nam dân chủ và thịnh vượng”, để “cùng lên tiếng giữ tính mạng của ông”.

Lần gần đây nhất gia đình ông Thức thăm ông trong tù là hôm 31/8.

Ông Tân nói trong buổi gặp kéo dài 40 phút, ông Thức cho biết đã sụt hơn 4kg. Ông Thức cũng từ chối không nhận khẩu phần ăn của trại giam và của nhà gửi vào.

“Anh Thức trông yếu và ốm đi nhiều, da mặt xạm đen,” ông Tân nói. “Nhưng anh vẫn động viên gia đình và nói “Anh không sao.”

“Lý do anh Thức tiếp tục tuyệt thực là yêu cầu nhà nước phải thượng tôn pháp luật, trả tự do cho anh theo Bộ luật Hình sự sửa đổi. Nếu sử dụng hình thức đặc xá thì chưa phải là công lý.”

Trần Huỳnh Duy Thức ‘tiếp tục tuyệt thực’

‘Bị cô lập’

Ông Tân cho hay được ông Thức thông báo về việc giám thị trại giam là ông Trần Bá Toan ra văn bản số 224 với nhiều quy định mới, trong đó có việc thư tố cáo khiếu nại của tù nhân phải gửi cho cán bộ trại kiểm tra trước, không được viết thư gửi lãnh đạo nhà nước, không được gửi các sáng tác văn, thơ, nhạc về nhà.

“Văn bản này mục đích để nhắm vào cá nhân anh Thức, nhằm cách ly và cô lập anh,” ông Tân cáo buộc.

Từ Hoa Kỳ, cựu tù nhân chính trị Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), người từng có kinh nghiệm tuyệt thực trong tù, cho BBC hay:

“Tôi từng ở trại giam số 6 Nghệ An, từng tuyệt thực, nên tôi hiểu những khó khăn mà Thức phải chiu đựng.”

“Thức vừa tuyệt thực mấy ngày thì trại giam số 6 đã chuyển 4 người đang ở cùng anh ấy sang phân trại K2 cách đó khoảng 2 km, nhằm cách ly những anh em này khỏi anh Thức và cô lập thông tin của anh ấy.”

“Trong bốn người bị chuyển đi có anh Trương Minh Đức mới vào trại 6. Anh Đức có vợ lên thăm hàng tháng nên có thể đưa tin giúp anh Thức.”

“Cho nên Thức đang bị cô lập và biệt giam tại một buồng giam có camera kiểm soát. Phòng số 5, phân trại K1, Trại giam số 6 ở xã Hạnh Lâm, Huyện Thanh Chương Nghệ An.”

Ông Hải cũng cho hay lần ông tuyệt thực lâu nhất là 33 ngày. Do có kinh nghiệm từ nhiều lần tuyệt thực, ông giữ được tỉnh táo nhưng đến giai đoạn 30 ngày thì hay chóng mặt và ù tai, thở cạn.

Việt Nam, tù nhân chính trị
Bản quyền hình ảnhFB THICH NGO CHANH
Image captionMột nhóm tăng sĩ Phật Giáo đồng hành tuyệt thực cùng ông Trần Huỳnh Duy Thức

‘Tuyệt thực cùng Thức

Hồi đầu tháng Chín, gia đình và những người ủng hộ ông Trần Huỳnh Duy Thức đã tung ra chiến dịch kêu gọi trả tự do cho ông.

Chiến dịch này được nhiều người tham gia. Nhiều Facebooker đồng loạt sử dụng hình đại diện là hình ảnh ông Thức. Nhiều người công khai tuyên bố tuyệt thực một ngày để đồng hành cùng ông.

Cộng đồng mạng cũng kêu gọi cầu nguyện cho ông ở nhiều địa điểm trong và ngoài nước.

Luật sư Lê Công Định chia sẻ trên trang cá nhân hôm 11/9: “Buổi thắp nến cầu nguyện cho sức khoẻ và bình an của anh Trần Huỳnh Duy Thức đêm nay trên khắp các miền đất nước và hải ngoại đã thành công một cách đầy cảm động, bất kể những nỗ lực ngăn chặn, quấy phá và cả ganh ghét. Sự đồng lòng đêm nay cho thấy niềm tin và hy vọng của người dân Việt Nam không chỉ gửi vào anh Thức, mà còn cho tương lai dân tộc này.”

Giáo dân giáo xứ Song Ngọc, Mỹ Khánh tại Nghệ An, cùng cộng đồng giáo dân ở Sài Gòn và Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cùng tổ chức cầu an cho ông và những người trong lao tù.Nhiều biểu ngữ khác nhau được sự dụng, gồm: “Anh thực sự là nguyên khí quốc gia”, “Anh là niềm hi vọng của dân tộc Việt Nam’, “Anh phải sống”.

Nhà hoạt động Lê Văn Sơn viết trên Facebook cá nhân: “Chúng tôi đồng hành, ủng hộ và tiếp bước cùng với Trần Huỳnh Duy Thức là cho chính chúng tôi, tương lai con cháu và cho sự trường tồn của dân tộc này.”

Cựu tù nhân chính trị Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) đăng trên Facebook cá nhân hình ảnh ông và những người ủng hộ ông Thức cầm biểu ngữ “Tự do cho Trần Huỳnh Duy Thức” tại trụ sở Tổ chức Ân xá Quốc tế tại New York.

Việt Nam, tù nhân chính trị
Bản quyền hình ảnhFB XUAN LY
Image captionNhóm người Việt ở Úc kêu gọi Việt Nam trả tự do cho Trần Huỳnh Duy Thức trước tiền đình quốc hội tại Canberra

Đây không phải là lần đầu ông Thức dùng hình thức tuyệt thực để phản đối những chính sách ông cho là bất công, đồng thời yêu cầu ‘thượng tôn pháp luật’.

Gia đình ông Thức cho BBC hay ông từng tuyệt thực lần đầu tiên 15 ngày năm 2016.

“Thời điểm đó, Quốc Hội Việt Nam đang thông qua Hiến pháp mới. Anh Thức tuyên bố tuyệt thực vô thời thạn để yêu cầu nhà nước trả lại quyền tự quyết cho dân,” ông Tân nói với BBC.

Sau khi có sự vận động của gia đình và những người ủng hộ, ông Thức dừng tuyệt thực ở ngày thứ 15.

“Lúc chia tay gia đình để quay lại phòng giam, anh Thức quay lại, giơ nắm tay lên và nói: “Đấu tranh này là trận cuối cùng”. Anh muốn gửi thông điệp rằng anh sẽ cương quyết đi theo con đường đấu tranh cho công lý của Việt Nam,” ông Tân thuật lại với BBC.

Trần Huỳnh Duy Thức là ai?

Ông Trần Huỳnh Duy Thức, 56 tuổi, là một kỹ sư và doanh nhân theo đạo Phật, sống tại TP Hồ Chí Minh, theo hồ sơ của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Ông sáng lập ra EIS, một công ty chuyên về cung cấp dịch vụ internet cho điện thoại di động ở Việt Nam có chi nhánh ở Singapore và Mỹ.

Ông sau đó trở thành một nhà hoạt động và tập trung vào việc viết blog về tình hình chính trị xã hội ở Việt Nam và góp ý cho chính phủ về các hướng cải cách.

Ông cũng thành lập phong trào Con Đường Việt Nam, một tổ chức nhằm cổ xúy các giá trị của nhân quyền và dân chủ.

Năm 2009, ông Thức bị án tù 16 năm với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

BỊ LỘ SAU NHỮNG ỒN ÀO

Tai Nguyen and Bui Luyen shared a post.
Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person, standing, walking and outdoor

Huy Anh

BỊ LỘ SAU NHỮNG ỒN ÀO

Khi cả nước sôi sục về lợi ích nhóm trong việc làm BOT rút tiền của người dân, thì ông Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế của QH Nguyễn Đức Kiên lên tiếng bảo vệ bằng chiêu thức rất chuyên chính vô sản là: “TRẠM THU PHÍ BOT KHÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI NGHÈO”! Tuy nhiên, sau đó, đã có nhiều BOT phải giảm giá, có trạm còn miễn phí cho dân vùng lân cận, có trạm như Cai Lậy phải đóng cửa chờ xử lý sau khi đã dùng đông đảo lực lượng công an, thanh tra giao thông và nhóm giang hồ ngoài xã hội bảo vệ trạm và bắt bớ, hăm dọa tài xế.

Sau này, ngành giao thông lại dở trò, biên trạm thu phí thành tạm thu giá để có thể tùy tiện tăng giá mà không cần qua hội đồng nhân dân địa phương hay Quốc hội. Lập tức, ông Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế của QH Nguyễn Đức Kiên nói bên hành lang QH cho báo chí: “luật đã quy định là “thu giá” thì gọi là “thu giá”, ví như “ở đây em là Hoa, là Lụa, nhưng ở quê em là H…, là Cà, thì cái chuyện ấy nó không quan trọng, bởi vẫn là em”. Tuy nhiên, sau này nó đã bị đổi lại là thu phí.

Sau lùm xùm của ông Kiên, người ta mới biết rằng, ông Kiên ở đây chỉ là tạm bợ, bởi cả gia đình vợ con ông ấy đều ở Đức và có quốc tịch bên đó.
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hội doanh nghiêp vừa và nhỏ VN, lần đầu tiên tham gia QH khóa 14, là đại biểu QH ‘đầy nhiệt huyết” công khai ủng hộ Dự luật Đặc khu, với những phát biểu “không ủng hộ luật đặc khu là một sai lầm” và cần phải làm đặc khu, “càng sớm càng tốt”.

Sau đó, người Việt tại Ba Lan đã ngay lập tức phản ứng lại phát ngôn này và tuần hành trước ngôi nhà riêng của ông tại quận Ochota ở thủ đô Warsaw. Lúc này người ta mới biết rằng, trước khi vào Quốc hội VN, ông đã giao luật sư từ bỏ quốc tịch Ba Lan, dù rằng ông mới vào để về nước nhận “trọng trách” mới.

Ông PGS TS Bùi Hiền, nổi tiếng với công trình nghiên cứu cải cách tiếng Việt sao cho kỳ cục trong 50 năm, bị dư luận phản ứng gay gắt, tuy nhiên ông vẫn thản nhiên làm tới. Lúc này, người ta mới đặt câu hỏi, chẳng lẽ ông Bùi Hiền nghiên cứu cái này mà không cho con cháu của ông thực nghiệm trước hay sao? Lúc này mọi người mới vỡ lỡ ra là ổng cũng cho cháu đi du học không phải là Tàu hay Triều Tiên, Cu Ba gì ráo. Châu phi, hay I Ran, Sirya càng không, mà là nước tư bản.

Thế đấy! Từ lời nói đến việc làm của các vị này đều tréo ngoe, may mà cộng đồng mạng sáng suốt đã công bố cho người dân được rõ chân tướng.
P/S: Những hình ảnh “độc” của PGS TS Bùi Hiền mà báo chí không có.

Anh Trần Huỳnh Duy Thức đã ngưng tuyệt thực…

Anh Trần Huỳnh Duy Thức đã ngưng tuyệt thực…

FB Lê Công Định.

Sáng nay gia đình anh Thức vào thăm và nói chuyện với anh trong 1 giờ. Ban giám thị trại giam số 6 tỏ thái độ nhẹ nhàng hơn, nhưng vẫn ngăn cản mỗi khi mọi người đề cập đến các thông tin bên ngoài.

Sau khi gia đình chuyển lời của nhiều người yêu cầu anh Thức ngưng tuyệt thực, anh đã đồng ý dừng lại để giữ gìn sức khoẻ. Anh Thức thông báo sẽ tiếp tục khiếu nại đến các cơ quan tư pháp yêu cầu họ thượng tôn pháp luật không chỉ đối với trường hợp của anh, mà còn cả những vụ án chính trị khác.

Theo gia đình, các quản giáo tỏ ý rất sợ hãi thông tin phong trào ủng hộ cuộc tuyệt thực vừa qua đến với anh Thức. Nên họ liên tục nhắc nhở và tắt điện thoại dùng để trao đổi giữa anh và người nhà.

Dù sao chúng ta cũng thở phào nhẹ nhõm trước tin anh Thức ngưng tuyệt thực. Cầu chúc anh giữ gìn sức khoẻ cho cuộc chiến đấu phía trước.

Image may contain: 1 person, text

XHCNVN không có khả năng giáo dục con người !!!

Nhân xã hội VN xôn xao bàn tán về chuyện Gs Hồ Ngọc Đại và thí điểm “Công nghệ Giáo dục” Lớp 1 Kẻ bênh, người chống.

Tôi xin đăng lạ bài viết dưới đây với phần nhận xét của một cháu thiếu niên đang theo học cấp TH Cơ sở tại VN….
*************

XHCNVN không có khả năng giáo dục con người !!!

Chân lý đôi lúc đến từ miệng trẻ thơ. Đó là trường hợp phát biểu của em Vũ Thạch Tường Minh, 14 tuổi, học sinh trường Amsterdam tại Hà Nội, về đường lối giáo dục tại Việt Nam, trong buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm…

“Theo con, bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Suốt bao nhiêu năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lui mà nó không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của VN… Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục VN không cần cải cách gì nữa mà cần được cách mạng. Đó mới là điều quý vị trong bộ giáo dục nên làm”.

Đấy cũng là nhận xét chung của hầu hết mọi người VN hiện nay. Trước thảm trạng giáo dục này, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Minh triết VN ở Hà Nội mới đây có lý giải: “Tư duy và tư tưởng của những người lãnh đạo VN hiện nay rất nông cạn, vì thế họ suy nghĩ hời hợt, bề ngoài. Họ rất thích áp đặt, không thích cãi lại, để cho mỗi học sinh được tự do, để trưởng thành một con người…. Cái lò đào tạo ra người quản lý [giáo dục] là trường Nguyễn Ái Quốc, trường đảng, thì đó là những nơi xơ cứng nhất, kiến thức hẹp nhất”.

Đó là một cách lý giải đúng nhưng –theo thiển ý chúng tôi- chưa sâu, chưa đủ và chưa đi vào cơ bản.

Nguồn gốc của tất cả sự băng hoại của “nền giáo dục” tại nước CHXHCNVN lúc này chính là ý thức hệ Mác-Lê vô thần duy vật và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản. Giáo dục là dạy dỗ, đào tạo con người sống theo một thứ đạo đức và nhắm tới một mục tiêu nào đó (người ta gọi là “triết lý giáo dục). Mà ý thức hệ Mác-Lê và chế độ Cộng sản chủ trương “đạo đức cách mạng” với 2 nguyên tắc: (1) mọi cái có lợi cho Cách mạng (tức cho đảng) đều là chân thiện mỹ, dù đó là gian dối hay bạo lực, xấu xa hay đê hèn; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, cứu cánh đây là sự tồn tại của chế độ CS, nên nếu phương tiện có đi ngược lại tiếng nói của lương tâm, lời dạy của tôn giáo thì cũng bất chấp, bất cần. Còn mục tiêu giáo dục chính là đào tạo thành thần dân trung thành với đảng, công cụ mù quáng của chế độ hơn là công dân tự do của đất nước, con người nhân bản của xã hội. Có như thế đảng mới muôn năm trường trị để giữ mọi quyền lực và hưởng mọi quyền lợi.

Từ đó phát sinh ra sách lược (hay đường lối) là đảng CS phải quản lý, khống chế toàn diện nền giáo dục quốc dân từ mẫu giáo đến đại học. Cứ đọc Luật Giáo dục và nhìn Nền Giáo dục là thấy rõ điều này. Trước hết, đảng soạn Luật giáo dục: lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tinh thần và tri thức. Từ đó đảng tiêu diệt các trường tư của mọi tôn giáo và khống chế các trường tư của mọi công dân. Học viện Công giáo được ban tôn giáo chính phủ cho phép thành lập ngày 03-08-2015 phải tuân theo điều 2 của Quyết định 289: “Học viện CGVN được hoạt động theo quy định của pháp luật VN và theo nội dung đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận”.

Thầy chủ nhiệm khoa của anh sinh viên Phạm Lê Vương Các tại Đại học (dân lập) Kinh doanh Thương mại Hà Nội nói với anh hôm 01-09: “Trường này do những người CS lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị CS.” (bài “Em hãy rút hồ sơ và nghỉ học ở trường này đi”). Thứ đến, Đảng đặt các hiệu trưởng cho mọi trường công lập từ tiểu học trở lên: hiệu trưởng phải là thành viên của đảng; ngoài ra còn có bí thư đảng, đảng đoàn trong trường học để kiểm soát mọi giáo viên và học sinh, mọi chương trình và hoạt động. Mỗi cậu đoàn viên có bổn phận theo dõi thầy và bạn của mình. Đảng soạn sách giáo khoa; giáo khoa là pháp lệnh, không được giảng dạy ra ngoài, nhất là các môn khoa học nhân văn.

Chính vì thế mà vào năm 1960, một thày giáo bạn của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bị đau, đã nhờ ông dạy giúp hai giờ môn sử. Bài học hôm ấy nói về Thế chiến thứ hai kết thúc với sự đầu hàng vô điều kiện của Nhật Bản. Bất bình trước hành vi trắng trợn xuyên tạc lịch sử của sách giáo khoa viết rằng Thế chiến này kết thúc là nhờ Hồng quân Liên Xô đánh bại quân đội Nhật, nhà thơ đã thẳng thắn giảng cho học sinh biết sự thật là quân Nhật thua quân Đồng minh vì hai quả bom nguyên tử của Mỹ. Cái giá của viêc “coi thường” giáo khoa này là hai tháng sau ông đã bị nhà cầm quyền kết án và đẩy vào lao ngục, khởi đầu cho cuộc đời vào tù ra khám 27 năm dưới bàn tay sắt máu của chế độ.

Tháng 6-2009, cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, 28 tuổi, đang dạy ở trường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam, bị buộc thôi việc vì “đã vi phạm nghiêm trọng trong việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo; sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà nước; xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhập khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục”. Việc “truyền bá” này chính là cô đã đề cập với các em học sinh một số bài viết trên các trang mạng hải ngoại như Talawas và Tienve.org với mục tiêu “hướng dẫn các em biết cách tự học, tự đọc, tự tìm tòi phân tích thông tin”.

Ngoài ra, Đảng đặt ra hệ thống quản lý giáo dục (bộ, ty, sở, phòng) từ trung ương tới địa phương: tỉnh, thành, quận, huyện. (VN Cộng Hòa chỉ có miền và tỉnh). Mục tiêu của hệ thống quản lý này là kiểm soát từ học đường đến gia đình, từ thầy đến trò để tất cả luôn nằm trong bàn tay của đảng. Còn nhân sự quản lý giáo dục đều xuất thân từ hệ thống các trường đảng Nguyễn Ái Quốc vốn có khắp mọi tỉnh. Chưa hết, Đảng buộc môn chính trị trong các trường là môn học chính khóa với rất nhiều tiết học (thậm chí còn buộc như thế đối với các đại chủng viện).

Đảng còn đoàn ngũ hóa học sinh sinh viên qua tổ chức đội (Thiếu nhi Tiền phong), đoàn (Thanh niên CS) nhằm tẩy não và nhồi sọ thế hệ trẻ về lòng kính yêu “bác” và việc bước theo “đảng”. Đấy là chưa kể quân đội và công an cũng là nơi đảng nặn ra những kẻ “chỉ biết còn đảng còn mình”, “trung với đảng” (trước), “hiếu với dân” (sau).

Hậu quả của “nền giáo dục” bị đảng hóa, độc quyền hóa, chính trị hóa như thế thì vô số và chỉ có thể là thê thảm, tai hại. Ngay trên trên lãnh vực giáo dục, đó là ông thầy cần “hồng” hơn “chuyên”. Từ đó sinh ra nạn giáo sư và giáo viên sẵn sàng cấm sinh viên học sinh xuống đường biểu tình chống Tàu cộng xâm lược, đuổi học những sinh viên yêu tự do, dân chủ (như Nguyễn Phương Uyên, Phạm Lê Vương Các), để cho công an vào trường bắt trò của mình. Nạn “nhà giáo ưu tú” làm dư luận viên như Trần Đăng Thanh, Hoàng Chí Bảo…

Ngày 18-04-2015, theo BBC, phó giáo sư đại học quốc gia Hà Nội Vũ Quang Hiển thản nhiên phát biểu: “Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, VN không có ngược đãi đối với mọi người…. Còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho rõ chính sách của nhà nước VN thời bấy giờ… chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy. Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc”. Rồi nạn giáo viên thiếu kiến thức (“đứng nhầm bục”) và vô tư cách, như đổi tình lấy điểm, buộc học sinh phục vụ sinh lý cho mình và cho các quan chức (ví dụ tại trường thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang).

Nạn giáo viên coi học sinh và gia đình là nơi để làm tiền bằng cách dạy thêm, thu đủ kiểu chi phí ngoài học phí, và mỗi năm đến ngày Nhà giáo VN thì vòi tiền vòi quà cách trắng trợn. Về học sinh thì cũng có nạn hồng hơn chuyên: không ý thức về hoàn cảnh đất nước (để đảng lo), không băn khoăn về bộ mặt chế độ (để đảng làm), không tham gia các cuộc biểu tình yêu nước (thậm chí làm rào chặn đoàn biểu tình, phá đám việc tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ), sẵn sàng làm dư luận viên giúp đảng (tự hào đó là bản lĩnh chính trị). Về đức dục thì có nạn gian dối (tác phẩm của thầy, trò nhận biểu diễn; tập trước những cuộc thi điển hình, kiểu mẫu), nạn bạo hành (đánh bạn, đánh thầy), nạn vâng lời tối mặt, thiếu tinh thần độc lập.

Về trí dục thì nạn học đối phó, học để thi, để lên lớp, không phải để hiểu biết; học kiểu từ chương, không có tinh thần tự tìm, tự hiểu; làm bài quy cóp, làm bài theo văn mẫu. Về giáo khoa, thì giáo khoa của các môn nhân văn như công dân, văn, sử, địa, đầy rẫy những xuyên tạc lịch sử (“30% sự thật, 70% gian dối theo giáo sư Hà Văn Thịnh), đề cao đảng và chế độ, lâu lâu lại đề cao Tàu cộng hay che giấu những hành động xâm lăng của Bắc phương (khiến thui chột lòng yêu nước), dạy lòng căm thù, nhất là căm thù những ai bị đảng coi là địch (khiến tiêu biến lòng nhân ái vị tha). Mới đây có loại sách dạy kỹ năng sống bằng cách ăn phân gà, đi trên miểng chai, cưa bom đạn.

Giáo khoa các môn khoa học kỹ thuật thì biên soạn ẩu tả, sai lạc. Ngoài ra, có nạn sách học đổi từng năm, khiến em không thể dùng sách của anh được. Về cơ sở: đa phần xuống cấp, xập xệ, nhất là những vùng sâu vùng xa, thiếu những học cụ hiện đại. Lại có nạn tham nhũng trong việc cung cấp các phương tiện như máy vi tính, bảng tương tác điện tử, việc cung cấp đồng phục, việc xây dựng nhà vệ sinh. Rồi ngoài học phí (tiểu học và trung học công lập, một kiểu bóc lột về mặt vật chất sau kiểu bóc lột tinh thần là tẩy não, nhồi sọ, diệt ý chí, trấn áp tự do), còn đủ trăm thứ phí học đường, khiến gia đình càng thêm khánh kiệt.

Hậu quả của nền giáo dục CS trên toàn xã hội là trình độ văn hóa chung của xã hội và đất nước xuống cấp trầm trọng: bằng giả tràn lan, đủ thứ tiến sĩ giấy, giáo sư dổm. VN không có những tác phẩm văn hóa, phát minh khoa học, sáng chế kỹ thuật mang tầm mức quốc tế, hoàn vũ. Tình trạng đạo đức ngày càng băng hoại: chẳng còn tình làng nghĩa xóm, nghĩa đồng bào tình đồng loại. Xã hội đầy ứng xử vô văn hóa, gian dối và bạo lực. Ứng xử vô văn hóa như xả rác bừa bãi, không tôn trọng luật đi đường, phá hoại công trình công cộng.

Gian dối trong giao tế, làm ăn, tạo sản phẩm. Ra nước ngoài thì ăn cắp, buôn lậu. Bạo lực học từ nhà trường và từ việc nhà nước dùng bạo lực với dân. Nền giáo dục đó cũng tạo ra những công an tàn ác với dân, mù quáng tuân lệnh, làm luật kiếm tiền; những viên chức tham nhũng bóc lột, dối gian lừa đảo, hứa hẹn hão huyền; những nhà báo dối trá, ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ; những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình khôn ngoan, hoặc còn mải mê kiếm tìm danh lợi; những bác sĩ y tá vô lương tâm, chỉ biết khai thác khổ đau bệnh tật của đồng loại.

Bản chất con người vốn dị ứng với gian dối và bạo lực, chẳng ai muốn bị lừa gạt và hành hạ, trừ những kẻ mang ý đồ xấu, sử dụng 2 thứ đó với người khác. Thế mà nền giáo dục CS lại xây trên gian dối và bạo lực, nhằm duy trì chế độ, thành ra nó hoàn toàn và vĩnh viễn không có khả năng giáo dục con người. Muốn canh tân giáo dục, việc đầu tiên là phải thay đổi chế độ chính trị.

Image may contain: 8 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 1 person