Nhịn đói và nhịn khát được bao lâu thì tử vong?

Nhịn đói và nhịn khát được bao lâu thì tử vong?

Một người có thể nhịn đói được khoảng 3 tháng trước khi nguy hiểm đến tính mạng. (Hình minh họa: Getty Images)

LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com.

Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh

Câu hỏi mà nhiều người vẫn thắc mắc là, người ta có thể nhịn đói hay nhịn khát được bao lâu thì nguy hiểm đến tính mạng?

Nếu giả sử bạn muốn nhịn đói?

Trong vòng từ một đến hai ngày sau bữa ăn cuối cùng, cơ thể sẽ cạn kiệt nguồn đa đường gylycogen chứa trong lá gan và bắp thịt. Phần lớn năng lượng cần thiết sẽ được đáp ứng bằng cách đốt lượng mỡ béo dự trữ thành ra chất ketones. Vấn đề là tế bào máu và tế bào não không thể sử dụng chất ketones biến ra từ mỡ, mà phải cần đến đường glucose. Để có được glucose, cơ thể phải đốt, tiêu thụ bắp thịt. Vì thế những người nhịn đói lâu ngày sẽ vừa mất mỡ và mất bắp thịt, có khi mất nhiều bắp thịt hơn là mỡ. Cũng vì lý do này, nhịn đói dài hạn để xuống cân không thể là phương pháp an toàn và khôn ngoan cho lắm.

Trong trường hợp một người có nhiều mỡ hơn trung bình, thuộc loại trên cân, vẫn có thể “đói đến chết” nếu không có đủ bắp thịt để cho cơ thể “ăn khi đói”. Ví dụ, trái tim là một khối bắp thịt, mà nếu mất bắp thịt thì tim sẽ yếu và sẽ ngừng đập. Vì thế, để khỏi nguy hiểm đến tính mạng, chúng ta chỉ có thể nhịn đói tối đa khi trọng lượng cơ thể giảm đi còn một nửa, bất kể trong lượng ban đầu.

Cơ thể con người thường xuyên mất nước, vì thế uống một ly nước một ngày sẽ không đủ cung ứng cho nhu cầu. (Hình minh họa: Getty Images)

Do đó tối đa, một người có thể nhịn đói được khoảng 3 tháng trước khi nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, một và trường hợp, nếu thỉnh thoảng có được tiếp tế thêm chút đồ ăn, nhất là từ protein thì có thể kéo dài thêm chút đỉnh. Nói chung, nếu có nhiều mỡ thì mức độ sống còn sẽ đỡ hơn là người ốm một tí.

Trên đây là nói đến trường hợp tận mạt như bị đói trên biển hay trên hoang đảo chẳng hạn. Bình thường, một người có thể nhịn đói được ba tuần lễ mà không nguy hiểm. Thí dụ như ngài Mahatma Gandhi đã nhịn đói nhiều lần trong đời, mỗi lần liên tục trong 21 ngày mà vẫn không hề hấn gì.

Chết đói là một chuyện, nhưng chết khát là một vấn đề khác.

Tối thiểu 60% trọng lượng cơ thể người ta là nước, và mỗi từng tế bào trong cơ thể cần đến nước để hoạt động. Nước giúp cho chất nhờn trong các khớp xương không bị khô, giúp điều hòa thân nhiệt qua tuyến mồ hôi và hơi thở, và còn giúp giải trừ chất độc cũng như chất uế.

Tối thiểu thời lượng mà cơ thể có thể chịu đựng khi không có nước là một tuần lễ, dựa trên quan sát về những người cuối đời, khi mà nguồn tiếp tế nước và thức ăn bị cúp.

Tuy nhiên, nói một tuần cũng là hơi nới tay một chút, vì những bệnh nhân cuối đời thi thoảng cũng còn được tiếp liệu chút đỉnh thức ăn để cầm chừng. Thường thường, mức chịu đựng tối đa là 3 đến 4 ngày, như khi bị khát dưới ánh nắng mặt trời chẳng hạn.

Những gì xảy ra khi ta bị thiếu nước?

Chúng ta mất nước cho dù ngồi không một chỗ, qua mồ hôi, hơi thở, và tiểu tiện hay đại tiện. Trong trường hợp vận động nhiều, một người có thể mất đi từ 1 đến 1.5 lít nước trong vòng một tiếng đồng hồ qua mồ hồi xuất ra. Nếu không được bồi hoàn kịp thời, thể tích nước cơ thể sẽ hao hụt nhanh chóng, và có khi làm tuột áp suất máu. Khi mà lượng máu không thể luân lưu trong cơ thể, áp suất máu giảm tối đa, nhiệt độ cơ thể tăng vọt, nguy cơ tử vong sẽ tăng cao.

Cơ thể con người thường xuyên mất nước, vì thế uống một ly nước một ngày sẽ không đủ cung ứng cho nhu cầu. Thể tích nước tối thiểu cần khoảng độ 8 ly nước, bao gồm cả nước có trong thức ăn. Khi mất nước quá 10% sức nặng của cơ thể, cơ thể ở trong tình trạng nguy cập, nếu không thay đổi kịp thời, tử vong khó tránh khỏi.

So ra, nhịn khát dễ chết và còn mau chết hơn là nhịn đói. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta nhịn đủ thứ đến mức độ nguy hiểm, nhất là người lớn tuổi khi mà nguồn dự trữ năng lượng không còn sung mãn nữa. Cũng vì thế, bình thường, ta không nên để thiếu nước. Đồ ăn có thể có chứa nước, nhưng nước uống là nguồn tiếp liệu đơn giản nhất, lại quan trọng nhất và tốt nhất. (BS. Hồ Ngọc Minh)

79 CSGT, TTGT ‘thở phào nhẹ nhõm khi tòa án tuyên “CHỈ CÓ ĐƯA HỐI LỘ BỊ XỬ, CÒN NHẬN THÌ KHÔNG”

Phuc Dinh and 3 others shared a link.
CHINHTRIVN.NET
Như vậy, vụ án liên quan đến 79 CSGT, TTGT bị “tố” nhận hối lộ nhưng đều không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Một điều vô cùng khó hiểu trong lập luận của toà án ND TP. HCM.

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CUỘC SỐNG

Người ta thường có một thái độ rất mông lung trước cái chết.  Một đàng người ta không muốn nhắc đến nó, vì sợ rằng sẽ có điều không may xảy đến, nhưng đàng khác, người ta lại rất tò mò về nó, muốn tìm hiểu và khám phá nó.  Dù sao đi nữa, dù có muốn hay không, chúng ta đều biết rằng một ngày nào đó mình sẽ phải đối diện với cái chết.  Cái chết trở thành một phần của sự sống, của thân phận thụ tạo.  Nó là điểm chấm hết cho một cuộc hành trình.  “Cái chết” là một từ ngữ buồn bã.  Nó làm tắt đi tất cả nguồn sức sống, sinh lực.  Nó đưa ta về với vùng trời u ám mà chẳng ai muốn vào.  Tuy nhiên, giữa cuộc sống này, “cái chết” lại mang rất nhiều màu sắc.  Nói cách khác, có rất nhiều loại “chết”, trong đó, có cái làm ta buồn, nhưng cũng có cái làm cho ta được trở nên giá trị hơn.

Kiểu chết mà ta nghĩ đến đầu tiên là cái chết sinh học.  Cái chết này mang đến cho người ta sự tang thương chia cắt.  Bản thân người chết lẫn người thân của họ đều phải đối diện với sự tang tóc, đau buồn.  Cái chết này làm người ta đặt dấu hỏi về ý nghĩa của sự hiện hữu trên đời.  Có đó rồi mất đó.  Từ bụng mẹ chui ra rồi trở về lòng đất.  Có một thời ta đã không hiện hữu, rồi sau một thời gian ngắn được hít thở chút không khí, ta lại trở về với cái “không hiện hữu”.  Ta có thể còn tồn tại không ký ức, trong nỗi nhớ, nơi kỷ niệm, nhưng ta giờ đây chẳng còn là gì nữa.  Một thoáng mây bay, một kiếp hoa dại.  Cái chết này cho thấy sự mỏng dòn, yếu đuối của bản thân.  Nó đập tan tất cả mọi tham vọng, ngạo nghễ.  Nó sẽ ập đến bất cứ lúc nào nó muốn, không phân biệt thanh xuân hay tuổi già; giàu sang hay nghèo khổ; thông minh hay ngu dốt; khoẻ mạnh hay bệnh tật…  Nó là kẻ thù đáng sợ nhất của con người và mãi mãi, con người chẳng bao giờ có thể chiến thắng được nó.  Còn mang thân xác này, là còn phải đối diện với nó vào một khoảnh khắc nào đó ta chẳng hay.

Cái chết thứ hai là kiểu chết về tinh thần.  Cái chết này không làm cho người ta tắt thở, không đưa người ta vào lòng đất, nhưng đục khoét con người và làm cho con người “sống không bằng chết.”  Đó là khi người ta mất hết nhuệ khí, chẳng còn hy vọng.  Người ta chỉ có đó, hít thở không khí, chứ chẳng hề “sống” thật sự.  Từng ngày tháng dài trôi qua một cách vật vã.  Người ta không thấy được ý nghĩa của cuộc sống, không biết mình hiện hữu để làm gì, không biết tại sao mình lại được sinh ra trên đời, và đặc biệt, họ không thấy mình được yêu thương.  Họ chẳng biết yêu là gì.  Không được sưởi ấm và che chở bởi tình cảm nhân sinh.  Họ chỉ sống bằng một thân xác chơ vơ, ngày ngày kiếm sống như bao loài động vật khác.  Họ bị cô lập hoặc tự mình cô lập trong thế giới này.  Họ nhốt mình trong quá khứ buồn, trong những ký ức xa xưa, đến nỗi chẳng còn một ý chí thúc đẩy họ vươn tới, hướng về tương lai phía trước.

Cái chết thứ ba mang tính luân lý và tôn giáo.  Đó là cái chết của người không còn sống theo tiếng lương tâm ngay lành mách bảo.  Họ chẳng còn ý thức gì về sự chính trực, sự công bằng, về đạo đức.  Họ phạm tội này đến tội khác nhưng cứ xem đó như là niềm hãnh diện của mình, chứ không ý thức rằng, cứ mỗi lần phạm tội là họ tự chà đạp nhân phẩm của mình, làm cho sự hiện hữu của mình mất đi ý nghĩa.  Cứ để ý mà coi, người ta càng sống trong tội, càng cảm thấy bất an, sợ sệt.  Còn người nào càng tích trữ nhân đức cho mình thì càng sống cách an nhiên, tự tại, vui sướng.  Khi người ta thấy hạnh phúc, là khi sự sống trong họ trở nên trào tràn, họ thấy mình sung mãn năng lượng để vui hưởng cuộc sống.  Người nào không đặt đời mình trên nền tảng các nhân đức thì sẽ thấy những gì mình làm chẳng có giá trị tốt đẹp nào cả.  Càng sống trong đầm lầy của tội, người ta càng tự thấy mình dần chết đi.  Chính họ, chứ không phải ai khác, kết án mình và huỷ hoại sự sống của mình.

Cái chết cuối cùng đáng được nhắc tới lại có âm vị khác hẳn.  Nó là cái chết mà ai ôm ấp nó thì trở thành anh hùng và sống mãi trong trái tim của mọi người.  Người ta thường gọi cái chết thứ tư này bằng hai chữ rất thân thương: hy sinh.  Hy sinh là tiêu hao đi, là chịu thiệt thòi (vốn dĩ là những điều chẳng ai muốn), nhưng người ta chấp nhận nó vì một mục đích cao cả, và người ta chỉ có thể đón nhận nó bằng lực đẩy của tình yêu.  Phải, cái gì gắn liền với tình yêu thì luôn cao đẹp.  Điều kỳ lạ là, cứ mỗi lần người ta “chết” theo kiểu này, người ta lại càng cảm thấy như mình đang sống và sống cách sung mãn hơn, đến nỗi có thể nói như thế này: muốn sống thì phải biết hy sinh, phải biết chết đi để được sống.  Sống giữa đời, nếu không có những kiểu “chết” này thì cũng sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa.  Cuộc sống của chúng ta có trở nên đẹp, chính là nhờ cái chết này.  Dù là nhỏ nhoi, dù là ít ỏi, nhưng mỗi lần ta hy sinh lợi ích của mình cho người khác, sự mất mát đó lại trổ sinh hoa trái, sự sống trong ta lại trở nên dồi dào và ta cảm thấy có một niềm vui thiêng liêng nào đó tràn ngập tâm hồn không sao diễn tả nổi.

Chúng ta sẽ là “người” hơn khi biết hy sinh cho nhau.  Đó không chỉ là bí quyết của cuộc sống mà còn là ơn gọi, là sứ mạng, là mệnh lệnh của Tạo Hoá dành cho chúng ta.  Khi ta tự nguyện thực hành những hy sinh trong cuộc sống, sự sống của ta trở nên đong đầy, đến nỗi, cả khi phải đối diện với cái chết sinh học, ta chẳng còn cảm thấy sợ hãi nữa; ta sẽ thấy mình được đong đầy bởi tình yêu nên cũng không còn cái chết tinh thần; và nhờ tích góp nhiều nhân đức, ta cũng thoát khỏi cái chết luân lý.  Một chút hy sinh ở đời này là góp phần dựng xây hạnh phúc ở đời sau.  Hay đúng hơn, ngay khi ta biết hành động với tình yêu trong những sự hy sinh nhỏ bé, chính là ta đã nếm được sự viên mãn của tâm hồn rồi.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

From Langthangchieutim

Việt Nam gia tăng vay nợ ODA trong 3 năm tới

Việt Nam gia tăng vay nợ ODA trong 3 năm tới

Việt Nam sẽ gia tăng vay vốn ODA nước ngoài thêm 60.000 tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2016-2020 và sẽ giảm nguồn vốn vay quốc nội để bảo đảm an toàn nợ công.

Truyền thông trong nước loan tin vừa nêu vào ngày 12 tháng 11, dẫn nguồn từ Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho biết trong cùng ngày Quốc Hội vừa thông qua nghị quyết điều chỉnh như vừa nêu của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.

Ban đầu Quốc hội chốt mức vốn vay là 300.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu cho đầu tư phát tiển, xây dựng cơ sở hạ tầng, chính phủ Việt Nam đã ký kết kết các hiệp định vay vốn ODA với tổng số vốn cần bố trí để triển khai thực hiện theo cam kết với nhà tài trợ vượt mức trần này. Việc điều chỉnh thêm 60.000 tỷ đồng vì vậy được cho là cần thiết nhưng việc giữ mức trần tổng vốn đầu tư 2 triệu đồng vẫn cần đảm bảo để kiểm soát chi tiêu nợ công và bội chi.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Nguyễn Đức Hải cũng cho biết vào sáng ngày 12 tháng 11, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua việc sử dụng nguồn dự phòng trong phạm vi 2 triệu tỷ đồng của Kế hoạch đầu tư công trung hạn để đầu tư phát triển; mặc dù có những ý kiến của Đại biểu Quốc hội can ngăn vì cho rằng thu ngân sách trung ương không đạt kế hoạch, không cân đối được vốn.

Năm 2018, dư nợ công của Việt Nam ước tính đạt 3,4 triệu tỷ đồng, tăng so với năm 2017 (3,1 triệu tỷ đồng). Với mức dư nợ công hiện nay, bình quân mỗi người Việt gánh hơn 34 triệu đồng.

Suy cho cùng thì cách hành xử của người Việt bấy lâu nay chẳng khác nào những con cua trong cái rổ.

Van H Pham
Suy cho cùng thì cách hành xử của người Việt bấy lâu nay chẳng khác nào những con cua trong cái rổ.

Mà cách hành xử này không riêng gì nhà nông với nhà buôn hay ngược lại, hầu như bất kỳ lĩnh vực nào, người ta cũng sẵn sàng kéo nhau vào nồi để chết!
*********

Từ chuyện cái rổ cua đến chuyện nhà buôn – nhà nông

Một người đi đường, thấy người bán cua bên đường, ông này đặt một rổ cua to tướng chất đầy cua và không đậy nắp, ngồi ung dung uống trà, hút thuốc, mắt lơ đãng. Ông đi đường liếc thấy rổ cua không đậy nắp thì quay xe lại nhắc ông bán cua đậy rổ lại kẻo mất cua. Ông bán cua cười to, cảm ơn rồi nói rằng nếu cua chỉ có một con duy nhất trong rổ thì không đậy sẽ mất ngay, chứ rổ chứa rất nhiều cua sẽ không mất con nào bởi tự chúng sẽ kéo nhau xuống lại đáy rổ, con nào vừa lòm ngòm bò lên miệng rổ thì con khác, thậm chí hàng chục con khác sẽ lôi xuống…

Sở dĩ giữa lúc có hàng trăm chuyện để quan tâm, bài viết lại đề cập đến cái rổ cua và chuyện nhà buôn, nhà nông Việt Nam bởi lẽ, người Việt giết người Việt đã quá lâu và điều này đang thành thói quen; Dường như người Việt chưa bao giờ ngừng kéo nhau xuống hố, điều này chẳng khác nào những con cua tự níu càng với nhau để kéo vào rổ, không cho con nào thoát khỏi rổ, và kết quả là cả rổ cua vào nồi! Hiện tại, khi nhà nông Việt Nam đang quằn quại trên cánh đồng vì thanh long, khoai lang, rau, củ, quả ế ẩm, không có chỗ để bán tháo thì ngoài thị trường, nhà buôn vẫn hét giá trên trời để lấy lãi khủng. Nói cho cùng, đây là kiểu chơi rất ích kỷ và tự giết hại lẫn nhau của người Việt.

Tại sao? Tại qua rất nhiều năm quan sát và điều này cũng không cần quan sát mà nó hiển hiện trước mắt, dường như người ta phải lắc đầu ngao ngán cho mối quan hệ giữa nhà buôn và nhà nông Việt Nam. Trong khi Việt Nam là nước chưa thoát khỏi nông nghiệp và có vẻ như vĩnh viễn không bao giờ thoát khỏi nông nghiệp, nền kinh tế nông nghiệp là nền tảng kinh tế dựa trên thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình của quốc gia hình chữ S, nhiệt đới gió mùa này. Và muốn giàu, muốn giữ hệ sinh thái tốt, không còn cách gì hơn là phải phát triển nông nghiệp sạch, nông sản cao cấp. Mà muốn vậy, phải có đầu ra cho nông nghiệp. Chưa cần bàn đến các chính sách vĩ mô cho nông nghiệp, ở đây, mối tương tác giữa nhà nông và nhà buôn có tính sống còn.

Không ai khác nhà buôn khi nói tới đầu ra cho nông sản nhà nông và cũng không ai khác nhà nông khi nói đầu vào cho nông sản nhà buôn. Thế nhưng dường như tại Việt Nam, nông nghiệp không phải là nền kinh tế hay thế mạnh, nền tảng kinh tế của gia đình, xã hội mà là sự bất đắc dĩ. Nghĩa là “chuột chạy cùng sào bâu vào đám ruộng,” nghĩa là không còn làm được việc gì nữa thì người ta chuyển sang làm nông để sống qua ngày.

Và trong cái sự “sống qua ngày” ấy, có cả thử vận và mưu cầu kinh tế mỗi khi có đầu ra cho nông sản. Chẳng hạn như thanh long có giá, cau non có giá, khoai lang có giá thì người nông dân chăm chuốt, nhân rộng vườn cau, vườn khoai, vườn thanh long với hy vọng cuối vụ khấm khá hơn. Nhưng cái sự “chăm chuốt” của nhà nông cũng ẩn chứa mối nguy không nhỏ, dùng thuốc hóa học kích thích tăng trưởng lá, củ, quả là sở trường của nhà nông Việt Nam, sản xuất dòng thuốc này thì phải nói tới người Trung Quốc.

Thế rồi, đùng một cái, nhà buôn bên ngoài (tức Trung Quốc) không tới mua hàng, doanh nghiệp Việt Nam cũng không tới mua hàng, bỏ lơ nhà nông. Nhà nông chết đứng bên cạnh đồng hy vọng. Và người ta cũng thường hay nói với nhau, na ná kiểu Bùi Giáng thi sĩ là “anh những tưởng đầu đường thương xó chợ/ Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau,” điều này ám chỉ mối tương đồng cảnh ngộ, trong cõi đau đớn người ta dễ thương nhau, chia sẻ nhau và hiểu thấu nhau hơn. Nhưng nghe ra cái đạo lý này chỉ có trên lý thuyết, trên bàn rượu hoặc trong các cuộc ngâm ngợi trà dư… Trong thực tế, sự tàn nhẫn của người Việt dành cho nhau khốc liệt đến độ khó tin!

Lấy một ví dụ nhỏ về mối tương tác giữa nhà nông với nhà buôn. Trong hai tháng vừa qua, tỏi Lý Sơn rớt giá thê thảm, thanh long mang ra đường để đổ, khoai lang chất núi trên đồng, nhà nông chỉ mong có chỗ để bán tháo cho dù bán mỗi ký lô lấy hai ngàn đồng, ba ngàn đồng cũng đỡ được đôi chút. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ khoai lang, thanh long, tỏi tại Việt Nam là thị trường khá mạnh. Nhưng cái thị trường này bị chính nhà buôn bóp chặt, khóa mất sức mua của người dân.

Cụ thể, mặc dù giá khoai rớt xuống còn 500 đồng mõi ký, thanh long bán tháo cũng 500 đồng mỗi ký, tỏi Lý Sơn thì còn 50,000 đồng mỗi ký. Nhưng thị trường lại rất quái lạ, khoai lang vẫn dao động từ 15 ngàn đồng đến 30 ngàn đồng, tùy vào loại, thanh long cũng vậy, về chuyện tỏi, tỏi Trung Quốc tràn ngập thị trường với giá tương đương tỏi Lý Sơn!

Rõ ràng, ở đây, thay vì hạ giá các mặt hàng nông sản để kích thích sức mua, giả sử như người ta mua 15 ngàn đồng khoai lang, trước đây được 1 ký lô, giờ được ba ký lô, không chừng người ta sẽ mua thêm 3 ký nữa để mang về thái nhỏ, phơi khô cho mùa mưa. Ở đây, với giá 5 ngàn đồng thì nhà buôn đã lãi được chừng 3 ngàn đồng mỗi ký, nông dân vẫn có thể bán được 2 ngàn đồng mỗi ký chứ không đến nỗi ọp ẹp 500 đồng rồi mang chất thành núi trên đồng. Nhà buôn đã không nghĩ đến nỗi khổ của nhà nông và chỉ nghĩ đến mức lãi. Và khi mọi sự đều qui ra tiền, nó sẽ có thế giới ngầm của nó. Mặc dù nông dân rên xiết nhưng nhà buôn lại mặc định với nhau về mức giá trên thị trường, cho dù nhà nước có can thiệp chăng nữa thì bất quá nhà buôn tạm nghĩ vài ngày không bán mặt hàng nhà nước qui định giá. Như vậy, vô hình trung nhà buôn vì ham lãi mà hại đồng loại, đồng thời cũng hại chính mình.

Bởi một khi nông sản không ổn định, tâm lý nhà nông không ổn định và nguồn cung không ổn định, nhà buôn Việt buộc phải tìm một đầu vào khác, ở đây, hàng nông sản Trung Quốc sẽ là cái chạm đầu tiên của nhà buôn Việt. Và cái giá phải trả khi buôn hàng Trung Quốc không hề nhỏ chút nào, nó không những nguy cơ cho mỗi nhóm ngành nghề mà nó là nguy cơ dân tộc, nguy cơ đến sức khỏe dân tộc & sinh mệnh quốc gia. Hệ lụy của nó thì khỏi phải nói thêm.

Như vậy, suy cho cùng thì cách hành xử của người Việt bấy lâu nay chẳng khác nào những con cua trong cái rổ. Mà cách hành xử này không riêng gì nhà nông với nhà buôn hay ngược lại, hầu như bất kỳ lĩnh vực nào, người ta cũng sẵn sàng kéo nhau vào nồi để chết!

Image may contain: one or more people, hat, outdoor and nature
Image may contain: nature and outdoor
Image may contain: plant, nature and outdoor

Làm thế nào để nghe tiếng Chúa khi (bạn nghĩ) Ngài thinh lặng?

 Làm thế nào để nghe tiếng Chúa khi (bạn nghĩ) Ngài thinh lặng?

Dường như có một mẫu sẵn về cách thức Thiên Chúa nói với chúng ta. Đôi khi, chúng ta nghĩ về cuộc hoán cải của Sa-un (tên cũ của thánh Phao-lô), người đã nghe tiếng Thiên Chúa qua những đám mây: “Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Có những lúc chúng ta chờ đợi và muốn nghe tiếng của Ngài khi chúng ta cảm thấy bối rối và cần câu trả lời. Ngày nay, tôi không nghĩ rằng sẽ không thể nghe tiếng Chúa theo nghĩa đen. Tôi biết nhiều người nói rằng họ đã nghe tiếng Chúa và mô tả cách thức họ đã nghe như thế nào.

Tuy vậy, sẽ rất nguy hiểm, nếu chúng ta bị cuốn vào những ý tưởng đó mà chính chúng ta không nghe thấy tiếng Thiên Chúa xung quanh chúng ta. Thực vậy, chúng ta thường chờ đợi những khoảnh khắc ‘ngoại thường’ mà chúng ta bỏ lỡ những cách thức mà Thiên Chúa đang nói với chúng ta.

Chúng ta có thể làm gì để khắc phục những lúc như vậy? Trước hết, chúng ta nên biết rằng việc học cách nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa không phải là chuyện một sớm một chiều, nhất là khi chúng ta đã bị định hình bởi một ý tưởng nào đó trong một thời gian dài. Thứ đến, ngay cả khi chúng ta học cách nghe Ngài nói với chúng ta, thì chúng ta vẫn bị lôi cuốn vào những chuyện thường ngày mà có thể dễ dàng bỏ lỡ tiếng Chúa. Chúng ta cần phải dành thời gian và phải có một trái tim quảng đại và tâm trí rộng mở mới có thể nghe được lời Ngài.

Sau đây là 5 cách mà chúng ta có thể nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa.

  1. Một trực giác:

Chúng ta thi thoảng cũng có một “cảm giác” phải làm gì đó mà chúng ta không biết tại sao. Cảm giác ấy có thể là phải rời xa ai hay một tình huống nào đó, phải cầu nguyện cho ai đó, hoặc cảm thấy một điều gì đó sắp xảy ra và bạn cần sự trợ giúp của người khác. Một trong những kinh nghiệm về trực giác gần đây nhất của tôi là khoảng bốn tháng trước. Tôi đã có mặt tại một hội nghị và có cơ hội tuyệt vời để gặp Hallie Lord và nhận được cuốn sách đã được cô ấy ký tên: “Phía sau sự sợ hãi: Cách Tôi Tìm Thấy Bình An”. Trong khi xếp hàng, tôi cảm thấy cần phải gửi một bản sao cho người bạn linh mục của tôi. Tôi không hiểu tại sao, nhưng tôi chỉ biết là phải làm điều ấy. Vào sáng thứ Hai sau đó, tôi đã đi đến cửa hàng chuyển phát nhanh và gửi nó cho cha bạn, cuốn sách được ký bởi Hallie và với một lưu ý giải thích lý do tại sao tôi đã gửi nó cho cha. Khoảng một tuần sau, tôi nhận lại được một tin nhắn từ cha với nội dung: linh tính của tôi rất đúng và cha ấy đã tìm thấy một cuốn sách chứa đầy sự khôn ngoan. Khoảnh khắc đó làm tôi xác tín rằng Thiên Chúa thực sự nói với chúng ta qua “trực giác”.  Hãy lắng nghe nó, theo dõi nó, vì chính Thiên Chúa đang nói với chúng ta.

Woman, 32 years old, with open arms raised to angel in the clouds

2.Âm thanh của thế giới xung quanh chúng ta:

Đôi khi, chúng ta không thấy Thiên Chúa đáp lời, vì đã có những lần chúng ta không cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta ước ao có được “cảm nghiệm trọn vẹn” về Thiên Chúa sau khi lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, hoặc gặp gỡ Ngài khi xưng tội. Nhưng chúng ta lại không có được những cảm giác ấm áp, yêu thương, vui tươi và yên bình trong tâm hồn mình. Nếu bạn gặp giằng có như thế, bạn hãy thử nhìn ngắm thế giới xung quanh bạn. Chắc chắn, có rất nhiều điều trong thế giới này chưa được đẹp. Nhưng cũng có rất nhiều điều tuyệt vời là một phần công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Đó là cầu vồng trên bầu trời sau cơn bão, âm thanh của tiếng chim hót líu lo, một đứa trẻ cười, sóng biển vỗ bờ, và mặt trời chiếu sáng trên chúng ta, giúp chúng ta có ánh sáng và có cuộc sống tốt đẹp. Hãy nhìn vào tất cả những điều đẹp ấy và nhớ rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa. Thậm chí chỉ cần học biết cách thức thế giới hoạt động như thế nào, một hệ thống hoạt động phức tạp có thể minh chứng cho sự vĩ đại của Thiên Chúa. Khi nhìn thấy những gì chúng ta có thể làm, chúng ta mới chỉ bắt đầu hiểu hơn Thiên Chúa thực sự là ai.

  1. Hành động giữa người khác:

Trong tác phẩm Những Người Cùng Khổ, Victor Hugo viết rằng: “Yêu người khác là phải nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa” và khi chúng ta nhìn mọi người với lòng yêu thương, và sống tử tế với người khác, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa tỏ lộ nơi người ấy. Thiên Chúa là tình yêu, cho nên tất cả mọi hành động yêu thương thực sự phản chiếu hình ảnh Thiên Chúa. Ngay cả khi một người nào đó thực hiện những hành động yêu thương mà chưa nhận ra Thiên Chúa, thì tôi cũng chẳng nghi ngờ rằng Thiên Chúa đang làm việc thông qua người đó.

  1. Cầu nguyện:

Liệu đây có phải là một gợi ý đúng đắn hay không? Nhưng hãy nghĩ về điều này… làm thế nào có động lực để cầu nguyện khi chúng ta không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa? Đôi khi chúng ta cảm thấy như chúng ta đang rơi xuống tận đáy vực thẳm của công việc. Nhưng còn hơn như thế…vào một ngày khác, liệu chúng ta chỉ cảm thấy thường thường thôi chăng? Không phải lúc nào chúng ta cũng cầu nguyện, nhưng hãy nhớ: đôi khi Thiên Chúa chỉ chờ chúng ta hướng lòng lên Ngài để Ngài có thể nói chuyện với chúng ta. Hoặc, có lẽ chúng ta cần thử áp dụng một cách thức cầu nguyện cụ thể: lắng nghe nhiều hơn là nói. Cầu nguyện là một cuộc trò chuyện với Thiên Chúa, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta luôn là những người nói thao thao bất tuyệt. Thực vậy, làm thế nào chúng ta có thể nghe tiếng Chúa khi chúng ta không cho Ngài cơ hội để nói chuyện? Điều này không có nghĩa là chúng ta KHÔNG BAO GIỜ nên nói với Thiên Chúa những gì chúng ta đang trải qua. Chúng ta nên thân thưa với Ngài, và Thiên Chúa cũng muốn chúng ta làm như vậy. Tuy nhiên, Ngài cũng muốn chúng ta hướng lòng lên Ngài, vì có thể chúng ta chỉ nghe thấy tiếng Ngài trong sự thinh lặng của tâm hồn. Ngoài ra, chúng ta cũng nên viếng Thánh Thể. Hãy ở cùng Ngài trong sự hiện diện đích thực của Ngài. Còn điều gì tuyệt hơn những giây phút đó?!

  1. Kinh Thánh:

Một trong những cách cầu nguyện yêu thích của tôi là Lectio Divina. Về cơ bản, đó là cách đọc cẩn thận bản văn Kinh Thánh, hiểu bản văn, suy gẫm ý nghĩa bản văn, và cầu nguyện với bản văn. Hãy để tôi nói cho bạn cách cầu nguyện này tuyệt vời như thế nào! Ngay cả khi bạn đã đọc cùng một đoạn 20 lần, Thiên Chúa vẫn có khả năng chỉ ra điều gì đó cho bạn mà bạn chưa từng nhận ra trước đây. Sau hết, bạn nên đọc Lời Chúa, đọc ngay cả khi đó không phải là Chúa Nhật và để cho Ngài nói chuyện với bạn. Hãy nhớ … có thể không phải là Ngài im lặng … nhưng có thể là chúng ta không lắng nghe.

Nguồn: https://catholic-link.org/how-to-hear-god-when-you-think-he-is-being-silent/

Chuyển ngữ: Pr. Nguyễn Văn Đương, S.J.

ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

ÁNH MẮT THIÊN CHÚA

TGM Ngô Quang Kiệt

 Người làm sao chiêm bao làm vậy. Tâm hồn thế nào sẽ bộc lộ ra ánh mắt thế ấy. 

Hôm nay, Chúa Giêsu ngồi trước cửa đền thờ Giêrusalem quan sát những người bỏ tiền vào hòm dâng cúng trong đền thờ.

Người đã thấy, và đã phán đoán và có thể thấy được tâm hồn của người dâng cúng tiền.

Hàng hàng lớp lớp người đến dâng cúng. Chúa quan tâm tới người bé nhỏ.

Tin Mừng thuật lại: “Có những người bỏ thật nhiều tiền. Có một bà góa nghèo khó đến bỏ vào đó 2 đồng tiền kẽm, trị giá ¼ đồng bạc Roma”.

Thật lạ lùng, biết bao nhiêu người bỏ rất nhiều tiền mà Chúa chẳng quan tâm, mà chỉ quan tâm đến một người nghèo nhất, đó là một bà góa ăn mặc rất đơn sơ.

Ánh mắt quan tâm nên nhìn thấy rõ người đàn bà nghèo khó lạc giữa đám đông. 

Với Trái Tim Nhân Hậu và Ánh Mắt yêu Thương nên Chúa đã nhìn thấy nơi người bàn đàn nghèo khó ấy có một tấm lòng vĩ đại.

Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng. 

Chúa cho biết tại sao Chúa khen bà: “Quả vậy, mọi người đều rút tiền bạc dư thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”…

Chúa đã nhìn thấy tấm lòng của bà. Một tấm lòng quảng đại dám cho đi tất cả những gì cần thiết cho đời sống của mình.

Lời Chúa hôm nay vừa cảnh tỉnh tôi, vừa dậy dỗ tôi về cách sống đạovà về cách nhìn người.

Về cách nhìn người, Chúa dạy tôi đừng chạy theo những người giầu sang phú quý quyền cao chức trọng, nhưng hãy chú ý đến những người bé nhỏ nghèo hèn trong xã hội.

Đừng xét đoán người theo hình thức bề ngoài, hãy biết nhìn bên trong tâm hồn con người.

Có những người địa vị cao sang, nhưng tâm hồn lại thấp hèn.

Có những người nghèo hèn nhưng tâm hồn rất cao thượng.

Có những người giầu có nhưng rất bủn xỉn.

Có những người nghèo khó nhưng rất quảng đại.

Vì thế trong đời sống đạo, Chúa dạy tôi đừng giả hình, vì Chúa nhìn thấu rõ tâm hồn. 

Tôi có thể lừa dối người khác, nhưng không thể lừa dối Chúa.

Đùng khoe khoang, kiêu ngạo. Vì Chúa chỉ yêu thích những tâm hồn bé nhỏ, khiêm nhường.

Đừng tìm chỗ đứng trong xã hội trước mặt người đời, nhưng hãy tìm chỗ đứng trong lòng Thiên Chúa.

 * Lạy Chúa, xin dạy con biết noi gương bà góa nghèo, biết sống đơn sơ chân thật, nhưng luôn quảng đại với Chúa và với anh em. Amen.

         TGM   Ngô Quang Kiệt.    

From Tramtubensuoi

Biển Đông: Lần đầu tiên Mỹ đòi Trung Quốc rút tên lửa khỏi Trường Sa

Tai Do shared a link.

VI.RFI.FR
Trước thềm các hội nghị Thượng Đỉnh ASEAN và Thượng Đỉnh Đông Á EAS tại Singapore (13-15/11/2018), nơi vấn đề Biển Đông chắc chắn sẽ được gợi lên, Washington ngày 09 /11/2018 đã tăng cường đ&aacut…