httpv://www.youtube.com/watch?v=X7WlZ4ihF1Q&t=21s
LINH HỒN THẦY DÒNG ĐÃ CHẾT HIỆN VỀ XIN CẦU NGUYỆN – công giáo /đời sau / thiên đàng hỏa ngục

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=X7WlZ4ihF1Q&t=21s
LINH HỒN THẦY DÒNG ĐÃ CHẾT HIỆN VỀ XIN CẦU NGUYỆN – công giáo /đời sau / thiên đàng hỏa ngục

10 phụ nữ Việt Nam và Thái Lan vừa được giải cứu khỏi nhà thổ ở thành phố Tân Trúc (Hsinchu), Đài Loan.
Trang Asia Times loan tin vừa nêu vào ngày 23 tháng 8.
Vào sáng ngày 21 tháng 8, Cơ quan Di trú Đài Loan phối hợp với cảnh sát Hạt Tân Trúc bố ráp hai nhà thổ và giải cứu được 10 phụ nữ Việt Nam và Thái Lan hành nghề mại dâm ở đó.
Các nhà thổ ở khu đèn đỏ Tân Trúc thường sử dụng phụ nữ nước ngoài qua các công ty môi giới việc làm để ép buộc những phụ nữ đó tiếp khách từ 10 đến 15 người/ngày và phải làm việc liên tục không có ngày nghỉ.
Qua lần bố ráp này, chính quyền Đài Loan bắt giữ hai mẹ con chủ sở hữu nhà thổ với cáo buộc buôn người, một phụ nữ Việt Nam họ Nguyễn, nhân viên của một công ty môi giới việc làm, cùng hai bảo vệ.
httpv://www.youtube.com/watch?time_continue=3&v=G096pq9SQhQ
MÊ DÂM DỤC– Bài Giảng của Thánh Gioan Maria Vianney
MÊ DÂM DỤC
Sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất.
Thánh Gioan Maria Vianney
Mê dâm dục là sự yêu thích các thú vui nhục dục trái ngược với đức trong sạch. Không có tội nào làm suy nhược và phá hủy linh hồn nhanh chóng cho bằng tội đáng xấu hổ này; nó lôi kéo chúng ta ra khỏi bàn tay Thiên Chúa, và ném chúng ta như ném một cục đá vào trong hố sâu bùn lầy hôi thối. Một khi đã chìm trong đống bùn nhơ đó, chúng ta không thể nào thoát ra được. Trong đống bùn đó, chúng đào cho mình một cái lỗ; càng nhúc nhích, chúng ta càng làm cho cái lỗ ra to thêm, rồi từ từ chìm xuống. Rồi chúng ta đánh mất đức tin của mình, chúng ta cười nhạo tôn giáo, không còn mơ ước Thiên Đàng, không còn sợ hãi Hỏa Ngục nữa. Thật bất hạnh biết bao cho những linh hồn sống trong đam mê tội lỗi này! Linh hồn họ đẹp đẽ đến nỗi kéo được sự chú ý của Thiên Chúa để mắt nhìn, như khi người ta nghiêng mình trên một đóa hoa hồng thơm ngát, nhưng nay đã trở nên như một xác chết lâu ngày, mùi hôi thối độc hại của nó bay thấu tận trời cao.
Chúa Giêsu Kitô đã kiên nhẫn chịu đựng sống giữa các Tông Đồ, là những người đầy kiêu căng và tham vọng, thậm chí một người đã phản bội; nhưng Người không dính một chút bợn nhơ của họ; Người ghê tởm tất cả mọi tính hư nết xấu. Thiên Chúa phán: ”Thần Khí của Ta không ở trong người, nếu người chỉ là xác thịt và thối nát.” Thiên Chúa lìa bỏ tất cả những người tâm địa độc ác và dâm ô. Chúng để mình chìm đắm trong bùn nhơ như con heo hèn hạ, nhưng lại không ngửi thấy mùi hôi thối bốc lên. Người trơ trẽn như vậy thật đáng ghê tởm trước mặt mọi người, nhưng họ không ý thức được điều đó. Thiên Chúa đã ghi dấu ô nhục trên trán của họ, nhưng họ không cảm thấy xấu hổ; họ có cái mặt bằng đồng và một trái tim bằng đá; thật là vô ích khi nói với họ về danh dự đạo đức, vì lòng trí của họ đầy tự mãn và kiêu căng.
Các chân lý như: sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất. Những tội khác trói chúng ta bằng xích sắt, nhưng tội mê dâm dục trói chúng ta bằng xích da bò, loại da không bao giờ rách hay đứt; tội mê dâm dục là lò lửa làm ô uế cả những người lớn tuổi cao niên. Hãy xem hai ông già bỉ ổi bị cám dỗ về sự trong sạch đem lòng thèm muốn bà Susanna; họ đã giữ cơn sốt thời trai trẻ đến lúc già yếu. Khi thân xác kiệt sức vì trụy lạc, khi họ không còn thỏa mãn được những đam mê, thì họ thay thế bằng những ước muốn và ý tưởng dâm ô.
Gần đến giờ chết, họ vẫn còn nói về đam mê cho đến hơi thở cuối cùng; họ chết như lúc họ sống – cứng lòng; sự đền tội nào có thể bù đắp cho tội mê dâm dục này? Sự hy sinh nào có thể lay động họ ở giờ phút cuối cùng, những người suốt đời chỉ nghĩ đến những thú vui nhục dục? Liệu người ta có thể nào mong đợi một lần xưng tội đàng hoàng, một lần rước lễ sốt sắng từ những người, mà lúc trai trẻ có lẽ đã cố tình giấu giếm những tội lỗi ghê tởm và xấu hổ này, đã nhiều lần phạm thánh không? Liệu miệng lưỡi họ đã khép kín lâu nay, chịu mở ra ở giờ phút cuối cùng không? Không có điều đó đâu; Thiên Chúa đã bỏ rơi họ; nhiều lớp chì đè nặng trên người họ; và họ cứ đổ thêm vào. Nhưng hãy coi chừng, đó có thể là lần cuối cùng của đời họ.
From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai



“Tiền dẫu rách, biết dán đúng cách vẫn có giá trị
Nhân cách thối tha, dẫu trưng đầy hoa vẫn không ai tôn trọng”.
BA TẤM HÌNH NÓI LÊN TRÌNH ĐỘ LÃNH ĐẠO VÀ BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ. (Hình: Lãnh đạo VNCH và Hoa Kỳ & CSVN)
Khi đến với Chúa
Con tháo bỏ đôi giày: những tham vọng của con
Con cởi bỏ đồng hồ: thời khóa biểu của con,
Con đóng lại bút viết: các quan điểm của con,
Con bỏ xuống chìa khóa: sự an toàn của con,
Để con được ở một mình với Ngài,
Lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật.
Sau khi được ở với Ngài,
Con sẽ xỏ giày vào
Để đi theo đường của Chúa,
Con sẽ đeo đồng hồ
Để sống trong thời gian của Chúa,
Con sẽ đeo kính vào
Để nhìn thấy thế giới của Chúa,
Con sẽ mở bút ra
Để viết những tư tưởng của Chúa,
Con sẽ cầm chìa khóa lên
Để mở những cánh cửa của Chúa.
Graham Kings
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J
Chị Maria Thanh gởi
Trên báo, ta thường gặp rất nhiều trường hợp cho người quen ở nhờ quá lâu và sau đó mất luôn mảnh đất nhà mình. Đó là dã tâm có toan tính của kẻ ở nhờ. Để thực hiện dã tâm, kẻ xấu đã lập ra các bước đi dài hạn có tính chiến lược. Ban đầu họ xin tá túc với một lý do rất đáng thương. Lý do ấy được dùng để che thật kín âm mưu. Tiếp theo, họ âm thầm làm giấy tờ sở hữu quyền sử dụng miếng đất mà người chủ không hề hay biết. Và sau đó là ra mặt chiếm dụng.
Như vậy để thực hiện trót lọt âm mưu đó thì phải thực hiện 3 bước: thứ nhất tìm điểm tá túc trên mảnh đất, thứ nhì củng cố vững chắc thế và lực một cách âm thầm, và thứ 3 là ra mặt đuổi cổ chủ nhà.
Cũng trò đó, Trung Cộng đã thực hiện các bước giống vậy để chiếm lấy chủ quyền của Việt Nam. Năm 1946, Tưởng Giới Thạch chiếm đảo Ba Bình thuộc Trường Sa, thế là một điểm tá túc giữa Biển Đông đã tìm xong. Từ sở hữu được đảo, năm 1948 Tưởng cho vẽ đường 11 đoạn để chiếm trọn biển. Nhưng ý đồ chưa hoàn thành thì 1949 Tưởng bị Mao đánh bỏ chạy ra Đài Loan mang theo quyền sở hữu đảo Ba Bình.
Sau khi Mao lên nắm quyền, hắn cũng thực hiện âm mưu chiếm biển Đông bằng cách thức đó. Với bản đồ của Tưởng, năm 1953, Mao cho vẽ lại thành đường 9 đoạn. Nhưng đấy là đường vẽ khơi khơi không có cơ sở. Cũng tương tự thủ đoạn quen thuộc, năm 1958, Mao dụ CSVN cho Phạm Văn Đồng ký vào công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên Hoàng Sa và Trường Sa. Tới đây vẫn chưa có cơ sở để chiếm Biển vì tất cả chỉ là trên giấy. Vậy là năm 1974 lúc Mỹ đã đã rút hết quân về nước, VNCH thì bị Bắc Việt đánh ác liệt, thời cơ quá thuận lợi nên Mao cho chiếm Hoàng Sa. Sau khi có Hoàng Sa, Trung Cộng chiếm luôn Trường Sa từ tay CSVN. Và khi đã sở hữu 2 quần đảo giữa biển, Trung Cộng xác lập chủ quyền 1 vùng rộng lớn chiếm 80% biển Đông.
Khi chiếm hoàn toàn biển thì giờ đến lượt Trung Cộng tiến lên bờ. 3 điểm rải đều trên dọc dải đất hình chữ S gồm: Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc được nhắm đến. Trước kia Mao dụ Hồ và Đồng ký vào công hàm 1958 thì nay Tập chỉ thị Trọng chỉ đạo Quốc hội bù nhìn của ĐCS thông qua Luật Đặc Khu. Ngày trước Mao cho chiếm Hoàng Trường Sa bằng vũ lực, nay Tập vào 3 đặc khu bằng sự thừa nhận của luật pháp CS hẳn hoi. Và tất nhiên khi nó vào được và sinh con đẻ cái để xác định chủ quyền. Không những nó xác lập chủ quyền trên 3 đặc khu mà là xác lập chủ quyền trên một vùng rộng lớn – nước Việt Nam.
Tàu thực hiện mưu đồ rất bài bản. Để đối phó với nhân dân Việt Nam thì có ĐCSVN. Để làm cho thế giới quen dần với những địa danh của Việt Nam mà Trung Cộng muốn chiếm dụng, thì nó cho in bản đồ bán trên thế giới theo rằng đó là vùng đất đó là của Trung Quốc. Dân Tàu mặc áo lưỡi bò đi du lịch nước ngoài cũng mang ý đồ tương tự. Nhìn vào toàn cảnh, ta thấy trong ứng ngoại hợp thấy rất rõ. ĐCSVN ứng trong, Trung Cộng ngoại hợp.
Vân Đồn chỉ một điểm ở Quảng Ninh, thì lập tức Trung Cộng muốn xác lập chủ quyền lên toàn tỉnh. Bài này cũng tương tự bài chiếm chiếm biển Đông. Khi sở hữu Hoàng – Trường Sa thì Trung Cộng xác lập chủ quyền hết 80% biển Đông. Vậy nên, để cứu nước, thì trước hết phải biểu tình đòi hủy vĩnh viễn luật đặc khu. Tiếp theo, phải biểu tình lật CS. Vì sao? Vì chính CS là tay sai của Trung Cộng, ĐCS tiếp tay cho âm mưu chiếm trọn Việt Nam của Trung Cộng. Ủng hộ bà con xuống đường!

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÍ TUỆ !
LUÔN LUÔN GẮN CHO MÌNH NHỮNG BÀI PHÁT BIỂU SÂU SẮC ĐẦY TRÁCH NHIỆM .
TÂM , TẦM , NHÂN CÁCH VÀ TINH THẦN SẴN SÀNG VỚI NHÂN DÂN …
Khôn ra rồi,Tổng thống Philippines Duterte bây giờ mới nhận ra bộ mặt thật của Bắc Kinh – Chúc mừng?
Những năm qua Trung Cọng đã làm bao chuyện tày trời ở Biển Đông. Vậy mà ông Duterte vẫn làm ngơ vì được Trung Cộng mua chuộc. Nay thì ông mới nhận ra bộ mặt thật của họ? Ông đã lên tiếng chỉ trích hành động ‘ngang ngược’ của Tc trên Biển Đông.
“Anh (Trung Cọng) không thể tạo ra một hòn đảo nhân tạo trên vùng biển quốc tế, vậy mà anh lại nói không phận phía trên các đảo nhân tạo đó là của anh. Điều đó là hoàn toàn sai lầm, vùng biển này là vùng biển quốc tế”, tờ South China Morning Post (SCMP) dẫn lời Tổng thống Philippines Duterte ngày 14/8.
andy
Tổng thống Philippines Duterte phát biểu trước nhiều quan chức ngoại giao bao gồm đại sứ Mỹ, ông Duterte lên án hành động tuyên bố chủ quyền với vùng không phận phía trên các đảo mới bồi đắp và vùng biển xung quanh trên Biển Đông của Trung Cọng.
“Việc Bắc Kinh buộc các bên phải rời khỏi khu vực này có thể trở thành tác nhân châm ngòi xung đột. Quyền tự do hàng hải, tàu thuyền di chuyển cần được đảm bảo và không cần ai cho phép để đi qua một vùng biển mở quốc tế”, ông nói thêm.
Ông Duterte cũng cho rằng Mỹ có lỗi khi đã không ngăn chặn kịp thời Trung Cọng ngay từ khi các kế hoạch bồi lấp, cải tạo trái phép đảo nhân tạo mới được manh nha.
Hồi đầu tháng 8 vừa qua, Philippines cũng đã bày tỏ quan ngại đến chính quyền Bắc Kinh sau khi các máy bay và tàu Philippines nhận được nhiều tin nhắn radio, cảnh báo họ tránh xa các đảo nhân tạo Trung Cọng bồi đắp trái phép trên Biển Đông.
Tờ CNN cũng đưa tin quân đội Trung Cọng liên tục cảnh báo máy bay trinh sát của hải quân Mỹ phải ngay lập tức rời khỏi khu vực “để tránh mọi hiểu lầm”, khi những máy bay này bay gần đến các đảo nhân tạo.
Hình ảnh Trung Cọng quân sự hóa trên Biển Đông.
Các tin nhắn cảnh báo radio từng đến từ tàu tuần duyên Trung Cọng, nhưng các quan chức quân đội Mỹ nghi ngờ chúng đã được mở rộng ra và được phát từ các đảo nhân tạo Bắc Kinh tuyên bố chiếm đóng, nơi có nhiều thiết bị liên lạc và giám sát mạnh mẽ hơn được lắp đặt cùng với các vũ khí như tên lửa đất đối không.
Trong khi đó, quân đội Mỹ tại Nhật Bản cũng đăng thông báo của Hải quân Mỹ và viết kèm thông điệp thể hiện sự đoàn kết.
“Các máy bay P-8A của Hải quân Mỹ đồn trú tại Nhật Bản sẽ đóng góp vào hòa bình và an ninh khu vực mỗi ngày bằng cách bay qua bất kể nơi nào luật quốc tế cho phép”, quân đội Mỹ tại Nhật Bản bình luận.
Ngoài ra, các lực lượng khác như Không quân Thái Bình Dương và Hạm đội Thái Bình Dương cũng đều đăng lại thông báo của Hải quân Mỹ.
Theo CNN, trên độ cao khoảng 5.000 m, nhóm phóng viên quan sát thấy Trung Cọng đã bồi đắp phi pháp các đảo đá, xây nhà cao tầng, triển khai hệ thống radar, lưới điện và đường băng đủ lớn để cho máy bay quân sự có thể cất cánh và hạ cánh. Mỗi lần máy bay Trung Cọng cảnh báo, phi hành đoàn trên máy bay Mỹ lại đáp lại với cùng một thông điệp rằng, hải quân Mỹ đang thực hiện các hoạt động quân sự theo đúng luật pháp tại không phận của vùng biển quốc tế vì quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi quốc gia.
CHỌN LỰA: MỘT HÀNH VI KHÔNG DỄ
Cả anh em nữa, anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không? Chúa Giêsu không hỏi: anh em có tiếp tục theo Thầy không mà lại hỏi thẳng thừng: anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không. Một câu hỏi không thuộc dạng mời gọi như trước đây mà là đặt vấn đề chọn lựa rõ ràng, dứt khoát.
Kitô hữu chúng ta theo đạo không phải là theo một học thuyết mang tính triết lý hay thần học nào đó, nhưng là theo một “con người”, theo một “ai đó”, một “Đấng nào đó.” Đấng hay con người mà chúng ta lựa chọn đi theo, lựa chọn để gắn bó, đó là Đức Giêsu Kitô. Phụng Vụ Lời Chúa ngày Chúa nhật XXI Thường Niên B đặc biệt lưu ý chúng ta đến hành vi lựa chọn. Chọn lựa một công việc để làm kế sinh nhai quả không mấy dễ. Chọn lựa một bậc sống thật lắm phân vân đủ bề. Chọn lựa một con người để làm bạn đời trăm năm cũng lắm sự nhiêu khê. Và chọn lựa Đấng để trao gửi hạnh phúc hôm nay, và vĩnh cửu chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều. Vì thế, khi phải chọn lựa trong một vấn đề quan trọng, chúng ta cần có đủ cơ sở một cách nào đó.
Sau khi nhắc lại cho dân tình yêu của Thiên Chúa qua các kỳ công Người đã thực hiện để bảo vệ dân, Giô-suê khẳng khái trước toàn dân rằng: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,15). Và dân đã đáp lại rằng họ không hề có ý định bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Họ sẽ thờ phụng Thiên Chúa, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của họ dùng quyền năng thực hiện những dấu lạ lớn lao để đem họ cùng với cha ông họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ mà vào đất hứa. Như thế, cơ sở để dân Chúa xưa chọn thờ phụng Người đó là vì Người quyền năng đã đưa họ ra khỏi nhà nô lệ.
Trước câu hỏi của Chúa Giêsu, một kiểu đặt vấn đề đòi hỏi có sự chọn lựa dứt khoát thì Phêrô đã thay mặt nhóm Mười Hai trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Không kể trường hợp một phần tử trong nhóm không tin, thì câu trả lời của Phêrô nói lên sự chọn lựa của cả nhóm Tông Đồ. Và sự chọn lựa ấy đặt cơ sở trên điều này: vì Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Để nói lên được những lời này, chắc chắn cùng với các bạn, Phêrô đã từng chứng kiến uy quyền của Thầy khi khiến nước lã hóa thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12). Các vị đã từng nghe Thầy nói với viên sĩ quan cận vệ nhà vua rằng: “Ông cứ về đi, con ông sống” và đứa con trai của ông ta đang đang hấp hối đã đuợc cứu sống (x. Ga 4,46-54). Và các ngài chưa thể quên lời tạ ơn mới đây của Thầy đã giúp cho năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ no nê chỉ từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá (x. Ga 6,1-15).
Không ai tự nguyện dấn thân theo một lý tưởng, thực hiện một trách nhiệm hay gắn bó với một con người mà không ấp ủ một hoài bão, một ước mơ hay niềm hy vọng nào đó. Xưa, dân Do Thái chọn tôn thờ Thiên Chúa là để một mặt khỏi bị Người giáng họa, trừng phạt, mà trái lại sẽ được Người chúc phúc và che chở trước các “kẻ thù” lân bang (Gs 24,19-20).
Cái hoài bão, uớc mơ, đúng hơn là cái mục đích việc Phêrô thay mặt anh em chọn gắn bó với Thầy đó là vì “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Sự sống đời đời là một ước mơ của con người, mọi thời và mọi nơi. Dù đủ đầy của cải vật chất, dù nắm trong tay quyền sinh sát của bậc đế vương thì con người vẫn cảm nhận cái hữu hạn của cuộc sống đời này. Danh vọng quyền lực, của cải hay tiền tài không thể giúp ta kéo dài cuộc sống đến vô tận. Một thanh niên có nhiều sản nghiệp đã đến tham vấn Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Sau khi nói anh ta giữ các giới răn, Chúa Giêsu đã mời gọi anh ta hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo rồi đến mà theo Người (x. Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,28-30).
Chọn lựa là hy sinh. Một câu nói cho thấy một lẽ tất yếu của việc chọn lựa. Chọn ra đi thì phải hy sinh chuyện không ở lại, chọn việc cất tiếng nói thì đương nhiên phải mất thái độ giữ im lặng, đã chọn tôn thờ Thiên Chúa thì phải bỏ các thần của dân ngoại (x. Gs 24,23), v.v… Tuy nhiên sự hy sinh trong việc chọn lựa không chỉ dừng lại ở các nội dung xem như đối lập của sự chọn lựa mà còn có sự hy sinh ngay trong chính hành vi chọn lựa. Sự hy sinh ở đây được hiểu như một sự đánh cược, một sự dấn thân, một sự “liều lĩnh” nào đó. Vì chưng, chúng ta vốn khó có được các cở sở một cách chắc chắn kiểu trăm phần trăm khi chọn lựa một điều gì đó. Chúng ta dễ nhận ra ngay hiện thực này qua việc các bạn thanh niên nam nữ chọn bạn đời hay chọn ơn gọi tu trì. Như thế, sự hy sinh ở đây có thể hiếu như sự can đảm dấn thân, chấp nhận nhiều “cái giá” phải trả khi chọn lựa.
Cái giá mà chúng ta phải trả khi chọn lựa đi theo Chúa Giêsu, gắn bó với Người đó chính là “vác thập giá.” “Ai không các thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). Cái giá mà Phêrô sẽ phải trả được Đấng Phúc sinh báo trước: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đế nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19).
“Thiên Chúa dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà cần có tôi” (thánh Augustinô). Tự do là một quà tặng cao quý Chúa ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài hữu hình Người dựng nên. Tự do là một ân ban cao quý và cũng là một thử thách ắt có của tình yêu. Được sống đời đời hay phải chết đời đời có nghĩa là được hạnh phúc bất diệt hay bị trầm luân mãi mãi, các khả thể này đang tùy ở sự lựa chọn của chúng ta. Ai lại không muốn được sự sống đời đời, được hạnh phúc bất diệt, nhưng vấn nạn khó vượt qua đó là chúng ta thường e ngại phải trả giá.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
httpv://www.youtube.com/watch?v=BNNFtlF9CDE&feature=youtu.be
Edward Yudenich – 7 years old conductor.mpg
Suy Tư Chúa nhật thứ 21 thường niên năm B 26/8/2018
(Ga 6: 54a, 60-69)
Tại hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu tuyên bố:“Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời.” Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông:”Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
Nhưng trong anh em có những kẻ không tin.”Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.” Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.
Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai:”Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Simôn Phêrô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
* * *
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,”
“Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng…”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Mai Tá lược dịch.
Nhà thơ buồn, vì người em rày đã đi. Em đi rồi, nhà thơ thấy sám hối chạy trên môi, nên tháng ngày vật vã cứ chĩu nặng trên vai buồn. Nhà Đạo lại rất vui mà ra về khi Tiệc Thánh đến hồi chấm dứt, lòng những mang theo bài sai Chúa nhắn nhủ, và gọi mời.
Trình thuật thánh Gioan nay kết thúc với lời cuối Tin Mừng ở chương 6 Chúa nói về “Bánh Hằng Sống” khiến người nghe thấy chướng tai, bèn bỏ Ngài lại một mình. Và khi đó, Ngài hỏi đồ đệ xem các thánh nhận xét ra sao về chúng dân, đồ đệ bèn quả quyết: ai bỏ Chúa thì cứ bỏ,nhưng các thánh không bỏ Thày và cũng chẳng đi đến nơi nào không có Thầy ở đó.
Cuối buổi Tiệc, dân con Chúa những tưởng Tiệc Thánh đã chấm dứt khi chủ tế giơ tay ban phép lành kèm lời nhắn: “Anh chị em hãy ra đi bình an.” Kỳ thực, lời chúc “ra đi” hay “ra về” bình an, đều hàm ẩn một thôi thúc dân con dự Tiệc hãy về với thế trần mang theo sứ vụ Chúa trao phó, cho mọi người. Nhưng, bài sai đây là sứ vụ gì? Thực hiện sứ vụ này ra làm sao? Kết quả dẫn đến sẽ thế nào?
Ở đây, dân con dự Tiệc vào phút cuối sẽ khám phá ra một hiện diện khác từ Tiệc Thánh. Đó là, sự hiện diện mặt-đối-mặt của các sự vật có tính cách chỉ như vật thể. Dự Tiệc, không là hiện diện bằng thân xác mà dân con/cộng đoàn từng trải nghiệm theo cung cách chủ quan, hạn chế. Nhưng, hiện diện đây là qui cách hiện hữu mà chỉ mình Chúa mới có. Chính đó là Hiện Diện theo nghĩa của việc tặng ban/cho đi. Cho một cách nhưng-không chẳng màng gì lợi danh, đổi chác hoặc đáp trả theo nghĩa “có đi có lại mới toại lòng nhau”.
Đức Chúa không tặng ban cho ta chỉ một hiện hữu có ích, Ngài cũng chẳng trông chờ ta cảm kích biết ơn để rồi tạo thành ràng buộc khiến ta mất tự do, chẳng thoải mái. Ngài cũng không muốn lấy đi giây phút hiện tại ta đang sống trong nhà Chúa như một sự thể chính đáng. Và, Ngài cũng không đánh giá quá thấp chuỗi ngày dài đầy những quá khứ hoặc tương lai đang trờ đến.
Ta tưởng đó như một hiện tại kéo dài để rồi thiết lập nên những mẩu chuyện nhỏ cho một tổng thể lớn. Tổng thể, là đường lối hoàn toàn khác cho thấy người đời vẫn đặt nặng mọi thứ hơn là hiện tại. Nhất là, hiện tại xảy ra ở cuối buổi Tiệc Thánh, vào lúc ta được bảo: hãy “ra đi” mà trở thành kẻ tản bộ trong ước mơ tuy chậm nhưng rất chắc, ở thế trần. Ra đi, vì bài sai Chúa gửi đến thế trần không do ta chọn và thiết lập, mà chỉ tuân thủ và thực thi.
Và, Hội thánh hôm nay cho thấy thái độ “đóng kín” không am tường bản chất của mình, nên đã không phản ánh cái đẹp của trần thế bằng việc thể hiện động thái của mình. Và, cũng vì không am tường bản chất của chính mình nên cũng không tạo ảnh hưởng nào lên trần thế hết.
Thành thử, khi nhận bài sai ra đi về với thế trần làm chứng nhân rao giảng Lời Chúa và sống cho Chúa, nhiều dân con đi Đạo cảm thấy khó mà sống thực niềm tin giữa lòng dân tộc, thời hiện đại. Bởi thếnên, nền văn hoá thời đại chẳng dám đón nhận sứ điệp của Đạo Chúa, nữa. Thế trần thời hiện đại, là chốn miền khiến ta khó mà sống niềm tin rất đích thực. Bởi, ngày nay người người vẫn dễ dàng sống theo lề thói rất vật chất, tự do vui hưởng lợi lộc do chủ thuyết tiêu thụ dọn sẵn ý hướng chệch choạc.
Ở đây cũng thế, không dễ gì có thể định hướng được tính khí của nhân loại để người người có thể ra đi mở rộng Nước Chúa, sống cho Chúa. Bởi lẽ, cơ chế xây dựng nên Hội thánh hôm nay ngày càng ít trở nên gương mẫu cho đời thường, ở trần thế. Và vì thế, Hội thánh càng xa rời đời sống của chúng dân. Vì, nơi thế trần hôm nay cũng vậy, ngày càng thấy ít đi các Tiệc thánh hiến tế hoặc Tiệc Lòng mến thân thương đông người dự. Số lượng linh mục phục vụ Tiệc ngày càng ít, kéo theo sự thể là sứ vụ rao giảng Lời Chúa ngày càng chất chồng lên đôi vai trần của một vài vị còn ở lại với thánh hội.
Từ đó, có mục tử cùng lúc phải coi ngó nhiều giáo xứ. Có vị phải bỏ nhiều giờ để tới vùng sâu vùng xa mà “rao giảng”.
Thế nên, hôm nay, nhu cầu đòi dân con dự Tiệc nhận bài sai “ra đi rao giảng Nước Trời” trở thành chuyện sống thực ở đời. Sống thực, là sống đúng ý nghĩa của Tiệc Lòng Mến biến cải thế giới thành chốn miền đặc biệt để sống và lao động. Hôm nay, hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày Công Đồng Vatican II ban hành nghị định thư về sự sống còn của dân con nhận bài sai rao giảng, cho thấy đó là quan điểm cách mạng chứng thực vai trò giáo dân đã đến hồi nở rộ, đẹp đẽ. Tốt lành.
Vấn đề của giáo dân hôm nay, không nhằm khuếch trương Hội thánh theo số lượng tăng nhanh bao gồm sự việc và phong trào do Hội thánh chủ trương. Cũng chẳng là phải làm gì hoặc làm thế nào để số người đến nhà thờ ngày một đông, có thêm người đọc kinh, hát xướng. Mà là, sống thực cuộc sống có hiệp thông ta học được từ Tiệc Thánh xảy đến ngay trong trần thế rất khí thế.
Trở thành giáo dân đúng nghĩa, là ơn gọi nhận bài sai ra đi rao giảng Lời, chứ không phải chức vụ mình nhận để thực thi. Ơn gọi giáo dân đây, là ân lộc gọi mời mọi người trở nên dân con của Chúa bằng cuộc sống hiệp thông, rất thương yêu. Gọi mời mọi người trở thành dân con sống thực Lời Chúa trong một thế giới chỉ chú trọng vật chất. Sống thực Lời Chúa, là sống hiệp thông thương yêu trong khuôn khổ của trần thế.
Sống thực ở đây không là kinh nghiệm hiệp thông rước lễ rút từ Tiệc Thánh rồi phổ biến cho thế giới cũng làm như thế. Làm thế, khác nào biến thế giới bên ngoài thành chi nhánh của Hội thánh ở bên trong. Làm thế, tức như thể dân con mình không còn tôn trọng tính đặc biệt của thế giới bên ngoài và lại chỉ muốn tân trang đổi mới mặt ngoài của thế giới, thế thôi.
Sống thực Lời của Chúa, là cởi mở với tính chất rất trần thế nơi cuộc sống đời thường vẫn như thế; để rồi, từ đó khám phá ra sự thể của cuộc sống có hiệp thông, thương yêu rút từ Tiệc Thánh đang thăng tiến với thế trần. Mãi đến nay, Hội thánh vẫn chưa đạt thành tích về chuyện này. Hội thánh lâu nay vẫn hãi sợ “thế gian” rất phàm tục. Thế gian, là cụm từ Hội thánh ít muốn nghe đến. Thế gian, là từ ngữ về hệ thống giá trị mang tính phàm tục đối nghịch hệ cấp giá trị của thánh hội. Và Hội thánh vẫn cứ sợ cả những giáo dân bên trong thánh hội của mình một ngày nào đó sẽ qua mặt cả hệ cấp rất thánh nữa.
Nay, đã thấy một vài đổi thay trong thái độ của thế gian. Nhiều vị sống ở thế giới gian trần này, nay đã biết được rằng: song song với các vận động đề cao nhân quyền của dân thường và các vậnđộng bênh vực những người thuộc sắc tộc thiểu số cùng nghèo hèn, Hội thánh nay cũng tích cực đề bạt và bàn bạc với trần thế để đi đến hành động chính đáng. Nhiều vị trong Hội thánh, nay đã biết dân con mình dù sống trong trần thế, với “thế gian” vẫn nhận lãnh nhiều ân lộc từ Đức Chúa.
Vậy thì, việc đó nói lên điều gì? Và có từ đâu? Phải chăng từ bài sai “ra đi” mà hiệp thông, thương yêu. Hiệp thông thương yêu, là kết hiệp và cảm thông với những người khác mình, trong quan hệ thường nhật. Bởi thế nên, thông điệp ở đây hôm nay, là: nếu ta học được điều hay từ hiệp thông thương yêu trong thánh hội, thì hãy sống thực điều đó bên ngoài hội thánh. Sống được thế, sẽ mang đến cho ta một khí thế, rất sống động. Hiệp thông yêu thương, là biết tôn trọng mọi người để rồi cùng họ đem tình thương đến với người khác, dù theo cung cách rất đời thường, hoặc “thế gian”.
Giáo dân ta, nay là người có cơ may nhiều hơn triều thần giáo sĩ và tu sĩ do việc họ vẫn sống và làm việc ngay trong cơ cấu trần thế. Việc của giáo dân, nay là lập quan hệ với những người sống trong trần thế, theo cung cách rất thế trần. Như thế, và như thể chính giáo dân mới là người đóng đúng vai trò thừa sai có từ bài sai “hãy ra đi mở mang Nước Trời, ở trần gian”.
Vào lúc kết thúc buổi Tiệc Thánh, giáo dân dự Tiệc là những người vẫn được giáo triều sai bảo “hãy ra đi mà về với thế gian” để triển khai công tác tốt đẹp được Chúa ủy thác. “Hãy ra đi”, bởi nay quý vị được ủy thác công tác ra mà đi, vì đã có phép lành từ Đức Chúa của hiệp thông/thương yêu ở với mình. Ra mà đi, vì ngay tại nơi mình đến đã thấy rõ dấu hiệu của sự sống lại, rất trổi trang.
Ra mà đi, nhưng không hãi sợ trần thế rất “thế gian” khi xưa được gọi là kẻ thù thứ ba rất đáng sợ. Bởi, thế gian là ta và cũng là người, chứ đâu là quỉ. “Ra mà đi”, hầu nhận lãnh sứ vụ gửi đến con người và cho con người có đính kèm phúc lành, chứ không phải lời chúc dữ dành cho “kẻ thù” là quỉ sứ, đáng hãi sợ. Hãy hiên ngang mà ra đi, vì Đức Chúa vẫn ở với mình và với người, là thế gian Ngài thương mến.
Trong tinh thần phấn chấn mà ra đi, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa ngâm dở, ở trên, rằng:
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,
Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng.
Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn,
Giữ hộ anh, màu áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Giữ hộ anh, bài thơ tình lụa trắng.”
(Nguyên Sa – Áo Lụa Hà Đông)
Thơ tình hay áo lụa, vẫn cứ là lời nhắn nhủ của thế trần hôm nay không còn là “kẻ thù” rất dữ tợn. Nhưng đã là mục tiêu của thánh hội được Chúa ủy thác một bài sai, bấy lâu nay.
Lm Kevin OShea DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch
From Vuisongtrendoi gởi