Đừng có cố tình bôi đen, xuyên tạc, đất nước chưa bao giờ được như thế này
NGHĨA VỤ THEO DÕI
-Tổ chức đánh bạc là để theo dõi bọn cờ bạc
-Ăn hối lộ là để theo dõi bọn tham nhũng
-Chặt cây là để theo dõi lâm tặc
-Tạo Formosa là để theo dõi bọn phá môi trường
-Tra tấn là để tìm hiểu người muốn tự tử
-Cướp đất là để theo dõi thằng vẽ bản đồ
-An Ninh Mạng là để theo dõi thời sự
-Dẫn chân dài vào khách sạn là để tìm hiểu tâm lý các cháu
-Mua nhà ở ngoại quốc là để theo dõi tại chỗ âm mưu phá hoại cách mạng của tư bản
-Lập đặc khu là để theo dõi tài phiệt Tàu
-Bán nước là để theo dõi giặc ngoại xâm
Fb Từ Thức
* Đấy, thế mà thế lực thù địch cứ bôi đen xuyên tạc thế lực thân địch 😡

Vụ Thủ Thiêm: Dân ‘mắng’ công an, quân đội, chính quyền ‘đê tiện’
Chửi như vậy nghe sướng lổ tai quá, bây giờ còn sợ gì nữa , cùi không sợ lở rồi

“Tại sao các vị phải ti tiện đến như vậy? Đó là một sự đê tiện thực sự”, một người dân đại diện cho cử tri quận 2 đã nói với chính quyền TP.HCM như vậy sau khi “mắng” lực lượng công an, quân đội đã “chĩa súng vào đầu” người dân, “tự tiện, núp lén, canh người ta không có nhà để dỡ rào lấy đất” thay vì thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cho người dân.
Phần phát biểu của chị Nguyễn Thị Thùy Dương, người phụ nữ bất đắc dĩ “nổi tiếng” vì đã ném giày vào lãnh đạo TP.HCM trước đây, trong buổi tiếp xúc cử tri quận 2 (Q.2) ngày 22/11 đã được cả hội trường vỗ tay tán thưởng. Thậm chí, cử tri còn yêu cầu lãnh đạo mở loa lên để cho phép chị được nói tiếp sau khi phần phát biểu của chị bị cắt đi theo quy định.
VOA: Cựu luật sư Võ An Đôn ‘sẽ khởi kiện Bộ Tư pháp’
VOA: Cựu luật sư Võ An Đôn ‘sẽ khởi kiện Bộ Tư pháp’
VOA Tiếng Việt
Cựu Luật sư nhân quyền Võ An Đôn nói với VOA rằng ông sẽ kiện người đứng đầu Bộ Tư pháp sau khi bộ này bác đơn khiếu nại của ông về việc ông bị xóa tên khỏi Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên.
Hôm 23/11, ông cho VOA biết ông vừa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ Tư pháp đối với những khiếu nại của ông.
“Vừa qua Bộ Tư pháp có trả lời nói rằng họ giữ nguyên kết quả giải quyết khiếu nại của Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên về việc bác đơn yêu cầu giải quyết khiếu nại của tôi, với lý do đưa ra hết sức mơ hồ, cho rằng tôi nói xấu các luật sư, cũng như trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài. Họ chỉ nói chung chung, không chỉ rõ cái nào. Như vậy là không đúng quy định của pháp luật, cũng như các văn bản hướng dẫn kỷ luật luật sư.”
Hôm 23/11, Báo Pháp luật dẫn nguồn tin từ Bộ Tư pháp tường thuật rằng ông Đôn có gửi thư khiếu nại về việc Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên ra quyết định xóa tên ông khỏi đoàn luật sư vào tháng 11/2017 và một quyết định của Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam liên quan đến việc giải quyết khiếu nại đối với ông vào 5/2018.
Báo Tuổi trẻ online đưa tin, Bộ Tư pháp đã bác toàn bộ nội dung khiếu nại của cựu luật sư này.
Trước đó, ông Đôn cho VOA biết rằng hôm 26/11/2017 ông bị Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên xóa tên với hai lý do cơ bản rằng ông trả lời phỏng vấn các báo đài nước ngoài và nói xấu luật sư.
Truyền thông trong nước trích lời Ban Chủ nhiệm nói rằng ông Đôn đã có nhiều phát biểu, trả lời phỏng vấn “mang tính bịa đặt”, với “nội dung không đúng sự thật, suy diễn chủ quan, nói xấu thể chế chính trị.”
Bộ Tư pháp kết luận rằng những phát biểu của ông Đôn trong những clip này đã “phủ nhận giá trị, vai trò của hệ thống pháp luật và hoạt động tố tụng Việt Nam; phủ nhận vị trí, vai trò của nghề luật sư và đội ngũ luật sư Việt Nam.”
Bộ Tư pháp kết luật rằng Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên đưa ra mức kỷ luật “xóa tên khỏi danh sách đoàn luật sư” đối với ông Đôn là “phù hợp, tương xứng.” Ngoài ra, bộ này cũng kết luận rằng Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã thực hiện đúng quy định của quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Cựu luật sư nhân quyền nói ông sẽ kiện Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra tòa:
“Sắp tới tôi sẽ khởi kiện Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra tòa án tỉnh Phú Yên, khởi kiện ông về quyết định của ông. Tôi không hy vọng rằng việc khởi kiện này đem lại kết quả dù các cơ quan này ra quyết định sai trái.”
Ông Đôn cho biết rằng ông có thể sẽ phải ở nhà “làm nông”, sau khi bị Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên xóa tên trước phiên xử phúc thẩm Blogger Mẹ Nấm, tức Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
Ông cho rằng việc xóa tên nhanh chóng như thế là nhằm mục đích không cho ông tham gia bào chữa cho blogger Mẹ Nấm diễn ra ngày 30/11/2017, một blogger bị tuyên án 10 năm tù và bị tống xuất sang Hoa Kỳ vào tháng 10 vừa qua.
Hàng trăm luật sư trên cả nước đã kiến nghị Liên đoàn Luật sư Việt Nam xem xét lại quyết định kỷ luật ông Đôn.
XEM THÊM:
Gần 120 luật sư lên tiếng bênh vực đồng nghiệp Võ An Đôn
Luật sư Nguyễn Văn Quynh chia sẻ trên Facebook: “Tôi từng tham gia bào chữa chung với luật sư Võ An Đôn một số vụ án, nghe tin luật sư bị xoá tên tôi thấy cũng rất buồn cho nhiệt huyết của luật sư với nghề luật sư.”
Blogger Phạm Nguyên Trường viết: “Luật sư Võ An Đôn được công chúng biết đến như một trong những luật sư rất tâm huyết, chính trực, can đảm, cương quyết và kiên trì tranh đấu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của những người dân nghèo khổ, cô thân yếu thế, nạn nhân của giới chức hắc ám tiêu cực, đặc biệt là của tệ nạn công an bạo hành.”
Dù không còn được phép bào chữa chính thức tại tòa cho các nhà hoạt động nhân quyền, và người yếu thế, nhưng ông Đôn nói rằng ông vẫn sẽ tiếp tục hỗ trợ pháp lý để bênh vực cho những người dân vô tội.
Tối 23/11, VOA tiếng Việt không thể liên lạc được ngay với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long để phỏng vấn.
Nguồn:

Hỏa hoạn California : Thủ phạm là một Công ty cung cấp năng lượng ?
Hỏa hoạn California : Thủ phạm là một Công ty cung cấp năng lượng ? 
Đội ngũ cứu cấp lục soát tìm nạn nhân tại một căn nhà bị hỏa hoạn ở California.REUTERS/Terray Sylvester.
Danh sách nạn nhân trong vụ hỏa hoạn ở phía Bắc California tiếp tục kéo dài. Tính đến tối 16/11/2018, đã có 71 người chết, và theo chính quyền địa phương có hơn 1.000 người mất tích. Một Công ty điện bị nghi ngờ là « thủ phạm » gây ra vụ hỏa hoạn thảm khốc này.
Theo phát biểu của Cảnh sát Trưởng quận Butte, ông Korea Honea, số nạn nhân mất tích đã tăng từ 631 lên 1.011 người trong vòng 24 giờ. Ông lưu ý con số này không mấy gì chắc chắn do được thu thập từ các « dữ liệu thô » như: từ các cú điện thoại, một số tên đánh sai lỗi chính tả được tính nhiều lần, hay một số người sống sót không báo cho địa phương hay gia đình biết.
Song song với việc tìm kiếm các nạn nhân, một cuộc điều tra cũng đã được tiến hành để tìm hiểu nguyên nhân. Các nhà Điều tra nghi ngờ Pacific Gas and Electric Company – PG&E, Công ty lớn nhất cung cấp điện và khí đốt cho Tiểu bang là nguồn gốc của thảm họa.
AFP cho biết: Trong một biên bản công việc được chuyển giao cho Tư pháp, các nhà Điều tra phát hiện có sự trùng hợp việc phá hủy một cột điện trong khu vực ngay trong ngày 08/11/2018, trước khi xảy ra vụ hỏa hoạn không bao lâu.
Tổng cộng trong mùa thu này, có khoảng từ 17-21 vụ cháy xảy ra tại phía Bắc Tiểu bang California, do các đường dây điện rơi xuống đất. Số thiết bị vật tư đó đều thuộc Công ty PG&E. Viện công tố quyết định mở định mở một cuộc điều tra liên quan đến 8 vụ cháy.
Trong trường hợp này, PG&E đang gặp rủi ro lớn. Số tiền mà Công ty này sẽ phải đóng phạt chịu trách nhiệm cho vụ cháy, cũng như là tiền bồi thường thiệt hại có thể lên đến 30 tỉ đô la. Với mức tiền phạt này, Doanh nghiệp có nguy cơ phá sản. Chỉ riêng với tiết lộ này, giá cổ phiếu của PG&E đã bị mất đến 25%.
Reuters nhắc lại vụ hỏa hoạn có tên « Camp Fire » xảy ra từ một tuần nay đã biến cả thành phố Paradise, có 27.000 dân, nằm cách San Francisco 280 km về phía Bắc thành một đống tro tàn khổng lồ.
Ngay ngày phát hỏa, 08/11/2018, chỉ trong vòng có vài giờ, lửa đã thiêu rụi 12.000 cơ sở, trong đó có 9.100 nhà ở. Cal Fire, Cơ quan Dự báo Hỏa hoạn và Bảo vệ rừng cho biết: Đã kiểm soát được 45% vụ cháy, dù có các cơn gió lớn.
From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen
Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ
Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ
Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày”.
Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.
Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân.
Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.
Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.
Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào.
Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.
From NguyenNThu
TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT
TUỔI GIÀ LÀ THỜI SUNG SƯỚNG NHẤT
Bieu Nguyen*Paul Van
Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống. Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la. Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì.
Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi. Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi. Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng.
Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình. Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn. Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi.
Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng. Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện dấu diếm mà nhà tan cửa nát. Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật. Hồi hộp, đau tim. Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó. An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui.
Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính. Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình. Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều. Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng. Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng. Khỏe trí.
Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý. Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa.
Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều. Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường. Chồng chết, vợ chết, ly dị. Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia xẻ như người phối ngẫu cũ.
Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung. Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy. Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc. Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác. Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt. Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào.
Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ. Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần dấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi. Sướng lắm. Vì có sụt tuổi, cũng không dấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì. Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình.
Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình. Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt. Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm. Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau. Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.
Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung. Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.
Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau. Không còn thấy khó chịu nhiều nữa. Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác.
Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn.
Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau ,cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?
Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối. Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân. Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì.
Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường. Biết đâu là hạnh phúc chân chính. Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác.
Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn. Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận. Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh. Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê. Chê thì chê, khen thì khen. Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc.
Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc. Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện. Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn.
Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh. Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ. Nhà cửa cũng đã có. Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa. Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình. Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được. Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều. Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ.
Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa. Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận. Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở.
Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người. Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn. Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước. Người Mỹ, trẻ già chi cũng ngĩ đến hưu trí. Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội. Cho sung sướng, nghỉ ngơi. Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn.
Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao. Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc dục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa. Thế thì sao mà không sung sướng.
Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén. Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ. Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều. Vã lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả.
Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm. Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe. Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu. Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn. Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm. Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi.
Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn. Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm. Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn. Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết. Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì. Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi. Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết. Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn.
Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”. Đó là câu nguyền rủa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn. Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ. Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm. Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng. Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể. Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa. Có sinh thì có diệt. Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi. Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi …
Khi tuổi già, thì xem cái chết như về. Ai không phải chết mà sợ. Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm. Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi. Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước. Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão. Chết là về. Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường. Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ. Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi. Đi về bình an.
Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” phải không? Cái tên gần gần như vậy. Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội. Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó. Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có. Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết. Trừng phạt người ta hay sao?
Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa. Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ. Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn. Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được. Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ. Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…
Hai tấm hình, nói lên tư cách của giới trí thức.


Hai tấm hình, nói lên tư cách của giới trí thức.
Hình 1, đại “giáo xư tiến sĩ” bắt tay đương kim thủ tướng nước chxhcn ta
Hình 2, một giáo viên quèn thời Nguỵ bắt tay đương kim TT Đế Quốc Mỹ
VNTB- Vì sao đảng ‘đánh’ vợ Lê Thanh Hải?
Hoa Kim Ngo and Trang Minh shared a post.

VNTB- Vì sao đảng ‘đánh’ vợ Lê Thanh Hải?
Thường Sơn
(VNTB) – Số phận Lê Thanh Hải “gia tộc Lê Thanh Hải” đang lộ ra những dấu hiệu khá rõ về sự sụp đổ trong một ngày không còn xa nữa…
Ảnh: “Gia tộc Lê Thanh Hải”
Học viện Cán bộ TP.HCM là cơ sở đào tạo duy nhất ở Việt Nam bị giáng một đòn choáng váng đúng vào 20/11 – ngày Nhà giáo Việt Nam – năm 2018.
Và nhân vật được xem là ‘nhà giáo Việt Nam – bà Trương Thị Hiền – đã bị cho ‘lên thớt’.
“Có dấu hiệu ‘thông đồng’ gói thầu hàng trăm tỉ tại Học viện Cán bộ TP.HCM” – báo Thanh Niên giật tít như thế và còn chú thích rằng bà Trương Thị Hiền là phu nhân của cựu ủy viên bộ chính trị, cựu bí thư thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải. Tuy nhiên, sau đó đoạn chú thích này đã biến mất, còn tựa đề được đổi thành “Hủy bỏ kết quả đấu thầu tại Học viện Cán bộ TP.HCM”.
Theo bài báo trên: “Kết luận thanh tra khẳng định Tư vấn quản lý dự án có dấu hiệu ‘thông đồng’ với Tư vấn đấu thầu trong việc triển khai xây dựng gói thầu hàng trăm tỉ tại Học viện Cán bộ TP.HCM”.
Giám đốc và Phó giám đốc Học viện được phân công phụ trách tại thời điểm phát sinh vụ việc. Vào thời điểm đó, giám đốc là PGS-TS Trương Thị Hiền…
Thanh Niên cũng là một trong vài tờ báo đầu tiên ‘nổ súng’ theo ý chỉ của đảng vào tháng Tư năm 2017 về vụ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, để sau đó dẫn tới kết cục bi thảm 31 năm tù giam dành cho Ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng.
Còn việc đăng bài về Học viện Cán bộ TP.HCM và Trương Thị Hiền như một cách ‘tôn vinh’ Ngày nhà giáo Việt Nam thì ý tưởng đó có lẽ chỉ xuất phát từ những cái đầu thâm nho Bắc Hà hoặc những ‘người Bắc có lý luận’.
Với trường hợp Trương Thị Hiền, cho đến nay đảng đã đụng chạm đến hầu hết những người thân của Lê Thanh Hải, thít chặt hơn nữa vòng vây đối với cựu quan chức cao cấp có tục danh ‘Hải Heo’.
Kẻ đầu tiên trong ‘gia tộc Lê Thanh Hải’ bị đảng ‘làm lông’ là Lê Tấn Hùng – Tổng giám đốc Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn TNHH MTV (SAGRI) và là em ruột của Lê Thanh Hải. Vào tháng Ba năm 2018, Thanh tra TP.HCM bất chợt công bố kết luận thanh tra về việc Lê Tấn Hùng đã “chi khống 13,3 tỉ đồng” – một dấu hiệu hầu như chắc chắn là nếu không ‘biết điều’, Lê Tấn Hùng sẽ đi thẳng vào nhà giam.
Chỉ 5 ngày sau vụ Lê Tấn Hùng, đến lượt con trai cựu bí thư Lê Thanh Hải là ông Lê Trương Hải Hiếu – Thành ủy viên, Phó Bí thư quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 12 – bị Ủy ban Kiểm tra thành ủy TP.HCM công khai thi hành kỷ luật. Theo đó, ông Lê Trương Hải Hiếu “đã vi phạm trong việc có quan hệ tình cảm với một phụ nữ và có con chung nhưng chậm báo cáo với tổ chức”. Ban Thường vụ Quận ủy Quận 12 đã quyết định kỷ luật ông Lê Trương Hải Hiếu bằng hình thức khiển trách.
Lê Thanh Hải từng được một số dư luận đồn đoán là “một trong những quan chức cộng sản giàu nhất Việt Nam”. Đặc biệt là mối quan hệ “đặc biệt” giữa ông Hải và bà Trương Mỹ Lan của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát.
Lê Thanh Hải cũng từ lâu bị xem là ‘tội phạm’ ghê gớm trong vụ ‘ăn đất’ Thủ Thiêm mà đã đẩy hàng chục ngàn gia đình ở khu vực này vào cảnh bị cướp đất, màn trời chiếu đất và bị biến thành dân oan đất đai bất đắc dĩ, hàng chục năm trời rồng rắn kéo nhau đi khiếu nại tố cáo từ Nam chí Bắc.
Vào thời gian này và đặc biệt sau cái chết của Trần Đại Quang, những nước cờ tuần tự và có vẻ khá chắc chắn của Nguyễn Phú Trọng đang áp sát cựu bí thư Lê Thanh Hải, tương tự những nước đi của ông Trọng đối với “gia tộc Nguyễn Tấn Dũng”.
Chiến thuật trên đang khá tương hợp với đồn đoán trước tết nguyên đán 2018 về “từ sau tết đến Hội nghị trung ương 7, Lê Thanh Hải sẽ bị “đánh””.
Với vụ ‘nhà giáo Việt Nam’ Trương Thị Hiền được công khai trên báo chí nhà nước, trong khi những đàn em của Lê Thanh Hải là Nguyễn Hữu Tín bị bắt, Tất Thành Cang và Nguyễn Thanh Tài có thể bị bắt, số phận Lê Thanh Hải “gia tộc Lê Thanh Hải” đang lộ ra những dấu hiệu khá rõ về sự sụp đổ trong một ngày không còn xa nữa, để cá nhân Lê Thanh Hải gần như chắc chắn phải được kết thúc như một công đoạn đầu tiên để dẫn tới cửa nhà Nguyễn Tấn Dũng.
TẢN MẠN ĐỜI THA HƯƠNG
Happy THANKSGIVING.
TẢN MẠN ĐỜI THA HƯƠNG
Linh mục Giuse Nguyễn Văn Thư
VÀO MÙA TẠ ƠN
Lời mở
Đây chính phải là mùa thật sự đem lại thoải mái, an bình, đi trước một tháng mở đường cho Mùa Giáng Sinh tuyệt vời (mùa mà ai cũng mừng vui với lời hứa từ trời cao “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”). Tâm tình biết ơn sau khi thọ ơn, kể ra thì chả có chi cao đẹp và ý nghĩa hơn trong cuộc sống con người.
Được ơn sinh ra làm người là điều trước tiên phải ghi lòng tạc dạ muôn năm. Từ đó biết quý cuộc sống trên trần. Được làm con Chúa và chịu bao nhiêu hồng ân siêu nhiên ngày này qua tháng khác. Liên tục sau đó là trăm ngàn thứ ơn ta nhận từ tay bao nhiêu người khác ngoài xã hội. Ơn đất Mẹ Việt Nam cưu mang ta từ ngày ra đời. Từ trong nhà ơn cha ơn mẹ, ơn chồng ơn vợ, ơn cả với đàn con lũ cháu, móc nối qua bao nhiêu ân tình đầy vơi khôn tả. Ơn cả những người đã về bên kia thế giới mà ta chưa có dịp đền đáp.
Vào mùa này, người Mỹ nhắc ta về tâm tình nhớ ơn và đền ơn. Dân tỵ nạn Việt Nam đã mang một món nợ cao dày với dân tộc Hoa Kỳ. Cho nên, mỗi mùa Tạ Ơn đòi chúng ta mở rộng tâm hồn ra để ôn lại bài học TRI ÂN sâu rộng vô bờ bến.
Chỉ có những dân tộc man rợ bán khai mới sống với con tim vô ơn bạc nghĩa.
Đầu đuôi ngày lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ
Câu chuyện xoay quanh dịp nhóm tín đồ ‘Thanh giáo’ gồm 102 người từ Anh quốc, muốn rời xứ qua Mỹ tìm đất tự do thực hành đạo riêng (bị Anh giáo kỳ thị) vào năm 1620. Họ tự gọi mình là nhóm Pilgrims (hành hương) và can đảm ra đi trên chiếc tàu buồm mang tên Mayflower, đổ bộ vào vùng Plymouth của khu thuộc địa New England (tuy vẫn thuộc Anh nhưng không kỳ thị tôn giáo).
Vì đói và lạnh với mùa đông khắc nghiệt đầu tiên, gần một nửa trong số họ đã chết. Nhưng qua sự nhẫn nại cần cù, và nhờ được số thổ dân ‘da đỏ’ giúp đỡ, họ đã thành công trong việc trồng trọt hoa mầu, để rồi vào mùa thu hoạch năm sau (tháng 11) họ đã sung sướng mời những người thổ dân tốt bụng mở đại tiệc ăn mừng và tạ ơn trời đất.
Hơn một thế kỷ sau, năm 1789, tổng thống tiên khởi của Hoa Kỳ đã tuyên bố ngày Tạ ơn chính thức phải được tổ chức vào ngày 26 tháng 11, vừa để mừng quốc gia độc lập khỏi ách cai trị Anh quốc, vừa để nhớ lại biến cố Plymouth đầy ý nghĩa năm nào. Về sau các tổng thống đổi ra ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư trong tháng 11. Riêng tổng thống A.Lincoln còn muốn lễ này cũng là dịp tạ ơn Chúa đã cho chấm dứt cuộc nội chiến Nam Bắc tương tàn, và để kêu gọi tinh thần đoàn kết hòa giải quốc gia. Bây giờ Lễ Tạ Ơn trở thành đại lễ quốc gia. Cũng là lễ đoàn tụ gia đình chính yêu trong năm.
Thật ra các sử gia có trưng ra bằng chứng rằng trước đó đã có các nhóm tới Mỹ tổ chức ngày Tạ ơn, như nhóm Tây ban Nha tới Texas năm 1541 hay Florida năm 1565, hoặc nhóm Âu châu khác tại Virginia vào năm 1619. Nhưng vụ tàu Mayflower vẫn nổi bật hơn cả, nên được đề cao hàng đầu.
Trên bàn ăn tối ngày lễ này, món chính vẫn thường là gà tây (gà lôi) được nhồi bằng đủ thứ hầm bà lằng vào bụng, trước khi đem quay trong lò : hành tây, vụn bánh mì, cà rốt, cần tây v.v…Kèm theo là món khoai tây xay nhuyễn, luộc cùng tỏi và bơ, có khi thêm thịt ba chỉ vụn. Hầu hết các gia đình cũng không quên làm món đậu đũa đút lò, được trộn với canh nấm pha sữa, rồi cộng với hành chiên. Họ cũng đòi phải có món bắp ngô non đút lò, thường đi chung với một ít cải bắp con, cùng thêm chút mứt cranberry. Có nhà còn đòi cho bằng được món khoai lang ‘mật’ vừa ngọt vừa thơm (hay đi kèm với ít kẹo xốp màu trắng (marshmallows). Cuối cùng là phần tráng miệng với bánh bí ngô (pumkin pie) truyền thống không thể thiếu.
Dân chúng ăn tiệc mừng, chia sẻ cho nhau những tâm tình trìu mến thiết tha. Cha mẹ dâng lời tạ ơn sốt sắng vào đầu bữa tiệc, nhắc bảo con cái sống tinh thần biết ơn ngày lẫn đêm. Đồng thời mở nhạc nghe những bài ca ý nghĩa, mang theo những lời tạ ơn Chúa đã thương dành nhiều ân huệ cho dân chúng và quốc gia Hoa Kỳ, như bài ca ‘America the beautiful’ : America, God shed His grace on Thee, and crown Thy good with brotherhood, from sea to shining sea ! Thật tuyệt vời !
Lễ Tạ ơn với người tỵ nạn Việt Nam.
Sau tháng tư đen năm 1975, già trẻ lớn bé xanh mặt chạy trốn giặc Cộng từ Bắc vào chiếm miền Nam. Dù công an biên phòng hung dữ, dù hải tặc đe dọa tứ bề, dù bão táp phong ba trên biển cả, bà con ta cứ liều mình ra đi tìm tự do (ai nấy cùng chuyền tai nhau “ngay cả cột đèn đường nếu có chân đi được cũng tìm cách ra đi”). Và nhờ ơn trời đất, với phúc đức ông bà để lại cho ghe thuyền được xuôi chèo mát mái, ta và gia đình đã không phải vùi thây dưới lòng nước sâu, hay chết đói chết khát giữa đại dương vô tình, nhưng cuối cùng may mắn tới được miền đất ‘lành’ cho chim đậu. Riêng với những đấng bị lên án là ‘ngụy quân ngụy quyền’ mà đã nhanh chân lên tàu trước ngày 30 tháng 4, thoát được cảnh bị ‘Bác và Đảng’ thưởng công với cái ‘học bổng cải tạo’ dài hạn mút mùa lệ thủy, ta không còn nhớ gì sao ? Bây giờ phải nghĩ chi đây ?
Không muốn nghĩ cũng phải nghĩ. Tuy cũng tổ chức ăn mừng như mọi người, nhưng cái tinh thần Lễ Tạ Ơn mới cần ghi nhớ. Phải tự vấn lương tâm coi mình đã đền đáp như thế nào. Đôi khi ta còn phải tìm dịp nói lên lời Tạ Lỗi vì mình đã quá vô tình. Khi đọc mấy giòng chữ này, xin mấy quý vị khó tính đừng đóng vai cố Hồng trong truyện ‘Số đỏ’ của Vũ trọng Phụng mà la toáng lên “Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi” nhé ! Chúng mình cùng chia sẻ tâm tình chân thành, chứ không phải chỉ bàn vớ vẩn hay lan man chuyện ‘nam tào bắc đẩu’ đâu.
Trước hết phải cám ơn các nước ‘tạm dung’ cho chúng ta trú chân : Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi luật Tân…Dù đôi lúc họ có làm khó dễ ít nhiều, âu cũng chỉ vì lo cho chuyện ‘an ninh’ quốc gia của họ : biết đâu nhiều cán bộ CS len lỏi vào phá hoại, cùng với những băng đảng trộm cướp lợi dụng thời cơ ?
Cám ơn bao cơ quan thiện nguyện Liên hiệp quốc, cũng như các tổ chức từ thiện cứu trợ lớn nhỏ, các chương trình vớt nạn nhân vượt biển, cùng các nhà tranh đấu nhân quyền gần xa, hỗ trợ giúp chúng ta mau tới được miền đất hứa an toàn.
Dĩ nhiên lời Tạ ơn to lớn vẫn là gửi tới các quốc gia đầy lòng nhân ái : Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Anh, Đức, Hòa Lan, Ý đã không ngừng nghỉ mở rộng đôi tay đón tiếp, tìm chỗ ở, kiếm công ăn việc làm để chúng ta có hoàn cảnh và cơ hội được ‘an cư lạc nghiệp’ như hôm nay. Nói tới nói hoài cũng không sao diễn tả cho vừa cho đủ…
Những ngày còn sống trên trại tạm cư, kẻ viết bài này hay được nghe tâm sự của mấy ông bạn, nói rằng ra đi vượt biên sẽ có thể đưa tới 3 kết cục : Một là nuôi cá (đắm tàu), hai là nuôi má (qua Mỹ có thể giúp mẹ ở nhà), ba là má nuôi (bị công an bắt tù và má phải thăm nuôi). Thấm thía làm sao ! Nay ở đây vừa được ăn cá, vừa giúp được má thay vì má phải nuôi !
Với Trời cao cũng như với nhân quần xã hội, giờ đây ta phải học cách đền ơn. Rồi phải biết thương xót đỡ nâng bao kẻ còn khốn khổ hơn mình. Một số tổ chức thiện nguyện người Việt có thói lành : hàng năm tới mùa Tạ Ơn, rủ nhau chuẩn bị đãi các kẻ vô gia cư một vài bữa ăn khá ngon lành. Hoặc quyên góp những món quà như đồ dùng và áo quần cho các gia đình nghèo. Vài tổ chức tôn giáo cũng dành thời giờ đi thăm viếng an ủi những kẻ ‘đơn độc không thân nhân’ trong các viện dưỡng lão…
Cũng nên bảo nhau phải biết bằng lòng với những cái ta hiện đang có, thay vì lúc nào cũng mơ mộng được làm…tỷ phú như ông Bill Gates. Cũng thỉnh thoảng nên cúi đầu mà tạ ơn Trời đã giúp ngăn ngừa ta sống đời phóng đãng bê tha, hay trộm cướp lọc lừa thiên hạ. Truyện cũ kể về một vị nhân đức lên tiếng với Chúa thế này : ”Con xin đội ơn Chúa, dù con mới bị trộm ghé nhà, nhưng vì con nghèo nên chả mất thứ gì đáng giá, rồi cũng vì con vắng mặt, nên không bị đánh đập hành hung, nhất là cám tạ Chúa vì con chỉ bị ăn trộm, chứ chính mình đã không đi ăn trộm nhà ai…”
Tinh thần tạ ơn còn đòi ta biết xin lỗi và sửa lỗi. Một số người về thăm quê hương thấy có ‘sự cố’ mới khá ngộ : quá nhiều bạn hữu quên mất câu nói ‘Cám Ơn’ và ‘Xin Lỗi’ trên môi miệng. Với hoàn cảnh thác loạn ngày nay, họ chỉ biết có mình mình! Ai cũng phải suy tư: chúng ta thật sự đã bao lần lỗi phạm tới tha nhân, vô tình hay chủ ý, kể cả với những người quá cố. Đây là dịp ta tu sửa lối sống: mẫn cảm hơn với đồng loại, rộng lượng hơn với kẻ yếu đuối. Chỉ có vậy đời ta mới thực sự được an bình.
Tạ ơn vì ta đang còn gia đình thân nhân. Còn công ăn việc làm. Còn chân tay lành lặn. Còn có sức khỏe để sinh hoạt phục vụ nhau. Nhìn xa hơn, hãy tạ ơn những chiến sĩ Việt Nam xưa hy sinh xương máu bảo vệ xóm làng chúng ta được an ninh. Các vị tổ tiên ông bà đã làm gương sống lành thánh, và xây đắp nền tảng đức tin cho mình. Cám ơn các thày cô và ân nhân các cấp giúp ta trưởng thành khôn lớn. Các bác sĩ y tá đã tận tâm giúp mình khi bệnh hoạn yếu đau. Bao bằng hữu khích lệ động viên tinh thần trong nhiều hoàn cảnh. Rồi nếu từng thuộc cộng đoàn dân Chúa, cũng hãy nghĩ tới các vị lãnh đạo tinh thần, các Linh mục Tu sĩ bao năm tận tình dẫn dắt phần thiêng liêng linh hồn…
Cuối cùng hãy cầu nguyện và chúc nhau một mùa Tạ Ơn thật ý nghĩa.
Nhân ngày Nhà Giáo 20/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn
Nhân ngày Nhà Giáo 20/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn
Gioan Lê Quang Vinh
20/Nov/2018
Nhân ngày Nhà Giáo 21/11: Chút tâm tình gửi vào bụi phấn
Lại một ngày nhà giáo nữa đi qua. Những cánh thiệp. Những đoá hoa. Và những gói quà đủ kích cỡ đủ màu sắc. Tôi nhìn thấy những gương mặt hân hoan, của học trò, của thầy cô giáo và những nét âu lo của cả phụ huynh. Khi em gửi cho thầy cô một món quà, em gói trong ấy bao là tình cảm dễ thương và đáng quí. Chính những tình cảm ấy, chứ không phải tự những món quà, là sự khích lệ quí báu để thầy cô còn đủ can đảm đứng trên bục giảng. Hãy thử tưởng tượng, một ngày kia khi không còn tình nghĩa thầy trò, thì có ai còn can đảm chọn nghề giáo?
Nhưng em ơi, cho tôi xin lỗi vì hôm nay khi tôi đã từ chối không nhận món quà của lớp em và lúc đó em có vẻ không vui. Đối với tôi, món quà vẫn là cái gì tốt đẹp bởi vì trong đó có cả một tấm lòng. Nhưng hãy cho phép tôi từ chối, bởi vì tôi đã nhìn thấy nhiều quá, thấy những vất vả nhọc nhằn của bạn bè em, thấy những ánh mắt rụt rè e ngại khi không biết còn đủ tiền đóng vào quỹ lớp hay không. Và tôi cũng thấy những nét âu lo trên vầng trán và trong mắt em, khi mà học phí kỳ một chưa đóng, khi mà chủ nhà trọ đang hỏi tiền nhà, khi chỗ dạy kèm tháng này không có. Vâng, cuộc sống bao giờ cũng đẹp nhưng quả thật cuộc sống không bao giờ là dễ dàng cho những con người đang cố gắng bước đi trong đó. Và tôi, ước mong giúp em tránh đi một chút nhọc nhằn. Và đâu nhất thiết là cứ ngày nhà giáo là phải tặng quà?
Dù sao cũng xin cám ơn em, cám ơn em thật nhiều.
Nghề giáo là cái nghề lạ lắm. Người ta không làm giàu bằng nghề giáo được cho dù có lúc cuộc sống cũng dễ thở. Không phải một người, hai người nói điều ấy mà đó là kinh nghiệm của lớp lớp người đã đứng trên bục giảng. Nhưng cái lạ không nằm chỗ đó, cái lạ là những ai đã gắn bó với nghề thì cũng như đã gắn bó với một người tình, không dễ gì dứt bỏ. Và nếu có phải vì những éo le của cuộc đời, như một thứ định mệnh, mà phải dứt bỏ nó, thì lòng người ta vẫn phải dằn vặt, tiếc nuối, và không dễ gì thích ứng với nghề mới mà quên đi được những ngày mình cầm phấn đứng trước những ánh mắt khát khao tri thức. Và cái khắc nghiệt cho người đã “trót” làm nghề giáo nằm ở chỗ đó. Có lúc không “dứt” được mà vẫn phải “bỏ”. Lâu lâu đọc một bài báo đặt vấn đề tại sao giáo viên nghỉ việc ai cũng xót xa cho cái khắc nghiệt ấy.
Có một anh bạn tôi là giáo viên giỏi một trường trung học có tiếng ở Sàigòn thập niên 2000. Anh đã quyết định bỏ nghề vì những qui định phi lý và cách ứng xử tệ trong ngành giáo dục. Anh thương yêu học trò và yêu nghề, nhưng anh không muốn làm trái lương tâm mình.
Và ngày nhà giáo là dịp cho học trò tỏ tấm lòng đối với thầy cô. Tấm lòng học trò là phần thưởng lớn nhất, ánh mắt học trò là khích lệ cao quý nhất mà người thầy, chứ không phải ai khác, nhận được trong mỗi ngày làm việc của mình. Cái níu chân nhà giáo ở lại với bục giảng là ở đó. Thế thì có cần đến ngày nhà giáo không? Vâng, cần, cần ngày nhà giáo như cần một ngày mà người đi sau ngước nhìn người đi trước với sự kính trọng và cám ơn. Sự kính trọng và cám ơn như một mùi hương quí làm cho những bước chân trên đường sỏi đá, của cả thầy lẫn trò, đều dịu đi một chút và đẹp hơn một chút.
Nhưng sẽ là không cần chút nào cả khi đó là dịp để học trò phải tặng những món quà, có khi khá đắt giá, làm nặng thêm đôi vai học trò. Những món quà biểu lộ nhiều tấm lòng. Nhưng có một điều tôi có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng tấm lòng không bao giờ đồng nghĩa với những món quà. Có những món quà biểu lộ tấm lòng, nhưng không bao giờ là đủ so với tấm lòng người tặng quà. Nếu món quà bằng với tấm lòng thì tội nghiệp tấm lòng quá! Nhiều tấm lòng đẹp mà chẳng cần biểu lộ bằng quà cáp. Và ngược lại, có những món quà lớn mà không hề biểu lộ chút lòng nào.
Tôi xin được nhắc lại một câu chuyện cách đây ít lâu khi tôi mới đi dạy học. Trên một chuyến xe về Hố Nai, tôi ngồi cạnh một người đàn bà đứng tuổi, bà hỏi tôi: “Cháu làm nghề gì?” Tôi đáp thờ ơ: “Dạ cháu đi dạy”. Bà liền chép miệng: “Tội nghiệp cháu quá”. Tôi đã định nói cũng chẳng tội nghiệp gì lắm đâu bà ạ. Nhưng may mà tôi không lý giải gì cả. Sau này khi tôi học trường Luật, tôi nhớ có thầy kể lại một chuyện cũng gần giống như thế. Người ta nói với thầy là học Luật sao không đi làm luật sư “ngon” hơn (!). Có phải cần có những món quà ngày nhà giáo để an ủi người đã “trót lỡ”!
Chưa hết, ngày nhà giáo sẽ không cần khi mà nhân ngày đó người ta thi nhau khuyến mãi. Quà gói sẵn đủ loại đủ cỡ, có ghi giá đàng hoàng. Từ bông hoa hồng giả cho tới những quần áo thật. Từ cây bút nhẹ như bông cho tới chồng tập nặng như núi. Thầy cô đứng nhìn vào siêu thị là biết ngay mình sẽ có thứ gì trong ngày thiêng liêng ấy. Những bích chương, những quảng cáo. Khuyến mãi nhân ngày nhà giáo, biết là vì nhà giáo hay vì nhà buôn? Nhà tiếp thị giỏi là người biết tìm mọi cơ hội để đánh vào người tiêu dùng. Nhưng chắc cũng cần có một chỗ nào đó cho người ta quyết định theo con tim thì cuộc đời mới đẹp chứ phải không ? Chưa hết. Có những giờ học xong, học sinh thưa thầy (cô) ra ngoài một chút cho tụi em bàn chuyện riêng, mà thầy cô nào cũng biết là “tụi em góp tiền mua quà”. Có thầy cô nào không ái ngại.
Và cũng xin ai làm trong ngành giáo dục hãy tôn trọng học trò. Có một vị có chức quyền ở đại học nọ, khi nghe tôi nói rằng có nhiều sinh viên không đóng học phí được vì nghèo quá, vị đó la lên: “Không có tiền mà bày đặt đi học!”. Tôi bàng hoàng y như chính người bị hạ nhục, và vì quá bất bình, tôi đã phải thốt lên lời hơi nóng nảy. Nhưng cuộc đời này mà tính toán như thế thì buồn quá. Cùng với Francois Sagan, học trò cứ phải nói: “Bonjour, la tristesse” (Buồn ơi, xin chào). Không ít thầy cô khi phải nhận những món quà từ học trò, vừa cảm động vì tấm lòng của họ và vừa lo lắng cho hoàn cảnh của họ
Vậy hãy trả lại cho nhà trường và giáo dục ý nghĩa của nó và hãy giảm bớt đi những gồng gánh ăn theo. Thật ra ngày gọi là nhà giáo cũng chỉ là ngày của một hiến chương của các nước xã hội chủ nghĩa mà thôi, chứ chẳng phải của Việt nam và cũng chẳng phải của thế giới. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có phổ nhạc bài thơ Phượng Hồng của Đỗ Trung Quân: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”. Còn tôi, tôi lại nghĩ đến “những chiếc giỏ xe chở đầy quà cáp” vào ngày 20 tháng 11 và những chiếc xe nặng nề của phụ huynh bươn chải kiếm sống!
Gioan Lê Quang Vinh
Những món nợ khó trả
Tạp ghi Huy Phương
(Nhân Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH kỳ 10, được tổ chức tại Nam California)
Sau Tháng Tư, 1975, hằng trăm nghìn người thương binh của miền Nam Việt Nam không thể nào che giấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.
Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là “những người bị bỏ quên.”
Đã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứu gái sa chân, cứu trẻ bị bán ra nước ngoài, cứu già thiếu gạo…
Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ “an ninh bãi đáp” cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền. Trong khi đó, công việc cứu trợ các thương phế binh VNCH trong một xã hội còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận, phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.
Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi người sinh viên du học ra nước ngoài giữa lúc chiến tranh trở nên tàn khốc, lúc cấp chỉ huy quân đội miền Nam bước chân lên Đệ Thất Hạm Đội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.
Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom “nhiệt áp” đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà “không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền Nam trước đây.” Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.
Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày “tan hàng” đã hoạt động để cứu giúp “những người bị lãng quên,” vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH:
“Tôi viết thư cho anh hôm nay không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Sài Gòn, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.”
“Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.”
“Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát ‘You Are My Heroes,’ bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống. Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất.”
Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nổi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi. Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc California đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.
Ở hải ngoại từ trước đến nay, những quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi… Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.
Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm dập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là “người đã bị bỏ quên” trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch.
Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn 30 năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà.
Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối.
Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh.










From TU-PHUNG