Những con cua bạc triệu trên mâm cơm đại gia Việt

Van H Pham
Những con cua bạc triệu trên mâm cơm đại gia Việt

VIỆT NAM (NV) – Khoảng hai năm gần đây, những con cua có giá từ vài ba trăm đô đến hơn $2,500 mỗi con thường xuất hiện trên bàn ăn của giới nhà giàu Việt Nam, theo VietNamNet.

Theo bài báo, đây là những loại cua hiếm và có giá đắt đỏ nhất thế giới.

Những loại cua được kể đến là cua hoàng đế Alaska, một loài cua nổi tiếng ở Canada và Mỹ, mà dân nhà giàu trong nước còn gọi tên là “cua khủng,” vì trọng lượng của nó có thể từ 2.5 kg–5 kg mỗi con.

Theo VietNamNet, giá cua hoàng đế Alaska đông lạnh bán tại Việt Nam từ 1.2-1.4 triệu đồng/kg (khoảng $50-$60/kg), riêng loại cua tươi sống này khoảng hơn $100/kg.

Mắc hơn cua hoàng đế Alaska là cua Úc, có con lên tới khoảng 60 triệu đồng (hơn $2,500/con).

Theo bài báo, cua Úc có hình dạng giống cua biển ở Việt Nam với đặc điểm cặp càng to lớn, nhưng trọng lượng của loại cua có tên Tasmania ở Úc lại có trọng lượng gấp cả 10-20 lần cua biển Việt. Theo đó, loại cua Úc này được xếp vào loại cua có trọng lượng to nhất trên thế giới khi có những con nặng tới 10kg/con.

“Giá cua Úc cũng thuộc diện siêu đắt đỏ khi một con nhỏ nhất khoảng 3kg đã có giá gần 20 triệu đồng (hơn $850), còn con nặng 8kg giá lên tới gần 60 triệu đồng (hơn $2,500),” bài báo viết.

Bên cạnh đó còn có loại cua ruby cũng thuộc loại cua có giá đắt đỏ nhất thế giới được người Việt lùng mua về ăn.

“Theo lời của giới kinh doanh hải sản nhập khẩu, trên thế giới, cua ruby là loài có chiều dài khoảng 60cm và có thể nặng tới 9kg/con. Vỏ cua lấp lánh, cứng, nhiều gai nhọn nhưng bên trong cũng mềm như bất kỳ loại cua nào. Ở một số nước, vỏ cua ruby khổng lồ còn được dùng để làm đồ trang sức và bán với giá cao. Do đó, những con cua có trọng lượng khủng sẽ được bán với giá vài chục đến cả trăm triệu đồng một con,” theo VietNamNet

Một loại cua nữa cũng được người lắm tiền săn lùng là cua lông, chỉ nặng chưa đến nửa pound (200g) nhưng lại có giá cực kỳ đắt đỏ. Theo đó, cua lông trọng lượng 100gram/con có giá khoảng 200,000 đồng/con (khoảng $8); loại cua 200gram/con giá 380,000-400,000 đồng/con. Riêng loại cua nặng 250gram/con (nửa pound) có giá lên tới 900,000 đồng/con ($40/con).

HÌNH:
– Cua ruby có giá đắt đỏ nhất thế giới được giới nhà giàu Việt lùng mua về ăn.
– Cua hoàng đế Alsaka. 
– Cua Úc có con lên tới hơn $2,500/con.
– Loại cua lông Hong Kong dù có trọng lượng khá nhỏ nhưng giá đắt đổ bậc nhất thế giới.

Image may contain: food
Image may contain: food
Image may contain: food
Image may contain: food

Tượng đài Fidel Castro tại Đông Hà – Quảng Trị

Image may contain: 1 person, standing and text

Bill Tran

Mỹ tới VN giúp VNCH ngăn chặn làn sóng đỏ cướp miền Nam thì bảo là “xăm lược”. Còn thằng Nga, thằng Tàu, thằng Cuba… đưa quân vô VN giết người Việt thì gọi là gì? Mà phải vơ vét sạch tài sản trong cả nước trả nợ, đưa dân đi lao động trừ nợ.

Thằng Cuba trùm giết người ở xứ nó, chết rồi, có liên quan gì tới dân VN mà chúng mày cũng lấy tiền thuế của dân hàng trăm tỷ đi xây tượng thờ nó? Đúng là quân khốn, ngu ngục. Cha mẹ chúng mày phải rất xấu hổ sinh ra những đứa con hư như chúng mày, những thằng theo CS bán nước nhận giặc làm cha, hết Lenin, Mao, Hồ bây giờ tới Castro.

Tượng Lenin cuối cùng ở tỉnh Odessa bị chặt đầu

VN.SPUTNIKNEWS.COM
Hùa theo phong trào xóa bỏ dấu vết cộng sản, những kẻ lạ ở tỉnh Odessa đã “xử lý” tượng đài Vladimir Lenin cuối cùng trong cả tỉnh.

Người ta không biết lý do nhà chức trách địa phương đã không dọn tượng đài theo qui định của Luật xóa bỏ dấu vết cộng sản ở Ukraina. Bên cạnh đó, trang web nhấn mạnh, tượng Lenin từ làng Zachishia thuộc “loại khá hiếm — đội mũ lưỡi trai.”

Trước đó, Giám đốc Viện Ký ức Ukraina Vladimir Vyatrovich đã thông báo rằng, hơn 1.300 tượng Lenin được tháo dỡ ở Ukraina trong phong trào xóa dấu vết cộng sản.

Vụ án anh Lưu Văn Vịnh và bạn bè sẽ được xét xử vào ngày 5/10/2018.

Image may contain: 3 people, people smiling, people standing, crowd, outdoor and closeup
Trần Bang

Nguồn tin từ toà án HCM cho biết vụ án anh Lưu Văn Vịnh và bạn bè sẽ được xét xử vào ngày 5/10/2018.

Đây là “cái gân gà” mà cơ quan an ninh điều tra HCM ngậm phải từ ngày 7/11/2016 đến nay mới “sắp xếp” ổn thoả để xử án. Không dưới 1 lằn bản kết luận điều tra bị VKS trả lại cơ quan điều tra vì chứng cứ kết tội rất yếu.

Cùng anh Vịnh, một số người khác bị bắt chung vụ là sư thầy Phan Văn Trung, anh Nguyễn Văn Đức Độ, Nguyễn Quốc Hoàn, Từ Công Nghĩa… Điều “hài hước” là anh Độ được cho là không liên quan nhưng vẫn bị.

Một người khác bị bắt trước nhóm này 4 ngày là Bác Hồ, đã bị xử sơ thẩm 4 năm (Bác ko kháng cáo) và coi như đã chung nửa án.

Rất có thể, ông Vịnh sẽ bị xử án rất nặng – như xu thế chung hiện nay với những người bất đồng chính kiến.

FB Hoàng Dũng

Giới trí thức Việt Nam muốn bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ‘bị miễn nhiệm’

Nguoi-Viet

Ông Phùng Xuân Nhạ từ chức bộ trưởng Giáo Dục là cách duy nhất cứu vãn uy tín, vốn đã rách tả tơi, của ngành giáo dục.

NGUOI-VIET.COM
“Ông Phùng Xuân Nhạ từ chức bộ trưởng Giáo Dục là cách duy nhất cứu vãn uy tín, vốn đã rách tả tơi, của ngành giáo dục.”   

“Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.”

Image may contain: 1 person, sitting and standing

Nicolas Đặng to Salut Saigon & Salut Les Copains

“Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.”

Lần đầu gặp anh, chị mới 16 tuổi, nhỏ xíu, tóc bó đuôi gà, đôi môi mỏng lém lỉnh. Hôm ấy, Ba chị đưa về một thanh niên trẻ người Mỹ, giới thiệu người phụ tá của mình với gia đình, anh đã nhìn chị không chớp mắt. Đến khi chị vênh mặt hỏi “Tôi có chỗ nào không ổn”, anh mới ngượng ngùng sực tỉnh, lí nhí… nói câu xin lỗi!

Không biết sao anh bị chị thu hút, đến mất hồn mất vía, còn chị thì tỉnh rụi, chẳng để ý gì đến anh chàng người Mỹ đồng nghiệp của ba mình. Sau đó anh hỏi Ba chị thuê hẳn một tầng lầu trên cùng để ở, thì chị và anh gặp nhau mỗi ngày.

Sống chung nhà, nhưng đường ai nấy đi, đối với chị, anh là bạn của Ba, người lớn rồi, nên chị không coi anh như bạn bè của mình, nhưng rồi chị cũng biết anh mới 24 tuổi, đến từ Washington DC, nhiệm sở ở VN này là công việc đầu tiên của anh sau khi tốt nghiệp đại học. Tuy còn bỡ ngỡ với xã hội VN, nhưng lạ một điều là anh nói tiếng Việt giọng Bắc rất chuẩn và lưu loát như được đào tạo qua trường lớp đàng hoàng.

Anh ít nói nghiêm nghị, nhưng mỗi lần gặp chị, anh lúng túng, mặt mày đỏ gay, làm chị nổi tính nghịch ngợm, muốn trêu anh.

Có lần trong bữa ăn, chị đưa cho anh quả ớt tròn đỏ, rất đẹp, chị bỏ nguyên trái vô miệng, nói ngon lắm, và đưa cho anh một trái, bảo ăn thử. Anh tưởng thật, bắt chước chị, bỏ vô miệng nguyên trái, nhai rốt rột, rồi anh sặc, anh ho, anh khóc, còn chị nhả trái ớt ra, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Anh cay quá, có ý giận, cầm cốc nước bỏ lên lầu một mạch.

Đến tối không thấy anh xuống, thấy cũng tội nghiệp, chị sai thằng em bưng lên cho anh ly nước đậu nành tạ tội, nhưng thằng em xuống nói anh ấy không có ở trên lầu, đi đâu rồi?

Chị có ý đợi, muốn thử coi sau khi ăn trái ớt, mặt mũi anh ra sao? Nhưng mấy ngày liền anh không về, nghe Ba nói với mẹ anh đi công tác.
Cả tuần không gặp, chị thấy thiếu thiếu, chị nghĩ có lẽ tại mình chơi ác với người ta nên mình thấy có lỗi, áy náy đó thôi.

Tuần sau anh về, bước vô nhà thấy chị, còn tức nên vờ như không thấy, anh xách vali đi thẳng lên lầu, từ đó anh luôn giữ vẻ mặt lạnh lùng làm chị thấy… tự ái ghê gớm luôn.

Một hôm chị đang học thi tú tài, ban đêm ở trường thầy Hai Ngô về, từ đường Nguyễn Huệ đạp xe về tới nhà chị cũng khá xa, vừa tới góc ngã ba hơi tối, xe chị tự nhiên trở chứng, phải dắt bộ về, đường tối chị thấy sợ ma. Vừa đi vừa run, vậy mà xui khiến sao gặp anh, đang lái xe đi ngang mặt, tài thật anh nhận ra chị ngay, và “de” xe ngược lại. Dù đang giận, nhưng chị cũng để anh giúp, đem xe về nhà. Trên đường về anh không nói, chị cũng không…(đang hờn mát mà).

Gần tới nhà, anh quay qua nhẹ giọng hỏi chị: “Sao em ghét tôi quá thế?”
Bị hỏi thình lình, chị ấm ớ: “Tôi có ghét anh đâu?”.
Anh nhìn vào mắt chị (trời ạ, tối thui, sao mắt anh ấy sáng thế, xanh biếc như hai vì sao…). 
“Thế sao em vẫn muốn tôi khóc, để em cười?”
Tự nhiên chị thấy lúng túng. May quá tới nhà, chị cảm ơn, rồi vội vã xuống xe vào nhà, để anh ngẩn ngơ nhìn theo…

Đêm ấy lạ ghê, không ngủ được, chị cứ thấy đôi mắt như hai ánh sao của anh chập chờn trước mặt, lần đầu tiên chị mất ngủ vì một chàng trai.
Sáng ra, trước khi đi học chị có ý chờ xem có gặp anh không, nhưng không gặp, đến giờ, chị phải đi học thôi. Chiều về chị cũng không gặp. Ba chị nói, anh về nước có chuyện gấp.

Mấy ngày anh không có ở nhà, chị như người mất hồn, cứ ra vô, ăn ngủ không yên. Lạ nhỉ, sao tâm trạng mình bất ổn như vậy?

Đến khi anh về, vừa thấy anh bước vô từ cửa, chị mừng như bắt được vàng, ánh mắt long lanh, chị cười nói huyên thuyên. Anh bỏ vali xuống, rạng rỡ nhìn chị, âu yếm lắng nghe và cuối cùng hỏi chị một câu:

“Em nhớ tôi lắm hả???”

Câu hỏi bất ngờ làm chị khựng lại mấy giây, đỏ mặt… như ăn trộm bị bắt quả tang. Xấu hổ quá, (sao anh ta có thể đọc được ý nghĩ của mình thế nhỉ?), chị vờ có việc, kiếm cớ bỏ đi.

Sinh nhật 17 tuổi của chị, chị mời bạn bè tới nhà chơi, một đám choai choai con nít, nói cười ầm ĩ. Tới tối tiệc tan, lúc về phòng ở lầu hai, chị thấy anh đứng đó, trong bóng tối, chìa ra cho chị một bó hoa hồng rồi anh bỏ đi.

Ôm bó hoa, chị hồi hộp… Về phòng, cả đêm chị cứ ngắm bó hoa, từng cánh nhung mềm mại, đẹp ơi là đẹp, mở ra, trong cánh thiệp mỏng có bức thư ngắn kèm theo:

“Em của tôi.
Lần đầu gặp, em đẹp như một bức tranh.
Lần thứ hai gặp, em tinh quái như một con mèo.
Lần thứ ba gặp, con mèo đánh cắp trái tim tôi…
Bây giờ, tôi bắt đền … em để trái tim tôi ở đâu?
Tôi muốn xin em trả lại…!”

Trời đất! Phải làm sao đây? Đọc xong bức thư, chị tái mặt… lại cả đêm trằn trọc, sáng ra chị không dám ra khỏi phòng, lỡ gặp anh chàng thì biết ăn nói làm sao???
.

Mối tình của chị bắt đầu như vậy, dễ thương, nhẹ nhàng.

Năm ấy, chị thi tú tài IBM lần đầu ở Qui Nhơn. Tràn đầy tự tin, chị xúc tiến thủ tục đi du học…

Nhưng một sáng mùa hè, năm 75, anh đi SG họp khẩn cấp và không trở về. Toàn bộ nhân viên Ngoại giao được lệnh rút khỏi VN. Anh gọi điện thoại cho Ba chị, xin ông đưa cả gia đình đi, anh sẽ sắp xếp chuyến bay, nhưng ba chị không chịu.

Anh lại xin Ba chị cho cưới chị để đưa chị theo, nhưng ba chị cũng không chịu, đời nào ông để con gái ông lấy Mỹ?

Những chi tiết này chị không hề hay biết, thấp thỏm chờ, và lòng chị có ý trách, sao anh nỡ bỏ đi không một lời từ giã…

Biến cố 75 ập tới. Ba chị đi tù (là nhân viên ngoại giao cao cấp), nhà cửa toàn bộ bị tịch biên hết, giấc mộng du học của chị vỡ tan. 
Cả gia đình chị tan tác như chiếc lá rơi rụng cuối mùa, chị buồn đau một thời gian dài…

Rồi chị cũng gượng dậy giúp mẹ bôn ba, buôn bán nuôi đàn em dại. Và chị lấy chồng, hai vợ chồng tương đối hạnh phúc, nhưng lại gặp phải mẹ chồng khắc nghiệt nên làm chị kiệt quệ tinh thần lẫn thể xác. Chị thất vọng về chồng mình, vì thấy anh rất sợ mẹ, không giúp gì được cho chị, dù bụng mang dạ chửa, chị cũng phải quần quật không khác gì con ở, nên với chồng chị có phần oán trách, và tình cảm chị dành cho chồng, do đó phai nhạt ít nhiều.

Đứa con gái ra đời, cũng không cứu vãn được vấn đề. Mẹ chồng lúc nào cũng chì chiết, hà khắc, chị cô đơn trong gia đình chồng, đến nỗi có lần chị xin chồng ly dị, vì thấy mình khổ quá không chịu nổi. Nhưng rồi… chị phát giác mình mang thai đứa con thứ hai.

Đành vậy, có những lúc buồn, chị ôm con mà nhớ quay quắt về anh, với những thương yêu cũ. Sau này chị đã biết rõ câu chuyện do ba chị trước khi đi tù, đã kể lại với giọng ân hận: “Biết vậy Ba gả con cho nó”.

Khi chị biết anh đã tìm đủ mọi cách có thể để đưa chị đi nhưng tình trạng hỗn loạn lúc đó, anh không làm sao hơn được, chị tin chắc anh cũng đau lòng như chị, khi phải đành phải xa nhau. Và chị chấp nhận số phận, không còn oán trách anh nữa.

Sau đó không lâu, có một người lạ mặt tới đưa cho má chị ít tiền và địa chỉ và số điện thoại của anh bên Mỹ. Chị cầm đọc, mà hai hàng nước mắt chảy dài, chẳng biết để làm gì, nhưng chị vẫn cất kỹ số điện thoại và địa chỉ của anh, để thỉnh thoảng lấy ra nhìn, mà buồn vời vợi…

Mang thai lần này chị yếu hẳn, thai 7 tháng mà bụng chị nhỏ xíu, chị gầy, khô như que củi, nhìn vô gương chị không nhận ra mình, đứa con gái xinh đẹp, nhí nhảnh, năng động năm xưa đâu rồi nhỉ?

Thình lình, một tối chồng chị về, mẹ con rầm rì to nhỏ, có chuyến đi vượt biên. Mẹ chồng muốn mẹ con chị ở lại, để chồng chị đi một mình. Nhưng anh không chịu, đi thì phải đi cùng. Lần đầu tiên chị thấy anh cương quyết, cuối cùng mẹ chồng nhượng bộ. Vậy là vợ chồng, con cái chị, dắt díu nhau ra khơi.

Tàu gặp bão, giông tố tưởng đã nhấn chìm con tàu mấy lượt, vậy mà trời thương, may sao chiếc tàu rách nát vẫn còn tiếp tục chạy. Nhưng mấy hôm sau nữa thì máy hư, hết nước, hết thức ăn, lênh đênh vô định trên biển…

Môi nứt nẻ, rướm máu, sức tàn lực kiệt. Mấy lần chị hôn mê tưởng chừng không bao giờ tỉnh lại. Trong cơn mộng mị, chị thấy mình về lại ngày mới lớn, vui tươi, nhí nhảnh bên anh, những ngày lãng mạn, tươi đẹp, nhuộm xanh cả bầu trời.

Hình như giấc mơ đã giúp cho chị thêm chút sức lực, và trời thương, đã có lúc chị thấy mình mở mắt, để thấy đứa con gái bé bỏng ngủ vùi trong lòng mình và đứa con trong bụng có lúc quẫy đạp.

Có lẽ nhờ đó, mà ý chí phải sống trong chị trỗi dậy mạnh mẽ, nhưng tới lúc gặp được tàu cứu thì chị một lần nữa chìm sâu vào hôn mê.

Không biết bao lâu, khi chị tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trong bệnh xá xa lạ, tâm trí hoang mang, mơ hồ. Chị hỏi đây là đâu. Qua người y tá bản xứ, chị biết đây là một đảo thuộc Mã Lai.

Biết mình đã tới bến tự do, nhưng quá yếu, chị lại hôn mê. Trước khi ngất, không hiểu sao trong tiềm thức, như một lời trăn trối, chị rút cái địa chỉ giấu trong lai áo, đưa cho cô y tá, nhờ đánh giùm điện tín cho người này, nói chị đang ở đây.

Qua hôm sau, trong cơn thập tử nhất sinh, cái thai có triệu chứng sinh non, mà chị lại quá yếu, Bác sĩ đang lo lắng, không biết có cứu nổi cả mẹ lẫn con không? 
Trong cơn mê, chị nghe tiếng khóc của chồng, và cảm giác hơi ấm bàn tay nhỏ nhắn của đứa con gái bé bỏng vuốt ve trên mặt, chị như được được hồi sinh lần nữa. Bác sĩ quyết định mổ.

Như cơn gió lốc… 
Anh của những ngày tháng cũ, vẫn cao gầy, dáng thư sinh, tuy khuôn mặt bơ phờ, mái tóc nâu rối bời, và cặp mắt xanh lơ, giờ đã không còn sáng như hai vì sao nữa, bởi từ lúc nhận được điện tín, liên lạc được với Liên Hiệp Quốc để xác minh, anh đã không hề chợp mắt.

Chuyến bay tốc hành đã đưa anh tới đảo nhỏ này, và giờ đây, đứng nhìn chị bé bỏng, hôn mê trên giường bệnh.

Trước khi đi qua đây, trong đầu anh không hề nghĩ tới chị đã có chồng, con, và một đứa nữa sắp chào đời.

Đứng đó nhìn chị, anh đau đớn, xót xa, đầu óc anh tràn đầy xúc động. Anh véo tay mình mấy lần, để biết chắc đây không phải là một giấc mơ.

Khoảnh khắc, đau đớn, ngỡ ngàng rồi cũng qua đi, Anh thảo luận với bác sĩ, nói chuyện với chồng chị, giới thiệu sơ về mình, và anh khẩn cấp liên lạc bệnh viện lớn nhờ giúp đỡ.
.

Ngay ngày hôm đó chị được trực thăng chuyển về bệnh viện lớn ở thủ đô Kuala Lumpur, với sự chăm sóc đầy đủ nhất. Chị được cứu sống, cả mẹ lẫn con.

Biết chị đã vượt qua cơn nguy hiểm, lòng anh rộn rã. Đứng bên ngoài phòng, nhìn đứa bé gái sinh non, lớn hơn con mèo một chút, ngo ngoe trong lồng kính, cảm giác tràn ngập thương yêu như chính con mình. Anh ngỏ lời với chồng chị, xin làm cha đỡ đầu của đứa bé.

Trước hôm về lại Mỹ, anh và chị lần đầu nói chuyện trực tiếp với nhau ở bệnh viện, khi chị đã tỉnh táo. Bên giường bệnh, nhìn chị, ốm xanh như chiếc lá. Ánh mắt yêu thương, như ngàn lời muốn nói, nhưng anh biết, có rất nhiều điều cần phải giữ lại cho riêng mình.

Chị nhìn anh cảm kích, biết ơn. Những thứ này có nghĩa gì với những điều chị đang chất chứa trong lòng. Nhưng cũng như anh, chị biết mình không thể nói hay biểu lộ ra những gì mình đang nghĩ, tự nhủ lòng… phải quên thôi!

Ánh mắt nhìn nhau thăm thẳm như biển sâu, chị chỉ nói được một câu: “Em xin lỗi”.

Có những niềm riêng một đời giấu kín 
Như rong rêu chìm đắm trong biển khơi
Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi…

Trước lúc chia tay, anh trao riêng cho chồng chị một phong bì, bên trong có một xấp tiền mặt. Chồng chị tự ái, không nhận, nhưng anh cứ bắt chồng chị phải nhận, anh nói:

“Cứ coi như tôi cho mượn, sau này anh có thì trả lại tôi…”

Bốn tháng sau, giữa năm 80 gia đình chị chính thức định cư ở San Jose, Ca…

Thời gian qua nhanh, hai năm sau đó chị có thêm một thằng cu Tí ra đời. Nhìn ba đứa con ngày mỗi lớn, chị giờ đã bình thản hơn, sóng gió trong lòng đã dịu đi nhiều. Mỗi năm đến ngày lễ lớn hay sinh nhật của từng đứa con chị, anh đều gửi thiệp, gửi quà. Nhưng hai bên không ai nói chuyện trực tiếp, chị thấy vậy cũng tốt, thôi thì cố coi như “… chỉ là giấc mơ qua”!

Hai vợ chồng chị đều đi học lại, có nghề nghiệp ổn định và đời sống kinh tế vững vàng. Món tiền 7 ngàn dollars năm xưa, chồng chị gởi trả lại cho anh sau 3 năm tới Mỹ.

Nợ tiền đã trả được… nhưng nợ tình thì sao?

Có một điều làm chị bứt rứt là anh không lấy vợ, 40 tuổi anh vẫn sống độc thân. Công việc của anh đi nhiều, và anh lấy công việc bận rộn làm vui…

Mẹ anh thỉnh thoảng nói chuyện với chị qua điện thoại. Bà thương chị như con dù chưa bao giờ gặp, tuy nhiên bà biết mặt chị qua tấm ảnh trong phòng anh.

Những gì bà ấy nói thường làm chị buốt nhói trái tim, làm chị cảm động đến khóc được, và qua bà, chị biết được toàn bộ cuộc sống của anh. Hai người đàn bà, cùng nắm giữ trái tim một người đàn ông. Chị gọi bà bằng Mẹ, các con chị gọi bà là bà ngoại.

Một chiều mùa thu, bà gọi cho chị biết anh đang ốm nặng.
Chị muốn đi thăm lắm nhưng vì công việc làm không thể nghỉ, hơn nữa có những lý do tế nhị chị không đi được. Chị chỉ có thể gởi một bình hoa thật đẹp vào bệnh viện cho anh.
Hôm biết anh xuất viện, chị gọi điện thăm nhưng anh còn yếu, chưa nói chuyện được.

Mẹ anh vừa khóc vừa nói vớí chị: “Con biết không? Họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp gửi hoa tới bệnh viện rất nhiều nhưng đến lúc xuất viện, ngồi trên xe lăn, còn rất yếu mà nó chỉ ôm khư khư bình hoa của con, đem về nhà, để bên đầu giường”.

Chị khóc !

Hai năm sau đang giờ làm việc, mẹ anh gọi báo tin anh hấp hối, cuộc giải phẫu tim không thành công.

Chị bỏ hết công việc lên thăm anh lần cuối, đi cùng chị có con bé giữa, đứa bé năm nào nhờ anh mà được sống sót…

Nhìn anh thoi thóp trên giường bệnh, chị khóc như chưa bao giờ được khóc, lần đầu cũng là lần cuối, chị khóc thương cho tình yêu của anh và của chị. Khóc thương cho người đàn ông đã yêu chị bằng một tình yêu bền bỉ, không bao giờ ngưng nghỉ, chưa hề đòi hỏi ở chị một điều gì.

Trong một lúc hiếm hoi, tỉnh táo, anh bình thản nhìn chị với ánh mắt tràn ngập thương yêu… Anh cười, bảo chị đừng buồn, đời sống có sinh, có tử. Anh cảm ơn thượng đế, đã cho anh gặp và yêu chị. Chị đau đớn nghẹn lời, cũng chỉ nói được một câu: “Em xin lỗi”.

Ánh mắt xanh lơ, cái nhìn đằm thắm, anh thu hết tàn lực nói với chị rằng:

“Nếu có kiếp sau, em đừng nói câu xin lỗi”.

Đám tang anh vào một ngày đầu mùa đông… buồn. Anh ra đi ở tuổi 46.

Chị trở về cuộc sống thường ngày, thế gian này từ nay thiếu vắng anh nhưng trong lòng chị, anh vẫn có một chỗ đặc biệt dành riêng.

Ba tháng sau đám tang anh, chị nhận được thư mời của luật sư, sẵn dịp chị bay lên thăm mẹ anh, bà đã già đi nhiều sau cái chết của con trai.

Hôm mở di chúc của anh, chị mới biết cả ba đứa con chị đều có phần trong tài sản của anh để lại. Số tiền không nhiều nhưng dư đủ cho cả ba đứa vào học những trường đại học danh tiếng nhất.

Chiều tàn, bên ngôi mộ anh, chị lặng lẽ thầm thì những lời thương yêu mà lúc anh còn sống chị đã không thể nói.

Theo gió chị gửi tới anh, những lời của một tình yêu, mà chị biết kiếp này và… cho tới kiếp sau chị vẫn ao ước được có, cũng như được gặp lại.

Văng vẳng bên tai chị nghe có tiếng anh thì thầm, “Nếu có kiếp sau xin em đừng nói câu xin lỗi”…

(Người viết: Khuyết Danh)

Ảnh minh họa: Tấm ảnh cũ – Kỷ vật quý giá của cựu binh Jim Reischl trong hành trình tìm kiếm bạn gái xa cách 45 năm.

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ

Trung Quốc thọc tay vào Việt Nam cũng bởi CSVN, Trung Quốc phá nát kinh tế Việt Nam cũng nhờ CSVN. Phải nói là ĐCSVN được sinh ra là để thi hành những gì Trung Quốc sai bảo. Thời Hồ Chí Minh cũng thế và nay cũng thế.

Truyền thống ĐCS là tổng bí thư mới là hoàng đế chứ không phải thủ tướng. Đến thời Nông Đức Mạnh, vì hắn ta vô năng bất tài nên đã để Nguyễn Tấn Dũng lấn át quyền hành. Thời Nguyễn Tấn Dũng, ông ta dùng tiền tham nhũng để mua chuộc tất cả và thế là hắn đưa phái chính phủ mạnh lên. Lúc này quyền lực chính trị tại Hà Nội đã chuyển từ Văn Phòng Trung Ương Đảng sang Phủ Thủ Tướng.

Như ta biết, những kí kết tầm chính phủ giữa 2 quốc gia là những kí kết công khai nội dung, những kí kết giữa 2 ĐCS là những kí kết bí mật. Mà những ý đồ của Trung Cộng được triển tại Việt Nam vốn qua ngả Văn Phòng Trung Ương Đảng. Bắc đầu từ ý đồ của Bắc Kinh, thông qua các văn kiện bí mật để chỉ đạo Văn Phòng Trung Ương Đảng của ĐCSVN. Từ đó, Tổng Bí Thư đưa những ý đồ của Trung Quốc vào Nghị Quyết Đảng. Từ Nghị quyết Đảng ý đồ đó được quán triệt cho đại biểu quốc hội bỏ phiếu luật hoá. Và sau cùng là chính phủ thi hành. Luật An Ninh Mạng và Luật Đặc Khu là ví dụ. 2 thứ đó là xuất phát từ Trung Quốc và Trung Quốc muốn nó được áp dụng vào Việt Nam để dọn đường cho người Tàu đổ bộ vào. 2 luật này không hề vấp váp gì ở Quốc hộ và chính phủ, riêng Luật Đặc Khu thì bị dân biểu tình phản đối mãnh liệt nên hoãn.

Những ý đồ của Bắc Kinh phải được bảo mật trước nhân dân Việt Nam bằng những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS. Vì sao? Vì đơn giản là cả Bắc Kinh và Ha Nội không thể để dân thấy những chỉ thị của ngoại bang đêm áp đặt lên đầu dân Việt, điều đó sẽ làm phá sản âm mưu họ. Mọi kí kết bí mật giữa 2 người đứng đầu đảng là những kí kết ảnh hưởng đến số phận Việt Nam. Thời tổng bí thư Nông Đức Mạnh, quyền lực Trung Ương Đảng yếu, quyền lực chính phủ mạnh nên những ý đồ triển khai của Trung Cộng gặp khó khăn. Không phải Nguyễn Tấn Dũng chống Tàu mà đơn giản sự chỉ đạo phải đi đúng lộ trình của nó mà thôi. Như vậy, theo đúng lộ trình thì chính phủ phải triển khai Nghị Quyết Đảng chứ không phải triển khai trực tiếp chỉ thị từ Bắc Kinh. Vì vậy, nếu Văn Phòng Trung Ương Đảng yếu, sự triển khai chỉ thị của Bắc Kinh sẽ khó khăn.

Câu hỏi đặt ra là, để khai thông sự tắc nghẽn, thì Bắc Kính phải làm gì? Đó là phải lấy lại quyền lực cho Văn Phòng Trung Ương Đảng. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh phải ủng hộ một thế lực chính trị mới lên làm Tổng Bí Thư để Văn Phòng Trung Ương Đảng lấy lại quyền lực. Thế là Nguyễn Phú Trọng được chọn. Ông này vốn là Chủ Tịch Quốc hội không có thực lực, nhưng với sự hậu thuẫn từ Bắc Kinh, trong nhiệm kì đầu ông ta đấu Nguyễn Tấn Dũng một cách mãnh liệt. Sau 5 năm, đến kì đại hội 12 để chia chác quyền lực, Trọng đã đá văng Dũng khỏi chính phủ và đưa anh khờ Nguyễn Xuân Phúc lên thay. Thế là quyền lực Văn Phòng Trung Ương Đảng được củng cố, quyền lực Tổng Bí Thư là tối thượng. Lúc này nước Việt Nam có một tổng bí thư vừa thâu tóm hết quyền lực vào tay vừa thuần phục hoàn toàn Trung Cộng. Sau đại hội 12 “thành công tốt đẹp” thì Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh kí tá những văn kiện bí mật giữa 2 ĐCS về số phận của Việt Nam.

Khi mọi việc đâu vào đấy, Nguyễn Phú Trọng tham gia vào Đảng bộ của Bộ Cộng An và cả đảng bộ của Bộ Quốc Phòng để nắm trọn thanh gươm và họng súng của chế độ. Như vậy, sau 5 năm đấu đá với Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng đã thắng và nắm hoàn toàn chính phủ, trong đó ông ta thọc tay trực tiếp vào công an và quốc phòng. Thế là lần lượt những ý đồ Bắc Kinh được triển khai một cách khẩn trương gồm: lộ trình kinh tế, lộ trình an ninh, và lộ trình quốc phòng mở cửa cho Tàu xâm nhập vào. Về lộ trìng kinh tế đã rõ, người Trung Quốc vào tự do, thanh toán nhân dân tệ, giảm thuế nông sản Tàu, hợp tác ngành hàng Việt Nam và Trung Quốc, đặc khu vv… Lộ trình an ninh, là cán bộ sang học tập Trung Quốc, bắt bớ gắt gao người yêu nước. Lộ trình quốc phòng thì cũng hợp tác huấn luyện, và quân đội triệt thoái hoàn toàn khỏi biển Đông vv…

Việt Nam đã quá nguy nhập, càng nguy ngập hơn là sự thờ ơ của đa số quần chúng. Ngày nay, người dân mang tư tưởng buông xuôi khá nhiều. Thậm chí, họ còn kháo nhau rằng “học tiếng Tàu đi để mà tồn tại” thế mới nhục chứ. Khi mất nước về tay Tàu, không đơn giản thế đâu. Phải nói dân trí, dân khí nước Việt chưa thời đại nào thấp như thời đại này. Đường về nô lệ chưa bao giờ rõ như thời này.

Image may contain: 9 people, people standing and text

Trung cộng đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ, bắt các tín hữu từ bỏ đức tin trong khi leo thang đàn áp.

Trung cộng đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ, bắt các tín hữu từ bỏ đức tin trong khi leo thang đàn áp.

 

Giuse Thẩm Nguyễn

 

11/Sep/2018

Chính quyền Trung cộng đang phá hủy Thánh Giá, đốt Thánh Kinh, đóng cửa nhà thờ và bắt các tín hữu ký vào bản khai từ bỏ đức tin của họ nơi các cộng đoàn tại Bắc Kinh và các tỉnh lân cận.

Cuộc đàn áp tự do tôn giáo này là một phần của chiến dịch chính thức để “Hán hóa” tôn giáo bằng cách buộc giáo hữu phải trung thành với đảng Cộng Sản vô thần và loại bỏ bất cứ thách thức nào đối với quyền lực của đảng trong nước.

Ông Bob Fu thuộc ban Cứu Trợ Trung Cộng nói rằng “Cộng đồng quốc tế cần được báo động và phản ứng vì sự vi phạm trắng trợn về tự do tôn giáo và niềm tin này.”

Luât sư của T.T. Trump và cố vấn trưởng của Trung tâm Luật và Tư pháp Hoa Kỳ (ACLJ) đã viết trên một mạng tweet rằng “Tình hình của người tín hữu Trung Quốc trở nên khốc liệt từng ngày. Chúng tôi đang làm việc không mệt mỏi để áp lực tối đa với Trung Cộng nhằm chấm dứt sự đàn áp này.”

Theo Fox News, việc đàn áp đối với tín hữu ở Trung Cộng thì không có gì là mới. Một bản tường trình của nhóm giám sát tiến trình dân chủ hóa toàn cầu Freedom House cho biết rằng các Kitô hữu và những nhóm tôn giáo khác đã bị hành hạ từ năm 2012.

Một phần ba những người có tôn giáo ở Trung Cộng được coi là phải đối diện với đàn áp ở mức độ “cao” đến “rất cao”, từ việc quan liêu hành chánh và bóc lột kinh tế đến bị cầm tù khổ sai và ngay cả bạo lực.

Nhưng những nhà chuyên môn và hoạt động nói rằng đây là thời điểm mà nhà cầm quyền Trung Quốc đang thực hiện cuộc đàn áp nghiêm khắc nhất đối với các Kitô hữu ở trong nước từ khi tự do tôn giáo được công nhận bởi Hiến Pháp Trung Cộng vào năm 1982.

Chiến dịch leo thang đàn áp tín hữu trùng hợp với việc củng cố quyền lực mới đây của Tổng Bí Thư Tập Cận Bình khiến ông ta trở thành nhà lãnh đạo Trung Cộng quyền lực nhất từ khi Mao Trạch Đông, một lãnh đạo cộng sản khét tiếng đã làm cho hàng triệu người bị chết.

Các nhà hoạt động đã quay phim quang cảnh giống như những đống sách kinh thánh đang bị đốt cháy và các bản khai của những người đã ký tên đã từ bỏ đức tin của họ. Nhà cầm quyền bị cáo buộc đã bắt những người tin phải ký vào tờ khai chối đạo, nếu không họ sẽ bị đuổi học hay tước mất phúc lợi an sinh.

Một cha xứ Công Giáo ở tỉnh Hà Nam thuộc Nanyang, xin dấu tên vì sợ bị chính quyền trả thù, đã xác minh rằng nhiều thánh giá, thánh kinh và bàn ghề văn phòng đã bị thiêu cháy trong một cuộc bố ráp tại nhà thờ của ngài vào ngày 5 tháng Chín.

Ngài nói rằng chính quyền địa phương đã trong tiến trình bàn thảo với giáo hội để canh tân, nhưng chẳng có đi đến được một thỏa thuận nào.

Theo luật pháp Trung Cộng, những tín hữu chỉ được phép thờ phượng ở những cộng đoàn được chính quyền cho phép. Nhưng có hằng triệu các Kitô hữu thuộc về giáo hội hầm trú đã lờ đi những quy định của chính quyền.

Các quan chức thì lại cho rằng tranh chấp nổ ra là do tín hữu, và rằng chính quyền tôn trọng tự do tôn giáo.

Chiến dịch chống tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến Kitô giáo. Có khoảng 1 triệu người Uighur và những nhóm thiểu số Hồi giáo khác sống ở phía Tây Bắc của nước này cũng đã bị giam giữ trong các trại cải huấn, bắt buộc bỏ đạo Hồi giáo và tuyên xưng trung thành với Đảng Cộng Sản.

Chính quyền Trung Cộng từ chối thành lập các trại cải huấn, nhưng nhấn mạnh đến tầm quan trọng để giải quyết chủ nghĩa cực đoan.

Trung quốc hiện nay có khoảng 38 triệu người Tin Lành và người ta tiên đoán rằng nước này sẽ là nước có dân số Kitô hữu lớn nhất thế giới trong vài thập niên tới.

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao)  Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

 *    *    *

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài “công tác” chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China – Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing – Mông Cáy và cầu Hữu Nghị – Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite – Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải – Trà Vinh 2016… vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá… của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi – công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

“…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…”(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.

Hoàng Tất Thắng

danlambaovn.blogspot.com

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

Đất Nước Nhìn Từ Thủ Thiêm – Tưởng Năng Tiến

 

Từ Varsovie, nhà báo Mạc Việt Hồng vừa gửi đến độc giả của trang Đàn Chim Việt đôi (ba) câu chuyện hơi ngộ nghĩnh. Xin ghi lại một:

“Tôi đã từng đi xin giấy phép chặt một cây sồi trong chính mảnh vườn của nhà mình. Sự việc diễn ra vào năm 2011. Thủ tục này mất đúng 3 tuần. Khi tới quận kê khai đơn xin chặt cây, họ đã đặt ra những câu hỏi rất chi tiết như: Đó là cây gì, cao khoảng bao nhiêu, đường kính gốc bao nhiêu cm?

Nhưng có một câu hỏi, hoàn toàn bất ngờ và ‘đương sự’ ấp úng không trả lời được, vì thực sự không biết, không chú ý. Đó là: Trên cây có tổ chim hay không?

Sau đó vài tuần, một nhân viên hành chính quận tới thực địa. Ảnh ngó nghiêng chiếc cây rồi dùng một ống nhòm soi lên ngọn. Cây không có tổ chim. Và nhờ đó, gia đình tôi đã được phép chặt nó.

Vâng. Cơ quan hành chính Ba Lan ‘rỗi hơi’ vậy đó …”

Những di dân da trắng ở Hoa Kỳ đều có nguồn gốc từ Châu Âu nên dân Mỹ cũng “rỗi hơi” không kém. Năm 1996, tiểu bang California bán 90 mẫu đất – vốn là khuôn viên của bệnh viện tâm thần Agnews, nơi mà tôi đã được gửi đến thực tập cả năm thưở còn đi học – cho công ty Sun Microsystems khai thác.

Tiền trao, cho múc xong rồi thiên hạ mới khám phá ra là trong khu đất này có vài cây cổ thụ, vốn là nơi trú ngụ của một loài cú (burrowing owls) có tên trong danh sách cần được bảo vệ. Để giải quyết vấn đề chính quyền tiểu bang đồng ý mua lại một khoảnh đất thích hợp cho chim cú nương thân, với sự trự giúp tài chính của cả thành phố San Jose lẫn công ty Microsystems.

Phú quý sinh lễ nghĩa chăng?

E cũng không hẳn thế. Trong phim Seven Years in Tibet, tôi nhớ có đoạn Đức Đạt Lai Lạt Ma bầy tỏ sự lo ngại về sinh mệnh của giun dế khi ngài nhìn thấy phu phen đang đào đất làm nền để xây tu viện. Mà Tây Tạng thì có giầu sang hay phú quý (mẹ) gì.

Năm ngoái, sau vài tháng đi giang hồ vặt (và tiêu xài đến đồng bạc cuối cùng) tôi buộc phải quay về với … mái ấm gia đình. Vì ở townhouse nên taxi đỗ sau nhà, ga ra đã mở sẵn, vừa xách ba lô ra khỏi xe đã thấy con gái đứng ngay cửa cười toe nhưng lại đưa ngón trỏ lên miệng, và bàn tay còn lại thì xua lia (xua lịa) ra dấu im lặng và dừng bước …

Tôi đứng yên ngơ ngác… Gần cả phút con bé mới chạy ào ra đón bố, giọng hớn hở:

– Có đôi chim gi đến làm tổ trong giàn bông giấy bố ơi. Chim con nở rồi. Chim mẹ vừa tha mồi về nên nếu bố bước vào ngay sẽ làm nó sợ!

Sau đó, “ái nữ” phổ biến ngay quy luật mới của gia đình vì nhà chúng tôi vừa có thêm mấy “thành viên” nữa:

– Từ nay, mỗi khi muốn ra sân sau tôi phải dòm chừng. Nếu chim bố hay chim mẹ đang tha mồi về tổ thì dừng bước ngay, chờ cho chim con ăn xong mới được tiếp tục…

– Từ nay, tôi phải hút thuốc ở sân trước vì khói thuốc có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của lũ chim non.

– Từ nay, tôi phải ….

Ah, đù!

Tôi mới rời nhà một khoảng thời gian ngăn ngắn mà khi quay lại đã bị “tịch thu” nguyên cả cái sân sau. Nói là cái sân (nghe cho nó bảnh) chứ thực ra chỉ là mảnh đất nhỏ xíu xiu, vừa vặn để giồng một cây Ngọc Lan và giàn bông giấy. Chấm hết.

Sân trước rộng nhưng là đất chung với nhiều căn khác. Chúng tôi chỉ sở hữu cái townhouse (cũng chung vách với nhà kế cạnh) bé tí teo, mua theo kiểu trả góp, và vẫn còn nợ ngân hàng cả đống tiền chứ không phải ít. Tài sản rất nhỏ hẹp, bấp bênh như thế mà con bé vẫn vui vẻ mang chia sẻ với lũ chim trời (ơi) không biết từ đâu đến.

Cái kiểu “rỗi hơi” của người dân Ba Lan, Hoa Kỳ (và ngay cả con cái trong nhà) khiến tôi cũng hơi bị… lây, rồi suy nghĩ lan man tới những vụ “thu hồi đất” ngang xương nơi quê hương đất nước của mình. T.S EriK Harms (tác giả cuốn Luxury and Rubble Civility and Dispossession in the New Saigon) nhận xét như sau:

“Những người dân Thủ Thiêm đã bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại.”

Lạ nhỉ?

Trước khi cho phép nhà báo Mạc Việt Hồng đốn hạ một cái cây – trong khu vườn của chính chủ nhân – nhà nước Ba Lan đã cử nhân viên đến tận nơi, dùng ống nhòm săm soi, sợ có dăm ba con chim mất ổ. Còn chính phủ Việt Nam hiện hành thì giải tỏa nguyên cả bán đảo Thủ Thiêm mà sáu chục ngàn cư dân ở phần đất này đều “bị phớt lờ và thường bị đối xử như thể họ không hề tồn tại” vậy!

Tác giả Lê Hồng Hà nhận diện:

“Ở TP HCM, ‘bộ tứ’ Lê Thanh Hải – Nguyễn Văn Đua – Tất Thành Cang – Lê Hoàng Quân cũng cùng nhau ‘xẻ thịt’ đất đai Sài Gòn, bất chấp tất cả.”

Bốn vị quan chức cao cấp này đều là đảng viên của ĐCSVN khiến tôi không khỏi tôi băn khoăn tự hỏi cái đảng này chủ trương thế nào, và giáo dục họ ra sao để tất cả đều có thể trở thành những kẻ “bất chấp” (và bất nhân) đến vậy?

Trước khi đốn hạ vài cái cây cổ thụ thiên hạ còn lo cho bầy cú, sợ chúng mất nơi nương náu. Vậy mà mấy ông đảng viên CSVN (“vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”) lại có thể nhẫn tâm cướp đất của cả trăm ngàn lương dân, và đẩy họ vào cảnh bần cùng (hay màn trời chiếu đất) một cách lạnh lùng và thản nhiên như thế – được sao?

Gần hai mươi năm sau, sau khi cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống, cho đến lúc vụ cưỡng chế đất Thủ Thiêm sắp chìm xuồng (tới đáy) thì thì bỗng có tin vui giữa giờ tuyệt vọng: Ban Bí Thư Thành Uỷ và Đoàn Đại Biểu Quốc Hội TPHCM đến thăm và làm việc với dân chúng Thủ Thiêm.

Thật là quý hoá!

Thế là dàn đồng ca của Bộ Thông Tin thi nhau hợp xướng, cứ như thể là chuyện cưỡng chế đất đại ở Thủ Thiêm mới xẩy ra hồi tuần vừa rồi, hay tháng trước vậy thôi:

– Người dân Thủ Thiêm đem bản đồ cỡ lớn trình đại biểu Quốc Hội …

– Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân “vi hành” đến khu ở của cư dân Thủ Thiêm…

– Ông Nguyễn Thiện Nhân: Sẽ gặp dân cho đến khi giải quyết xong bức xúc …

– Người dân Thủ Thiêm trào nước mắt tại buổi gặp đại biểu Quốc Hội …

– Bà con Thủ Thiêm mong tin vui từ Bí thư Nguyễn Thiện Nhân

Không dưng, tôi cũng muốn “trào nước mắt” khi chợt nhớ đến một bản nhạc đã xưa:

Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh
Ôi hạnh phúc biết bao, bao năm vẫn đợi chờ
Mà niềm vui như đến bất ngờ

Niềm vui, cũng như ngày vui, thường ngắn. Hai tháng sau, sau “chuyến vi hành” của ông Nguyễn Thiện Nhân, bản tin của trang Tiếng Dân – đọc được vào hôm 8 tháng 9 năm 2018 – có đoạn (xem) rất não lòng:

“Thanh Tra Chính Phủ vừa công bố kết quả kiểm tra liên quan đến việc khiếu nại của người dân ở Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, Sài Gòn. Sự việc liên quan tới nhiều vấn đề nhức nhối, người dân khiếu kiện suốt 20 năm qua, thế nhưng TTCP chỉ cho ra báo cáo đúng 10 trang giấy.”

Mười trang giấy sơ sài, cùng vài “đề nghị” rất chung chung và rất mông lung!

Ngay từ khi nhà đương cuộc Hà Nội có quyết định “lật lại hồ sơ Thủ Thiêm”, nhà báo Phạm Chí Dũng đã bầy tỏ nghi ngại rằng đây chỉ là một cách mà các đồng chí lãnh đạo “mượn lò” để tống tiền nhau thôi!

Tôi không hoàn toàn chia sẻ với quan điểm bi quan kể trên nhưng rất đồng ý (và “nhất trí”) với nhận xét của FB Trần Đức Anh Sơn:

“Câu chuyện ‘dân oan mất đất’ ở Thủ Thiêm, đã khiến họ đau đớn, cực nhục, oán hận trong suốt 20 năm qua không phải là duy nhất. Đã, đang và sẽ có hàng vạn vụ Thủ Thiêm khác diễn ra ở khắp mảnh đất hình chữ S này. Tất cả chỉ vì cái việc xác định ‘đất đai thuộc sở hữu toàn dân’, và bị những kẻ đại diện cho ‘quyền sở hữu đó’ ăn cướp để chia chác và bán cho những nhóm lợi ích. Chúng chính là kẻ cướp. Những kẻ cướp được cấp license để cướp.”

Tưởng Năng Tiến