Các Nhà Truyền Giáo thời đại. (phần 2)

  Các Nhà Truyền Giáo thời đại. (Phần 2)

Phan Sinh Trần 

1)Cha Pallu truyền giáo tại Ni-giê-ria Phi Châu

Một đặc điểm ở một số các vùng truyền giáo Phi Châu, Trung Đông, là sự hiểm nguy cho tính mạng của Nhà Truyền Giáo, nhất là ở những nơi đạo Chúa bị cấm cách, thù ghét hay bị cho là dị biệt với Hồi Giáo. Chỉ tính riêng tại nước Ni-giê-ria trong vòng chưa trọn năm 2018, đã có trên 6000 Ki Tô hữu bị dân quân vũ trang giết hại đa phần là phụ nữ, người già và trẻ em, trong số tử đạo có các linh mục và tu sĩ. Vào một cuối tuần của tháng 6, 2018 có 238 người theo đạo Chúa bị tàn sát ở tiểu bang cao nguyên, Ni-giê-ria. (https://www.express.co.uk/news/world/981611/christian-persecution-christianity-nigeria).

…Vào ngay thời điểm này, cha Pierluigi Maccalli thuộc dòng “Truyền Giáo Phi Châu” công tác mục vụ ở Ni-giê-ria vẫn còn đang bị mất tích. Vụ bắt cóc xảy ra vào đêm 19 tháng 9, 2018 ở vùng sát với biên giới gần nước Bur-kina Faso.

Phải, sẽ đến giờ mà ai giết các ngươi sẽ tưởng thế là tôn thờ Thiên Chúa. (Gioan 16:2)

Năm Ngoái, thông tấn xã CNA và đài TV EWTN tường thuật lại câu chuyện Cha Maurizio Pallu, 63 tuổi, linh mục Ý Đại Lợi, đi truyền giáo ở nước Ni-giê-ria, bị bọn tội phạm gồm tám tên trang bị vũ khí súng ống, chúng chận đường khi đoàn đang di chuyển trên đường từ Calabar tới thành phố Benin vùng cực nam của Ni-giê-ria, chúng cướp và bắt cóc Cha Pallu và hai thành viên của đoàn tông đồ “Con Đường Tân Dự Tòng” truyền giáo cùng đi trong xe vào ngày 12 tháng 10, năm 2017.

Trong lúc bị bách hại, Cha Pallu lúc đầu cũng hoang mang lo sợ khi nghĩ đến sinh mạng đang treo lơ lửng và cảm thấy mình chưa sẵn sàng để chết, Cha kể:

–  Tôi thưa với Chúa, con chưa đền đủ tội của con, nếu Chúa muốn con chết thì xin cho con được ơn và Thần Khí sức mạnh để chết như một người Ki tô hữu và dâng hiến đời sống mình (cầu chuộc) cho những người này vốn dĩ đã giết con.

Dẫu vậy, Cha nhớ lại những nhu cầu khác và đệ đạt với Chúa:

–  Xin Chúa cứu lấy sinh mạng con và con xin hứa rằng con sẽ tiếp tục công bố Tin Mừng với sự nhiệt thành gia tăng gấp đôi.

Trong tình huống nguy nan, Cha có thể chứng nghiệm sức mạnh của lời cầu nguyện qua kinh Mân Côi thể hiện rõ dần trong thời gian năm ngày bị bắt giũ. Vào lúc Ngài chỉ còn giữ được một cỗ tràng hạt, bởi vì bọn bắt cóc đã cướp đi thánh giá nhỏ bằng vàng và khi bị bắt bất ngờ, Cha đã không mang theo mình Kinh Thánh hay sách kinh Nhật Tụng :

–  Tôi chỉ có tràng chuỗi này, và bọn họ đã thấy tôi liên tục cầu kinh Mân Côi thành tiếng nho nhỏ. Tôi bảo họ rằng “Tôi cầu cho các anh nữa”, thế rồi … tôi thấy được sức mạnh của sự cầu nguyện, cho dù tôi là một người có đức tin nhỏ bé, tôi chỉ làm điều mà tôi có thể làm được nhưng đâu phải chỉ có lời nguyện của tôi mà còn có sự hỗ trợ nguyện xin của cả Hội Thánh Toàn Cầu cho sự vụ này.

Dần dần, Cha bắt đầu tạo được mối liên hệ với thủ lĩnh của bọn cướp, và có dịp nói chuyện với bọn họ. Cha kể:

–  Tôi có thể bảo anh ta rằng tôi coi anh như là một huynh đệ của mình và tôi đang cầu nguyện cho mấy người anh em. Điều tôi lưu ý được đó là, anh ta đã thay đổi dần trong cách nói và thái độ khi đối xử với chúng tôi, mấy ngày sau này, hễ tôi nhẹ nhàng nói với anh “tôi đang cầu nguyện cho anh”, đáp lại, bằng một giọng thành thực “Được, Cha hãy cầu nguyện cho tôi”.

Cha Pallu kết luận:

–  Tôi được sự can thiệp đặc biệt của Mẹ đồng trinh Maria, nhất là ơn của Đức Mẹ Fatima bởi vì cách Ngài hóa giải kế hoạch hãm hại, âm mưu đe dọa của thế lực sự dữ thật là hiển nhiên (qua việc hoán cải tâm hồn của thủ lĩnh băng cướp).

Cuối cùng, bọn cướp thả cho ba người được ra đi.

Cha Pallu là linh mục chứng nhân Tin Mừng tại Ni-giê-ria trong suốt ba năm qua, Cha bị bắt cóc lần này là lần thứ hai, trước đó Cha bị giữ vào ngày 13, tháng 10, năm 2016. Tuy nhiên ở lần đầu bị nạn, Ngài được thả ra chỉ sau một tiếng rưỡi đồng hồ bị nhóm vũ trang giam giữ. Tốt nghiệp cử nhân sử học, cha được ơn gọi đi tu làm linh mục triều, tiếp theo ơn gọi của Chúa tiếp tục dẫn đưa Cha vào con đường loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Cuộc đời của Cha đã trải qua 11 năm đi truyền giáo tại nhiều nước khác nhau.

Khi vị linh mục vốn xuất xứ từ Giáo Phận Rô Ma quay trở lại Ý Đại Lợi vào ngày 18, tháng 10, 2017 rồi sau đó được triều kiến Đức Thánh Cha Phan xi cô, nghe chuyện bắt cóc và được thả, người vui vẻ dịu dàng hỏi Cha Pallu “Thế rồi, khi nào con lại quay về (chốn xưa)?”

Ma Quỷ không chịu thua khi nhìn thấy cánh đồng truyền giáo của Chúa có thành quả đang nở rộ ở Ni-giê-ria, chúng gieo rắc chia rẽ và thù hận, có các nhóm Hồi Giáo quá khích như Boko Haram truy bức, bắt cóc và giết hại Tín Hữu Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, càng bách hại, Đạo Chúa lại càng phát triển, hạt giống tử đạo nảy sinh muôn vàn hoa trái phúc âm, lúa chín đầy đồng với hàng triệu người Ni-giê-ria đón nhận đức tin mới. Trong vòng chưa tới mười năm, từ 2001 tới năm 2010, con số tín hữu gia tăng thêm hơn tám phần trăm, từ 40% lên đến 48.3%. Hiện nay, Thiên Chúa Giáo trở thành đạo có nhiều người tin theo nhất, khoảng 89 triệu Ki Tô hữu, người Công Giáo chiếm khoảng một phần tư trong số đó.

Khi được nhà báo hỏi về sự quay trở lại quốc gia cũ đang đắm chìm trong bạo lực có là một điều dại dột? Cha Pallu trả lời rằng ngài không sợ âm mưu của Quỷ, bọn chúng vốn đã bị đánh thua, bị bại trận nhờ vào cái chết và sự sống lại của Chúa Giê Su Ki Tô:

– Ở nước Ni-giê-ria, bây giờ là thời kỳ hồng ân. Quỷ phải rất sợ hãi vì chúng bị sổng mất nhiều linh hồn quay về với Chúa nên chúng quay ra tấn công đoàn hai lần qua việc bắt cóc. Tôi muốn dẫn chứng lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao lô II, “Lục địa Phi Châu là tương lai của Giáo Hôi”

Xin Chúa Mẹ thương đến dân tộc Ni-giê-ria đang phải gồng mình trong bách hại và bạo lực khi họ muốn vươn lên đón nhận Tin Mừng và ôm ấp hy vọng rạng ngời của Đức Tin.

2Tín Hữu Yun truyền đạo ỏ Hồ Nam, Trung Quốc.     

 Ở các quốc gia theo chủ nghĩa Cộng Sản, vấn đề bách hại tôn giáo còn khốc liệt hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia Hồi Giáo. Năm 1970 phái đoàn dân biểu quốc hội Hoa Kỳ qua thăm Trung Hoa Cộng Sản, khi họ trở về đã cho biết “Không còn một người tín hữu Ki Tô nào sót lại ở Trung Cộng”, trước đó, từ năm 1958 chính Giang Thanh vợ của Mao Trạch Đông thủ lĩnh Cách Mạng Văn Hóa tuyên bố: “ Ki Tô Giáo ở Trung Hoa đã bị khai tử, nhốt vào bảo tàng lịch sử. Nó chết rồi và bị chôn vùi”. Các nhà thờ không thuộc giáo hội quốc doanh đều bị đóng cửa (Phong trào tam tự ái quốc do chính quyền thiết lập năm 1957), linh mục, giám mục, mục sư Tin Lành chân chính bị giết hại hoặc giam cầm cho chết dần mòn trong các trại cải tạo, sách Kinh Thánh bị đốt và cấm đọc.

Làm sao Chúa có thể đem ánh sáng Tin Mừng đến cho dân tộc Trung Hoa đáng thương?                   

Chúa có bỏ rơi con chiên cho đàn sõi vô thần hùng mạnh, dữ dằn chăng?                                            

Chúa Thánh Thần sẽ sáng tạo cách thế nào để loan báo Tin Mừng tại Trung Quốc?

Chúa có nhiều cách rất phong phú và tài tình để cứu đàn chiên và làm cho Trung Hoa trong tương lại, rồi mai đây, lại trở thành một nước có nhiều người Tin Chúa nhất trên địa cầu, một tiêu biểu là câu chuyện của Anh Yun, người Hà Nam, Trung Quốc, trong vùng nông thôn nghèo đói, nhà tranh vách đất u tối và dột nát, nơi đó, cả làng đều bỏ Đạo, các em nhỏ không biết Chúa là ai. Trong tự chuyện, anh Yun kể lại như sau:

–  Vào năm 1974, khi Cách Mạng văn hóa còn đang hoành hành, cha tôi bị bệnh ung thư phổi, ung thư lan xuống bao tử. Bệnh rất nặng, làm cho không thở được. Bác sĩ nói với mẹ của tôi, “không còn hy vọng chữa trị gì cho ông chồng bà, hãy đem về nhà lo chuẩn bị đám tang”. Gia đình làm nông rất nghèo, đem Cha về nhà, chúng tôi vẫn dồn hết sức lực cho việc chạy chữa, không còn tài sản nào có thể đem bán, năm anh em Yun phải đi ăn xin hàng xóm để sống sót qua ngày. Họ chạy tìm mọi nguồn lực, mời thày cúng, làm đủ cách mà bệnh tình của người Cha tiếp tục nặng, mẹ của Yun lo lắng, sợ hãi quá phát rồ dại, bà định tự tử. Một đêm nọ, vừa mơ mơ màng màng thiếp ngủ, chợt bà nghe rõ, có tiếng nói dịu dàng, thương cảm cất lên “Chúa Giê Su yêu con”. Nghe xong, bà liền vùng dậy, choàng tỉnh, nhận ra hoàn cảnh của mình với Chúa, bà quỳ gối xuống sàn đất và bắt đầu nhỏ nước mắt ăn năn khóc cho tội lỗi của mình, giống như cảm nhận của một người con hoang đàng muốn quay về nhà, bà cảm thấy muốn trở lại nhận Chúa làm Thượng Đế, đấng trên hết của mình. Rồi bà gọi hết mọi người trong nhà đến để cầu nguyện với Chúa, bà bảo họ “Chúa Giê Su là hy vọng duy nhất cho Bố các con”, khi được bà kể lại những gì đã xảy ra cho Mẹ, tất cả chúng tôi phó thác đời sống mình cho Chúa, rồi chúng tôi đặt tay lên mình Cha và cả đêm hôm đó, chúng tôi vừa khóc vừa nói lải nhải một câu cầu xin “Chúa Giê Su, chữa cho Cha. Chúa Giê Su, chữa cho Cha”. Tảng sáng hôm đó, Cha cảm thấy đỡ hơn nhiều, lần đầu tiên sau nhiều tháng, ông muốn ăn. Chỉ trong vòng một tuần lễ, ông được hoàn toàn bình phục, chẳng thấy còn một dấu vết nào của bệnh ung thư và sống khỏe mạnh. Cả nhà của tôi quay về làm con Chúa và bắt đầu muốn chia xẻ niềm vui về Chúa.

Thế là công cuộc làm chứng về Chúa và phục hồi Đạo bắt đầu trong ngôi làng bỏ Chúa của Yun, anh kể:

– Cha Mẹ tôi rất biết ơn Chúa về những gì mà Ngài đã làm cho Cha, đến độ họ muốn chia sẻ tin tốt lành này cho hết mọi người dân làng ngay lập tức, họ có kế hoạch cho con nít trong nhà lén đi mời thân thuộc và bạn hữu đến nhà của chúng tôi. Ai cũng đinh ninh được mời đến tẩm liệm cho Cha vừa qua đời, nào có ngờ, đến nhà, họ được Cha tôi ra tận cửa vui vẻ, khỏe mạnh đón chào, mời vào trong nhà. Sau khi mọi người tề tựu đông đủ, Cha Mẹ tôi đóng cửa, cài then, che rèm của sổ và kể cho mọi người hiện diện về phép lạ nhiệm mầu của Chúa đã làm cho gia đình. Rồi, tất cả thân hữu đều quỳ xuống xin tiếp nhận Chúa là chủ của đời mình. Mẹ tôi dù là một người thất học, không biết đọc, biết viết nhưng lại là người đầu tiên thuyết giảng về Chúa cho dân làng. Nhớ lõm bõm câu Kinh Thánh nào thì nói ra rồi kêu gọi chúng tôi luôn chú tâm, quy hướng mọi sự vào Chúa Giê Su.

Một hội thánh tư gia thuộc loại tiên khởi đã ra đời, các hội thánh tư gia khác thuộc Giáo Hội chui ở Trung Quốc có thể đã bắt đầu tương tự như trường hợp nêu trên, qua cách làm sáng tạo, diệu kỳ của Chúa Thánh Thần.

– Tôi hay hỏi Mẹ của tôi, “Chúa Giê Su là ai?” Bà trả lời, “Chúa Giê Su là con Thiên Chúa đấng đã chết trên thập giá đền thay mọi tội lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài ghi lại tất cả sự giảng dậy trong Kinh Thánh”. Kể từ ngày đó, tôi khao khát được đọc Kinh Thánh, nhưng mà cả làng không ai biết mặt mũi cuốn Kinh Thánh như thế nào. Điều khó khăn là làm sao có Kinh Thánh để biết về Chúa Giê Su trong khi trên phạm vi toàn quốc, tất cả Kinh Thánh đều bị đốt và bị cấm đọc, nếu có ai đọc Kinh Thánh mà bị bắt quả tang, họ sẽ bị đánh đập tàn tệ và sẽ bị tra khảo công khai ở giữa dân làng.

Không sợ hãi, cậu nông dân Yun, 16 tuổi, học lực mới đến trình độ lớp ba trường làng, ngày đêm ăn chay, cầu nguyện kêu nài xin Chúa ban cho một cuốn Kinh Thánh, anh khẩn khoản đến mức quên ăn, quên ngủ, sau mấy tháng cầu nguyện Chúa thúc giục một cụ già được thị kiến, dù cụ ở rất xa làng của Yun và chưa hề quen biết, cụ liền đào cuốn Kinh Thánh đã chôn dưới mặt đất, nằm trong một cái lon, dấu diếm đã nhiều năm, moi sách lên và lặn lội đến làng của Yun, gõ cửa đúng ngay căn nhà Yun đang ở và trao cho anh quyển sách. Kể từ sau sự huyền nhiệm xảy ra đó, Yun biết rằng Lời ghi trong Kinh Thánh chính là Lời Chúa nói với anh. Anh không rời xa quyển sách thánh, lúc ngủ anh đặt sách trên ngực, lúc đi cầy cấy anh buộc sách vào trong người. Hàng ngày từ sáng sớm tới chiều tối Yun say sưa ngấu nghiến đọc quyển Kinh Thánh. Anh cố gắng học thuộc lòng mỗi ngày một chương sách Tân Ước, sau 28 ngày, anh thuộc lòng sách thánh Mát Thêu, tiếp tục học thuộc sách Công Vụ Tông Đồ. Khi đọc đến đoạn Công Vụ Tông Đồ chương 1, câu 8:

“…nhưng các ngươi sẽ chịu lấy quyền lực Thánh thần đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ là chứng tá của ta ở Yêrusalem, trong toàn cõi Yuđê và Samari, và cho đến mút cùng cõi đất”.

Yun kể:

– Đây là khoảnh khắc quyết định của đời tôi, tôi ước ao hiểu được Lời Chúa có ý nghĩa gì và tôi cầu nguyện “Con cần quyền năng của Chúa Thánh Thần. Con muốn làm chứng cho Chúa”. Sau khi cầu xin thần khí Chúa, tôi được Chúa ban ơn, có một niềm vui chan hòa trong lòng, tình yêu Chúa bao phủ tràn ngập tâm hồn tôi, tôi bật lên lời ca ngợi Chúa dù trước đó tôi không biết hát hò gì. Sau này, tôi ghi lại lời những bát hát và cho đến hôm nay các bài này vẫn còn được lan truyền, được hát lên trong các nhà thờ.

Chúa ban cho anh Yun phép rửa trong Chúa Thánh Thần, rồi Ngài sắp xếp cho anh Yun, dù mới có mười sáu tuổi, đi từ làng này sang làng khác, kết hợp với một vài người địa phương, hàng đêm lén lút quy tụ bà con dân làng lại, rồi anh đọc thuộc lòng cho nghe về Sách Tin Mừng Mát Thêu, hát thánh ca trong đêm nhóm cầu nguyện đầu, qua đêm kế tiếp anh cũng làm như vậy với phần đọc thuộc lòng Sách Công Vụ Tông Đồ, có những lần buổi nhóm say sưa kéo dài thời gian đến gần như suốt đêm. Đã có sức mạnh của Lời Chúa và vinh quang Chúa trong buổi hát ca ngợi vì mỗi lần như vậy, Chúa dục lòng, hàng tá người quỳ xuống, họ thống hối ăn năn tội lỗi và xin được trọn đời sống theo ý Chúa. Có thật nhiều dân trong các làng tin yêu Chúa, tuy nhiên càng có nhiều người tin Chúa thì chính quyền càng gia tăng theo dõi, bắt bớ. Họ cần tìm cho ra ai là người truyền bá “mê tín dị đoan” vì trước đây không hề có lấy một người theo đạo Chúa. Anh Yun bị bắt lần đầu tiên vào năm mười bẩy tuổi, sau đó là những năm tháng tù đầy, vượt ngục, chạy trốn, bị Công An rượt đuổi xảy ra liên tiếp ở các nơi anh đến truyền đạo, anh cũng không dám quay về nhà vì luôn có công an rình rập ở nhà.

Chúa an ủi anh rất nhiều, càng bị khốn khó công việc truyền bá Tin Mừng Chúa càng phát triển, lúc ban đầu từ năm 1978 đến 1989 đa số người theo Chúa là nông dân, nhưng về sau kể từ năm 1989, có nhiều học sinh, sinh viên và công chức tin nhận Chúa. Bob Fu, thủ lãnh sinh viên phong trào dân chủ Thiên An Môn sau này lưu vong và sống ở Texas Hoa Kỳ cho biết, chỉ tính riêng tại đại học Bắc Kinh, (nơi quy tụ những sinh viên ưu tú, taì giỏi hạng nhất Trung Quốc) vào thời kỳ 1989 đã có 18 nhóm Kinh Thánh cầu nguyện của sinh viên, sinh hoạt hàng tuần.

             Yavê là ánh sáng và sức tế độ cho tôi, nào tôi phải sợ ai?

            Yavê làm đồn trú cho kiếp sinh tôi, nào tôi phải khiếp vì ai? (Thánh vịnh 27:1)

 Anh Yun đi khắp nơi, anh tổ chức rất nhiều buổi nhóm sốt sắng ở nhiều tỉnh thành: An Huy,Hà Nam, thủ phủ Trịnh Châu, Chiết Giang, Thiểm Tây nơi có cố đô Thiên An, Cát Lâm … , theo ơn Chúa soi dẫn, anh bí mật huấn luyện cho các thanh niên trẻ về Kinh Thánh, trại huấn luyện là các hang động trên núi cao, trại viên học thuộc lòng một chương Kinh Thánh Tân Ước mỗi ngày.

Chúa rộng ban ơn đổi mới đời sống cho nhiều người biết tin nhận Ngài. Qua các buổi nhóm Ca Ngợi và Cầu Nguyện, Chúa chữa lành nhiều bệnh tật, người què được bước đi, người điếc được nghe rõ, người mù được sáng mắt, người bị quỉ ám được giải thoát, có cả những cán bộ cao tuổi Đảng, họ được Chúa ban ơn đổi mới, họ quyết định từ bỏ Đảng Cộng Sản để đi làm chứng về Chúa. Trong giai đoạn bùng cháy ơn Chúa Thánh Thần, đi đến đâu, anh Yun cũng gặp được đám đông có khi lên đến hai ngàn người (ở Tỉnh An Huy) khao khát tìm kiếm Chúa, họ ái mộ anh như một đại diện của Chúa và vây quanh, họ bao vây mong đụng chạm vào y phục của anh vì tin rằng Chúa sẽ ban ơn cho họ qua vị đại diện là Yun. Càng tiến sâu trong tình yêu Chúa, gia đình Yun càng bị bách hại nặng nề hơn. Yun vào tù, trốn tù nhiều lần, mỗi lần bị bắt lại, anh chịu đựng sự tra tấn nhiều cách khủng khiếp hơn trước, hình phạt bao gồm, cùm khóa chân tay và đánh nhừ tử, đau đớn như chết đi sống lại nhiều lần, dùng roi điện cường độ mạnh nhất chích vào lưỡi, bắt bò lặn chìm qua hầm phân lớn của cả trại tù nơi có hàng triệu giòi bọ lúc nhúc, đâm kim tiêm, loại có đường kính lớn nhất vào kẽ mười móng tay, kẽ mười móng chân làm ra các cơn đau chấn động, nghiền buốt tận óc tủy cho đến lúc ngất xỉu, ném ra ngoài trời lạnh, đá dập phổi, đánh bể xương cả hai chân, cho tù hình sự ném anh vào cầu tiêu, tiểu tiện lên người và đánh hội đồng…  Ngay cả những lần bị bắt ở trong tù anh cũng cảm hóa được nhiều tù nhân hình sự rất hung dữ quay về với Chúa, trong số phải kể cả hai tù ăng ten, gián điệp có nhiệm vụ bí mật báo cáo thái độ của anh cho Công An Trung Quốc, anh làm chứng và giúp một số cán bộ cai tù được nhận biết tình yêu của Chúa, cũng giống như sự sai đi cho thánh hồng y Nguyễn văn Thuận vào trại tù ở Việt Nam, Chúa có ý định rất rõ ràng khi gởi  các môn đệ xuất xắc nhất “đi làm mục vụ trong nhà tù Cộng Sản”, kết quả là có nhiều linh hồn lên đến con số trăm được ơn Chúa, nhóm người mà Chúa muốn cứu nhất đã được ơn quay về làm con cái Chúa, chương trình của Chúa thật tuyệt diệu! 

Một vài hình ảnh có tính tham khảo về các trại tù ở Trung Quốc:

             Một vài cách điều tra dùng nhục hình tiêu biểu trong nhà tù Trung Quốc:

                                                                                                                                            Trong một trại tù nọ anh rất thích trò chuyện với linh mục Công Giáo tên là Yu bị án mười năm lao động khổ sai vì trung thành với Chúa và Đức Thánh Cha. Về sau khi ra tù, Cha Yu đã đến thăm gia đình anh Yun và trở thành một người bạn của cả gia đình anh.  

Trong lần tù tội cuối cùng, năm 1997, ở độ tuổi 39, anh bị gởi tới nhà tù tăng cường an ninh tối đa, trại tù số một, thành phố Trịnh Châu. Trong lich sử nhà tù này, chưa hề tù nhân nào có thể vượt ngục, quả thực điều này đúng, vì việc đầu tiên là cán bộ công an tỉnh và cán bộ an ninh trung ương trong nhiều ngày thay nhau đánh dập xương cả hai chân từ đầu gối đến bàn chân để anh không thể trốn tù, đau đớn quá đỗi không còn sức chịu đựng, anh xin Chúa cứu mình qua cơn thử thách. Chúa giải thoát anh một cách hy hữu cũng như Thánh Phê rô xưa, trong khoảnh khác, Chúa giúp cho chân anh lành mạnh, không còn đau đớn, có thể đứng lên tự mặc quần áo, đi được, không cần người khiêng vác trên lưng nữa, trong lúc anh đang cầu nguyện, Chúa cho anh thị kiến với hình ảnh thoát được về nhà rồi có chị ở bên cạnh chăm sóc vết thương chân, anh mạnh dạn phó linh hồn cho Chúa vì biết rằng, anh có thể bị bắn chết ngay tại mỗi trạm canh cổng của trại giam, anh can đảm ra đi, bước qua 4 lần cửa được canh gác nghiêm nhặt bên trong, bên ngoài, từ lầu 3 xuống tầng trệt, cán bộ  lính canh, đứng nhìn trừng trừng mà không thấy anh bước qua, vượt hành lang, vào sân trại vào lúc hơn 8 giờ sáng khi có đông lính canh, cán bộ, cai tù đi lại làm việc mà không ai nhìn thấy anh kể cả lính vũ trang trên tháp canh gần cổng chánh, giống như một người vô hình anh bước qua cổng chánh ra đường và đi taxi đến nhà một giáo dân an toàn, sau đó, Chúa làm một cơn mưa bão kéo mây đen đặc, tối mờ nhờ đó, anh có thể đạp xe đến một điểm trốn an toàn chờ vượt biên qua nước Đức. Chúa Thánh Thần phối hợp nhịp nhàng với thị kiến cho Chị Yun biết anh sẽ thoát ngục, thị kiến cho một giáo dân chủ nhà tiếp nhận anh và cho anh ẩn núp, thị kiến cho mưa bão tối đen xóa hết dấu vết để đoàn quân công an, bộ đội đi lùng sục khắp thành phố, họ dùng nhiều đàn chó thám thính mà không ngửi thấy dấu vết của người tù trốn trại. Chúa tiếp tục giúp anh qua phi trường Bắc Kinh, phi trường Frankfurt với hộ chiếu của người khác mà không bị bắt lại và trả về nhà tù. Cho tới hôm nay, tài liệu điều tra về cuộc vượt ngục của chính quyền Cộng Sản đã kết luận, “đương sự vượt ngục mà không có sự đồng lõa của người trong trại giam”.                             

Vượt thoát khỏi Trung Quốc năm 1997, đang cư ngụ ở nước Đức, cho đến ngày hôm nay, Anh Yun đang tiếp tục đi khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ để làm chứng cho Chúa, trên mạng Youtube có ghi lại các buổi làm chứng ở các nhà thờ.

Cuốn tự truyện “Người của Thiên Đàng – The Heavenly Man” của anh Yun và Paul Hattaway phát hành ở nước Anh vào năm 2002, tiếp tục được in lại nhiều lần, được các nhà xuất bản Âu, Á phiên dịch, phát hành với gần 50 ngôn ngữ trong đó có cả tiếng Mông Cổ, Mã lai, Thái và tiếng Việt. Sách đã được bán ra trên một triệu cuốn, được độc giả khắp thế giới tìm đọc, Bạn có thể tìm mua bản Anh ngữ ở mạng Amazon, để biết thêm về các điều kỳ diệu khác Chúa đã làm trên cuộc đời của anh Yun kể cả cuộc tuyệt thực nhịn ăn uống kéo dài 72 ngày trong tù mà không chết, thông thường thân thể con người chỉ cần nhịn uống nước uống ba, bốn ngày là sinh lực kiệt quệ, ngưng thở. https://www.amazon.com/Heavenly-Man-Remarkable-Chinese-Christian/dp/082546207X

        Vâng, Người đã thử thách chúng tôi, lạy Chúa.

      Người thí luyện chúng tôi như bạc luyện lò,

      Người đã xô chúng tôi sa tròng sa lưới, để cho lận đận thúc luôn bên sườn.

            Người để đứa phàm nhân cỡi ngựa đi trên đầu chúng tôi,

           chúng tôi phải ngang qua lửa cùng nước.

      Nhưng rồi Người lại cho qua khỏi, thở ra khoan khoái

      Tôi sẽ tiến vào nhà Người với lễ toàn thiêu,

      với Người, tôi sẽ trọn lời khấn dâng… (Thánh Vịnh 66: 10-13)

Kết: Cám ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội các nhà truyền giáo thời đại với đức tin mạnh mẽ, hy sinh không tiếc mạng sống, có phong cách độc đáo như ở Trung Quốc. 

Xin Chúa thương đến các con cái Chúa ở các nước chìm đắm trong chủ nghĩa Cộng Sản  

CHUYỆN TÌNH NGƯỜI GÓA PHỤ…. NHỮNG SỐ PHẬN ĐAU THƯƠNG, NGHIỆT NGÃ SAU CÁI NGÀY 30-4-1975!!!

CHUYỆN TÌNH NGƯỜI GÓA PHỤ…. NHỮNG SỐ PHẬN ĐAU THƯƠNG, NGHIỆT NGÃ SAU CÁI NGÀY 30-4-1975!!!
**********

Sau 40 năm tìm chồng, người vợ lính tìm ra sự thật tại Little Saigon. – Linh Nguyễn.

WESTMINSTER, California (NV) – Sau 40 năm lặn lội tìm chồng ở Việt Nam từ năm 1977, một phụ nữ gặp được người bạn tù của chồng tại Mỹ, xác nhận đã chôn xác chồng bà, sau khi ông bị bắn chết trên đường vượt ngục tù Cộng Sản.

Người phụ nữ tìm chồng là bà Bùi Thiện Hường, sinh quán miền Nam Việt Nam. Ông Đỗ Văn Điền, chồng bà, là sĩ quan xuất thân khóa 25 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, năm nay nếu còn sống, cũng đã ngoài 70 tuổi.

Cuối Tháng Tám vừa qua, bà Hường từ Việt Nam sang Mỹ, đến thành phố Westminster, California, để gặp những người bạn tù của chồng.

Bà được ông Huỳnh Công Kỉnh, người bạn cùng khóa và cũng là bạn tù của ông Điền, giới thiệu gặp ông Nguyễn Xuân Trường, người biết chuyện và có thể xác định chồng bà còn sống hay đã chết.

Theo lời ông Kỉnh, sau khi ra trường năm 1972, sáu người khóa 25 Võ Bị cùng 26 sĩ quan khác được chọn du học Hoa Kỳ năm 1973 để về làm giáo sư dạy tại trường Võ Bị Đà Lạt.

Tại tư gia của ông Trường chiều hôm ấy, ngoài ông Kỉnh còn có thêm ông Huỳnh Văn Đức, cũng là người bạn đồng khóa 25.

Ông Trường cùng vợ làm cơm đãi khách, và chậm rãi kể đầu đuôi câu chuyện.

Ông nhấm một chút rượu rồi bắt đầu: “Tôi và Điền là bạn học Trung Học Chu Văn An. Chúng tôi gặp lại nhau khi đợi ở Bộ Tổng Tham Mưu để du học Mỹ. Khi ấy tôi cấp đại úy và hai người bạn đồng nhiệm tại Bộ Tổng Tham Mưu cùng 26 sĩ quan khác cũng chuẩn bị học sinh ngữ để du học.”

“Không ngờ ba tháng sau, Mỹ hủy bỏ chương trình. Điền và Kỉnh về binh chủng Biệt Động Quân. Chúng tôi mất liên lạc sau ngày 30 Tháng Tư, 1975. Nhưng tôi gặp lại Điền trong trại tù Long Giao. Sau tôi được chuyển về Kà Tum, trại L6T6 Đồng Ban, cách biên giới Miên khoảng hai cây số, và lại bặt tin Điền từ ngày ấy,” ông Trường kể.

Ông cho biết sau đó biết được ông Kỉnh cũng ở cùng trại: “Ông Kỉnh lo việc hớt tóc, còn tôi là ‘anh nuôi,’ lo việc bếp núc nấu cơm. Những người tù khác thì mỗi sáng đi làm rừng.”

Ông kể một hôm ông thấy ba người đi làm rừng, một người trông giống Điền, ông liền gọi tên.

“Đừng gọi tên tao!” người đàn ông đáp.

Sau đó, một trong hai người đi cùng ông Điền chạy lại nói nhỏ với ông Trường: “Niên trưởng (họ tưởng ông Trường cũng là Võ Bị nên xưng hô như thế), tụi tôi là khóa 28, đàn em ông Điền. Ông ấy nói tôi tới xin niên trưởng một ít cơm cháy. Chúng tôi dự tính vượt ngục.”

Ông kể hôm ấy ông từ trại đi qua khỏi bìa rừng: “Tôi nhớ là tôi chỉ gom được khoảng nửa lon Guigoz cơm cháy nhưng bẵng đi cả tháng sau, không còn thấy ba người này ra nữa!”

“Sau đó, nghe tin có người Võ Bị bị bắn chết, tôi nghĩ ngay đến Điền và hai người khóa đàn em, chắc họ vượt ngục như cho tôi biết từ trước,” ông kể.

“Tôi nhớ hôm sau, chúng tôi được gọi đi sớm. Tưởng 5 giờ sáng là vác gánh đi chợ, ai ngờ lần này được lệnh đi chôn xác tù vượt ngục. Tới trước cổng làng, tôi lật tấm chiếu phủ xác hai người, nhận ngay ra là Điền!”, ông kể tiếp.

Ông tâm sự: “Là người Công Giáo, tôi làm dấu thánh giá phía đầu người bạn, rồi vuốt mắt cho nó. Mắt Điền nhắm, tôi lấy tấm chiếu phủ xác người bạn tù trong khi dân làng đứng xem. Họ cho sợi dây để buộc chiếu lại.”

“Hai người khiêng một xác của người quá cố, chúng tôi đi qua dãy cầu tiêu được lập nên để làm phân xanh, trước giao thông hào, rồi kiếm chỗ để chôn,” ông kể thêm.

Một người đề nghị chôn chỗ đất cát để dễ đào, nhưng ông Trường không chịu.

“Chúng tôi dừng và chọn chôn giữa hai cây to, phòng thân nhân họ sau này có cây làm cái mốc, dễ tìm lại xác,” ông nói trong không khí nặng trĩu, dù mọi người đang ngồi sân sau nhà, ngoài trời.

Sau đó ông chuyển trại, gặp lại ông Kỉnh.

Câu chuyện sau 40 năm do ông Trường kể lại làm bà Hường khóc òa, khiến mọi người không cầm được nước mắt.

Ông Trường, nước mắt long lanh, như nói với người bạn tù đã khuất: “Trước sự mất mát này, Điền ơi, mày có linh thiêng, là bạn, mày dù ở nơi nào, tao cũng luôn nhớ tới mày. Vợ mày nhờ tao vẽ bản đồ con đường đi tìm mày. Mai đây mày cũng sẽ gặp tao. Tao mủi lòng, và đó là những lời tâm huyết. Trước mặt vợ mày, tao mong bà ấy hãy để nhưng gì đã qua, qua đi.”

“Anh em mình nâng ly, uống cho nó một ly đi!”, ông đề nghị.

Đoạn, ông nhìn về bà Điền đang được vợ ông an ủi, ông nói: “Tôi xin đại diện anh em, chúc chị bình an với cuộc sống hiện tại. Đừng bận tâm tìm kiếm nữa làm gì. Chính tôi từng về đứng trước Bộ Tổng Tham Mưu ngày xưa mà còn không nhận ra. Khi xưa thăm nuôi vợ tôi chỉ biết đường từ Sài Gòn đến bìa rừng, rồi phải mướn xe trâu, xe be hay cán bộ giao liên chỉ đường mới gặp được tôi.”

Nghe xong câu chuyện, ông Huỳnh Văn Đức góp ý: “Tôi nhớ có lần tôi về Việt Nam, bà Hường nhờ tôi chở bà đi Bình Thuận tìm chồng. Lại nhớ khi xưa chúng tôi đợi xe lửa chạy ngang, người dân đi cúng, có người đạp nguyên con heo xuống cho những người tù chúng tôi.”

“Tìm được gì thì tìm, nhưng theo tôi nếu Điền linh thiêng, nó sẽ giúp các con của chị tìm, vì mình lớn tuổi, sức đâu mà lặn lội,” ông Đức nói.

Ông Huỳnh Công Kỉnh khuyên: “Chị nên an phận, các cháu rồi sẽ tìm. Bây giờ, bạn bè là niềm an ủi cho các cháu, Không tìm được đâu. Nếu chúng ta tin có thế giới siêu hình, ngồi lại với nhau là quý. Nên coi đây là những người bạn thân của Điền. Chị hãy quên đi. Bay nửa vòng trái đất qua đây để nghe chuyện thật rồi.”

“Tôi biết mấy đứa con chị tha thiết tìm ba chúng nó những lần chị kể chúng nó nói ‘chúng con thèm ba,’” ông Kỉnh nói thêm.

Bà Hường sau khi nghe, sụt sùi nhưng vẫn cố gắng hỏi xem ông Trường có nhớ vị trí chôn chồng bà hay không: “Cứ mỗi lần nghe tin anh ấy mất tích tôi cũng nghĩ là anh ấy còn sống, cho dù anh ấy mất trí hay tật nguyền.”

“Hằng năm tôi cứ lấy ngày sinh nhật anh ấy làm ngày giỗ cho anh,” bà Hường nói thêm.

Ông Trường đề nghị: “Theo tôi, để gần chính xác, chị nên lấy cái mốc lần thăm nuôi cuối cùng vào đầu năm 1977, ông ấy nhắn chị lên Kà Tum thăm ngày tháng nào, rồi cộng thêm một tháng rưỡi, sau đó là ngày anh ấy mất. Nếu chị cho phép và các bạn đồng ý, chúng tôi sẵn sàng làm giỗ cho Điền mỗi năm ở nhà tôi và cầu siêu cho nó.”

Bà Bùi Thiện Hường sau đó trở về Việt Nam, đem theo đoạn băng thu âm những lời kể của một nhân chứng, một bạn tù.

“Tôi đã mất anh thật rồi sao!”, bà thảng thốt nói sau khi nghe sự thật suốt 40 năm bà kiếm tìm. 
**********

HÌNH:
– Bà Bùi Thiện Hường, vợ ông Đỗ Văn Điền – người bị giết khi vượt ngục tù Cộng Sản. 
– Chân dung ông Đỗ Văn Điền ngày tốt nghiệp thiếu úy Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. (Hình: Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam).
– Ông Nguyễn Xuân Trường, chứng nhân về cái chết của người bạn tù Đỗ Văn Điền. (Hình: Nguyễn Xuân Trường cung cấp).
– Bà Bùi Thiện Hường gặp gỡ các bạn cùng khóa của chồng tại nhà hàng Brodard, Fountain Valley.

Image may contain: 1 person, sitting, table and indoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, sitting, tree and outdoor
Image may contain: one or more people, people sitting, drink and indoor

BUỔI SÁNG THỨC DẬY

Diep Nong
BUỔI SÁNG THỨC DẬY

….nghe tiếng chim hót khi trời chưa kịp sáng, bạn có vui không để chuẩn bị một ngày mới đến? Người thương yêu ta sẽ nhớ đến ta, gọi thầm tên ta, mong ước được gặp ta ngay… trong sâu thẳm khi bừng mắt dậy buổi bình minh. Người thù ghét ta, họ vẫn vui với chuyện vui của họ. Chỉ đừng có ai nhắc đến tên ta, một cái nhăn mặt, một sự bực dọc, hay một câu dèm pha, nguyền rủa ta… , họ sẽ bật ra tức khắc!

…mở mắt ra, ta hãy bước xuống giường, hãy nhìn qua khung kính cửa sổ để thấy mây trời rất trong, bụi cây sân vườn đang chuyển lá hoa sắc thắm, đàn chim ríu rít gọi nhau vang cả một góc đường, người hàng xóm thức dậy lọc cọc quậy tách cà phê bốc khói thơm lừng… Tất cả đang trìu mến chào đón ta, cho ta năng lượng của ngày mới… Còn người ghét ganh với ta, không cần biết tại sao, họ vẫn vui với chuyện vui của họ. Chỉ đừng có ai nhắc đến tên ta, một cái nhăn mặt, một sự bực dọc, hay một câu … chửi thề, họ sẽ bật ra ngay tức khắc!

-….tung chăn ra, thật hạnh phúc khi hít sâu một làn hơi mát lạnh của buổi tinh khôi, để biết ta vẫn khỏe mạnh và hạnh phúc hơn rất nhiều người. Nay ta như chiếc lá xanh trên cành, mai đây lá vàng theo thời gian bị tàn phá, rồi rơi rụng… ta nào mang theo được gì, dù chỉ vỏn vẹn một giọt không khí nhẹ như không, một cọng cỏ xanh bé xíu… Còn những người vốn dĩ không ưa ta, họ cũng giống như ta, nhưng đừng ai nhắc tên ta, chỉ một cọng cỏ của ta họ cũng căm ghét!

Buổi sáng thức dậy, tôi yêu quá cuộc sống quanh tôi. Tôi còn nhiều việc chưa làm, tôi cần phải có năng lượng để tiếp tục . Tôi cười thật lòng, cười thật tươi với người thương, cả người ghét tôi. Đời sống thật màu sắc, khóc đó, rồi phải cười đó thôi để tiếp nhận cuộc sống, con người quả là thiên hình vạn trạng..

Chúc tất cả các bạn có một ngày mới đầy yêu thương hạnh phúc, đầy bao dung tha thứ và thật nhiều vui vẻ nhé…

DN

Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people and people standing

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nước Mắt Tân Cương

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nước Mắt Tân Cương (RFA)

Thứ Tư, 09/26/2018  tuongnangtien

Có bào chữa kiểu gì đi nữa, có tô vẽ kiểu gì đi nữa, có khoác áo mục tiêu gì đi nữa, thì cuối cùng về bản chất, đặc khu là hình thức nhượng chủ quyền lãnh thổ.

T.S Nguyễn Ngọc Chu

Như bao nhiêu triệu người Việt Nam tị nạn khác, tôi là kẻ vượt biên và còn sống sót nhờ vào may mắn; bởi thế, mọi chuyện (xa gần) có liên quan đến ranh giới của đất nước này đều nhớ như in:

“Nguyên Hồng là người phàm tục. Anh thích nhắm ngon, thích rượu ngon, nhưng thích nhất là khi có những thứ đó mà quanh anh là bè bạn. Nhưng trong bữa ăn khoái khẩu hôm ấy anh chỉ lẳng lặng uống. Sau mỗi miếng nhắm anh chống đũa, tư lự. Có vẻ anh buồn.

– Bên Tàu loạn to. Nhiều người chạy sang ta, chạy loạn hay là chạy chính phủ không biết, trông tội lắm. – anh nói, giọng rầu rầu

– Mình ở Hải Phòng lâu, các cậu biết đấy, cả thời trẻ mình sống lẫn với người Hoa, mình có cảm tình đặc biệt với người Hoa. Họ chăm làm, tử tế…

Trông những người chạy loạn gày còm, đen đủi, nhếch nhác, mình thương quá. Họ tưởng mình cũng là công an, quỳ xuống mà lạy, nước mắt lã chã. Họ xin đừng đem họ trả Trung Quốc, đem trả họ sẽ bị giết hết, họ nói thế.

Mình can mấy cậu công an, bảo từ từ xem thế nào đã, nhưng mấy cậu không nghe, một hai đem trả, nói luật biên giới là thế, không trả không được. Những người Hoa kia lăn lộn, kêu khóc ầm ĩ, phải lôi xềnh xệch…

Thảm lắm !

– Rồi sao ? – Chúng tôi hỏi.

– Ðồn biên phòng ta cách đồn bên kia có một quãng. Lát sau, mình vẫn ngồi đấy, nghe phía bên kia có tiếng súng nổ. Hôm sau, những người khác chạy sang nói mấy người bị trả về bị bắn chết hết, bắn tại trận.” (Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California: Văn Nghệ, 1997).

Cái thưở “bên Tầu loạn to” mà Nguyên Hồng vừa kể, xẩy ra hồi cuối thập niên 1950, có nguyên do từ những cú hích (Đại Nhẩy Vọt – Great Leaps Forward) của Mao Trạch Đông. Nhà báo Dương Kế Thằng – tác giả cuốn Bia Mộ – tính chẵn rằng  ba mươi sáu triệu dân Tầu đã biến thành những con ma đói, chỉ vì mấy cú nhẩy ngoạn mục này. Đó là chưa kể mấy con ma lẻ (tẻ) bị bắn chết khi tìm cách chạy ra khỏi biên giới của nước Trung Hoa Vĩ Đại.

Hơn nửa thế kỷ sau, báo Vnexpress (đọc được vào hôm 18 tháng 4 năm 2014) loan tin:

“Bẩy người chết trong vụ nổ súng ở cửa khẩu Quảng Ninh. Bị bắt vì nhập cảnh trái phép, nhóm người Trung Quốc đã cướp súng của bộ đội biên phòng cửa khẩu Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh), bắn xối xả… Khi lực lượng chức năng siết chặt vòng vây, một số người cố thủ tự sát thương mình, một số khác nhảy lầu tự tử.”

Ở thời điểm này, mọi cơ quan truyền thông của nhà nước Việt Nam cũng đều đồng loạt đăng những mẩu tin với nội dung tương tự. Tất cả đều cố tình che dấu một chi tiết nhỏ (nhóm vượt biên này không phải là dân Trung Hoa mà là người Uyghur, Ngô Duy Nhĩ, đến từ khu tự trị Tân Cương) và đều lờ tít một câu hỏi lớn: tại sao họ phải bỏ xứ ra đi, và khi bị bắt lại đều lựa chọn một thái độ vô cùng quyết liệt: “cố thủ tự sát” hay “nhẩy lầu tự tử”?

Thi thể người tị nạn Uyghur, bất kể còn sống hay đã chết, bị vứt chất chồng trên xe kéo. Ảnh: internet

Câu trả lời có thể tìm được qua bài viết (China’s Xinjiang Region: A Surveillance State Unlike Any the World Has Ever Seen / Tỉnh Tân Cương của Trung Quốc: Một nhà nước công an mà thế giới chưa hề thấy) của nhà báo Bernhard Zand, dịch giả Nguyễn Văn Vui – đọc được trên trang Dân Luận, vào hôm 31 tháng 7 năm 2018. Xin trích dẫn đôi ba đoạn ngắn, để rộng đường dư luận:

Không có nơi nào trên thế giới, có lẽ thậm chí kể cả Bắc Triều Tiên cũng không bằng, mà dân cư lại bị theo dõi, kiểm soát rộng khắp như trong “Khu tự trị Uyghur Tân Cương” …

Trong khi việc thực hiện dự án dò xét này ở các vùng đông đúc khác dân cư của Trung Quốc tiến triển tương đối trễ nải và chỉ làm được vài nơi mà thôi, thì tại Tân Cương, người Uyghur dường như đã được bao phủ bởi một hệ thống tính điểm tương tự. Nó tập trung chủ yếu vào các chi tiết mà giới công an muốn biết.

Số điểm ban đầu của mỗi gia đình là 100 điểm, nhưng bất kỳ ai đó có liên hệ hoặc có thân nhân ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập hay Malaysia, đều bị phạt với khoản khấu trừ lớn. Nếu bạn có ít hơn 60 điểm, thì bạn đang gặp nguy cơ. Một lời nói sai, một lần cầu nguyện thêm hoặc một cuộc gọi điện thoại quá nhiều, và bạn có thể được gửi đi “học” bất cứ lúc nào.

Đi “học” cái gì, và “học” ở đâu?

Hãng thông tấn Reuters , hôm 10 tháng 8 năm 2018, cho biết: “U.N. says it has credible reports that China holds million Uighurs in secret camps”. (“ Liên Hiệp Quốc nói rằng họ có những báo cáo đáng tin là Trung Hoa đã giữ hằng triệu người Duy Ngô Nhĩ trong những trại giam bí mật.”)

So với Tập Cận Bình, Hitler vẫn còn có thể coi là một người đứng đắn. Ông ta chưa bao giờ “mệnh danh” những  ghetto là … khu tự trị, và cũng không hề che dấu việc giam cầm hằng triệu dân Do Thái. Chỉ cần thêm mấy cái lò thiêu người nữa là nhân loại sẽ trở lại với thời Nazi Holocaust.

Đến đây thì thiên hạ đã hiểu ra ý nghĩa của hai chữ “tự trị” trong cụm từ “Khu Tự Trị Uyghur Tân Cương (Xinjiang Uyghur Autonomous Region), hay Khu Tự Trị Tây Tạng (Tibet Autonomous Region) – nơi mà đã có hằng trăm người dân tự thiêu để phản đối chính sách đồng hoá và diệt chủng của Trung Hoa Lục Địa.

Ảnh: FB                                                                        Ảnh: FB

Từ Khu Tự Trị (Autonomous Region) đến Đặc Khu Kinh Tế (Special Economic Zone) khoảng cách bao xa, hoặc bao lâu? Theo T.S Nguyễn Ngọc Chu thì chỉ trong … cái trở bàn tay:

“Chưa bao giờ đất nước đối mặt với nguy cơ mất nước trong cái trở bàn tay của Trung Quốc như hiện nay. Từng ngày từng giờ ngàn vạn dây thòng lọng từ Trung Quốc đang vươn rộng đón chờ khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam. Trong số đó là ở ba đặc khu mà người Việt đang sắp tự nghĩ ra để tự mình chui đầu.”

Tôi hoàn toàn chia sẻ với nỗi quan ngại thượng dẫn, chỉ xin phép được thưa thêm đôi điều – cho rõ – rằng không hề có người Việt nào “ tự nghĩ ra để tự mình chui đầu” vào rọ cả. Đây là vài sự kiện đã được ghi nhận trong tháng 6 năm 2018:

  • Ngày 10 tháng 6 năm 2018, hàng ngàn người dân đã biểu tình phản đối Dự Thảo Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng ở những địa phương sau: Bình DươngBình ThuậnĐà NẵngĐồng NaiHà NộiNha Trang, Sài Gòn,  Vũng Tàu
  • Ngày 11 tháng 6, công nhân của Công ty Pou Chen Corporation biểu tình trước cổng công ty, yêu cầu bỏ Luật Đặc khu. Công nhân ở KCN Chà Là cùng tuần hành trên suốt tuyến đường từ KCN này đến Ngã 3 Bàu Năng, huyện Dương Minh, với lý do tương tự.
  • Ngày 17 tháng 6, dân chúng Nghệ Anvà Hà Tĩnh tham gia cuộc tuần hành ôn hòa kéo dài nhiều tiếng đồng hồ để phản đối Luật Đặc Khu và Luật An Ninh Mạng.
  • ….

Chỉ có những kẻ rắp tâm bán nước mới mặn mà với những dự án đặc khu, và xem đây là “ổ phượng hoàng,” chứ dân việt thì không. Chúng tôi biết cả, và biết rất rõ, tiến trình Hán hoá cũng như tình cảnh thảm thương của những người dân ở Tân Cương hay Tây Tạng.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười nằm bệnh viện đã gần 6 tháng

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười nằm bệnh viện đã gần 6 tháng

RFA

2018-09-28

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười (giữa) đến dự Lễ khai mạc Đại hội toàn quốc lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP) tại Hà Nội vào ngày 21 tháng 1 năm 2016.

 AFP

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười nằm bệnh viện 108 điều trị bệnh phổi và thận gần 6 tháng nay. Ông Phan Trọng Kính – Trợ lý của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười – khẳng định với VietNamNet sáng 28/9/2018.

Theo ông Kính thì nguyên Tổng bí thư bị khó thở nên bệnh viện phải mở khí quản, do đó ông Đỗ Mười không nói được nhưng vẫn nghe được.

Đài Tiếng nói Việt Nam gỡ bỏ bài có ảnh viên chức BNG Việt Nam ngủ giữa hội trường LHQ

Đài Tiếng nói Việt Nam gỡ bỏ bài có ảnh viên chức BNG Việt Nam ngủ giữa hội trường LHQ

Hiếu Bá Linh

Ảnh chụp màn hình báo mạng Iran, đưa tin viên chức BNG Việt Nam ngủ say sưa giữa phiên họp Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc

Hôm qua, ngày 29/09/2018 báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam đăng bài viết “Sự thật sau bức ảnh thành viên phái đoàn Việt Nam ngủ say tại phòng họp LHQ”, nhưng chưa đầy một ngày sau đã phải gỡ bỏ bài báo này. Hiện trên Google vẫn còn lưu dấu tích của nó.

Trong vài ngày qua, báo chí khắp thế giới, như báo Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Iran v.v… đã đăng tin và hình ảnh một đại biểu Việt Nam ngủ say sưa trong một tư thế phản cảm tại phiên họp Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc ở New York – Mỹ.

Sau khi bức ảnh “làm nhục quốc thể” này gây một cơn bão lớn chưa từng có trên mạng, một số cơ quan truyền thông trong nước đã vội vã đăng những bài chữa cháy, điển hình là bài viết trên trang báo điện tử của kênh truyền hình VTC News ngày 29/9/2018 và cũng được đăng trên trang báo điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Bài viết nêu trên cho rằng bức ảnh gốc của Hãng Thông tấn Pháp AFP đã bị cắt xén mất “hình ảnh cô gái bên cạnh thành viên phái đoàn Việt Nam” (trích nguyên văn), và thành viên phái đoàn Việt Nam không ngủ trong phiên họp mà là trong “thời gian nghỉ giải lao giữa giờ thảo luận”.

Báo điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam đã đăng bài viết này vào ngày 29/09/2018, nhưng chưa đầy 1 ngày sau đã cho gỡ bỏ bài báo này. Hiện nay trên Google vẫn còn dấu tích của nó.

Dấu tích trên Google của bài báo trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đã bị gỡ bỏ.

Chúng ta hãy thử tìm hiểu nguyên do vì sao Báo điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng gỡ bài báo xuống.

1.- Bức ảnh có bị cắt xén hay không?

Sự thật là phóng viên AFP đã chụp 2 bức ảnh khác nhau và cả 2 bức ảnh này đã được tác giả rao bán trên mạng với giá 475 Euro mỗi tấm. Ghi chú bên phải của mỗi bức ảnh ghi rõ:

– Tác giả của cả 2 tấm ảnh là ông Don Emmert, phóng viên của Hãng Thông tấn Pháp AFP.

– Ngày chụp 2 tấm ảnh là 25/09/2018, ngày khai mạc Phiên thảo luận chung Đại hội đồng LHQ Khóa 73.

– Mỗi tấm hình đều có kích thước, độ lớn, độ phân giải khác nhau.

Như vậy là hoàn toàn không có chuyện cắt xén bức ảnh. Tờ báo mạng của Iran (xem ảnh chụp màn hình ở trên) đăng cả 2 tấm ảnh song song với nhau trong bản tin của mình.

Bức ảnh được Getty Images rao báo với giá 475 EUD trên mạng

2.- Ngủ say trong lúc đang họp hay trong thời gian giải lao?

Tác giả 2 bức ảnh này là Don Emmert, Trưởng phòng phóng viên ảnh của AFP tại Newyork, đã chú thích rõ dưới mỗi bức ảnh  là “naps during the General Debate” nghĩa là ngủ trong lúc đang họp chứ không phải “trong thời gian giải lao”.

Kể cả bức ảnh “bên cạnh thành viên phái đoàn Việt Nam đang ngủ có một phụ nữ mang balo, khom lưng ngồi dùng điện thoại” cũng được tác giả ghi chú là “một thành viên Phái đoàn Việt Nam đang ngủ trong lúc họp Phiên thảo luận chung Đại hội đồng LHQ Khóa 73 tại New York ngày 25 tháng 9 năm 2018” (A member of Vietnamese delegation naps during the General Debate of the 73rd session of the General Assembly at the United Nations in New York September 25, 2018).

3.- Có phải là thành viên Phái đoàn Việt Nam mới từ Việt Nam bay sang?

Trong phần sau cùng, bài báo đã “chữa cháy” bằng cách trưng ra nhiều ảnh chụp “nguyên thủ, chính khách nổi tiếng ngủ gật hay tranh thủ ngủ giữa giờ giải lao ở các phiên họp của Đại Hội đồng LHQ”, nguyên do là vì “mệt mỏi” do “múi giờ chênh lệch lớn”.

Trong phần này, bài viết đã ngụ ý nói rằng cán bộ ngoại giao Việt Nam ngủ trong ảnh là thành viên Phái đoàn Việt Nam mới từ Việt Nam bay sang: “di chuyển từ Hà Nội đến New York, múi giờ chênh lệch lên đến 13h đồng hồ”, cho nên “có mệt mỏi và tranh thủ chợp mắt giữa giờ thảo luận cũng là điều bình thường”.

Nhưng sự thật, cán bộ ngoại giao này là thành viên thuộc Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hiệp quốc (New York), nó có trụ sở và giờ làm việc (tiếp khách) hằng ngày không khác gì một Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Một thí dụ là gần đây nhất đã tổ chức trọng thể lễ viếng và mở sổ tang Chủ tịch nước Trần Đại Quang ở trụ sở này.

Cán bộ, nhân viên Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ trong lễ viếng tang Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại trụ sở của phái đoàn ở New York
Nhân vật “gây bão” trên mạng đang làm phụ tá cho Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ Nguyễn Phương Nga trong một phiên họp Liên Hiệp Quốc ngày 22/5/2018
Cán bộ, nhân viên Phái đoàn Thường trực Đại diện Việt Nam đứng trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York – Trưởng Phái đoàn Nguyễn Phương Nga (bìa trái) và nhân vật “gây bão” (đứng giữa, hàng sau)

Vậy là rõ ràng nhân vật ngủ say giữa hội trường LHQ không phải từ trong nước mới sang dự, mà là một cán bộ ngoại giao THƯỜNG TRÚ tại New York thuộc Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.

Tóm lại, với tất cả những bằng chứng rõ ràng như trên, Đài Tiếng nói Việt Nam không còn cách nào khác hơn là phải nhanh chóng gỡ bỏ bài báo chữa cháy, một bài viết tuy đề tựa “Sự thật sau bức ảnh …” nhưng đã xuyên tạc sự thật một cách trắng trợn và thô thiển.

Tù nhân lương tâm Trần Thị Nga không được gặp người thân sau hơn 1 tháng bị dọa giết

Tù nhân lương tâm Trần Thị Nga không được gặp người thân sau hơn 1 tháng bị dọa giết

RFA
2018-09-30

Nhà hoạt động nhân quyền Trần Thị Nga (giữa) tại phiên tòa phúc thẩm ở tỉnh Hà Nam hôm 22/12/2017

Nhà hoạt động nhân quyền Trần Thị Nga (giữa) tại phiên tòa phúc thẩm ở tỉnh Hà Nam hôm 22/12/2017

AFP

Sáng 29/9, gia đình tù nhân lương tâm (TNLT) Trần Thị Nga đến trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai để thăm gặp người thân theo định kỳ hàng tháng, tuy nhiên công an trại giam từ chối cho gặp mặt sau hơn 1 tháng bà này báo về nhà việc bị đánh và dọa giết trong tù.

Ông Phan Văn Phong, chồng của bà Nga cho Đài Á Châu Tự Do biết qua điện thoại như sau:

Nó (cán bộ trại giam Gia Trung) bảo chị không chấp hành nội quy của trại, chị bảo mình không có tội, không nhận tội nên không cho thăm gặp. Mình xuống nước bảo là không cho người lớn gặp thì cho trẻ con gặp, tụi nó đi cả ngàn cây số. Nó cũng bảo là không, trẻ con cũng không cho gặp”.

Bà Trần Thị Nga đang phải thụ án 9 năm tù giam tại trại giam Gia Trung, Gia Lai với cáo buộc “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 Bộ luật hình sự cũ năm 1999.

Ngày 18/8, bà Nga gọi điện về cho gia đình theo tiêu chuẩn 5 phút hàng tháng và cho biết đang bị một phạm nhân cùng trại đánh, thậm chí dọa giết chết trong tù.

Hai hôm sau, tổ chức Ân Xá Quốc Tế ra thông cáo kêu gọi cộng đồng có hành động khẩn cấp như gửi thư hoặc gọi điện cho trại Gia Trung yêu cầu đảm bảo an toàn cho bà Trần Thị Nga.

Ông Phan Văn Phong cũng có đơn tố cáo khẩn cấp gửi các cơ quan có trách nhiệm trong nước và các cơ quan quốc tế về việc bà Nga bị đánh đập thường xuyên trong tù.

Sau đó Viện Kiểm sát nhân dân Gia Lai có thư phản hồi đơn tố cáo của gia đình và cho rằng cơ quan này không có thẩm quyền giải quyết và chuyển đơn tố cáo về trại giam Gia Trung.

 Đức bác ái trong gia đình

  Đức bác ái trong gia đình

Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính. Không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.  Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cor 13, 4-7)

Gia đình là nơi tình yêu được triển nở, nơi ơn Thánh Chúa được phát huy để từng cá nhân trong gia đình được sống hạnh phúc, sống chan hòa tình huynh đệ, tình gia tộc, sống chân thật theo bổn phận trong vị trí của mình.

Chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Chúa, có nghĩa là bằng tình yêu, với tình yêu, trong tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu…(1Ga. 1, 8b + 16b)  Chúa muốn chúng ta sống hạnh phúc dồi dào theo ý Chúa, hạnh phúc là hậu quả của phần thưởng cuộc sống thiêng liêng trong nội tâm.

Anh em đừng có rập theo đời này nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thân, hầu có thể nhận ra đâu là Ý Thiên Chúa, cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa (Rm 12, 4)

Gương giáo dục tình yêu trong gia đình:

Gia đình Thánh Gia: Xin vâng âm thầm như Thánh Giuse, xin vâng vô điều kiện như Mẹ Maria và sống xin vâng cách khiêm nhường như Chúa Giêsu nghĩa là luôn luôn vâng theo Ý Cha Trên Trời.

 Gia đình Tobit: Tobit dạy con làTobia:(Tb 4, 3-20)

Kính sợ Chúa (Con hãy tưởng nhớ Đức Chúa mọi ngày… hãy thực thi công chính….,Is 4,5)

Hiếu Thảo.  Con hãy chôn cất cha cho tử tế. Hãy thảo kính mẹ con và đừng bỏ rơi người bao lâu người còn sống… con phải nhớ rằng mẹ con đã trải qua bao nỗi ngặt nghèo vì con khi con còn trong dạ mẹ… (Is 4,3)

Chân Thật và Bác ái. Hãy chia cơm sẻ áo cho người đói rách…. Mắt con đừng có so đo trong việc bố thíCon có bao nhiêu hãy cho bấy nhiêu, có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít…(Is 4,7)

Yêu thương anh em ruột thịt. Hãy yêu thương anh em con, chớ coi rẻ anh em con…(Is 4,13)

Tránh kiêu ngạo.  Kiêu ngạo sinh ra đổ vỡ và bất hòa. Is 4, 13b)

Chăm chỉ.  Đừng ở dung đưa tới túng thiếu và nghèo mạt, vì ở dung là mẹ của đói khát. Sống công bằng và sòng phẳng.Ai làm việc cho con, tiền công người ấy con không được giữ lại qua đêm. Hãy cẩn thận trong mọi việc con làm và tỏ ra con nhà gia giáo trong cách ăn thói ở của con. (Is 4,14).

 Không say sưa. Đừng uống rượu đến say sưa, đừng lấy việc say sưa làm bạn đường của con.(Is 4,15)

Tránh dâm ô. Hãy tránh xa mọi thứ dâm ô. (Is 4, 12)

Biết tìm người khôn ngoan để bản hỏi. Biết ai khôn ngoan thì tìm đến mà bàn hỏi, chớ coi thường bất cứ lời chỉ giáo nào hữu ích v.v (Is 4,18)

Gia đình ông Job: “Ô. Job giàu có nhất ở Phương Đông, ông có hơn cả 7.000 chiên dê lạc đà bò lừa… ông sống rất bác ái, Khiêm nhường, đấy lòng Kính sợ Thiên Chúa. Các con trai ông thường luân phiên tới nhà nhau, mời các em gáitiệc tùng, (để nối kết tình thân gia tộc).  Jb1, 13-19)

Ông thường gọi các con đến để thanh tẩy họ, rồi ông dậy sớm dâng lễ toàn thiêu cho mỗi người con vì ông nghĩ“biết đâu các con ta chẳng phạm tội và nguyền rủa Thiên Chúa trong lòng” (Jb. 1, 3b -5)

.Những gương sáng gia đình nơi trần thế

  1. Gia đình thanh nữ Teresa Hài Đồng. Mẹ Thánh Nữ mất lúc Thánh Nữ 4 tuổi. Ông bố thương con không có mẹ, nên tối và sáng nào cũng quây quần con cái cầu nguyện. Ngày 18.10.16 vừa qua hai vị đã được DTC Francis tuyên Thánh: Thánh Louis Martin và Zélie Guérin.
  2. Gia đình Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phalo II. Mẹ Ngài mất lúc 9 tuổi, cha của ngài luôn dắt con đi dạo và lần chuỗi chung với nhau.
  3. Gia đình vua Baudouin và hoàng hậu Fabiola (Bỉ Quốc).(Cả hai sống gắn bó kết hiệp với Chúa rất mật thiết từ khi đính hôn cho đến khi vua qua đời)  Xin  hãy nghe một lời tâm sự của nhà vua:”Lạy Chúa Yesu, con cám ơn Chúa đã làm cho con yêu thương vợ con tha thiết. Con cám ơn Chúa đã ban cho con một người vợ thương mến con, sau Ngài, nhưng trên hết mọi sự. Ước gì chúng con được lớn lên mãi trong Ngài, lạy Chúa

Trong lúc bệnh, nhà vua cầu nguyện: “Lạy Thánh Thần, xin Ngài cầu nguyện trong con, con cảm thấy khô khan và mệt mỏi. Lạy Me, con đến với Mẹ, không cần phải cố gắng nhiều, trong đức tin con đặt mình dưới chân Mẹ, níu lấy Mẹ. Ước gì Mẹ bồng lấy con trong kinh nguyện cầu cho người bệnh, con xin dâng Mẹ sự yếu hèn của con…”

  1. Gia đình của Đức cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận:(Một gia đình quý tộc, đạo hạnh. Mẹ ngài luôn dạy con cái chú trọng đến cuộc sống tâm linh là sống đẹp lòng Chúa dù lúc ăn lúc chơi, lúc học v.v…hơn là sự thành công về danh vọng ở đời. (nghĩa là dạy các con biết sống đẹp lòng Chúa hơn là thành kỹ sư, bác sĩ mà không đẹp lòng Chúa)Sáng nào bà cũng dắt các con đi lễ và cho tiền các con để giúp người ăn xin. Bà dạy các con khi bỏ tiền vào giỏ ăn xin thì phải cúi xuống bỏ vào một cách ân cần, để kính trọng nhân phẩm của họ)

Gia đình có Chúa ngự trị thì tình yêu luôn luôn hiện diện. Vì thế  theo gương của các gia đình này, dạy con đầu tiên là dạy cầu nguyện, dạy biết đón nhận tình yêu của Chúa và dạy biết yêu Chúa. (Cầu nguyện để mở lòng ra với những gì đang xảy đến, chứ không phải để có một thế giới hình thành theo ước muốn của mình)

Các bậc cha mẹ hãy chú trọng đến giáo dục con cái về cách xử dụng của cải, về  cách sống tâm linh v.v… giáo dục tình yêu về tính dục, về tình dục và giáo dục về hôn nhân theo giáo lý Công Giáo “Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lẫn của mình (Rm. 1, 26-27)

Xin mượn lời Đức Thánh GH Gioan P.II  để kết thúcHãy dạy các con đừng sống đức tin một cách hời hợt chung chung, phải có đời sống nội tâm sâu xa nhờ cầu nguyện để có sự thân tình với Chúa và với anh chị em mình”  (DTC  nhắc nhở cầu nguyện với phương pháp Lectio Divina)

Elisabeth Nguyễn 

From: Ngoc Bich & KimBang Nguyen

Tình cảnh ‘Ô-sin’ Việt bị bóc lột, bỏ đói ở Saudi

Tình cảnh ‘Ô-sin’ Việt bị bóc lột, bỏ đói ở Saudi

Một phụ nữ Việt Nam sang Saudi, tức Ả Rập Xê-út, giúp việc nhà nói bà bị chủ nhân ngược đãi và bóc lột sức lao động. Trang mạng Asia Times trích một bài phóng sự của Al-Jazeera, kết luận rằng rất nhiều ‘ô-sin’ Việt Nam đang bị ngược đãi đằng sau những cánh cửa đóng kín ở vùng Vịnh bên Trung Đông, trong khi không được nhận đồng lương xứng đáng như đã được hứa hẹn.

Trong một cuộc phỏng vấn do đài Al Jazeera thực hiện, bà Phạm Thị Đào cho biết bà phải làm việc từ 5g sáng tới 1g sáng ngày hôm sau. Mỗi ngày chỉ được ăn một bữa cơm duy nhất vào lúc 1g chiều. Tác giả bài báo, Yen Duong, nhà báo kiêm phóng viên nhiếp ảnh, cho hay bà Đào, 46 tuổi, làm ô-sin tại Ả Rập Xê-út trong hơn 7 tháng trước khi trở về Việt Nam vào tháng Tư năm nay.

Phạm Thị Đào, 46 tuổi, cho biết cô đã làm việc hơn 18 giờ một ngày và được cho cùng một bữa ăn để sống – một lát thịt cừu và cơm.

Phóng sự điều tra của tờ Al Jazeera, cơ quan truyền thông tiếng Ả Rập, mang tựa đề: “Ô-sin Việt ở Ả Rập Xê-út: Lao động quá sức, bị ngược đãi, bị bỏ đói.”

Một số phụ nữ được phỏng vấn nói họ bị buộc phải làm việc ít nhất 18 tiếng một ngày, bị bỏ đói, đánh đập và ngăn cản, không cho về nước.

Một trường hợp khác là trường hợp chị Trịnh Thị Linh, đến từ Hà Nam. Chị Linh cho biết như nhiều người đồng cảnh ngộ chị đã gặp bên Ả Rập Xê-út, hộ chiếu của chị bị tịch thu ngay khi tới Riyadh.

Chị Linh, 30 tuổi, kể lại với Al-Jazeera rằng chị được hứa mức lương 388 USD /tháng, và rất mừng vì gia đình rất nghèo, và mức lương tháng đó cao hơn thu nhập của gia đình trong hai vụ mùa.

Sang và con gái 12 tuổi của mình ở nhà tại tỉnh Tây Ninh, phía tây nam Việt Nam. ‘Tôi chỉ muốn cô ấy quay lại. Chúng tôi không bao giờ ngờ rằng điều này là khó khăn – để cô ấy rời khỏi nhà, con cái và người thân của cô ấy ở đây, ‘anh ta nói.

Chị phải làm việc 18 giờ một ngày, và như bà Đào, mỗi ngày chỉ được ăn một bữa. Khi chị Linh = xin đổi chủ, là một quyền của người lao động dựa trên hợp đồng, thì bị nhân viên tại công ty môi giới Việt Nam quát tháo và dọa nạt.

Rốt cuộc chị phải tuyệt thực cho tới khi chủ nhân đồng ý trả chị lại cho công ty môi giới ở Ả Rập Xê-út.

Nhưng thật không may, bà chủ của gia đình thứ nhì còn tệ hơn nhiều.

“Bà chủ giữ vali của tôi, lấy hộ chiếu, không cho tôi dùng điện thoại và không cho tôi nấu ăn lấy. Tôi không có băng vệ sinh để dùng, tôi phải rửa chân cho các chủ nhân và đấm bóp họ. Có lúc, bà chủ vất thức ăn còn thừa, thay vì cho tôi ăn.”

Ông Nguyễn Đình Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Lao Động Việt Tự do có trụ sở tại Úc, là tổ chức giúp lao động Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài bị ngược đãi ở nhiều nước, nói tình cảnh vừa nêu không chỉ xảy ra cho những người giúp việc ở Ả Rập Xê-út.

  

Ông Hùng nói:

“Trường hợp này xảy ra nhiều nước khác nhau chứ không riêng gì Ả Rập Xê-út. Có nhiều trường hợp ngược đãi là bởi vì những người này là công nhân nghèo ở dưới quê, có người không biết chữ, không rành về các hợp đồng. Hợp đồng mà họ ký không phải là hợp đồng với các chủ nhân, mà là do những người môi giới ở Việt Nam ký. Nhiều người không biết nội dung hợp đồng nói gì. Khi đến nơi thì chủ nhân nói hợp đồng không có giá trị. Vì vậy họ đi là toàn bị lưà gạt. Họ sang bên đó với hy vọng có thể được đối xử tốt và đem nhiều tiền về để nuôi gia đình nhưng thực sự ra là hầu hết những công nhân Việt Nam đi gặp những hoàn cảnh bị ngược đãi và bị bóc lột rất là nhiều.”

Nhưng có lẽ tình cảnh người lao động Việt Nam ở Ả Rập Xê-út còn khó khăn hơn vì luật kafala của Ả Rập Xê-út, vốn cấm người giúp việc đổi việc và rời Ả Rập Xê-út nếu không được phép của chủ nhân. Đây là một quy định nhằm trói chân các nạn nhân phải tiếp tục làm việc với chủ, dù bị ngược đãi.

  Nhiều người lâm vào tình trạng tuyệt vọng tới mức họ thà bị cảnh sát bắt giữ và trục xuất về nước, chứ không còn chịu đựng được cảnh bị bóc lột và và ngược đãi.

Tờ Asia Times dẫn lời bà Nguyen Thi May Thuy thuộc Văn Phòng Lao động nước ngoài Việt Nam, nói rằng môi trường làm việc đối với những người giúp việc nhà hạn chế những tiếp xúc với thế giới bên ngoài và vì thế, các nạn nhân bị ngược đãi rất khó có thể thu thập chứng cớ cho thấy họ bị ngược đãi.

  

Một số hiếm hoi may mắn thoát được kể lại những điều kiện sinh sống tương tự như những nô lệ.

Trên trang Facebook riêng, chị Phạm Thị Đào chia sẻ kinh nghiệm cay đắng của mình. Chị nói:

“Tôi biết rằng trong tư cách là những người giúp việc, chúng tôi phải làm quen với những điều kiện làm việc khó khăn. Chúng tôi không đòi hỏi nhiều. Xin đừng bỏ đói, đừng đánh đập chúng tôi, cơm ngày 3 bữa. Nếu đạt được những điều đó, chúng tôi đã không phải kêu cứu.”

Bà Bảo Khánh, Trưởng đài Vietnam Sydney Radio ở Úc, nói người Việt phải lên tiếng để giúp đồng bào ở trong nước tránh bị lừa gạt.

“Mọi người cần phải lên tiếng về vấn đề này. Nếu chúng ta không lên tiếng thì người lao động Việt Nam sẽ bị gạt để mà lấy tiền, bị dụ dỗ để đưa đi lao động nhưng thực ra chỉ giúp nhà cầm quyền hoặc các nhóm tham nhũng giàu thêm mà người dân thì khổ thêm.”

  Ả Rập Xê-út là một trong những nước nhập khẩu người giúp việc lớn nhất thế giới.

Dựa trên các số liệu của Bộ Lao động Việt Nam thì hiện nay có khoảng 20.000 lao động người Việt ở Ả Rập Xê-út, ước lượng trong số này có 7000 tới được mướn làm ô-sin, phục vụ các gia đình Ả rập. Hồi năm 2014, hai nước đã ký thỏa thuận 5 năm cho phép thêm nhiều công dân Việt Nam sang lao động tại vương quốc Ả Rập Xê-út.

  

Hoài Hương

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG VÀ CON ĐƯỜNG THƠ ẤU THIÊNG LIÊNG

THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG VÀ CON ĐƯỜNG THƠ ẤU THIÊNG LIÊNG

Thánh Nữ Têrêxa sinh tại Alencon bên Pháp năm 1873.  Cha mẹ ngài là ông bà Louis Martin và Zélie Guérin rất đạo đức, đã được Bộ Phong Thánh nhìn nhận các nhân đức anh hùng, và Bộ cứu xét phép lạ để hoàn tất tiến trình điều tra phong chân phước.  Ông bà có 9 người con nhưng 4 người chết sớm.  Trong 5 người con gái còn lại, Têrêxa là con út: 4 người vào dòng kín Camêlô và Léonine đi tu dòng Thăm Viếng.

Têrêxa mồ côi mẹ năm lên 4 tuổi, và gia đình dọn về thành Lisieux.  Têrêxa có ý định đi vào dòng kín tại đây mặc dù tuổi còn nhỏ.  Nhưng gia đình cũng như Đức cha Hugonin đều chống lại dự án này nên Têrêxa quyết định xin phép thẳng với ĐGH.  Năm 1887, cùng với cha và chị Céline, Têrêxa đi hành hương Roma và trong buổi tiếp kiến ngày 20 tháng 11 năm 1887, Têrêxa xin ĐGH Leo XIII cho phép vào dòng kín mặc dù lúc đó mới được 14 tuổi.  Nhưng cô chỉ nhận được một câu trở lời mơ hồ và được dẫn ra ngoài, nước mắt dàn dụa.

Trở về Lisieux, Têrêxa được phép ĐGM cho vào dòng kín vào ngày 9-4-1888, lúc đó chị mới được 15 tuổi và 3 tháng.  24 nữ tu tiếp đón Têrêxa.  Cuộc sống trong đan viện có nhiều cam go về mặt vật chất cũng như về kỷ luật.  Chị Têrêxa ngày càng tiến triển trên con đường yêu mến Chúa.  Ước muốn cứu rỗi các linh hồn thúc đẩy Têrêxa định xin tới dòng kín Camêlô ở Sàigon, nhưng vì bệnh lao phổi, nên chị Têrêxa phải bỏ ý định này, và từ tháng 4 năm 1897, Têrêxa không thể tham dự đời sống cộng đoàn nữa.  Chị qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1897 lúc mới được 24 tuổi đời.  Chỉ 27 năm sau đó, Đức Pio XI đã tôn phong Têrêxa Hài Đồng Giêsu lên bậc hiển thánh và 2 năm sau ngài tôn thánh nữ làm bổn mạng các xứ truyền giáo, giống như thánh Phanxicô Xavie, Tông đồ miền Viễn Đông.

Các tác phẩm của Thánh Têrêsa

Ngày 30 tháng 9 năm 1898, tức là đúng một năm sau khi Chị Têrêxa qua đời, Mẹ Agnès Chúa Giêsu và Mẹ Marie Gonzague đã cho ấn hành theo thông lệ một thư luân lưu về nữ tu quá cố và gửi tới tất cả các đan viện kín Camêlô.  Chỉ khác một điều là bức thư này dày tới 476 trang.  Tác phẩm đó mang tựa đề “Truyện một tâm hồn” và trở thành cuốn sách bán chạy nhất.  Cuốn sách này được Mẹ Agnès soạn lại dựa trên 3 thủ bản A, B, C.  Mãi tới năm 1956, cha Francois de Sante Marie mới trình bày bản phê bình, gồm các nguyên bản với phần dẫn nhập và chú thích.

+ Thủ bản A là tác phẩm được Têrêxa viết ra theo lời yêu cầu của Mẹ Agnès để kể lại những năm đầu tiên trong cuộc đời thánh nữ.  “Truyện mùa xuân của một bông hoa trắng nhỏ”, do Têrêxa dùng những giờ phút rảnh rỗi giữa công việc và kinh nguyện để viết lại.

+ Thủ bản B được Thánh Nữ Têrêxa kết thúc vào trung tuần tháng 9 năm 1896: Trong một cuộc tĩnh tâm trong cô tịch, Têrêxa nhận được lá thư của chị Marie Thánh Tâm xin Têrêxa chia sẻ những ánh sáng thiêng liêng đã nhận được trong cuộc tĩnh tâm ấy.  Ngay ngày hôm ấy, 13-9-1896, Têrêxa trả lời cho chị Marie, thông báo cho chị kinh nguyện dài mà Têrêxa đã viết ngày 8-9-1896 trước đó để kỷ niệm ngày khấn dòng, đồng thời kèm theo một thư dài.  Thư này cùng với kinh nguyện vừa nói họp thành điều mà người ta gọi là “Thủ Bản B”.  Trong thủ bản này Têrêxa cũng kể lại một giấc mơ và mô tả các mong ước, các ơn gọi mà Têrêxa ước mong được sống.

+ Thủ bản C do Têrêxa viết ra trong những tháng trước khi qua đời và lần này chị cũng viết vì đức vâng lời.  Sứ mạng huynh đệ mà Têrêxa mô tả chính là một chứng tá sâu xa về đặc sủng Camêlô do Thánh Nữ Têrêxa Avila đã đề xướng khi cải tổ dòng Camêlo.

Ngoài ra, còn có các Thư của Têrêxa được công bố toàn bộ vào năm 1948, gồm 266 thư và miếng giấy nhỏ để ghi.

Các thư này được gửi cho những người thân yêu trong gia đình, 7 giáo sĩ, 3 tu huynh và hai bạn gái.  Còn thiếu khoảng 60 thư Thánh Nữ Têrêxa viết cho cha giải tội và một số thư viết cho các “người anh thừa sai.”  Tất cả các thư cho thấy, mặc dù còn trẻ tuổi, nhưng Têrêxa đã thi hành nhiệm vụ hướng dẫn các linh hồn qua các thư từ đó.

Tập vở vàng gọi là Những Lời Sau Cùng, là tập hợp các lời cuối cùng của Têrêxa ghi lại trên cuốn vở của Mẹ Agnès.  Tập này được chính Mẹ Agnès soạn lại, qua đó người ta thấy được chân dung của Thánh Nữ Têrêxa như một phụ nữ bị đóng đinh và chịu đau khổ khôn lường.

Năm 1952, cuốn Huấn dụ và Ghi niệm được công bố, rút từ những tuyên bố mà các nữ tập sinh dòng kín Camêlô ở Lisieux đã cung khai trong cuộc điều tra phong chân phước cho Têrêxa.

Thánh nữ Têrêxa cũng viết 54 bài thơ, được thu thập lại và trình bày trong ấn bản phê bình vào năm 1979.  Ngày nay, sau 20 năm trời nghiên cứu, toàn bộ các tác phẩm của Thánh nữ Têrêxa đã được xuất bản theo nguyên tắc phê bình khoa học và được dịch ra các thứ tiếng. 

Lm Trần Đức Anh, OP

From Langthangchieutim

Động đất, sóng thần ở Indonesia giết chết ít nhất 384 người


Người dân đứng trước một trung tâm mua sắm đổ sập sau khi một trận động đất làm rung chuyển thành phố Palu, đảo Sulawesi, Indonesia, ngày 29 tháng 9, 2018.
Người dân đứng trước một trung tâm mua sắm đổ sập sau khi một trận động đất làm rung chuyển thành phố Palu, đảo Sulawesi, Indonesia, ngày 29 tháng 9, 2018

Ít nhất 384 người thiệt mạng, nhiều người bị cuốn trôi bởi những cơn sóng khổng lồ ập vào các bãi biển, khi đảo Sulawesi Indonesia hứng chịu một trận động đất lớn và sóng thần, nhà chức trách cho biết hôm thứ Bảy.

Hàng trăm người đang tụ tập tham dự một lễ hội trên bãi biển ở thành phố Palu vào ngày thứ Sáu thì sóng cao tới sáu mét ập vào bờ vào lúc hoàng hôn, cuốn trôi nhiều người khiến họ tử vong và phá hủy bất cứ thứ gì trên đường đi của nó, sau một trận động đất mạnh 7,5 độ.

Những đoạn video nghiệp dư được các đài truyền hình địa phương chiếu cho thấy sóng ập vào những căn nhà nằm trên đường bờ biển Palu, hất văng các công-tai-nơ vận tải và làm ngập lụt một nhà thờ Hồi giáo trong thành phố.

Khoảng 16.700 người đã được sơ tán đến 24 trung tâm ở Palu.

Các cơn dư chấn làm rung chuyển thành phố ven biển này cho đến chiều ngày thứ Bảy sau trận động đất lớn hôm thứ Sáu gây nên sóng thần. Hàng loạt trận động đất đã được cảm nhận trong một khu vực có 2,4 triệu dân.

Sutopo Purwo Nugroho, phát ngôn viên cho cơ quan khắc phục thiên tai BNPB của Indonesia, mô tả thiệt hại là “rộng khắp,” và nói hàng ngàn ngôi nhà, bệnh viện, trung tâm mua sắm và khách sạn đã đổ sập. Một cây cầu bị cuốn trôi và đường cao tốc chính tới Palu bị cắt đứt do sạt lở đất.

Ông cho biết thi thể của một số nạn nhân đã được tìm thấy bị mắc kẹt dưới đống đổ nát của những tòa nhà bị sập, nói thêm rằng có 540 người bị thương và 29 người mất tích. Hàng chục người bị thương đang được chữa trị trong các lều y tế tạm bợ được dựng ngoài trời, hình ảnh trên truyền hình cho thấy.

Những hình ảnh được nhà chức trách xác nhận cho thấy các thi thể nằm trên đường phố hôm thứ Bảy, một số đặt trong túi và một số với quần áo phủ lên mặt.

Ông Nugroho cho biết con số thương vong và thiệt hại có thể còn cao hơn dọc theo đường bờ biển 300 km về phía bắc Palu, một khu vực được gọi là Donggala gần tâm chấn hơn.

Liên lạc “hoàn toàn bị tê liệt mà không có thông tin gì” từ Donggala, ông Nugroho nói. Hơn 600.000 người sống ở Donggala và Palu.

Tổng thống Joko Widodo dự kiến sẽ đến thăm các trung tâm sơ tán tại Palu vào Chủ nhật.

Indonesia nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi động đất.

Vào tháng 8, một loạt các trận động đất lớn đã làm thiệt mạng hơn 500 người ở hòn đảo du lịch Lombok và phá hủy hàng chục ngôi làng dọc theo bờ biển phía bắc của hòn đảo.

Palu từng bị sóng thần tàn phá vào năm 1927 và năm 1968, theo BNPB.

Duy Trì Hạnh Phúc Gia Đình Vì Con

Van H Pham
GÓC SUY GẪM

Duy Trì Hạnh Phúc Gia Đình Vì Con!!!

Một tối nọ tôi và cha đi xem phim, bộ phim không hấp dẫn lắm nên hai cha con đã quyết định về sớm. Khi đến ngã rẽ gần nhà, cha tôi đột nhiên dừng lại, trông nét mặt ông rất khác, rồi ngay sau đó ông lấy tay che kín mắt tôi. Ông nói với tôi: “Con đừng nói, đừng nhìn nhé”. Tôi nghĩ cha đang đùa và muốn bỏ tay ông ra khỏi mặt mình, tuy nhiên cha vẫn cố lấy tay che hết mắt tôi và ông nói rất nghiêm: “Có một con quỷ rất đáng sợ, cha con mình ra ngay khỏi đây thôi!”.

Nghe đến quỷ là tôi đã sởn gai ốc rồi! Ma quỷ rất đáng sợ, quỷ sẽ bay tới và ăn thịt trẻ con như mấy câu chuyện tôi được nghe kể…, sợ quá nên tôi cứ để tay cha che hết mắt mình từ lúc đó tới khi về nhà. Về nhà rồi tôi vẫn còn run rẩy vì sợ.

Sau khi đã bình tĩnh lại, tôi hỏi cha: “Con quỷ cha nhìn thấy trên đường ban nãy trông nó như thế nào?”. Cha im lặng một lát rồi nói: “Con đừng hỏi, nếu biết con sẽ không thể thoát khỏi nó đâu”. Tôi về phòng nhưng vẫn thấy tò mò về con quỷ vừa rồi. Tôi gặp mẹ và kể cho bà nghe chuyện đó. Mặt mẹ tự dưng tái nhợt, bà mãi mới cất lời: “Cha con nói đúng đấy, không nên hỏi về chuyện này, nếu không con không thể thoát khỏi nó đâu”.

Sau lần ấy mỗi khi ra đoạn rẽ đó, tôi luôn nhìn xung quanh để xem có con quỷ nào xuất hiện hay không. Tuy nhiên tôi chưa bao giờ đối diện bất kỳ một con quỷ nào như tối hôm hai cha con bỏ bộ phim về nhà sớm. Cũng thật kỳ lạ, có đôi chút thay đổi trong gia đình tôi kể từ hôm ấy…

Trước đó cha mẹ hay cãi cọ và mẹ muốn ly hôn, sau hôm đó cha lại nói đồng ý li dị, nhưng mẹ không chấp nhận. Và lập tức không khí trong gia đình thay đổi đến kỳ lạ, hai người không còn cãi cọ nữa và tỏ ra hạnh phúc bên nhau, để cho chúng tôi trưởng thành trong mái ấm thực sự.

*********

30 năm sau kể từ hôm ấy, cha mẹ tôi không còn cảnh mặt tưng bừng lớn tiếng quát tháo nhau….

Người cha 70 tuổi của tôi đã qua đời trong vòng tay yêu thương của vợ. Khuôn mặt ông nở nụ cười nhẹ nhàng. Lo an táng ông xong, tôi thu dọn di vật của cha và nhìn thấy cuốn nhật ký. Trong đó ông viết về cái đêm khi chúng tôi gặp “con quỷ”…, câu đố cuối cùng đã được giải đáp …

Trong nhật ký ông viết:
“Xem phim xong dắt con trai về nhà, bất chợt đến ngã rẽ vào hẻm nhìn thấy vợ mình cùng một người đàn ông lạ đang âu yếm nhau. Tôi cảm thấy như rơi xuống vực thẳm vì linh cảm của mình đã đúng. Tôi đã hết mực yêu thương vợ mình và cô ấy ngấm ngầm phản bội lại tôi và gia đình. Tôi thấy thương con trai, sự thật này quá tàn nhẫn với nó, có thể là bóng đêm ám ảnh suốt cuộc đời con trẻ. Con liệu có thể chấp nhận việc người mẹ yêu dấu của mình có hành vi như vậy!

Tôi không thể tưởng tượng nổi con trai mình sẽ như thế nào nếu biết việc này. Mặc dù cô ấy đã xử tệ với tôi, nhưng tôi cũng phải ghi nhận rằng cô ấy từng tốt với mình, và còn con trai yêu dấu của tôi nữa. Vì vậy tôi đành phải nói dối con về con quỷ đó …”

Sau khi đọc nhật ký của người cha quá cố, mắt tôi đẫm lệ. Cha đã che giấu sự thật để gìn giữ hình ảnh hoàn mỹ về mẹ trong trái tim con trai bà, cũng bởi vì vậy mà cha mẹ tái hợp để cứu vãn cuộc hôn nhân đang trên bờ vực sụp đổ của họ.

Tôi đi vào phòng, trìu mến ôm người vợ đang mang bầu của mình, tiếp đó tôi xóa sạch mọi thông tin về người bạn gái cũ cũng như những thông tin khác … Bởi vì tôi đã học được một điều thật quý giá qua câu chuyện “con quỷ”, lĩnh hội bài học làm người cha tốt.

Cha đã vì tình yêu thương với tôi mà dẹp bỏ nỗi giận dữ và tự ái lẽ ra nên trút lên đầu mẹ để duy trì hạnh phúc gia đình. Bất kỳ ai trong hoàn cảnh gia đình có nguy cơ đổ vỡ cần phải xem xét lại bản thân và thông cảm cho đối phương với tấm lòng vị tha.

Không ai muốn chuốc lấy tổn thương về mình, nhưng cha đã làm vậy để cho tôi một cuộc sống hạnh phúc trong mái ấm gia đình. Xin hãy chia sẻ câu chuyện này tới mọi người để trên thế gian sẽ còn nhiều người cha tốt như thế, để các bậc phụ huynh luôn tìm cách giải quyết xung đột và cho những đứa con thơ một mái ấm hạnh phúc bên mẹ cha.
Sưu tầm

Image may contain: 2 people, people standing, people sitting and shoes