CÔNG AN DÙNG CÔN ĐỒ ĐÁNH GIÁO DÂN ĐỂ BẢO KÊ CHO DOANH NGHIỆP CƯỚP ĐẤT NHÀ THỜ TRÀ ÔN

Image may contain: one or more people and people standing
Image may contain: 1 person, indoor
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 2 people
Image may contain: one or more people and shoes
+3
Lê Ngọc Thanh is with Bích Trâm and 2 others.

CÔNG AN DÙNG CÔN ĐỒ ĐÁNH GIÁO DÂN ĐỂ BẢO KÊ CHO DOANH NGHIỆP CƯỚP ĐẤT NHÀ THỜ TRÀ ÔN

Công An và nhà cầm quyền huyện Trà Ôn để cho xã hội đen đánh giao dan va Quới chức Nhà Thờ Trà Ôn. Bị đánh vào lúc 20h30 ngày 14/09/2018 tại khu đất Nhà Thờ Trà Ôn. Giáo dân đấu tranh không cho lấy đất củ Nhà Thờ nên bị đánh.

TIN MỚI NHẤT VỀ ANH TRẦN HUỲNH DUY THỨC

Image may contain: one or more people and text
David Truong Do

TIN MỚI NHẤT VỀ ANH TRẦN HUỲNH DUY THỨC

Lúc 2 giờ chiều nay gia đình anh Thức vào thăm anh theo định kỳ. Sau khi làm thủ tục, đến 2 giờ 45 cuộc gặp bắt đầu.

Anh Thức trông gầy yếu và mệt mỏi, nhưng thần sắc vẫn tốt. Khi gia đình bắt đầu nói chuyện, thì một quản giáo tên Trần Duy Phong (tuy không đeo bảng tên nhưng anh Thức biết mặt) yêu cầu anh Thức và gia đình chỉ được hỏi thăm nhau, mà không nói chuyện liên quan đến tình hình bên ngoài.

Anh Thức phản đối sự cấm đoán phi lý đó và đề nghị dẫn chiếu luật nào quy định sự cấm như vậy và đòi hỏi phải giải thích thế nào là “hỏi thăm” cũng như thế nào là “chuyện liên quan đến tình hình bên ngoài”.

Người quản giáo không những không trả lời được, mà còn đe dọa hủy buổi thăm gặp nếu anh Thức và gia đình không chấp hành. Khi mọi người cùng phản đối thì lập tức thêm hai quản giáo xông đến lôi kéo anh Thức vào bên trong, dù chưa ai được hỏi thăm nhau một câu nào.

Trước khi bị lôi đi khỏi phòng lúc 3 giờ, anh Thức la lớn: “Tôi dự định chấm dứt tuyệt thực hôm nay, nhưng để phản đối sự vi phạm pháp luật và xâm phạm quyền của tôi, tôi tuyên bố tiếp tục tuyệt thực!”

Gia đình anh Thức liền đồng thanh lên tiếng phản đối trại giam đàn áp tù nhân Trần Huỳnh Duy Thức, và ngồi lỳ tại phòng thăm gặp, không đồng ý rời đi, dù quản giáo yêu cầu mọi người phải bước ra.

Đến 5 giờ chiều, trại giam cử đến hàng trăm công an tay mang dùi cui đến cưỡng bức 3 người thân của anh Thức ra khỏi cổng trại. Họ áp tải cả nhà ra tận bên ngoài đường lớn bên ngoài trại giam.

Như vậy, anh Trần Huỳnh Duy Thức sẽ tiếp tục tuyệt thực để phản đối sự vi phạm pháp luật của trại giam số 6 ở Nghệ An.

Chúng ta hãy tiếp tục lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, không được tùy tiện đặt ra các quy định cấm đoán và xâm phạm quyền của tù nhân vừa phi lý, vừa ngoài phạm vi luật định.

Phản đối cách hành xử rừng rú và khốn nạn của trại giam số 6!

Tin: Ls Lê Công Định

Trump ‘ra lệnh đánh thêm thuế lên hàng TQ’

Một số quan chức trong chính quyền đang cố gắng đưa ra các cuộc thảo luận về việc giảm nhẹ cuộc chiến thương mại, nhưng ông Trump nói hôm thứ Năm rằng Mỹ đang “không chịu bất kỳ áp lực gì” để mà phải chấp nhận một thỏa thuận.

About this website

BBC.COM
Tin cho hay Tổng thống Donald Trump đã ra lệnh cho các nhân viên tiến hành vòng đánh thuế lên 200 tỷ đôla hàng hóa Trung Quốc.

Án văn

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

Án văn 
(kỳ 5 – có bổ sung)

Nguyễn Thông

Qua 4 kỳ trước, tôi đã lược lại những vụ án văn nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với “Cửa mở”, Hoàng Cát với “Cây táo ông Lành”, Hữu Loan với “Màu tím hoa sim”, Quang Dũng với “Tây tiến”, Bùi Ngọc Tấn với “Chuyện kể năm 2000″… Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi vì họ là những con người cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác chính là nhà cầm quyền. Lúc nào miệng họ cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô chính trị lên đầu đám sáng tác, anh nào cố tình chạy trốn, thoát ra khỏi sự trói buộc sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị.

Viết đến đây, tôi lại nhớ chuyện hoặc giai thoại về những ông lãnh đạo đảng cộng sản xứ này chỉ đạo văn nghệ, do các thầy ở khoa Văn kể lại. Hồi những năm giữa thập niên 60, khi đám văn nghệ sĩ vẫn chưa hoàn hồn sau cuộc “cách mạng văn hóa long trời lở đất trừng trị đám phá hoại Nhân văn giai phẩm (được ví gây tác hại ghê gớm kinh khủng tai hại như cuộc Cải cách ruộng đất trong văn nghệ) thì ông Trường Chinh tìm cách trấn an. Anh Năm (tên thân mật của ông Trường Chinh) trong một buổi gặp các nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, khi nghe đây đó có ý kiến về quyền tự do sáng tác, ông liền cười mỉm, rằng “Ai nói đảng không cho các anh các chị quyền tự do sáng tác. Nói thế là hồ đồ. Đảng vẫn cho các anh các chị quyền tha hồ chửi đế quốc Mỹ đó sao”. Đám nghệ sĩ, nhà văn nhà thơ ngồi nghe chết lặng. Mà đúng thật, những gì “anh Năm” nói đều có thực tế, và sau chỉ đạo ấy của ông lại càng lộ mạnh hơn quyền tự do chửi Mỹ trong các sáng tác.

Khi ông Trường Chinh đã bật đèn xanh cho quyền tự do chửi thì dòng văn chửi còn hơn cả hàng tôm hàng cá. Tôi vẫn nhớ hồi bé người ta truyền tai nhau câu thơ, cứ bảo của “nhà thơ” Bút Tre nhưng chả biết có phải không: “Trên rừng con khỉ đánh đu/Thằng Ngô Đình Diệm mút cu bác Hồ”. Rồi sau ông Diệm bị mắng là “thằng” thì tới thằng Thiệu, thằng Kỳ. Năm 1966, nhà thơ trào phúng Nguyễn Đình có viết trên báo Nhân Dân chửi Thiệu-Kỳ (tôi đọc bài này bởi thày (bố) tôi sai ra trụ sở ủy ban mượn báo để đọc ké, vẫn còn nhớ câu mở đầu: “Hội nghị Gu-am được gọi đi/Thằng Thiệu thằng Kỳ tầm váo tầm vênh”. Mà chả riêng các ông Ngô Đình Diệm, Thiệu, Kỳ bị gọi là thằng, các đời tổng thống Mỹ đều được phong “thằng” tuốt: thằng Ai xen hao, thằng Ken nơ đi, thằng Giôn xơn, thằng Ních xơn, thậm chí người ta còn khuyến khích các gia đình nuôi chó đặt tên chó là con Giôn xơn, con Ních xơn để chửi cho sướng miệng. Được “tự do chửi” nên mới dẫn đến cảnh ông Nguyễn Công Hoan văng tục “đù mẹ” cụ Phan Khôi, ông Tố Hữu mạt sát các nhà văn nhà thơ Nhân văn giai phẩm là ma cô, lưu manh, đĩ điếm…

Nhân chuyện quan điểm tự do sáng tác của ông Trường Chinh, tôi lại nhớ hồi học ở Mễ Trì, thầy chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị tuy làm lãnh đạo khoa nhưng vẫn tham gia dạy phần văn học Xô viết và phần lý luận tính đảng trong văn học. Một lần thầy nhắc đến chi tiết trong đại hội các nhà văn Xô viết, nhà văn Pha đê ép (Fadeev) đã rất hùng hồn khẳng định “Chúng ta được viết theo tiếng gọi của trái tim mình. Nhưng trái tim chúng ta đã thuộc về đảng”. Thầy bảo, đại loại đó là quyền tự do sáng tác, là tính đảng trong văn học của nền văn học xã hội chủ nghĩa ưu việt. Sau khi phát biểu lời tâm huyết ấy không lâu, ông Chủ tịch Hội Nhà văn Liên Xô Fadeev đã rút súng bắn vào đầu tự sát.

Vị thứ 2 ở xứ này để lại dấu ấn với đời sống văn nghệ là ông Nguyễn Văn Linh. Sau khi được các đồng chí của ông quần cho lên bờ xuống ruộng, đến năm 1986 thì ông được bầu làm tổng bí thư. Ông từng một thời được ca ngợi là nhân vật đổi mới, với những mẩu ngắn trên báo Nhân Dân trong mục “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL, tên tắt của ông nhưng đám tuyên giáo khen nịnh thối thành “Nói và làm”, còn dân gian cứ gọi nôm na là ông “en nờ vê e lờ”. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi ngồi ghế nóng là lấy lòng văn nghệ sĩ. Ngày 6.10.1987, ông gặp họ, tuyên bố hùng hồn phải “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, còn ai trói, trói thế nào, vì sao trói, cởi đến đâu, v.v.. thì ông không nói, cứ lửng lơ con cá vàng. Cuối cùng ông bật đèn xanh, khuyên “Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Nhiều người khen câu này của ông, chứ riêng tôi thấy ông Linh rất vô trách nhiệm, đảng của ông trói người ta, ông lại đổ cho trời, đó là chưa nói ở ý nghĩa khác thì ông tự coi mình là trời. Đảng mà không cởi thì có 10 trời cũng bó tay.

Tuy nhiên, mắc lừa ông Linh, đám văn nghệ rất phấn khởi, lại được các bác Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc hô xung phong nên hào hứng lắm. Những tác phẩm vang dội như “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, “Lời khai của một bị can” viết về số phận ông vua lốp Nguyễn Văn Chẩn (nạn nhân chiến dịch Z30) phóng sự của Trần Huy Quang, “Người đàn bà quỳ” (Phùng Gia Lộc), những quan điểm táo bạo của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Dương Thu Hương… ra đời trong dịp này. Nhưng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) cuối cùng cũng chỉ là anh chết nhát, nửa vời, đảng của ông ấy không ủng hộ quan điểm cởi trói nên ổng co dần lại, sống chết mặc bay. Kết quả là báo Văn Nghệ bị bóp chết, các ông Trần Độ, Nguyên Ngọc bị đưa lên “đoạn đầu đài”, đời sống văn nghệ lại một lần nữa tan tành, chả khác gì văn nghệ Trung Quốc sau cú lừa “Trăm hoa đua nở”, tới nay (năm 2018) vẫn không gượng dậy được mặc dù đã mấy chục năm trôi qua.

Không ít người coi ông Linh là chiến sĩ tiên phong cải cách, kiến trúc sư của đổi mới, thực ra đã nhầm. Nói gì thì nói, bằng thái độ đổi mới nửa vời, chất thủ cựu ngấm sâu vào máu, sự quay ngoắt rất tệ hại, “vừa đéo vừa run”, coi quyền lợi và sự tồn tại của đảng lên trên hết, bỏ qua cơ hội quốc tế ngàn vàng, xét cả về các mặt chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, chính ông Linh là thủ phạm hàng đầu gây ra sự trì trệ kéo dài, nửa dơi nửa chuột, bị lệ thuộc của nước ta hiện nay. Khắc phục, giải quyết được “di sản tệ hại” ấy do ông Linh và các đồng chí của ông để lại là cả sự vất vả kéo dài không biết bao giờ mới chấm dứt.

Phải những ai từng nếm mùi phê phán, trừng trị từ bộ máy tuyên giáo tuyên truyền của đảng thì mới hiểu thế nào là “văn nghệ phục tùng, phục vụ chính trị”. Đảng có thể biến một tác phẩm hết sức bình thường, thậm chí tốt thành thứ cực kỳ nguy hiểm đối với người sáng tác, gán vào đó những cái gọi là âm mưu, ý đồ, biểu tượng hai mặt, cao hơn nữa thì quy rằng nó ẩn chứa hoặc công khai thái độ thù nghịch, chống phá, chống chính quyền nhân dân. Như tôi đã từng kể ở mấy bài trước, hàng loạt bài văn thơ của Nhân văn giai phẩm, rồi thơ Quang Dũng, thơ Hữu Loan, thơ Việt Phương, truyện ngắn Hoàng Cát, Hoàng Cầm, Lưu Quang Vũ… bị đánh tơi tả, người viết không ngóc đầu dậy nổi, phải ẩn dật, trốn chui trốn lủi, tìm đủ mọi cách mới sống qua ngày đoạn tháng. Thời ấy, những người dân bình thường đã phải chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ. 
(còn tiếp)

Nguyễn Thông 
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=293475008153232&id=100024722048900&__tn__=K-R

Dự án đường sắt 58 tỷ USD và sự tồn vong của nước Việt.

Dự án đường sắt 58 tỷ USD và sự tồn vong của nước Việt.

Bút Danh Thứ Sáu, 14.09.2018.

Thủ tướng Mahathir Malaysia (nhiệm kỳ 1981-2003 ) là người có công rất lớn trong việc đưa Malaysia trở thành một quốc gia có nền công nghiệp phát triển,trong nhiệm kỳ của mình đất nước GDP Malaysia tăng trưởng một cách thần kỳ trên dưới 10% mỗi năm, chỉ với số tiền nợ công 72 tỷ Malaysia đã đầu tư được một cơ sở hạ tầng kết nối hoàn chỉnh,từ hệ thống đường cao tốc phủ kính cả nước,đến hệ thống cảng biển và tàu điện ngầm hiện đại ( trong khi nợ công của Việt Nam hiện tại đã lên đến hơn 150 tỷ usd như hạ tầng rất kém xa Malaysia năm 2003).

Tuy nhiên những thành quả của Ông và đảng UMNO có nguy cơ bị xóa sạch từ khi thủ tướng Tham Nhũng Najib Nazak lên nắm quyền,nợ công từ con số 72 tỷ usd đã tăng vọt lên đến 252 tỷ usd một cách nhanh chóng và số nợ công còn tiếp tục “tăng tốc” làm cho Mahathir và người dân cảm thấy rất lo lắng, bất an.

Năm 2018 Mahathir quyết định ra tranh cử khi đã 92 tuổi. Ông đã có một quyết định táo bạo khi liên danh với đảng đối lập của UMNO ( Mahathir là thủ lĩnh của Đảng UMNO ) để tranh cử, với sự thối nát, tham nhũng của Thủ Tướng Najib, nhiều thành viên của đảng UMNO và nhân dân đã quay qua ủng hộ Mahathir và Ông đã thắng cử một cách vang dội.

Chỉ 2 ngày sau khi thắng cử Mahathir đã ra lệnh bắt giữ Thủ tướng Tham Nhũng Najib, cảnh sát đã phát hiện ra số tiền mặt, nữ trang, hàng hiệu lên đến 300 triệu USD tại nhà Najib Tuy nhiên hậu quả của Najib cho đất nước Malaysia là quá lớn,Malaysia đã bị Najib đẩy vào “bẩy nợ” của TQ với những dự án khổng lồ vay tiền của TQ.

Ngày 21/08/2018 trong chuyến thăm TQ,Ngài Mahathir đã thẳng thừng tuyên bố: “Chúng tôi không chống lại các công ty Trung Quốc, nhưng chúng tôi đang chống lại việc vay tiền từ bên ngoài và có các dự án không cần thiết và rất tốn kém”.

“Chúng tôi không muốn xảy ra tình huống về phiên bản mới của Chủ nghĩa thực dân bởi vì các nước nghèo không thể cạnh tranh với các nước giàu về mặt thương mại tự do, cởi mở”

Mahathir đã ngay lập tức cho dừng dự án đường sắt cao tốc 20 tỷ usd vì cho rằng “dự án này không cần thiết cho đất nước và không đủ khả năng chi trả khoản nợ lớn này”.

Trong vòng vài tháng trở lại ghế thủ tướng, ngài Mahathir đã có những động thái quyết liệt khi dừng toàn bộ các dự án và các khoản vay lên đến 30 tỷ usd.

Ngoài ra Mahathir đã ngừng cấp thị thực dài hạn cho người TQ mua nhà ở thành phố Forest city trị giá 100 tỷ usd để chống lại việc “di dân” của TQ (70% nhà ở Forest city đã bị người TQ mua sạch để định cư ).

Mahathir đã cắt giảm 10% chi phí lương của chính phủ bằng cách cắt giảm những bộ ngành kém hiệu quả, sa thải 17.000 công chức “sáng cắp ô đến,chiều cắp ô về”. Ngài đã thẳng tay sa thải những quan chức cao cấp quan liêu, thiếu hiệu quả, bổ nhiệm những người có tài năng trẻ tuổi vào bộ máy chính phủ ( Mahathir đã bổ nhiệm bộ trưởng thanh niên và thể thao trẻ nhất châu á là Syed Saddiq Syed Abdul Rahman chỉ mới 25 tuổi ).

Đất nước Malaysia dần quay trở lại quỹ đạo của nó khi có một vị cha già dân tộc như thế.

Malaysia là một quốc gia có nền kinh tế mạnh ở Đông Nam Á, tuy nhiên chỉ vì một lãnh đạo tham nhũng, đục khoét là Najib, Malaysia đã trở thành “con nợ” của TQ.

Việt Nam chúng ta đã có khối nợ công khổng lồ hơn 150 tỷ USD, tuy nhiên may mắn cho chúng ta là nợ TQ chỉ hơn 4 tỷ USD, những khoản vay của ADP, World bank đa phần là lãi vay thấp dao động từ 0,6-1,2% trên năm thời gian vay kéo dài từ 25-40 năm và đáo hạn 10-15 năm, Tuy nhiên kể từ năm 2017 trở đi chúng ta đã không còn được cơ chế ưu đãi của những tổ chức này và phải vay của TQ lãi suất rất cao tối thiểu là 3% đến 10% với thời hạn ngắn là 5-15 năm thời gian đáo hạn là 5 năm.

Những khoản vay của TQ lãi suất cao thời gian vay ngắn sẽ là áp lực rất lớn để Việt Nam có thể trả nợ đúng hạn (Khả năng vỡ nợ là rất cao khi nợ công đã ở mức báo động đỏ). Thời gian gần đây truyền thông Việt đã bắt đầu “lobby” cho dự án đường sắt cao tốc bắc nam trị giá 58 tỷ usd (gấp 3 lần dự án đường sắt của Malaysia mà Mahathir vừa tuyên bố hủy ). Nếu dự án này được thông qua,Việt Nam sẽ gánh thêm 1,3 triệu tỷ nợ công ( nếu đội giá có thể lên đến 2 triệu tỷ nợ công cho dự án này )

Bộ Trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể đã ra sức thuyết phục quốc hội thông qua: “5 đến 7 nhiệm kỳ mới làm xong đường sắt cao tốc,mỗi nhiệm kỳ chỉ cần duyệt 10 tỷ usd”.

Ông cho rằng: ” bây giờ nước mình làm đường sắt tốc độ cao là quá trễ ” khi so sánh với các nước trong khu vực như Campuchia mới khánh thành đường sắt đi Thái Lan, Lào kết nối với Trung Quốc… ( Xin phép được đính chính thông tin này của Ngài Bộ Trưởng rằng, đường sắt của Campuchia mới khánh thành chỉ là phục hồi lại đường sắt cũ trước đây tương tự như đường sắt VN và dùng để vận chuyển hàng hóa là chủ yếu, dự án này Campuchia chỉ vay 84 triệu usd của ADB với lãi suất 1%/năm và 21,5 triệu usd không hoàn lại của AAID chứ không phải 58 tỷ usd lãi suất “trên trời” của VN. Ngoài ra hiện tại Campuchia đã xóa toàn bộ trạm thu phí trên toàn quốc từ năm 2016 )

Những dự án đường sắt liên quan đến vốn TQ là một bài học rất “đau đớn” của Malaysia khi phải dừng lại khi đã lỡ thi công hết gần 5 tỷ usd (thà mất 5 tỷ usd còn hơn nợ 20 tỷ usd ).

Các đại biểu quốc hội hãy hết sức tỉnh táo, kiên quyết không nhấn nút cho dự án này, đây rõ ràng là “Cái bẫy” cực lớn của TQ giương ra nhằm cài bẫy con mồi béo mập là các quan chức Việt Nam tham nhũng, với truyền thống “chung chi” của TQ việc mua chuộc chính quyền và các quan chức là việc quá dễ dàng.

Việc thông qua dự án này sẽ là đại họa cho dân tộc, nhân dân và con cháu sau này sẽ phải gánh chịu hậu quả khôn lường ( trong khi các quan chức “béo mập” đã xách vali dolla nặng trĩu sang định cư ở nước ngoài)

Việt Nam sẽ phải trả giá không chỉ bằng việc trả nợ bằng tiền, tài nguyên khoán sản, đất đai mà thậm chí còn phải trả giá bằng chủ quyền và cuộc sống nô dịch của nhiều thế hệ tương lai.

Rất mong rằng Thủ Tướng Chính Phủ, Quốc Hội hãy hết sức tỉnh táo, kiên quyết không thông qua dự án này.

Nguồn: http://butdanh.net/du-an-duong-sat-58-ty-ud-va-su-ton-vong-…

Image may contain: outdoor
Image may contain: 3 people, people smiling

LIÊN HOÀN KẾ

LIÊN HOÀN KẾ

Người dân Việt rất nhạy với những gì có yếu tố Trung Quốc. Cũng phải thôi, vì không có tinh thần như thế thì cha ông ta làm sao kháng Tàu thành công suốt ngàn năm qua? Dù có cực có cực đoan hay không thì điều đó cũng là rất cần thiết. Vì thực tế trong mỗi nước đi của Tàu luôn thủ con dao găm trong tay áo, đợi khi thời cơ cho phép nó sẽ lấy ra dùng, còn nếu thời cơ chưa cho phép thì nó vẫn cất giấu. Cho nên chúng ta chưa sập bẫy Tàu trong dự án nào đó thì đó là chưa đến thời cơ nó ra tay chứ không phải Tàu không có ý xấu. Có người hay phê phán tinh thần bài Tàu của dân Việt rằng, cái gì cũng sợ thì sao làm ăn với Tàu? Thực ra những người suy nghĩ như vậy rất non bớt, cái dân sợ là năng lực ĐCS chứ không phải dân sợ Tàu. ĐCS tuy gian ác điếm đàn với nhân dân, nhưng với Tàu Cộng, ĐCS chỉ là nai tơ. CSVN không bao giờ ngang tài ngang sức về trí tuệ với quan thầy.

Binh Pháp Tôn Tử là bài học kinh điển về cách lừa đối thủ của người Tàu. Trong đó, tác giả Tôn Vũ đã liệt kế 36 cho những người đời sau áp dụng. Trong 36 kế này, tất cả điều có chung cách làm, đó là lừa cho đối thủ hướng suy nghĩ đến điểm A nhằm để hở sườn tại điểm B, và thế là kẻ chủ mưu sẽ ra tay hạ đối thủ ở điểm B.

Trong quân sự, trước cuộc chiến sống còn, kẻ thù chết ta mới được sống thì áp dụng những mưu kế đó là đúng. Nhưng trong quan hệ hợp tác kinh tế, nó đưa đến những cú đánh gục đối tác như những trận chiến là không tốt. Thế giới văn minh đã đi đến hợp tác đôi bên cùng có lợi (win-win), họ dựa trên các thế mạnh riêng để bổ trợ cho nhau để đạt thắng lợi chung. Trong quan hệ ấy, lòng tin và tinh thần trách nhiệm phải được đề cao. Chính những thứ đó, lòng tin và trách nhiệm, mới tạo nên sự bền vững trong hợp tác. Nếu hợp tác kinh tế mà ẩn chứa mưu đồ chính trị thì thà nói không với việc hợp tác.

Nếu xem cận cảnh một cầu thủ biểu diễn kỹ thuật rê dắt bóng đẹp mắt người ta khen. Thế nhưng khi zoom toàn cảnh sân bóng, người ta phát hiện ra kỹ thuật rờm rà của cầu thủ này lại làm chậm nhịp tấn công của toàn đội. Xét trên toàn cục, đội bóng thua là bởi anh anh ta làm chuyện quá cá nhân. Cho nên muốn đánh giá đúng một điều gì đó, cần phải đặt hành động đó vào một cái nhìn toàn cảnh.

Để đoán được mưu đồ của Tàu Cộng, người dân phải sắp xếp lại những bước đi nho nhỏ để nó hiện ra một lộ trình lớn. Người Trung Quốc có một kế thiên biến vạn hoá mà họ gọi là Liên Hoàn Kế. Mỗi một kế trong Binh Pháp Tôn Tử chỉ là những kế nhỏ, thậm chí những thất bại cũng nằm trong tính toán. Kế A, kế B, kế C vv…rồi đến kế N xếp lại thành chuỗi liên hoàn. Đối thủ không tinh ý cứ ỉ i, đến lúc nhận ra mưu đồ của đối thủ thì đã quá muộn. Lộ trình nuốt Việt Nam của Trung Cộng cũng là một chuỗi vô số kế sách nhỏ như vậy. Đã nói đến người Trung Hoa là nói đến mưu kế, cho nên khi làm ăn với họ, thế giới luôn nhận ra rằng, người Tàu rất thâm.

Lộ trình trong đầu ông chủ Bắc Kinh rất nhiều, rất khó đoán. Chỉ một từ “đại cục” mà Tập Cận Bình nói ra, thì chính quyền Trung Cộng đã có liên hoàn kế cho lộ trình này. Thử xếp những nước đi gần đây của phía Trung Cộng, ta thấy nó hiện ra điều gì? Ngày 06/09/2018 chính quyền CSVN cho người Trung Quốc lái xe vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam không cần visa, trong khi dân Việt vào Trung Quốc phải xin visa. Tiếp theo ngày 12/10/2018 chính quyền CSVN lại cho phép giao dịch đồng Nhân Dân Tệ (Yuan) trên 7 tỉnh biên giới phía Bắc. Và hôm nay, ngân hàng Việt Nam lại hợp tác với ngân hàng Trung Quốc để mở chi nhánh giao dịch Nhân Dân Tệ. Như vậy, đất Việt Nam sẽ dần hình thành nên vùng đất mà người Trung Quốc tự do đi vào và xài đồng nội tệ của họ. Rất nguy hiểm cho toàn vẹn lãnh thổ. Đấy mới là ghép nối mấy nước đi gần đây mà họ đã triển khai thì chúng ta đã thấy không bình thường.

Sau những nước đi đó, chúng ta thử đoán điều gì sắp xảy ra? Như ta biết, xe hàng nông sản Trung Cộng đã đến Đà Lạt và nó cũng có mặt tại các chợ đầu mối TP. HCM. Khi đó, những thương lái Trung Quốc giao dịch với thương lái Việt Nam bằng Nhân Dân Tệ qua ngân hàng thường mại Việt Nam hoặc qua các chi nhánh ngân hàng thương mại Trung Quốc tại Việt Nam. Vậy thì sao? Lúc đồng Nhân Dân Tệ được giao dịch rộng rãi thì Hà Nội có muốn cấm Nhân Dân Tệ giao dịch ở Việt Nam thì đã quá muộn. Súng đạn thua Trung Cộng, kinh tế bị Trung Cộng nắm, bí mật đi đêm của ĐCSVN cũng bị Trung Cộng nắm, vậy dám ho với Bắc Kinh Không? Lúc đó ĐCS sẽ chẳng làm gì để bảo vệ đất nước cả.

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

15/09/2018

clip_image002

Hà Sĩ Phu, tác giả “Chia Tay Ý Thức Hệ,” tại tư gia ở Đà Lạt. (Hình: Hà Sĩ Phu gởi Đinh Quang Anh Thái)

Đinh Quang Anh Thái

Bài viết dưới đây được trích từ tác phẩm “Ký II” của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, xuất bản vào trung tuần tháng Chín, 2018, qua hệ thống Amazon. Bài viết bao gồm nhiều tài liệu, quan điểm của Hà Sĩ Phu, được nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại qua nhiều hình thức trong một thời gian dài, khởi đi từ một sự kiện năm 1995 đến biến cố biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu 2018. Hơn 20 năm trôi qua, các nhận định liên tục của Hà Sĩ Phu về tình hình chính trị trong nước, trên thế giới, và đặc biệt về mối quan hệ Việt – Trung, vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự và tiên đoán chính xác. Bài viết được đăng tải với sự đồng ý của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

VOA

Ngày 10 tháng Sáu, 2018, hàng chục ngàn đồng bào tại nhiều thành phố Việt Nam xuống đường biểu tình chống “Dự Luật Đặc Khu Kinh Tế”.

Dự luật dự trù sẽ được Quốc hội Cộng sản Hà Nội đưa ra biểu quyết ngày 15 Tháng Sáu, cho thuê mướn thời hạn 99 năm ba khu vực Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Hầu hết các nơi biểu tình đều diễn ra ôn hòa, ngoại trừ Phan Rí. Lực lượng Cảnh sát Cơ động, được mệnh danh ‘Quả đấm thép’ của Bộ Công an Việt Nam, thúc thủ trước người biểu tình chống dự luật đặc khu và đã biến thành bạo động tại Phan Thiết, Phan Rí Cửa, Bình Thuận.

Hình ảnh trên các mạng xã hội cho thấy lực lượng Cảnh sát Cơ động bỏ áo giáp, nón sắt, leo tường chạy khỏi trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận. Họ được những người biểu tình đối xử tử tế, thậm chí có người dân còn cúi xuống đưa lưng cho cảnh sát leo lên vượt tường ra ngoài.

Ngày 15 Tháng Sáu, từ Đà Lạt, Hà Sĩ Phu gửi email cho kẻ viết bài này:

“Đinh Quang Anh Thái thân mến,

“Trước hết cho mình xin lỗi vì đã hồi âm chậm trễ. Chắc Thái không thể hình dung tình trạng của mình sau khi chị Biên mất. Bà xã mình mất là sự kiện đau thương nhất đời mình. Chị Biên chịu đựng mấy chục năm để cho mình làm nghĩa vụ của một anh trí thức, chưa đền đáp được gì thì bà ấy đã ra đi! Ngày nào mình cũng khóc. Khổ thế, yêu thương càng nhiều thì sự mất mát càng đau. Mình trơ trọi một mình với bệnh tật, phải tự lo liệu đủ mọi thứ. Đồng thời đúng lúc xã hội đang xảy ra nhiều biến động, nên mình không thể tách rời khỏi tình hình chung ấy.

“Thái hỏi đất nước mình bây giờ ra sao, so với cách đây hơn 20 năm, khi mình trả lời phỏng vấn của Thái lần đầu tiên năm 1995, mình thấy, sau hơn 20 năm, tình hình xã hội đã có những biến chuyển đáng khích lệ (số người dân chủ tiên phong xuất hiện nhiều thêm, số người dân quan tâm đến vận mệnh đất nước cũng nhiều thêm, đặc biệt là trước họa Bắc thuộc; xã hội ngày càng phơi bày sự thối nát và không ổn định, thái độ mị dân ngày càng kém hiệu quả, chính sách độc tài ngày càng lộ diện… Những cuộc biểu tình tính tới con số trăm ngàn người tham dự hôm 10-6-2018 là minh chứng cho sự tiến triển đó. Nhưng đó mới là sự biến đổi về LƯỢNG, chưa đủ để thành biến đổi về CHẤT.

“Theo mình, thực trạng đất nước chúng ta hiện nay, do thể chế có 3 tính chất là phi khoa học, độc tài và dối trá, nên xã hội không thể phát triển, tham nhũng, ách tắc, tha hóa toàn diện, bị dồn nén nên tiềm ẩn nguy cơ biến động. Mà đã xảy ra biến động rồi, điển hình là những cuộc biểu tình hôm 10 Tháng Sáu. Nhưng đấy mới là đối nội, chưa quan trọng bằng đối ngoại (nạn Bắc thuộc mới). Thoát Trung mới là nhu cầu cấp thiết hàng đầu, nhưng muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng. Người giữ chế độ CSVN không chỉ là ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCSTrung Quốc!”

Hà Sĩ Phu 1995

Năm 1989, lúc khối Cộng sản Đông Âu và “cái nôi của vô sản thế giới” là Liên Xô rã ra như “cơm nguội gặp mưa”, nhà thơ Lê Bi thuộc nhóm Nhân Chủ Học Xã rao khắp bạn bè: “Ai tìm được tác giả bài viết DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, tôi tặng 1,000 đô la.”

Không ai kiếm được.

“Nhân Chủ” là từ đã được nhà cách mạng Thái Dịch Lý Đông A dùng đầu tiên vào năm 1939, lúc ông khoảng 19 tuổi, khi ông sáng lập và là Bí thư trưởng Duy Dân Cách Mạng Đảng. Nhân Chủ Học Xã là cơ quan lưu trữ tài liệu, nghiên cứu và huấn luyện của Duy Dân.

Sau năm 1954, từ Bắc di cư vào Nam, nhà cách mạng Thái Lăng Nghiêm tiếp tục công việc của Nhân Chủ Học Xã.

Năm 1985, các anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Văn Cường, Lưu Ngọc Thọ, Hoàng Chính Nghĩa (Lê Bi), Nguyễn Võ Thu Hương và kẻ viết bài này cùng nhau phục hoạt Nhân Chủ Học Xã tại Mỹ. Trong nhóm, ba anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng và Nguyễn Văn Cường là cán bộ Duy Dân; những anh em còn lại là những kẻ lưu vong cùng chí hướng tìm lại với nhau.

Trong nhóm, Lê Bi là người “miệng nói, tay làm”. Anh đánh máy, bỏ dấu tiếng Việt bằng tay và giao cho tôi in những cuốn “Đạo Trường Ngâm”, tập thơ của Lý Đông A; “Tự Phán” của Phan Bội Châu; “Thư Quốc Nội” tập bài nhận định về tình hình Việt Nam của tác giả ẩn danh được chuyển bí mật từ trong nước ra cho chúng tôi (sau này mới biết người chấp bút là anh Đoàn Viết Hoạt); và “Thơ Trích” của Lê Bi.

Cũng vào thời điểm anh em chúng tôi nỗ lực tìm xem ai là tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, báo Người Dân ra đời, với cùng nhân sự của Nhân Chủ Học Xã và thêm các anh Nhật Tiến, Hoàng Mạnh Hùng, Lê Thiện Tùng, Mai Văn Hiền, Phạm Gia Hòa, Nguyễn Văn Trung, Tống Nhiệm, Trần Thế Kiệt, Lã Hoàng Trung.

Nỗ lực, nhưng chúng tôi vẫn không tìm được tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ.

Mãi sau này mới biết tác giả bài viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu.

Và ai cũng tưởng “Hà Sĩ Phu” là… sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng không phải.

Lần đầu tiên tiếp xúc qua điện thoại và trả lời cuộc phỏng vấn ngày 04 tháng 12, 1995, phát thanh trên đài VNCR 106.3 FM tại California, Hoa Kỳ, Hà Sĩ Phu nói với tôi: “Bút hiệu của tôi đã từng bị đưa ra thảo luận. Ông Đào Duy Tùng khi đi nói chuyện mọi nơi đã cáo buộc rằng, ‘có người xưng là sĩ phu Bắc Hà đòi dạy chúng ta về Mác-Lê nin!’ Rồi khi tôi bị Bộ Nội vụ gọi để thẩm vấn, thì Thiếu tướng Quang Phòng có hỏi tôi ‘lấy cái tên như thế anh định có ý gì?’ Ý ông muốn nói tôi dùng cái tên đó để làm khởi động, kích động cái tinh thần sĩ phu kiên cường trong nước chăng? Tôi trả lời là lối hiểu đó là do đòi hỏi của thực tế. Người ta hiểu thế là vì trong thực tế nó đặt ra vấn đề rõ như vậy. Và nếu tên tôi có đáp ứng nhu cầu đó thì tôi không phản đối gì cả. Thực sự ra khi tôi đặt tên đó thì họ Hà, chữ Hà đó là bộ Nhân đứng chứ không phải là bộ Thủy. “Nhân đứng” và chữ “Khả” có ý nghĩa là ‘thế nào?’ ‘là ai?’ ‘làm sao?’ – thì tên Hà Sĩ Phu tôi đặt nghĩa là ‘thế nào là sĩ phu?’ ‘ai đáng là sĩ phu?’ ‘hay làm gì có sĩ phu?’ – tức là sau đó phải đánh một dấu hỏi. Tôi không có ý khẳng định mình xứng đáng là một người sĩ phu của Bắc Hà đâu.”

Ông giải thích thêm, khi đặt bút danh cho mình là Hà Sĩ Phu, ông muốn tỏ những thao thức, trăn trở về tình trạng tụt hậu mọi mặt của Việt Nam và muốn tự nhắc mình về bổn phận và ý thức của người sĩ phu đối với con người và đất nước Việt Nam.

***

Hà Sĩ Phu, tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940 ở Bắc Ninh. Tốt nghiệp Phó Tiến sĩ Sinh học tại Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc. Về nước, Hà Sĩ Phu công tác tại Viện Khoa học Việt Nam. Từ năm 1988, Hà Sĩ Phu đã công khai chống lại chủ nghĩa và sự cai trị độc tài của Cộng sản Việt Nam. Những bài Hà Sĩ Phu viết như “Thằng Bờm,” “Biện chứng và Ngụy biện trong công cuộc đổi mới”; đặc biệt là bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” và “Chia tay ý thức hệ” tạo ra nhiều tiếng vang lớn, trong cũng như ngoài nước.

Trong bài “Chia tay ý thức hệ” ông viết: “Không phải như Cộng sản thường nói rằng chủ nghĩa luôn luôn đúng, chỉ có con người thi hành sai mà ý thức hệ Cộng sản sai từ căn bản. Phải từ bỏ ý thức hệ đó thì mới xây dựng được đất nước.”

***

Một số đoạn trong bài phỏng vấn năm 1995:

Đinh Quang Anh Thái: Trong một bài của ông, ông viết rằng, dẫu còn điều kiện này hay điều kiện khác, vai trò lịch sử của trào lưu Cộng sản vẫn được mãi mãi ghi nhận. Và một đoạn khác ông nói, cùng với người hiệp sĩ ấy (ý ông ám chỉ người Sộng Sản) nhân dân ta đã có những ngày sống đẹp thanh khiết như thần tiên. Chúng tôi xin hỏi, ông ghi nhận những chuyện đó ở thời điểm nào? Ông cho ví dụ được không? Bà Dương Thu Hương thì đã có một giai đoạn gọi đó là một thứ thiên đường, về sau bà chua chát nhìn nhận đó là một “thiên đường mù.” Còn về phần ông, khi viết như vậy, ông muốn dùng uyển ngữ để gửi tín hiệu cho người đọc hay thực tâm ông nghĩ như vậy?

Hà Sĩ Phu: Những quá trình chuyển hóa hết sức là phức tạp. Đầu tiên là có sự xâm nhập và ký sinh của một thứ lý thuyết giai cấp cực đoan ảo tưởng phi khoa học, tức là cái dở. Nhưng nó ký sinh vào trong phong trào dân tộc. Và nó biến thành cái của dân tộc, mang thông điệp giải phóng của dân tộc. Đây là sự chuyển hóa đầu tiên. Lúc kháng chiến chống Pháp xong, lúc ấy cuộc sống còn nghèo, và cả đói nữa, cuộc thanh trừng giai cấp đã ló ra ở chỗ này, chỗ khác. Nhưng nhìn chung thì phải nhìn nhận rằng trong giai đoạn ngắn ngủi ấy, xã hội còn thanh bình, tình người còn trung hậu và xét trong số đông, tâm lý hồ hởi tin tưởng là có thật.

Về sau, do tính chất ảo tưởng cực đoan và phi khoa học của các học thuyết đó, cho nên nó thoái hóa, làm mất yếu tố tốt ban đầu, và biến những cái của dân tộc thành cái phi dân tộc và cản trở dân tộc. Thế rồi lại đến giai đoạn khác như hiện nay. Nhưng phải nhận rằng ngay trong tâm trạng bị vùi mình trong cái xấu như thế, thì một số các hạt nhân tinh hoa của dân tộc vẫn tồn tại chứ không mất đi. Và trong điều kiện như ở nước ta là một đảng đã nắm độc quyền lãnh đạo thì những hạt nhân bị vùi trong cái khối không tốt, chính họ chứ không phải ai khác, có khả năng bất ngờ tách ra, châm ngòi cho những cuộc đổi đời dân tộc một lần nữa để thanh toán cái xấu một cách hòa bình.

Tôi nghĩ nhận thức thực tiễn cũng như về phương pháp, tức là có cái phần gọi là sách lược, đều cần làm rõ điều này và thực tế ở thế giới, cũng như thực tế ở trong nước ta cũng dần dần xác định điều này. Thực tế, hiện nay những người bảo thủ ở nước ta sợ nhất khả năng chuyển hóa trong nội bộ của những nhân tố tốt đó. Cho nên họ cũng đề phòng kỹ lưỡng nhất cái khả năng này. Chỉ riêng điều ấy thôi, cũng cho thấy rằng nhận thức này, tức là nhận thức về yếu tố tích cực của phong trào Cộng Sản trong quá khứ không hề là một tư tưởng cải lương. Trái lại chính nó là một nhận thức mang xung lực mạnh mẽ nhất. Còn lối suy nghĩ có tính cách phân tuyến, đơn giản, một chiều, thì thoạt nghe có thể thấy là mạnh mẽ, có thể làm thỏa mãn một nhận thức chủ quan nào đấy, nhưng nó không phản ánh đúng cái bi kịch phức tạp của dân tộc, và do đó nó có ít khả năng tác động vào hiện thực.

Một nhà văn Cộng sản đã nói là “thế hệ chúng tôi ở tuổi 20 mà không theo Cộng sản thì không có tim, nhưng mà ở tuổi 50 mà còn theo Cộng sản thì lại không có óc.” Đấy, nhận thức nó lòng vòng như vậy, đâu có thể lấy hiện tại để làm chuẩn, để quy kết quá khứ hoặc là lấy quá khứ làm chuẩn để bênh vực hiện tại một cách suy diễn máy móc được.

Đinh Quang Anh Thái: Thưa ông, sau năm 1975, trong một lần nói chuyện với ông Vũ Sinh Hiên, một trí thức Công giáo và cũng là cây bút của Tạp chí Đứng Dậy, ông Hiên bảo tôi rằng, khi chọn thái độ ở lại để cộng tác với chế độ Cộng sản thì việc chọn đó là một “hành trình bắt buộc của trí thức.” Ông Hiên nói như thế sau khi đã tỉnh ngộ rồi. Câu tôi muốn được hỏi ông, là liệu người trí thức có phải chọn cái “hành trình bắt buộc” như ông Hiên nói hay không? Bởi vì theo chỗ tôi biết, có nhiều người ở lứa tuổi 20 đã sáng suốt để thấy rằng phong trào Cộng sản thực chất của nó không có gì tốt đẹp cả và nó chỉ đưa đất nước hoặc tập thể con người bị sự chọn lựa tới con đường đen tối thôi; như vậy không nhất thiết sự chọn lựa của lứa tuổi 20 theo con đường Cộng sản là phổ quát cho tất cả mọi người. Ông nghĩ sao?

Hà Sĩ Phu: Ý kiến của ông Thái có lý. Vì theo tôi nghĩ, sự chọn lựa đó là một sự chọn lựa của con tim, trong điều kiện là khối óc phát triển chưa tới. Cái đó, có thể nói là tình trạng DÂN TRÍ còn thấp. Và rất nhiều người trí thức mà ở trong một xã hội thông tin không đầy đủ, thì cái trí tuệ phát triển chưa tới. Tôi nghĩ là cùng trong giai đoạn đó rất nhiều nước văn minh va chạm với lý thuyết Cộng sản, nhưng họ không đi theo, họ có tin nhưng vì trí tuệ của họ đã phát triển cao hơn để họ không phải bước qua giai đoạn đó nữa.

Cho nên, thực ra, nếu nói đây là sự chọn lựa tất yếu, thì đó là sự chọn lựa tất yếu của những người trí thức nhưng mà trí tuệ phát triển chưa tới. Nếu đủ trí tuệ thì đã có thể tránh được [sự chọn lựa đó] rồi.

Đinh Quang Anh Thái: Trở lại một câu mà lúc nãy chúng tôi vừa mới trích dẫn trong bài viết của ông, là “cùng với người hiệp sĩ ấy nhân dân ta có những ngày sống đẹp như thần tiên,” thì khi viết như vậy, ông có nghĩ rằng ông đã xúc phạm đến vong linh hàng triệu nạn nhân đã lót đường cho chủ nghĩa mà bây giờ chính ông, ông cũng đang chống lại không?

Hà Sĩ Phu: Lúc nãy tôi có nói là dân tộc mình trải qua một quá trình vận động hết sức phức tạp của lịch sử. Cho nên cái lối tư duy phân tuyến đơn giản chia thành hai gói: một gói trắng, một gói đen, một gói phải, một gói trái, một gói chính, một gói tà; rồi trắng là trắng hết ngay từ đầu, đen là đen hết ngay từ đầu; thì thực sự ra nó không phản ánh đúng thực tiễn. Không phải vì tôi và anh đối địch, mà về sau là cứ khen bất cứ cái gì của tôi là xúc phạm tới anh; bởi vì trong tôi có cái đúng, cái sai. Và trong tôi, đâu phải là cá nhân tôi, còn cả tập đoàn của tôi có người thế này, thế kia. Bởi vậy khi mà khẳng định có những ngày sống đẹp, xin hiểu như thế này, cái đẹp đó là cái đẹp không trần tục, không phải là cái đẹp thực tế. Cái đẹp thần tiên làm sao tồn tại trên trần gian được? Cái đẹp đó được nẩy sinh trong điều kiện đơn giản, còn nghèo khó, còn ảo tưởng, chứ khi tiếp xúc với cuộc sống thực tiễn thì nó bị đẩy lui. Vì đó là cái đẹp mong manh của giai đoạn chưa phát triển. Thứ đến là có cái tốt lẫn cái ngộ nhận của dân tộc. Thế nhưng khi khẳng định mặt mà ta còn có thể coi là tích cực đó thì không hề có ý là phủ định những mầm mống sai lầm đã có ngay từ đầu.

Như tôi đã nói lúc đầu, trong lúc đa số có một sự hồ hởi như thế, thì một cuộc thanh trừng giai cấp có thể đã nổ ra ở một chỗ nào đó nhưng nó chưa chi phối tình hình tâm lý chung của cả nước. Vậy giữa cái sai và cái đúng, giữa mặt tích cực và tội lỗi, nó xen kẽ cùng một lúc, cho nên khẳng định vấn đề ở chỗ này, không có nghĩa là phủ định một vấn đề ở chỗ khác. Tôi nghĩ rằng, trong tình hình phức tạp đó, khi khẳng định mặt tốt trong đó có yếu tố dân tộc tham gia, tôi không hề có ý định phủ định các tội lỗi mà một bộ phận hay chính các thế lực ấy gây ra ở chỗ khác. Tôi nghĩ là hai cái đó không có gì mâu thuẫn nhau.

***

Hà Sĩ Phu là một trí thức sinh ra, lớn lên, chứng nghiệm Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản bằng chính bản thân mình. Không thù hận, không báng bổ, ông từ tốn, lột trần bản chất của cái chủ nghĩa đang bị nhân loại vất vào thùng rác của lịch sử.

Trong nước, Hà Sĩ Phu trăn trở như thế. Ở hải ngoại, nhà thơ Lê Bi, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, cũng trăn trở khi đặt bút viết bài thơ BỨC TƯỜNG BÁ LINH CÓ THẬT vào năm 1999, trong bối cảnh người dân cả khối Đông Âu và Liên Xô đứng lên lật đổ các chế độ Cộng sản cai trị những đất nước này.

Bức tường Bá Linh có thật

Rất thật

Nhưng khi vỡ, nó vỡ như mơ

Rất mơ

28 năm lõa lồ trên mặt đất

Mất hôm qua hay tự bao giờ.

Đừng gởi về Việt Nam bất cứ viên gạch nào

của bức tường Bá Linh

Nó có thể làm tủi cả dòng sông Bến Hải

Đừng để lịch sử phải khóc

dù thời gian không thể quay đầu lại

Và mỗi người Việt Nam sẽ biết thêm

cái giá thống nhất nước mình.

Có những người đập phá bức tường

bằng tất cả niềm vui

Mà không kinh ngạc

Cũng chẳng ai thấy điều gì mất mát

Để chúng ta hiểu đó chỉ là chuyện bình thường

Khi con người bắt đầu đứng lên

đòi quyền sống thật

Ngay cả những giấc mơ cũng có thể bước ra đường

Mọc lên trăm ngàn ngọn nến

Những ngọn nến lung linh

Cả nước Đức phải thức

bước tới tương lai

Và trời sao cúi thấp

Chen lấn với người

Tôi cũng thức

Những cơn gió mùa thu 1989 làm rộn ràng nước Đức

Và tôi vội vàng giấu đi nước mắt

Những giọt nước mắt nuốt ngược ruột gan

Tôi ngoài Việt Nam ngoài nước Đức

Những cơn gió rộn ràng thổi ngoài Việt Nam

Gió ngoài Việt Nam

Rất ngoài Việt Nam.

Bức tường Bá Linh có thật

Quá thật

Bao nhiêu năm tôi mới có lần nhìn gần nước Đức

Nhìn từ cái búa cái đục

Trong tay những kẻ vô danh

Cũng cao hơn biết bao tầm nhìn trí tuệ

Khi thế giới chuyển mình nhìn nó đổ

Gạch đá cũng vui

Khi nhân loại tung lên những nụ cười

Một khoảng trời sao không thể ngủ

Khi những con người khám phá ra

quyền sống bình thường

Thở bình thường

Nói bình thường

Đi lại bình thường

Nước Đức không thể ngủ

Có những góc cạnh không thể ngủ

Những bản tin trên màn ảnh nhỏ

như những ngọn đèn không thể ngủ

Tôi không thể ngủ

Khi những ngọn đèn vẫn mọc ngoài Việt Nam

Chiếu sâu vào quá khứ

Tra tấn Việt Nam.

28 năm quá dài cho những kẻ đợi chờ

28 năm và 42 cây số quá ngắn

để che giấu cho một thời đại

Hãy giữ những phần còn lại

Giữ mãi

Như những bức tượng thời Trung cổ

Làm di tích

cho cả loài người.

Đừng, đừng nói với Việt Nam bất cứ một tin tức gì

về bức tường Bá Linh

Nó có thể làm Trường Sơn vùng lên tức tưởi

Những bà mẹ không thấy xác đàn con

Những oan hồn

không chiều dài chiều cao chứa nổi.

Hãy cứ để nó sần sùi

Ôi những tảng gạch vô tri vô giác

Đã thành não trạng của những niềm vui

Vừa tự vỡ.

28 năm cuộn tròn

28 năm không ngẩng mặt

Không dài hơn sông Bến Hải

Không cao hơn Trường Sơn

Hạnh phúc cho nước Đức

Đã dạy bao người bước qua ô nhục

Mà không phải hận thù

bạo lực

Và dạy tôi phải nuốt những giọt nước mắt

Giữa những niềm vui.

Nước Đức ở quá xa

Mưa tháng 11 quá xa

Tôi không ở gần được ôm được khóc

Hạnh phúc cho nước Đức

Và trận chiến không tốn máu xương

Và tất cả được sống bình thường

Hạnh phúc cho những bông hoa

Có thể chuyền tay cho bất cứ ai xa lạ

Những bông hoa may mắn hơn chán vạn hoa

Trong chốc lát bỗng nhiên thành cột mốc

Đón sự thật ùa ra.

Bức tường Bá Linh có thật

Nó có thật tự bao giờ?

***

Ngày mùng 5 tháng 12, 1995, đúng hai ngày sau khi trả lời phỏng vấn của đài VNCR, ông Hà Sĩ Phu bị bắt tại Hà Nội.

Phóng viên thường trú Robert Tampler tại Hà Nội của hãng thông AFP gọi điện thoại hỏi tôi, có phải vì bài phỏng vấn mà Hà Sĩ Phu bị bắt không? Tôi nói, tôi không nghĩ đó là nguyên nhân khiến Hà Sĩ Phu bị bắt.

Sáu ngày sau, sáng ngày 12 tháng 12, một bản tin khá dài, đánh đi từ Hà Nội, của hãng thông tấn quốc tế AFP, tường thuật vụ Hà Sĩ Phu bị Cộng sản Hà Nội bắt.

Mở đầu, bản tin AFP viết: “Hà Sĩ Phu bị công an ở Hà Nội bắt giữ, trên đường trở về thành phố Hồ Chí Minh vào ngày mùng 5 tháng 12, một ngày sau khi một đài phát thanh ở hải ngoại phát đi cuộc phỏng vấn trong đó ông kêu gọi chính phủ Mỹ khoan hãy cho Hà Nội quy chế tối huệ quốc.”

Phóng viên Robert Tampler của AFP từ Hà Nội gọi điện thoại tới đài VNCR để kiểm chứng về bài phỏng vấn và hỏi về lý do của vụ bắt bớ này. Tôi trả lời, và AFP tường thuật trong bản tin là VNCR không nghĩ rằng việc phát thanh bài phỏng vấn đã đưa tới việc Hà Nội bắt giữ ông Hà Sĩ Phu. Tuy nhiên, bản tin AFP không tường thuật đầy đủ luận cứ của VNCR: VNCR đã phỏng vấn nhiểu người ở trong nước, chứ không chỉ có Hà Sĩ Phu. Trước ông, VNCR đã phỏng vấn ông Nguyễn Hộ, một đảng viên Cộng sản từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng và nhà nước Việt Nam Cộng sản. Sau ông, VNCR phỏng vấn nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, tác giả cuốn truyện “Nửa Đời Nhìn Lại”, trong đó ông tỏ ra hối hận đã tin theo Cộng sản.

Về phần phân tích, bản tin AFP đưa ra sự kiện gần đây Hà Nội tiến hành nhiểu cuộc xử án và bắt bớ những thành phần chống đối trong nước, cho thấy Cộng sản Hà Nội thực sự e ngại sự chống đối này có thể trở thành phong trào, từ đó gây nguy hại cho chế độ.

Sau khi bản tin của AFP đánh đi khắp nơi trên thế giới, hai cơ quan tranh đấu cho nhân quyền là Amnesty International, trụ sở tại London, Anh Quốc, và Human Rights Watch/Asia, trụ sở tại Washington DC, đã liên lạc với VNCR để hỏi thêm chi tiết nội vụ và xin kẻ viết bài này bản ký chú cuộc phỏng vấn Hà Sĩ Phu.

Human Rights Watch/Asia sau đó cho biết, Hà Sĩ Phu bị bắt vào hồi 2 giờ chiều ngày mùng 5 tháng 12 nhân khi ông thăm viếng thân nhân ở Hà Nội. Ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 12, công an lục soát nhà ông ở Đà Lạt, tịch thu hơn ba ngàn trang bản thảo và tài liệu, trong đó có một bài viết của ông Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam bàn về chiến lược chuẩn bị cho Đại hội 8 của đảng này.

Nhà báo Huy Đức, trong cuốn Bên thắng cuộc, viết về vụ bắt Hà Sĩ Phu: “Ngày 5-12-1995, ông Hà Sĩ Phu, tác giả của nhiều bài chính luận sắc sảo được truyền đọc ở thời điểm ấy, đang đi xe đạp trên đường phố Hà Nội thì bị hai người đi xe máy chèn ngã. Ông Hà Sĩ Phu kêu to: ‘Ăn cướp! Ăn cướp!’ Lập tức công an xuất hiện. Thay vì bắt ‘cướp’, công an đã đưa Hà Sĩ Phu về đồn, khám túi xách, phát hiện bản sao chép thư gửi Bộ Chính trị ngày 9-8-1995 của ông Võ Văn Kiệt. Hà Sĩ Phu khai tài liệu này ông lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang; ông Giang khai lấy từ ông Lê Hồng Hà, một cán bộ lão thành, từng là Chánh văn phòng Bộ Công an và trước đó, từng là giám đốc trường Đào tạo sĩ quan công an 500. Ba người có liên quan đến tài liệu này đã bị bắt ngày 6-12-1995.”

Ngày 22 tháng Tám, 1996, Tòa án Hà Nội xử ông Lê Hồng Hà hai năm tù, Hà Sĩ Phu một năm tù và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo.

***

Hà Sĩ Phu được thả ra khỏi tù ngày 5 tháng 12, 1996, sau một năm bị giam giữ vì tội bị chế độ quy chụp là “có hành vi phát tán tài liệu bí mật của nhà nước.”

Thời gian ông Hà Sĩ Phu nằm tù, tôi thường xuyên điện thoại về Việt Nam hỏi thăm tình trạng sức khỏe của ông qua “Nhóm Đà Lạt” gồm nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà văn Hoàng Tiến, nhà thơ Hoàng Cương, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội.

Khoảng hai tuần trước khi ông được thả, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến bảo tôi, có cách nào gợi ý với những anh em dân chủ trong nước tổ chức đến đón Hà Sĩ Phu ngay cổng trại giam không. Ông Tiến bảo, hành động này đã từng được những người đấu tranh tại các nước Cộng sản Đông Âu áp dụng. “Có tác dụng mạnh đối với quần chúng,” ông Tiến bảo tôi thế.

Như Phong Lê Văn Tiến là “nhà báo của các nhà báo,” theo cách gọi của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng. Ông Tiến, tôi gọi bằng “cậu Tiến,” và cậu xem tôi như con của cậu. Lúc Hà Sĩ Phu bị bắt, hai cậu cháu chúng tôi ở cùng một mái nhà trong căn mobil home tại Quận Cam, California. Vì vậy, những lần tôi tiếp xúc bằng điện thoại với các nhân vật đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, cậu luôn góp ý với tôi về nội dung các cuộc phỏng vấn. Vì cậu là chuyên gia hàng đầu trong lãnh vực “Cộng sản học” thời trước 1975 ở Sài Gòn, nên cậu biết khá tường tận người và việc của xã hội miền Bắc.

Phỏng vấn nhà văn Hoàng Tiến, ông bảo, Hà Sĩ Phu là người theo đuổi “nghĩa lớn” của dân tộc, mà đã làm vì “nghĩa lớn” thì phải chấp nhận hy sinh thôi. Ông nói thêm, chính bản thân cũng có một thời mê đắm chủ nghĩa Cộng sản, nhưng sau thấy “cái ác” của nó, ông dứt khoát từ bỏ, và bây giờ ông trở thành người tu đạo Phật tại gia. Và ông tin có nhân có quả, nên “Hà Sĩ Phu dấn thân vì nghĩa lớn, sẽ không có vấn đề gì đâu.”

Ý do cậu Tiến gợi, là “tổ chức đón Hà Sĩ Phu ở cổng trại giam,” tôi có trao đổi với ông Hoàng Tiến và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.

Ngày Hà Sĩ Phu ra tù, ngay trước cổng trại giam Thanh Xuân, đón Hà Sĩ Phu gồm: bà Thanh Biên (vợ Hà Sĩ Phu), ông đồ Nghệ An Tú Sót với một câu đối chữ Nho, người bạn Hữu Tiến từ Hải Phòng, và mấy người ruột thịt trong gia đình. “Phái đoàn” đón thẳng Hà Sĩ Phu về quê Thuận Thành-Bắc Ninh, nghỉ một ngày rồi đi máy bay vào Sài Gòn, rồi hôm sau đi máy bay lên Đà Lạt, tránh không dừng lại ở Hà Nội vì để giữ an toàn.

***

Ngày 11 tháng Bảy, 1995, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam.

Trước tin hai kẻ cựu thù Washington và Hà Nội bắt tay nhau chấm dứt những năm tháng dài đối đầu thù nghịch, nhiều người cho rằng, thế là lại thêm một lần nữa, Mỹ hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài toàn trị để tập đoàn lãnh đạo củng cố quyền lực của nó; nhưng cũng nhiều người cho rằng đây là cơ hội tốt để có thể phát động rộng lớn tinh thần đấu tranh đòi dân chủ.

Hà Sĩ Phu nhận định ra sao về vấn đề này? Ông nói, trong cuộc phỏng vấn do tác giả thực hiện ngay sau khi có quan hệ bang giao Washington – Hà Nội:

a) Nếu đối với một đối tượng giáo điều cứng ngắc, phi lý, phi quy luật như trước đây thì cách hóa giải rất là dễ. Bởi vì nó phi thực tế, phi quy luật. Cho nên bây giờ cứ bình thường hóa mọi điều đưa nó trở về với xã hội thông thường, với quy luật là nó tự bộc lộ cái tính phi lý và tự tan rã.

b) Nhưng hiện nay đối tượng ấy đã thức tỉnh, biết triệt để lợi dụng các quy luật, lợi dụng thế thượng phong của người đã nắm quyền lực và tận dụng thực trạng tâm trí để thực hiện ý định của mình, thì việc hóa giải nó không dễ dàng chút nào. Vì thế cho nên việc bình thường hóa với thế giới, đặc biệt là bình thường hóa toàn diện với Hoa Kỳ không hẳn là đơn giản.

Tôi nghĩ việc bình thường hóa là một cái sàn đấu mà mọi đấu thủ cuối cùng đều phải trở về đấy, đều phải chọn cái đó, không thể nào khác được. Các đấu thủ đều phải trở về đó để đấu, nhưng cái sàn đấu ấy không phải thuận lợi riêng cho ai. Tại sàn đấu ấy, mọi cuộc đấu ấy sẽ bắt đầu, còn việc thắng thua vẫn còn ở phía trước. Bởi tự cái sàn đấu ấy nó không quật ngã ai cả, mà cũng không phải là nó dành sẵn huy chương vàng cho ai. Cho nên, việc bình thường hóa tự nó chưa mang một ý nghĩa [thuận lợi] cho bên này, hay bên kia. Vấn đề là tạo nên thực lực, vận động cho phong trào dân chủ mà thôi.

Thứ nữa, riêng về phía người Mỹ, chúng tôi không có ảo tưởng về chuyện này nhiều lắm. Nếu ở trong nước có một phong trào đấu tranh giữa dân chủ và phi dân chủ mạnh mẽ, thì tôi nghĩ rằng cái thái độ của Mỹ rất rõ, tức là ủng hộ phía dân chủ. Nhưng nếu tình hình của ta quá bê bết chẳng hạn, thì tôi nghĩ các nhà tư bản nói chung và Mỹ nói riêng cũng không dại gì chuốc lấy việc đương đầu với nhà nước Cộng sản làm gì.

Có người lại còn bình như thế này: Một anh tư bản nước ngoài muốn vào khai thác tận dụng các điều kiện sinh lợi ở các nước khác thì nó cần một chính phủ để ủng hộ nó. Thế là có khi làm việc với một chính phủ Cộng sản độc tài lại hay hơn bởi vì, chính phủ Cộng sản đã chi phối toàn bộ quần chúng rồi, nắm được chính phủ đó tức là dân chúng chẳng còn gì có thể gây trở ngại cho họ nữa. Bởi vậy họ muốn đàn áp bóc lột, nếu dân có biểu tình [phản đối], thì lập tức chính phủ ấy đã đứng ra đàn áp rồi. Còn nếu mà phong trào trong nước chưa có gì, thì chưa hẳn Mỹ và Cộng sản đối địch với nhau đâu. Có khi họ lại hợp tác với nhau rất là ngon lành cũng nên. Vì thế, việc bình thường hóa tự nó chưa đem lại sức mạnh gì quyết định nhưng mà phải công nhận nó là cái sàn đấu rất là thuận lợi cho dân chủ.

***

Trong nhiều năm, một số các tổ chức người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại liên tục tranh đấu để chế độ Hà Nội phải bỏ điều 4 Hiến Pháp (quy định vai trò cai trị độc tôn của Đảng) và tiến tới một cuộc bầu cử có quốc tế giám sát để người dân dùng lá phiếu quyết định thể chế chính trị của Việt Nam.

Tôi nêu vấn đề này với Hà Sĩ Phu.

“Về vấn đề này tôi thấy không nên nhận định tình hình theo cảm tính, theo nguyện vọng [của mình], mà phải theo đúng cái thực tế đang có. Nếu ở tình trạng như hiện nay, dẫu có một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, ngay đến cả có quốc tế giám sát chăng nữa, thì đảng Cộng sản vẫn có nhiều khả năng thắng phiếu, vì bốn lý do như thế này:

1) Người dân chỉ đòi hỏi những thay đổi nếu thấy không thể nào sống như cũ được nữa. Ví dụ: một đứa trẻ khi nó thấy cái giường của nó chật hẹp quá, nó mới nhảy xuống đất nằm. Còn lúc đứa trẻ chỉ mới biết bò thôi, thì được nhảy từ cái nôi sang cái giường, không gian của cái giường đối với nó như thế đã là đủ rồi. Bởi vậy, trước đây có sự o ép rất là triệt để, bây giờ nới ra một tí tẹo, đối với dân trí thông thường người ta thấy như thế là tạm đủ rồi. Như vậy, nhu cầu gọi là phá cái giới hạn đó, để đến một không gian dân chủ tốt hơn, thì hiện nay mới có ở thành thị và một số trí thức tiên tiến thôi.

2) Đối với số đông dân cư ở các vùng nông thôn, ở miền núi, thì người dân ở đó chưa biết cái gì tồn tại ở trên đời, ngoài đảng Cộng sản Việt Nam. Cho nên, ở các thành phố lớn, tình hình mới có thể đảo ngược. Còn khi tự do bầu cử thì ở nông thôn họ chưa chắc biết cái mới là cái gì đâu.

3) Sống quá lâu trong điều kiện dân chủ giả, dân ta đã có thói quen coi thường lá phiếu, không biết phải thực hiện quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình. Cho nên họ coi đây là một thủ tục rất là hình thức, đi làm cho qua chuyện. Bao nhiêu năm nay bầu cho ai mà chả thế? Cho nên bây giờ nếu không được chuẩn bị, cứ thế mà tổ chức bầu cử, thì chả có cái trách nhiệm cân nhắc kỹ trong chuyện lựa chọn lá phiếu.

4) Tôi thấy cái thực tế do đảng Cộng sản [tạo nên] trong những năm vừa rồi đã khiến cho không có một tổ chức nào, không một nhân tài xã hội nào được phép nẩy nở, bên ngoài vòng tay của đảng. Hiện nay cũng không có đối tượng nào được phơi bày ra trong nước để người ta kén chọn. Như vậy, nếu cứ giữ nguyên trạng như thế này để mà bầu cử thì dù có dân chủ cũng chưa có triển vọng gì là tốt đẹp.”

***

Tháng Bảy, 1995, Hà Sĩ Phu nhận định như thế về mối quan hệ Washington và Hà Nội.

Tháng Sáu 2018, trong email gửi cho tôi, Hà Sĩ Phu viết: “Nhận định của mình năm 1995 đến nay vẫn đúng: Nếu tiến hành trưng cầu dân ý hoặc tổ chức bầu cử tự do ngay bây giờ thì ĐCS vẫn có thể dùng những thủ đoạn để giành phần thắng vì số dân thờ ơ với vận mệnh đất nước vẫn chiếm số đông hơn, và nhiều người (kể cả cán bộ, đảng viên có chút tỉnh ngộ), vẫn bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu lâu đời của CS, nhất là từ thần tượng ảo HCM! Nhưng điều này mới là quan trọng: nếu để cho xã hội có một quá trình chuẩn bị sinh hoạt dân chủ thì tình hình sẽ khác hẳn. Thí dụ: nếu để một năm [cho mọi người dân] có sinh hoạt dân chủ thật thì lúc ấy tình hình bầu cử hay trưng cầu dân ý có thể đảo ngược.

Năm 2009, trong cuộc phỏng vấn đăng trên báo Người Việt xuất bản tại California, kẻ viết bài này nêu câu hỏi với ông Hà Sĩ Phu: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện sợ gì nhất, ông nói:

“Những nhà lãnh đạo Việt Nam lo sợ trước sự đồng thuận và liên kết của các tầng lớp trí thức và nhân dân, lo sợ trước sự xuất hiện của các tổ chức, thậm chí các đảng phái… nhưng gom lại vẫn chỉ nằm trong hai nỗi lo sợ lớn mà thôi: lo sợ làn sóng dân chủ và lo sợ làn sóng chống Trung Quốc.

“Hai mối lo ấy bắt nguồn từ hai vấn nạn căn bản nhất của xã hội Việt Nam hiện nay là không dân chủ và không độc lập. Muốn có dân chủ phải chống lề thói toàn trị. Muốn có độc lập phải chống nạn Bắc thuộc đang hiện hình.”

Đa số đồng bào mình có nhìn thấy “hai nỗi lo sợ” ấy của đảng Cộng sản không?

“Hai mặt trận đấu tranh hiện nay của nhân dân có hai kẻ thù đều là giặc: giặc NỘI XÂM và giặc NGOẠI XÂM. Hai giặc này đang liên kết với nhau và sử dụng nhân dân hai nước hòng củng cố quyền lực và làm giàu.

“Như tôi đã nói nhiều lần, Chủ nghĩa Cộng sản ngự trị được ở Việt Nam là do ký sinh vào Chủ nghĩa Yêu nước, hút sinh lực từ lòng yêu nước của nhân dân. Trước đây nhiều người đã nghĩ rằng đất nước sẽ dần dần thoát khỏi chủ nghĩa ảo tưởng phi khoa học ấy bằng con đường Dân chủ hoá và Đổi mới toàn diện. Nghĩ thế cũng đúng nhưng chưa thật trúng. Ngày càng rõ rằng chủ nghĩa ấy đã vào bằng đường nào sẽ phải ra bằng đường ấy: đã mượn đường giành độc lập để vào thì sẽ bị trào lưu giành độc lập bảo vệ dân tộc trục xuất, ‘tiễn đưa’ ra. Sự có mặt của chủ nghĩa Trung Hoa trên đất nước này phải chăng là do trời đất xui khiến đến như một nhân tố tiền định để hoàn thành cho xong công đoạn tống xuất có tính lịch sử ấy? Hoặc là dân Việt Nam sẽ có cả độc lập và dân chủ trong sáng hoặc là mất trắng cả hai. Những lời “canh bạc cuối”, “tỷ lệ năm ăn năm thua” thiêng như lời sấm vậy, báo hiệu mọi điều đều có thể xảy ra.”

Thưa ông, hai cuộc “rước” chủ nghĩa và “tiễn” chủ nghĩa ấy có gì khác nhau?

“Đã bị nạn ngoại xâm (dù kiểu cũ hay kiểu hiện đại) thì nhân dân đều mất quyền làm chủ đất nước và đều gọi tắt là mất nước. Nhưng thời thuộc Pháp ta chỉ mất nước nhưng không mất dân tộc, vì Pháp không có khả năng đồng hoá dân tộc Việt Nam. Một khi dân tộc còn thì lòng yêu nước vẫn còn, và còn khả năng kháng chiến để giành lại nước. Nhưng ngày nay, nếu mất nước thì e sẽ mất luôn cả dân tộc tính! Chưa cần chứng minh bằng cách đi sâu vào lý luận, vào giáo lý Khổng Mạnh và văn hóa Trung Hoa. Chỉ cần tưởng tượng hàng vạn (biết đâu sẽ không hàng triệu) người Tàu tràn vào, lúc đầu là chiếm chỗ lao động rồi ở lại, mỗi chàng lấy một, hai hoặc ba người vợ Việt Nam bất cứ già trẻ miễn có thể sinh đẻ (hiện tượng này đã xảy ra rồi). Rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang nghèo đói, lấy Tàu tại chỗ chẳng hơn phải sang làm nô lệ tình dục ở tận Đài Loan, Nam Hàn, Campuchia… ư? Những đứa trẻ sinh ra sẽ là Tàu hay là Việt, có lòng yêu nước nữa không, yêu nước Tàu hay yêu nước Việt?

“Bị Hán hoá là mất dân tộc. Mất dân tộc thì đau đớn hơn mất nước vì không bao giờ tìm lại được đất nước nữa mà vĩnh viễn trở thành quận huyện! Suốt bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam, người Tàu không thực hiện được điều này, vì khi xưa còn thiếu một chủ nghĩa “Quốc tế Vô sản Đại đồng” để tiếp tay cho những kẻ thống trị (mà Mác vẫn tưởng là mình tiếp tay cho dân nghèo), cái chủ nghĩa giúp người nọ chiếm của người kia, nước nọ chiếm của nước kia cứ ngọt sớt, nó có tài biến sự chiếm đoạt thành sự tự nguyện hiến dâng, nó cứ nhân danh một người nào đó là y như rằng sẽ chiếm lĩnh được người ấy, thôn tính được người ấy. Không có chủ nghĩa Mác thì người Trung Hoa làm sao ký được 16 chữ vàng để ùa một cái tiến vào tận gan ruột Tây Nguyên giữa nước Việt Nam?”

Theo nhận định của ông, não trạng của giới lãnh đạo hiện nay tại Hà Nội ra sao mà họ lại để Trung Quốc hành xử ngày càng ngang ngược với Việt Nam, im lặng để “tàu lạ” bắt giữ, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của tổ quốc chúng ta?

“Mặc dù biết sự tha hoá của quái ác quyền lực (nghĩa là khi có quyền lực người ta có thể biến chất thành một cái gì hoàn toàn khác, Lênin cũng nói vậy), nhưng tôi không tin rằng tất cả những người cầm quyền có thể đồng thuận một cách sai trái trước một nguy cơ quá lớn mà lại quá sơ đẳng như vậy. Nhất định trong thâm tâm một số người có sự giằng xé, nhất định trong nội bộ phải có sự phân liệt ý kiến. Nhưng tại sao cuối cùng ‘con tàu’ vẫn cứ một chiều lao tới không thể dừng?

“Chỉ có thể giải thích rằng yếu tố ngoại lai quá mạnh. Kẻ đã yếu bao giờ cũng phải lo xa, nhưng nhà nước Việt Nam toàn đi nước cờ muộn màng, luôn ấu trĩ ảo tưởng nên bị lừa rất sớm. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” huống chi một chú nai vàng ngơ ngác đã bị con báo nhảy lên lưng?

“Điều nguy hiểm là tình thế đã muộn, khó gỡ lại đang bị đẩy cho tăng tốc, dồn dập, cấp tập, cốt tạo ra sự đã rồi, để tình thế không thể đảo ngược! Đã tàn ác thì phải tàn ác cấp tập ngay từ đầu, để sau đó sẽ nới ra một chút để tỏ lòng nhân ái, ấy là mẹo Machiavel. Thế nước như vậy chỉ có nhân dân mới làm thay đổi được. Nhân dân như vị tướng tài, như người khổng lồ vẫn bị giam lỏng, có thả vị tướng ‘vạn địch nhân’ này ra mới cứu được nước.”

Trước tình hình Trung Quốc ngày càng tỏ dấu hiệu bá quyền với Việt Nam, đồng bào mình trong và ngoài nước có thể làm được gì?

“Theo thiển ý, chúng ta cần làm cho mọi người Việt Nam tỉnh giấc để nhận ra tình huống rất bất thường của dân tộc mình trước nạn nội xâm và ngoại xâm đang ráo riết câu kết, đang có nguy cơ trở thành “sự đã rồi”. Lịch sử không cho thoát một ai, không châm chước cho ai ngủ gật hay giả vờ ngủ gật, hoặc thế này, hoặc thế kia đều phải trả giá trước lương tâm và trước lịch sử.

“Chỉ có nhân dân mới cứu được nước. Cần phát triển một xã hội dân sự cường tráng mới phát huy được sinh lực của dân.

“Cần dẹp mọi tị hiềm, mọi thù oán cũ để hướng vào vận mệnh đất nước, không hy sinh được một chút niềm riêng thì đừng nói chi điều đại nghĩa?”

***

Có lần trong cuộc trò chuyện điện thoại, Hà Sĩ Phu nói rằng “Chủ nghĩa Cộng sản đã vào Việt Nam bằng con đường lén lút; nó lẩn vào công cuộc chống Pháp của toàn dân chứ không qua sự nhận thức của trí tuệ. Bây giờ, giới lãnh đạo Hà Nội nếu khôn ngoan thì nên chính thức làm lễ tiễn cái chủ nghĩa này ra khỏi đất nước. Nếu không, đến một lúc nào dân tộc không còn chịu đựng được nữa thì cuộc nổi dậy sẽ đánh đuổi nó (Chủ nghĩa Cộng sản) như một tên ăn cắp.”

Đ.Q.A.T.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/ha-si-phu-dat-tay-nhau-duoi-bien-chi-duong-tri-tue/4572093.html

KẾT QUẢ PHIÊN TÒA 5 CÔNG AN ĐÁNH CHẾT DÂN

Quê Tôi Việt Nam and 2 others shared a post.

-2:11

9,922 Views

Đôn An Võ   Follow

KẾT QUẢ PHIÊN TÒA 5 CÔNG AN ĐÁNH CHẾT DÂN

Ngày 13/9/2018, Tòa án tỉnh Ninh Thuận xét xử 5 công an đánh chết dân, bị truy tố về tội “Dùng nhục hình” theo Điều 298 Bộ luật hình sự 1999.

Phiên tòa diễn ra căng thẳng: chỉ có gia đình người bị hại được vào dự tòa, rất đông lực lương công an, an ninh, cơ động, cứu hỏa, y tế ứng trực sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất.

Tại tòa tôi yêu cầu Hội đồng xét xử chuyển tội danh từ “Tội dùng nhục hình” sang “Tội giết người”, yêu cầu khởi tố ông Nguyễn Hữu Bình trưởng nhà tạm giữ và ông Nguyễn Văn Đức đội trưởng về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, yêu cầu ông Phạm Huyền Ngọc – Giám đốc Công an tỉnh Ninh Thuận từ chức, nhưng không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trước tòa các bị cáo thừa nhận tra tấn nạn nhân bằng cách: còng 2 tay ra sau; dùng tay tát vào mặt và đấm vào ngực; dùng chân đi giày đá mũi giày liên tiếp vào bụng, sườn, ngực, mặt; dùng khúc gỗ bọc ống nhựa dẽo bên ngoài đánh khắp cơ thể; sau đó còng 2 tay treo lơ lửng trên song cửa sổ sắt và còng 2 chân dính vào bàn hỏi cung đánh đến khi chết thì thôi.

Kết quả tòa tuyên án 5 bị cáo: Ngô Văn Sáng 7 năm tù, Trần Đức Lâm 6 năm tù, Nguyễn Phạm Việt Hà 6 năm tù, Hồ Bá Đồng 5 năm tù, Vũ Trọng Trường 3 năm tù về tội “Dùng nhục hình”.

Sau khi tòa tuyên án, mẹ của nạn nhân ngất xỉu phải đưa đi bệnh viên cấp cứu.

(Không hiểu tại sao sau khi đăng lịch xét xử vụ án này thì facebook thông báo xóa bài viết và khóa tài khoản của tôi 3 ngày, cho nên mấy hôm nay tôi không cập nhật thông tin về vụ án được, mong bà con thông cảm !)

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Phan Thị Hồng and Kevin Nguyen shared a post.
Image may contain: 1 person

Lê Ngọc Thanh is with Ngô Nhật Đăng.

MỘT ĐỊNH NGHĨA QUÁ KINH KHỦNG

Vừa đọc một stt về các bài viết của nhà văn hóa Phạm Quỳnh trên trang của anh Ngô Nhật Đăng, thấy có một định nghĩa gọi là “khoa học” về “chuyên chính” quá ghê, nên copy lại để mọi người đọc và gẫm thêm:

“Định nghĩa khoa học về chuyên chính là: Một quyền lực không bị hạn chế bởi bất cứ pháp luật nào, không bị ràng buộc bởi bất cứ quy tắc nào và trực tiếp dựa vào sức mạnh – Lenin, Nhà nước và cách mạng”.