Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Van H Pham

***********

Vì sao người Miền Nam nguyền rủa ông Đỗ Mười? (M.Châu)

Nhà báo Lê Phú Khải nói rằng ông Đỗ Mười là tấn bi hài kịch của một người lãnh đạo đảng cộng sản xuất thân từ tầng lớp bình dân trong xã hội Việt Nam, nông nghiệp lạc hậu phong kiến nửa thực dân trước 1945. Ông đi làm cách mạng, từng bị thực dân tù đầy, tra tấn. Nhưng vì đi lạc vào quỹ đạo cộng sản nên bị ‘ma dẫn lối, quỷ đưa đường…!’.

Người miền Nam oán ghét ông Đỗ Mười vì lý do đơn giản hơn: sau tháng 4-1975, nhân danh ‘bên thắng cuộc’, ông đã công khai cho đánh cướp tài sản, cơ nghiệp của người dân miền Nam, bất chấp luân thường đạo lý.

Những ý kiến ghi nhận tiếp theo đây từng được đăng tải trên nhiều tờ báo quốc doanh, xin được kể lại để lý giải vì sao người miền Nam vui mừng trước cái chết của ông Đỗ Mười.

***********

Từng làm phóng viên tuyên truyền về cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc những năm 1960 khi còn công tác ở báo Nhân Dân, sau năm 1975 ông Đinh Phong (đã mất) lại là một trong những chứng nhân của một giai đoạn lịch sử mới. Trong ký ức của mình sau gần ba thập niên kể từ ngày ấy, nhà báo Đinh Phong trầm ngâm: “Chúng tôi vác máy đi tuyên truyền mà lòng trĩu nặng, ngơ ngác nhìn nhau hỏi tại sao lại như vậy?

Có lần, chúng tôi mang máy ra chợ Tạ Thu Thâu quay cảnh niêm phong tài sản một hộ kinh doanh hàng điện tử. Chưa kịp ghi hình ảnh nào, ông chủ hộ kinh doanh bước ra gạt máy, rồi chỉ vô mặt tôi bảo: “Chú về mà hỏi Huỳnh Văn Tiểng (giám đốc đài truyền hình lúc bấy giờ – NV) xem ngày xưa tôi đã gửi linh kiện vô chiến khu lắp ráp đài phát thanh như thế nào, hỏi coi thời chống Mỹ tôi đã giúp đỡ các ông những gì? Bây giờ tôi buôn bán, có tội tình gì mà bay bắt tôi về làm ruộng hả?”. Thời gian sau tôi có trở lại tìm ông chủ ấy nhưng không gặp, chỗ cũ đã trở thành một cửa hàng quốc doanh”.

Ông Đinh Phong kể tiếp: “Một tối, tôi tiếp hai vợ chồng anh bạn trong cơ quan. Họ đến bảo rằng cả gia đình là cơ sở điệp báo của ta trước năm 1975, họ dùng chính cửa hàng vải sợi của mình làm bình phong cho cơ sở liên lạc của cách mạng. Những câu chuyện ấy chưa kịp được xác nhận sau năm 1975 thì gia đình trở thành điểm “cải tạo” với cửa hàng vải sợi.

Tài sản bị niêm phong, mọi người trong nhà chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Tôi nghe mà toát mồ hôi, ngay trong đêm chạy đến gặp ông Dương Văn Đầy (lúc ấy là chủ tịch Q.1, TP.HCM), bảo: “Họ sắp đưa một gia đình có công với cách mạng đi kinh tế mới”. Ông Đầy nói: “Đâu được”. Tôi bảo: “Họ hẹn sáng sớm 5 giờ là phải đi rồi”. Tờ mờ sáng hôm sau, ông Đầy phải đến chặn ngay trước cửa nhà can thiệp cho trường hợp này. Vậy là quyết định mới được hủy bỏ”.

Ông Mai Chí Thọ (nguyên chủ tịch UBND TP.HCM, đã mất) kể với phóng viên báo Tiền Phong, từ một thành phố hưởng thụ, một Trung tâm công nghiệp lớn nhất, vậy mà chỉ sau mấy năm khi “Chiến dịch X1, X2” đi qua, toàn bộ nền sản xuất công nghiệp của Sài Gòn bị tê liệt tới mức cạn cùng: Nguyên vật liệu không còn, viện trợ từ các phía bị cắt đứt, cơ sở vật chất xuống cấp nhanh chóng, máy móc phương tiện “đắp chiếu” ngủ triền miên hết năm này sang năm khác.

Ông Mai Chí Thọ nói rằng Sài Gòn lúc đó dấy lên phong trào “tự túc lương thực” nhà nhà trồng rau, nuôi heo, làm đủ mọi việc để kiếm sống. Trước đó không lâu, còn là “Hòn ngọc Viễn Đông”, nay, TPHCM như trở thành một khu chăn nuôi, trồng trọt khổng lồ, thậm chí có nhiều đoạn vỉa hè bị đào xới lên để trồng khoai lang, rau cải…

“Ngay như gia đình tôi đây, hồi đó, làm Chủ tịch thành phố, anh em họ thương, phân cho ở một ngôi nhà rất rộng và đẹp kiểu château của Pháp ngày xưa. Biệt thự nằm trên khuôn viên rộng mấy ngàn mét vuông, có thảm cỏ xanh mượt rất đẹp mắt, những dãy hoa càng tô điểm thêm cho vẻ sang trọng lộng lẫy của khu biệt thự.

Phía trước nhà có bể bơi nước trong xanh phía sau có sân tennis. Thế mà chỉ sau một thời gian, bể bơi lúc đầu thả cả rô phi, sau chẳng lấy đâu ra thức ăn cho cá, vả lại cũng không có người chăm sóc nên trong bể đầy nòng nọc; thảm cỏ thì biến thành ruộng trồng khoai lang để nuôi heo…”. Ông Mai Chí Thọ nói.
**********

Tiểu sử công khai trên báo chí nhân chuẩn bị lễ tang của ông Đỗ Mười cho biết: Năm 1976: Được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa IV, vào Quốc hội khóa VI, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 1976-1981.

Năm 1977: Là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.
**********

Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, Sài Gòn, Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100-CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại TPHCM và các tỉnh phía Nam.

Đỗ Mười nói (trích băng lưu trữ): “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…

Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chết, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta. Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy! Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta…”.

Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Ủy ban nhân dân TPHCM. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu.

Image may contain: one or more people and crowd
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: one or more people, people sitting, crowd, shoes and outdoor

Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Van H Pham
Đảng còn vĩ đại vì dân thật là… vô tư!

Cho dù cả Tổng thống Mỹ lẫn các chính khách của Đảng Cộng hòa hết sức sốt ruột nhưng họ vẫn chưa thể đưa Thẩm phán Brett Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện… Đem chuyện chính trường Mỹ so với hiện tình chính trường Việt Nam ắt sẽ thấy “Đảng ta vĩ đại thật”!

********

Tối cao Pháp viện Mỹ là một Hội đồng với chín thẩm phán và là định chế đứng đầu hệ thống tư pháp của Mỹ. Mỗi thẩm phán trong số chín thẩm phán này được Tổng thống Mỹ lựa chọn – giới thiệu với Thượng viện. Thượng viện sẽ xem xét – bỏ phiếu chấp nhận hay từ chối.

Nếu được Thượng viện phê chuẩn, người được đề cử sẽ trở thành Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, cùng với tám thẩm phán còn lại có quyền giải thích Hiến pháp, xác định các đạo luật liên bang hay tiểu bang, hành động của chính phủ liên bang hoặc chính quyền các tiểu bang là hợp hiến hay vi hiến. Chưa kể Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện còn có quyền phân định đủ loại tranh chấp, bất đồng là đúng – sai, phải – trái. Phán quyết của Tối cao Pháp viện là chung thẩm, không xét lại nữa.

Đó cũng là lý do tổ chức chính trị nào tại Mỹ cũng muốn các thẩm phán ủng hộ – chia sẻ quan điểm của mình chiếm đa số trong Tối cao Pháp viện. Đạt được mục tiêu đó, Tối cao Pháp viện sẽ là nơi giúp tổ chức chính trị giải quyết những vấn đề hóc búa, chẳng hạn như cho phép phá thai hay cấm mà vì nhiều lý do, lập pháp thúc thủ, hành pháp bó tay bởi không thể dung hòa những khác biệt nhận thức, lợi ích cả trong hệ thống lập pháp, hành pháp lẫn dân chúng.

Từ đầu tháng 8 tới nay, sau khi Thẩm phán Anthony Kennedy từ chức vì tuổi cao, sức yếu, Tối cao Pháp viện Mỹ thiếu một người. Tám thẩm phán đương nhiệm trong Tối cao Pháp viện có bốn do các Tổng thống là người của Đảng Cộng hòa đề cử, bốn còn lại do các Tổng thống là người của Đảng Dân chủ đề cử.

Tổng thống Donald Trump đã chọn – giới thiệu Thẩm phán Brett Kavanaugh, một người nhiệt thành ủng hộ các quan điểm của Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện. Thượng viện Hoa Kỳ với 100 ghế, các thành viên Đảng Cộng hòa đang giữ tới 51 phiếu thành ra chuyện đưa thêm một thẩm phán ủng hộ Đảng Cộng hòa vào Tối cao Pháp viện tưởng như sẽ là tất nhiên…

Không ai dè việc thực hiện “chủ trương lớn” của Đảng Cộng hòa gặp trục trặc. Bà Christine Ford – một giảng viên đại học, đột nhiên tố cáo, cách nay 34 năm, Thẩm phán Kavanaugh toan cưỡng bức bà khi cả hai đang học trung học… Lúc đầu, cả Tổng thống Trump lẫn giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa cùng cho rằng, tố cáo của bà Ford là chuyện… tầm ruồng, không thể xác minh, kết luận phải – trái, đúng – sai vì đã xảy ra cách nay ba thập niên, thậm chí lên án tố cáo ấy là âm mưu của Đảng Dân chủ – “thế lực thù địch, phản động” nhưng phản ứng của công chúng đã buộc họ phải nhượng bộ…

Ngày 27 tháng 9, Ủy ban Tư pháp của Thượng viện phải tổ chức một buổi điều trần, nghe cả bà Ford lẫn Thẩm phán Kavanaugh. Buổi điều trần được nhiều người xem là “đầy kịch tính”: Một Thượng nghị sĩ của Đảng Cộng hòa bị các nạn nhân của những vụ tấn công tình dục bao vây, chất vấn (1). Hai nữ Thượng nghị sĩ cũng của Đảng Cộng hòa cho rằng, điều trần chưa đủ. Cho đến giờ này vẫn chưa thể xác định bà Ford tố thật hay tố điêu nhưng Tổng thống Trump rồi các thành viên Đảng Cộng hòa trong Ủy ban Tư pháp của Thượng viện cùng lui thêm một bước: Yêu cầu FBI điều tra – như bà Ford và nhiều người khác đã từng đề nghị.

Chỉ vài giờ sau cuộc điều trần, tạp chí America của Jesuit (người Việt quen gọi là Dòng Tên) tuyên bố rút lại sự ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh tham gia Tối cao Pháp viện. Cần nhớ Thẩm phán Kavanaugh là một tín đồ Công giáo và đã vài lần dẫn yếu tố từng là học sinh một tư thục danh tiếng của Dòng Tên, cũng như tuân thủ giáo lý Công giáo một cách nghiêm cẩn nhằm khẳng định ông không vô đạo đức như tố cáo của bà Ford. Trong Thư ngỏ gửi cho công chúng, America nhấn mạnh, ai tôn trọng quyền được sống của các thai nhi cũng ủng hộ Thẩm phán Kavanaugh trở thành thành viên Hội đồng Thẩm phán của Tối cao Pháp viện, song mặt khác, không thể không quan tâm đến cách thức quốc gia đối xử với nữ giới khi họ tố cáo bị quấy rối, bị tấn công và những tố cáo ấy có thể làm tiêu tan sự nghiệp của những nhân vật quyền lực. Một thành viên trong Hội đồng chủ biên của tạp chí vừa kể bảo với báo giới, sự quan tâm của America không chỉ giới hạn trong những vấn đề liên quan đến Hiến pháp mà còn bao gồm cả việc phải xem xét để quấy rối, lạm dụng tình dục được chú tâm xủ lý đúng mức vì đó cũng là đạo đức Công giáo (2).

********

Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi phối cả ba nhánh quyền lực của Mỹ) là một chuyện, thực hiện được hay không là chuyện khác. Chuyện khác đó phụ thuộc vào nhận thức của dân chúng. Xem mong muốn của dân chúng như rác, không lắng nghe, cưỡng cầu – thực hiện cho bằng được các “chủ trương lớn” thì toàn Đảng sẽ đi chỗ khác chơi vì ở những kỳ bầu cử sau đó, dân chúng sẽ chọn người khác của đảng khác.

Đâu phải tự nhiên mà hết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi tới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem việc bàn luận, vận động cho “đa nguyên, đa Đảng” là… phản quốc. Với hiện tình chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội quốc gia như lúc này, đa số người Việt chỉ bàn luận sôi nổi về “nhất thể hóa” cá nhân đứng đầu tổ chức chính trị duy nhất với nguyên thủ quốc gia, không bận tâm thân phận, tương lai của chính mình, của con cháu mình là vàng hay rác thì rõ ràng “Đảng ta” còn vĩ đại lâu, còn rất nhiều du địa để soạn thảo – ban hành – thực thi vô số “chủ trương lớn” nữa. Năm 1962, ở Lễ Kỷ niệm 32 năm ngày thành lập Đảng CSVN, ông Hồ Chí Minh rất thản nhiên tuyên bố như thế này: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng, Đảng ta thật là vĩ đại!”. Giờ, liệu có thể nói thêm thế này: Sau tất cả những gì đã và đang xảy ra, có thể khẳng định, ‘Đảng ta’ thật là vĩ đại vì dân ta thật là… vô tư?

About this website

VOATIENGVIET.COM
Thời nào, ở đâu, các tổ chức chính trị cũng có tham vọng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng vậy nhưng “chủ trương lớn” (đưa Thẩm phán Kavanaugh vào Tối cao Pháp viện để gia tăng khả năng kiểm soát, chi ph…  

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Slovakia sắp ‘xử’ đảng Cộng sản Việt Nam?

Phạm Chí Dũng

Không còn nghi ngờ gì nữa, quốc gia được giới chóp bu Việt Nam ve vuốt là ‘đối tác thân thiện’ – Slovakia – đang chuẩn bị cho động thái ‘xử’ đối với Việt Nam, hay chính xác hơn là đối với đảng Cộng sản Việt Nam.

Thủ phạm ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

“The head of the Slovak diplomacy clearly and categorically emphasised that the Vietnamese party’s previous explanations of the serious suspicions of the abduction of a Vietnamese national across Slovak territory are not satisfactory.” (TASR) 
– Người đứng đầu ngoại giao Slovak đã nhấn mạnh một các rõ ràng và lớp lang rằng những lời giải thích trước đây của đảng (CS) Việt Nam về những nghi ngờ nghiêm trọng của vụ bắt cóc một người Việt trên lãnh thổ Slovak là không thỏa đáng (Danlambao).

Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak đã thẳng thừng tuyên bố như trên trong cuộc tiếp xúc với Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh tại New York vào cuối tháng Chín năm 2018, với nội dung chủ yếu xoáy vào vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – theo hãng thông tấn TASR của Slovakia.

Chi tiết rất đặc biệt trong tuyên bố trên là Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã chỉ đề cập về khách thể đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải nói tới ‘Nhà nước Việt Nam’ theo lối ngoại giao nói thông thường. Cách dùng từ xác quyết và mang tính phân biệt không kém xác quyết như thế cho thấy trong nhận thức và hành động ngoại giao của phía Slovakia, thủ phạm của vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin vào tháng bảy năm 2017 và sau đó ‘vận chuyển’ Thanh sang Bratislava của Slovakia để từ đó bay sang Moscow của Nga rất có thể đã hiện hình như ban ngày chứ tuyệt đối không phải là ‘Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về nước đầu thú’.

Cách thức dùng từ không còn thuần túy ngoại giao hay cố gắng mang cung cách ngoại giao của Ngoại trưởng Miroslav Lajcak cũng khá tương đồng với một cử chỉ mới đây của giới quan chức Đức khi dự lễ kỷ niệm ngày lễ quốc khánh 2/9 tại Đại sứ quán Việt Nam ở Đức.

Trong buổi lễ trên, phía Đức chỉ cử một đại diện cấp thấp với chức vụ “Abteilungsleiterin” (Trưởng phòng hay Vụ trưởng) – bà Ina Lepel – đến tham dự lễ 2/9 của Việt Nam. Chức vụ của bà Ina Lepel là vụ trưởng châu Á-Thái Bình Dương trong Bộ Ngoại giao Đức. Còn tại cuộc kỷ niệm quốc khánh 2/9 vào năm 2016, tức trước khi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra và khi quan hệ giữa 2 nước còn “nồng ấm”, chính phủ Đức đã cử bà Edelgard Bulmahn, Phó Chủ tịch Quốc hội Liên Bang Đức, đến tham dự lễ kỷ niệm quốc khánh Việt Nam.

“Không có hình tượng nào lột tả được thực trạng mối quan hệ hai nước hiện nay hay hơn là hình tượng Đại sứ Đoàn Xuân Hưng chìa tay ra, muốn bắt tay bà Ina Lepel đại diện chính phủ Đức, nhưng bà Ina Lepel vẫn khư khư giữ chặt túi xách” – trang Thoibao.de thuật lại một cách rất tượng hình và đối kháng về buổi lễ kỷ niệm 2/9 năm 2018.

Quả là như vậy, hình ảnh ‘hữu nghị Việt – Đức’ trên không chỉ cho thấy thái độ khinh miệt mà giới quan chức Đức dành cho giới quan chức Việt Nam, mà còn cho thấy người Đức đang cực kỳ cảnh giác trước những quan chức Việt Nam, trong bối cảnh mà hơn một năm trôi qua kể từ thời điểm mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vẫn chẳng có bất kỳ một lời xin lỗi hoặc ‘cam kết không tái phạm’ nào được nêu ra từ phía Việt Nam.

Thậm chí trong bài diễn văn của mình, bà Ina Lepel chỉ dùng từ ‘nhân dân’ để nói đến tình hữu nghị giữa hai nước, mà không dùng từ ‘nhà nước’ hay ‘chính phủ’. Phải chăng người Đức đã quá chán ngán thói tuyên rao ‘nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ và khách thể ‘đảng Cộng sản Việt Nam’?

‘Giá treo cổ’ dành cho ai?

Với cuộc gặp Phạm Bình Minh, đây là lần thứ hai trong hai tháng liên tiếp, Ngoại trưởng Slovakia Miroslav Lajcak lên tiếng về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Vào đầu tháng Tám năm 2018, chỉ 4 ngày sau loại bài điều tra của tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung của Đức và tờ Dennik N của Slovakia về ‘cựu Bộ trưởng Nội vụ Slovakia Robert Kaliňák đã giúp Bộ trưởng Công an Việt Nam Tô Lâm đưa Trịnh Xuân Thanh ra khỏi khu vực Schengen bằng chuyên cơ của chính phủ Slovakia’, Ngoại trưởng Miroslav Lajcak đã viết trong một bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018: “Không còn hoài nghi rằng kết luận của các nhà điều tra Đức về vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là nghiêm trọng và cho thấy một sự nghi ngờ rất lớn về sự đúng đắn của thông tin do phía Việt Nam cung cấp cho đến nay. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả mọi thứ được in trên báo là đúng sự thật, hoặc đã đủ để chúng tôi đưa ra tòa án. Cho đến khi nào vụ việc này chưa được kiểm tra kỹ lưỡng và các chi tiết chưa được làm rõ, thì chúng tôi không thể dựng lên giá treo cổ được” – (Thoibao.de dịch)

Đáng ngạc nhiên là từ ngữ mang tính hình tượng cực mạnh ‘giá treo cổ’ mà Ngoại trưởng Miroslav Lajcak trưng ra trong bài viết trên, bởi điều này dường như không phù hợp lắm, hoặc quá thô bạo so với âm điệu ngoại giao hoặc êm ái hoặc buộc phải tỏ ra êm ái. Từ ngữ này chỉ bộc lộ vào bối cảnh tác giả của nó không thể kềm chế được sự giận dữ và thấy không từ nào thích đáng hơn nó.

‘Giá treo cổ’ đe dọa dựng lên dành cho những quan chức Slovakia đã trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh – chẳng hạn như cựu Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák. Nhưng ‘giá treo cổ’ cũng là lời cảnh cáo trực diện giới chóp bu Việt Nam.

Khác nhiều với văn phong còn cố gắng duy trì tính cách xã giao mà không muốn làm mất mặt Hà Nội trong một tuyên bố phản đối vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh của Bộ Ngoại giao Đức vào tháng Tám năm 2017, lời lẽ của người đại diện cho Bộ Ngoại giao Slovakia là quá thẳng thắn và phẫn nộ.

Cũng trong bài bình luận trên tờ báo mạng pravda.sk, ra ngày 7/8/2018, Ngoại trưởng Lajcak viết:

“Trong lúc phiên tòa tại Berlin đang diễn ra, phía Đức tuyên bố, họ đã có những dấu hiệu nghiêm trọng, rằng nạn nhân bị bắt cóc đã được đưa bằng máy bay từ Bratislava (thủ đô Slovakia) đến Moscow. Nhiệm vụ của chúng tôi là thẩm tra những cáo buộc qua thông tin liên lạc với phía Việt Nam. Bác bỏ, nếu cáo buộc không đúng.

Vì cho đến nay, Việt Nam đã không cung cấp cho chúng tôi những bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng cáo buộc của các nhà điều tra Đức là không đúng, cho nên chúng tôi đã buộc phải thực hiện một bước cụ thể – để giảm đại diện ngoại giao của chúng tôi tại Việt Nam. Điều đó có nghĩa là chúng tôi không có Đại sứ tại Việt Nam vào thời điểm này – và chúng tôi không có kế hoạch bổ nhiệm một vị Đại sứ đến Hà Nội cho đến khi nào chúng tôi giải quyết xong vụ việc. Đây là một bước rất nghiêm trọng trong thực tiễn ngoại giao, biện pháp này không phải là đơn giản hoặc không đáng kể. Và nó không phải là bước duy nhất.

Nếu vụ việc này được xác định rằng Cộng hòa Slovakia đã bị Việt Nam lợi dụng, thì cần thiết phải có những biện pháp tiếp theo” (Thoibao.de)

Một cách chính thức, cuộc khủng hoảng Slovaka – Việt Nam đã bùng nổ – tròn một năm sau khi nổ ra cuộc khủng hoảng Đức – Việt. Bây giờ thì khó còn gì có thể cứu vãn được nữa.

Tháng Mười?

Một năm trước, cũng vào tháng Tám, Bộ Ngoại giao Đức đã làm một cử chỉ mà Hà Nội khó ngờ khi ra tuyên bố mạnh mẽ phản đối vụ mật vụ Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin. “Việc này cũng phá vỡ lòng tin một cách nghiêm trọng” – một nội dung trong tuyên bố phản đối của Bộ Ngoại giao Đức. Và phía Đức kết thúc bản tuyên bố phản đối bằng “Chúng tôi cũng bảo lưu quyền áp dụng thêm các hành động khác ở cấp độ chính trị, kinh tế và chính sách phát triển”.

Sau tháng Bảy năm 2017, khủng hoảng Đức – Việt đã bùng phát và kéo theo quá nhiều hậu quả. Không chỉ trục xuất vài cán bộ ngoại giao của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức về nước, Nhà nước Đức còn thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam vào tháng 10/2017 và một tháng sau đó đã thông báo ngừng luôn hiệp định về miễn trừ visa đối với quan chức Việt Nam đi công tác ở Đức.

Hà Nội cũng khó ngờ rằng chỉ một năm sau cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức – Việt, cơn khủng hoảng thứ hai mang tên Slovakia – Việt và cả EU – Việt đang chuyển qua giai đoạn mới: thời kỳ đóng băng kéo dài nhiều năm.

“Nếu quý vị tiếp tục nói rằng quý vị không lạm dụng lòng hiếu khách của chúng tôi và công dân bị bắt cóc của quý vị không có mặt trên chuyến phi cơ của chính phủ Slovakia, thì tôi yêu cầu quý vị hãy đưa ra lời giải thích không sai sót về việc quý vị đã đưa ông ta từ Đức về Việt Nam bằng cách nào”, và “Bất kỳ cách giải thích gây hiểu nhầm nào từ phía quý vị cũng sẽ gây ra những hậu quả cho quan hệ song phương giữa chúng ta, và chúng tôi cũng đang sẵn sàng có những hành động hạn chế trên cơ sở vì lợi ích của EU” – Ngoại trưởng Slovakia Lajcak nói thẳng thừng với Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh bên lề cuộc họp tại New York vào tháng Chín năm 2018.

Phát ngôn mang tính ‘tối hậu thư’ của Lajcak xảy ra gần như đồng thời với các cuộc gặp song phương giữa hai công tố trưởng của Slovakia và Đức gặp nhau ở Đức, và giữa bộ trưởng nội vụ của Đức và Slovakia – những cuộc gặp cho thấy tầm mức phối hợp giữa hai nước về vụ Trịnh Xuân Thanh đã được đẩy lên cao hơn nhiều so với vài ba mối liên hệ lẻ tẻ trước đây giữa cảnh sát hai nước.

Cách nói của Lajcak cũng gần như đã chắc chắn về một kế hoạch cho những hành động trả đũa tiếp theo của Slovakia đối với Việt Nam, mà đã được thống nhất bởi Tổng thống Slovakia Andrej Kiska, Thủ tướng Slovakia Peter Pellegrini cùng các cơ quan tư pháp nước này.

Không có bất kỳ lời giải thích nào từ Phạm Bình Minh với Lajcak. Cũng tương tự thái độ câm nín của người đứng đầu ngành ‘ngoại giao Việt Nam thành công chưa từng có’ trước không biết bao nhiêu lần truy vấn của Bộ Ngoại giao Đức và Bộ Ngoại giao Slovakia về vụ Trịnh Xuân Thanh.

Từ tháng Tám năm 2017 đến nay, sự im lặng kiên định và triệt để của Bộ Ngoại giao Việt Nam trước vụ Trịnh Xuân Thanh cho thấy Phạm Bình Minh không dại gì đi ‘đổ vỏ’ cho những kẻ gây ra vụ bắt cóc này. Rất có thể chính vì hành động ‘giãy ra’ như thế mà từ tháng Mười năm 2018, Phạm Bình Minh đã chính thức bị thất sủng trước Nguyễn Phú Trọng.

Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Sau hai tháng điều tra của cảnh sát Slovakia và được sự hỗ trợ cận kề của cảnh sát Đức, thời điểm chẳng bao lâu nữa trên có thể sẽ rơi vào tháng Mười năm 2018 – chẵn một năm sau vụ Nhà nước Đức thẳng tay tuyên bố tạm thời đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

About this website

 

VOATIENGVIET.COM
Chẳng bao lâu nữa, Chính phủ Slovakia – để tự bảo vệ lòng tự trọng của mình – sẽ phải tung ra một quyết định dù rất khó khăn nhưng thật sự cần thiết và cứng rắn với chính thể độc đảng ở Việt Nam và những kẻ bắt cóc.

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Đến lượt Pakistan do dự các dự án với Trung Cộng vì lo sợ bẫy nợ

Islamabad, Pakistan – Sau một thời gian dài trì trệ, cuộc cải tiến tuyến hỏa xa từ biển Arab đến chân dãy núi Hindu Kush đã trở thành một bài kiểm tra khả năng của Pakistan trong việc cân nhắc lại các dự án “con đường tơ lụa” của Trung Cộng, do lo sợ về nợ nần.

Đây là tuyến hỏa xa đã có từ thời thuộc địa, có trị giá 8.2 tỷ mỹ kim. Dự án hỏa xa nối liền đô thị ven biển Karachi với thành phố Peshawar ở phía tây bắc là dự án lớn nhất trong Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Cộng tại Pakistan. Nhưng Islamabad hiện đã tỏ ra do dự về mặt chi phí và các điều khoản tài chính.

Các thỏa thuận này ngày càng vấp phải nhiều sự phản đối dưới quyền chính phủ mới của nhà lãnh đạo dân túy Imran Khan, người đã lên tiếng cảnh báo về việc tăng mức nợ và tuyên bố rằng đất nước này phải ngưng việc vay mượn nước ngoài. Gần đây, ông Khusro Bakhtyar, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch, Phát triển và Cải cách, trả lời với các phóng viên rằng Pakistan đang xem xét cách phát triển mô hình mới, để chính phủ Pakistan không phải gánh chịu tất cả rủi ro.

Chính phủ mới của Pakistan đã tỏ ý muốn xem xét lại tất cả các hợp đồng trong sáng kiến Vành đai và Con đường. Các viên chức nước này lo sợ rằng các thỏa thuận trên đã bị đàm phán sai lầm, tức quá đắt tiền hoặc quá có lợi cho Trung Cộng.

Theo hãng tin Reuters, rằng khi đối diện với sự bất bình từ phía Islamabad, Bắc Kinh vẫn sẵn sàng xem xét lại những dự án chưa bắt đầu.

Việc Pakistan tỏ ra do dự với các khoản đầu tư của Trung Cộng thể hiện khuynh hướng của hàng loạt chính phủ mới ở Sri Lanka, Malaysia và Maldives. Hiện nay, chính quyền mới ở các quốc gia này đều đang cảnh giác về các thỏa thuận được chính quyền tiền nhiệm ký kết với Trung Cộng.

Bây giờ thì họ tỉnh thật rồi.

Dat Nguyen and Nam Chu shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting and indoor
Nguyễn Thủy Tiên

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài, Hoa Kỳ mới hỏi tướng tài độc nhãn người Do Thái – Goshe Dayan, làm sao để thắng được CSVN.

Ông tướng độc nhãn bình thản trả lời: “Chiến trường Trung Đông có qui ước rõ địch và ta đối diện nhau và trận địa thẳng tắp, còn chiến trường Vietnam địa thế sông ngòi chằng chịt, núi non hiểm trở, lại còn người dân nông thôn miền Nam Vietnam chứa chấp bọn CS nằm vùng. Các anh không bao giờ thắng nổi Việt Cộng, mà chỉ có một cách duy nhứt là các anh rút ra khỏi VN để cho người dân họ nếm mùi CS một thời gian, sau đó các anh trở lại khỏi cần đánh cũng thắng!”

“Muốn thắng Cộng Sản phải thua chúng trước” (Moshe DAYAN)
Đó là phương châm của Tướng độc nhãn gốc Do Thái. Thắng một hiệp chưa chắc thắng cả ván cờ. Dân trí thấp, nói họ không nghe. Chỉ cần thả cho họ sống 40 năm với Cộng sản, họ sẽ tỉnh giấc rồi… SÁNG MẮT – SÁNG LÒNG.

Bây giờ thì họ tỉnh thật rồi. Nhưng cái giá sẽ phải trả là KHÁ ĐẮT.

TIỂU THƠ

TIỂU THƠ

 Phạm Tín An Ninh

Rầm!
Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:
– Ê! Bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!
Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à.. cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”: 
– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!
Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.
Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:
– Đ.M., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.
Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).
Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.
Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.
Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.
Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình điện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “Cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).
Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường(!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!
Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.
Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn… vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.
Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ… vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy nhất bên bàn ăn.
Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:
– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông… ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?
Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:
– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.
Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.
Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm” thôi chứ sư với siếc gì.
Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ Trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó…  Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.
Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức “bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.
Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt… nhìn xa xăm.
Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và.. lãng mạn đa tình.
Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.
Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:

Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương

Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:
– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?
Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:
– Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.
Tôi cười, vuốt ve cô học trò:
– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.
Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :
– Không thèm chơi với Thầy nữa.
Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn. 
Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu… đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.
Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to… của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha Trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít…
Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo.
Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình… con cóc.
Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò… lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. 
Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc dơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.
Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. 
Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng – để nhớ những ngày cô còn ở đó… Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” biết đâu mà hẹn. 
Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.
Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói “nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!
Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội “luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.
Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ” của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến. 
Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi nhấc hộ đội thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:
– Là em, là Tiểu Thơ đây à?
Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.
– Tiểu Thơ, à quên… Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.
Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.
Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:
– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.
– Còn ba em đâu?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.
Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.
Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không dủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên. 
Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.
Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.
Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.
Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.
Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói hương. Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường. 
Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ. 
Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.
Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ. Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. 
Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.
Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại: 
– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.
Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi
Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện. 
Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.
Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

Phạm Tín An Ninh

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười qua đời

Bản quyền hình ảnh  HOANG DINH NAM/GETTY IMAGES
Nguyên TBT Đỗ Mười xem duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/2005

Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười vừa từ trần tối ngày 1/10, Thông Tấn xã Việt Nam cho hay.

“Theo tin từ Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, sau một thời gian lâm bệnh nặng… đã từ trần hồi 23 giờ 12 phút ngày 1/10/2018, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108,” thông báo của TTXVN tối thứ Hai viết.

“Thông tin về lễ tang đồng chí Đỗ Mười sẽ được thông báo sau.”

Ông Đỗ Mười ra đi chỉ hơn mười ngày kể từ khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời. Tuy nhiên, thông báo này chưa nói rõ thể thức có phải là quốc tang và nếu có thì là bao nhiêu ngày cho ông Đỗ Mười.

Ông Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2/2/1917, tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Ông là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thứ ba của nước CHXHCN Việt Nam từ tháng 6/1988 đến tháng 7/1991.

Trước đó, ông từng là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

Ông làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 6/1991 đến tháng 12/1997.

Từ tháng 12/1997, ông làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trước đó, hôm 28/9, báo VietNamNet dẫn lời ông Phan Trọng Kính, trợ lý của ông Đỗ Mười khẳng định: “Cụ nằm ở bệnh viện 108 gần 6 tháng nay”.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói về Sấm Trạng Trình

Từ một người nổi tiếng cứng rắn, bảo thủ ông lại gây ngạc nhiên khi ủng hộ cải cách tự do hoá kinh tế, theo một nhà quan sát từ Hoa Kỳ.

“Ông ấy đã tiếp nối được di sản tự do hóa kinh tế của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh,” nhà nghiên cứu Murray Hiebert từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) từ Hoa Kỳ nói với BBC.

“Thời gian ông làm TBT là thời gian mà Việt Nam có những dấu mốc lịch sử có ý nghĩa chiến lược sống còn và những đột phá chưa từng có về đối ngoại: gia nhập ASEAN, ký Hiệp định Đối tác và Hợp tác Toàn diện với EU, bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, bắt đầu đàm phán BTA…”

‘Đánh tư sản mại bản’

Về di sản của cựu Tổng bí thư Đỗ Mười, trả lời BBC hồi cuối tháng Chín, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Đảng, hiện sống ở Hà Nội, nói:

“Một trong hai sự kiện nổi trội liên quan đến ông Đỗ Mười (cùng với việc dự Hội nghị Thành Đô) là chủ trương đánh tư sản hay còn gọi là “cải tạo công thương nghiệp”.

“Theo như tôi hiểu, ông làm điều này rất hung hăng vì học vấn ít, và cuồng tín cao.”

“Hệ lụy của việc cải tạo công thương nghiệp rất bi thảm, khốc liệt, để lại tai họa rất lớn cho dân tộc.”

“Nhưng có vẻ là trong nhiều năm ông Đỗ Mười tự hào về mình đã làm được việc kinh thiên động địa.”

“Đến lúc cuối đời, ông không có vẻ gì ăn năn, hối cải về sai lầm của mình cả.”

Đỗ Mười
Bản quyền hình ảnh   HOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Cựu Tổng bí thư Đỗ Mười tại đám tang cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt hồi tháng 6/2008

‘Cầu thị’

Trong khi đó, chuyên gia Lê Đăng Doanh, người từng làm thư ký kinh tế cho văn phòng của cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bình luận với BBC hồi tuần trước:

“Theo như tôi hiểu, ông Đỗ Mười là Đảng viên thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của Đảng.”

“Chủ trương “cải tạo công thương” là của tập thể lãnh đạo, còn những người khác có chức vụ cao hơn ông ấy trong Đảng.”

“Nếu những người này không đồng tình thì mình ông ấy không thể làm gì được.”

mười
Bản quyền hình ảnh  HOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Ông Đỗ Mười (giữa) tại lễ tang Tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội hồi tháng 10/2013

“Sau khi được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1988, ông Đỗ Mười được ghi nhận gửi lời chúc doanh nghiệp làm ăn phát tài, thực hiện đầy đủ chính sách cải cách tiền tệ, chuyển đổi tỷ giá, phát triển kinh tế tư nhân…”

“Ông cũng là lãnh đạo đầu tiên đi Nam Hàn mời gọi đầu tư vào Việt Nam.”

“Nói như vậy để thấy không nên quy trách nhiệm cá nhân cho ông Đỗ Mười vì đó là sai lầm của một thời kỳ.”

Đường nên thánh

Bang Uong

Đường nên thánh

 

Phạm Minh-Tâm

Vào ngày 14-10-2018 sắp tới đây, Hội-thánh Công-giáo hoàn-vũ vui mừng về một tin vui cả-thể. Đó là Đức cố Giáo-hoàng Phao-lô VI được Đức đương kim Giáo-hoàng Phan-xi-cô cử-hành nghi-thức tôn vinh lên bậc hiển thánh. Và trong nỗi hân-hoan này, thiết-tưởng cộng-đồng Dân Chúa Việt-Nam – và toàn thể Hội thánh Chúa Ki-tô – cũng nên chia-sẻ những cảm-nghiệm đức tin về vị Cha Chung được vinh thánh này. Đang lúc người ta nhắc đến hành-trạng của Đức Giáo-hoàng Phao-lô VI với toàn là những việc “để đời”, thì người viết lại cứ quanh-quẩn với câu ngài nói đã thành thời-danh:”Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy. Hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy này là chứng nhân”…Bởi vì đã từ lâu, rất lâu nay, hai chữ “chứng nhân” vẫn là nỗi băn-khoăn, niềm mong đợi và tìm kiếm của cộng-đồng tín-hữu Việt-Nam.

Và quả-thực, trong suốt triều-đại giáo-hoàng của mình, Đức Phao-lô VI đã hành-xử quyền Tông-toà trong các hành-động liên-tục theo ơn-nhưng-không với lòng trách-nhiệm…đã làm việc theo “đấng bậc mình” không chút đơn-sai.

Điều mà người ta nhớ đến Đức Phao-lô VI trước hết và trên hết là ngài đã kế-tục một công-trình nhiều khó-khăn của vị tiền-nhiệm là Thánh Giáo-hoàng Gio-an XXIII, để hoàn-tất Công-đồng Vatican II. Công-đồng này đã mở đầu một kỷ-nguyên quan-trọng trong lịch-sử Hội thánh Công-giáo hoàn-vũ. Bởi vì, mọi văn-kiện của Công-đồng Vatican II đã như một nguồn sáng mới soi rọi lại nhiều vấn-đề trong Hội-thánh như Phụng-vụ, Lời Chúa, Đại-kết, Tự-do tôn-giáo và nhất là định rõ vai trò của Hội thánh trong thế-giới ngày nay…Tất cả không chỉ đòi hỏi một nỗ-lực mà còn là một ý-thức tâm-linh cao-độ khởi đi từ các nhân-đức Tin – Cậy – Mến…

Trong tấn thảm-kịch thông-thường của con người, một thảm-kịch mà ánh sáng càng tăng thì định-mệnh con người lại càng ra đen tối. Bởi thế, nhận-định ấy phải được triển-khai bằng một cuộc đối-thoại với thực-tại thần-linh; nghĩa là tôi bởi đâu mà ra và chắc-chắn tôi sẽ đi về đâu theo ánh sáng của Đức Ki-tô, như cây đèn đặt vào tay cho chúng ta hoàn-thành cuộc vượt qua vĩ-đại… Tôi được chọn làm Giáo-hoàng; sự kiện này chứng-tỏ hai điều: một là sự hèn-mọn của tôi và hai là sự tự-do của Thiên Chúa, một sự tự-do đầy nhân-từ và mạnh-mẽ…(Đỗ Xuân Quế – Suy-tư của Đức Phao-lô VI về sự chết…trang 8).

Công-đồng Vatican II được hình-thành từ nhiều trở-ngại trong quá-khứ. Vào năm 1870, Đức Giáo-hoàng Pi-ô IX triệu-tập Công-đồng Vatican I, tuyên-bố quyền tối-thượng và ơn bất-khả-ngộ của Giáo-hoàng; đồng thời, lên án chủ-trương độc-lập của Giáo-hội Pháp và nhiều vấn-đề quan-trọng khác thuộc Giáo-hội. Song Công-đồng này phải ngưng vào ngày 20-10-1870 và đình-hoãn vô-hạn-định với biến-cố Giáo-phận Rome bị sáp-nhập vào nước Ý. Khi Công-đồng Vatican II được công-bố triệu-tập thì đã có nhiều ý-kiến về tên gọi, vì cho rằng đây chính là sự tiếp nối công-trình của Vatican I, mà phần lớn các vấn-đề đã bị bỏ dở. Vì vậy, vào ngày 07-12-1959, Thánh Giáo-hoàng Gio-an XXIII đã chính-thức dùng tên Công-đồng Vatican II để khai-hội và kéo dài sang đến triều-đại Đức Giáo-hoàng Phao lô VI mới kết-thúc.

Điều đăc-biệt, Công-đồng Vatican II được triệu-tập không theo truyền-thống sẵn có là chỉ triệu-tập công-đồng khi Hội-thánh cần phải công-bố một định-tín hay giải-quyết các khúc-mắc quan-trọng. Trong hoàn-cảnh lúc đó, Giáo-hội không gặp phải biến-cố hay khủng-hoảng nào rõ-rệt cả mà chỉ vì hậu-quả của hai cuộc thế-chiến và sự phát-triển nhanh chóng của khoa-học đã ảnh-hưởng nhiều đến hướng hành-đạo và sống đạo của người Ki-tô hữu, cho nên có nhiều vấn-đề để Công-đồng này cần phải đặt ra, nhất là đặt trọng-tâm vào cách-thế có mặt của Hội-thánh trong thế-giới hiện-đại cùng với sự hiệp-nhất Ki-tô hữu.

Với hướng hàng đầu nhắm vào sứ-vụ truyền-giáo của Giáo-hội, Đức Giáo-hoàng Phao-lô VI đã có cách nhìn cởi mở và chịu đối-thoại với thế-giới bên ngoài như một sự canh-tân cần-thiết. Trước hết là phải kể đến chủ-trương đối-thoại với cộng-sản, với các anh em trong cộng-đồng Ki-tô giáo, với các tôn-giáo khác và ngay cả với những người không có tín-ngưỡng. Ngài cũng bãi-bỏ một số quy-chế trong tổ-chức của Giáo-hội như chuyển sinh-hoạt phụng-vụ từ tiếng La-tinh sang tiếng bản xứ; tổ-chức lại thành-phần nhân-sự trong nhiệm-vụ giữ trật-tự an-ninh của Tòa-thánh; giảm bớt con số cảnh-vệ gốc Thụy Sĩ; bỏ việc dùng vương-miện cũ của giáo-hoàng và các lễ-phục mang sắc-thái vương-giả cao-sang, vì ngài từng khẳng-định rằng…giáo hoàng không phải là một vị vua, nhưng là một giám mục, một mục tử, một nô bộc…Ngài cũng chấm dứt truyền-thống về nghi-thức mỗi khi khai-mạc Năm Thánh thì giáo-hoàng lấy búa đập vào bức tường che Cửa Thánh; ra quyết-định sau Năm Thánh 1975 không cho xây bức tường che Cửa Thánh trong đền thánh Phê-rô nữa.

Tưởng cũng cần mở ngoặc để nhắc đến ở đây một sự-kiện “để đời” nơi Giáo-hội Việt-Nam, thoát-thai từ Tông-hiến Laudis Canticum : vào ngày Lễ Các Thánh, 1-11-1970, Đức Phao-lô VI ban-hành Tông-hiến Laudis Canticum, chính-thức công-bố về việc dùng sách nguyện của Hội-thánh là Các giờ kinh Phụng-vụ…Bài Ca Chúc Tụng Thiên Chúa hằng vang dội muôn đời trên Thiên-quốc, đã được Chúa Giê-su Ki-tô, Vị Thượng-tế của chúng ta đưa vào trần-thế. Bài ca này, Hội-thánh không ngừng tiếp-tục hát lên, qua những hình-thức vô cùng phong-phú với một tấm lòng bền vững trung-kiên”. Và trong Tông-huấn này, có một sứ-điệp gửi đi “…Các Hội Đồng Giám Mục trong mỗi quốc gia có nhiệm vụ phải cho xuất bản sách này bằng tiếng nước mình…” đã là cơ-duyên cho một nhóm giáo-sĩ, linh-mục, tu-sĩ Việt-Nam được thể-hiện khả-năng Chúa cho mà phục-vụ Giáo-hội quê-hương mình. Đó là Nhóm Các Giờ Kinh Phụng-vụ ra đời vào năm 1971, với các thành-viên toàn là linh-mục, tu-sĩ có trình-độ cao về học-thức, về chuyên-môn, về ngoại-ngữ và cổ-ngữ; thậm-chí còn đã từng hay đang là Bề Trên Dòng, là Giám-tỉnh, là giáo sư Đại-chủng-viện…và tính cho đến nay cũng đã cống-hiến rất nhiều cho Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam.

Đức Phao-lô VI cũng bỏ truyền-thống lâu đời của các giáo-hoàng vốn không ra khỏi Vatican. Ngài đã thực-hiện hàng loạt các cuộc tông-du qua nhiều miền đất của thế-giới như những cuộc hành-hương và tuy mỗi chuyến đi mang mục-đích khác nhau nhưng tựu-trung cùng trong tâm-tình viếng thăm thế-giới vì lợi ích của con người. Ngài đến Jérusalem, Jordanie, Istambul…để gặp gỡ các thượng-phụ của Chính-thống-giáo Ðông-phương vì muốn cùng anh em ly-giáo hoà-giải bớt những bất-đồng gây phân cách, đã xin lỗi Thượng-phụ Bartholomeo của Constantinople và kết-quả đem lại là đã cùng Thượng-phụ Giáo-chủ Athenagoras của Giáo-hội Chính-thống Constantinople xé bỏ án tuyệt-thông mà cả hai đã gieo vạ lẫn cho nhau từ năm 1054. Ngài đến Hoa-kỳ để đọc diễn văn tại Đại Hội-đồng Liên-hiệp-quốc lên án chiến-tranh và kêu gọi hòa-bình thế-giới. Ngài gặp Giáo-chủ Hồi-giáo trong tinh-thần đối-thoại và Tổng Giám-mục Canterbury của Anh-giáo để giảm bớt sự xa cách từ một quá-khứ ly-khai. Đến Châu Mỹ La-tinh, Ấn-độ, Pakistan, Columbia, Philippine, Uganda, Bồ-đào-nha, Thuỵ-sĩ …và gặp nhiều nguyên-thủ các quốc-gia… cũng không ngoài mục-đích viếng thăm theo tinh-thần phúc âm hóa đời sống và Ki-tô hoá xã-hội. Ki-tô hoá không phải là rửa tội cho người ta vào đạo mà là thể-hiện tinh-thần bác-ái, huynh-đệ như Chúa Ki-tô dạy, là truyền-đạt Giáo-lý của Đức Ki-tô bằng tâm-tình đi tìm hoà-bình và công-lý cho con người. Là lên tiếng bênh-vực cho nhân-quyền, nhất là quyền làm người và quyền sống.

Ủy-ban “Công lý và Hòa bình” của Giáo-hội đã được lập năm 1967. Tiếp đến là Thông-điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) ban-hành vào ngày 25-7-1968, xác-nhận lại quan-điểm của Giáo-hội Công-giáo không chấp-nhận các phương-pháp ngừa thai nhân-tạo như ngài đã từng tuyên-bố… là chuyên-gia về nhân-loại, chúng tôi tôn trọng con người…Vào năm 1971, để cổ-võ việc đấu-tranh cho quyền-lợi các nước nghèo, Đức Phao-lô VI công-bố Thông-điệp “Phát triển các Dân tộc” …

Tóm lại, với thời-gian tại vị không lâu nhưng Đức Phao-lô VI đã làm việc trong sự mẫn-cán tuyệt-vời của một mục-tử yêu thương đoàn chiên; của người tự nhận mình là…chuyên-gia về nhân-loại nên đã không bỏ sót một khía cạnh nào thuộc đời sống con người…cho đến cuối đời …Nhưng bây giờ trong buổi hoàng-hôn sáng tỏ này cộng thêm với ánh sáng cuối cùng của buổi chiều, điềm tiên báo hừng đông muôn thuở, một tư-tưởng khác làm tôi bận trí, đó là nỗi lo-lắng phải làm sao lợi-dụng giờ thứ mười một, là sự vội-vàng phải làm một cái gì quan-trọng trước khi quá muộn. Làm thế nào để sửa lại những gì mình đã làm không tốt; làm thế nào để lấy lại thời-gian đã mất; làm thế nào để nắm được điều cần duy nhất trong giai-đoạn cuối cùng còn được chọn này… Con theo Chúa và con thấy rằng con không thể lẻn ra khỏi sân khấu cuộc đời này. Có hàng ngàn mối dây ràng-buộc con với cộng-đồng nhân-loại, với Hội-thánh. Những mối dây này tự chúng sẽ tan đi, nhưng con không thể quên được những người có liên hệ với con, chờ đợi con làm một vài bổn-phận cuối cùng…( Đỗ Xuân Quế. Suy-niệm của Đức Phao-lô VI về sự chết…trang 10…13)

Giờ đây, trong tâm-tình tín-thác nơi ơn vô-ngộ của Hội thánh và của những định-tín khi người đại-diện Thánh Phê-rô công-bố trên toà, xin Chân-phước Phao-lô VI sắp được nâng lên hàng Hiển-thánh, cầu-bầu cho dân-tộc Việt-Nam chúng con đủ sức mạnh thắng vượt cơn khốn-khó. Cho mọi anh em trong Hội thánh Công-giáo Việt-Nam chúng con và những người đang trong trách-nhiệm lãnh-đạo Chúa giao, biết theo được gương sống đạo và làm việc theo lương-tâm ki-tô hữu của ngài; xin cho tất cả những ai chỉ vì muốn cầu-an, sống vô-cảm, chối bỏ trách-nhiệm liên-đới với xã-hội, với anh em đồng-bào mà đã vô-tình hay cố ý lý-luận rằng khi nói đến việc đấu-tranh cho quyền-lợi người nghèo, cho người bị đàn-áp bất-công, đòi nhân-quyền, đòi tự-do tôn-giáo, đi tìm công-lý và hoà-bình…như ngài đã từng dấn-thân tìm kiếm là những việc phạm đến chính-trị. A-men

Vì sao đại án Thủ Thiêm vẫn không được giải quyết?

Vì sao đại án Thủ Thiêm vẫn không được giải quyết?

Người Thủ Thiêm

Các- Mác từng nói: Khi lợi nhuận tăng lên 100 phần trăm thì cha nó, nó cũng giết. Điều đó cũng có thể hiểu rằng, vì sao người ta bất chấp tình đồng loại, bất chấp đạo lý, bất chấp nghĩa nhân và luật pháp để đuổi hàng vạn người dân cố cựu ra khỏi Thủ Thiêm – vốn là nơi chôn nhau cắt rún của họ để nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân mà Chính phủ đã phê duyệt.

Không có gì khó hiểu khi bùn đen đã trở thành vàng, không có gì khó hiểu khi đất từ hai trăm ngàn đồng lên vài trăm triệu đồng trên mỗi mét vuông.

Trong những trang tiểu thuyết, những tuồng tích kiếm hiệp, thỉnh thoảng ta thấy xuất hiện những tay giang hồ hảo hớn chuyên cướp của người giàu để chia cho người nghèo. Ngay cả cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh cũng tịch thu đất đai của điền chủ để phân phát cho tá điền.

Vậy thì tại sao ngày nay, người ta nhân danh chính quyền của dân, do dân,vì dân, lại đi cướp đất của người dân khốn khổ để giao cho những đại gia bất động sản tiếp tục làm giàu? Điều nầy chỉ có những quan chức trong cuộc mới có thể tự lý giải với lương tâm (nếu có lương tâm) hoặc trả lời trước vành móng ngựa (nếu có thể lôi họ ra được vành móng ngựa).

Sau khi nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân, người ta lại tiếp tục cướp luôn phần đất đai và cả sự sống của những hộ dân nằm ngoài khu quy hoạch. Nghĩa là họ không thể để cho người dân lân cận được “ăn theo” môi trường sang trọng của khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Đúng là không còn cảnh người bóc lột người, như lời tuyên truyền sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.  Sau 45 năm được giải phóng, tới nay thì toàn xuất hiện những hình ảnh:  Lợi dụng chức vụ quyền hạn ăn cướp công khai nhà và đất ở của dân nghèo đem chia cho nhau để làm giàu trên mồ hôi, nước mắt, xương máu của dân nghèo.

Làm sao giải quyết được việc ăn cướp công khai này?

Lý giải được  ‘Vì sao không ai giải quyết được ĐẠI ÁN KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM’.

Hai ngày mỗi tuần, dân oan Thủ Thiêm và Trường Thịnh quận 2 vẫn tụ tập biểu tình trước Văn Phòng thành ủy, trụ sở UBND thành phố Hồ Chí Minh, Cục III thanh tra chính phủ, để tố cáo bọn ăn cướp…

Xin mời xem một số clip:

Vào trang này xem tin dân oan Thủ Thiêm và Trường Thịnh đòi đất. Tin cập nhật liên tục.

Xin phổ biến để khắp nới trên thế giới thấy mà đau!

Quảng Bình xây xong lại bỏ không

Quảng Bình xây xong lại bỏ không

VTC.VN|BY VTC NEWS
Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình được xây dựng với kinh phí đầu tư lên đến hàng chục tỷ đồng nhưng nhiều năm qua luôn trong tình trạng cửa đóng, then cài. 

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình được khởi công xây dựng từ năm 2003 và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng vào năm 2004 với kinh phí đầu tư khoảng 17 tỷ đồng do Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Quảng Bình (nay là Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì, đến năm 2010, công trình nhà chính của dự án nói trên mới hoàn chỉnh.

Từ đó đến nay, hàng năm, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình chỉ diễn ra một vài cuộc triển lãm được tổ chức ngoài sảnh, còn bên trong bảo tàng vẫn luôn trong tình trạng “cửa đóng, then cài” không thể phục vụ du khách.

– Dòng giống Lạc Hồng trên mảnh đất tự do.

Image may contain: 1 person, standing

– Dòng giống Lạc Hồng trên mảnh đất tự do.

(Bài viết của tác giả Nguyên Thạch)

Một chế độ đầy tàn bạo và nghịch lý sẽ dẫn đến hệ quả của một xã hội đầy nghịch lý, đầy dẫy oan khiên, oái ăm và hết thuốc chữa trên mọi phương diện. Đó là chế độ cộng sản và xã hội Việt Nam ngày hôm nay.

Hãy nhìn sang Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản… Các quốc gia này cũng thuộc Á Châu, cũng là người Châu Á nhưng do đâu họ có được những xã hội trật tự, tốt đẹp, không như ở Việt Nam. Tại sao? Câu trả lời đến giờ ai cũng biết: Do thể chế cùng với các chính sách, và nhất là vì các quốc gia này không theo chủ nghĩa cộng sản.

Cũng là người Tàu nhưng người Tàu ở Đài Loan, ở Singapore khác khẳn so với người Tàu ở Trung Hoa đại lục. Tương tự, những cây cam con Việt Nam mà hạt giống của nó đến từ những cây mẹ VNCH khi bị bứng ra khỏi đất nước, phải bám rễ vươn mầm ở Mỹ, ở Nhật, ở Úc, ở Pháp… đã trở thành những trái cam ngọt.

Hãy đơn cử vài người làm thí dụ như trường hợp nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, bà Giao Phan, là một phụ nữ gốc Việt là vị Tổng giám đốc điều hành chương trình đóng tàu sân bay mới của Mỹ. Tuổi trẻ hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa như Thiếu tướng Lương Xuân Việt đã làm sáng danh dòng giống Lạc Hồng khi ông được tham mưu trưởng Lục Quân Hoa Kỳ bổ nhiệm làm tư lệnh Lục Quân và Quân Đoàn 1 của Hoa Kỳ tại Nhật.

Ngoài những nam hào, nữ kiệt điển hình như đã nêu tên thì còn rất nhiều tuổi trẻ tài năng nam nữ khác đã thành công và được trọng vọng ở các quốc gia tiên tiến khác trên khắp thế giới:

Philipp Roesler – Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ thương mại liên bang trẻ nhất nước Đức, và cũng như là người gốc Việt đầu tiên làm bộ trưởng tại một quốc gia Châu Âu.

Nguyễn Tường Khang – 12 tuổi được mời thỉnh giảng tại trường đại học Virginia, Hoa Kỳ.

Tiến sĩ Võ Tá Đức – Một thiếu niên đạp xích lô ở Việt Nam
trở thành một khoa học gia nghiên cứu vật lý nguyên tử ở Mỹ.

Nhìn về Việt Nam dưới ách toàn trị độc tài của đảng CSVN, những thanh niên, thiếu nữ cũng mang dòng máu Lạc Hồng, cũng thông minh không thua gì những người cùng thế hệ đang sống ở nước ngoài, nhưng họ cũng chỉ có thể “vươn mình” thành những anh đạp xích lô hoặc là lớp nông dân dầm mưa dãi nắng với tương lai mờ mịt, hay là những cô dâu Đài Loan, những Osin nơi xứ lại quê người. Chắc chắn rằng cũng những con người ấy nếu ở Mỹ, ở Canada, Úc, Anh, Đức, Pháp… trong số họ cũng sẽ có những Dương Nguyệt Ánh, những Giao Phan, những Võ Tá Đức, những Lương Xuân Việt.

Trên mảnh đất cộng sản, với lý lịch cha là sĩ quan “Ngụy” thì nếu kẹt lại ở VN, Lương Xuân Việt chỉ có quyền thất nghiệp hay đi làm nghề tự do hoặc lang thang chứ chưa chắc gì đã được đi nghĩa vụ quân sự để làm lính trơn thôi chứ chưa dám mơ tới được là tướng VC. Muốn có đủ tiêu chuẩn để làm quan, làm tướng Việt Cộng thì phải hội đủ 4 điều kiện: Lý lịch bần cố nông, dại, hèn và tham. Cho nên Hồ Chí Minh cùng ĐCSVN nới đưa ra tiêu chí “Hồng hơn Chuyên” là vậy.

Trên mảnh đất cộng sản, những con người mang dòng máu Lạc Hồng kiêu hãnh đã bị các chính sách ngu dân để trị của ĐCSVN biến thành những con người lớn mà chưa không, hùng nhưng chưa dũng.

Hãy nghe một ông chủ hãng người Nhật giảng giải cho những công nhân Việt Nam của một công ty do ông ta làm chủ đại khái rằng: Các bạn đã lớn, đã đủ tuổi và đủ sức làm việc, tuy đã lớn nhưng các bạn chưa đủ khôn. Này nhé, khi trong số công nhân của các bạn ăn cắp những vật dụng của hãng thì các bạn có nghĩ rằng vì tệ nạn ăn cắp quá phổ thông đó nên tôi đã trả lương cho các bạn thấp để trừ vào các khoản bị mất mát đó mà chúng tôi vẫn còn lời hơn nhiều. Thay vì hãng chúng tôi trả cho các bạn 10 triệu một tháng, thì chúng tôi đã cắt đi một nửa 5 triệu, vậy các bạn chỉ lãnh được 5 triệu. Thế thì các bạn hãy trả lời tôi, ai khôn hơn ai?

Còn cái hùng thì sao? Hình ảnh khá phổ thông ở xã hội Việt Nam ngày nay, giờ đây những cảnh ngáo đá, cướp giật, kênh kiệu, gây gỗ, đâm chém nhau nhan nhãn giữa thanh thiên bạch nhật, nó không chỉ xảy ra ở các thành phố đông người mà còn xuất hiện ngay cả ở những thôn quê hẻo lánh. Hẳn chúng ta cũng đã nghe tận tai, thấy tận mắt những cảnh giật bóp, giật dây chuyền, cướp xe ngay giữa ban ngày, những cảnh rượt nhau chém tận mạng chỉ vì những cái cọ quẹt xe cộ, hoặc vì những nét nhìn thiếu thiện cảm cho bọn côn đồ. Đây là những nét tuy cá biệt nhưng hiện trạng này đang có xu hướng tràn lan rộng khắp như trộm cắp, xì ke ma túy đã khiến toàn bộ xã hội lo ngại vô cùng. Còn trạng thái xã hội thờ ơ vô trách nhiệm của đại đa số dân chúng trước hiện tình đất nước đã và đang mất dần đất đai, biển đảo, tham nhũng, nhũng nhiễu, độc tài đứng trên luật pháp của ĐCSVN và guồng máy cầm quyền thì người dân hầu hết dân chúng không dám xuống đường tỏ thái độ phản kháng.
Nhưng xin đừng lên án 90 triệu người dân đang phải sống dưới ách cai trị cộng sản. Trong một môi trường sống lành mạnh, dưới một chính thể Dân Chủ Nhân Quyền và Nhân Bản thì chính họ sẽ là những lớp thanh niên đúng nghĩa. Họ sẽ là những thanh niên vệ quốc với đầy đủ khí khái của những công dân bảo vệ quốc gia, và sẽ không bao giờ chịu khuất phục với giặc ngoại bang Tàu cộng.

Chính tà quyền cộng sản đã giết chết khí phách hùng anh và đầu độc tâm hồn của họ từ lúc họ vừa mới chào đời cho đến khi trưởng thành.

Do đó, nhìn lại… Nếu, một cái nếu đầy oan nghiệt với vô vàn đau xót, là giá như ngày mất nước 30 tháng Tư 1975, miền Nam đã chiến thắng CSBV thì ngày ấy hẳn đã không là ngày Quốc Hận, mà là Quốc Hỉ, ngày khởi đầu để toàn dân của cả 2 miền Nam Bắc cùng nhau đưa đất nước Việt Nam tuy chưa chắc là là hơn hẳn Nhật Bản, Singgapore, Nam Hàn, Đài Loan nhưng ít ra là không chạy theo ngửi khói Thái Lan, Philipines, Mã Lai và thậm chí ngay cả Miên, Lào. Đó là điều khác biệt cơ bản giữa Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền và độc tài cộng sản. Hay nói rõ ràng hơn nữa là cả nước sẽ ngẩng mặt cho nét vinh quang tự hào về VNCH thay vì ngoảnh mặt thờ ơ dưới cái chế độ cùn mạt với tên gọi CHXHCNVN mà đại đa số tuy có lớn nhưng chưa khôn, tuy có anh hùng nhưng còn vắng bóng trí, dũng.

Và nếu không có cái ngày oan nghiệt 30/4 thì đất nước Việt Nam ngày hôm nay chắc chắn sẽ có hàng ngàn, hàng vạn Dương Nguyệt Ánh, Lương Xuân Việt trong số 90 triệu người Việt Nam hiền hoà, nhân bản.

Để kết thúc, người viết mạn phép trích đăng lại bài thơ của cô giáo Trần Thị Lam, một nhân chứng sống trong lòng chế độ xã nghĩa ưu việt này.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Đất nước mình ngộ quá phải không anh 
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn 
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm 
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh 
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ 
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ 
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh 
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc 
Rừng đã hết và biển thì đang chết 
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh 
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại 
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải 
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh 
Anh không biết em làm sao biết được 
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước 
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

Trần Thị Lam
Trường PTTH chuyên Hà Tĩnh.

VN: Quanh than phiền về lối viết báo ‘theo chỉ đạo’

Van H Pham
VN: Quanh than phiền về lối viết báo ‘theo chỉ đạo’

Dư luận Việt Nam mới đây ồn ào về hai bài viết trên báo nhà nước, mà họ cho là điển hình của lối viết báo ‘theo chỉ đạo’.

Đó là hai bài viết về hai lãnh đạo quốc gia, Tổng thống Mỹ Donald Trump, đăng trên báo Tuổi Trẻ, và về cố Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang, trên báo Phụ nữ.
‘Sự đơn độc của ông Trump’

Bài viết trên báo Tuổi Trẻ với tiêu đề “Ông Trump đơn độc tại Liên Hiệp Quốc” ngày 27/9 ngay lập tức gặp phải phản ứng từ cộng đồng mạng

“Phát biểu không giống ai tại Phiên họp cấp cao Đại hội đồng LHQ đang diễn ra tại New York, Tổng thống Mỹ Donald Trump đơn độc và hứng chịu phản ứng gay gắt từ nhiều phía,” bài viết có đoạn.

Tác giả bình luận rằng bài phát biểu thứ hai của ông Trump trong phiên họp “được cho là đã ‘vả thẳng’ và trật tự thế giới”. Và rằng “Như thể đang phát biểu trước quần chúng cả nước chứ không phải các nguyên thủ quốc gia, ông Trump khẳng định nước Mỹ đã trở thành “một quốc gia mạnh mẽ, an toàn và giàu có hơn” kể từ khi ông nắm quyền”.

Để chứng minh ông Trump ‘đơn độc’, tác giả bài báo đưa ra hai ví dụ: Tổng thống Pháp chỉ trích các chính sách của chính quyền Trump và Tổng thống Iran chỉ trích lệnh trừng phạt kinh tế của ông Trump.

Để minh họa, bài báo đăng tấm ảnh ông Trump đang ngồi một mình trên ghế.

Phản ứng về nội dung bài báo này, bạn đọc Vỹ Đặng viết trên Facebook: “Tôi thấy bài báo này đơn độc! Nếu Tuổi Trẻ tiếp tục như thế này, thì Tuổi Trẻ sẽ đơn độc!”

Bình luận của Vỹ Đặng lập tức nhận được hàng ngàn lượt like, chia sẻ và bình luận.

Facebooker Bùi Thanh Tuấn Anh Vỹ viết: “cái quan trọng là ổng nói và làm được những gì. Em đã thấy ông ta như một thanh nam châm mà thế giới đang bị hút vào. Ông ta không hề đơn độc như báo Tuổi Trẻ nói.”

Một người tên Dinh Bac thì cho rằng “thời hạn ba tháng [đình bản] hết không phải đương nhiên Tuổi Trẻ Online sẽ có lại, phải nịnh một chút chứ… thông cảm cho người ta, chết cũng làm ma xứ này!”

Facebooker Thanh Sơn bình luận: “Truyền thông Việt Nam ngày càng lộ rõ bộ mặt tiêu cực. Xuyên tạc, nói sai sự thật cũng như bưng bít. Những hình ảnh của lãnh đạo Việt Nam bị phản đối khi ra nước ngoài thì không thấy. Ngẫm mà bái phục truyền thông Việt Nam.”

Người có tên Phong Hoàng Thanh cho rằng “viết báo theo chỉ đạo thì chỉ có vậy” còn Ngọc Tú Đoàn Nguyễn thì nói “Buồn cho người cầm bút”.

Một số tài khoản Facebook khác, như Huân Cao Tưởng, tỏ ra thất vọng về tờ báo từng được cho là uy tín nhất Việt Nam: “Tuổi trẻ thế nào, thì ra cũng chỉ tầm thế này.”

Trong khi đó, Nguyên Tống Dân nói “người dân giờ đọc và nghe tiếng Anh lõm bõm rồi Tuổi trẻ ạ. Không phải thời thích nói gì thì nói nữa đâu.”

Một số người khác tỏ ra rất bất bình, như một tài khoản tên Việt Hoàng, với đề nghị “tờ này [báo giấy] cũng nên đình bản như Tuổi trẻ online thôi”.

Luật sư Lê Công Định, trong một bài viết trên Facebook cá nhân, bình luận rằng dẫu ông Trump có ‘đơn độc’ tại Liên Hiệp Quốc như Tuổi Trẻ viết, thì “tư tưởng loại bỏ dứt khoát chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội của ông được toàn dân Việt Nam đồng thuận và cảm kích.”

Hồi tháng Bảy, báo Tuổi Trẻ Online bị Bộ Thông tin và Truyền thông đình bản ba tháng do đăng phát ngôn của cố chủ tịch Trần Đại Quang về luật Biểu tình, dù sau đó đã sửa nội dung.

Hôm thứ Ba 25/9, Tổng thống Donald Trump vừa có bài phát biểu tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (UNGA) nơi ông nhắc đến những thành tựu mà chính quyền của ông đã đạt được “chỉ trong chưa đầy hai năm”, sự cần thiết phải thay đổi hệ thống thương mại thế giới và tình hình khủng hoảng ở Venezuela mà theo ông là do chủ nghĩa xã hội gây ra.

Ông Trump nói rằng “Gần như ở nơi nào mà chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản đã được thử nghiệm, chúng cũng gây ra đau khổ, tham nhũng và mục nát. Cơn khát quyền lực của chủ nghĩa xã hội dẫn đến sự bành trướng, thôn tính và đàn áp. Tất cả các quốc gia trên thế giới cần chống lại chủ nghĩa xã hội và sự bần cùng mà nó mang lại cho tất cả mọi người.”

Bài phát biểu của ông Trump đã nhận được sự ủng hộ của giới bất đồng chính kiến tại Việt Nam.
********

‘Đèn đom đóm của ông Quang’

Cách đó khoảng một tuần, cư dân mạng cũng phản ứng với bài viết trên báo Phụ nữ Việt Nam nhan đề “Vĩnh biệt cậu học trò nghèo bắt đom đóm làm đèn học”, đăng tải sau ngay khi cố chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời.

Bài viết có đoạn: “Trong mắt người thân, Chủ tịch nước Trần Đại Quang là một học trò siêng năng từ tấm bé. Gia đình khó khăn, cậu học trò ấy từng phải bắt đóm đóm vào vỏ trứng làm đèn học tới đêm thâu…”

Nhiều ý kiến bình luận rằng dù để tỏ lòng thương tiếc vị chủ tịch nước thì tác giả bài báo cũng không nên viết ‘phi thực tế’ như vậy vì có thể làm ảnh hưởng thanh danh chủ tịch.

Luật sư Lê Ngọc Luân bình luận trên Facebook cá nhân rằng “Nếu là người thân, tôi sẽ đề nghị gỡ bài báo dưới đây.”

Ông Luân giải thích: “Thú thật, ngày xưa tôi nghe ba mẹ nói bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng học sẽ giỏi và tôi cũng tin nên bắt bỏ vào trứng khiến nó chết vì thở thông nổi. Sau này lớn lên mới biết đó chỉ là câu chuyện dân gian khích lệ sự hiếu học mà thôi.”

“Chỉ trách tại sao người cầm bút lại có thể viết ra những dòng như thế. Họ không biết thẹn lòng mình hay sao?”

Nhà báo Nguyễn Như Phong thì đặt câu hỏi về ‘tư duy của nhà báo’ ngày nay. “Hình như người viết không biết phân tích, đánh giá độ thực hư của câu chuyện kể.”

“Tại sao chuyện ca ngợi những tấm gương hiếu học có từ thời xửa thời xưa mà ví dụ hay được dẫn nhất là “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng làm đèn”, hoặc luyện viết chữ Hán đến nỗi ” lõm viên gạch lát sân”… nay dám “gán” vào cho Chủ tịch Trần Đại Quang?”

“Phải hiểu đó là những giai thoại. Và chuyện người ta kể chủ tịch bắt đom đóm làm đèn cũng chỉ nên coi là giai thoại.”

Ông Phong cũng kể kinh nghiệm cá nhân thời đi sơ tán, khi ông học lớp Năm, từng bắt đom đóm bỏ vào vỏ quả trứng nhưng “thật thất vọng vì ánh sáng lập lòe xanh nhợt của con đom đóm chẳng xuyên qua được vỏ trứng để đủ làm thành ‘ngọn đèn’.

“Ca ngợi Chủ tịch nước hiếu học thì thiếu gì dẫn chứng, thiếu gì chi tiết… Còn lấy chuyện bắt đom đóm làm đèn, chỉ làm tổn hại thanh danh chủ tịch mà thôi,” nhà báo Nguyễn Thanh Phong kết luận bài viết trên Facebook cá nhân.

Nhiều Facebooker khác cũng chia sẻ kinh nghiệm ‘bắt đom đóm’ tương tự. Như cây bút Hằng Thanh viết hồi bé từng bắt đom đóm cho vào lọ thủy tinh nhưng ‘không sáng’, dù thử nghiệm nhiều lần.

“Dạo này xuất hiện thứ báo chí thiệt là kinh dị khiến người được viết cũng lạy cả nón,” Facebooker này viết.

Cầu kỳ hơn, Facebooker có một bài phân tích dài về độ sáng, đặc tính sinh học và mùa xuất hiện của đom đóm.

Văn Song Nguyễn tính toán và cho rằng để có độ sáng như bóng đèn sợi đốt 60W sẽ cần 28.622 con đom đóm!

Hơn nữa, ánh sáng của đom đóm “không đồng nhất thành một dải mà thay đổi theo tần suất lập lòe của nó. Nên cái đèn đom đóm sẽ nhấp nháy liên tục. Mà nó lại nằm trong vỏ trứng thì không đủ sáng liên tục được… “

“Đom đóm chỉ xuất hiện vào mùa hè… Mà mùa hè thì xưa nay học sinh nghỉ học.”

Tuy nhiên cũng có lác đác một vài ý kiến ủng hộ, cho rằng việc học bằng đèn đom đóm là có thật.

Nhà báo Phạm Trung Tuyến viết trên Facebook rằng ở quên thời xưa trẻ em nào cũng quen với việc bắt đom đóm làm đèn và ai “không tin đèn đom đóm có thể đọc sách, kể cũng là một sự thiệt thòi.”

Cây bút Thinh Nguyen cũng chia sẻ rằng bản thân đã từng ngồi học bằng ánh sáng đom đóm những ngày nhà hết dầu, và những người phản đối chuyện này “hầu hết là những người chưa trải qua thời kỳ đó”.

‘Không kiểm duyệt’ nhưng có ‘định hướng’

Không phải ngẫu nhiên mà dư luận cho rằng truyền thông Việt Nam ‘viết theo chỉ đạo’.

Để kiểm duyệt thông tin trên mạng internet, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã xây dựng một đội ngũ hàng ngàn người gọi là Lực lượng 47 để đối phó với những “quan điểm sai lầm” và “tuyên truyền chống nhà nước”.

Theo một báo cáo của tổ chức Freedom House năm 2016, môi trường truyền thông của Việt Nam là một trong những môi trường khắc nghiệt nhất ở châu Á, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam kiểm soát mọi kênh truyền thông và có ‘quy chế hoạt động’ cho các toàn soạn báo.

“Đảng Cộng sản thường xem các phương tiện truyền thông như một công cụ để quảng bá chính sách của đảng và nhà nước, và chính quyền thường can thiệp trực tiếp vào nội dung.”

“Các cuộc kêu gọi cải cách dân chủ và tự do tôn giáo, các bài báo về tham nhũng của quan chức cấp cao, về tranh chấp quyền sử dụng đất và chỉ trích mối quan hệ với Trung Quốc là những vấn đề phổ biến nhất để bị kiểm duyệt hoặc trừng phạt.”

“Trước nguy cơ bị sa thải hoặc mắc vào các vấn đề về pháp lý, nhiều nhà báo đã thực hiện “tự kiểm duyệt”, báo cáo của Freedom House cho hay.

Chính quyền Việt Nam bác bỏ những điều này.

Trong phiên chất vấn Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn, ngày 17/11/2017, ông Tuấn nói: “Tôi khẳng định Việt Nam không có chế độ kiểm duyệt báo chí”, theo VnExpress.

Tuy nhiên ông cũng cho hay rằng Ban Tuyên giáo Trung ương “thực hiện công tác định hướng báo chí theo điều lệ, nghị quyết của Đảng; theo Hiến pháp và quy định pháp luật liên quan”.

About this website

 

BBC.COM
Cộng đồng mạng Việt Nam mới đây ồn ào về hai bài viết trên báo nhà nước, mà họ cho là điển hình của lối viết ‘theo chỉ đạo’.