Mấy chuyện nho nhỏ!

Mấy chuyện nho nhỏ!

Tiểu Tử

1

Hôm đó, trên đường về nhà, tôi gặp một người đàn ông Pháp cỡ bốn mươi tuổi ăn mặc đàng hoàng, kè theo hỏi:

– Xin lỗi ! Ông là người Tàu hay người Việt Nam ?

Tôi dừng lại, ngạc nhiên, trả lời:

– Tôi là người Việt Nam.

Ông ta mừng rỡ:

– Vậy, có phải trưa hôm qua, ông đã đỡ một bà cụ té ở chỗ này không?

Tôi càng ngạc nhiên thêm:

– Không! Tôi không có đỡ ai hết!

Tôi trả lời mà nghĩ đến mấy chuyện ra tay cứu người rồi mang vạ vào thân vì sau đó nạn nhân quay lại thưa người cứu mình đã lấy tiền lấy đồ.. v v …

Có lẽ đoán được ý nghĩ của tôi nên ông ta mỉm cười ôn tồn nói:

– Ông yên tâm! Không có chuyện gì rắc rối hết. Tôi chỉ muốn tìm người Việt Nam đã đỡ mẹ tôi thôi. Bà cụ đó là mẹ của tôi, thưa ông.

– Vậy à! Nhưng mà tôi nói thật: Hôm qua, vào giờ này tôi có đi qua đây, không thấy ai té hết. Mà… bà cụ có sao không ?

– Cám ơn ông, Mẹ tôi không có sao hết.

Rồi, không đợi tôi hỏi, ông kể lại những gì mà mẹ ông đã kể cho ông nghe… Hôm qua, bà cụ đi thăm một bà bạn. Bà đi qua lối này để về nhà. Đây là ngõ đi tắt duy nhứt dẫn qua khu nhà bà ở. Khi đến khoảng đất trống có bốn trụ đèn đường, bà trợt chân té. Lúc đó, cũng có mấy người hấp tấp qua lại, họ quay đầu nhìn nhưng rồi bỏ đi luôn. Một người đàn ông Á Đông, đã đi qua rồi, thấy vậy chạy trở lại đỡ bà đứng lên, lượm cái xắc da mang chéo vào người bà, ân cần hỏi bà có sao không ? Bà bước thử vài bước, nói không sao, rồi kể rằng già rồi, đi thì được, chỉ có ngồi xuống đứng lên mới là khó. Ông ta tỏ vẻ ái ngại, bước lại cập tay bà nói để dìu bà về. Hai người đi như vậy một lúc, bỗng bà hỏi ông người Tàu hả, ông trả lời rằng mình là người Việt Nam. Mắt bà sáng lên, bà nói bà có bà bạn năm nào cũng đi du lịch Việt Nam vào dịp đầu năm, bả nói xứ ông đẹp lắm rẻ lắm, dân chúng hiếu khách dễ thương …

Đến một đoạn đường ngắn, bà cụ bỏ tay ông Việt Nam, bước một mình vừa đi vừa nói tôi đi được ông khỏi lo, tôi ở đường Colette gần đây, còn ông, ông ở đâu? Ông đó nói tôi ở khu xa hơn, phía bên kia trường học, ngày nào cũng đi và về bằng ngã này. Bà cụ đi một đỗi nhìn lại thấy ông Việt Nam còn đứng nhìn theo coi bà cụ có thật sự đi một mình được không! Tối đó, bà kể chuyện cho người con nghe, rồi sực nhớ ra, bà nói: “Chúa ơi! Tao quên nói cám ơn ông ta!”. Vậy là bà cụ bắt người con hôm sau ra lối đi tắt chận hỏi từng người Á Đông để tìm ngưởi Việt Nam đã đỡ bà chỗ “khoảng trống có bốn trụ đèn”, tìm để chỉ nói lời cám ơn mà bà đã quên nói hôm qua!

Kể xong, ông nắm tay tôi siết nhẹ. Rồi ông nhìn tôi, mắt đầy thiện cảm, nói: “Cám ơn!”. Tôi bước đi, lòng lâng lâng hãnh diện, mặc dầu tôi biết rằng lời cám ơn đó không phải cho tôi mà là cho chung hai chữ “Việt Nam” …

2-

Năm 2006, vợ tôi về Việt Nam lo ma chay cho má tôi. Sau đó, bả được mấy đứa cháu chở đi Châu Đốc viếng Chùa Bà.

Cúng vái xong, ra đến cổng chùa thì có một đám bé gái độ mười hai mười ba tuổi bu lại chen lấn nhau xin tiền. Một đứa đứng gần vợ tôi, có vẻ lanh lợi nhứt, xè tay nói một hơi có ca có kệ: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Đài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5000 đồng, con… ”

Trên đường về, vợ tôi miên man suy nghĩ về mấy đứa nhỏ đó: Không có tiền để đi học, còn quá nhỏ để có một cái nghề, và chắc nhiều đứa – rất nhiều đứa – chỉ ước ao lấy được chồng Đài Loan khi mình lớn lên một chút! Rồi vợ tôi thở dài…

Nghe kể mà tôi thấy thương quê hương tôi vô cùng. Trước đây, dù có nghèo đi mấy cũng chưa bao giờ tệ đến như vậy! Viết lại chuyện này mà tôi nghe rát từ đáy lòng rát lên khóe mắt …

ĐẠP XÍCH LÔ

Trung đã cao lớn lại ham chơi thể thao và tập thể dục đều đặn nên anh ta rất “đô” con. Đi với tụi bạn đồng nghiệp người Pháp hay người da đen, Trung là người Việt Nam mà vóc dạc ngang ngửa với tụi nó. Có đứa nói giỡn: “Thằng này, nó ăn phở không mà nó lớn con như vậy. Nếu nó ăn bánh mì “xúc xích – phô mai” như mình chắc nó thành ông khổng lồ quá!”.

Cách đây hai năm, Trung về thăm Việt Nam. Đó là lần đầu tiên anh về. Tôi không có dịp gặp anh để hỏi thăm. Mãi đến gần đây tình cờ gặp nhau ở khu 13 Paris, anh mới kể cho tôi nghe chuyến về Việt Nam của anh lần đó. Tôi xin ghi lại chuyện nhỏ sau đây …

… Con qua Pháp với ba mẹ hồi con mới năm tuổi, bây giờ về, thấy cái gì cũng lạ! Cho nên con dành mấy ngày đầu để đi vòng vòng cho biết Sài Gòn. Con nhờ anh tiếp viên của khách sạn kêu cho con một anh xích lô bao chạy một ngày. Vậy là sáng hôm sau, đúng theo lời con dặn, anh tiếp viên gọi con dậy bằng điện thoại cho hay xích lô đang đợi, đồng thời cho biết luôn số tiền thuê bao. Con đếm số tiền rồi để riêng vào một túi quần, con muốn tránh móc bóp đếm tiền trước mặt mọi người sợ bọn lưu manh nó giựt. Con xuống tới quầy thì anh tiếp viên vui vẻ chỉ ra phía trước. Con cám ơn rồi bước ra ngoài. Thấy con, ông xích lô đang ngồi chồm hổm trên vỉa hè vội vã đứng lên chấp tay chào. Tự nhiên, con khựng lại, mặc dù ông ta đang đón con bằng một nụ cười rạng rỡ. Bác biết không? Ổng già khú, ốm nhom, nhỏ xíu. Cái nón vải đen ổng đội, đã rách bươm. Còn bộ đồ trên người ổng, con không biết tả làm sao cho bác thấy. Nó là cái áo bà ba xanh dương vá chầm vá đụp và không còn hai ống tay! Còn cái quần ka-ki là loại quần dài đã bị xé mất hai khúc ống cỡ ngang đầu gối, một bên cao một bên thấp. Đó! Ông xích lô của con đó! Bác coi: Con như vầy thì nỡ lòng nào lên ngồi cho ông già ốm nhom đó đạp xe đưa con đi. Mà liệu ổng có đạp nổi một ngày cho con xem chỗ này chỗ nọ không? Con định hồi không đi nhưng nghĩ lại tội nghiệp ông già. Cái cười tươi rói của ổng cho thấy là ổng đang “trúng mối lớn”. Con bước lại bắt tay ổng, móc túi đưa tiền, nói: “Đây, tiền công của bác trọn ngày nay đây!”. Ổng mừng rỡ, móc trong lưng ra một túi vải miệng có dây rút, run run tay mở ra cho tiền vào. Con hỏi: “Bác không đếm sao?”. Ổng cười, nhìn con: “Khỏi! Hổng lẽ cậu như vầy mà đi ăn gian tui sao?”. Rồi ổng xăng xốm chạy lại kềm phía sau xe, mời: “Cậu lên ngồi, đi!”. Con lắc đầu: “Không! Bác lên ngồi đi, để tôi đạp!”. Nụ cười của ổng tắt mất: “Ủa! Gì kỳ vậy?”. Con giải thích: “Tôi như vầy mà để cho bác đạp, coi sao được!”. Ổng vỗ vỗ lên yên xe: “Tôi đạp được! Bảo đảm! Cậu đừng lo! Cậu lên ngồi đi! ”. Con nghĩ chắc ổng sợ con chê ổng rồi không đi, lấy tiền lại, nên con ôn tồn nói: “Bác yên tâm. Bác cứ giữ số tiền tôi đưa, rồi lên xe ngồi. Tôi đạp từ từ”. Ổng bắt đầu nhìn con nửa ngạc nhiên nửa hốt hoảng. Để khỏi cù cưa, con bước lại đưa hai tay cặp eo ếch của ổng nhấc bổng lên đặt vào chỗ ngồi của khách. Ổng nhẹ đến nỗi cái xe không nhúc nhích! Rồi con trèo lên đạp đi. Ông già cứ nhìn ngược về phía sau, lo lắng: “Cậu liệu được không cậu?”. Con vui vẻ trả lời cho ông yên tâm: “Được mà… Dễ ợt hà!”. Con men theo lề đường đạp chầm chậm để tránh luồng xe chạy ồ ạt trên lòng đường. Thiên hạ nhìn con chở ông già, cười nói chỉ trỏ. Ông già ngồi không yên, lâu lâu ngoáy nhìn lại coi con ra sao! Có lẽ vững bụng nên không nghe ổng nói gì hết. Một lúc sau bỗng ổng la lớn: “Quẹo mặt! Quẹo mặt! Khúc này cấm xe xích lô!”. Từ đó, ổng chỉ cho con chạy: “Từ từ… Đằng trước có xe đậu. Khi nào kềm bằng chân không nổi thì kéo thắng ở dưới đít… .” Có lúc thấy con xiên xiên định quẹo vô một con đường nằm ngang, ổng la lên: “Đừng! Đừng! Đường cấm xe xích lô!”… Và như vậy, con đạp đi loanh quanh, nhìn ngang nhìn ngửa, yên chí có ông già coi chừng đường nhắc trước con phải làm gì… làm gì… Gần trưa, con tấp vô một quán phở, nói: “Mình vô ăn cái gì đi”. Ổng nói: “Cậu vô ăn đi, tôi không đói”. Con kéo tay ổng để cùng đi vào tiệm, ổng rị lại: “Thôi mà cậu! Tôi lạy cậu mà cậu! Cậu để tôi ngồi ngoài này giữ xe!”. Rồi ổng gỡ tay con ra, bước lại vệ đường ngồi chồm hổm bên cạnh xe xích lô, vấn thuốc hút. Trong quán, con nhìn ông già mờ trong khói thuốc sao bỗng nghe bất nhẫn vô cùng. Không còn lòng dạ đâu để ăn phở, con kêu tách cà phê uống đại rồi đi ra. Thấy con, ổng quăng điếu thuốc, đứng lên vẻ ngạc nhiên: “Ăn gì mau vậy cậu?”. Con nói trớ: “Thấy không ngon nên không ăn”. Rồi con nói tiếp: “Bây giờ, tôi trả xe lại cho bác đó! Bác cứ giữ nguyên số tiền tôi đưa hồi sáng, đừng thắc mắc. Tôi đi bộ chơi lanh quanh được rồi”. Nói xong con bước đi, lâu lâu ngừng coi cửa hàng này cửa hàng nọ. Thấy ông già cứ đạp xe rề rề đi theo, con bèn gọi một xe Honda ôm đang đợi khách ở ngã tư đường, trèo lên “ôm” đi thẳng!

Kể xong, Trung hỏi: “Nhà nước đang có lịnh cấm sử dụng xe xích lô xe ba gác, không biết bây giờ ông già đạp xích lô sẽ sống làm sao, hả bác?”. Tôi nói: “Ờ…”. Rồi nín luôn. Một cách trả lời để không trả lời!

-3

Một ông bạn ở Paris cho tôi uống một thứ trà Tàu đặc biệt ổng đem từ bên Mỹ về. Ổng cầm cái hộp vuông màu xanh ve chai đưa lên khoe: “Trà này bên nây chưa có. Nó tên là Trà Vương. Hộp 150 gr này tôi mua bên Mỹ giá là 15 đô đó!”.

Trà ngon thiệt! Vị ngọt phớt chớ không đắng hay chát như loại trà Tàu khác và nhứt là mùi thơm rất “vương giả” chớ không phải mùi lài hay sói hay sen như thường thấy. Uống cạn chén trà, hương trà còn đọng lại trong đáy chén phất lên mũi gợi thèm mùi vị đặc biệt này! Ông bạn tôi nói Trà Vương có nhiều số, nhưng số 103 là ngon nhứt!.

Tôi đã đi lùng sục ở Paris nhưng không thấy bán loại Trà Vương này. Một hôm, đi với vợ tôi ở khu 13 chợ Tàu, tôi chợt thấy một bà Á đông cầm một hộp vuông màu ve chai vừa quơ quơ ra dấu vừa nói chuyện với hai bà khác cùng ngồi trên băng gỗ vỉa hè. Tôi bước lại nhìn: Thì ra đúng là hộp Trà Vương! Mừng quá! Nghe mấy bà đó nói tiếng Việt Nam nên tôi hỏi ngay: “Phải Trà Vương không bà?”. Bả quay qua tôi, trả lời cụt ngủn: “Ờ! Mà hết rồi!”. Rồi quay về tiếp tục nói chuyện với hai bà kia. Tôi chen vào: “Xin lỗi! Bà mua ở đâu vậy?”. Lần này, không quay lại nhìn tôi nhưng bả vẫn trả lời: “Mà tôi nói hết rồi!”. Tôi không dám cười, sợ bả bị chạm tự ái. Tôi vẫn ôn tồn hỏi: “Dạ! Nhưng xin bà làm ơn cho tôi biết bà mua ở đâu vậy?”. Bả nhìn tôi, chắc coi tôi có… khùng không mà cứ lải nhải hỏi hoài. Rồi bả cầm cái hộp lia lia về hướng phía dưới con đường một chiều: “Dưới kia kìa”. Tiếp theo là bả gằn từng tiếng: “Tôi-nói-hết-rồi!”. Tôi cám ơn rồi kéo vợ tôi đi “mò” dài dài xuống “dưới kia kìa”, tiệm nào cũng vô kiếm Trà Vương! Khi đi gần … rã chân thì vào một siêu thị lớn. Họ nói: “Có!. Nhưng mà hết rồi!”. Hỏi chừng nào có nữa, họ trả lời không biết! Thì ra bà già hồi nãy nói đúng. Bả đã tốt bụng “nói cho thằng chả biết là hết rồi để thằng chả khỏi phải lội xuống tuốt dưới kia xa thấy mồ chớ bộ”!

Các bạn có thấy chuyện nhỏ này dễ thương không? Bà già đó, cho dầu có lưu vong ở chân trời góc biển nào đi nữa, bà vẫn giữ nguyên phong cách Việt Nam. Trân quý lắm, các bạn à !

-3

Má tôi mất vào ngày đưa Ông Táo. Thằng con lớn của tôi đi với má nó về Việt Nam lo ma chay. Ông thầy làm đám (phái Cổ Sơn Môn thường gọi là thầy cúng) là ông thầy Non. Cái tên này do má tôi đặt ra để tránh gọi “Thầy Con” vì ổng là con ông thầy Cả, ông này là bà con kêu má tôi bằng cô và là bạn học của tôi từ thời tiểu học ở trong làng. Kể như vậy để thấy thầy Non đối với gia đình tôi không phải là ngưởi xa lạ.

Sau đám ma, thầy Non lấy Honda chở con tôi đi đầu trên xóm dưới thăm bà con và cũng để xem vùng quê ăn Tết. Đang chạy trên đường xóm Nhà Máy, thấy một ông lái mô tô đi cùng chiều chở phía sau một chậu mai. Thầy Non nói với con tôi: “Coi kìa! Cây Mai đẹp quá kìa!”. Rồi thầy chạy kè theo để con tôi thấy rõ hơn. Ông chở mai quay qua nhìn, con tôi nói lớn cho ổng nghe: “Cây Mai đẹp quá!”. Ông đó nói: “Ờ! Mà không có bán!”. Vì tiếng máy mô tô ồn quá nên con tôi phải nói lớn hơn cho ổng nghe: “Không! Tôi chỉ muốn nói là cây Mai của ông đẹp quá hà!”. Ổng có vẻ bực mình: “Ờ! Người ta nói không có bán là không có bán!”. Rồi ổng vọt ga chạy thẳng, làm thầy Non phải ngừng xe lại để cả hai cùng ôm bụng cười! Sau đó, lại tiếp tục đi. Một lúc, thấy một ông chạy Honda chở thằng nhỏ ngồi phía sau đâu lưng với ổng, ôm trong lòng một quày dừa tươi. Con tôi, nhớ lại vụ cây Mai, muốn phá chơi nên hỏi chọc: “Dừa có bán không vậy?”. Thằng nhỏ thúc cùi chỏ vào lưng người lái xe: “Ba! Ba! Thằng chả hỏi có bán dừa không kìa!”. Người đàn ông làm thinh nhưng có vẻ suy nghĩ. Bỗng, ông ta la lên “Ừa! Bán!” rồi tấp xe vào lề ngừng lại. Thầy Non nói: “Ở chùa thiếu gì dừa! Mua chi vậy?”. Hỏi chơi mà đâu có dè ổng bán nên con tôi đành mua một trái. Ông đó nói: “Dừa tôi mua cho vợ tôi kho thịt ăn Tết. Thấy cậu hỏi mua, tôi nhường một trái cho cậu uống chơi!”. Con tôi nói cám ơn mà không dám cười!…

Sau hơn ba mươi năm “đổi đời”, cái thật thà chân chất của quê tôi, may quá, vẫn còn nguyên như cũ !

-4

Trên chiếc bắc Mỹ Thuận. Chiếc bắc chở đầy nhóc xe và người, ùng ục qua sông. Mấy người bán dạo rao hàng inh ỏi. Vợ chồng tôi đứng ở khoảng trống phía đầu chiếc bắc, nhìn sông nước minh mông với những về lục bình xanh biếc nhấp nhô trên sóng nước. Mùa này, lục bình bắt đầu nở bông nên thấy có màu tim tím e ấp lấp ló giữa những bựng lá to láng mướt. Đẹp quá! Sau hăm mấy năm xa xứ, bây giờ có dịp về thăm, chúng tôi thấy cái gì cũng đẹp! Nước sông đục ngầu phù sa… cũng đẹp! Chiếc ghe bầu phình bụng chở lúa khẳm lừ tưởng chừng như sắp chìm…. cũng đẹp! Chiếc đò ngang hay đò dọc gì đó dài thòn có cái mui bằng phẳng thấp lè tè, hai bên hông trống trơn không có gì che chắn, lướt sóng chạy bắn nước như giành sông với những ghe thuyền khác… cũng đẹp!

Bỗng, một bé gái cỡ 10 tuổi đến gần vợ tôi, tay chìa một tấm vé số, năn nỉ bằng một giọng trong trẻo nhưng nói khá to để át tiếng những người bán dạo chung quanh: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Con bé mặt mũi sáng sủa dễ thương. Vợ tôi lấy tiền mua vé số rồi vuốt đầu nó, hỏi: “Nhà con ở đâu lận?”. Chắc bả thấy tội cho con nhỏ, mới có bây lớn tuổi đầu mà bán xong còn phải lội bộ về nhà giúp mẹ! Nó nhìn vợ tôi, mỉm cười rồi mới trả lời: “Dạ! Ở xóm rạch Ngo gần đây hà!”. Cái cười của nó có duyên vô cùng. Trước khi đi, nó còn biết nói: “Cám ơn nghe ngoại!”. Tôi nhìn theo mà thấy mến cái dáng nho nhỏ thon thon của nó trong bộ đồ bà ba vải trắng đã ngả màu bùn non lờn lợt …

Một lúc sau, tôi nghe ở hành lang phía bên kia vang lên tiếng lảnh lót của con bé: “Ngoại ơi ngoại! Con còn có một vé số này thôi, ngoại mua dùm con để con còn về phụ má con lo việc nhà”. Tôi nhón gót nhìn sang: Đúng là nó! Vợ tôi hỏi: “Nó hả ?”. Tôi gật đầu mà không nén được tiếng thở dài …

Tôi nhìn ra sông nước với vài chiếc ghe thuyền đi lại, nghĩ mà thương cho thân phận người dân bây giờ… Tôi buột miệng nói: “Bây giờ… sao thấy nhiều lục bình quá hổng biết” …

Chiếc bắc vẫn ùng ục nhả khói qua sông… ráng nhả khói mà qua sông…

From: Lucie 1937

COI CHỪNG KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO ĐỂ CHẠY

COI CHỪNG KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO ĐỂ CHẠY

Huỳnh Quốc Bình

“Nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch các nước độc tài cộng sản hay những nơi quá khích về tôn giáo… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn, một cách hợp pháp…”

Người viết thường tự nhắc nhở chính mình và dạy con cái trong nhà phải ý thức rằng, chúng ta không thể xem đất nước Hoa Kỳ như chỗ để mình lợi dụng sống qua ngày, để chỉ ăn bám mà không đóng góp, hoặc chỉ để hưởng thụ vật chất mà lại không góp phần bảo vệ, vun bồi cho tốt hơn, giống như căn nhà của riêng mình.

Để làm sáng tỏ ý niệm đó, tôi xin phép thu gọn đất nước Hoa Kỳ nhỏ lại như căn nhà của một gia đình, để mạo muội nêu ra một câu hỏi rằng: Nếu chúng ta từng hoan nghênh ai đó vào tá túc trong nhà của mình lâu dài, nhưng họ chẳng bao giờ quan tâm đến nhà cửa của chúng ta. Trái lại họ chỉ lợi dụng để lén lút bòn rút tài sản của chúng ta hầu chuyển đi hay gởi về một nơi nào khác. Khi họ cần giúp đỡ thì nhờ cậy chúng ta, nhưng cứ xem chúng ta như người xa lạ hay kẻ thù của họ… Đối với loại người như thế thì chúng ta sẽ nghĩ về họ như thế nào? Người Việt Nam gọi đó là những kẻ “ăn cháo đá bát”, người Mỹ gọi đó là “cắn luôn bàn tay người đút thức ăn cho mình” (bite the hand that feeds you).

Nếu có ai nghĩ rằng Hoa Kỳ không xứng đáng là nơi để họ có thể sinh sống, thì tại sao họ không quay về cái nơi họ từng bỏ ra đi? Ngoài ra, họ cũng có thể xin “tỵ nạn Hoa Kỳ” tại các nước độc tài cộng sản như Bắc Hàn, Trung Cộng, Cu Ba và Việt Nam… hoặc những nơi quá khích về tôn giáo. Dĩ nhiên ra khỏi nước Mỹ thì rất dễ dàng, tuy nhiên nếu có ai muốn từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ một cách chính thức để có thể gia nhập quốc tịch của những nơi vừa nêu… Thì tôi sẵn sàng giúp điền đơn hay giúp đóng tiền lệ phí nộp đơn một cách hợp pháp. Tôi nói thật, không đùa. Xin giữ bài viết này của tôi để làm bằng chứng.

Chúng tôi thường xuyên nhắc nhở những thành viên trong gia đình mình rằng:
1 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không ngại phê bình hay lên án những sai quấy của Tổng Thống hay chính phủ Mỹ, nhưng chúng ta sẽ không ngu xuẩn đến độ đứng ở vị trí cùa kẻ thù nước Mỹ để vô cớ hay điên cuồng lên án Tổng Thống và chính phủ của mình.
2 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, không thể xúc phạm quốc kỳ Hoa Kỳ, bằng cách xé, đốt hay giẫm đạp dưới chân, để bày tỏ sự tức giận Tổng Thống hay chính phủ. Thái độ đó là sự xúc phạm đối với những người đã và đang hy sinh để bảo vệ nước Mỹ. Cho dù quốc kỳ chỉ là một miếng vải vô tri, nhưng là biểu tượng thiêng liêng của nước Mỹ. Tôi không tin có ai mất dạy đến độ mang hình ông bà cha mẹ mình ra xé, đốt hay giẫm đạp dưới chân, chỉ vì tức giận anh chị em mình. Hãy để kẻ thù nước Mỹ làm điều đó nếu họ muốn, còn chúng ta là công dân Mỹ thì chớ nên dại dột làm như thế.
Chúng ta được Hiến Pháp Hoa Kỳ bảo vệ sự tự do bày tỏ chính kiến, sự bất mãn nào đó, ngay cả những “bất mãn” không chính đáng… Nhưng chúng ta không thể đập phá nhà cửa, hành hung những người không cùng suy nghĩ như mình. Luật pháp và chính sách để vận hành nước Mỹ, phải được bàn luận, hình thành trong tự do dân chủ và trong sáng tại Quốc Hội, chứ không thể giải quyết ngoài đường phố. Các nước cộng sản hay độc tài mới đáng nhận lãnh sự phẩn nộ của người dân giống như thế, chứ nước Mỹ tự do, dân chủ, thì không thể giải quyết những bất đồng bằng các loại bạo động.
3 Một công dân Hòa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, nếu muốn chứng tỏ mình biết tôn trong quyền lợi của người khác thì cũng phải biết xem trọng quyền lợi đất nước mình. Một Tổng Thống hay chính phủ biết đặt quyền lợi tối thượng cho đất nước mà mình được cử tri giao trách nhiệm lãnh đạo, thì có gì sai? Không ai cấm chúng ta bày tỏ lòng nhân đạo với những người đến từ quốc gia khác, nhưng điều đó phải hợp pháp, hợp lý và có trật tự, giống như cựu Tổng Thống Clinton và Obama từng khẳng định:

Hoa Kỳ không phải là cái chợ trời để ai muốn vào thì cứ xé rào hay phá cổng mà vào. Người khôn ngoan sẽ không ngu xuẩn đến độ rước giặc vào nhà bằng cách mở toang cửa biên giới, hầu hy vọng đạt được danh vọng cá nhân, quyền lợi của đảng phái mà bất chấp quyền lợi hay sự an nguy của đất nước mình. Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không xem bất kỳ một cá nhân nào như thể thần thánh, như thể họ có quyền ngồi xổm trên luật pháp, hoặc điên cuồng ủng hộ một đảng đảng phái mà mình có bằng chứng là họ chỉ xem quyền lợi của đảng họ trọng, còn đất nước Hoa Kỳ là thứ yếu. Chúng ta sẽ không im lặng đứng nhìn những kẻ xem thường sự sống còn của nước Mỹ. Chúng ta phải can đảm chống đối và dùng lá phiểu để tẩy chay những kẻ cố tình san bằng những gì đã được hiến pháp Hoa Kỳ vạch rõ, mà những nhiệm kỳ của các Tổng Thống hay chính phủ vì dân đã bảo vệ mấy trăm năm qua.
4 Một công dân Hoa Kỳ lương thiện và khôn ngoan, sẽ không ủng hộ hay a tòng với những kẻ tìm cách loại bỏ những giá trị căn bản của nước Mỹ. Ai nhận mình là Cơ Đốc Nhân tuyệt đối không ủng hộ những giới dân cử nào cố tình cho những kẻ vô thần, hay những tôn giáo quá khích được cơ hội tràn vào đất nước mình, để rồi cùng tìm cách sửa đổi luật, cấm mọi người cầu nguyện với Thiên Chúa ở trường học và các nơi công cộng. Chúng ta không thể dễ dãi đến độ ngu khờ khi họ bày tỏ đức tin của họ thì được, còn chúng ta thì lại mất cái quyền thiêng liêng đó. Tại sao chúng ta có thể im lặng trước những kẻ tìm cách ngăn cản chúng ta bày tỏ đức tin với Thiên Chúa? Tại sao chúng ta lại bày ra hay tham dự vào những vụ bỏ phiếu để loại trừ ý niệm “one Nation under God” qua lời bày tỏ sự trung thành với Hoa Kỳ được ghi trong bản “The Pledge of Allegiance to the Flag”. Có phải chúng ta đã trở thành những kẻ dại khờ, chỉ vì muốn chìu ý những kẻ muốn triệt hạ nước Mỹ để mình khỏi bị mang tiếng là kỳ thị đức tin của người ta?
Trong tiếng Anh có câu nói đáng cho chúng ta suy nghĩ: “Người ta sẽ không bao giờ thật sự hiểu thấu một vấn đề éo le nào đó, cho đến khi chuyện ấy xảy ra với chính họ”. (People will never truly understand something until it happens to them).
Người viết tin rằng không một dân tộc nào trên thế giới có thể thấm thía về đời sống tha phương nơi xứ người cho bằng những dân tộc từng bị mất nước, trong đó có dân tộc Việt Nam.

Trong thời chiến tranh Việt Nam, một số người dân Hoa Kỳ với chiêu bài phản chiến đã biểu tình đòi hỏi chính phủ phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Họ đòi hỏi như thế cũng là dễ hiểu, bởi vì qua những sự tường trình về hình ảnh chiến đấu can trường của binh sĩ Hoa Kỳ và chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị bóp méo. Những cơ quan truyền thông thiếu lương thiện đã làm những điều có lợi cho bọn VC và khối cộng sản quốc tế. Kết quả sự hy sinh của trên dưới 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã trở nên vô nghĩa dưới con mắt của những người Mỹ “chống chiến tranh Việt Nam”. Hoa Kỳ “thua” một cuộc chiến, còn người Việt Nam phải mất trọn đất nước vào tay quân cộng sản kể từ ngày tan thương đó và bao nhiêu chia ly, tang tóc, liên tục xảy ra cho đến ngày nay.

Nhân dân Hoa Kỳ thật có phước vì họ được hưởng sự tự do đích thực mà khó có quốc gia nào có được. Cho nên cái câu “People will never truly understand something until it happens to them.”, có thể áp dụng cho người Mỹ với tình hình chính trị tại Hoa Kỳ hiện nay. Những người sinh ra và lớn lên tại nước Mỹ chưa có kinh nghiệm chạm trán với thực tế của những chia ly, tang tóc như người Việt Nam, cho nên nếu họ có ” take freedom for granted” là điều cũng dễ hiểu. Tiếc là trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn có người đã chóng quên. Họ không còn ý thức vì sao họ có mặt tại Hoa Kỳ ngày hôm nay, và họ lại giống những người chuyên “take freedom for granted” tại xứ tự do này.

Tôi không ngại để nói rằng, bất cứ ai được sanh ra và trưởng thành tại quốc gia này hay được chính phủ Hoa Kỳ đón nhận vào đây sinh sống hợp pháp, thì những người đó thật sự may mắn và hạnh phúc, nếu không muốn nói họ là những người vô cùng có phước. Tại Hoa Kỳ người dân có nhiều sự tự do. Quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do bày tỏ quan điểm chính trị và nhất là quyền tự do lập đảng đối lập với chính quyền. Tiếc là nhiều người không biết trân quý những thứ tự do đó và dường như họ đang đi tìm một “thế giới đại đồng”, một loại “xã hội chủ nghĩa” thiếu thực tế, là chiêu bài của kẻ cướp, mà nhiều nước từng kinh qua và đã quăng nó vào sọt rác lâu rồi.
Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan từng nói: “Tin tưởng nhưng phải kiểm chứng và đừng e ngại nhìn nhận sự thật…” (Trust but verify; watch closely and don’t be afraid to see what you see)

Nếu chúng ta cứ tin vào một điều gì đó mà không kiểm chứng, hoặc không dám nhìn nhận một sự thật hiển nhiên, hoặc cứ cúi đầu tin vào màn ảnh TV hay các loại tin tức một chiều, và nếu chẳng may đất nước Hoa Kỳ lọt vào tay kẻ thù của nước Mỹ, thì mọi người nên coi chừng, chúng ta sẽ không còn đường nào để chạy, kể cả những kẻ hay những cơ quan truyền thông từng làm lợi cho kẻ thù nước Mỹ.

Huỳnh Quốc Bình

Image may contain: sky, tree and outdoor

TT Trump kêu gọi Nga rút quân ra khỏi Venezuela

VOA Tiếng Việt
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Tư, 27/3, kêu gọi Nga rút quân khỏi Venezuela và cảnh báo rằng “mọi lựa chọn” vẫn được bỏ ngỏ để biến điều đó thành hiện thực.

Hai máy bay không quân Nga chở gần 100 binh sĩ Nga hạ cánh ởngoại ô Caracas hôm 23/3 càng làm leo thang cuộc khủng hoảng chính trị ở Venezuela.

Nga và Trung Quốc lâu nay ủng hộ Tổng thống Nicolas Maduro, trong khi Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây ủng hộ nhà lãnh đạo phe đối lập Juan Guaido. Vào tháng 1, ông Guaido viện dẫn hiến pháp để đảm nhận chức tổng thống lâm thời của Venezuela, ông lập luận rằng việc ông Maduro được tái cử năm 2018 là chuyện không chính danh.

“Nga phải rút đi”, ông Trump nói với các phóng viên ở Phòng Bầu dục, nơi ông đón phu nhân của Guaido, là bà Fabiana Rosales.

Khi được hỏi ông sẽ làm thế nào để khiến các lực lượng Nga rút đi, ông Trump nói: “Hãy chờ xem. Tất cả các tùy chọn được bỏ ngỏ”.

Nga có quan hệ song phương và các thỏa thuận với Venezuela, và Nga có ý định tôn trọng những điều đó, Đại sứ Nga tại Liên Hiệp Quốc Dmitry Polyanskiy phát biểu, đáp lại những lời lẽ của ông Trump.

“Mỹ không phải là nước có thể quyết định các hành động và số phận của các quốc gia khác. Mọi việc tùy thuộc vào chính người dân Venezuela và tổng thống hợp pháp duy nhất của đất nước là Nicolas Maduro”, ông Polyanskiy nói trên Twitter.

Phu nhân của ông Guaido, bà Rosales, một nhà báo và nhà hoạt động đối lập 26 tuổi, nói với Tổng thống Trump rằng ông Guaido đã bị tấn công hôm 26/3, nhưng bà không nói chi tiết hơn. “Tôi lo sợ về tính mạnh của chồng”, bà nói.

Trước đó, tại Nhà Trắng, bà Rosales gặp Phó Tổng thống Mike Pence và nói với ông rằng tình trạng mất điện và thiếu lương thực đang làm tổn thương trẻ em ở đất nước bà.

Ông Pence ca ngợi bà Rosales là người “dũng cảm”. “Thông điệp của chúng tôi rất đơn giản là: Chúng tôi sát cánh với bà”, ông Pence nói.

(Reuters)

About this website

VOATIENGVIET.COM

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Tư, 27/3, kêu gọi Nga rút quân khỏi Venezuela và cảnh báo rằng “mọi lựa chọn” vẫn được bỏ ngỏ

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Nam Nguyen Hoang Dao

27-3-2019

Các chân tu đã bị cộng sản tiêu diệt hay giam cầm hết rồi, thì là lúc ma tăng xuất hiện. Vụ việc lừa đảo ở chùa Ba Vàng là những gì phải đến sau những gì mà cộng sản đã làm hại Phật giáo chính thống ở VN.

Năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ bị bắt khi dẫn phái đoàn Viện Hoá Đạo đi cứu trợ nạn bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, bị kết án 5 năm tù. Chỉ vì thầy không tu theo kiểu cộng sản muốn, không muốn giáo hội Phật giáo là cánh tay nối dài của tổ chức Mặt trận Tổ quốc. Việc cứu trợ của thầy không thông qua 3 tổ chức dưới quyền đảng trong đó có MTTQ theo như luật của cộng sản đặt ra làm họ rất khó chịu.

Cộng sản còn lo sợ việc cứu tế của thầy sẽ thu phục được nhân tâm của dân chúng, khiến dân chúng đứng về phía thầy, phản đối lại cộng sản, nên phải bắt bỏ tù thầy ngay lập tức bằng cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.

Hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) bị bắt và đưa ra tòa Cộng sản. Ảnh trên mạng

Trong ảnh, ngoài cùng bên trái là hòa thượng Thích Quảng Độ. Một chư tăng đi cứu trợ giúp dân chân chính như vậy mà bị bắt giam, còn kẻ lừa đảo có tổ chức quy mô lớn ở Ba Vàng lại nhởn nhơ, hỏi sao không mạt pháp

Đó chỉ là 1 trong nhiều vụ án mà đảng cộng sản đã tiến hành thực hiện trong toàn bộ công cuộc phá nát Phật giáo miền nam sau 1975, để tạo dựng nên một hệ thống Phật giáo mới, nằm dưới quyền kiểm soát của đảng, mà ngày nay còn bị gọi là Phật giáo quốc doanh.

Kể từ tháng 9 năm 75, cuộc đàn áp Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bắt đầu theo Chỉ thị số 20 của Đảng do ông Lê Duẩn ký năm 1960, phát động cho quần chúng và bộ đội, công an đập phá các tượng Phật lộ thiên. Cuối tháng 9 năm 75, Hoà thượng Thích Huyền Quang nhân danh Viện Hoá Đạo, đã có văn thư phản đối Chủ tịch Cách Mạng Lâm thời về việc này.

Nhiều hiện tượng khác, như bắt treo hình Hồ Chí Minh trên bàn thờ tổ tiên, áp lực chư Tăng hoàn tục, hoặc đưa sang chiến trường Kampuchia, cấm treo cờ Phật giáo trong các chùa viện, cưỡng chiếm các cơ sở văn hoá, giáo dục, từ thiện Phật giáo, như Cô nhi viện Quách Thị Trang, Viện Đại học Vạn Hạnh, v.v… hàng chục nghìn Tăng Ni, Phật tử bị đưa vào trại cải tạo.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thời đại nào mà số lượng Tăng Ni, Phật tử bị cầm tù đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Tình trạng áp bức thiết khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2-11 năm 75 tại Thiền viện Dược Sư, tỉnh Cần Thơ, dưới hàng biểu ngữ “Chết vinh hơn sống nhục“. Đáng buồn, lúc đó toàn đất nước đã nằm trong tay cộng sản, mà cộng sản nắm quyền toàn bộ thì làm gì có sự xuất hiện của những phóng viên tự do để đăng tải những sự thật khủng khiếp này. Tất cả những việc tàn ác như vậy được các chư tăng bị trục xuất hay trốn ra nước ngoài sau này kể lại.

*Chú thích: Phật giáo miền nam trước năm 1975 có danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHVNTN) ra đời năm 1964 tại Sài Gòn. Khác với Phật giáo quốc doanh ngày nay là cánh tay nối dài của Mặt trận Tổ quốc, có danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ra đời năm 1981 tại chùa Quán Sứ – Hà Nội.

Chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm bị giải tỏa cách đây mấy năm chính là chùa cuối cùng thuộc GHPGVNTN, tính riêng khu vực Sài Gòn – Gia Định cũ.

Bạn đọc có thể kiểm chứng qua lời thu âm lại của thượng tọa Thích Thiện Minh từng bị giam 26 năm trong nhà tù cộng sản:

Hay nghe từ phút thứ 6, đệ tam tăng thống Thích Đôn Hậu tố cáo:

Và tìm đọc “Hồ sơ Thống nhất Phật giáo” của Đỗ Trung Hiếu – cán bộ tôn giáo vận, góp tay thực hiện thống nhất Phật giáo dưới sự kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc, sau này hối hận ông tiết lộ tất cả sự thật:

https://phatgiaokhongcongsan.blogspot.com/2011/05/ho-so-thong-nhat-phat-giao-o-trung-hieu.html

Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt

Tục cầu vong, thờ cúng ở châu Á trong mắt học giả Phương Tây

Tục cầu vong, thờ cúng ở châu Á trong mắt học giả Phương Tây

"Đi chùa đầu năm xuất phát từ mong muốn tìm một lòng tin nào đó," theo bà Giang Hà, nhà nghiên cứu triết học phương Đông.
Bản quyền hình ảnh  LINH PHAM/GETTY IMAGES

Câu chuyện chùa Ba Vàng ‘gọi vong’ ở Việt Nam gần đây lật trở lại một số vấn đề mà giới học giả Phương Tây đã nêu ra khi đề cập đến tín ngưỡng ở xã hội châu Á.

Việt Nam, giống Trung Quốc, hiện về nguyên tắc theo chủ nghĩa cộng sản vô thần, nhưng xã hội lại theo rất nhiều tín ngưỡng, đạo giáo.

Vụ thỉnh vong chùa Ba Vàng: dư luận dậy sóng

Một tài liệu của ĐH Cambridge, Anh Quốc khi nói về Việt Nam gọi đây là hiện tượng “Nhà nước cộng sản trong quốc gia tôn giáo” (Communist state in a religious nation).

Vai trò của Phật giáo, tôn giáo vốn kêu gọi tối giản các phép thờ cúng – Đức Phật khi còn tại thế đã bác bỏ nhiều nghi lễ Bà La Môn của Ấn giáo – nhưng nay lại “đồng hành cùng tín ngưỡng dân gian”, cũng được đề cập đến.

Mặt khác, như một số tài liệu của Hoa Kỳ về Myanmar ngày nay nhận định, Phật giáo cũng có mặt bạo lực và tham vọng chính trị của nó.

Tục thờ ma quỷ, vong hồn

Đầu tiên là về phong tục thờ ma quỷ, vong hồn ở vùng Đông Á.

Angela Tempest nêu quan sát rằng mỗi dịp Tết Nguyên Đán là dịp người Trung Hoa bị ám ảnh bởi ma quỷ.

Mộ Hán
Bản quyền hình ảnh  MARCO SECCHI
Mộ thời Hán với các hình nhân mã bằng đồng – ảnh từ một triển lãm tại Milan, Ý năm 2010
Hán
Bản quyền hình ảnhENCYCLOPAEDIA BRITANNICA
Đế chế Trung Hoa thời Hán. Giới sử học tin rằng chính Hán Cao tổ đặt ra truyền thống xây lăng tẩm khắp các châu quận để thời tổ tiên của ông ta

Họ tin rằng có nhiều loại ác quỷ, ngạ quỷ có năng lực hại người sống và cần trấn áp hoặc mua chuộc chúng.

Có những loại hồn ma ‘hiền lành’ hơn cũng sống cùng loài người.

Nhưng ranh giới giữa hồn ma ‘tốt’ và ‘xấu’ rất mong manh.

Món bánh dành cho người chết ở Kyrgyzstan

Miến Điện: Pháp sư nơi cửa Phật

Phật giáo Tây Tạng với sự sống và môi trường

Họ tin rằng có hai phần của linh hồn (soul) là phách (po) vốn thoát xác sau khi người ta chết, và hồn (hun) thì ở lại một thời gian và chỉ đi sau khi nhận được lễ.

Ngay cả hồn của thân nhân ta cũng có thể “quấy phá” sau khi đã chết.

Đặc biệt, các linh hồn còn chưa có chốn đi về, gọi là ‘vong linh’ (wangling – wandering spirit), cần được chú ý chăm sóc.

Dù người Hoa và nhiều dân tộc Đông Nam Á khác đều tin vào vong hồn nhưng con số vong hồn, ma quỷ có tên và đi vào sự tích văn học Trung Hoa lên tới trên 1500, cho thấy sự ‘bành trướng’ không nghỉ của tín ngưỡng này qua thời gian.

Vậy tín ngưỡng này đến từ đâu?

Mark Cartwright viết rằng tục thờ người chết đã có từ thời Đồ Đá ở Trung Hoa.

Sang đời Thương (1600 – 1046 trước Công nguyên) đã có bằng chứng khảo cổ rằng vua chúa, quý tộc thờ tổ tiên đã khuất của họ.

Hồn người chết ngự trên trời, theo đúng trật tự xã hội ‘có trên có dưới’ như xã hội dưới mặt đất, “trần sao âm vậy”.

Đây cũng là tín ngưỡng thầy cúng (shamanism) có ở cả vùng Siberia, Mông Cổ, châu Phi, Nam Mỹ và nhiều nơi trên thế giới thời sơ khai.

Amanda Ruggeri
Bản quyền hình ảnhAMANDA RUGGERI
Người Kyrgyzstan có phong tục làm món bánh bột rán phồng để cúng người chết, gọi là bánh borsook

Người nhà Thương tin rằng có thể nhờ vị shaman (thầy cúng) làm trung gian để nói chuyện với người đã chết.

Sang đời nhà Chu (1046 – 256 trước Công nguyên), tục thời tổ tiên của tầng lớp cầm quyền phát triển mạnh.

Lăng tẩm của vua chúa, quý tộc dành cho tổ tiên họ được xây ở thủ đô của đế chế.

Từ thời Hán, tục thờ tổ tiên ở Trung Hoa đã tiến lên một bước, thành vũ khí chính trị của các vị hoàng đế.

Vẫn theo Mark Cartwright, Hán Cao tổ đã cho xây 176 đền thờ tổ tiên ông ta ở thủ đô tại Trường An, và 167 ngôi nữa ở tất cả các thủ phủ châu quận.

Việc tôn thờ Thái miếu của nhà Hán trở thành tôn giáo cho cả đế chế.

Duy trì đền thờ, lăng tẩm vào thời gian đó đã cần số nhân lực 67 nghìn người.

Các quan coi lăng dâng lễ tới 25 nghìn lần một năm, tính theo tổng số lăng mộ.

Tại sao nhà Hán biến việc tôn thờ tổ tiên của vua thành quốc giáo?

Đó là vì chính quyền đề ra thuyết Thiên Mệnh để khẳng định vị thế vĩnh viễn, mang tính thần bí của quyền lực gắn liền với cá nhân hoàng đế và thân tộc.

Thiên Mệnh (Mandate of Heaven) là ý thức hệ chủ chốt của Trung Hoa, và ngày nay, theo một số tác giả, được áp dụng trong cả vấn đề lãnh thổ: thiên mệnh vươn ra đến đâu thì Trung Quốc có quyền đến đó.

Thần tính của Thiên Tử, gạch nối giữa Thiên – Địa – Nhân, là sự đảm bảo quyền lực chính trị xuyên cả không gia và thời gian.

Phật giáo cũng chấp nhận thờ cúng

Nếu như thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng sơ khai có ở khắp nơi – ai cũng muốn kéo dài sự hiện diện của thân nhân đã khuất qua lễ lạt, tưởng nhớ – thì tôn giáo có cách nhìn khác nhau về phong tục này.

Thiên Chúa Giáo cho đến các thập niên 1960 nghiêm cấm việc thờ cúng tổ tiên.

Các giáo sĩ dòng Tên (Jesuit) khi sang châu Á truyền đạo đã đề nghị với Vatican vào thế kỷ 17 cho chấp nhận một số nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người bản địa.

Hmong
Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
 Việt Nam: mẹ con người Hmong ngồi nghỉ trước một nhà thờ địa phương. Ki Tô giáo vào Việt Nam khi các tín ngưỡng bản địa đã bám rễ từ lâu và tiếp tục có ảnh hưởng

Nhưng họ bị từ chối và công tác truyền giáo bị ảnh hưởng nhiều vì người Hoa, Việt và Nhật không muốn bỏ thờ cúng tổ tiên.

Người Hoa và Việt có lễ Thanh minh chăm sóc phần mộ tổ tiên và cúng vong hồn vào Rằm tháng 7.

Với người Nhật, lễ Bon là dịp quan trọng thứ nhì trong năm, chỉ sau lễ mừng năm mới, khi người ta đem hoa trái dâng lên bàn thờ Butsudan cho tổ tiên.

Phải sau Công đồng Vatican II năm 1960, Tòa Thánh mới nới lỏng lệnh cấm.

Khi đến các nước đã thờ tổ tiên, vấn đề của Phật giáo này là làm sao thuyết phục người dân xa thế sự, gia đình để tập trung vào tu tập nhằm giải thoát con người.

Nhưng các tăng ni Phật giáo thấy rất khó gỡ bỏ truyền thống có từ lâu và cuối cùng thì không ít nhà sư đã tham gia “trợ giúp” người dân thực hành các nghi lễ mang tính cầu cúng vong hồn.

Trên thực tế, nhiều năm sau khi Đức Phật giác ngộ và nhập Niết Bàn, có một phái là Vajrayana (Kim Cương thừa) đã hình thành tại Ấn Độ, nhấn mạnh đến các phép ma thuật, bắt quyết, quán tưởng để giải thoát.

Nhưng nhìn chung Phật giáo tìm cách diễn giải các nghi lễ có sẵn của xã hội bản địa Đông Á và Đông Nam Á theo cách hiểu của kinh sách Phật.

Đây cũng là sự thỏa hiệp để tồn tại và không “mất dân”.

Sau thời Tùy và Đường, Phật giáo Trung Hoa hoàn thành “bản địa hóa” để hòa trộn với nhiều nghi lễ Khổng giáo, Lão giáo và thờ cúng tổ tiên, theo Charles Custer.

Từ đó, Trung Hoa – và Việt Nam – chấp nhận Tam giáo đồng nguyên, với cả Khổng, Phật và Lão cùng tồn tại, bên cạnh các tín ngưỡng dân gian, trong nhiều thế kỷ về sau.

Phật giáo nguyên thủy không yêu cầu các lễ lạt đình đám để thờ cúng tốn kém nhưng các phái ‘bản địa hóa’ tại Trung Hoa đã diễn giải thuyết ‘giác ngộ’, và ‘giải thoát’ qua nghi thức cúng bái.

The wizards are said to gain their powers through Buddhist teachings, spells and alchemy
Bản quyền hình ảnhFANNY POTKIN
Tại Myanmar, các thầy phù thủy được cho là có được sức mạnh từ việc rao giảng Phật pháp, dùng bùa chú và thuật giả kim

Kiểm soát các nghi thức này cũng là cách để sư sãi có quyền lực với dân chúng, điều đôi khi gây ra căng thẳng với tầng lớp quan lại theo Khổng giáo.

Tôn giáo và chính trị

Có ý kiến cho rằng từ lâu nay, Phương Tây bị cuốn hút bởi mặt tâm linh và huyền bí của Phật giáo mà quên đi rằng có những lúc, tín đồ của đạo này ủng hộ bạo lực.

Các ví dụ được nêu ra là giới tăng lữ Thiền tông Nhật Bản cổ vũ cho phe quân phiệt đem quân xâm lăng Trung Quốc.

Ở Sri Lanka, Bodu Bala Sena – Binh đoàn Phật giáo – đã gây ra các vụ tiêu diệt người Hồi giáo.

Charles Haviland của BBC News viết hồi 2015 trong bài ‘The darker side of Buddhism’ rằng “bất bạo động là nguyên tắc căn bản của đạo Phật” nhưng tại Sri Lanka, đã có các nhà sư bị cáo buộc vận động, hô hào Thánh chiến và thanh lọc sắc tộc.

Gần đây hơn, dư luận thế giới sửng sốt trước các vụ kích động bạo lực chống người Rohingya ở Myanmar đến từ các vị sư Phật giáo nước này.

Đây không phải là lần đầu tiên ở Đông Nam Á, Phật giáo có mặt trong các xung đột.

Phật giáo chiến đấu (militant Buddhism) có truyền thống trong phái Tiểu Thừa và thường được biện hộ bởi khẩu hiệu Thánh chiến (Dhamma Yudhaya) để bảo vệ đạo.

Riêng tại Nam Việt Nam, theo tác giả Mark Moyar, có phong trào các nhà sư ‘chiến đấu’ (militant monks) xuất hiện thời Ngô Đình Diệm và đã tạo ra bất ổn chính trị lớn trong giai đoạn 11/1963- 07/1965.

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

 

Image may contain: 1 person, smiling, outdoor
Nguyễn Thị HoàngHải

Nhặt trên fb Oanh Bùi một bài hay của nhà báo Nguyễn Như Phong:

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

Chiều nay, tôi gặp một doanh nhân rất nổi tiếng, từng là đại biểu quốc hội. Anh cũng vừa nghiên cứu và đưa vào ứng dụng thành công về phương pháp xử lý nước thải từ các khu công nghiệp rất thành công, và cực kỳ độc đáo, nếu như chưa muốn nói là thế giới cũng chưa có. Từ nước thải công nghiệp, nhiễm kim loại nặng, qua tay anh xử lý, hàm lượng kim loại chỉ còn 0.03 ( thấp hơn 10 lần tiêu chuẩn cho phép)… Hồ nước thải của anh , cá Koi của Nhật lội tung tăng… và nước đó, thừa tiểu chuẩn dùng làm nước sinh hoạt ( tắm, giặt, vệ sinh, nấu cơm…) chỉ không uống trực tiếp được thôi.
Tôi bảo : ” Anh mang công nghệ này áp dụng cho mấy thánh phố lớn như HN, TP HCM…”

Anh nói ngay : ” Không bao giờ tôi làm gì dính với Nhà nước. Một xu, một cắc cũng không?”

Rồi anh quay sang nói với một nhân viên : ” Có mấy khu công nghiệp thuê mình xử lý nước thải, các cô phải kiểm tra là trong số đó có doanh nghiệp Nhà nước không? Nếu có doanh nghiệp Nhà nước,dù họ chỉ chiểm 25-30% cổ phần cũng không được làm. Cái gì dính đến chữ Nhà nước là không làm. Dứt khoát không.”

Tôi ngạc nhiên, hỏi : ” Tại sao lại thế”

Anh nói dứt khoát: ” Ký làm ăn với ông Nhà nước, hôm nay bảo đúng, ngày mai ông khác lên, bảo sai, lôi doanh nghiệp ra chém…Thế thì có mà bỏ mẹ. Cho nên từ lâu rồi, tôi là không chơi với Nhà nước. Đó là chưa kể muốn làm ăn với doanh nghiệp Nhà nước, với chính quyền mà sử dụng tiền ngân sách, không có ăn thì họ gây đủ thứ khó dễ, mặc dù biết việc làm đó là có lợi cho dân, cho xã hội…”

Nghe ông nói mà thấy choáng. Nhưng đúng thế thật! Nhỡn tiền là vừa rồi, ông muốn làm tặng cho một thành phố một khu xử lý nước thải ( làm tặng nhé), vậy mà chính quyền ” củ chuối” gây khó dễ, ông cho rút hết máy móc về luôn, và ” Chào thân ái và Quyết Thắng”

Người vô hình ở trại T16

Từ Thức
Từ ngày bị bắt, Trương Duy Nhất trở thành người vô hình, không ai biết tại sao ông bị bắt, không ai được gặp, kể cả gia đình, kể cả luật sư. Nhà nước biến người thành một bóng ma, trong nhà tù có thực, và dã man nhất, chính vì nó nằm trong bóng tối, như nơi giam cầm, tra tấn kẻ thù của những băng đảng đen.

Bài báo dưới đây của Luật Khoa Tạp Chí viết: biến người thành một bóng ma là tước đoạt ‘’ thể nhân ‘’, cái căn cước làm người của một công dân , một vi phạm nhân quyền man rợ nhất.

Bằng một cái búng tay, người cầm quyền quyết định bạn không hiện hữu nữa.

Chuyện biến người thành một bóng ma không mới lạ trong Goulag, trong những nhà tù VN hay bất cứ chế độ Cộng Sản nào.

Rất nhiều người bị giam giữ hành hạ cho đến chết không biết mình bị kết án về tội gì. Không có hồ sơ minh bạch hay hồ sơ thất lạc, chính người tra tấn cũng không biết mình hành hạ tù nhân về tội gì. Và bởi vì quên không biết tù nhân là ai, người ta nhốt cho tới chết.

Đó là chuyện cũ, xưa như lịch sử chế độ CS. Vấn đề là nó vẫn tiếp tục một cách thô bạo mặc dù VN đã ký kết hầu hết những thoả ước quốc tế về nhân quyền.

Trong thời đại Internet, Trương Duy Nhất sẽ không bị quên, một ngày nào đó sẽ xuất hiện trở lại, từ một bóng ma trở thành ”người tự nguyện nhập trại T16”

 

LUATKHOA.ORG
Sau gần hai tháng im lặng trước sự mất tích của ông Trương Duy Nhất, tối ngày 25/3, các cơ quan truyền thông nhà nước đồng loạt loan tin về việc điều tra nhân vật

ĐỐI THOẠI VỚI VONG

Trần Bang

ĐỐI THOẠI VỚI VONG

(Chuyện thật 100% trong giấc mơ, không hư cấu)

Đêm qua vừa viết xong bài “Hủy hoại Phật giáo hay hủy hoại Chủ nghĩa Marx”, tôi nằm suy nghĩ thêm về lịch sử phát triển Phật giáo để đi đến mặc nhiên thừa nhận, rằng nhờ sự chuyển hóa từ vô thần luận sang hữu thần luận mà Phật giáo phát triển đại chúng. Thậm chí, ở Việt Nam hiện nay, Phật còn chuyển hóa thành Ma mới có thể quyến rũ, mê hoặc được hàng triệu triệu người. Khi Phật hóa thành Ma thì nhà tu hiện đại tự biến mình thành Thầy Mo thời nguyên thủy để làm mọi việc: giáo dục, tế lễ và trị bách bệnh thay cho khoa học, văn hóa giáo dục và y học hiện đại.

Đang nghĩ đến đó trong trạng thái mơ màng, lim dim thì một cái bóng hiện ra. Đó là một lão già với bộ râu tóc dị thường. Tôi bật dậy và ngồi trong tư thế kiết già. Tôi hỏi:

– Tôi biết ông không là Phật, cũng chẳng là Ma. Vậy ông là ai?

Ông ta cười :

– Ta là Vong của tất cả các vong…

Tôi nhìn ông ta với hai tay cầm hai thứ như cầm bửu bối. Ông ta đưa thứ đang cầm bên tay phải ra hỏi tôi:

– Ngươi biết đây là cái gì không?

– Chủ nghĩa Marx. – Tôi trả lời.

– Còn đây là gì? – Ông ta đưa món cầm bên tay trái và hỏi tiếp.

– Bùa của bọn thầy mo thời nguyên thủy. Vậy đích thị ông là Thầy Mo? – Tôi trả lời và hỏi lại ông.

Ông ta cười ngạo nghễ như thể nhổ vào mặt tôi:

– Ngươi thông minh, nhưng còn lâu mới hiểu được bí mật của ta.

Tôi hỏi:

– Ông dùng hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, không sợ tẩu hỏa nhập ma sao?

Ông ta cười khùng khục và nói:

– Hiển nhiên hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, nhưng đố ngươi chúng giống nhau chỗ nào?

Tôi nhắm mắt cố suy nghĩ vẫn không trả lời được. Ông ta trả lời:

– Ta có khả năng biến nước thành lửa và lửa thành nước.

Nói đoạn, ông ta châm lửa đốt cả hai và cho vào nước. Tôi nhìn thứ nước đen sì đang bốc khói và nghe ông nói tiếp:

– Giống nhau ở chỗ, cả hai đều là Bùa ai cũng có thể uống được. Ta dùng Chủ nghĩa Marx để mê hoặc người có trí. Còn tấm bùa nguyên thủy kia dùng để mê hoặc đám đông mất trí.

Tôi bật mí mắt ra và quát lên:

– Ngươi chơi trò tăm tối khốn nạn đó là đầu độc, sát hại cả dân tộc này. Ngươi có tin ta sẽ vạch trần ngươi ra ánh sáng không?

Nói đoạn, tôi bật công tắt đèn lên. Ánh điện 220V lóa lên bừng sáng cả gian phòng và cái “vong của các vong” kia biến mất. Tôi thở dài, chỉ vì dân mê lú trong tăm tối mà bị vong ám hết đời này đến đời khác. Nhưng tôi cũng hiểu ra bằng tất cả niềm vui, rằng dù là “Vong của các vong” thì cũng đều rất sợ Ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Trí tuệ của sự Tự do, Khai phóng. Trí tuệ đích thực không bị thứ bùa mê thuốc lú nào mê hoặc…

Chu Mộng Long