COI DÂN NHƯ ĐỨA TRẺ

Khi mức độ an ninh trong những ngày họp thượng đỉnh đã được đưa lên hàng đầu thì chỉ một túi nhỏ để rơi không chủ là lập tức bị báo động ngay. Nói gì đến cái balô để giữa đường đến nửa ngày. Đúng là Xạo Hết Chỗ Nói.

COI DÂN NHƯ ĐỨA TRẺ

( Bài của LS Luân Lê )

Con chó nhốt tận trong nhà còn bị bắt trộm. Đang đeo đồ trên người bị cướp giật kéo lê trên phố. Một xã hội mà cái quần treo phơi cũng mất, mũ bảo hiểm để ngoài xe cũng chẳng mấy chốc là mất dạng. Để xe ô tô không trông là mất cả đôi gương chiếu hậu chỉ trong chớp mắt.

Chỉ đơn giản đây là thời điểm diễn ra sự kiện và tại khu vực phải đảm bảo an ninh cao độ nhất, đến mức mà có khu vực cảnh sát giao thông của Việt Nam còn bị rà soát bởi mật vụ Mỹ.

Thế nên đừng có mà điên rồ đến mức nói láo và cố tình đánh trái sự thật, người dân có phải đứa trẻ lên ba đâu mà dùng sự việc này để đưa tin nhằm lừa mị người dân.

Cả nước đang biểu tình vụ luật đặc khu, báo chí còn nói nhân dân vẫn một mực tin tưởng và không có phản ứng nào thái quá. Hàng ngàn dân biểu tình vụ Formosa gây thảm hoả râm ran cả Hà Nội suốt buổi sáng mà truyền thông chụp luôn đoạn lăng Ba Đình rồi kèm dòng chữ Thủ đô ngày cuối tuần vẫn yên bình.

Thật, không thể hiểu những người làm báo chí và truyền thông kiểu đó có thấy sự khốn nạn của mình không? Tráo trở và xảo trá trước bàn dân thiên hạ trong khi sự thật thì có thể hoàn toàn ngược lại.

Bao vụ cướp giật và trộm cắp người nước ngoài mà chính quyền phải lên tiếng xin lỗi rồi? Bao vụ người nước ngoài nhập cảnh qua hải quan đeo balo băng kín túi bính và băng dính để tránh bị rạch trộm đồ rồi? Có cô gái còn phải xích balo vào người bằng khoá và đi xe buýt.

Trộm cắp thuộc hàng vấn nạn quốc gia và bất cứ nơi đâu, bất cứ con người nào cũng có. Đi ra nước ngoài, không chỉ dân thường mà còn cán bộ cũng trộm đồ lên hẳn báo chí nước ngoài, kẻ bị xử tù, người bị trục xuất về nước. Vừa xong hiệu trưởng còn trộm xe máy của giáo viên đồng nghiệp ngay tại trường học rồi mang đi cầm đồ lấy tiền tiêu xài. Bao kẻ trộm cắp tài sản công quỹ tham nhũng.

Quan chức trộm cắp đằng quan chức, dân trộm cắp đằng dân. Đến nối dân gian có câu: một mét vuông trăm thằng kẻ trộm. Bắt cóc trẻ em còn diễn ra giữa ban ngày và thậm chí giật cả trẻ trên tay cha mẹ con trẻ. Có cái gì mà thiếu sự manh động nữa đâu.

Bảo phóng viên viết bài báo này bỏ balo ra lề đường nơi không có hội nghị xem có nổi 3 phút là không còn tăm hơi không? Nên nhớ rằng nhân dân trong nước phải đối mặt với những vấn nạn nào thì họ là những người hiểu rõ nhất. Vì vậy đừng lấy những tin này để viết báo vì nó là hành động sỉ nhục người dân đấy.

Luân Lê.

Image may contain: one or more people and text

CHẾ ĐỘ TRIỀU TIÊN LÀ CHẾ ĐỘ GÌ?

A Nguyen Quang

CHẾ ĐỘ TRIỀU TIÊN LÀ CHẾ ĐỘ GÌ?

Năm 1968, mình đi dịch cho ông Nguyễn Duy Trinh “nghỉ” cùng gia đình ở Hungary (Cùng với gia đình đại tướng Võ Nguyên Giáp ở một villa không xa). Tại một bữa cơm tối thân mật mà ông Peter János, Bộ trưởng bộ ngoại giao Hungary khi đó khoản đãi, ông Trinh kể chuyện:
– Tôi có đến thăm công xã Đại Trại ở Trung Quốc, xây dựng XHCN mà thế thì xây làm gì!

Ông PJ không bình luận gì. Nhưng khi ông Trinh bảo:
– Tôi có đi thăm Bắc Triều Tiên và chẳng biết chế độ đó là chế độ gì!
– PJ: đồng chí bộ trưởng ạ, chúng tôi từ lâu đã gọi chế độ đó là CHẾ ĐỘ PHÁT XÍT PHONG KIẾN!

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

Image may contain: 1 person

Son Cao

CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.

Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.

Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.
” Anh yêu quý,

Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.

Vợ anh
Lê Thị Hồng”

Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.

Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.

Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.

Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.

Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.
“Hồng em,

Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.

Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.

Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.

Chồng em
Nguyễn Hữu”

Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.

Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”

Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. ”

“Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”
Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”

Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”

Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”

Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.

Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.
Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.

Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.

Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.
Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.

Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.

Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.

Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.

Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.

Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…
Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.

Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

Phan Xuân Sinh

Hơn 1350 người chết vì tai nạn giao thông trong hai tháng

Hơn 1350 người chết vì tai nạn giao thông trong hai tháng

02-28-2019
Ảnh minh họa: Xe tải đang cẩu một xe ô tô bị tai nạn trên đường vào tháng 10/2008

Ảnh minh họa: Xe tải đang cẩu một xe ô tô bị tai nạn trên đường vào tháng 10/2008

 AFP

Trong hai tháng đầu năm nay có hơn 1350 người tại Việt Nam thiệt mạng vì tai nạn giao thông; số người bị thương do tai nạn giao thông gây ra là gần 2200 người.

Bộ Công An và Ủy Ban An Toàn Giao Thông Việt Nam công bố số liệu vừa nêu và được Thông Tấn Xã Việt Nam loan đi ngày 28 tháng 2.

Thống kê cho thấy có hơn 2800 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên cả nước trong tháng 1 và tháng 2; riêng trong tháng hai con số này là gần 1300 vụ khiến 627 người chết và hơn 1 ngàn người bị thương.

Ông Khuất Việt Hùng, Phó Ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia Việt Nam, cho biết có những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, không chỉ làm chết người mà thiệt hại về vật chất rất lớn.

Ủy Ban An Toàn Giao Thông cùng các cơ quan chức năng Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, giảm ùn tắc trong thời gian tới; nhất là thời gian vẫn còn nhiều lễ hội diễn ra sau dịp Tết cổ truyền.

Bao giờ Việt Nam bằng… Campuchia?

Bao giờ Việt Nam bằng… Campuchia?

Trong chuyến đi hơn 2 tuần vừa rồi, sở dĩ tụi mình dành hết 10 ngày, đi qua 5 tỉnh/ thành ở Campuchia, là vì:

1- Nghe nhiều người nói Việt Nam đã bị Campuchia bỏ lại đằng sau, rằng Campuchia đã qua mặt VN, nên mình muốn biết đất nước láng giềng này hơn VN những gì.

2- Mình muốn ông xã trải nghiệm thực tế cuộc sống của người dân ở đất nước thuộc thế giới thứ ba ra sao, bởi ổng chỉ biết những nước này qua TV. Mà TV thì khác xa với ngoài đời, bởi khi xem TV, ổng không có những trải nghiệm thực tế, như không hít bụi, không ngửi được mùi rác nơi người dân sống chung hàng ngày.

3- Tuổi thơ của mình những năm trước năm 1975 sống ở biên giới Việt – Cam, chỉ cần bơi qua con sông mà mình tắm hàng ngày, tới bờ bên kia là đất Campuchia. Dù chưa một lần bước qua đất Cam, nhưng mình có cảm giác gần gũi với người dân ở xứ Chùa Tháp.

***

Sau 10 ngày trải nghiệm thực tế, có thể nói, Campuchia đã thật sự qua mặt Việt Nam nhiều mặt, nhất là về mặt đạo đức con người.

Bước xuống phi trường Phnom Penh, Siem Riep, hay Sihanoukville, mình không có cảm giác bất an như đã đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất 17 năm trước. (Mình về VN chỉ 1 lần duy nhất là năm 2002, từ đó tới nay đã không về nữa).

Khi xuống các phi trường ở Campuchia, mình không phải sợ bị rọc hành lý, không lo bị mất đồ (không thấy hành lý ở các phi trường này bị băng bó như hành lý ở phi trường Tân Sơn Nhất). Tụi mình không phải lo lót hối lộ như kẹp 5-10 đô vào hộ chiếu (như những người đi trước chỉ bảo), để “lo lót” cho những người làm thủ tục nhập cảnh.

Tụi mình không nộp đơn xin visa trước ở trên mạng, mà bay tới phi trường mới làm “Visa on Arrival”. Lệ phí $30 và mình trả đúng $30, không trả thêm đồng nào và cũng không bị hoạnh hẹ, không bị bắt phải chờ đợi vì phân biệt, mà chỉ xếp hàng chờ tới lượt mình như bao nhiêu người khác. Người làm thủ tục nhìn hồ sơ, biết mình gốc Việt, họ nói “cám ơn” tiếng Việt với mình (là điều mà mình hiếm khi nghe công an di trú ở VN nói với người dân).

Trên đường phố không thấy công an thổi còi, chặn xe lại để đòi tiền mãi lộ từ các tài xế. Cũng không thấy công an đứng chốt tại các ngã tư đường như ở VN. Nhưng ở những nơi đông người, bị kẹt đường, thấy có công an xuất hiện, chặn dòng xe cộ để giúp các tài xế de xe ra.

Trong suốt thời gian ở đây, mình chưa từng thấy công an chặn xe lại đòi tiền bất kỳ người nào. Mình có hỏi người quen về chuyện ăn hối lộ của công an ở đây, họ nói có, nhưng ít hơn và không phải chuyện gì cũng đòi ăn, trắng trợn như ở VN.

Người dân Campuchia hiền lành, chất phác, không thủ đoạn, lường gạt… nên mình luôn có cảm giác an toàn. Ngoại trừ TP Sihanoukville là nơi đã bị người Tàu gần như chiếm đóng, nên mình được khuyến cáo là không nên ra đường vào ban đêm, tất cả các TP khác mình không phải lo sợ bị giựt dọc, trộm cướp… mỗi khi ra đường.

Hôm tụi mình tới Siep Reap khi trời đã tối, người lái taxi ra phi trường đón tụi mình, đưa về khách sạn, nhận phòng xong cũng đã gần 10h tối. Tụi mình hỏi tiếp tân khách sạn, rằng tụi mình muốn đi ra phố, liệu có an toàn không? Người tiếp tân bảo: An toàn, cứ đi, không vấn đề gì, nếu đi bộ chỉ mất 5 phút, còn kêu xe tuk tuk thì tốn chỉ $1.

Tụi mình thả bộ ra Pub Street và Night Market ở gần đó, để có cảm giác đi bộ vào ban đêm ở đất nước này như thế nào. Lần này và cũng như bao nhiêu lần sau đó, tụi mình không hề lo sợ bị cướp giật, trộm cắp, móc túi, và cũng chẳng hề chứng kiến cảnh cướp giật ở đây lần nào.

Có lần, để trò chuyện với người dân ở đây, mình ghé vào tiệm lề đường làm móng tay ở Siem Reap. Khi thấy người khách trước mình trả tiền, tờ giấy $20, không có tiền lẻ nên cô thợ chạy đi đổi, bỏ mình với người khách kia ngồi lại ở shop ven đường. Tủ đựng những chai nước sơn bằng kính, cũng là nơi để tiền, cô ấy để ở lề đường, có chìa khóa dính vào, nhưng cô ấy không mang chìa khóa đó theo. Bên trong có những tấm giấy bạc $10-20 đô (Campuchia xài tiền đô la Mỹ và tiền Riel song song), nhưng cô ấy cứ bỏ đó, chạy tới chạy lui mà không sợ bị mất. Điều này cũng làm cho mình an tâm hơn, vì nghĩ rằng không có người tham ở đây nên cô ấy mới dám bỏ đi như vậy.

Trên đường phố, tụi mình không hề chứng kiến cảnh người dân lớn tiếng với nhau, cũng chưa từng chứng kiến cảnh đánh lộn trên đường. Ở đây không có nạn bóp kèn xe inh ỏi. Các tài xế thường chào nhau bằng hai tiếng kèn tik tik, chứ không bóp kèn để chửi nhau. Cũng không có cảnh các tài xế tranh giành khách, đánh nhau. Nói chung là người dân họ nhường nhịn nhau, giúp đỡ nhau, chứ không phải đạp lên nhau mà sống.

Ở những ngôi chùa, đền thờ mà tụi mình đã đi qua, hiếm thấy những hòm công đức, hay những nơi để tiền vào. Họ không hối lộ Phật pháp, không đặt tiền vào tay Phật (Nhưng tới những ngôi chùa có đông người Việt và người Tàu tới, như ở núi Bokor, thì thấy có cảnh này). Có những ngôi chùa trên núi cao như chùa Samathi ở Krong Kaeb, khi bước vào mình không hề thấy người, vì các sư tu tập ở các am gần đó, chứ họ không có mặt ở trong chùa.

Mình hỏi chuyện người dân ở đây, họ cho biết, đa số người dân Khmer theo đạo Phật (hơn 95%). Tới tuổi nào đó, họ phải vào chùa tu 3 năm để học làm người và để trả hiếu cho cha mẹ. Có lẽ vậy, nên người dân Campuchia thấu hiểu Phật pháp, nhân quả, nên họ sống hiền lành, lương thiện hơn, không có những mưu mô như người dân mình? Cũng có thể họ chưa từng bị cộng sản cai trị (ngoại trừ giai đoạn Khmer Đỏ), nên họ chưa bị nhiễm những tật xấu như một số người VN mình?

Một điều nữa mà mình nhận ra rằng, suốt những con phố đi qua, không thấy những bảng cảnh báo như “coi chừng móc túi” hay “khóa xe cẩn thận”… ở nơi công cộng. Điều này cũng làm cho mình có cảm giác an toàn hơn lần về VN. Nhìn chung, đạo đức của nhiều người ở đây còn khá tốt, chưa bị băng hoại như được biết ở trên quê hương mình.

Nếu không thể sống ở nơi nào khác ngoài VN, có lẽ Campuchia là nơi mà mọi người cân nhắc, vì nơi đó con người vẫn còn là con người. Chỉ có điều rất khó nhập quốc tịch ở đây, cũng như khó làm kiếm tiền vì đất nước này chủ yếu sống nhờ nông nghiệp và du lịch. Thu nhập hàng năm của người dân Campuchia thấp hơn dân VN, nhưng có nhiều điểm họ hơn người dân VN.

Ảnh chụp ông xã mình ở Pub Street hơn 10h tối, đêm đầu tiên tụi mình tới Siem Reap và ảnh chụp tụi mình đi thăm Angkor Wat. Siem Reap ồn ào hơn, nhưng sạch sẽ hơn Phnom Penh, là nơi mọi người nên tới nếu đã đặt chân lên đất Chùa Tháp.

Image may contain: 1 person, smiling
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing, sky, tree and outdoor
Image may contain: 2 people, sky, cloud and outdoor
Image may contain: 1 person, smiling, standing and outdoor
Image may contain: outdoor

Có tin ông Trump sẽ rời Hà Nội sớm.

Hoa Kim Ngo and 2 others shared a post.
Image may contain: 3 people, people sitting

BBC News Tiếng Việt

TIN NÓNG: Nhà Trắng vừa cho hay Thượng đỉnh Trump-Kim bị rút ngắn trong ngày 28/2. Không có bản thỏa thuận nào được ký kết giữa hai bên cho tới thời điểm này. Bữa ăn trưa giữa hai bên bị hủy trong khi ông Trump yêu cầu họp báo sớm vào khoảng 2PM hôm nay.

Cũng có tin ông Trump sẽ rời Hà Nội sớm.

TRỰC TIẾP tại https://www.bbc.com/vietnamese/live/world-47349957

Photo: Gettty Images

  • Hoa Kim Ngo shared a post.

    3 hrs

    BBC:, TIN NÓNG: Nhà Trắng vừa cho hay Thượng đỉnh Trump-Kim bị rút ngắn trong ngày 28/2. Không có bản thỏa thuận nào được ký kết giữa hai bên cho tới thời điểm này. Bữa ăn trưa giữa hai bên bị hủy trong khi ông Trump yêu cầu họp báo sớm vào khoảng 2PM hôm nay.

    Cũng có tin ông Trump sẽ rời Hà Nội sớm.

    TRỰC TIẾP tại https://www.bbc.com/vietnamese/live/world-47349957

    …See More

47 người dân Thanh Hóa lao động chui ở Trung Cộng bị chết và mất tích | SBTN

47 người dân Thanh Hóa lao động chui ở Trung Cộng bị chết và mất tích

Tin Thanh Hóa – Ngày 26 tháng 2, báo Công Lý loan tin, thống kê của công an CSVN tỉnh Thanh Hóa cho biết, tính riêng từ năm 2015 đến nay, toàn tỉnh này có 41 người xuất cảnh sang Trung Cộng lao động bị tử vong, thi thể được đưa về địa phương an táng, và có 6 người khác bị mất tích, người thân không thể liên lạc được. Ngoài ra, có gần 3,000 người đi sang Trung Cộng làm thuê không phép đã bị công an Trung Cộng bắt, trục xuất về nước, và 29 người bị tòa án Trung Cộng mang ra xét xử.

Cuối năm 2018, có 1,026 người dân Thanh Hóa đi lao động trái pháp luật và trở về quê ăn Tết, trong khi 859 người không về. Trước Tết Kỷ Hợi năm 2019, toàn tỉnh Thanh Hóa đang còn 1,885 người đang lao động trái pháp luật tại Trung Cộng. Con số này giảm 86.17% so với năm 2015.

Nguyên nhân nhiều người dân sang Trung Cộng lao động trái phép được cho rằng, họ là lao động nghèo, không có tay nghề, đặc biệt là những người dân vùng biển, nên rất khó xin việc làm, trong khi đó tiền môi giới sang Trung Cộng làm việc thấp hơn sang các nước khác, và đi lại cũng dễ dàng hơn nên họ đã nhắm mắt bấp chấp nguy hiểm để tìm kiếm “vùng đất hứa.”

Anh Đới Văn K., ở huyện Quảng Xương cho biết, anh đã bỏ 5 triệu đồng để nhờ môi giới làm thủ tục sang Trung Cộng làm công việc trồng và thu hoạch hoa màu. Làm được thời gian ngắn, anh K. và những người khác bị một nhóm người ập đến bắt bớ, ai chống đối bị đánh đập. Sau đó, nhóm người này đã họ lên xe thùng chở đến một địa điểm tập trung có nhiều người lao động từ nhiều nước khác nhau. Sau khi những lao động này bị nhốt khoảng 7 ngày, phải ăn uống kham khổ, thì công an Trung Cộng đến bắt trục xuất về nước. Anh K. không lấy được bất kỳ một đồng tiền công nào.

Tập đoàn Trung Nguyên c.ướp đất của người dân Buôn Ma Thuột như thế nào?

Tập đoàn Trung Nguyên c.ướp đất của người dân Buôn Ma Thuột như thế nào?

Sau cả chục năm chuẩn bị, xây dựng tập đoàn Trung Nguyên Legend đã khánh thành và đưa vào sử dụng Bảo tàng Thế giới Cà phê ngày 24/11/2018. Địa điểm khu đô thị The Coffee City, thành phố Buôn Ma Thuột

Đáng lẽ ra khi chị Thảo – Trung Nguyên khai trương đưa vào vận hành Bảo tàng thế giới Cà Phê, ngỡ đây sẽ là niềm hân hoan vui sướng tột độ của đồng bào Tây Nguyên nói chúng và người dân TP.Buôn Ma Thuột nói riêng. Thế nhưng, ít ai biết đó chỉ là bề ngoài chứ không mấy người biết được những nỗi niềm phía sau sự hân hoan vui sướng đó.Bảo tàng đi vào hoạt động, hàng ngày sẽ được đón hàng trăm, hàng nghìn lượt khách tới tham quan, vui chơi giải trí. Tuy nhiên những vị khách ấy đâu có biết sau vẻ hào quang của Bảo tàng đó là cả bao nỗi khốn cùng của người dân bị mất đất, họ đâu có biết rằng chị Thảo vẫn còn “NỢ NGƯỜI DÂN” nơi đây tiền đền bù GPMB, đặc biệt là 09 hộ dân chưa được đền bù một cách rẻ mạt kiểu vừa bố thí vừa ăn c.ướp của chị Thảo.

Với mức vốn điều lệ khủng 3.160 tỷ trong đó anh Đặng Lê Nguyên Vũ chiếm 60% cổ phần và chị Lê Hoàng Diệp Thảo chiếm 30% cổ phần của công ty này. Nên Trung Nguyên được sự hậu thuẫn khá ưu ái từ phía UBND tỉnh Đắk Lắk, ngày 9/12/2016 tỉnh đã ký Quyết định số 3665 về việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Đô thị sinh thái văn hóa cà phê Suối Xanh, TP.Buôn Ma Thuột với diện tích 45,45 ha và tổng mức đầu tư 2.800 tỷ đồng.

Thời gian thực hiện dự án b.ắt đầu từ 2016 dự kiến đến năm 2020 hoàn thành. Tuy nhiên, trong văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND tỉnh Đắk Lắk đối với dự án này lại không có quy định về thời hạn giao đất. Được biết ở Đắk Lắk, ngoài dự án khu đô thị The Coffee City này thì công ty Trung Nguyên còn 5 dự án khác vừa là BĐS vừa là sản xuất kinh doanh có diện tích lên tới gần 1.400 hecta.

Dự án The Coffee đến mãi cuối năm 2017 mới có được bản đồ quy hoạch chi tiết 1/500 còn báo cáo ĐTM chưa có. Thế nhưng Trung Nguyên rất lẹ chân, đã tiến hành GPMB xong và thi công rầm rộ. Tiến độ được triển khai một cách cấp tập, cập dập đẩy nhanh đến mức mà chị Thảo nỡ lấy đi cả chục hecta đất giao cho người dân theo chương trình 132 của Chính phủ. Để rồi năm lần bảy lượt chị xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được vẫn bị ở trong cái vòng quay luẩn quẩn đó. Để đạt được mục đích chị vẫn hạ quyết tâm bằng mọi giá lấy bằng được 45 hec ta đất xây dựng nó.

Bảo tàng cafe Trung Nguyên

Báo cáo chỉ là báo cáo, hiện nay vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chưa được nhận tiền đền bù từ dự án, họ vẫn ngày đêm miệt mài khiếu kiện. Có một số hộ đã nhận được tiền đền bù thì cũng giá rẻ mạt như là phần bố thí của doanh nghiệp. Trong khi đó dự án phân lô cắt nền đã bán hết veo từ ngày mở bán với giá trên trời gần 3 tỷ đồng một lô đất 100 m2 lô nhỏ, có lô cả gần chục tỷ đồng.

Ở Đắk Lắk còn rất nhiều chuyện khá li kỳ và lợm lĩnh của chị Thảo, không chỉ riêng chuyện Bảo tàng thế giới Cà phê đâu. He he biết đâu mai này lại có thêm Việt Phủ Diệp Thảo chẳng ai dám động bởi chị làm được cả bảo tàng cơ mà.

Thay cho lời kết của bài như Qua nói “Tiền để làm gì? Tiền nhiều để làm gì mà để ngày hôm nay ngồi như thế này?”.

Thái Văn Đường