Hospice- Con đường ngắn nhất để đến thiên đường  

Hospice- Con đường ngắn nhất để đến thiên đường  

Ngày 3 tháng 2 nghĩa là cách đây 2 tháng rưỡi, ông ung thư ruột già bỗng dưng nỗi cơn thịnh nộ, ổng hành hạ tôi đến ngất ngư, những cơn đau xé ruột suốt ngày đêm, uống thuốc gì cũng không giảm đau được , nếu lúc đó có thuốc morphine thì họa may , các con của tôi đòi chở tôi lên bệnh viện nhưng tôi từ chối, tôi sợ bệnh viện lắm rồi , ở đó họ lấy máu, scan, súc ruột, rồi cho lên phòng mổ , tôi đã trải qua 2 lần mổ, ngán lắm 

Suốt tháng 3 tôi bỏ ăn, người gầy như con ma đói,tưởng tôi sắp chết anh chị Hai từ Michigan bay qua thăm, Vợ chồng con gái đầu cũng bay qua thăm..

Con gái út gọi bác sĩ, ổng thẩm định bệnh của tôi không thể nào chữa được và yêu cầu tôi theo chương trình Hospice tại nhà , tôi chấp nhận 

Hospice  là nơi săn sóc những người bệnh ở vào giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, tức là chỉ còn 6 tháng trở lại. Những người này đã bị các bệnh viện từ chối điều trị. Bệnh viện yêu cầu đưa về nhà để lo việc hậu sự. Khi đem về nhà nếu không có Hospice hay dịch vụ Hospice thì con cái phải thay phiên nhau săn sóc, phải mời bác sĩ tới rồi thành ra có nhiều rắc rối, lại gây ra nhiều công việc cho người nhà. Khi có hậu sự người nhà cũng phải tự lo liệu lấy. Các cơ sở Hospice sẽ săn sóc hết, một cách toàn diện, một cách nhân bản, tức là săn sóc về thể xác bằng cách làm bớt đau đớn, săn sóc về tình cảm, an ủi, săn sóc về tâm linh, có đại diện của các tôn giáo đến để nói chuyện, để an ủi.. Ngoài việc giúp gia đình khỏi phải chăm sóc 24/24 mà còn giúp gia đình lo về hậu sự nữa.”

Hospice không phải là dịch vụ chữa bệnh, mà là một dịch vụ săn sóc, an ủi, và hỗ trợ bệnh nhân cũng như gia đình. Dịch vụ này có thể được cung cấp ở bất cứ nơi nào bệnh nhân gọi là “nhà,” tại tư gia, tại một trung tâm dưỡng bệnh, hay một viện dưỡng lão (nhưng không phải là bệnh viện, nơi bệnh nhân được điều trị cho khỏi bệnh). Mục tiêu của hospice care không phải là để chữa bệnh, mà để làm cho thời gian còn lại của người bệnh được thoải mái hơn.

Hằng tuần chiều thứ 3 một phái đoàn của hospice gồm một y tá,một nhân viên xã hội (giúp đỡ  về việc hậu sự, như nhà quàn v..v), một nhân viên vềdược ( cho thuốc) , một nhân viên về tâm linh (lo về chùa chiền nếu bệnh nhân là phật giáo) và một thông dịch viên người Việt(họ chỉ tin khả năng tiếng Anh của TDV thôi) họ cung cấp cho tôi một chiếc giường có thể điều chỉnh cao thấp, lên xuống, tôi nói tôi đau lưng ,hô cung cấp một nệm mút chống đau lưng  v…v ..

Khi gặp tôi tại nhà, họ tạo bầu không khí vui nhộn, tiếng cười vang lên không ngớt, nhưng có khi họ bàn nhiều về cái chết, về hậu sự , tôi vẫn tỉnh bơ, còn lần tôi hét lên, tại sao các người cứ bàn về chuyện chết…..Tôi không chết đâu

Thật tình tôi không sợ chết , tôi vẫn vui vẻ,yêu cuộc sống, hơn nữa bên cạnh tôi có bà xã tận tình chăm sóc, từ miếng cơm, giấc ngũ , hai cô con gái ở gần hết lòng hiếu thảo, sáng đi làm, tranh thủ ghé qua các nhà hàng ăn nhanh mua  cho bố một cái bánh Croissant Breakfast Sandwich hay một hộp soup gà , tối còn ghé thăm, hàn huyên với bố

Tôi đã trải qua hơn 2 tháng chương trình Hospice care,chỉ còn 3 tháng tôi sẽ bỏ cuộc chơi, lìa bỏ cõi  trần gian đầy nghiệt ngã vì tôi biết cõi trần nầy là giả tạm, không có thật , quả thật nếu tôi mất đi đó là tin vui, vì tôi đã vào được cổng thiên đường

Doanh doanh

From: TU-PHUNG

Ông lão kỳ lạ … 

Ông lão kỳ lạ … 

Tôi muốn viết từ lâu, kể chuyện một ông lão kỳ lạ, ông ta sống giữa đời như tất cả chúng ta, song lại hành động rất khác! Lần đầu tiên tôi nghe về lão là mùa Giáng Sinh 1990. Chiều 24 tháng 12 năm ấy, tôi lên thăm bạn ở thành phố Lausanne. 

Chúng tôi rủ nhau đi phố sắm sửa vài món quà cho bữa tiệc thân hữu gặp nhau. Phố xá lạnh lẽo và vắng lặng lắm vì đa số mọi người đã đều đi về đoàn tụ với gia đình. Trời lất phất đổ tuyết, gợi cho lữ khách, tùy tâm trạng, mà cảm thấy lãng mạn hay cô đơn kinh khiếp… Với tôi, năm ấy thật buồn, vì ba mẹ tôi đi Hoa Kỳ thăm bạn, còn tôi vì phải lo học thi cho học kỳ mùa Đông, nên không đi theo được. Ở lại xứ cao nguyên sương mù, gió lạnh trong mùa Giáng Sinh lê thê quả là một chuyện cô đơn khó chịu. May mà còn có bạn bè dễ thương. Họ làm tiệc mời tôi và qua đó cũng ấm lòng người viễn xứ!

Khi ở phố về, chúng tôi chọn đường tắt nên đi ngang qua một chiếc cầu rất dài, bắc lắt lẻo trên ghềnh đá, đứng trên thành cầu nhìn xuống dưới người yếu bóng vía dễ bị xây xẩm vì chiều sâu hun hút hiểm trở. Người bạn đi chung chợt giật tay tôi chỉ một túp lều vải được dựng ngay bên cạnh đầu cầu. Tôi hơi ngạc nhiên, vì mùa này không phải là mùa để người ta cắm trại nơi đây! Bạn tôi kể rằng từ 20 năm nay, mỗi năm cứ đến mùa Giáng Sinh lại có ông già đến đây cắm trại.
  Tôi ngạc nhiên hỏi lý do. Bạn tôi cho biết chiếc cầu này là nơi quyến rũ nhiều người cứ đến mùa Giáng Sinh ra nhảy cầu tự tử. Vì mùa Giáng Sinh ở Thụy Sĩ buồn quá, những người sống cô đơn thường bị cơn trầm cảm (Depression) hành hạ nên dễ tìm cái chết. 

20 năm qua, người đàn ông đã cắm trại ở đầu cầu, nếu thấy ai một mình đứng trên cầu, lập tức ông bước tới nói chuyện khuyên nhủ… Trong lều của ông thường có rượu chát, chocolat và vài món quà nho nhỏ. Người có ý định tự tử thường được ông mời vào lều cho uống rượu tâm tình, cho đến khi người đó bỏ ý định quyên sinh. Trước khi rời khỏi lều, thể nào họ cũng được ông cho món quà có ý nghĩa, với số điện thoại để sau đó cần người nói chuyện thì tìm ông. Ông làm việc âm thầm và không nhờ bất cứ hội đoàn nào giúp sức. Nghe lời kể của bạn tôi, tôi xúc động lắm, thật không ngờ giữa cuộc sống có quá nhiều bon chen, tranh giật lại có Tâm Bồ Tát hiện hành… Tôi kéo bạn tôi đi về phía lều của ông lão và tỏ ý muốn nói chuyện. Ông lão mở cửa lều, mời chúng tôi vào. Đó là một người đàn ông có dáng người khắc khổ, tuổi khoảng trên dưới 70 tuổi, gương mặt đầy từ ái… 
Trong căn lều thiết trí rất đơn giản, có tấm thảm trải cho ấm và một lò than nho nhỏ bên cạnh để sưởi, nấu trà, cafê và thức ăn.
Ông lão hỏi chúng tôi sao lại đứng trên cầu bàn luận lâu vậy, giữa thời tiết giá lạnh trong buổi chiều Noël? Tôi kể ông nghe về cảm nhận của mình khi biết chuyện và vô cùng tán thán hạnh nguyện của ông. Ông lão mỉm cười: “Thì sống trong đời, ta có thể làm được việc gì tốt cho người khác thì phải cố gắng thôi!” Ông cũng cho biết thêm “có nhiều người oán trách tôi vì tôi bắt họ tiếp tục sống để chịu khổ!” Chúng tôi nói chuyện với nhau khoảng 1 giờ đồng hồ về nhiều đề tài rất tương đắc, ông lão rất thông thái, rất tế nhị và khi nói chuyện có sức thuyết phục rất cao. Sau đó chúng tôi từ giã ông để trở về lo bữa tiệc buổi tối. Từ đó, thỉnh thoảng tôi gọi điện thoại nói chuyện với ông. Tình bạn giữa chúng tôi nảy nở và trở nên thân thiết. 
Ông tên Peter Dupont, tuổi đã 72 và sống một mình cô độc. Tôi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao ông không có gia đình… 
 Ông bảo: “Khi trước tôi cũng có bà mẹ nữa, vì phụng dưỡng mẹ nên tôi chẳng lập gia đình, ngày tháng qua đi, trở thành người già khi nào không biết.” 
Ông làm việc tại ngân hàng X với nhiệm vụ chuyển thư từ tài liệu từ văn phòng này tới văn phòng khác. Ông không bao giờ nghỉ, trong suốt 40 năm làm việc tại đây. Khi mẹ ông qua đời trong đêm, ông đến xin phép ban giám đốc cho ông được nghỉ nửa ngày. Ông giám đốc ngạc nhiên thấy ông xin nghỉ, hỏi lý do mới biết đêm qua mẹ ông qua đời. Ông giám đốc kêu trời và bắt ông nghỉ 1 tuần ở nhà lo mọi chuyện. Sau 3 ngày, ông gọi điện thoại xin cho ông đi làm lại kẻo không ông cũng sẽ “chết” như bà mẹ của ông mất, nếu người ta còn bắt ông ở nhà! 

Quả thật tôi không thể hiểu được tại sao có người ham mê công việc đến thế, ông lão trả lời những thắc mắc của tôi rằng: “Ta được sống trong xã hội đầy đủ thế này, ta nợ biết bao nhiêu người, nếu không làm việc để trả lại những ân nghĩa ta vay, thời ta nợ đến bao giờ mới trả nổi!?”

 Tôi giật mình vì lý luận của ông rất gần với tư tưởng Bồ Tát Đạo của Phật Giáo đại thừa, trong khi ông là Ki Tô Hữu.
Với thời gian, chúng tôi khám phá ra ông Dupont cũng chính là khách hàng ở nhà bank nơi bạn tôi làm việc, mặc dù cũng làm việc cho nhà bank, song nhà bank nơi ông làm việc thuộc ngành quản trị gia tài (asset management bank), trong khi ông chưa giàu có để có trương mục tại ngân hàng đó.
Ông biết bạn tôi và rất tin tưởng khi có chuyện gì có liên quan đến ngân hàng tiền bạc. 
Thời gian trôi đi, đã 14 năm kể từ ngày tôi quen ông Dupont. Hàng năm ông vẫn đến cắm trại bên cầu, dù rằng tuổi ông đã quá cao và yếu nhiều. Rất nhiều người biết về ông, có những bài phóng sự hay chương trình truyền hình nói về ông, song chưa bao giờ những thứ ấy khiến ông để ý! Ông thường tỏ ra khó chịu khi người ta tới quay phim, phỏng vấn ông.
Hôm qua, tôi nhận được điện thoại của bạn tôi, tôi đã lặng người đi khi nghe tin ông đã vừa giã biệt cõi đời! Cảm động nhất là trước ngày ông mất, ông nhờ người đẩy xe lăn cho ông tới ngân hàng gặp bạn tôi (sau cơn bệnh cách đây 3 tháng, ông không đi lại được nữa, mà phải ngồi xe lăn), ông mang tất cả các hoá đơn thuế nhà, thuế đất, bill điện nước theo và yêu cầu bạn tôi thanh toán giúp ông… 
Ông bảo: “Ta biết ta sắp ra đi, nay nhờ anh giúp trang trải hết những nợ nần còn sót lại này, ta không muốn còn phải nợ nần gì khi giả biệt cõi trần.” Ông không có nhiều tiền trong trương mục, nhưng sau khi thanh toán còn lại một chút, bạn tôi hỏi ông muốn làm gì, ông bảo làm gì cũng được, song ông có người cháu họ xa, hiện cũng đã 70 tuổi, nếu số tiền còn lại đó sau khi ông qua đời, được chuyển cho người cháu với lời nhắn nhủ là “Giáng Sinh năm nay, ráng thay ông, một năm cũng được ra cầu Lausanne cắm trại cứu người, thì ông sẽ mỉm cười thanh thản ở bên kia thế giới”
Chỉ vậy, hai ngày sau đó ông ra đi thanh thản tại bệnh viện gần nhà…
Một vị Bồ Tát bằng xương bằng thịt đã âm thầm đến và đi, không để lại dấu vết! Tôi không đi dự tang lễ của ông được, nhưng nghe đâu rất đông người tham dự! 
Có nhiều người được ông cứu từ 30 năm về trước cũng mang gia đình con cháu tới tiễn ông.
Mùa thu … vắng lặng và buồn quá! Chiếc lá vàng rơi để trở về với cát bụi … tăng thêm chất màu mỡ cho đất. Một đóng góp cuối cùng! Ông lão kỳ lạ kia cũng vậy…

From: Lucie 1937

Ngày Nầy, Năm 1975

Ngày Nầy, Năm 1975 –

Năm nay tôi 85 tuổi. Vợ tôi thường nói với mấy con: ”Ông bà mình nói người già hay sanh tật, đúng quá! Bây coi: Ba bây bây giờ sáng nào uống cà phê xong cũng lại đứng trước tấm lịch tháng treo ở phòng khách, nhìn trầm ngâm một chút rồi lấy bút gạch tréo ô vuông đề ngày hôm qua! Chi vậy hổng biết? Hỏi ổng thì ổng nói gạch để nhớ rằng đến ngày nầy tháng nầy mình vẫn còn trôi sông lạc chợ! Trời đất! Định cư ở Pháp từ hơn ba mươi năm chớ phải mới đây đâu mà đi gạch lịch từng ngày ! Ổng còn nói gạch để coi chừng nào mình mới thôi gạch để về lại Việt Nam…“

Câu nói của tôi là sự thật nhưng vì vợ tôi không hiểu nên cho là tôi già sanh tật! Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút – một chút thôi – đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…

Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình: Ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ “cái ngày đó” nó vuột khỏi ký ức vốn đã quá hao mòn của tuổi già, tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…

* * *

…Hồi thời trước 75, tôi làm việc cho một hãng dầu ở Việt Nam, phụ trách nhập cảng xăng dầu từ Tân Gia Ba vào kho dầu Nhà Bè để cung ứng cho thị trường dân sự và quân sự miền Nam Việt Nam. Vì trong xứ có giặc nên thị trường quân sự chiếm 60%, trong đó xăng máy bay dẫn đầu. Các bạn tôi trong quân đội giải thích cho tôi biết rằng ở chiến trường miền Nam sự yểm trợ của không lực là quan trọng nhứt. Do đó, tôi luôn luôn theo dõi sát tình hình dự trữ xăng máy bay ở các kho dầu miền Nam, từ kho Nại Hiên Đà Nẵng dẫn xuống kho Cần Thơ thông qua kho lớn ở Nhà Bè…

Vào cuối tháng 3 năm 1975, sau lịnh triệt thoái cao nguyên, tình hình quân sự trở nên ồ ạt. Sợ trở tay không kịp, tôi “còm-măng” (đặt hàng) Tân Gia Ba một tàu xăng máy bay. Hay tin nầy, hãng bảo hiểm có hợp đồng với hãng dầu tôi làm việc đánh điện phản đối, không cho tàu dầu qua Việt Nam viện cớ tình hình bất ổn. Đánh điện qua, đánh điện lại, cù cưa cả tuần họ mới bằng lòng cho tàu dầu qua, với điều kiện phải có hộ tống của Hải Quân Mỹ họ mới cho tàu vào sông Sài Gòn để cập kho Nhà Bè!

Tôi báo cáo với ban giám đốc vì lúc đó ở kho lớn Nhà Bè trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ có bảy ngày tác chiến của Không Quân. Ban giám đốc chấp thuận điều kiện của hãng bảo hiểm. Tôi vội vã gọi điện thoại lại cơ quan yểm trợ Mỹ để xin họp khẩn. Ông trưởng sở trả lời: ”Tôi sẽ đến ngay văn phòng ông. Cho tôi mười phút!“. Tôi quen ông nầy – tên W, thường được gọi là ”Xếp” – nhờ hay đi họp chung. Ông ta dễ thương nhã nhặn, biết chút đỉnh tiếng Pháp nên lần nào gặp tôi cũng nói: ”Bonjour! Xà va?” (Chào ông! Mạnh hả?)

Xếp W đến văn phòng tôi với hai người phụ tá. Tôi đã làm sẵn hồ sơ nên sau khi mời ngồi, tôi trao ngay cho họ để họ dễ theo dõi những gì tôi sẽ trình bày. Mười phút sau, tôi kết luận xin can thiệp gấp để tàu dầu xăng máy bay của hãng tôi được hộ tống, không quên nhắc lại điểm chánh yếu là trữ lượng xăng máy bay chỉ còn đủ để chiến đấu trong vòng có bảy bữa!

Nghe xong, Xếp W xin phép bước ra ngoài gọi radio về trung ương. Một lúc sau, ông trở vào, nét mặt và giọng nói vẫn tự nhiên như chẳng có gì quan trọng hết: “Rất tiếc! Chúng tôi không giúp được! Thôi! Chúng tôi về!“. Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp: “Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi!). Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng ” Allez vous en!” (Ông hãy đi, đi !)…

Tôi ngồi bất động, nghe tức tràn lên cổ vì thấy mình bất lực quá và cũng nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay để kéo đi theo thì ”họ” dán… đầy đường cái nhãn ”hai bàn tay nắm lấy nhau” để chứng tỏ sự thật tình ”khắn khít“, rồi khi không còn cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay giấu mặt, vì biết mười mươi rằng ”thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình”!

Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng: ”Chánh quyền Mỹ từ chối!“. Sau đó, tôi đánh điện qua Tân Gia Ba, cũng chỉ bằng một câu: ”Không có hộ tống“. Họ trả lời ngay: ”OK! Good Luck!” (Nhận được! Chúc may mắn!). Hai chữ cuối cùng, trong hoàn cảnh nầy và vào thời điểm nầy, nghe sao thật đầy chua xot!

Thấy mới có ba giờ chiều, nhưng không còn lòng dạ đâu để ngồi lại làm việc nên tôi lái xe về nhà. Tôi lái như cái máy, cứ theo lộ trình quen thuộc mà đi. Về đến trước nhà, tôi bỏ xe ngoài ngỏ, đi bộ vô. Vợ tôi chạy ra, ngạc nhiên: ”Sao về vậy anh?“. Tôi không nói được gì hết, chỉ gục đầu vào vai vợ tôi rồi bật khóc. Vợ tôi chưa biết những gì đã xãy ra nhưng chắc nàng đoán được rằng tôi phải đau khổ lắm mới phát khóc như vậy. Cho nên nàng vừa đưa tay vuốt vuốt lưng tôi vừa nói, giọng đầy cảm xúc: “Ờ… Khóc đi anh! Khóc đi!“.

Ngày đó, tháng Tư năm 1975… Đúng là ngày nầy!

Tiểu Tử

THU PHÍ NGƯỜI NUÔI BỆNH: MỘT KIỂU TẬN THU TÀN NHẪN

THU PHÍ NGƯỜI NUÔI BỆNH: MỘT KIỂU TẬN THU TÀN NHẪN

Ở xứ Việt thời nay, bệnh vào đến bệnh viện đã là một sự khốn khổ, khốn nạn. Đồng tiền phải đi trước, dù cấp cứu gần chết thì phải đóng tiền mới có người hỏi tới, không thì nằm đó chờ. Một người bệnh ít nhất phải có một người đi theo nuôi bệnh bởi lực lượng y tá, điều dưỡng không thể chăm sóc người bệnh. Con nuôi cha mẹ, vợ nuôi chồng, chồng theo nuôi vợ, con cháu nuôi ông bà.. Không thể không có mặt được. Không chỉ để rót miếng nước, đút miếng cháo, đưa viên thuốc mà còn phải có mặt ở đấy để khi bác sĩ, y tá cần thì đáp ứng ngay. Bệnh nhân nếu ở phòng chăm sóc đặc biệt tức là đã có một chân vào cửa tử thì người nhà càng phải cần có mặt để được gọi tên bất cứ lúc nào. Đến các bệnh viện nhà nước mà xem, đa số bệnh nhân đều là người nghèo đến từ các tỉnh, có người không đủ tiền mua thuốc, và người đi nuôi bệnh thường là sống nhờ cơm từ thiện. Chồng vừa nuôi vợ bệnh vừa chạy xe ôm là chuyện thường tình. Họ nghèo lắm, nghèo đến xác xơ. Nhà có người bệnh, nhất là những bệnh nan y kéo dài ngày chữa trị thì từ gia đình khá khá biến thành hộ nghèo và người nghèo trở thành tàn mạt điêu đứng cũng là chuyện thường tình. Bán trâu, bán ruộng, bán vườn rồi bán nhà khăn gói lên thành phố chữa bệnh cho người thân, trắng tay cũng là chuyện thường tình.

Cán bộ lãnh đạo khi bệnh có phòng riêng, có bác sĩ riêng, có y tá, điều dưỡng riêng, có chế độ chăm sóc cũng riêng. Đa số lại chữa trị ở nước ngoài với cả cặp đô la, cả túi hột soàn mang theo để chi tiêu, chưa kể đến ngân sách nhà nước dành cho họ. Họ đâu thấm cảnh chạy vạy từng đồng mua thuốc, bông, băng. Người thân của họ đâu phải nằm ở hành lang, ở sân bệnh viện để nuôi bệnh, họ đâu phải xếp hàng để kiếm miếng cơm từ thiện qua ngày. Cho nên họ mạnh miệng cho răng thu phí người nuôi bệnh là hợp lý. Tuyên bố như thế là chưa thấm được nỗi đau của dân, chưa đồng cảm với nỗi khổ của dân. Dân đã nghèo tận đáy khi trở thành người bệnh mà tận thu như thế là một việc làm tàn nhẫn. Có thể gọi là vô đạo. Đồng ý là bệnh viện hoạt động phải có kinh phí thế nhưng đã gọi là một chế độ vì dân, do dân và lo cho dân mà còn tính với dân miếng nước dội cầu, một chút ánh sáng của bóng đèn thì chính phủ đó có còn nên tồn tại không? Ngân sách hàng năm dành cho y tế cũng không nhỏ, sao lại nghĩ đến chuyện tận thu những người đi nuôi bệnh, những người đã nghèo đến tận cùng khi đến bệnh viện.

Ngày xưa ở miền Nam, các bệnh viện công còn gọi là nhà thương thí, ở đó bệnh nhân được chữa trị không mất tiền, còn được nuôi ăn. Người nuôi bệnh có chỗ còn được cung cấp các bữa ăn do các tổ chức xã hội phân phát. Họ không hô hào vì dân nhưng họ đồng cảm với hoàn cảnh với người bệnh. Đó là cách đối xử nhân văn, nhân đạo giữa con người với nhau. Còn bây giờ chúng ta hành xử với nhau như thế nào? Các ngài cứ nghĩ việc tận thu, càng nhiều càng tốt, sống chết mặc bay với những lý lẽ nghe qua tưởng chừng rất hợp lý.

“Ngày 10-4, trao đổi với báo chí về vấn đề BV có được thu phí người nuôi bệnh hay không, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng hiện nay các BV đã thực hiện tự chủ tài chính, chủ trương của Bộ Y tế cố gắng tạo điều kiện cho các cơ sở y tế làm chủ về kinh phí để có nguồn trả lương cho nhân viên và thực hiện nhiều công tác khác. Do đó theo Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến, những khoản thu hợp pháp, không sai luật thì BV vẫn được quyền thu.
Trở lại vấn đề thu phí người nuôi bệnh, Thứ trưởng Bộ Y tế nhìn nhận nhiều người không phải là bệnh nhân vào BV nhưng sử dụng điện, nước, vệ sinh, ảnh hưởng môi trường. “BV phải cử nhân viên hoặc thuê người dọn dẹp vệ sinh và trả tiền cho các khoản điện, nước này. Về nguyên tắc, BV là đơn vị tự chủ kinh phí nên người vào sử dụng dịch vụ phải trả tiền là hợp lý”

Cái hợp lý mà các ngài đang đề cập đến là sự hợp lý tàn nhẫn vô nhân đạo. Sự tận thu này đã đẩy người bệnh đã nghèo càng khổ thêm, họ càng túng quẫn hơn khi phải thêm một khoản kinh phí không biết tìm đâu. Họ lại phải nhịn ăn, bán thêm ruộng vườn để đáp ứng việc tận thu của các ngài. Khốn nạn thật!

From: Nguyen Tien Dung & Kim Bang Nguyen

  ĐTC Phanxicô – Giảng Lễ Đêm  Phục Sinh

From: Daminhmariacaotantinh
ĐTC Phanxicô – Giảng Lễ Đêm  Phục Sinh

Những người phụ nữ mang dầu thơm đến mồ, nhưng họ sợ rằng hành trình của họ vô bổ, bởi tảng đá to chặn ở ngay cửa mồ. Cuộc hành trình này của những người phụ nữ ấy cũng là cuộc hành trình của chúng ta; nó giống như cuộc hành trình cứu độ chúng ta đã thực hiện buổi tối hôm nay. Có những lúc mọi sự xẩy ra dường như chạm đến một tảng đá, chẳng hạn như vẻ mỹ lệ của tạo vật trái ngược lại với thảm cảnh của tội lỗi; việc giải phóng cho khỏi tình trạng nô lệ phản nghịch lại với tính cách bất trung của giao ước; những lời hứa của các vị tiên tri ngược nghịch lại với thái độ lãnh đạm khôn xiết của dân chúng. Cũng thế ở nơi lịch sử của Giáo Hội cũng như nơi lịch sử bản thân của chúng ta. Những nỗ lực của chúng ta dường như không bao giờ đưa chúng ta tới được đích điểm. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng niềm hy vọng bị hổng lỗ của chúng ta là một thứ luật hoang trống của đời sống.

Tuy nhiên, hôm nay chúng ta thấy rằng cuộc hành trình của chúng ta không phải là một cuộc hành trình vô bổ; nó không đụng chạm tới tảng đá chắn cửa mồ. Một câu nói làm cho người nữ bàng hoàng sửng sốt và làm biến đổi lịch sử đó là: “Tại sao các bà tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?” (Luca 24:5). Tại sao anh chị em nghĩ rằng mọi sự chẳng còn hy vọng nào nữa, rằng không ai có thể loại đi tảng đá chắn cửa mồ của anh chị em? Tại sao anh chị em thoái lui và chào thua chứ? Phục Sinh là lễ của tảng đá chắn cửa mồ bị đẩy lui, những cục đá bị đẩy sang một bên. Thiên Chúa thậm chí có thể loại đi những tảng đả cứng nhất khiến các niềm hy vọng và niềm trông đợi của chúng ta bị tan vỡ: như sự chết, tội lỗi, nỗi sợ, thế tục. Lịch sử của nhân loại không kết thúc trước một tảng đá chắn cửa mồ, vì hôm nay đây nó gặp gỡ “tảng đá sống” (cf 1Phêrô 2:4) là Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta, như Giáo Hội, được xây dựng trên Người, và ngay cả lúc chúng ta cảm thấy chán chường và có khuynh hướng phán đoán tất cả mọi sự theo chiều hướng thua bại, Người đến dể làm cho tất cả mọi sự trở nên mới mẻ, để lật ngược hết mọi niềm thất vọng của chúng ta. Mỗi người chúng ta được kêu gọi, vào đêm nay đây, tái nhận thức vào Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã đẩy tảng đá nặng nhất ra khỏi lòng của chúng ta. Bởi vậy trước hết chúng ta hãy tự vấn xem: Đâu là tảng đá tôi cần loại bỏ, tên của nó là gì?

Cái thường ngăn chặn niềm hy vọng là tảng đá thất vọng. Một khi chúng ta bắt đầu nghĩ rằng hết mọi sự xẩy ra tồi tệ và không còn gì tệ hơn nữa là chúng ta đã tỏ ra chán nản và tin rằng sự chết mãnh liệt hơn sự sống. Chúng ta trở nên yếm thế, tiêu cực và ngã lòng. Đá chồng chất, chúng ta xây lên trong chúng ta một thứ bia kỷ niệm những gì là bất mãn của chúng ta: đó là Ngôi Mộ của niềm hy vọng / the sepulcher of hope. Đời sống trở thành một chuỗi dài đầy những than trách và tinh thần của chúng ta bị bệnh hoạn. Thay thế vào đó là một thứ tâm lý mồ mả (tomb psychology): hết mọi sự đều kết thúc ở đó, không còn niềm hy vọng nào tồn tại. Thế nhưng, vào lúc ấy, chúng ta vẫn còn nghe thấy một lần nữa câu vấn nạn của Lễ Sinh: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Chúa không còn được tìm thấy nơi những gì là thoái lui. Người đã sống lại: Người không còn ở đó nữa. Đừng tìm kiếm Người ở nơi anh chị em không bao giờ thấy Người: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của kẻ sống (xem Marco 22:32). Anh chị em đừng chôn vùi đi niềm hy vọng!

Có một tảng đá khác thường cha lấp tâm can khóa kín, đó làtảng đá tội lỗi. Tội lỗi là những gì quyến rũ; nó hứa hẹn những gì là dễ dàng và chóng vánh, những gì là thịnh vượng và thành công, thế nhưng sau đó chỉ lưu lại những gì là cô độc cùng chết chóc. Tội lỗi là những gì tìm kiếm sự sống nơi kẻ chết, vì ý nghĩa của đời sống chỉ ở nơi những gì qua đi. Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Tại sao anh chị em không quyết tâm từ bỏ tội lỗi, giống như một tảng đá ở trước cửa lòng của anh chị em, những gì ngăn cản ánh sáng của Thiên Chúa khỏi lọt vào chứ? Tại sao anh chị em không yêu chuộng Chúa Giêsu là ánh sáng chân thật (xem Gioan 1:9) hơn là những tia nhấp nhánh của giầu sang phú quí, của nghề nghiệp, của kiêu hãnh và của khoái lạc chứ? Tại sao anh chị em không nói với những sự vật trên thế gian này rằng anh chị em không còn sống cho chúng nữa, mà là cho Chúa của sự sống?

Chúng ta hãy trở lại với những người phụ nữ đi đến mồ của Chúa Giêsu. Họ bang hoàng khựng lại trước tảng đá đã bị lăn ra khỏi đó. Khi thấy các thiên thần thì, như Phúc Âm thuật lại, họ đứng đó “run sợ, và cúi đầu xuống đầt” (Luca 24:5). Họ không đủ can đảm để ngước đầu lên. Biết bao lần chúng ta cũng làm như thế? Chúng ta thích ở lại với những gì là hỗn độn trong các thứ thiếu sót của chúng ta, co cụm lại nơi những nỗi sợ hãi của chúng ta. Đó là những gì quái lạ, vậy mà tại sao chúng ta lại làm như thế? Không phải là không thường xuyên là vì, ủ rũ và khép mình lại, chúng ta mới cảm thấy làm chủ được mình, bởi ở một mình trong tối tăm nơi cõi lòng của mình thì thoải mái hơn mở lòng mình ra cho Chúa. Tuy nhiên, chỉ có Người mới có thể nâng chúng ta lên. Một thi sĩ đã từng viết rằng: “Chúng ta không bao giờ biết được chúng ta cao như thế nào. Cho đến khi chúng ta được kêu gọi chỗi dậy” (E. Dickinson). Chúa kêu gọi chúng ta chỗi dậy, chỗi dậy bằng lời của Người, để nhìn lên và để nhận thức rằng chúng ta được dựng nên cho trời cao, chứ không phải cho đất thấp, cho những đỉnh cao của sự sống, chứ không phải có hố thẳm của sự chết: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?

Thiên Chúa xin chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống như chính Ngài nhìn nó, vì nơi từng người chúng ta Ngài không ngừng thấy cái cốt lõi mỹ lệ bất khả chế ngự. Nơi tội lỗi, Ngài thấy những người con nam nữ của mình cần phải được phục hồi; nơi sự chết, những người anh chị em cần phải đưoợc tái sinh; nơi cô độc, những tấm lòng cần phải được canh tân. Vậy thì đừng sợ: Chúa yêu sự sống của anh chị em, ngay cả khi anh chị em sợ nhìn vào nó và nắm lấy nó trong tay. Nơi Phục Sinh Ngài cho anh chị em thấy Ngài yêu thương sự sống đó biết bao: thậm chí cho đến độ sống nó một cách trọn vẹn, khi cảm nghiệm nỗi sầu thương, tình trạng bị bỏ rơi, sự chết và âm phủ, để có thể chiến thắng mà nói với anh chị em rằng: “Các con không lẻ loi cô độc một mình đâu; hãy tin tưởng vào Cha!” Chúa Giêsu là một chuyên gia biến sự chết thành sự sống, biến việc khóc thương của chúng ta thành mừng vui hớn hở (xem Thánh Vịnh 30:11). Với Người, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm thấy một cuộc Vượt Qua (a Pasch – a Passover) – từ khuynh hướng qui ngã đến mối hiệp thông, từ nỗi cô độc đến niềm ủi an, từ sợ hãi đến tin tưởng. Chúng ta đừng cứ cúi gầm mặt xuống đất một cách sợ hãi, nhưng hãy hướng mắt của chúng ta về Chúa Giêsu phục sinh. Ánh mắt của Người làm cho chúng ta tràn đầy hy vọng, vì nó nói với chúng ta rằng chúng ta không ngừng được yêu thương và cho dù chúng ta có đủ mọi thứ bê bối, tình yêu thương của Người vẫn không hề đổi thay. Đó là niềm tin tưởng duy nhất bất khả thương thuyết chúng ta có được trong đời: tình yêu thương của Người không thay đổi. Chúng ta hãy tự vấn xem: Trong đời sống của mình, tôi đang tìn kiếm ở đâu đây? Tôi đang hướng mắt về bãi tha ma hay tìm kiếm Đấng Đang Sống?

Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Những người phụ nữ nghe thấy những lời này của các vị thiên thần, những vị còn nói: Hãy nhớ những gì Người đã nói với các bà khi Người còn ở Galilêa” (Luca 24:6). Những người đàn bà này đã đánh mất niềm hy vọng, vì họ không thể nhớ lại những lời của Chúa Giêsu, lời kêu gọi của Người xẩy ra ở Galilêa. Vì mất đi ký ức sống động về Chúa Giêsu nên họ mới cứ tìm kiếm ở nấm mồ. Đức tin bao giờ cũng cần trở lại Galilêa, để tái tấu tình yêu ban đầu của nó với Chúa Giêsu cũng như với ơn gọi của Người: hãy nhớ lại, hãy quay lại với Người bằng tất cả trí khôn của chúng ta và bằng tất cả tâm can của chúng ta. Việc trở lại với một tình yêu sống động của Chúa là những gì thiết yếu. Bằng không, đức tin của chúng ta chỉ là một “bảo tang viện”, chứ không phải là một đức tin Phục Sinh. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật trong quá khứ; Người là một con người đang sống động hôm nay đây. Chúng ta không biết Người theo các sử sách; chúng ta gặp gỡ Người trong cuộc sống. Hôm nay, chúng ta hãy nhớ đến việc Chúa Giêsu đầu tiên đã kêu gọi chúng ta ra sao, Người đã không chế bóng tối tăm của chúng ta như thế nào, không chế việc kháng cự của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, và Người đã chạm đến cõi lòng của chúng ta bằng tình yêu của Người ra sao.

Những người phụ nữ, tưởng nhớ Chúa Giêsu, đã rời bỏ ngôi mộ. Lễ Phục Sinh dạy chúng ta rằng thành phần tín hữu đừng có lân la ở bãi tha ma, vì họ được kêu gọi tiến lên gặp gỡ Đấng Sống Động. Chúng ta hãy tự vấn xem: Tôi đang đi về đâu trong cuộc đời của mình đây? Đôi khi chúng ta chỉ đi theo hướng đầy giẫy các vấn đề của mình, và tiến đến với Chúa chỉ để được trợ giúp. Thế nhưng, sau đó, chính  nhu cầu riêng của mình, chứ không phải Chúa Giêsu, dẫn đường chỉ lối cho chúng ta. Chúng ta cứ tìm kiếm Đấng Sống Động nơi kẻ chết. Biết bao nhiêu lần, khi chúng ta đã gặp gỡ Chúa, chúng ta lại quay về với kẻ chết, càng đáng tiếc, đáng trách, đớn đau và khôn thỏa, không để cho Đấng Phục Sinh biến đổi chúng ta? Anh chị em thân mến: Chúng ta hãy lấy Đấng Sống Động làm trọng tâm của đời mình. Chúng ta hãy xin ơn đừng bị cuốn đi theo triều sóng, trong biển khơi những vấn đề của chúng ta; ơn đừng bị mắc cạn ở những chỗ nông cạn của tội lỗi hay bị dập nát ở những mảnh đá thất vọng và sợ hãi. Chúng ta hãy tìm kiếm Người nơi tất cả mọi sự và trên tất cả mọi sự. Với Người, chúng ta sẽ sống lại.

https://zenit.org/articles/pope-francis-homily-at-easter-vigil-full-text/

Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Thánh Địa CN Phục Sinh 21/4/2019

Phạm Đoan Trang: ‘Rất vui lòng ngồi tù nếu vì cuốn Phản Kháng Phi Bạo Lực sắp in’

Phạm Đoan Trang: ‘Rất vui lòng ngồi tù nếu vì cuốn Phản Kháng Phi Bạo Lực sắp in’

Bà Phạm Đoan Trang bị sách nhiễu thường xuyên sau khi phát hành cuốn “Chính Trị Bình Dân.” (Hình: Facebook Pham Doan Trang)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Gần một tháng sau vụ bà Cao Vĩnh Thịnh, thành viên nhóm Green Trees (Cây Xanh) bị câu lưu ở Hà Nội, blogger, nhà báo tự do Phạm Đoan Trang tiết lộ trên trang cá nhân rằng vụ bắt bà Thịnh liên quan đến cuốn sách “Phản Kháng Phi Bạo Lực” của bà sắp in ấn và phát hành.

Bà Đoan Trang cho biết thêm trên trang cá nhân: “Điều có thể đặt Cao Vĩnh Thịnh vào rủi ro lớn nhất là việc  đang tìm cách in cuốn sách ‘Phản Kháng Phi Bạo Lực.’ Những ngày qua, công an tiếp tục theo dõi Thịnh, thẩm vấn, đe dọa các nhà in và hăm he sẽ khởi tố vụ án về tội in cuốn sách này.”

Cựu phóng viên của báo điện tử VietNamNet và Pháp Luật TP.HCM hé lộ rằng bà viết cuốn “Phản Kháng Phi Bạo Lực” vào cuối năm 2017, ngay sau khi cuốn “Chính Trị Bình Dân” được phát hành.

Bìa cuốn sách sắp in của bà Phạm Đoan Trang. (Hình: Facebook Pham Doan Trang)

“Đây là một cuốn cẩm nang về đấu tranh chính trị, của người Việt, viết cho người Việt đọc, sử dụng ví dụ minh họa chủ yếu là các câu chuyện ở Việt Nam. Tôi viết nó trong bối cảnh cuộc chiến chống BOT bẩn đang diễn ra quyết liệt ở Cai Lậy. Đó là nguồn cảm hứng để tôi viết cuốn sách, song đó cũng chỉ là một trong hàng chục ví dụ mà cuốn sách đưa ra để minh họa, phân tích về chiến lược, chiến thuật đấu tranh, và cũng chỉ là một trong vô vàn câu chuyện cần được ghi lại, lưu giữ, cần được kể cho độc giả nhiều thế hệ nữa cùng nghe,” theo Facebook Phạm Doan Trang.

Dù cuốn sách nêu trên đến nay chưa được in ấn, nhưng bà Đoan Trang đã quyết định công khai đường link tải sách cho những người quan tâm như “cách tốt nhất để bảo vệ tác giả và bạn bè của tác giả, cụ thể ở đây là bảo vệ tôi và Cao Vĩnh Thịnh.”

“Nếu vì cuốn sách này mà phải ngồi tù, chúng tôi rất vui lòng. Dù rằng tất nhiên chúng tôi cũng còn rất nhiều công việc khác phải làm,” bà Đoan Trang viết trên trang cá nhân.

Hồi Tháng Hai, 2018, gia đình bà Đoan Trang cho biết bà đã bị hai người lạ mặt tới nhà bắt đi làm việc vì cuốn “Chính Trị Bình Dân”  mà bà là tác giả.

Thời điểm đó, ông Trịnh Hữu Long, chủ biên Luật Khoa Tạp Chí viết trên báo Người Việt: “Ít ai biết rằng, Đoan Trang từng có cơ hội xin tị nạn và ở lại Mỹ sau khi kết thúc học bổng chín tháng ở Đại Học Southern California hồi năm 2014. Có ít nhất ba cơ quan, tổ chức đề nghị hỗ trợ cô làm thủ tục vì lo ngại cho sự an toàn của cô nếu trở về Việt Nam. Nhưng Đoan Trang chưa bao giờ có ý định ở lại nước ngoài.”

“40 tuổi, không chồng, không con, sống nay đây mai đó và tài sản lớn nhất lại là một tương lai bất định, không mấy ai hiểu rằng cô hạnh phúc chứ không bất hạnh như họ tưởng. ‘Nhiều người coi trọng sự ổn định, họ muốn lập gia đình, sinh con, sống cuộc đời yên ả, không có gì sai hay đúng ở đây cả vì đó là cuộc sống của họ. Nhưng với riêng mình, nếu không hoạt động thì sẽ không thể nào được trải nghiệm sự yêu mến mà mọi người dành cho mình,’” ông Long dẫn lời bà Đoan Trang. (T.K)

Xem tại đây:

Sách “Phản kháng phi bạo lực”

“LICENCE TO KILL” VÀ LUẬT PHÁP CUNG ĐÌNH

Đỗ Văn Ngà
“LICENCE TO KILL VÀ LUẬT PHÁP CUNG ĐÌNH” 

Chắc mọi người cũng từng thưởng thức qua những loạt phim hành động nói về chàng điệp viên 007? Có một bộ phim có tựa đề không bao giờ tôi quên đó là “licence to kill”- tức “quyền được giết” do Timothy Dalton thủ vai James Bond. Bộ phim phát hành vào năm 1989.

Thực ra không phải James Bond trong phim này mới có đặc quyền được giết, mà James Bond trong bất kỳ phim nào cũng có cái đặc quyền đó hết. Những con người này không cần phải làm theo những gì luật pháp quy định như những nhân viên cảnh sát hay những đơn vị đặc nhiệm tồn tại công khai, mà họ toàn quyền tiền trảm hậu tấu trong sự bao bọc của những sự phong tỏa thông tin.

Đất nước nào cũng tồn tại những đơn vị gián điệp hoạt động ở nước ngoài họ làm nhiệm vụ quốc gia. Cho nên họ không phải chịu sự điều khiển luật pháp bên trong quốc nội. Dù bên ngoài thế, nhưng bên trong, những quốc gia dân chủ có mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân cùng chung một loại chất keo dính, đó là tất cả đều phải hoạt động theo pháp luật.

Tại các quốc gia dân chủ, luật pháp bao trùm từ tượng tầng xuống hạ tầng, tức từ nguyên thủ quốc gia xuống đến từng người dân. Cho nên, cuộc chạy đua vào ghế nguyên thủ nó rất đẹp tất cả đều theo luật pháp. Họ phải nỗ lực hết mình đi khắp nới vận động để kiếm từng lá phiếu cho mình. Cuộc chiến giữa họ là cuộc chiến giành lòng dân trên chính trường. Và người chiến thắng rất xứng đáng, vì họ đã thể hiện năng lực của họ trước đám đông như là show hàng cho dân chọn lựa. Đó là bản chất của những cuộc chiến giành quyền lực trong giới chính trị tại xứ đó.

Còn tại Việt Nam, luật pháp chỉ trùm ở tầng thấp không với tới thượng tầng được. Tức luật pháp chỉ đủ trùm lên đầu dân, còn đối với 4 triệu đảng viên, luật pháp không với tới. Chỉ một kẻ ấu dâm như Nguyễn Hữu Linh mà luật pháp còn bất lực huống hồ chi thượng tầng cao hơn? Ở đỉnh của bộ máy quyền lực ĐCS, nó quá cách xa luật pháp, vậy trên đó những người CS muốn giành lấy quyền lực về cho mình thì phải làm gì? Phải trang bị cho mình một Licence to kill, tức họ mặc nhiên tự ban cho chính họ quyền được giết như là luật ngầm của giới mafia.

Tể tướng có quyền lực quá mạnh đòi hoàng thượng nhường ngôi, hoàng thượng không nghe thì dùng licence to kill để diệt. Hoàng thượng muốn dồn cựu tể tướng vào chân tường, tể tướng dùng licence to kill thịt cho hoàn thượng ngã bệnh hôn mê bất tỉnh phải đánh đu từng giây từng phút với tử thần. Cuộc chơi giữa vua chúa và những đại thần trong một triều loạn, được bảo đảm sự riêng tư bằng hàng rào chặn tin của triều đình. Bên trong triều, các vua quan chém giết máu tươi chảy đầy đại điện trước ngai vàng, thế nhưng ở vòng ngoài, họ thông báo rằng: vua quan bọn họ rất thuận hòa.

Ở Việt Nam, người ta cho rằng có 2 tầng luật pháp:

– Tầng nhứ nhất, tầng thấp nhất chính là thứ luật dành cho tiện dân, tức là Hiến Pháp và Luật pháp. Nói theo ngôn ngữ của thời phong hiến thì thứ luật này chỉ thể quyết được trường hợp cẩu đầu trảm;

– Tầng thứ 2 cao hơn, đó là Điều Lệ Đảng. Luật này dành cho những đảng viên thông thường từ cấp ủy viên Trung Ương trở xuống. Luật này nó là chủ còn hiến pháp và luật pháp là tớ. Khi những quan chức phạm pháp, luật này chưa ra tay thì thứ luật giành cho tiện dân kia không thể chạm vào được. Nói theo ngôn ngữ của thời phong kiến thì luật này quyết được trường hợp hổ đầu trảm.

Đó là những gì người ta hiểu, còn thực chất, hệ thống luật pháp Việt Nam còn có một thứ luật tối thượng giành cho giới cung đình, đó là licence to kill – quyền được giết. Những cú ra đòn chí tử khiến đối thủ chính trị phải đi nước ngoài chữa trị để kéo dài sự sống rồi mới nhắm mắt. Không một loại luật nào trong 2 tầng luật pháp kia chạm tới họ. Đấy được xem như cách giải quyết tương tự như trường hợp long đầu trảm của phong kiến.

Vậy qua bức tranh chính trị Việt Nam, chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy rằng, trong tầng nấc luật pháp Việt Nam, càng lên cao nó càng rừng rú. Và lên đến tầng thứ 3 – tâng cuối cùng- thì họ giải quyết nhau bằng những cú rình, vồ, và hạ sát y như loài lang soái đang tồn tại trong các rừng hoang vắng bóng con người vậy. Thực chất, 95 triệu dân chúng ta đang bị cai trị bởi một đảng như như vậy đó. Quan điểm “mọi thứ để đảng và nhà nước lo” chính là giao con cho sư tử trông giùm mà thôi. Cần phải thay đổi suy nghĩ.

– Đỗ Ngà –

DONGA.BLOG
Do Nga, Đỗ Ngà, Đỗ Văn Ngà, Facebooker Do Nga, Facebooker Do Van Nga, Do Van Nga, freedom, Vietnam

Mua, rồi mua tiếp, chạy rồi, chạy tiếp chứ sao

Mua, rồi mua tiếp, chạy rồi, chạy tiếp chứ sao

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

21-4-2019

Thi cử ngày nay có khác xưa

Vụ gian lận điểm thi, dù quan chức địa phương, Bộ Giáo dục, Bộ Công an bằng mọi cách che giấu bằng cách viện ra đủ những ngôn từ mỹ miều như để bảo đảm “tính nhân văn”, “sự riêng tư”, “vì tương lai các cháu…” thì rồi cuối cùng vẫn cứ “lộ sáng” những quan chức có con cái đã gian lận điểm thi.

Sở dĩ các địa phương bằng mọi cách giấu diếm tên tuổi những kẻ tham gia đường dây gian lận này, chỉ bởi một điều đơn giản: Các đối tượng gian lận điểm thi đó, toàn là con cái quan chức lãnh đạo cộng sản. Ở đó có sự tham gia của đầy đủ lãnh đạo các ban ngành, chính quyền cho đến các cơ quan chuyên môn, Từ lãnh đạo Tỉnh, bí thư Tỉnh ủy, công an, giáo dục, kiểm lâm, thuế vụ… Nghĩa là không trừ một bộ phận nào, ngành nào dù đó là những cơ quan lãnh đạo về chính trị, chính quyền, luật pháp, hành pháp… đủ cả.

Và nếu như một vài đại biểu Quốc hội, nhiều người có tiếng tăm cũng như sự phẫn uất của người dân đòi ngay lập tức đình chỉ công việc, đuổi khỏi ngành, kỷ luật những người đã tham gia vụ gian lận thi cử thì hệ thống đảng và chính quyền sẽ lập tức đóng cửa. Bởi: “Cứ vi phạm mà kỷ luật hết thì lấy đâu ra cán bộ mà làm việc”.  – Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội.

Điều mà người ta nhìn thấy ở đây, là những điều không thể tin nổi vẫn có thể xảy ra với những kỳ thi quốc gia vốn yêu cầu sự nghiêm ngặt đến mức cao nhất. Khủng khiếp hơn nữa, bởi điều này xảy ra không chỉ ở một, mà là rất nhiều địa phương, không phải chỉ một kỳ thi, người ta biết rằng đã có nhiều năm, nhiều kỳ thi như vậy.

Việt Nam, với ngàn năm văn hiến, kể từ kỳ thi đầu tiên năm Ất Mão 1075 đời Lý  đến nay, đã gần 1000 năm trôi qua có lẽ chưa có thời kỳ nào có những kỳ thi hỗn loạn, khủng khiếp như hiện nay.

Nếu như ngày xưa, trong suốt 143 năm tồn tại, triều Nguyễn tổ chức 39 khoa thi hội, lấy đỗ 293 vị tiến sĩ, chỉ có duy nhất một người trong hoàng tộc đỗ đại khoa, đó là ông Tôn Thất Lĩnh, đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1889) triều Thành Thái. Trên các bia tiến sĩ chỉ thấy lác đác vài người xuất thân là ấm sinh, ấm tử, còn lại đại đa số là con em giới bình dân.

Thì ngày nay, không chỉ con mà cháu chắt, họ hàng quan chức cán bộ Tỉnh, huyện đều lũ lượt xếp hàng làm thủ khoa vào các trường Đại học do được gian lận điểm thi, còn con em nông dân, dù có “nhà nghèo học giỏi” đến mấy, cũng phải nhường chỗ cho con quan nhởn nhơ não phẳng.

Nếu như ngày xưa, mà bị phát hiện mang tài liệu vào phòng thi sẽ bị đóng gông một tháng, sau đó bị đánh 100 roi. Thì ngày nay, thí sinh không cần mang tài liệu vào phòng thi đã đành, mà cũng chẳng cần làm bài thi, cứ để trắng giấy thi rồi sẽ có người lo đánh dấu làm bài chấm thi cho chúng. Điển hình là những bài thi trắc nghiệm đến 80 câu hỏi mà thí sinh vẫn được 0 điểm, để rồi sau đó nâng lên 9 điểm đỗ Thủ khoa vào đại học.

Nếu ngày xưa, đã vi phạm quy chế thi cử, thì bất cứ ai cũng đều bị trị tội, như trong kỳ đệ tứ khoa thi Hội dưới thời vua Lê Hiển Tông, con trai nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt, đã đổi quyển thi cho một thí sinh khác tên Đinh Thì Trung. Khi sự việc bị phát giác, Thì Trung bị đày ra Yên Quảng, Quý Kiệt bị tước bỏ học vị cho về làm thứ dân, rồi bắt giam vào ngục cửa Đông. Thì ngày nay, quan chức Cộng sản nổi tiếng “nhân văn” nên không thông báo tên tuổi thí sinh gian lận và không muốn công khai tên tuổi những cha mẹ thí sinh gian lận bởi “tính nhân văn”, “quyền riêng tư, nhạy cảm” – Cái “nhân văn” cộng sản đến thế là cùng.

Có lẽ, tự hào về thành tựu giáo dục với những cái khác xưa như vậy mà Nguyễn Phú Trọng đã mạnh mồn tuyên bố: “Giáo dục của chúng ta chưa bao giờ được như bây giờ”.

Những câu hỏi khó trả lời

Rất nhiều câu hỏi được đặt ra, báo chí phân tích đủ mọi khía cạnh của những tác hại, hậu quả của những sự gian lận này đến công bằng xã hội, đến nhân tài đất nước, đến tương lai dân tộc…

Trong đó, có câu hỏi nhiều người đặt ra: Với những thí sinh mà bài thi bị điểm 0, được nâng lên tới 26.55 điểm với chỉ 3 môn thi. Nghĩa là kiến thức những học sinh này gần như bằng không. Vậy thì khi được nâng điểm để đưa vào các trường Đại học, dù với danh nghĩa là Thủ khoa đơn, thủ khoa kép nhưng cái đầu rỗng thì làm sao học tập để có thể hoàn thành tốt  nghiệp, ra trường?

Câu hỏi đặt ra khá thực tế. Bởi chuyện học đâu phải chuyện đùa hay chỉ vì “tình hữu nghị cộng sản” theo cách nói của dân gian thời kỳ trước đây rằng: Cứ mang một con lợn sang Liên Xô, mấy năm sau Việt Nam sẽ được một Phó tiến sĩ.

Sẽ rất nhiều người không thể hiểu được, những học sinh trắng về nhận thức và học lực như vậy, chúng vào trường Đại học để làm gì? Bởi làm sao với những bộ não đó có thể nhồi nhét được kiến thức để có thể tốt nghiệp ra trường.

Nhưng, những người đặt câu hỏi đó chỉ là những người chưa hiểu biết về hệ thống giáo dục XHCN ở Việt Nam, một nền giáo dục “Hoàn toàn Việt Nam” mà Hồ Chí Minh đã tuyên bố từ 2/9/1945. Những người đặt ra câu hỏi đó, chỉ là những người suy nghĩ về việc học và dạy trong môi trường xã hội bình thường. Ở môi trường chính trị, xã hội bình thường, thì những việc đưa cái đầu rỗng hoàn toàn vào đào tạo đại học là chuyện không bình thường.

Thế nhưng, ở đất nước Việt Nam hôm nay, với một hệ thống chính trị cộng sản do đảng lãnh đạo tuyệt đối”, thì việc đó đã trở nên bình thường, bởi xã hội Việt Nam đã là một xã hội không còn bình thường.

Trả lời câu hỏi: Giải pháp “Kiến tạo Việt Nam”

Ngày nay, Giáo dục đã trở thành một nghề khá sôi nổi và kiếm tiền làm giàu khá thành công. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP. Số tiền đó không nhỏ, nhưng các cơ quan Bộ, ngành, sở, phòng ban và các cơ quan cấp ủy, công đoàn, công sở… chiếm một tỷ lệ lớn trong việc chi tiêu cho những nhu cầu “đổi mới giáo dục”, “tham quan nước ngoài” “Cải cách giáo dục”, cử người đi đào tạo ở nước ngoài… là chính. Còn đồng lương cho giáo viên công chức, vẫn là đồng lương chết đói. Nhưng điều đó không hề gì. Bởi xã hội đã buộc phải quan tâm và chi tiền.

Từ chỗ một số trường đại học có thể đếm trên đầu ngón tay, ngày nay, hàng trăm trường đại học đua nhau ra đời để kinh doanh. Cả đất nước được lập đại học, các tỉnh, thành, công ty… đua nhau mở trường.

Thế rồi trường nhiều thì đua nhau cạnh tranh, hạ giá đầu vào bằng điểm chuẩn. Thậm chí, có những trường Đại học chỉ có thể tuyển sinh vào trường khi thí sinh mỗi môn chỉ cần đạt… 4 điểm.

Bởi những trường này, từ cách tổ chức cơ sở vật chất cho đến đội ngũ giáo viên, quy mô và chất lượng hẳn nhiên là điều không cần phải bàn. Bởi có bàn cũng thừa biết là nó không có lối thoát khỏi sự chắp vá và không chất lượng.

Thế nhưng cũng chẳng sao, bởi đầu vào của những trường này là con cái quan chức, học hành thì ít mà ăn chơi đập phá thì nhiều. Còn đầu ra đã có hệ thống chính trị lấy “hồng hơn chuyên” sử dụng bất chấp chất lượng, kết quả học tập. Nó đã phình to đến 11 triệu người ăn lương thì có phình to hơn nữa, cũng chẳng sao, tiền dân cứ trả.

Còn con cái thuộc giai cấp “Công nông” ư? Cứ chờ đó, kiếm tiền mà mua chỗ làm việc, nếu không thì cứ thủ khoa cũng về chăn bò.

Nói đến những điều đó, nhằm để nói lên rằng, việc đầu vào là những học sinh gian lận, không có kiến thức là không đáng lo.

Với cái đầu rỗng tuếch và tư duy con nhà giàu, con quan chức làm vua một cõi, mà những học sinh này sẵn sàng theo gương bố mẹ chúng làm bất cứ điều gì để có kết quả, thành tích như ý muốn. Bởi cái đầu nó nhẹ, nhưng cái túi bố mẹ nó rất nặng, có thể chi phối cả hệ thống chính trị thì sá gì vài ông thầy, vài kỳ thi ở trong bậc Đại học.

Thậm chí, với bước trưởng thành mở đầu bằng sự gian dối, thì sự gian dối đó sẽ tiếp tục sinh sôi nảy nở theo cuộ đời của các thí sinh này.

Cũng chính vì thế, mà ở Việt Nam thời gian gần đây mới xuất hiện nhiều và ngày càng công khai, bình thường những nhà giáo đủ mọi gương xấu như ấu dâm, làm tiền sinh viên, những thầy giáo, cô giáo đổi tình lấy điểm… Tất cả những gian lận ấy, bắt nguồn từ sự gian lận trong mỗi gia đình quan chức, trong tổ chức, cơ quan và cả bộ máy chính trị hiện nay mà hình thành và phát triển.

Thế rồi đám sinh viên, học sinh ấy lại ra trường với tấm giấy chứng nhận làm hành trang và tạo vỏ bọc để  bước lên làm lãnh đạo, được xác định là “Hồng phúc của dân tộc”- Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND Tp Sài Gòn.

Thế rồi cái đám ấy đua nhau thành lập những cơ quan nhà nước mà ở đó cả gia đình, cả họ hàng làng xóm đua nhau làm quan.

Thế rồi người ta thấy càng ngày càng nhiều những quan chức mà nói một câu không nên, viết vài dòng không ổn. Đó là hiện tượng quan chức luôn trong tình trạng “ngáo đá” để rồi phát biểu những câu đại loại như “Phê tê bốc”, “Không nhận hối lộ để làm nhanh giấy tờ hộ chiếu là thiếu nhân văn”, “CSGT nhận dăm ba chục ngàn ngoài đường không thể gọi là hối lộ”… hay những Bộ trưởng, Thủ tướng mà phát biểu câu nào, thì chỉ làm khổ người dân cười đến đứt ruột vì quá hài hước bởi sự ngô nghê về nội dung và hình thức.

Bởi vì:
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
Cứ lần theo bước đoạn trường mà đi

Tạm kết

Những hiện tượng nói trên đây, chỉ là một phần rất nhỏ trong hàng loạt vấn đề lớn lao rữa nát mà ngành giáo dục nói riêng, cả hệ thống nói chung đang phải đối mặt. Dù luôn trên môi miệng người cộng sản thì vẫn “Giáo dục là quốc sách”. Chỉ có điều cái gọi là Quốc sách đó đang là một vũng lầy lội những nguy cơ.

Việc gian lận trong thi cử, là một điểm trong hàng vạn điểm đen của hệ thống giáo dục Việt Nam hiện tại. Tuy nhiên, đó là điểm được xã hội quan tâm gìn giữ xưa nay, mà mỗi khi phạm đến nó, nghĩa là cả hệ thống đã đến mức không còn phương nào cứu chữa.

Ngay từ thời xa xưa, cha ông ta quan niệm giáo dục chính là “bách niên chi kế”, là quá trình “trồng người”. Nếu xảy ra gian lận trong quá trình học tập sẽ tạo ra những con người hư hỏng, không thể sử dụng được.

Còn ngày nay, khi mà sự gian lận không chỉ trong xã hội, trong cả hệ thống chính trị đã ngấm sâu, len lỏi và mọc mầm, bắt rễ vào nền giáo dục, thì đất nước chỉ có một con đường đi đến chỗ suy vong.

Gần đây, trên mạng Internet lan truyền một câu nói được cho là của Nelson Mandela. Dù có phải là của ông hay không, thì câu nói vẫn rất có ý nghĩa rằng: “Để phá huỷ bất kỳ quốc gia nào không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. Bệnh nhân sẽ chết dưới tay của các bác sĩ trong nền giáo dục đấy. Các toà nhà sẽ sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư trong nền giáo dục ấy. Tiền sẽ bị mất trong tay của các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. Công lý sẽ bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục đấy. Sự sụp đổ giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia.”

Và cái thứ có sức công phá mạnh hơm bom nguyên tử, hơn cả đại bác tầm xa đã và đang sừng sững xuất hiện một cách vững chắc ở Việt Nam trong “thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ nhất”: Nền giáo dục băng hoại.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Quan Tây & Quan Ta

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Quan Tây & Quan Ta

18/04/2019

 Sự thật ngày nay đã chứng minh rõ ràng công cuộc giải phóng thuộc địa có mục đích rất cao cả nhưng kết cục của nó nói chung thường ngược lại.

Phạm Hồng Sơn

Đến khi tôi đủ tuổi để dự thí tú tài thì Bộ Giáo Dục đã quyết định bỏ thi vấn đáp. Thiệt khoẻ. Cứ theo như lời của qúi vị đàn anh lớp trước thì phải trải qua oral – kỳ hạch miệng – mới thiệt sự biết đá biết vàng, chớ “hai cái bằng tú tài của thời chú mày thì kể như là đồ bỏ.”

Nghe cũng hơi tưng tức.

Coi: năm tôi đậu tú tài I, tỉ lệ trúng tuyển toàn miền Nam (VN) cho ban C chỉ có 8 phần trăm. Một trăm đứa đi thi thì rớt hết 92, vậy mà cái bằng của tui bị “coi như đồ bỏ” là sao – hả Trời?

Tôi chỉ bớt ấm ức, và bật cười ha hả (bên bàn nhậu) sau khi nghe chuyện vui về một cuộc thi vấn đáp:

Giám khảo, người Tây, hỏi:

–        Vị quan toàn quyền nào ở Đông Dương đã trở thành vị tổng thống thứ mười bốn của nước Pháp?

Thí sinh vừa gãi đầu, vừa lầu bầu bằng tiếng Việt:

–        Đ … mẹ, hỏi gì khó dữ vậy cà!

Vậy mà đậu oral vì giám khảo nghe “Đ.M” ra “Doumer.” Tôi sinh sau đẻ muộn, đã dốt lại lười, không mấy khi đụng tới sách vở nên chẳng biết Doumer là cái thằng cha (hay con bà) nào cả. Bữa rồi, nhờ đọc Vương Hồng Sển mới học thêm được ba điều/bốn chuyện:

“… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao ‘uống nước nỡ quên nguồn’! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng.

Những kỳ công của ông là: 

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại…

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội …

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. 

Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ …”

Ảnh: dulich24

Riêng về cầu Long Biên, tác giả Nguyễn Thông còn cho biết thêm một chuyện nhỏ bên lề:

“Thấy bảo rằng, cầu xây xong, có nhiều quan chức cả tây lẫn ta khuyên ông Paul Doumer lập 2 cái trạm ở đầu cầu để thu tiền qua lại, bù đắp số tiền đã bỏ ra, ông Paul liền bảo, các thầy chỉ nghĩ chuyện bóp nặn dân. Cầu xây bằng ngân sách thuộc địa, do chính dân xứ này đóng góp, giờ lại đòi người ta nộp nữa, sao các thầy bất nhân thế.”

Trời, tưởng gì chớ “bóp nặn dân” là chuyện rất bình thường (hằng ngày vẫn xẩy ra ở huyện) ở Thời Cách Mạng nên đâu có gì để phải lăn tăn. Tôi chỉ hơi băn khoăn về sự khác biệt (quá lớn lao) giữa những ông quan Tây thời thuộc địa và những ông quan cách mạng sau này. Đám trước đều có khuynh hướng kiến tạo. Còn đám sau thì hoàn toàn ngược lại.

Xem qua tiểu sử trích ngang của nhiều vị lãnh đạo của ĐCSVN mới thấy có điều trùng hợp lạ lùng là họ đều thích thú và hăng hái trong việc phá hoại, hơn là xây dựng, trong mọi lãnh vực. 

–        Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đầu Tiên của nước VNDCCH (kiêm Chủ Tịch Đảng) tại chức 24 năm, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein… ông có tên trong danh sách (History’s Great Monsters) tội phạm chống lại nhân loại. Ông cũng được biết đến như là người sẵn sàng đốt cháy rụi cả rặng Trường Sơn, nơi mà cho đến nay vẫn còn hằng trăm ngàn hài cốt (vô thừa nhận) vương vãi khắp nơi – dù đã có không ít “mẹ già lên núi tìm xương con mình.”

–        Lê Duẩn, vị Tổng Bí Thư kế nhiệm – tại vị tới 25 năm – cũng có tên trong danh sách tội phạm chống lại nhân loại ở mức đại trà (massive crimes against humanity) nổi tiếng là người chủ chiến: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc …” Cùng với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ, Lê Duẩn còn đánh luôn đồng đảng. Dù cả hai ông đều đã chết, chiến tích của Cuộc Đấu Tranh Chống Bọn Xét Lại vẫn còn sống âm ỉ trong lòng nhiều người dân Việt.

–        Trường Chinh:  T.B.T (lần thứ nhất: giai đoạn 1941-1956, lần thứ hai: 1986) được Tạp Chí Cộng Sản mô tả ông là “nhà thiết kế đường lối đổi mới của Đảng ta.” Thiệt ra, Trường Chinh không có “thiết kế” cái con bà gì ráo mà chỉ ở vào tình thế bắt buộc phải lựa chọn một thế cờ (“không đổi mới thì chết”)

đã sắp sẵn rồi. Thành tích đích thực của đương sự là lãnh đạo cuộc Cải Cách Ruộng Đất khiến gần trăm ngàn nông dân bị hành hình.

–        Đỗ Mười, 6 năm TBT, 3 năm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng. Thành tích nổi bật của ông cũng liên quan đến hai trận đánh đẹp, có thể ghi thành sách: đánh tư sản ở miền Bắc sau 1954, và ở miền nam sau 1975. “không đổi mới thì chết.”

–        Lê Khả Phiêu, TBT 3 năm, có lẽ là nhân vật lãnh đạo duy nhất có khuynh hướng xây dựng. Ông đã thuê người thiết kế một vườn rau sạch – với hệ thống tiêu tưới tự động – ngay trên sân thượng của tư thất, để khỏi phải dùng chung thực phẩm bẩn (vì nhiễm chất độc hoá học) với đám thường dân.

–        TBT Nông Đức Mạnh cũng thế, cũng thích gieo trồng. Trong suốt 9 năm tại vị, đi đến nơi đâu ông cũng đều nhắn nhủ người dân bằng một câu nói duy nhất: “Trồng cây gì, nuôi con gì để cải thiện đời sống …” Vì bị dư luận chê bai đây là tư duy tiểu nông nên sau khi nghỉ hưu thì ông – cùng bà vợ kế, Đại Biểu Quốc Hội Đỗ Thị Huyền Tâm –  đã lao vào một lãnh vực làm ăn khác, rất tinh vi và tân kỳ: kinh doanh BOT.

–        Nguyễn Phú Trọng nhận chức TBT từ năm 2011, đến năm 2018 kiêm nhiệm luôn Chủ Tịch Nước. Khác với bác Hồ thời xa xưa trước, bác Trọng học theo gương của bác Tập Cận Bình nên không đốt rừng Trường Sơn mà xoay ra đốt lò. Ông tuyên bố: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy.” Tuy thế, do bản tính cẩn thận, bác Trọng lựa củi rất kỹ nên cái lò của ông có lúc cháy lúc không!

Trải qua cả chục ông TBT chả thấy ông nào xây được một cái trường học, một cái nhà thương, hay một cái cầu nào ráo trọi – cầu tiêu cũng không luôn. Theo Vietnam Heritage  (December 2016 – January 2017) thì Thành Phố Hồ Chí Minh Quang Vinh chỉ có hai trăm cái nhà vệ sinh chung dùng cho 10 triệu cư dân và 5 triệu du khách nước ngoài: “Ho Chi Minh City faces the same problem with only 200 public toilets serving the needs of its 10 million residents and the 5 million foreign tourists that visit the city each year.”

Ảnh:pinterest

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài  tội ác – người Pháp đã để lại cho xứ sở này một số những thành quả đáng kể, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, bảo tàng, kiến trúc … Còn chủ nghĩa cộng sản thì không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và rác rưởi.

Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng thì “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.” Sau đó, dân Việt tiếp tục bị còng tay – chặt hơn – bởi chủ nghĩa cộng sản, rồi buộc phải …. đi lùi. Chút hy vọng còn lại về vận mệnh của dân tộc này là mong mỏi mọi người ý thức được rằng cả nước đã lùi đến “chân tường” rồi.  
  

Tưởng Năng Tiến

Chủ tịch Gang Thép vừa bị bắt giàu cỡ nào???

Chủ tịch Gang Thép vừa bị bắt giàu cỡ nào???

– Trong khi Gang thép Thái Nguyên nằm trên bờ vực phá sản do nguyên nhân căn bản đến từ sai phạm trong việc mở rộng dự án II – Gang thép Thái Nguyên trị giá hơn 8.100 tỷ đồng, ông Trần Văn Khâm Chủ tịch Gang Thép Thái Nguyên kiêm Tổng giám đốc thời đó có một cơ ngơi to đẹp, đàng hoàng.

– Điều đáng nói, biệt thự của ông từng nhiều lần bị phản ánh là đã xây sai với giấy phép nhưng đến nay vẫn tồn tại.

Ngày 20.4, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) – Bộ Công an thông tin, đơn vị này đang điều tra 4 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn II – Công ty Gang thép Thái Nguyên (TISCO). Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, xảy ra tại Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn II – Công ty TISCO.

– Trong đó, bị can Trần Văn Khâm, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Gang thép Thái Nguyên (TISCO) bị bắt về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”, quy định tại Điều 224 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Giải mã con đường thăng tiến của ông Trần Văn Khâm

– Ông Trần Văn Khâm (58 tuổi, quê xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Ông Trần Văn Khâm không chỉ là thạc sỹ Quản trị Kinh doanh, Cử nhân Chính trị mà còn là một Kỹ sư Cơ khí chế tạo.

– Trước khi làm Tổng giám đốc tại Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO), ông Trần Văn Khâm đã trải qua rất nhiều vị trí công tác. Công việc đầu tiên của ông Khâm tại Gang thép Thái Nguyên là công nhân tiện tại phân xưởng cơ khí, Xưởng cơ khí của Thái Nguyên. Ông làm việc tại vị trí này từ tháng 4.1983 cho tới tháng 12.1985.

– 2 năm sau đó, từ 1986 – 2.1988, ông Trần Văn Khâm từ một công nhân, ông Khâm được nâng bậc thành cán bộ kế hoạch tại Xưởng cơ khí tại Gang thép Thái Nguyên.

– Cũng tại Gang thép Thái Nguyên, ông Trần Văn Khâm trải qua rất nhiều vị trí công tác và đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Bí thư đoàn Xưởng cơ khí; Phó bí thư , Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Công ty Gang thép Thái Nguyên; Phó giám đốc , Phó bí thư , Bí thư Đảng uỷ Nhà máy Cơ khí gang thép Công ty Gang thép Thái Nguyên; Giám đốc Nhà máy cơ khí Gang thép – Công ty Gang thép Thái Nguyên; Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh , Uỷ viên thường vụ Ban chấp hành Đảng bộ Công ty Gang thép Thái Nguyên.

– Từ cuối năm 2007 – 6.2009, ông Trần Văn Khâm được cân nhắc lên vị trí phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO). Đây cũng là giai đoạn công ty Gang thép Thái Nguyên bắt đầu mở rộng và xây dựng dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn II. Hiện đây là 1 trong 12 dự án kém hiệu quả ngành Công Thương với số vốn hơn 8.100 tỷ.

– Đến năm 2009, ông Trần Văn Khâm lên làm Tổng giám đốc và kiêm luôn chức vụ chủ tịch HĐQT của doanh nghiệp và nắm giữ hai vị trí quyền lực nhất này trong 5 năm kế tiếp. Đây cũng là giai đoạn mà dự án này gần như dậm chân tại chỗ với những rắc rối liên quan đến nhà thầu, chậm tiến độ và đội vốn khủng.

– Hơn 8000 tỉ đồng được đầu tư, thế nhưng đến nay dự án mở rộng sản xuất giai đoạn II công ty Gang thép Thái Nguyên vẫn đang dậm chân tại chỗ, “đắp chiếu” suốt nhiều năm qua. Và chỉ khi Thanh tra Chính phủ chỉ ra hàng loạt sai phạm nghiêm trọng tại dự án này thì dự án nghìn tỷ đồng này mới “ngỡ” đó chỉ là một đống “sắt vụn”.

– Theo đó, hợp đồng EPC (thiết kế – E; cung cấp thiết bị – P; xây dựng và lắp đặt – C) được Gang thép Thái Nguyên (TISCO) và nhà thầu MCC ký kết vào tháng 7.2007 với giá trị xấp xỉ 161 triệu USD (tương đương 2.587 tỉ đồng); thời gian thực hiện 30 tháng.

– Tuy nhiên, sau gần 1 năm rưỡi khởi công, trong vòng 18 tháng không thể triển khai thực hiện thi công dự án theo tiến độ hợp đồng đã ký. Tháng 3.2009, phía Trung Quốc đề nghị cho tách phần xây dựng và lắp đặt (C) giao lại cho nhà thầu VN là Tổng công ty xây dựng công nghiệp VN (Vinaincon) thực hiện.

– Đầu năm 2011, Bộ Công thương cho phép Gang thép Thái Nguyên (TISCO) và MCC được phép chọn thêm một số nhà thầu phụ trong nước vào thi công để đẩy nhanh tiến độ dự án. Thế nhưng đến tháng 6.2012 do thiếu vốn, các nhà thầu đã dừng thi công, rút người ra khỏi hiện trường và công trình ngưng trệ từ đó tới nay.

– Gần một năm sau ngày công trường bị dừng thực hiện, đến 5.2013, dự án chính thức được phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư từ 3.843 tỷ đồng lên 8.104 tỷ đồng.

– Trong hơn 1 năm sau đó, do dự án không có nhiều tiến triển, nên ông Trần Văn Khâm đã bị miễn nhiệm tư cách thành viên HĐQT, rời khỏi ghế chủ tịch HĐQT. Thay thế ông Khâm là ông Vũ Bá Ổn (khi đó đang giữ chức Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam).

– Tiếp đó, hơn hai tháng sau, Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO) đã ban hành nghị quyết thông qua chủ trương miễn nhiệm chức danh tổng giám đốc nhiệm kỳ 2014-2019 đối với ông Trần Văn Khâm. Thay thế ông Khâm là ông Hoàng Ngọc Diệp.

– Thế nhưng, dù mất 2 chức, ông Trần Văn Khâm vẫn được giữ chức Bí thư Đảng ủy TISCO – đứng đầu một Đảng bộ trực thuộc quản lý của Tỉnh ủy Thái Nguyên cho tới khi bị bắt.

– Trong khi Nhà máy Gang thép Thái Nguyên đang nợ nần chồng chất, ông Trần Văn Khâm, lãnh đạo chủ chốt của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (từ năm 2009) vẫn xây biệt thự “khủng”.

– Trước đó, báo chí nhiều lần đưa tin, ngôi biệt thự đồ sộ, cao 5 tầng này của ông Trần Văn Khâm thi công sai so với giấy phép nhưng đến nay vẫn sừng sững tồn tại.
TTVT Theo: Nguoi San Tin Den

Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: sky and outdoor
Image may contain: car and outdoor
Image may contain: people standing
Image may contain: outdoor