“Chào mừng ngày giải phóng 30/4”, Hà Nội tiếp tục đàn áp tôn giáo và bắt giữ người dân trái luật

“Chào mừng ngày giải phóng 30/4”, Hà Nội tiếp tục đàn áp tôn giáo và bắt giữ người dân trái luật

Tam Ân

24-4-2019

Trong ngày hôm qua 23/4/2019, nhà cầm quyền tỉnh An Giang đã bắt giữ trái phép ông Trần Thanh Giang, một nhà hoạt động cho tự do tôn giáo.

Ông Trần Thanh Giang (tên thường gọi là Vũ), sinh năm 1971, cư ngụ tại ấp Long Hoà, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông Giang là tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy – một trong năm tôn giáo có mặt ở Việt Nam nhưng không chịu sự kiểm soát của đảng Cộng sản, nên luôn bị nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, sách nhiễu.

Vào khoảng 16 giờ ngày 23/4/2019, ông Giang đã bị công an tỉnh An Giang bao vây nhà riêng, rồi bắt ông đưa đi đâu không rõ. Tuy nhiên, công an lại không đưa ra được bất kỳ một Lệnh bắt giữ nào. Được biết, ông Giang là một người hoạt động cho tự do tôn giáo, trong nhiều năm qua.

Ông Trần Thanh Giang là người bị bắt giữ ngày 23/4/2019. Photo Courtesy

Liên hệ qua điện thoại với ông Lê Quang Hiển, Chánh Thư ký Ban Trị sự Trung ương, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, Tổng Thư ký Hội đồng Liên tôn Việt Nam, được ông Hiển xác nhận trường hợp bị bắt giữ này.

Cùng ngày 23/4/2019, lại thêm một trường hợp bắt giữ khác bởi nhà cầm quyền tỉnh Bạc Liêu. Đó là ông Nguyễn Chí Vững, bị an ninh ập vào nhà riêng ở Bạc Liêu, rồi bắt đưa đi vào khoảng 10h sáng ngày 23/04/2019. Ông Vững bị bắt giữ và có lệnh tạm giam 4 tháng, với cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa”.

Ông Nguyễn Chí Vững bị bắt chiều 23/04/2019. Photo Courtesy

Được biết, ông Vững sinh năm 1981, sinh sống và làm việc tại Bạc Liêu. Ông Vững đã từng có mặt tại Sài Gòn, tham gia biểu tình vào ngày 10/06/2018 để phản đối Luật An ninh mạng và dự luật Đặc khu. Ông bị an ninh thành Hồ bắt khi đang biểu tình và được thả ra sau 3 ngày tạm giam.

Sau đó, ngày 01/09/2018, ông Vững lại bị an ninh thành Hồ bắt, khi về Sài Gòn chuẩn bị tham gia biểu tình, dự kiến ngày 02/09/2018. Sau gần 10 ngày bị giam giữ trái phép, ông Vững được an ninh thành Hồ thả ra.

Vào cuối tháng 1/2019, lại có hai Facebooker bị bắt giữ trái pháp luật. Cả hai Facebooker này là chị em ruột: bà Huỳnh Thị Tố Nga và ông Huỳnh Minh Tâm. Họ bị bắt giữ cách nhau 3 ngày, mà cũng không có bất kỳ lệnh bắt giữ nào của nhà cầm quyền.

Ngày 23/1/2019, bà Huỳnh Thị Tố Nga, đã bị an ninh thành Hồ đến tận nơi làm việc của bà tại một bệnh viện, rồi “bắt cóc” bà, mang đi. Cho đến hôm nay, vụ việc xảy ra đã hơn 3 tháng, nhưng nhà cầm quyền cộng sản vẫn không xác nhận việc “bắt cóc” này.

Bà Huỳnh Thị Tố Nga bị bắt ngày 23/1/2019. Nguồn: FB nhân vật

Được biết, bà Tố Nga đang làm việc tại khoa xét nghiệm bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn. Bà Nga là mẹ đơn thân của hai con nhỏ.

Hai tài khoản Facebook cá nhân có tên “Selena Zen” và “Diệu Hằng” được cho là của bà Tố Nga. Hai tài khoản này đã chia sẻ những bài phân tích về những việc làm sai trái có hệ thống của đảng cầm quyền ở Việt Nam, với những luận cứ, luận chứng sắc bén. Tác giả những bài viết được cho là của bà Tố Nga.

Ba ngày sau đó, em trai của bà Huỳnh Thị Tố Nga là ông Huỳnh Minh Tâm cũng bị bắt giữ trái phép. Khoảng 8h sáng ngày 26/01/2019, Công an tỉnh Đồng Nai đã ập vào nhà riêng và bắt ông Huỳnh Minh Tâm về trụ sở công an tỉnh. Sau đó, họ cho người lục soát nhà riêng của ông mà hoàn toàn không có lệnh xét nhà. Ông Tâm có vợ và 2 con nhỏ.

Gia đình ông Huỳnh Minh Tâm bị bắt ngày 26/1/2019. Nguồn: FB nhân vật.

Ông Tâm được cho là chủ tài khoản của trang Facebook cá nhân, có tên “Huỳnh Trí Tâm”. Ông Huỳnh Trí Tâm là một facebooker hoạt động tranh đấu thầm lặng, với mục tiêu hành động vì cộng đồng.

Qua những vụ các nhà hoạt động bị bắt giữ gần đây, phải chăng an ninh Việt Nam muốn thêm vào thành tích để “Chào mừng ngày giải phóng miền Nam 30/4”?

Bị bỏ rơi từ khi lọt lòng, bé gái Việt mừng đầy tháng ở Singapore

Hôm nay, 24/4/2019, một bé gái Việt Nam mừng đầy tháng, chuyện lẽ ra không có gì lạ nhưng trong trường hợp của bé gái đặc biệt này thì buổi lễ đầy tháng truyền thống được coi là một ‘phép lạ’, theo Channel News Asia.

Bản tin trên trang mạng này nói rằng đứa trẻ mới 30 ngày tuổi “đã trải qua những nghịch cảnh mà đa số không phải đối mặt trong suốt cả một đời người”.

Sinh ra ở Việt Nam, đứa trẻ sơ sinh bị nhét vào một túi nylông, treo trên một cành cây tại một rẫy cà phê ở tỉnh Lâm Đồng. Trên đầu bé có một vết thương ung mủ, da bị bỏng ở nhiều nơi và toàn thân có nhiều vết muỗi cắn, giòi thì bám đầy trên vết thương, trên mắt, mũi và dây rốn.

Sáng sớm 29/10, một nông dân phát hiện ra đứa bé trong tình trạng thảm thương đó khi lần theo tiếng khóc yếu ớt của bé. Bé được đưa vào một bệnh viện ở Đàlạt, nơi bác sĩ ước lượng bé ra đời từ 4, 5 ngày trước và có lẽ đã bị bỏ rơi ngay từ khi mới lọt lòng. Các bác sĩ chẩn đoán bé khó có thể sống qua sinh nhật đầu tiên.

Bệnh viện liên lạc với Ni sư trụ trì Chùa Huệ Quang, vốn đã nuôi nhiều trẻ mồ côi. Ni sư Minh Tài, tục danh Triệu thị Thiên Kim, nhận, đặt tên cho bé là Triệu Hoài An.

Câu chuyện thương tâm gây xúc động mạnh. Nội trong vài ngày, Ni sư Minh Tài quyên được 25.000 USD do những người hảo tâm trên khắp Việt Nam đóng góp trực tiếp và qua mạng xã hội.

Số tiền đó đủ để Ni sư Minh Tài đưa bé Hoài An sang bệnh viện Mount Elizabeth ở Singapore để chữa trị trong 8 ngày. Bé nhập viện vào ngày 10/4 trong tình trạng sốt nặng, vết thương có nguy cơ nhiễm trùng.

Báo Straight Times trích lời Ni sư Minh Tài cho biết:

“Từ hôm đó, chúng tôi đã quyên được thêm 10.000 USD. Hy vọng rằng trong những tuần tới đây, chúng tôi có thể quyên thêm từ các vị mạnh thường quân ở Việt Nam và ở các nơi khác trên thế giới.”

Bác sĩ Tang Kok Kee, chuyên về giải phẫu thần kinh, cho biết đầu bé bị sưng nhưng không đe dọa tính mạng. Ông giải thích rằng đứa bé mắc chứng tràn dịch não hay não úng thủy, một chứng khá phổ biến, đặc biệt nơi trẻ sinh thiếu tháng.

Hai tuần lễ sau khi nhập viện, bé Hoài An đã hồi phục nhanh chóng một cách bất ngờ, theo Bác sĩ Tang. Ông nói:

“Tại thời điểm này, tôi không thể coi trường hợp của bé là vô vọng. Có một cơ may bệnh tình của bé sẽ thuyên giảm.”

Ni sư Minh Tài cho biết bé ngủ được hơn, khóc lớn hơn và thèm ăn hơn trước.

Nhưng đứa bé chưa hoàn toàn qua khỏi cơn nguy. Bác sĩ Tang nói hiện chưa xác định được liệu bé mắc chứng tràn dịch não (hydrocephaly) hay chứng bệnh hiếm xảy ra hơn và nghiêm trọng hơn là hydraencephaly, khi bệnh nhân thiếu một phần bán cầu đại não, và não úng thủy. Phải chờ hút bớt dịch trong não ra mới có thể chụp chẩn đoán chính xác hơn.

Bác sĩ Tang nói những đứa trẻ mắc bệnh này thường không sống quá sinh nhật 1 tuổi. Trong khi chờ đợi, bé Hoài An đã chiếm được trái tim của các y tá và nhân viên chăm sóc em tại bệnh viện Mount Elizabeth.

Báo Straight Times cho biết nhân viên bệnh viện đã tổ chức lễ đầy tháng cho bé Hoài An hôm thứ Tư 24/4, trong khi Ni sư Minh Tài và Ni cô Thiên Ngô đến từ Lào, đọc kinh cầu an, chúc phúc cho bé.

Vẫn theo tờ báo của Singapore, Ni sư Minh Tài nói Sư hy vọng sẽ .có thể đưa Hoài An về lại Việt Nam, một khi bé hồi phục, để bé được chăm sóc cùng với 10 trẻ mồ côi khác đang được nuôi nấng tại Chùa Huệ Quang.

About this website

VOATIENGVIET.COM
‘Phép lạ’: Bị bỏ rơi từ khi mới lọt lòng trong tình trạng nguy kịch, một bé gái Việt Nam vừa ăn mừng đầy tháng

Nhớ Anh Dương Hiếu Nghĩa

Kimtrong Lam
Nhớ Anh Dương Hiếu Nghĩa

Lúc tôi được biết Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã qua đời, tôi nghĩ đến các vị như Lý Thường Kiệt và Đức Trần Hưng Đạo, mặc dầu Anh Nghĩa không có chức phận lớn như Tướng hay Vua, nhưng Anh vẫn là anh hùng của Quân đội Việt Nam Cộng hòa có cấp bực cao.

Anh Nghĩa là một người bạn, một người bạn đặc biệt, vì tôi trẻ hơn Anh cả 20 tuổi, người Mỹ, giọng nói âu châu, tôn giáo Ky-tô, da trắng, còn Anh là người Việt Nam, giọng nói á châu, theo Đạo Phật, da vàng, nhưng hai anh em hiểu nhau, mến phục nhau, đi chung cùng một con đường tranh đấu cho đất nước Việt Nam thoát khỏi họa xâm lăng của cộng sản hà nội .

Năm 1968, lúc tôi qua Việt nam làm việc cho Cơ quan CORDS tại tỉnh Vĩnh Long, Anh Nghĩa làm Tỉnh Trưởng. Từ lúc đầu, tôi thấy Anh là một người đặc biệt, một sĩ quan được nhiều người mến thương, một Tỉnh Trưởng thắng Cộng Sản được.

Mấy ông Cố vấn Mỹ tại Vĩnh Long cũng nhận thấy Ông Nghĩa có tài hơn nhiều người khác.

Nhờ làm quen Thiếu úy Hiền, tôi mới được biết Anh Nghĩa có một lý lịch đầy những thành tích lớn rồi. Ngoài chức vụ Đại tá Tỉnh trưởng, Anh còn là một cán bộ cấp lãnh đạo của Đảng Tân Đại Việt. Anh đã tham gia, không lo ngại gì, không sợ gì, cuộc đảo chánh chế độ Nhà Ngô lúc VNCH suy sụp nặng nề và Hà nội rất hy vọng sẽ thắng Miền nam.

Cái chết của Cụ Diệm đêm 2 tháng 11 năm 1963, anh em Tân Đại Việt cho biết đó là theo quyết định của hai ông Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân. Anh Nghĩa lúc đó còn là sĩ quan Đại úy thôi, phải tuân lệnh của cấp trên để lo việc đi đón Cụ Diệm và Ông Nhu tại Chợ lớn.

Ở Vĩnh Long, Anh thường sai tôi làm thông dịch vì tôi có học tiếng Việt tại Vietnam Training Center của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Trước kia, người Pháp sai người Việt làm thông dịch viên cho họ; ngày nay, một Tỉnh Trưởng Việt Nam sai người Mỹ làm thông dịch viên cho ông.

Ai cũng cười rang khi nghe tôi dịch lời Anh Nghĩa nói mà bỏ dấu sai và câu không đúng văn phạm. Nhưng có vẻ họ khoái lắm vì thấy số Trời thay đổi: Ông Nghĩa ở địa vị của quan Tây thời xưa, còn tôi ở địa vị của thầy thông an-nam-mít.

Lúc ông Đại sứ William Colby cho tôi lên Sài gòn làm việc cho Cơ quan trung ương CORDS, Ông Nghĩa đề nghị tôi gặp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, lý thuyết gia và lãnh tụ của Đảng Tân Đại Việt.

Được gặp Ông Huy, thật là phước trời cho tôi. Tôi bắt đầu học tất cả những điều hay mà Ông Huy dạy và giải thích rỏ ràng cho tôi hiểu về văn hóa, lịch sử, chánh trị của Việt Nam. Tôi ghi nhớ lấy những ý kiến, những kế hoạch phát triển nông thôn và xây dựng dân chủ của Ông Huy đưa ra và gởi lên cho Đại sứ Colby để sửa đổi chương trình bình định phát triển nông thôn của CORDS: mỗi xã được quỷ phát triển cho dân vay tiền, mỗi xã được phép thâu thuế để tự túc, mỗi xã được quyền tự trị và tự phòng .

Hai vị, Ông Huy và Ông Colby, mặc dầu không quen biết nhau, mà như đã hợp tác nhau và làm việc song song với nhau, lấy các nguyên tắc tự do dân chủ làm nền cho chánh sách phát triển đời sống nông thôn, một cách hướng dẩn và ngăn chận rất hũu hiệu nông dân không bị việt cộng dụ dỗ đi theo lý thuyết mác-lê.

Năm 1971, tôi đổi qua Sứ Quán Mỹ để làm việc cho Chương trình Phát triển kinh tế tai Miền nam. Chúng tôi thấy sự tham nhủng quá nghiêm trọng của một số tướng tá nắm giử chức vụ lớn trong Chánh phủ VNCH là điều tai hại không khác gì thuốc độc đang đầu độc chế độ VNCH và rất nguy hại cho đời sống hạnh phúc của dân. Tôi được một số anh em Tân Đại Việt cho tôi tin về Tướng Đặng Văn Quang buôn lậu đồ đồng như vỏ đạn của pháo binh với con buôn nước ngoài lấy tiền bỏ túi riêng thay vì trả lại cho Chánh phủ Mỹ để làm lại. Tôi đi dò hỏi thêm về Ông Quang để báo cáo với Đại sứ Bunker nhưng Anh Nghĩa khuyên không nên. Anh nói: “Coi chừng, nếu Steve còn điều tra, tôi không bảo vệ cho Steve được”. Tôi nghe lời và chỉ viết một bài báo cáo không đủ bằng chứng.

Anh Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân cho tôi biết về cuộc Chỉnh lý 1964. Anh Nghĩa và một số sĩ quan trẻ của Đại Việt được biết Tổng thống Pháp De Gaulle đương dụ mấy ông Tướng Dương Văn Minh, Trần văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính hảy bỏ cuộc chiến đấu chống cộng sản mà hảy mời đảng cộng sản ở Hà nội cùng với Chánh phủ Miền nam thành lập một Chánh phủ Liên hiệp. Anh Nghĩa và một số anh em nữa bắt các ông Tướng này và lấy lại chức vụ lãnh đạo.

Anh em học với Anh Ba Huy, Phạm Thái về làm chánh trị là nên ráng có cho được một Chánh phủ tốt đẹp, có uy tín, với những người có đủ tài đức. Chánh phủ đó là Chánh phủ Quốc gia có tư cách đại diện rộng rải các thành phần và xu hướng chánh trị của Miền nam, như Hòa Hảo, Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Đại Việt, các địa phương Bắc, Trung, Nam, các đảng phái, trí thức, ….

Nhưng, mời Ộng Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng Chánh phủ mới là một sai lầm lớn. Ông Khánh là đàn anh của các Anh Dương Hiếu Nghĩa và Huỳnh Văn Tồn. Nhưng sau khi được lên làm Thủ tướng, Ông Khánh phản các anh chị em Đại Việt, chia rẻ Phật Giáo/Công giáo, làm cho Chánh phủ Sài gòn đi lần tới chổ suy yếu nghiêm trọng.

Anh Nghĩa thấy tình hình nguy hiểm cho đất nước do Ông Khánh tạo ra và tìm biện pháp cứu nguy. Anh Nghĩa tổ chức chỉnh lý trong các năm 1964 và 1965 cho tới khi Ông Khánh mất quyền và chịu đi ra nước ngoài. Nhưng tiếc thay lúc đó, VNCH yếu quá; quân đội không mạnh, thiếu lính. Mỹ phải gởi quân qua Việt nam để giúp ngăn chận sự xăm lăng của Hà nội qua đường mòn Hồ Chí Minh xuyên qua đất Lào.

Nhưng do việc Ông Nghĩa làm cho Ông Khánh phải ra đi để đem lại sự ổn định cho Sài gòn mà Anh Nghĩa không được các tướng lãnh quí mến. Họ không gần gũi với Anh Nghĩa tuy Anh hành sử vì nước, trung thành với truyền thống tổ tiên, có tình, có nghĩa đối với dân, không vì phe phái, và không vì tham quyền cá nhơn.

Sau năm 75, có lúc tôi có ý nghĩ nếu Ông Thiệu cho Anh Nghĩa, Anh Tồn, và vài anh em khác lên Tướng để hợp tác chặc chẻ với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, thì chắc đã không xảy ra biến cố 75, đã không mất Miền Nam.

Đại tá Nghĩa làm việc từ sáng đến tối lo cho đất nước và dân tộc – việc cứu nước – mặc dầu không có hậu thuẩn mạnh mẻ, cũng không chắc sẽ thành công hay không, mà Anh vẫn làm vì đó là vai trò và trách nhiệm của kẻ sĩ phu, của một quân nhơn trong thời chiến chống giặc ngoại xâm, của mọi vị anh hùng Việt tộc. Anh Nghĩa đã dám làm như vậy. Tôi rất phục Anh trong trách nhiệm cao quí đó.

Trong giây phút được tin Anh nằm xuống, tôi nhớ ngay cái bia của Lý Thường Kiệt ở Chùa Linh Xung, có ghi những lời khen mà Cụ Hoàng Xuân Hãn dã chép lại:

Làm việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả».

(Vợ Cụ Hãn là bà cô bên nội của nhà tôi, Cô Phạm Thị Hòa)

Tôi sẽ không bao giờ quên sự can đảm và lương tâm chức nghiệp của Anh Nghĩa. Ai may mắn có một người bạn như vậy trong cuộc đời của mình quả là một điều quí báu hiếm có.

Vài lời như nén hương lòng thành kính tưởng niện Anh

Steve Young

April 22, 2019

Nhìn mà rụng rời tay chân.

Nhìn mà rụng rời tay chân.

Hình ảnh rừng người chờ từ 2- 3 giờ sáng để được visa xuất khẩu lao động.
Xã hội Việt Nam đang tiến lên thiên đường CNXH với sự bất công, phân cấp rõ rệt giữa giàu và nghèo.

Xưa, người ta lấy của cải người giàu chia cho thằng nghèo. Đánh tư sản hết đường sống, phải chạy ra biển tìm đường cứu thân. 
Nay, lại lấy của người nghèo nuôi thằng giàu dưới nhiều hình thức, khiến nghèo phải tìm đường nuôi thân.

Thời đại rực rỡ mà trai thanh nữ tú ai cũng đều ước ao ra nước ngoài.
Lớp nghèo thì kiếm việc, làm cu li xứ người.
Lớp giàu thì biểu hiện sang chảnh, xuất ngoại mua sắm vì tiền để làm gì.
Lớp trung thì đi tìm tương lai, không muốn trở về nước.

Trước 1975, đất nước có bao giờ thế này. Sau khi giải phóng mọi sự thay đổi, đạo đức suy đồi, học đường cùng xã hội xuống dốc trầm trọng. Thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm. Chưa kể bệnh nhân vào bệnh viện nằm chung giường, xếp lớp dưới đất chỉ có Việt Nam.

Nếu là một quốc gia phát triển thì không nên sống ảo, vì bề nổi của tảng băng sẽ bị tan chảy khi đến một giới hạn không cho phép.
Dù cố che đậy hình thức bề ngoài, Việt Nam vẫn bị xếp hạng 128 trong danh sách nước nghèo thế giới vào 2019.

Trẻ thời nay bị ru ngủ nhiều trò vui chơi giải trí, ma túy ngập tràn. Con ông cháu cha lắm tiền hầu hết đã có cái vé ấm thân thẻ xanh hay quốc tịch nước ngoài. Chúng xuất ngoại hưởng thụ hàng hiệu, xe xịn trong khi dân khổ chịu trận. 
Trẻ nghèo vất vả, chấp nhận xuất khẩu sức lao động để mưu sinh, và chấp nhận rủi ro cuộc đời thật là thương.

Vậy mà cứ khẩu hiệu hoa mỹ, hãy sống thực tế.

Thiện nguyện viên Nguyễn Văn Diệu Linh bị mật vụ CS đánh đập tàn nhẫn

Tối ngày 21 tháng 4, anh Linh bị một nhóm người bịt mặt tấn công khi anh trên đường trở về nhà. Anh bị nhiều vết bầm tím khắp người và dập mu bàn tay phải. Anh Linh kể rằng trước khi bỏ đi, những kẻ tấn công hăm doạ sẽ mạnh tay hơn nếu anh còn tham dự các chương trình từ thiện, mà cụ thể là các chương trình hỗ trợ thương phế binh Việt Nam Cộng hoà do Dòng Chúa Cứu thế Kỳ Đồng tổ chức.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Image may contain: 1 person, standing and hat
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?

Huỳnh Chí Viễn •Thứ Tư, 24/04/2019 •

Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

*

Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

1. Cha mẹ không tiếc tiền của và công sức chạy trường cho con và bắt con đi học thêm từ sáng tới tối để dạt được danh hiệu học sinh giỏi nhưng hiếm có ai chịu học cùng con và dạy con học.

2. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.

3. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.

4. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.

5. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.

6. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.

7. Những người tự cho mình là trí thức không hề quan tâm đến những vấn đề chính trị-xã hội và cũng không hề có tinh thần phản biện và tiếp nhận thông tin đa chiều. Ngoài giờ làm họ về nhà xem hài nhảm hoặc ra quán lai rai nhậu nhẹt cho tới khuya. Còn lại mọi chuyện liên quan đến vận mệnh dân tộc, họ vẫn yên tâm để cho đảng và nhà nước lo.

8. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…

9. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.

10. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

Là một dân tộc có truyền thống hiếu học, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao lại tiếp tục làm ngơ trước một hành động chà đạp giáo dục như thế này? Đã đến lúc chúng ta ngưng huyễn hoặc mình và đối diện với sự thật.

Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1 & ThuNNguyen

Tỷ phú giàu nhất Đan Mạch mất 3 người con vì đánh bom ở Sri Lanka

Tỷ phú giàu nhất Đan Mạch mất 3 người con vì đánh bom ở Sri Lanka

Zing22/04/19 17:32 GMT+74 liên quanGốc

Anders Holch Povlsen, người giàu nhất Đan Mạch, cho biết ba người con của ông thiệt mạng trong vụ đánh bom khủng bố khiến 290 người chết tại Sri Lanka hôm 21/4.

Cả bốn người con của tỷ phú này đang tới thăm Sri Lanka nhân kỳ nghỉ Lễ Phục sinh. Vài ngày trước khi qua đời, con gái Alma của ông đăng một bức ảnh trên mạng xã hội Instagram, cho thấy ba người em ruột của Alma đang ngồi bên bể bơi. Trong chú thích ảnh, cô còn gọi các em là “ba chú gấu nhỏ”.

Bộ Ngoại giao Đan Mạch cho biết ba công dân nước này là nạn nhân của vụ đánh bom. Người phát ngôn của ông Holch Povlsen cũng xác nhận ba trong số bốn đứa trẻ đã thiệt mạng trong cuộc tấn công tại Sri Lanka, tuy nhiên không nêu rõ danh tính, theo Mail Online.

Bức ảnh con gái Alma của ông Holch Povlsen đăng trên Instagram vài ngày trước vụ nổ bom. Ảnh: Chụp màn hình từ Instagram.

Ông Holch Povlsen, 46 tuổi, là người sở hữu nhiều bất động sản nhất tại Scotland, đồng thời là cổ đông lớn nhất của tập đoàn thời trang Asos. Ông là CEO và chủ sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ Bestseller. Người đàn ông 46 tuổi này được Forbes xếp thứ 252 trong danh sách tỷ phú năm 2019.

Ngày lễ Phục sinh đã trở thành ngày chủ nhật đẫm máu ở Sri Lanka, với tổng cộng 8 vụ nổ khiến 290 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương, trong đó có nhiều người nước ngoài.

Chính phủ Sri Lanka mới đây cho biết tổ chức thực hiện các vụ đánh bom nói trên là nhóm Hồi giáo có tên National Thowheeth Jama’ath (NTJ). Các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành để làm rõ nhóm NTJ có được “hậu thuẫn từ nước ngoài” hay không.

Hương Ly

From: tiennkhuat & thunnguyen

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

Image may contain: 3 people, indoor
Phạm Chí Dũng

Tin ‘Trọng bệnh’ trên mạng xã hội có khả tín?

VOA 23/04/2019

Phạm Chí Dũng

Ảnh: Năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh. (Ảnh: TTXVN) (Chụp từ màn hình Dân Việt)

Bất chấp các ‘trang mạng đứng tên lãnh đạo’ như nguyephutrong.org, tolam.org, nguyenxuanphuc.org… tố cáo ‘các thế lực phản động và thù địch xuyên tạc tình hình sức khỏe lãnh tụ kính yêu Nguyễn Phú Trọng’, trong khi toàn bộ hệ thống tuyên giáo, báo đảng và hơn 800 tờ báo nhà nước vẫn im thin thít về vụ việc nổi đình nổi đám và đượm tính bi hài này, những tin tức nóng rẫy về ‘Trọng bệnh’ xuất hiện trên mạng xã hội kể từ ngày 14/4/2019 – khi ‘Tổng tịch’ đi công du Kiên Giang – cho tới nay, thật trớ trêu, lại có cơ sở.

Kịch bản Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang

Cơ sở đáng thuyết phục đầu tiên chính là thái độ im hơi lặng tiếng của báo chí nhà nước về vụ ‘Trọng bệnh’ – hiện tượng mà ngay lập tức khiến cho người ta liên tưởng về kịch bản tương tự trong các vụ việc Nguyễn Bá Thanh vào năm 2014, Phùng Quang Thanh vào năm 2015, Trần Đại Quang vào hai năm 2017 và 2018. Khi đó, những tin tức ‘lạ’ đã bất thần hiện ra trên mạng xã hội về số phận được báo trước của những quan chức này. Nếu loại trừ một số tin tức cường điệu thái quá như ‘Nguyễn Bá Thanh đã chết ở bệnh viện Mỹ’, ‘Phùng Quang Thanh bị ám sát ở Paris’, ‘Trần Đại Quang đã chết ở Nhật Bản’, không ít thông tin của mạng xã hội về tình hình bệnh tật, quá trình điều trị và quá trình di chuyển về Việt Nam của những quan chức này đã được xác nhận sau đó.

Trong vụ Trưởng ban nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh, trang mạng Chân Dung Quyền Lực đã làm nên ‘kỳ tích’ khi cuốn hút sự tò mò và quan tâm của cả một đám đông xã hội Việt Nam trong suốt vài tháng trời. Vào cuối năm 2014, trong lúc Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe trung ương cùng các cơ quan đảng lẫn chính phủ Việt Nam vẫn hoặc im thít hoặc cố vớt vát bằng lý lẽ ‘tau khỏe mà, có chi mô’ chẳng cách nào kiểm chứng được, Chân Dung Quyền Lực đã đưa tin rất cụ thể về lịch trình, số chuyến bay, giờ bay và giờ đáp của chuyến máy bay đưa Nguyễn Bá Thanh về Đà Nẵng. Thậm chí còn dự báo cả thời điểm mà ông Thanh sẽ… chết.

Tương tự, một số trang mạng xã hội đã đưa tin về ‘con bệnh’ Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh sau khi ông ta gặp một sự cố ở Paris và giữa năm 2015, về lịch trình, chuyến bay, giờ bay của Thanh về Việt Nam…, đồng thời dự báo về việc Phùng Quang Thanh sẽ chẳng còn tương lai nào ở đại hội 12. Quả thực, trước và sau đại hội 12, viên cựu bộ trưởng quốc phòng bị quá nhiều dư luận nghi ngờ về thành tích tham nhũng này đã biến mất, không chỉ biến khỏi Bộ Chính trị và Ban chấp hành trung ương mà ngay trong sinh hoạt thường ngày cũng chẳng thấy bóng dáng y đâu.

Còn với hai lần ‘biến mất’ của Trần Đại Quang – chủ tịch nước – vào hai thời điểm tháng 7 – 8 năm 2017 và tháng 3 – 4 năm 2018, một số trang mạng xã hội cũng đã đưa tin khá chi tiết về tình trạng bệnh tật và việc Quang ‘tái xuất’ ở Việt Nam, đặc biệt là việc Trần Đại Quang bay từ Nhật Bản về Việt Nam để dự hội nghị trung ương 7 vào tháng 5 năm 2018 và ngồi bàn chủ tọa sát bên ‘đối thủ’ là Tổng bí thư Trọng.

Vì sao những tin tức trên mạng xã hội về một số quan chức cao cấp, dù chẳng được bất kỳ một cơ quan ‘có trách nhiệm’ nào của đảng hay chính phủ ra mặt xác nhận, lại được thực tế chứng minh là khá chính xác?

‘Tay trong nội bộ’

Cho tới nay, có quá ít bằng chứng về việc giới blogger và Facebooker độc lập có được và đã đăng tải những tin tức nội bộ thuộc loại ‘bí mật nhà nước’. Do vậy, chỉ có thể hiểu là những tin tức này xuất phát từ một số Facebooker ‘không độc lập’.

Mà không độc lập lại có thể hiểu là ‘phe phái’ hay ‘phe cánh chính trị’ – những khái niệm đã tồn tại lâu đời trong chính trường đầy những màn đấu đá và xung đột ở Việt Nam, đặc biệt từ năm 2012 khi bùng nổ của chiến quyền lực giữa hai cánh Trọng – Sang và Nguyễn Tấn Dũng. Càng về sau này, càng hình thành một nghề mới: ngày càng nhiều cây viết, chủ yếu xuất xứ từ khối báo chí nhà nước – hoạt động một cách ‘độc lập’ bằng cách đưa tin bài ẩn chứa nhiều thông tin nội bộ và thông tin mật để phục vụ cho các thế lực chính trị và các nhóm lợi ích, tập đoàn tài phiệt. Vũ khí của những người này là các trang blog và facebook. Một số trong giới viết lách này đã khoác tấm áo ngụy trang mang màu sắc dân chủ nhân quyền.

Hầu như không phải bàn cãi, chính những tin tức được xem là có nguồn gốc từ ‘tay trong nội bộ’ như trên mới chi tiết nhất và mang tính tin cậy cao nhất. Động cơ của sự xuất hiện những tin tức này được cho là chủ yếu xuất phát từ mục đích đấu đá và triệt hạ lẫn nhau của những phe phái chính trị trong nội bộ đảng, tương tự việc trang Chân Dung Quyền Lực đã dùng đòn ‘minh bạch hóa’ về tài sản, sân sau và các thủ đoạn chơi nhau để ‘ám sát’ một số quan chức trong Bộ Chính trị.

Thông tin về ‘Trọng bệnh’ cũng khá tương đồng về kịch bản với những tin tức từng ứng với số mạng của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh và Trần Đại Quang.

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Phú Trọng đã từ lâu trở thành tâm điểm công kích của những đối thủ chính trị và đặc biệt là giới quan tham khi Trọng vận hành tung tóe chiến dịch ‘đốt lò’. Do vậy, bất kỳ tình trạng suy yếu hay nguy biến nào về sức khỏe của Trọng cũng là cơ hội để các nhóm đối thủ tung hê và còn có thể cường điệu tình trạng bệnh tật tồi tệ của ông ta, như một cách khủng bố tâm lý những quan chức thuộc phe Trọng và những người còn ‘tin yêu Minh quân’, làm suy giảm sức mạnh của ‘phe Trọng’ trong cuộc đua tới đại hội 13 và cả mục đích dội nước vào cái lò vẫn còn âm ỉ của Trọng.

Từ phản công chiến thuật đến phản công chiến lược

Chính trường Việt Nam đang hiện ra một đặc trưng như thời năm 2015 trước đại hội 12 của đảng cầm quyền: nếu vào năm 2015 đã hiện hình cuộc chiến công khai trên mạng xã hội bằng các đơn thư tố cáo và các bài viết của hai phe cánh chính trị chính là ‘phe Trọng’ và ‘phe Dũng’, năm 2019 cũng đang trở lại cái không khí xốc nổi, quyết thắng và công khai thách thức lẫn nhau ấy.

2019 lại được xem là ‘năm bản lề’ về cơ cấu ‘cán bộ cấp chiến lược’ cho đại hội 13 – sẽ diễn ra vào năm 2021. Vậy là cùng với biến cố ‘Trọng bệnh’, đã nảy nòi một cuộc sát phạt không tuyên bố giữa các quan chức cấp cao – những người đang nhìn thấy thế độc tôn độc tài của ‘bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo’ chẳng còn tồn tại được bao lâu nữa và muốn qua mặt những kẻ khác để giành giật ngay lấy vị trí do khoảng trống quyền lực để lại.

Chẳng có gì khó khăn để dự đoán là Nguyễn Phú Trọng sẽ vấp phải một thách thức khủng khiếp về sức khỏe tự thân của ông ta, đặc biệt là vấn đề tổn thương não bộ, điều có thể kiến ông ta nếu không cẩn trọng sẽ phải sớm từ giã chính trường. Trong bối cảnh đó, ông ta còn phải chịu mũi dùi công kích của các thế lực đối thủ chính trị, ngoài mặt là ‘lo lắng cho sức khỏe của lãnh tụ kính yêu’, nhưng bên trong chỉ muốn Trọng ‘xuôi tay an nghỉ’ càng sớm càng tốt.

Có thể một cách chính thức, phe đối thủ của Nguyễn Phú Trọng đang chuyển sang một giai đoạn mới: phản công chiến thuật để dẫn tới phản công chiến lược.

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời

 

Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN, qua đời   

Ông Lê Đức Anh, ngồi trên xe lăn, đến dự đám tang cố Thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt hôm 15 Tháng Sáu 2008 tại Sài Gòn. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tướng Lê Đức Anh, cựu chủ tịch nước CSVN qua đời lúc 8 giờ 10 phút tối 22 Tháng Tư 2019 tại Hà Nội, thọ 99 tuổi, nhiều cơ quan truyền thông tại Việt Nam loan tin.

Trước đó ít giờ mạng xã hội xôn xao với một post trên Facebook của ông Lê Mạnh Hà, cựu phó chủ nhiệm Văn Phòng Chính Phủ CSVN và là con trai cựu Chủ Tịch Nước CSVN Lê Đức Anh, viết có đoạn “… Ông sẽ là người cuối cùng trong bộ chỉ huy chiến dịch năm ấy ra đi mãi mãi.”

Ông Lê Đức Anh là chủ tịch nước thứ tư của CSVN, nhiệm kỳ 1992 đến 1997. Ông cũng từng là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc Phòng CSVN từ 1987 đến 1991.

Tuy post của ông Hà không giải thích chi tiết “ra đi mãi mãi” có phải là cách ông ý nhị báo tin cha ông vừa qua đời hay không, nhưng hàng trăm comment phía dưới của cộng đồng mạng là “chia buồn cùng gia quyến”, bên cạnh những comment nguyền rủa ông về vụ Trung Quốc thảm sát lính của quân đội CSVN tại Gạc Ma, Trường Sa, chỉ hiển thị trong chốc lát trước khi bị ông Hà xóa đi.

Ông Lê Đức Anh tròn 98 tuổi hôm 1 Tháng Mười Hai, 2018.

Bức ảnh chụp vào ngày 5 Tháng Chín 1995, ông Lê Đức Anh (giữa), khi đó là đương kim Chủ tịch nước, đón tiếp cựu Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và cựu Đệ Nhất Phu Nhân Barbara tại Hà Nội. (Hình: HOANG DINH NAM / AFP / Getty Images)

Các báo nhà nước ở Việt Nam hiếm khi đăng tin về ông Anh trong lúc mạng xã hội từng vài lần rộ lên tin đồn ông qua đời.

Hồi trung tuần Tháng Chín, 2018, thời điểm đương kim Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang qua đời, mạng xã hội xôn xao chuyện “quốc tang nối tiếp quốc tang” với tin đồn hai cựu lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN là ông Đỗ Mười và ông Lê Đức Anh cũng qua đời.

Ông Đỗ Mười sau đó qua đời hôm 1 tháng 10, 2018 còn ông Anh được cho là vẫn “lây lất, thở máy” đến nay.

Lúc các tin đồn đó đang lan truyền, trang Facebook Truong Huy San của nhà báo Huy Đức, người đầu tiên loan tin ông Trần Đại Quang qua đời, viết: “Tôi muốn nói với các bạn rằng, cụ Đỗ Mười sinh năm 1917, cụ Lê Đức Anh sinh năm 1920, đau yếu đã lâu. Với tôi, Trần Đại Quang chết mới là tin, hai cụ có đi gặp Karl Marx, Lenin [ý nói qua đời] thì cũng là lẽ thường, không phải ‘tin.’”

Theo thông lệ, khi một người thuộc hàng “tứ trụ” qua đời, gia đình không được phép loan tin báo tử ngay, mà phải đợi thông báo từ Bộ Chính Trị về việc sắp đặt người trong ban tang lễ, do liên quan đến việc tổ chức quốc tang.

Ông Lê Đức Anh qua đời trong bối cảnh diễn biến bệnh tình của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Phú Trọng thế nào vẫn chưa được công khai, ngoài những tin gửi điện mừng, điện chia buồn đến lãnh đạo các nước.

Trước post gần nhất của ông Lê Mạnh Hà, mạng xã hội từng xôn xao nhiều lần về tin ông Lê Đức Anh qua đời các năm trước.

Đáng lưu ý, những năm gần đây, ông Lê Đức Anh được ghi nhận sống ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà và các tin tức về ông chỉ được hé lộ trên mạng xã hội.

Hôm 17 Tháng Tư, Facebook Đinh Bá Truyền cho hay: “Ngày 16 Tháng Tư, ông Nguyễn Phú Trọng được cáng lên chuyến bay của hãng Vietnam Airlines tại Sài Gòn, khởi hành đi Hà Nội. Chiều hôm ấy, xe cứu thương chở ông vào Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108. Hiện ông đang nằm tại tầng 2, mé bên phải, Khoa A11. Cũng ở tầng này, Đại Tướng Lê Đức Anh đang được điều trị tích cực ở căn phòng mé bên trái.”

Quân Y Viện 108 là nơi các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN thường được đưa vào chữa trị hay dưỡng bệnh.

Ông Lê Đức Anh là nhân vật gây tranh cãi và bị nhiều người cáo buộc là nhân vật đã ra lệnh cho binh lính Việt Nam “không nổ súng” trong cuộc hải chiến Gạc Ma, quần đảo Trường Sa, hồi năm 1988, khiến 64 thủy binh Việt Nam thiệt mạng dưới tay quân Trung Quốc.

Tuy vậy, ông vẫn nhận được một số lời tán dương.

Hồi Tháng Giêng, 2019, nhà báo Hoàng Hải Vân, cựu tổng thư ký tòa soạn báo Thanh niên viết trên trang cá nhân: “Ông Lê Đức Anh từng làm bộ trưởng Quốc Phòng [CSVN], rồi làm chủ tịch nước, cuối cùng là làm cố vấn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. Nhiều người đề cập đến uy quyền của tướng Lê Đức Anh, một uy quyền còn kéo dài mãi cho đến sau khi ông rời khỏi mọi chức vụ. Người ta đồn rằng, chính ông đã đề cử và hậu thuẫn cho tướng Lê Khả Phiêu lên làm tổng bí thư và cũng chính ông chặn con đường tái cử của ông Phiêu, cùng nhiều chuyện khác nữa. Những chuyện đại loại như vậy tôi không đủ thông tin cũng như tư cách để bàn luận. Tôi chỉ biết chắc một điều: Tướng Lê Đức Anh không phải là người tham quyền cố vị.” (T.K.)