Độc giả trên FB tôi có một số người không thể dứt khoát từ bỏ niềm tin vào đảng CS nên sống trong tâm trạng “tôi xin người cứ gian dối nhưng xin người đừng lìa xa tôi” như trong nhạc phẩm Kiếp Đam Mê của cố nhạc sĩ Duy Quang.
Thật cũng khó trách một người sinh ra, bị nhuộm đỏ bởi ý thức hệ CS và giải tẩy não là một tiến trình đầy đau nhức mà họ chưa dám đương đầu. Nhưng phải ráng đương đầu nếu còn biết mơ về một Việt Nam tươi sáng.
Sự kiện ngày 14 tháng 9 năm 1958, Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng CSVN kiêm chủ tịch nước VNDCCH ra lịnh Phạm Văn Đồng ký công hàm dâng Hoàng Sa cho giặc đã quá hiển nhiên nhưng cũng có không ít người ngờ vực.
Phạm Văn Đồng có ăn gan trời cũng không dám tự động soạn và ký công hàm.
“Công hàm Phạm Văn Đồng” ngày nay đã được công khai hóa. Không phải chỉ báo chí hải ngoại đăng “công hàm Phạm Văn Đồng” từ lâu mà báo trong nước cuối cùng cũng đã đăng và sách in trong nước cũng viết về “công hàm Phạm Văn Đồng”.
Các báo trong nước đăng, dĩ nhiên với sự đồng ý của đảng, để biện bạch nhưng biện bạch trong nhiều trường hợp lại đồng nghĩa với thừa nhận.
Một trong những lời thừa nhận công khai và chính thức thay mặt đảng CS và nhà nước CHXHCNVN là của Nguyễn Mạnh Cầm, Ủy viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng, Bộ Trưởng Ngoại Giao CHXHCNVN ngày 2/12/1992.
Nguyên văn được loan tải bởi Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/12/1992:
“Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc. Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó để nhắm vào việc đạt yêu cầu cho những nhu cầu cấp thiết vào lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa”.
Theo nội dung của lời phát biểu, Nguyễn Mạnh Cầm thừa nhận hai điểm:
– CS hóa Việt Nam là mục tiêu tối thượng: Ý nghĩa của câu nói “tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ” phản ảnh mục đích của đảng CSVN: nhuộm đỏ Việt Nam.
CS hóa Việt Nam là mục tiêu hàng đầu, tối thượng và bằng mọi giá. Dù phải “đốt cháy dãy Trường Sơn” CSVN cũng làm được nói chi là mấy cái tổ yến trên hai quần đảo xa xôi cách đất liền 170 hải lý.
Mỹ muốn gì khi phát động “chiến tranh hung hãn”? “Thực dân mới” là gì? Tổng thống Mỹ nào ra lịnh, Quốc Hội Mỹ nào ra quyết nghị “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá”?
Không ai biết và có thể trả lời bởi vì tất cả chỉ là những khẩu hiệu tuyên truyền nhằm khích động lòng yêu nước của người dân.
Hàng triệu tuổi trẻ miền Bắc chết vì những những khẩu hiệu mà cho đến khi trút hơi thở cuối cùng họ cũng không biết từ đâu có.
– Tâm thức nô lệ vào Trung Cộng: Nguyễn Mạnh Cầm khi phát biểu “Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá” lần nữa thú nhận bản chất nô lệ vào Mao Trạch Đông của giới cai trị CSVN.
Lời thú nhận của Nguyễn Mạnh Cầm trong cương vị một lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước CSVN là một cách thừa nhận tội bán nước của đảng CSVN.
Cây đinh nô lệ vào Trung Cộng đã đóng quá sâu vào nhận thức của các đời cộng sản từ Hồ Chí Minh cho đến Nguyễn Phú Trọng. Đám mây đen Cộng Sản và lòng tham quyền lực đã che khuất lương tri và nhân tính Việt Nam trong con người họ.
Hôm nay, giữa lúc vận mệnh đất nước đang nghiêng ngửa vì phải đương đầu với một Hitler thời toàn cầu hóa là Tập Cận Bình mà giới cai trị CSVN vẫn theo đuổi chính sách “kiên trì đàm phán”, “ba không”, “đu dây” để mong giữ được quyền cai trị Việt Nam.
Đó không phải là những sai lầm chiến lược mà hơn thế nữa là tội ác có thể dẫn đến diệt chủng một khi chiến tranh khu vực bùng nổ.
Vạch ra bằng chứng bán nước của mấy đời đảng CSVN không phải để đổ thừa cho đảng CS. Giới chóp bu đảng CSVN không xứng đáng để được đổ thừa. Lịch sử sẽ phán xét và sẽ trừng phạt tội ác của họ đối với dân tộc Việt Nam.
Việt Nam xích lại gần Mỹ, đồng sàng dị mộng Bởi AdminTD – 16/09/2019 Jackhammer Nguyễn 16-9-2019 Một tổ nghiên cứu chính sách kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) sang Mỹ “tìm hiểu” về “thực tiễn chính sách của Mỹ”. Hãng tin…
Báo cáo cho biết có tới 21% trẻ dân tộc thiểu số tại Việt Nam bị thiếu cân, cao hơn 2.5 lần so với trẻ thuộc dân tộc Kinh là dân tộc chiếm đa số ở Việt Nam.
Quan trắc chất lượng không khí ở 40 điểm đo của Hà Nội vào 8 giờ sáng ngày 15/9 cho thấy chất lượng không khí AQI ở mức 150 – 170, thuộc nhóm màu đỏ (tức ở mức 4 trong 6 mức chất lượng không khí theo cách tính của Mỹ). Đây là m…..
Em sanh năm 1974 tại Cam Ranh dưới cái tên trữ tình và có một chút hơi cung đình là Chiêu Nguyễn Phương Lan. Nhưng cái tên đẹp đẽ kia không cải tạo được số mạng nghiệt ngã của em. Hai tháng sau mẹ em cảm thấy có gì là lạ nơi mắt em. Bà đem em đi khám bác sĩ và kết quả đã làm cho tim bà tan nát. Mắt em bị một chứng bịnh lạ lùng và đang từ từ mất đi hoàn toàn thị giác. Đau khổ hơn nữa là đám virus ác nghiệt từ tròng mắt tấn công lên não. Để bảo tồn mạng sống cho em, bác sĩ phải mổ lấy ra một con mắt và hai năm sau con mắt thứ hai. Hai lỗ mắt trống hoắc và mí mắt sụp xuống che lại bầu trời có thiên địa huy hoàng, có bông hoa rực rỡ, có sông dài xanh ngát, có núi xám trời cao. Tất cả chỉ còn là bóng tối…
Một người mù hỏi thánh Anthony: “Còn có điều gì khổ hơn là bị mù không?” Thánh Anthony trả lời: “Có đấy! Ấy là khi con người ta bị mất phương hướng!”.
May mắn thay, em không mất phương hướng. Tụi nhỏ nhảy dây, em cũng nhảy dây dù vấp té không biết bao lần. Tụi nhỏ hát, em cũng hát. Tụi nhỏ vỗ tay cười giỡn, em cũng vỗ tay cười giỡn. Tụi nhỏ học đờn tranh, em cũng học đờn tranh. Và vì không bận nhìn ngang ngó dọc, em tập trung tất cả thời gian vào thực hành nên em đờn hay hơn tất cả bạn bè, em học giỏi hơn tất cả bạn bè. Năm em lên 7 tuổi, mẹ dẫn em xin vào học trường Nguyễn Đình Chiểu ở đường Nguyễn Chí Thanh nhưng bị từ chối vì cha em là ngụy! Mẹ em đã lạy lục đầu trên xóm dưới, năn nỉ cùng trời cuối đất và sau cùng em được nhận vào học ăn ở nội trú một tuần năm ngày, tự giặt quần áo, tự tắm rửa v.v. khi lớn lên một chút thì em học thêm nghề bó chổi, đan chiếu. Ba năm cuối của trung học em được nhận vào trường phổ thông cơ sở quận Bình Thạnh.
Khi chấm dứt trung học, em thi vào trường Văn Hóa Nghệ Thuật chuyên ngành âm nhạc. Ba năm sau em thi vào trường Cao Đẳng Sư Phạm và năm 1998 em ra trường với danh dự thủ khoa ban Anh Văn, môn phụ Nhật Văn chỉ với một cái máy thu băng cũ kỷ để thâu lời giảng dạy và một cái máy đọc chữ Braill để làm bài tập.
Khi ra trường, em tuy hiểu Anh văn nhưng không nói được. Để tập nói, hai mẹ con dẫn nhau ra hồ Con Rùa hoặc bến Bạch Đằng, mẹ em đưa tay ra khều những người ngoại quốc. Có người xoay lại và vội vàng xua tay đuổi bà mẹ đi vì tưởng là bà xin tiền. Sau cùng bà phải nắm tay em để sát cạnh bà, khi người ngoại quốc xoay lại, em vội vàng trình bày ngọng nghịu là “tôi là người khiếm thị, tôi học Anh văn nhưng không nói được, tôi muốn nói chuyện với ông, bà để thực tập. Tôi không phải là người ăn xin”.
Em lần lượt dạy nhạc ở câu lạc bộ lao động quận 1, nhân viên của thư viện sách nói quận 3, và cuối cùng dạy cấp 1 cho hội Người Khiếm Thị thành phố. Năm 1999 một phái đoàn Nhật tới Việt Nam tìm kiếm những người có khả năng nói được tiếng Nhật để đưa qua Nhật học ngành châm cứu và massage. Sau khi thành công sẽ để họ trở về VN dạy lại các người khiếm thị khác để những người nầy có được một nghề nuôi thân. Em là người được chọn và sau một khóa học ba tháng tiếng Nhật, em thi đậu và được theo học trường Đông Du tại thành phố để hoàn chỉnh khả năng Nhật-Anh, Anh-Nhật.
Năm 2000 em xuất ngoại du học Nhật. Sau bốn năm tận tụy học hỏi môn châm cứu và massage trị bệnh của người Nhật, một lần nữa em ra trường với danh dự thủ khoa! Trở về VN, từ năm 2004 tới 2009, em dạy cho thanh thiếu niên khiếm thị tại Sài Gòn một nghề mưu sinh. Trong thời gian du học, người Nhật nhân đạo đã bỏ tiền ra cho em đi bác sĩ gắn cho em đôi mắt nhân tạo để gương mặt em trông được như bình thường và thêm phần xinh xắn.
George Kasperitis sanh năm 1964 tại Pennsylvania, Mỹ. Có dòng máu Đông Âu, anh cao lớn, khỏe mạnh, đẹp trai, chơi đàn piano, guitar, trống và là hình ảnh trong mơ của các nữ sinh trung học. Ra trường Pennsbury High School năm 1983, anh chọn học cao đẳng về Natural Medicine, chuyên ngành massage và phòng bệnh theo cách tự nhiên. Tuy được cấp bằng tốt nghiệp, anh lại không theo nghề mà trở về trang trại của ông nội để giúp ông trồng trọt và chăn nuôi vì ông nội đã già và cần có người thân giúp một tay. Ai nói người Mỹ không có tình cảm gia đình và không biết hiếu thảo?
Sau khi ông nội mất năm 1988, anh mở cơ sở chuyên trị cho các lực sĩ thể thao bằng trị liệu đá nóng và đặc biệt là bằng trị liệu khúc tre nóng. Anh giải thích là độ nửa tiếng trước khi khách đến, anh bỏ vào một nồi lớn 4 ống tre, mỗi ống có độ 3 đến 4 mắt tre. Anh thêm vào mấy thứ lá thơm và dầu quế và dầu hạnh nhân. Anh đã chà xát cho các mắt tre bớt nhọn nhưng vẫn còn chỗ lồi lõm. Anh lăn ống tre nóng tẩm các khoáng chất tiết ra từ lá và dầu lên lưng, cổ, khuỷu tay chân làm trị liệu để kích thích làm các huyệt đạo nở ra làm huyết mạch lưu thông, để cơ thể sẽ tiếp nhận nhiều linh khí trong trời đất hơn và làm cho con người ta được khỏe mạnh hơn.
Chắc là lăn ống tre nhiều quá mỏi tay nên sau vài năm nổi máu giang hồ anh gia nhập Peace Corp – Đội Hoà Bình – đi Ghana, là quốc gia ở Phi châu. Nơi đây các thiện nguyện viên xây cất bồn nước, lắp đặt các hệ thống lọc nước cho người dân địa phương được dùng nước sạch.
Trong những buổi tối nhàn rỗi giữa núi rừng hiu quạnh, anh lên mạng và tìm kiếm người nói chuyện trên mục Pen Pal. Nơi đó anh đọc thấy hàng chữ: “thiếu nữ Việt Nam, 30 tuổi, độc thân, thích âm nhạc, hiện đang học ngành massage và bấm huyệt trị bệnh tại Nhật”.
Ôi em ơi, hợp quá, anh cũng thích âm nhạc, anh cũng thích nghề massage trị liệu. À mà em chơi nhạc cụ gì? Anh thì đàn piano, guitar và đánh trống. Em đàn tranh anh à. Đàn tranh là đàn gì vậy em? Là một loại đàn đặc biệt cho âm nhạc Việt Nam. Nó không cao sang, rầm rộ, cao vút như dương cầm mà nó thắm thiết, đậm đà, từng âm thanh sẽ đi vào lòng người, từng nốt nhạc sẽ làm người ngẩn ngơ thương nhớ… Ôi, ước gì anh có thể nghe em đàn… Que sera, sera… Sẽ có một ngày nếu chúng mình gặp nhau.
Và những dòng tâm sự đổi trao, những sẻ chia, những cởi mở cho tới một ngày anh đọc những dòng chữ: “Em là một cô gái khiếm thị, em rất buồn là sẽ không bao giờ “thấy” anh dù cho chúng ta có khi nào gặp nhau”.
Em ơi không phải em đang nói giỡn đó chớ? Khiếm thị? khiếm thị từ lúc nào? Từ lúc mới sanh ra? Ông trời ơi, em chưa bao giờ biết được màu sắc của hoa hồng à? chưa bao giờ thấy được ánh mặt trời chói chang trên đỉnh núi à? Chưa bao giờ thấy được hoàng hôn mênh mông trên biển cả à? Ác nghiệt, định mệnh ác nghiệt ! Em hỏi anh có thay đổi cảm nghĩ của anh về em không khi anh biết em, người con gái mà anh nâng niu tâm sự bấy lâu nay, lại là một kẻ mù lòa?
Câu trả lời là có, có rất nhiều. Làm sao anh không thay đổi tình cảm trước một sự thật phũ phàng như vậy! Trước hết là anh giận ông trời tàn nhẫn đã buộc cái chứng bịnh độc ác kia vào đôi mắt em. Anh sẽ không ngần ngại đối diện với ngài để hỏi cho ra lý do ngài chọn em làm nạn nhân, anh sẽ không sợ sệt mà sẽ cương quyết chất vấn ngài tới cùng. Nhưng trời ở đâu không thấy vậy thì anh chỉ có thể quay về thế gian nầy để đối mặt với em. Phương Lan, sau nữa là anh sẽ không quay lưng lại với em. Anh sẽ cùng em tiến bước dù cho bây giờ ngoài cái bổn phận làm người bạn đời của em, anh lại có thêm một bổn phận nữa là làm đôi mắt của em. Anh sẽ làm cho em cảm nhận được màu vàng óng ánh của cành mai trong dịp Tết, sẽ thấy vô vàn hoa dại trên cánh đồng cỏ xanh tươi, sẽ vẽ ra được những chiếc lá thu vàng úa hắt hiu, sẽ nắm bắt được những tảng băng tuyết chói lọi dưới ánh mặt trời.
Ở mấy ngàn dặm xa xôi kia, người bạn vừa đọc email cho Phương Lan vừa khóc. Phương Lan vừa nghe email vừa khóc. Cám ơn anh, George. Cám ơn tình yêu của anh dành cho em. Nhưng em không tin rằng trên đời lại có người đàn ông nào có thể yêu thương một cô gái mù lòa thắm thiết như vậy. Kiếp sau anh nhé. Ở một kiếp mà em có thể thấy nắng vàng tỏa sáng trên tóc anh, biển xanh gợn sóng trong mắt anh, nụ cười rạng rỡ trên môi anh. Ở một kiếp mà chúng ta có thể tay cầm tay, mắt nhìn mắt, đối diện nhau nói lời thề nguyện thủy chung. Còn kiếp nầy, em xin lỗi, em vô cùng xin lỗi.
Ra trường, Phương Lan trở về Việt Nam, nhận làm việc từ 2004 tới 2009, trở thành giảng viên massage cho các em khiếm thị. George ngẩn ngơ vì mất liên lạc nhưng anh không bỏ cuộc. Anh lần mò lên Facebook, internet v.v.. bất cứ cái gì có thể để tìm kiếm Phương Lan. Sau sáu tháng dài, anh kiếm ra người con gái khiếm thị đó. Phương Lan đã bỏ địa chỉ email bên Nhật và đổi lại địa chỉ Việt Nam. Cuộc tình Việt Mỹ được nối lại.
Năm 2005, lần đầu tiên anh về Việt Nam để mặt đối mặt với người yêu. Em đứng đó tay cầm chùm bong bóng, khắc khoải nhìn về phía trước nhưng không biết lúc nào thì người đó sẽ tới, sẽ cầm tay mình, sẽ kêu lên hai tiếng Phương Lan. Trái tim em run rẩy, chân tay em run rẩy và ngay cả linh hồn em cũng run rẩy. Mẹ em đứng cạnh bên. Mẹ ơi, mẹ sẽ thành thật cho con biết là anh ấy như thế nào nghe mẹ.
Phương Lan ơi, anh đến với em đây. Em đứng đó bồn chồn lo sợ. Sự sợ hãi tỏa ra chung quanh em làm tim anh tê tái. Em không tin rằng anh sẽ đến phải không? Em nghĩ rằng anh sẽ chạy theo những cô gái quần là áo lụa, những cô gái mắt nâu tóc vàng… chớ làm sao anh lại lặn lội mười ngàn dặm xa xôi để đến gặp một cô gái Việt Nam giản dị, bình thường lại mất đi ánh sáng… Nếu anh đã từng giận hờn ông trời cay nghiệt đã sắp đặt cho cuộc đời em gặp quá nhiều cảnh trái ngang thì ngày hôm nay, nhìn em đứng bơ vơ cách biệt giữa dòng đời rộn rã, anh lại cám ơn ngài đã sắp đặt cho cuộc đời hai đứa mình trộn lẫn vào nhau, để anh có thể đem đến cho em tình yêu, tin cậy và nương tựa.
Anh đưa thẳng cánh tay mặt ra phía trước cho Phương Lan vịn vào và cứ như vậy họ ra xe, về nhà, dạo phố, du lịch và có thể là đi trọn đường đời. Giờ đây nghĩ lại, anh cười hắc hắc thú nhận cùng tôi: “Lúc đó cháu không dám nắm tay Lan để cùng đi vì cháu biết phong tục Việt Nam rất bảo thủ. Cháu thấy trong các phim ảnh, người dẫn đường cho người khiếm thị luôn luôn đưa thẳng cánh tay ra phía trước nên cháu cũng làm y như vậy, đi đến đâu ai thấy cũng cười, vậy mà cháu hãnh diện quá vì đã là cây gậy và đôi mắt cho Lan!”
Anh trở lại VN lần thứ hai năm 2006 để làm đám cưới. Gần như tất cả khu phố nơi gia đình Phương Lan ở đều tham dự đám cưới, hoặc là khách mời, hoặc là nhập vào đám đông tò mò coi ông Mỹ cưới bà mù!. Phương Lan mời tất cả các bạn khiếm thị. Họ sờ mặt chú rể và hít hà khen đẹp trai quá? chắc là rờ thấy cái mũi cao, nhưng khi sờ tới cánh tay có lông hơi nhiều và hơi dài, dài hơn người VN, thì cả đám liền hét lên trời ơi giống con khỉ quá!. Cả bọn phá ra cười, chú rể cũng hiểu sơ sơ chữ con khỉ nghĩa là ‘monkey’ nên cũng chỉ biết méo mặt cười theo.
Ai nói cưới hỏi phải môn đăng hộ đối? Ai nói chọn vợ lựa chồng phải thấy mặt nhau? Ngày hôm nay hai đứa chúng con quì trước bàn thờ tổ tiên, tuy không nhìn thấy nhau, nhưng nguyện cùng nhìn về một hướng. Chúng con không có tiền tài để cho nhau, nhưng nguyện cho nhau cả cuộc đời dù ấm no dù đói lạnh. Chúng con không có nhà cao cửa rộng để cho nhau, nhưng chúng con nguyện cho nhau hai tấm chân tình mênh mang như biển rộng trời cao.
Sau ngày cưới, George trở về Mỹ lo giấy tờ bảo lãnh nhưng Phương Lan không chịu đi sớm vì em nghĩ là nước Nhật đã tốn tiền để đào tạo em với mục đích là em sẽ truyền dạy lại cho những người khiếm thị khác một nghề nghiệp để nuôi thân. Nếu em bỏ đi thì phụ công ơn nước Nhật và bạc nghĩa với những người đồng cảnh ngộ. Giọt nước dòng sông. Nhận ơn nghĩa bằng một giọt nước, nguyện trả lại bằng một dòng sông. Chúng mình xa nhau thêm mấy năm nhưng lại có hàng trăm người có nghề nghiệp nuôi thân suốt cả đời, việc ấy quả rất đáng phải không anh? Vì thế em cương quyết ở lại VN tới năm 2009 để hoàn thành cam kết của mình, bên kia anh vẫn chờ và càng trân trọng nhân cách của em hơn. Ba năm sau ngày cưới, em mới đi Mỹ đoàn tụ cùng George.
Bức ảnh họ trong ngày cưới ở VN thật là duyên dáng và tươi đẹp. Tình yêu vẫn đậm đà, ảnh kia chụp tại California – anh vẫn là đôi mắt cho em!
Bài của tác giả Lệ Hoa Wilson được đăng trên báo dành cho cộng đồng người Việt ở Mỹ, được báo tiếng Việt ở Úc đăng lại.
Facebook đã có từ lâu, nhưng mãi thứ 6 ngày 13 của 13 năm sau, Thái Thượng Hoàng của một vương quốc nọ mới biết dùng đến nó. Ngày đầu tiên dùng facebook, lão Thái mở Smartphone hàng hiệu ra lướt dòng Newsfeed. Vừa mới ghé mắt vào phone, lão Thái bỗng tối sầm mặt lại. Liền sau đó khuôn mặt lão chuyển sang màu gấc chín, lão quay qua vừa nói với cô vợ trẻ mà tay rung lên vì tức, lão nói:
-Em xem này! Bọn nó tung tin anh chết.
– Vậy cơ à? Vậy thì anh cứ chết đi.
-ĐM, mầy trù tao à?
-Không phải, anh chỉ giả chết, chỉ có chết anh mới vĩ đại và sống mãi như vua cha.
-Thế thì anh phải sống ra sao sau khi giả chết?
-Anh sẽ cải trang thành người khác, và sống như vậy để thấy xã hội tung hô mình.
-Ừ hén! Vậy mà anh nghĩ không ra.
Thế là hôm sau triều đình cho phát tang. Đám tang thật to lớn, người đến thăm viếng nờm nợp với toàn là những vị tai to mặt lớn, đương kiêm hoàng thượng làm lễ truy điệu một cách trang nghiêm và rất hoành tráng. Chưa hết, bên ngoài nhà tang lễ còn có khoảng 10 ngàn thanh thiếu niên bò đỏ được triều đình trả công 500 ngàn mỗi ngày để chúng khóc thảm thiết cho sự ra đi của lão. Vì vậy, trong lốt áo người khác, lão Thái cảm thấy hài lòng lắm. Lão tự nhủ “ta cũng vĩ đại giống vua cha thật” và mỉm cười về căn nhà quen thuộc chìm trong trong giấc mơ đẹp.
Một thời gian sau, triều đình cho xây dựng một khu lăng mộ 100 ha hoành tráng. Từ lễ khởi công đến ngày hoàn thành vỏn vẹn chỉ có 2 tháng, nhưng công trình đã hoàn thành một cách xuất sắc. Trong lăng đó, người ta đặt một cỗ quan tài trống. Nhìn lăng mộ mới tựa lăng Ba Đình, phía trước lăng cũng có quảng trường rộng không thua gì quảng trường Ba Đình – nơi mà lão thường làm chủ các cuộc mít tinh lớn. Lão Thái lấy làm hài lòng lắm.
Một hôm, trong vai trò người lạ đến thăm lăng mộ mình, lão Thái thấy dân cũng đến thăm. Bụng đầy phấn khích, lão hỏi một người đang đứng ngắm lăng mộ:
-Chứ chú thấy lăng mộ này thế nào?
-ĐM, chết rồi còn ngốn 100 ha đất của dân nghèo, ngốn hàng chục triệu đô của dân xây lăng mộ. ĐM, hắn chết còn khốn nạn.
Lão Thái vừa nghe xong thì cơn tức bùng lên ngay lập tức, lão muốn nện cho thằng dân kia một đấm, nhưng lão giằng cơn tức vì chợt nghĩ ra “Ồ! Mình chết rồi mà? Nện nó mình lộ tung tích sao?”, thế là lão quyết định không tấn công. Về nhà lòng lão nặng trĩu. Lão không ăn cơm được vì lão không ngờ dân căm ghét và chửi lão thậm tệ đến như vậy. Tinh thần của lão suy sụp hẳn.
Nhiều ngày sau, lão không ăn uống gì nữa vì thấy những quang vinh mà lão có được té ra toàn là ảo tưởng. Chịu không không nổi trước cú sốc quá lớn, một đêm không trăng lão âm thầm đến lăng mộ của mình, chui vào quan tài, tự đậy mắp và nhắm mắt cùng với lọ thuốc ngủ đã được trút rỗng trên tay. Lão đã ra đi, và ra đi vĩnh viễn với lòng nặng trĩu rằng “mình là kẻ khốn nạn” trong mắt toàn dân chứ chả phải một đấng vĩ đại nào cả. Thế là từ lời đồn, lão trở thành kẻ chết thật./.
(Đỗ Ngà phỏng theo một truyện ngắn nào đấy mà hắn đã được học từ thời phổ thông. Truyện “Kẻ Chết Giả”)
Bà Phạm Đoan Trang bị công an sách nhiễu thường xuyên sau khi phát hành cuốn “Chính Trị Bình Dân.” (Hình: Facebook Phạm Đoan Trang)
VIÊT NAM (NV) – Blogger, nhà báo tự do Phạm Đoan Trang vinh dự là một trong ba người cùng được trao giải “Press Freedom Prize 2019” của Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Without Borders).
Buổi lễ trao giải diễn ra trang trọng tại Nhà Hát Deutsches ở Berlin. Người thay mặt blogger Phạm Đoan Trang đi nhận giải là ông Trịnh Hữu Long, tổng biên tập tờ Luật Khoa Tạp Chí.
Phạm Đoan Trang là tác giả của nhiều cuốn sách bị cấm lưu hành ở Việt Nam: “Chính Trị Bình Dân,” “Cẩm Nang Nuôi Tù,” “Phản Kháng Phi Bạo Lực”…
Bà được trao giải “The Prize For Impact” (Giải Cho Nhà Báo Có Tác Động).
Sáng hôm 13 Tháng Chín, ngay sau khi biết tin được trao giải thưởng, nhà báo Phạm Đoan Trang trả lời phỏng vấn riêng của Nhật báo Người Việt.
Nhật báo Người Việt: Nhìn lại hành trình từ một phóng viên báo nhà nước tới giải Tự Do Báo Chí 2019 của Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới, bà tự thấy mình đã phải đánh đổi, hay mất mát những gì?
Bà Phạm Đoan Trang: Tôi nghĩ tôi cũng mất khá nhiều, nhưng tôi không muốn nói về những mất mát đó, bởi vì quan niệm của tôi lâu nay là “làm đừng kêu, kêu đừng làm.” Đã chấp nhận đi vào con đường chiến đấu cho tự do thì chắc chắn phải mất một phần lớn tự do và nhiều thứ khác nữa.
Nhật báo Người Việt: Cùng thời điểm bà nhận giải thì người phát ngôn Bộ Ngoại Giao CSVN bác bỏ tin Việt Nam thuộc top 10 nước kiểm duyệt báo chí gắt gao nhất thế giới, bà có bình luận gì?
Bà Phạm Đoan Trang: Tôi không lạ cũng chẳng phẫn nộ trước phản ứng đó của Bộ Ngoại Giao Việt Nam và nhà nước Việt Nam nói chung. Có điều, tôi biết chắc chắn là bà Lê Thu Hằng, ở cương vị phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao CSVN, bà ấy có bề dày kinh nghiệm tiếp xúc với báo giới Việt Nam, có quan hệ sâu rộng với các nhà báo Việt Nam và bà ấy quá hiểu thực tế Việt Nam có kiểm soát tự do báo chí hay không, kiểm soát chặt đến mức nào… Đã hiểu quá rõ sự thật ấy mà còn bác bỏ được thì ta phải công nhận là quan chức, cán bộ của đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam rất giỏi sống hai mặt cũng như dối trá mà không thấy thẹn.
Nhật báo Người Việt: Theo bà, những người làm báo ở Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức, hoặc nỗi khổ, dằn vặt nào nếu như họ yêu nghề và có lương tâm với nghề báo?
Bà Phạm Đoan Trang: Câu hỏi hay nhưng rộng quá, để trả lời nó, tôi sẽ cần viết ít nhất một cuốn sách. Một cách ngắn gọn hết sức có thể, thì với tôi, nỗi dằn vặt lớn nhất với một nhà báo Việt Nam có lương tâm là cảm giác bất lực, không thể làm gì để thay đổi thực trạng, giải quyết vấn đề, cứu giúp những nạn nhân của bất công, nghèo đói và vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. (T.K)
Chi phí chữa bệnh tại Mỹ cao hơn nhiều quốc gia ở Âu Châu và Nhật Bản. (Hình minh họa: Getty Images)
Nhắc đến chuyện nghèo, chúng ta nhớ lại hình ảnh của một nhân vật “con nhà nghèo” trong tập truyện cùng tên, xuất bản năm 1930 của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Cuốn tiểu thuyết này mô tả hoàn cảnh của một nông dân Nam Bộ là Cai tuần Bưởi, một anh nông dân hiền lành chất phác, cần cù lao động, thuộc loại “con nhà nghèo.”
Vợ chồng quanh năm “dang nắng cầm cày, dầm mưa nhổ mạ” vẫn nghèo, cơm không đủ no. “Năm nào lúa thất, đong lúa rồi không còn dư hột nào, thì phải lo làm mướn đặng lấy số tiền mà độ nhựt.” Trong câu chuyện này, không nghe Ông Hồ Biểu Chánh nói chuyện gia đình Cai tuần Bưởi gặp lúc đau ốm, thì ra làm sao?
Một số người Việt chạy nạn Cộng Sản từ năm 1975 tới nay sinh sống ở Mỹ, vì khó khăn, thu nhập thấp, không có tài sản, thuộc tiêu chuẩn ‘vô sản” nên được nước Mỹ cưu mang, xếp cho vào loại con nhà nghèo.
Con nhà nghèo ở Mỹ thì có trợ cấp tiền mặt, phiếu thực phẩm, trợ cấp gia cư, vào bệnh viện chữa bệnh không mất tiền, đi bác sĩ và mua thuốc tốn phí đã có chính phủ lo. Không có phương tiện đi khám bệnh hay giải trí, đã có xe “nhà nước,” ở nhà ốm đau, già yếu, không vào bếp được cũng có người “chính phủ” đến phụ việc nấu nướng.
Cái câu nói mà chúng ta vẫn thường nghe hoài, nghe mãi, là: “Ở Mỹ, một là thật giàu, hai là thật nghèo, chứ dở dở ương ương là chết!”
Mới đây trên một tờ báo Việt ở Orange County có kể câu chuyện gia đình một đại gia thành đạt ở Sài Gòn, có dịp đi du lịch, ghé thăm vợ chồng một người bạn cũ thời niên thiếu ở Mỹ. Ông bà đại gia này ở Việt Nam có xe hơi sang, nhà nhiều phòng, có tiền tích lũy trong ngân hàng, nhà có hai người giúp việc, có tài xế túc trực lái xe mỗi ngày. Nhưng khi đến thăm người bạn cũ, họ thất kinh, khi được rõ thế nào là gia đình một người “con nhà nghèo” ở Mỹ.
Hai vợ chồng “con nhà nghèo” đang chạy một chiếc xe Toyotya Camry 2012, ở một căn apartment 2 phòng, tiền thuê theo giá thị trường hiện nay khoảng $1,600, nhưng có trợ cấp housing, đôi vợ chồng này chỉ trả cho chủ nhân $420 mỗi tháng. Mỗi tháng họ có tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ, đủ lo việc ăn uống, trả tiền thuê nhà, thêm một ít phiếu lương thực (foodstamp) để đi chợ mua thức ăn. Thỉnh thoảng họ cũng có đủ tiền đi thăm con cái ở một vài tiểu bang khác. Vợ chồng “con nhà nghèo” ở Mỹ này, đau ốm đi bác sĩ, mua thuốc khỏi tốn tiền. Ngạc nhiên quá đỗi là trong khi bà bạn ngồi đánh bài tứ sắc với mấy bà lối xóm, thì có “người giúp việc” đến nấu, dọn ăn và quét dọn nhà cửa. Nếu có hẹn phải đi bác sĩ thì cũng có người đưa rước!
Lúc ngặt nghèo, vào bệnh viện, họ cũng được đối đãi như những đại gia khác (tầng lớp có lương cao, hay bác sĩ kỹ sư…) Họ được một phòng riêng, hưởng tiêu chuẩn thuốc men, săn sóc như mọi người khác nằm trong bệnh viện.
Số tiền mà chính phủ trả ra hằng năm cho chuyện y tế của “con nhà nghèo” này không phải là một số tiền nhỏ. Chúng ta cũng nên biết rằng chi phí thuốc men hiện nay ở Hoa Kỳ rất đắt, gấp đôi so với những quốc gia tiên tiến khác. Vì giới hạn của trang báo chúng tôi chỉ nêu lên ở đây một vài quốc gia.
Ví dụ như chi phí y tế mỗi năm cho mỗi người ở Mỹ là $10,224 thì chi phí này đắt gần gấp đôi nước Đức ($5.728) Áo ($5,440) Pháp ($4,902) và gấp đôi đối với Nhật ($4,543) Úc ($4,717) và Anh ($4,246.)
Xin nêu một vài con số trong bài báo nêu trên và một ít tài liệu tra cứu.
Vào phòng cấp cứu có bốn giờ, xét nghiệm: $17,000. (Arizona)
Nằm bệnh viện 15 ngày: $285,000. (Rosemead, California)
Giải phẫu thay một quả thận: $120,000. Nằm bệnh viện sau giải phẫu thận: $40,000 một tuần – Sinh mổ: $17,542- Chăm sóc em bé trong ba ngày: $9,350 (Illinois)
Một ca sinh mổ và nằm bệnh viện ba ngày: $16,280. (Westminster, California)
Sinh con, nằm bệnh viện một tuần: $106,000. (Florida)
Sinh đôi, con phải nằm lồng kính trong ba tháng. Phần con: 5 triệu- Phần chi phí cho mẹ: $65,000 (Avocate Illinois Masonic Medical Center.)
Chăm sóc đặc biệt cho trẻ sơ sinh dưới 28 ngày tuổi (mỗi ngày): $4,825
Chăm sóc trẻ sơ sinh thông thường (mỗi ngày): $2,943 (FAIR Health, Hoa Kỳ)
Chụp MRI: $6,000 một lần- 5 tiếng nằm trong bệnh viện: $24,066. (Chicago, Illinois)
Lọc thận (mỗi năm): $89,000 cho một người. (USA).
Cũng nên biết qua những tốn phí khi bệnh nhân phải vào bệnh viện để giải phẩu, đó là chi phí phải trả cho bác sĩ phẫu thuật, chi phí hóa trị, tiền thuốc, chi phí xạ trị, chi phí gây mê. Tổng cộng chi phí cho một lần phẩu thuật như vậy không phải là nhỏ.
Một ca mổ tim- làm bypass: $70,000- $200,000. (California)
Một ca mổ ruột thừa (appendix): $33.000 (có bệnh viện lên đến $200.000.)
Một ca mổ ruột sa (hernia): $4,000 đến $11,000.
Chỉ tính chi phí riêng cho bác sĩ gây mê: $3,985.
Khi phải vào bệnh viện để giải phẩu, tiền nằm bệnh viện khá cao. Ở Orange County, California, giá của:
-Fountain Valley Regional Hospital & Medical Center: $989.
-Hoag Memorial Hospital Presbyterian: $1,037 cho mỗi ngày. (Chưa bao gồm thuốc thang hay bác sĩ, y tá chăm sóc.)
Nằm trong nursing home: $225 mỗi ngày – $6,844 cho mỗi tháng (phòng hai người), $253 mỗi ngày hay $7,698 mỗi tháng cho phòng một người.
Thử nhìn lại, giới con nhà nghèo chúng ta, từ ngày đặt chân lên đất Mỹ đến nay, đã tiêu xài của nước Mỹ bao nhiêu tiền, trong đó phải nói là chi phí y tế của mỗi người coi như tốn kém nhất. $500,000; $1,000,000 hay hơn thế nữa?
Chúng ta đang sinh sống ở Mỹ, nếu không có bảo hiểm sức khỏe hay không thuộc giới “con nhà nghèo,” và với tốn phí y tế cao như vậy, không tiền chắc phải chịu chết, mà có tiền cũng “thà chết còn hơn,” không dám gọi xe cấp cứu 9-1-1 để được đưa vào bệnh viện!
Nhưng ở Hoa Kỳ, tất cả những chi phí y tế của “con nhà nghèo” đều do quỹ Medicare của Liên Bang và Medicaid của tiểu bang trả, mà các bệnh nhân này không phải bỏ ra một đồng nào.
Trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ, đây là một vấn đề khá tế nhị, chúng tôi chỉ xin trích lời của Bác Sĩ Nguyễn Hùng, hiện nay đang hành nghề tại Quận Cam, đã nói với phóng viên Người Việt.
“Điều tôi trăn trở nhất, là hệ thống bảo hiểm y tế Mỹ tồn tại nhiều bất công cho những người “tax payer.” Họ đi làm đóng thuế cả đời, tới khi về già 65 tuổi, được hưởng Medicare. Nhưng Medicare lại chỉ chi trả khoảng 80% tiền thuốc mà thôi. Trong khi đó, có những người không đi làm gì, hoặc làm rất ít để giữ cho ‘low income,’ không đóng thuế gì hết, thì lại được chính phủ cho MediCal, loại bảo hiểm này rất mạnh, chi trả gần như toàn bộ tiền thuốc.”
Vậy mà cũng chưa thỏa mãn. Nhiều vị cao niên còn mạnh khỏe, đi đứng, lái xe được, còn hưởng thêm khoản day-care, đến tập luyện, vui chơi, ăn uống tại những địa điểm của các nhà thầu tư nhân thiết lập.
Vụ này quỹ Medicare còn phải chi thêm cho quý vị, một ngày $70. Trung bình mỗi năm những người này tiêu thêm của chính phủ $20,000. Có những dịch vụ xoa bóp (massage) nếu được các bác sĩ chứng nhận là trị liệu (theraphy) cũng được medicare thanh toán.
Phụ nữ nuôi con bằng sữa được cấp máy hút sữa: $200. Chúng ta xin cấp xe lăn điện (power wheelchair) nhưng không dùng đến, giá mỗi xe chính phủ phải trả ra từ $12,000 cho đến $21,000.
Trong khi đó giá xe cao nhất ở RehabMart là $3,000 và ở Walmart có loại rẻ nhất chỉ có $600.
Chúng ta xin cấp tã lót vô hạn định, dùng không hết. Giá tã $12/bịch x 2 = $24 nhưng medicare phải trả $42.50. Một bác sĩ cho biết, bị bệnh cao huyết áp, phải dùng thuốc Telmisartan 40 mg, giá Medicare phải trả là $80 một vỉ. Trong khi đó, nếu mua ở hiệu thuốc bên ngoài, giá chỉ còn $30!”
Tục ngữ Việt Nam có câu “Con nhà lính, tính nhà quan!”
Chúng ta là “con nhà nghèo” ở Mỹ, nhưng số phận “Trời cho” được xài sang, đến đỗi đại gia ở Việt Nam, lắm tiền nhiều bạc, qua đây, trông thấy còn phải “thất kinh, rụng rời!”
Vậy, tu mấy kiếp mới được xếp loại “con nhà nghèo” ở Mỹ? (Huy Phương)
Bằng giờ này năm trước, tháng 10 năm 2018, I.F.R.I – Institut Français des Relations Internationales – đã cho phổ biến bài viết (“Chine : Une Puissance Pour Le XXIe Siècle”) với hơi nhiều lời … có cánh. Thử xem chơi vài câu, qua bản dịch (“Trung Hoa: Một Siêu Cường Của Thế Kỷ XXI”) từ trang Nghiên Cứu Biển Đông:
Trung Quốc đã nổi lên là một cường quốc kinh tế, và mong muốn trở thành cường quốc trong mọi lĩnh vực. Trung Quốc đang phát triển một chiến lược gắn kết và tổng thể nhằm khẳng định, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước, là một cường quốc hình mẫu về kinh tế, quân sự, ngoại giao, chính trị và ý thức hệ. Trung Quốc còn dự định đề xuất một mô hình phát triển và quản trị đất nước thực sự, và tiến hành cơ cấu lại quản trị toàn cầu.
Việc nổi lên của một cường quốc là một hiện tượng tương đối hiếm gặp, và chỉ có thể nhận thấy trong cả quãng thời gian dài. Sau sự xuất hiện của các cường quốc Anh và Mỹ trong những thế kỷ trước, thế kỷ 21 có thể là thế kỷ của siêu cường Trung Quốc.
Ngoài các thành tựu kinh tế, có lẽ điều phân biệt Trung Quốc với các nước mới nổi khác là quyết tâm không thể lay chuyển của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thúc đẩy “sự đổi mới vĩ đại của nhà nước Trung Quốc”.
Một ý chí sức mạnh 360° …
Một ý chí mạnh mẽ muốn được thừa nhận là cường quốc …
Một Trung Quốc hình mẫu cho các nước khác …
ĐCSTQ cho rằng bối cảnh hiện tại thuận lợi cho Trung Quốc, và mong chờ thập kỷ sắp tới với một sự lạc quan nhất định, đồng thời không ngần ngại nhấn mạnh mặt trái của thế giới và người dân phương Tây.
Nói tóm lại, và nói theo ngôn ngữ của giới bóng đá VN, là Trung Quốc sắp đặt cả nhân loại dưới gót chân của họ bằng những kỳ tích để đời. Cùng lúc – khắp nơi – thiên hạ vẫn thường được nghe những lời phát biểu, với khẩu khí cũng tự tín và lạc quan (tương tự) từ ông Chủ Tịch Đảng kiêm Chủ Tịch Nước của xứ sở này:
Trung Quốc đang ở vào một “thời cơ lịch sử”, bước vào một “kỷ nguyên mới” sẽ được đánh dấu bằng sự kiện đất nước đang trở thành một “lực vĩ đại” [mighty force] trên thế giới và đóng một vai trò gương mẫu [role model] cho việc phát triển chính trị và kinh tế.
Chúng ta cần củng cố niềm tin về con đường, lý luận, hệ thống và văn hóa của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, và chia sẻ kinh nghiệm quản trị với các nước khác.
Sau khi thống nhất hòa bình, Đài Loan sẽ có hòa bình lâu dài và người dân sẽ được hưởng cuộc sống tốt đẹp và thịnh vượng. Với sự hỗ trợ tuyệt vời của ‘mẫu quốc,’ nền an ninh của đồng hương Đài Loan sẽ còn tốt hơn nữa, và không gian phát triển của họ sẽ còn lớn hơn nữa.
Không đâu! Cùng với quyền lực nghiêng trời lệch đất, ngài chủ tịch còn có thêm một khối óc vỹ đại cùng tầm nhìn bao quát toàn cầu. Ông là cha đẻ của Sáng Kiến Vòng Đai & Con Đường (The Belt and Road Initiative) còn được gọi là Nhất Đới Nhất Lộ nối liền những trọng điểm kinh tế từ Trung Quốc sang châu Âu và châu Phi. Sáng kiến này được mô tả là “dự án lớn nhất của thế kỷ” (the largest project of the century) với kỳ vọng sẽ mang lại “một trật tự mới cho thế giới.”
Quả đất vốn đã xưa, thế giới vốn đã cũ nên mọi sự mới mẻ đều được vui vẻ đón chào. Niềm vui, tiếc thay, hơi ngắn. Cái được mệnh danh là trật tự Trung Hoa – Sino-centric order – chưa kịp thành hình (mới chỉ có trong óc tưởng tượng thôi) thì đã có “sự cố” vô cùng đáng tiếc xẩy ra, khiến cho chính nước Tầu bỗng trở nên hơi bị lộn xộn và rối rắm.
Cái “sẩy” này tuy chỉ do chút “thiếu tế nhị” trong lãnh vực pháp lý nhưng đã nẩy ra một cái ung to đùng, có thể làm tiêu tán giấc mộng (lớn) của Tập Cận Bình. Vấn đề đã được Mary Hui – tường thuật viên của Quartz, tại Hồng Kông – tóm gọn như sau, theo bản lược dịch của Đoan Trang:
Dự luật này mới được đưa ra hồi tháng 4 vừa qua. Mục đích của nó là sửa đổi hai đạo luật hiện hành đang điều chỉnh việc dẫn độ và hỗ trợ tư pháp giữa Hong Kong và các nơi khác: 1. Pháp lệnh về tội phạm đào tẩu; 2. Pháp lệnh về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự. Pháp lệnh về tội phạm đào tẩu mà Hong Kong đang sử dụng hiện nay được thông qua ngay trước khi Hong Kong trở về với Trung Quốc (năm 1997). Pháp lệnh này quy định rõ là nó không áp dụng cho việc dẫn độ và tương trợ tư pháp với “chính quyền nhân dân trung ương hay chính quyền của bất kỳ địa phương nào của nước Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa”.
Bắc Kinh và chính quyền đặc khu Hong Kong hiện nay muốn sửa đổi pháp lệnh đó để có thể dẫn độ nghi phạm về các nước chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với Hong Kong, trong đó có cả Trung Hoa lục địa. Và vì thế, dự luật dẫn độ ra đời.
Thế là sóng gió ba đào:
Lý do chủ yếu để người dân Hong Kong phản đối dự luật dẫn độ là vì lo sợ nó sẽ phá hoại nền tư pháp độc lập cũng như tự do của Hong Kong. Nhà nước CHND Trung Hoa vốn đầy rẫy vi phạm nhân quyền với một bộ máy công an gây ra hàng loạt cái chết trong đồn, một hệ thống xét xử hoàn toàn bị đảng cầm quyền thao túng, dẫn đến tình trạng oan sai, khiếu kiện và dân mang quan tài đi diễu phố (tương tự như Việt Nam).
Có thể ví dự luật dẫn độ như một giọt nước tràn ly, và phản ứng dữ dội của người dân Hương Cảng như những cái tát (nháng lửa) vả liên tiếp vào mặt của Tập Cận Bình:
Sau vô số lời đe doạ, sau khi bạo lực bị chống trả mãnh liệt bởi bạo động, và sau khi súng đã nổ nhưng những cuộc biểu tình vẫn giữ nguyên cường độ nên Trung Hoa Lục Địa “bỗng” trở nên nhũn nhặn và … lễ độ thấy rõ. Mềm nắn, rắn buông. Không buông, ngó bộ, không xong đâu!
South China Morning Post, số ra hôm 4 tháng 9 năm 2019, loan tin: “Nhà lãnh đạo Hong Kong Carrie Lam thông báo rút lại dự luật dẫn độ gây tranh cãi. Hong Kong leader Carrie Lam announces formal withdrawal of the extradition bill.” Josuhua Vong đáp lại rằng như thế là “quá ít và quá muộn. Too little and too late.” Theo BBC, ông còn cho biết thêm: “Biểu tình sẽ tiếp tục cho đến ngày có bầu cử tự do.”
Cụm từ “bầu cử tự do” – tiếc thay – lại không có trong tự điển của Tập Cận Bình. Nay muốn thêm vào e hơi bị khó. Sợ nó sẽ làm đảo lộn trật tự không chỉ ở đảo Hồng Kông mà còn ngay cả ở Trung Hoa Lục Địa nữa. Giấc mộng “Sino-centric order” – ngó bộ – còn xa. Nó cũng xa xăm và mơ hồ (y) như giấc mộng siêu cường của Tân Hoàng Đế vậy.