Thân phận con người

  Thân phận con người

        Vũ Đông Hà

Tôi gặp các bạn trong một quán nhỏ tại Đài Loan. Quán không mang tên là quán chửi nhưng rộn ràng cả quán là những tiếng chửi thề. Giọng chửi Long An, Cần Thơ, Rạch Giá của miền Tây hiền hoà sang đến Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình khô cằn sỏi đá. Và toàn là giọng nữ. Họ là những cô dâu, ô sin, lao động chính thức, lao động chui, lao động bằng tay chân, lao động bằng thể xác. Những thiếu nữ 16 cho đến ngoài 30 đã làm nên một tầng lớp người Việt Nam lạ lẫm ở xứ người: những nô lệ của thời đại mới.

Nếu bạn muốn tìm kiếm một thiếu nữ đoan trang, thuỳ mị để ăn khớp với hình ảnh một con người đầy thương xót trong lòng bạn, bạn sẽ thất vọng. Đây là những con người sinh ra và lớn lên trong cái máy nghiền nát tâm hồn của cộng sản. Và những cay đắng, tủi nhục giày xéo thêm lên cuộc sống của họ ở xứ người đã biến họ thành những con người chai đá, bất cần và nổi loạn. Ở họ, từ những tiếng chửi thề rổn rảng, đã toát lên thái độ sống của 2 câu thơ từ một nhà thơ mà tôi không biết tên: “Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng / Đ. mẹ đời đ. má tương lai…”

Những con số lạnh lùng 

 Năm 2017, trên 134.000 món hàng người được xuất khẩu, vượt kế hoạch 28,3%. Năm 2018, 142.000, vượt 30% so với kế hoạch. 6 tháng đầu năm 2019, gần 67.000, đạt 55,82% kế hoạch nguyên năm. Tính chung từ năm 2006 đến nay, đảng và nhà nước CSVN đã xuất khẩu hơn 1 triệu món hàng bằng xương bằng thịt được dán nhãn “lao động made in VN”. 

Đây là những con số chính thức do Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh & Xã hội Nguyễn Thị Hà báo cáo tại Hội nghị truyền thông về xuất khẩu lao động vào đầu tháng 10/2019.

Hơn 1 triệu người. Mỗi người đóng ít nhất USD 5000 thì chính sách “Xuất khẩu lao động là thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương” đem về cho công ty buôn dân có trụ sở chính ở Ba Đình là 5 tỷ đô la. Chừng đó người sau đó gửi tiền về nước, con số cũng lên đến cả hàng chục tỷ đô trong hơn 1 thập niên qua.

 Trong con số 1 triệu người đó không có những người đi chui, những xác người bị chết trên xe hàng, xe tải, chết bờ chết bụi trong rừng, chết không còn nội tạng bên Tàu, chết những vẫn còn thở trong các ổ chứa mà không ai biết, không bao giờ có được con số thống kê chính thức. 

Tổng cộng là bao nhiêu người? 1 triệu hay 2 triệu hay…

Tổng cộng là bao nhiêu tiền? 10 tỷ, 100 tỷ hay…

Chỉ biết là rất nhiều, rất vĩ đại, rất hoành tráng để xuất khẩu con người phải là đại chính sách, là nhiệm vụ chính trị của chế độ.

Những con người đa dạng 

Những người bạn trong quán “chửi” ở Đài có người nằm trong con số 1 triệu của bà thứ trưởng Bộ LĐTB&XH. Có người không. Nếu bạn chỉ gặp họ trong một khoảnh khắc, bạn sẽ lắc đầu ngao ngán và gắn cho họ là phường hư đốn, thô tục đến cực kỳ.

Bạn cũng có thể “gặp” những người khác trên các bản tin, bài viết về những người Việt ăn cắp, đĩ điếm, buôn lậu, hành nghề phi pháp ở xứ người và xem đó là nhục quốc thể.

Những chuyện đó, những con người đó là có thật.

 Nhưng không phải tất cả 1 triệu người. Tôi không thể nói được có bao nhiêu con sâu trong nồi canh Việt Nam tha phương cầu thực ở xứ người vì tôi không là nhà thống kê. Từ những người được gặp và qua họ, tôi biết rất nhiều và rất nhiều những con người Việt Nam chỉ biết đem mồ hôi và nước mắt của mình đổ ra ở xứ người, ngày đêm âm thầm chăm chỉ cày bừa, cắn răng chịu đựng để nuôi dưỡng ước mơ của mình và cho gia đình họ còn ở lại bên kia “thiên đàng cộng sản”. 

Một con người và một giấc mơ 

Tối về trong căn nhà trọ, không còn là những con số, không còn là những bản tin. Trước mặt tôi là những con người. Các bạn nhỏ đã cởi bỏ mặt nạ ban ngày và mở lòng tâm sự. Trước mặt tôi là cô gái Long An hiền như lúa, người phụ nữ Nghệ An chân chất đồng ruộng và những con người Việt Nam nghèo xơ xát. Nhưng có một thứ thì họ rất giàu: Ước Mơ. Tôi không tìm thấy ở họ hình ảnh đứa cháu ngoan bác Hồ như một bạn thú nhận, một đoàn viên đoàn thanh niên Hồ Chí Minh một thời hung hăng khắp trường khắp xóm, hay một tín đồ Công giáo thuần thành bây giờ chửi thề ngọt như mía. Ở họ tôi chỉ thấy một điều tha thiết duy nhất: Ước Mơ.

Để đạt được ước mơ, mỗi người bạn nhỏ đã đánh mất rất nhiều thứ. Gia đình, người yêu, phẩm giá và ngay cả trinh tiết. Cuộc đời có thể lên án họ nhưng họ chỉ phải bị mất phẩm giá của mình chứ không đi chà đạp nhân phẩm người khác, họ bị cướp đi trinh tiết của mình nhưng không hề đi cưỡng đoạt trinh tiết của người khác. Họ mất rất nhiều chỉ để mong tìm được điểm đến sau cùng của ước mơ.

Ước mơ của họ, một con người của họ gom lại làm nên con số 1 triệu món hàng người xuất khẩu của chế độ.

Cuộc đời này xin cám ơn nhau 

Trước mặt tôi là một cô gái mới 17 tuổi. Trên giấy tờ em phải khai là 18 khi em chỉ tròn 16 lúc còn ở Việt Nam để “được” làm “cô dâu Đài Loan”. Mọi câu hỏi như tại sao em ra đi, những phán đoán vì sao em ra nông nổi này, sao bây giờ em đi làm gái bán thân… đều vô nghĩa trước dáng người bó gối, co rút và khuôn mặt đẫm nước mắt của em.

Trước mặt tôi là một người Việt Nam. Không! Hơn thế nữa. Trước mặt tôi phảng phất hình ảnh của con gái mình – lúc ấy con gái tôi mới 13. Tôi nhớ đến giây phút con gái cất tiếng chào đời và nghĩ đến cha mẹ của em. Chắc chắn cha mẹ em khi ôm con vào lòng không bao giờ nghĩ có ngày con gái mình 16 tuổi phải bôn ba xứ người lấy chồng già Đài Loan, 17 tuổi bỏ trốn và đi làm gái. Và tôi, nếu vì định mệnh vẫn sống tại một nơi nào đó ở Tây Ninh, Rạch Giá hay Nghệ An, Hà Tĩnh thì có gì bảo đảm đứa con gái thương yêu của mình sẽ không cùng số phận với em nhỏ này, với những em nhỏ mà tôi đã gặp ở Chung Li, Svay Pak, Siem Reap…? Có gì bảo đảm rằng con gái của tôi sẽ không ban ngày chửi nát cuộc đời và ban đêm khóc nát lòng mình?

Từ người con gái 17 tuổi và buổi tối nhiều nước mắt ấy, tôi đã tự nhận ra rằng những điều về lý tưởng, về lòng ái quốc, về lịch sử ngàn năm, về con đường yêu nước trong tôi từ trước chợt trở nên mơ hồ và dường như vô nghĩa. Từ những con-người-có-thật này, từ cô gái ban ngày chửi thề ban đêm khóc thầm này, tôi nhận ra và biết rõ mình sẽ làm gì trong nửa đời sau. Họ là những người mà tôi phải cám ơn. Cuộc đời cay đắng và nhiều khi còn bị phê phán của họ lại chính là nguồn cơn và động lực giúp tôi biết sống một cuộc đời có ý nghĩa.

*

Đêm nay.

Con của Mẹ 18

ngồi bán mực nướng ở quán bia Xiêm Rệp

lẻo đẽo trước tiệm uốn tóc làng Việt Nam – Svay Pak

mời khách mua dâm

mặc váy ngắn đứng bán trầu

trong những lồng kính đèn màu đêm Taoyuan.

co mình nằm dưới người đàn ông không răng

ở con hẻm Chung Li.

 

Đêm nay.

những đứa con của Mẹ,

tuổi con gái không chồng,

ôm mơ ước về những đứa con đừng bao giờ có

để không bao giờ chết

như đời Mẹ đang chết bây giờ…

31.10.2019

 Vũ Đông Hà

From:Tu-Phung

MẦU NHIỆM CÁNH CHUNG

MẦU NHIỆM CÁNH CHUNG

Lm. GB. Trần Văn Hào

Trong những Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội mời gọi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống mai sau, cuộc sống mà chúng ta đang vươn hướng tới. Nghĩ về cái chết và cuộc sống mai hậu không phải là một thái độ mang vẻ bi quan, nhưng ngược lại, đây là cách thức để khơi dậy niềm hy vọng và giúp chúng ta sống cuộc sống hiện sinh cho thật ý nghĩa. Chúng ta vẫn tuyên xưng đức tin khi đọc kinh Tin kính: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.” Đó là niềm hy vọng cánh chung của mọi Kitô hữu, bởi vì chết không phải là hết. Cái chết không kết thúc cuộc sống chúng ta một cách vô nghĩa, nhưng nó chính là cửa ngõ đưa dẫn chúng ta vào cuộc sống vĩnh hằng.  Đây cũng là sứ điệp mà các bài đọc Lời Chúa hôm nay gợi mở.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Luca thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và nhóm Saducêo. Nhóm này không tin có sự sống lại.  Đối với họ, chết là một dấu chấm hết. Những người Saducêo đưa ra câu chuyện giả định và có tính ngụy tạo về một phụ nữ có 7 đời chồng để gài bẫy Đức Giêsu.  Nếu Chúa trả lời có sự sống lại, thì không thể giải quyết vấn đề ai là chồng chính thức của người phụ nữ ấy trong cuộc sống mai sau, còn nếu Chúa trả lời không, đương nhiên họ có thêm một đồng minh. Tình thế tiến thoái lưỡng nan. Câu trả lời của Chúa Giêsu là một khẳng định chắc chắn mang tính thần khải về sự sống lại trong ngày sau hết. Tuy nhiên Ngài không nói rõ cuộc sống ấy sẽ như thế nào, vì tâm địa hẹp hòi của người Do thái lúc bấy giờ chưa thể lãnh hội được chân lý của mầu nhiệm. Ngài chỉ cho họ biết rằng trong đời sống mới, con người sẽ sống như các thiên thần, không còn chuyện dựng vợ gả chồng như cuộc sống hôm nay. Chúa cũng từ từ vén mở cho chúng ta biết về thực tại cánh chung. Trong cuộc sống mai hậu sẽ không còn khổ đau và chết chóc, bởi vì con người đi vào cuộc sống trường cửu.

Thời cựu ước, tư tưởng về cuộc sống mai sau rất mờ nhạt. Sách Macabê là quyển sách đầu tiên nói về sự sống lại. Bảy anh em nhà Macabê đã can đảm tiếp nhận cái chết với niềm tin tưởng này. Trước khi lìa đời, họ đã nói với vua Antiôkhô: “Chúng tôi chết vì luật pháp của vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời (2Mac 7, a)” hoặc “Thà chết vì tay người đời đang khi dựa vào lời Thiên Chúa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. Còn vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đời đời đâu” (c.14). Sau này, khi Guiđa thắng trận và thu gom các tử thi, ông đã gom tiền gửi về Giêsusalem để dâng lễ tạ tội cầu cho những người đã chết. Tác giả thư Macabê còn chú thích thêm: “Thật thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho kẻ đã chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn (2 Mac 12,44). Niềm tin về sự sống lại mai sau được Đức Giêsu dần dần khai sáng. Thánh Phaolô đã nhắc đi nhắc lại về niềm tin này, như trong Rm chương 8; Rm 6,8; 1 C 15,20-23; 2 C4, 14-15; Pl3, 20; 2Tm2,8-13 v.v…

Mọi người đều phải chết

 Để chuẩn bị cho cuộc sống mai sau, chúng ta phải đi qua cái chết.  Đây là một thực tại mà không ai có thể trốn tránh. Ngày xưa vua Tần Thủy Hoàng đã sai phái cả ngàn y sĩ tài giỏi đi khắp nơi săn lùng những thang thuốc quý để ông được trường sinh bất tử, nhưng cuối cùng ông cũng phải chết giống như mọi người. Biết bao anh hùng hào kiệt đã lẫy lừng một thời, được mọi người ca tụng như những vĩ nhân ‘đời đời sống mãi’, nhưng tất cả cũng đều đã chết. Xác của họ có đặt trong những lăng tẩm nguy nga để mọi người đến kính viếng, cũng chỉ là một nắm xương khô mà thôi. Triết học kinh điển của Hy Lạp nổi tiếng với tam đoạn luận ‘Mọi người đều phải chết, Socrate là người, nên(ergo) Socrate cũng phải chết’. Tam đoạn luận ấy cũng được ứng dụng cho mỗi người trong chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta chuẩn bị đón nhận cái chết như thế nào.

 Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn bé, ban đêm ông ngủ bên mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết.  Giữa đêm khuya vắng, có tiếng khóc não nuột vang lên.  Đứa bé sợ quá ôm chầm lấy mẹ.  Nó hỏi mẹ: “Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Câu hỏi của đứa bé khiến bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời làm sao. Bà bật ngồi dậy vào bàn và mở Kinh Thánh ra đọc. Trong Tin Mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn viết: “Trước lễ Vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Gấp sách lại, bà trở về giường nói với đứa trẻ: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng.”

 Đây là khuôn mẫu từ cái chết của Chúa Giêsu để giúp chúng ta suy gẫm và chuẩn bị đón nhận cái chết nơi mình. Khi mang thân phận con người, Chúa Giêsu đã từng run sợ khi đối diện trước cái chết. Ngài sợ đến mức độ mồ hôi và máu toát ra. Tác giả thơ Do Thái đã viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.  Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ (Dt5,7). Mọi người chúng ta cũng vậy, theo bản năng tự nhiên, ai cũng sợ hãi khi tiếp cận cái chết. Nhưng với niềm tin và lòng yêu mến, chúng ta sẽ chiến thắng. Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “Tình yêu mạnh hơn sự chết’’ (Rm 8, 39). 

Thánh nữ Têrêsa trên giường hấp hối đã nói với các chị em trong cộng đoàn: “Em sắp chết, nhưng không phải em chết mà em đang tiến về cõi sống.”  Mới đây người ta cho đăng hình một nữ tu rất xinh đẹp, lúc nào trên môi cũng nở nụ cười cho dầu đang phải chiến đấu chống lại những đau đớn do bệnh ung thư. Vị nữ tu này khi chết, trên gương mặt xinh xắn vẫn nở một nụ cười rất tươi. Người phụ nữ trẻ này đã an bình trở về với Chúa và kết thúc cuộc hành trình trần gian không một chút lưu luyến.

Kết luận:

Một linh mục nọ tổ chức tại giáo xứ một lễ an táng khá đặc biệt. Ngài báo trước từ lâu để đông đảo mọi người đến tham dự. Giữa nhà thờ ngài đặt một cỗ quan tài. Theo truyền thống, trước khi đưa thi hài ra phần mộ, quan tài được mở nắp để từng người đến tiễn biệt người quá cố lần cuối. 

Nhưng khi mọi người nhìn vào quan tài để xem người nằm trong đó là ai, họ không thấy gì, chỉ thấy một tấm gương lớn, phản chiếu chính khuôn mặt của họ. Vị linh mục chú thích:“Mỗi ngày anh chị em hãy tự mai táng chính mình.”

 Thiên Chúa là tình yêu. Nếu chúng ta sống sung mãn trong tình yêu, chúng ta sẽ trở nên bất tử vì được thông dự vào bản tính củaThiên Chúa, là Đấng không bao giờ chết. Đây là phương cách giúp chúng ta thực hành để đạt đến sự bất tử trong cuộc sống vĩnh hằng mai sau.

Lm. GB. Trần Văn Hào

From: Langthangchieutim

 Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

 Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

Là cường quốc số một thế giới, Hoa Kỳ đi đầu trong rất nhiều lĩnh vực công nghệ trong đó có y học. Nhưng khác với các ngành khoa học khác, một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn quốc về niềm tin tôn giáo của các bác sĩ tại Mỹ, kết quả thật bất ngờ: “Hầu hết các bác sĩ Mỹ đều tin vào sự tồn tại củaThần và thế giới bên kia.”

Khi công nghệ tân tiến cũng phải bó tay

Việc sở hữu thế mạnh về khoa học – công nghệ đã giúp Mỹ ứng dụng rất nhiều những phát minh vào nền Y học nói chung và các trang thiết bị y tế hiện đại tại các bệnh viện Mỹ nói riêng. Mỹ cũng được coi là đất nước có chất lượng dịch vụ y tế thuộc hàng tốt nhất thế giới.

Ngoài các trường đại học danh tiếng như Đại học Harvard, Đại học Johns Hopkins, Đại học Yale…nơi có các trung tâm nghiên cứu y học và đội ngũ giáo sư đầu ngành đã giành nhiều giải Nobel y học, các bác sĩ ở Mỹ cũng được trả mức lương cao ngất ngưởng. Do đó Mỹ được cho là mảnh đất mơ ước của tất cả các bác sĩ trên toàn thế giới.

Ngay cả khi sở hữu những công nghệ y học tân tiến và khám phá ra nhiều loại thuốc đặc trị hiệu quả thì vẫn có khá nhiều trường hợp khiến nền y học nước này phải bó tay ngay cả khi bệnh được phát hiện sớm.

Sự ra đi đột ngột của Steve Jobs, cha đẻ hãng công nghệ hàng đầu thế giới Apple đã khiến thế giới bàng hoàng và nuối tiếc. Nhiều người đặt câu hỏi rằng tại sao ở một đất nước có ngành y học tiên tiến nhất, với những bác sĩ có chuyên môn giỏi nhất, Steve Jobs vẫn phải đầu hàng số phận khi mới 56 tuổi và đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp.

Trước đó, Steve Jobs đã trải qua hai lần phẫu thuật. Năm 2004, ông trải qua ca phẫu thuật đầu tiên và các bác sĩ điều trị cho biết là khá thành công, bệnh đã được chữa trị khỏi. Nhưng sau đó không bao lâu, căn bệnh ung thư của ông lại tái phát, Steve Jobs buộc phải từ chức rồi cuối cùng ra đi trong tình trạng cơ thể suy kiệt.

Một trường hợp khác là tiến sĩ giải phẫu não Eben Alexander. Ông tốt nghiệp đại học danh tiếng Harvard, có kinh nghiệm trong ngành phẫu thuật thần kinh 25 năm, và là một trong những bác sĩ nổi tiếng nhất trong giới chuyên môn ở Mỹ.

Năm 2008, ông đột nhiên bị viêm màng não, và được đưa tới bệnh viện cấp cứu kịp thời.. Dù được điều trị tích cực bởi ekip bác sĩ cũng là những đồng nghiệp giỏi nhất trong ngành thần kinh học của ông, Eben Alexander vẫn bị rơi vào hôn mê và tình trạng này kéo dài liên tục trong 7 ngày. Điện não đồ cho thấy não của tiến sĩ thần kinh học Eben Alexander không còn hoạt động, tỉ lệ sống sót chỉ còn là 2%. Các bác sĩ điều trị đều bất lực và thông báo cho gia đình ông chuẩn bị hậu sự. Tuy nhiên, khi mọi nỗ lực của y học dường như đã bó tay thì Eben Alexander lại hồi sinh sau một trải nghiệm siêu thường.

Trải nghiệm siêu thường

Sau đúng 7 ngày hôn mê, khi các bác sĩ và người thân của ông đều đã chuẩn bị tinh thần cho trường hợp xấu nhất xảy ra thì Eben Alexander bắt đầu hồi phục trở lại. Sự hồi phục thần kỳ của ông khiến các bác sĩ điều trị và giới chuyên môn không thể nào lý giải nổi, cho đến khi Alexander kể về những trải nghiệm cận tử của mình và cho xuất bản cuốn sách “Proof of Heaven” (Chứng cứ về thiên đường).

Khi ở trong trạng thái cận kề cái chết, tiến sĩ Alexander thấy mình bay tới một nơi giống như “thiên đường”, ở đó bầu trời tuyệt đẹp, có những đám mây trắng, có những sinh vật màu trắng phát sáng, có âm nhạc du dương, thanh thoát. Eben Alexander còn gặp một thiên thần với đôi mắt màu xanh dương.

Ông nói: “Cảm giác rõ ràng, chân thực và sâu sắc ấy mang đến cho tôi một lý do khoa học để tin vào sự tồn tại của ý thức của con người sau khi chết”. Trước đó ông luôn hoài nghi về sự tồn tại của thế giới linh hồn, ngay cả khi các bệnh nhân của ông kể về trạng thái cận tử, bác sĩ Eben Alexander đều cho rằng đó chỉ là ảo giác.

Cho tới khi chính bản thân mình được trải nghiệm, thì bác sĩ Eben Alexander mới thực sự tin rằng những gì bệnh nhân của mình kể là chân thực, và những quan niệm của ông cũng thay đổi. Ông nói: “Mọi người đều nói sự tồn tại của ý thức sau khi chết là điều hoang đường, khó tin. Nhưng trạng thái mà tôi trải qua không phải là ảo giác. Tôi cảm nhận nó rõ ràng như những sự kiện chân thực đã từng xảy ra trong đời tôi. Trong nhiều thập niên qua, tôi hành nghề bác sĩ phẫu thuật não tại một trong những cơ sở y khoa danh tiếng nhất tại Mỹ. Giống như mọi đồng nghiệp, tôi hiểu rõ những lý thuyết về não bộ nhưng niềm tin cũ đã sụp đổ bởi những trải nghiệm mà tôi vừa có được”.

Một trải nghiêm tương tự khác của bác sĩ Rajiv Parti, là Trưởng khoa của một bệnh viện Tim danh tiếng tại Mỹ. Ông có một sự nghiệp rất thành công và cuộc sống vật chất sung túc nhưng cũng không tránh được quy luật Sinh – Lão – Bệnh – Tử. Ông được chuẩn đoán là mắc ung thư tiền liệt tuyến và đã phải qua nhiều đợt phẫu thuật.

Vào năm 2010, do biến chứng sau ca phẫu thuật, ông được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Đại học California trong tình trạng nguy kịch, toàn bộ các cơ quan nội tạng của ông hầu suy kiệt khiến các bác sĩ phải đưa ống thông vào trong cơ thể để hỗ trợ. Tuy nhiên, chỉ sau vài giờ, bác sĩ Rajiv Parti bị nhiễm trùng nặng kèm với sốt cao khoảng 40,5 độ.

Sau khi tiêm mooc-phin giảm đau, ông lại được đưa vào phòng phẫu thuật. Chính ở thời điểm này, bác sĩ Rajiv Parti khẳng định đã nhìn thấy thiên đường. Sự việc này về sau đã được ông viết lại trong cuốn sách “Dying to wake up” (Chết để thức tỉnh).

Ông kể rằng, cơ thể mình cảm giác như đang bay lơ lửng trong không khí và nhìn thấy bản thân mình đang nằm trên bàn mổ và nghe các bác sĩ khác đang nói chuyện, thậm chí còn ngửi thấy mùi thuốc sát trùng. Cùng lúc đó, ông thấy gương mặt của mẹ và em gái. Bà mặc bộ đồ truyền thống của Ấn Độ, em gái thì mặc quần bò, áo lửng màu xanh đang ngồi ở nhà. Họ đang cùng chuẩn bị bữa tối có rau, sữa chua và cơm. Rajiv Parti đã viết: “Tôi có thể hồi tưởng lại toàn bộ quá trình trải nghiệm khi cận kề cái chết: Tôi đã gặp được tổ tiên của mình ở ranh giới của địa ngục, một vài tiền kiếp mà tôi đã trải qua – đủ để giải thích những khổ nạn xảy ra trong đời mình và tại sao lại luôn phải ỷ lại vào những đơn thuốc như thế?

Và tôi còn có vinh hạnh được gặp hai vị thiên sứ hộ mệnh tỏa ra thứ hào quang rực rỡ là Raphael và Michael. Họ bước ra từ một biển hoa, trên thân còn tỏa ra sức mạnh từ bi thuần chính tới mức khó có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả”.

From: TU-PHUNG

Ma quỷ nên tránh xa

Ma quỷ nên tránh xa

Huy Phương

Cảnh trang trí Halloween trong vườn nhà của một gia đình Washington, D.C. (Hình: Getty Images)

Ở Mỹ, có một ngày lễ mà tôi không bao giờ chờ đợi nó đến, cũng như không thích nó tí nào, đó là ngày lễ Ma Quỷ (Halloween) được diễn ra vào ngày cuối cùng của Tháng Mười mỗi năm.

Làm con người, ai cũng sợ ma quỷ, không muốn gần gũi với ma quỷ và nhất là không muốn ai đánh giá, hay gọi mình là “đồ ma, đồ quỷ!” thì vì sao mình lại còn chơi với ma quỷ?

Trước năm 1975 ở miền Nam, Sài Gòn có hai con ma nổi tiếng là “Con Ma Nhà Họ Hứa,” nửa thật nửa giả, trong lâu đài của đại gia Hứa Bổn Hòa, đã được hãng Dạ Lý Hương, quay thành phim, do đạo diễn Lê Hoàng Hoa thực hiện, và “Con Ma Vú Dài” trong khám Chí Hòa của một ký giả, sau này là chồng một nữ ca sĩ nổi tiếng, dựng trên nhật báo Hoà Bình của Linh mục Trần Du.

Thật ra thì chưa ai thấy được hai con ma nổi tiếng nhất ở Việt Nam này, mặt mũi tay chân như thế nào, vì đây toàn là chuyện đồn đãi, truyền thuyết.

Cho đến giờ này, cũng chưa ai giải thích cho tôi biết vì sao loài ma quỷ chỉ có giống cái, phải chăng thế giới này có lòng ghét bỏ đàn bà? Bão táp cũng mang tên phụ nữ, mà dân Sài Gòn ngày trước cũng không thằng ma nào mang họ Hứa hay có vú dài. Ông Khổng Tử đòi “kính nhi viễn chi,” kính thì đã đành rồi, nhưng viễn chi, cái giống đàn ông Chúa sinh ra, xa ma một một ngày đã thấy nhớ, nên suốt đời thích sống với ma quỷ.

Tôi không nói trên trái đất này, nước nào cũng có ma, mà là nước nào cũng có chuyện ma, như thây ma hoặc xác sống (Zombie) ở Bắc Mỹ và Châu Âu, ma cà rồng ở Balkan và Đông Âu, ma sói (werewolf) ở Châu Âu thời Cổ Đại, ma cổ dài (Rokurokubi) ở Nhật Bản, ma Krasue ở Thái Lan, ma Pontianak ở Malaysia và Indonesia, ma Manananggal ở Philippines, Ngạ quỷ hay ma đói trong Ấn Độ giáo, ma lai rút ruột ở Việt Nam.

Có 20% dân số Mỹ nói rằng họ từng gặp ma quỷ và 50% người Mỹ có thể không thấy nhưng tin rằng có ma quỷ. Nhiều trường đại học như UCLA và Cambridge, đã có nhiều nghiên cứu khoa học thực hiện đứng đắn, cho chúng ta thấy có điều gì đó thật sự đang diễn ra trong một thế giới khác mà đôi mắt trần tục của chúng ta khó nhận ra.

Nghiên cứu cho thấy có những sai lệch của hình ảnh được thu lại qua dụng cụ quang học, được ghi lại bằng hình chụp hoặc phim. Tạp chí Popular Photography có đăng tải những nghiên cứu và hình ảnh minh họa, chứng minh rõ ràng có sự tồn tại cái mà chúng ta gọi là ma quỷ hay các linh hồn chưa thể siêu thoát.

Vậy thì chúng ta cứ tin là trên đời này có ma quỷ thật, nhưng không nên thân thiện với ma quỷ làm gì, người ta chưa biết lòng dạ con người thế nào, huống gì loài ma quỷ.

Ma quỷ còn ghê hơn nữa là trong lòng nghĩ gì quỷ thần đều biết hết: “Tâm động quỷ thần tri!” Vậy thì nên đối với ma quỷ càng tránh xa càng tốt. Tránh xa mà không khinh miệt, trong lòng không xem thường, bởi mình cũng sợ “quỷ thần tri” nghĩa là “kính nhưng mà nên tránh xa, kiểu “kính nhi viễn chi” của cụ Khổng Tử ngày xưa cho đỡ phiền phức.

Dân gian có câu: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành.” Để tránh những điều phiền phức từ các thế giới khác, người xưa thường tôn kính các vị quỷ thần để được bảo hộ và tránh xa những rắc rối. Mặt khác, cần phải giữ tâm cho chính, tích đức, hành thiện, ý nghĩ, lời nói, cử chỉ, đều đoan chính, thì ma quỷ cũng không hại được mình.

Theo tinh thần phương Đông thì đùa với quỷ thần là đi trái với văn hóa, nhưng ở phương Tây, sống chung hay đùa giỡn với ma quỷ là chuyện thường tình.

Ngày lễ Halloween đã và đang trở thành thú vui, con người hóa trang sao cho càng giống ma quỷ càng tốt, xương cốt, máu me, bia mộ, đầu lâu, mạng nhện, quan tài… đến tiếng rú ma quái, tiếng cười lanh lảnh trong đêm và hình ảnh những bà phù thủy hay những đoàn ma quỷ hiển hiện trong đêm, đi với nhau từng đoàn.

Halloween được cho là có xuất xứ từ Thiên Chúa Giáo, phát xuất từ các lễ hội cổ xưa của người Celtic, những người đã sống cách đây 2,000 năm trong khu vực mà ngày nay là Ireland, Vương quốc Anh và miền bắc nước Pháp, để xua đuổi các âm hồn muốn tái sinh.

Người Celtic cho rằng vào đêm trước năm mới, ranh giới giữa thế giới của sự sống và cái chết trở nên mờ nhạt, và người ta tin là vào đêm 31 Tháng Mười, những hồn ma của người chết trở về nhân gian.

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ theo chân những người Ireland di cư từ năm 1846. Đến những năm 1920 và 1930, Halloween đã trở thành một ngày lễ của nhân gian, chứ không chỉ của riêng giáo dân, với các cuộc diễn hành và các trò giải trí đặc trưng của cả cộng đồng. Chỉ tội cho cái xứ Việt Nam, giờ này cũng đua đòi chơi cái trò ma quỷ!

Theo nghiên cứu của the National Retail Federation’s, 80% dân Mỹ có kế hoạch tổ chức Halloween để đem lại một điều gì đó vui vẻ với bạn bè và con cái, gia đình của họ. Chỉ tính ví dụ như năm 2018, nước Mỹ đã tiêu pha lên tới $9 tỷ, chi tiêu trung bình của mỗi người Mỹ là $86.79 cho trang trí, kẹo, trang phục và nhiều thứ khác. Chúng ta không thể tưởng tượng rằng chỉ với món kẹo Halloween dành cho trò “treat and trick” không thôi, nước Mỹ đã tốn $2.6 tỷ rồi.

Nếu nói văn hóa là nét đặc trưng của mỗi dân tộc, trong khi văn hóa nước Mỹ không chấp nhận chuyện ăn thịt chó, chuyện chửi Formosa cũng bị đi tù, thì Việt Nam chúng ta cũng không thể chấp nhận chuyện tang lễ, quan tài không đậy nắp hay chuyện vinh danh ma quỷ qua ngày lễ Halloween!

Những người tâm địa không đoan chính, hành động không giống con người, thì chúng ta tránh xa không giao tiếp với họ. Người quân tử chơi với kẻ xấu như vào chợ cá, lâu không nghe còn nghe mùi hôi của cá, cho nên ai cũng muốn giao tiếp với người hiền, lương thiện, trí thức, chứ không ai muon gần gũi với bọn ma quỷ.

Ngày lễ Halloween người ta thích trang trí nhà cửa, vườn tược bằng những hình ảnh ma quái, có gia đình dựng nguyên cả một nghĩa địa giả trong vườn với những tấm bia mộ như thật, chưa nói đến máu me, xương sọ, đầu lâu lủng lẳng trước cửa nhà.

Người có con chết biển thường sợ thấy biển. Người đã đứt tay không muốn thấy máu. Là người Việt Nam trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, với những cuộc chiến hủy hoại, giết chết hàng triệu người, chúng ta đã trải qua bao lần mục kích cảnh máu đổ, xương rơi mà nạn nhân là ruột thịt, bà con, đồng bào của chúng ta, còn vui thú gì với xác chết không đầu, thây phơi đồng nội nữa!

Thời Việt Minh, tôi chỉ mới lên tám, lên chín, cũng như những đứa trẻ khác, đã phải mục kích những cảnh đầu lâu cắm giữa chợ, những xác chết thả trôi sông, những tử thi không đầu đắp chiếu nằm giữa ngã ba đường, và máu chảy thành những vũng lớn. Nỗi kinh hoàng, run sợ ám ảnh đứa trẻ trong nhiều ngày nhất là mỗi đêm, nghe tiếng chó sủa vang trong xóm, sáng ra là có xác chết nhuốm máu, nằm co quắp bên vệ đường.

Suốt thời quân ngũ, tôi may mắn không trực tiếp ra nơi chiến trường bom đạn, không thấy tận mắt những cảnh máu đổ xương rơi, nhưng sau chiến trận, tường tận thấy những xác chết đồng đội mang về từ chiến trường, máu đã khô trên những chiếc cáng cứu thương, với những bà mẹ già hay những người vợ trẻ gào thét, khóc lóc…theo sau.

Rồi thảm cảnh Mậu Thân, trở về quê hương, tôi đã đi theo những toán người đào những nấm mộ tập thể, tận mắt thấy những thây người co quắp, bị cột bằng những sơi dây điện thoại màu đen, áo quần lẫn lộn với bùn đất, xương sọ vỡ toác vì báng súng hay lưỡi lê… nằm chồng chất lên nhau.

Một thời gian rất lâu sau đó, tôi cũng còn bị ám ảnh, chưa quên nỗi mùi hôi của xác chết lâu ngày, thối rữa trong mộ chôn, và tiếng la khóc, gào thét phẫn nộ dến khản đặc của những người vợ, người mẹ bất hạnh. Và những con đường đầy một trời khăn tang trắng, mùi nhang trầm phảng phất, tiếng cầu kinh văng vẳng xa gần…

Rồi mùa Hè lửa đỏ, bao nhiêu xác anh em chúng tôi từ mặt trận mang về, và trên con đường mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” máu thịt người dân tan rữa, lẫn lộn cùng với sắt thép và cát nóng của mùa Hè.

Rồi Tháng Tư năm đó, trên đường di tản, trên con đường đèo oan nghiệt, trên những bãi biển miền Trung, bao nhiều thây người lính còn nằm lại đó, thịt nát xương tan, vương vải những áo trận, dày sô và thẻ bài dính máu.

Đất nước tôi đi vào thảm cảnh hôm nay cũng vì bọn ma quỷ đang đội mồ đứng dậy, nhập hồn vào những thân người sống, hiếp, đâm, giết… 45 năm sau cũng còn người chết sông, chết biển vì phải bỏ nước ra đi. Những tấm thân lưu lạc. Có bao nhiêu anh em, bà con của chúng ta chết nằm chồng chất trong cái thùng đông lạnh chứa 39 thi thể ở Anh. Bạn có nghe không, đâu đây vẳng tiếng kêu đau lòng: “Mẹ ơi con không thở được!”

Vậy mà hôm nay chúng ta lại định mang về nhà những hình ảnh chết chóc, tiếng rên rỉ, kêu la của loài ma quái, đầu lâu, quan tài, mộ địa.

Là người Việt Nam, chúng ta có quyền không tham gia trò chơi của bầy ma quỷ. Chúng ta đã trải qua những giai đoạn của một đất nước chết chóc, máu me. Đất nước chúng ta hiện đang còn đầy dẫy loài ma quỷ nhan nhản khắp nơi, nơi có nhiều ma quỷ phải chăng đó chính là.. địa ngục?

Trong tình thế này, làm sao có thể nói được câu “Happy Hallowen” hở người anh em? (Huy Phương)

‘Con người là vốn quý!’

‘Con người là vốn quý!’

Huy Phương

Bộ phim đầy nhân bản “Saving Private Ryan” thu hút hàng triệu khán giả trên toàn cầu. (Hình: Getty Images)

Saving Private Ryan (Giải cứu Binh Nhì Ryan) là một bộ phim chiến tranh sản xuất năm 1998, lấy bối cảnh của cuộc Đệ II Thế Chiến, tác giả là Robert Rodat và đạo diễn là Steven Spielberg, dựa theo một chuyện có thực ngoài đời.

Câu chuyện bắt đầu khi Tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, Tướng George C. Marshall, được thông báo việc ba người con trai trong một gia đình tử trận ngoài chiến trường, và người mẹ đã nhận được tin buồn này của Bộ Quốc Phòng trong cùng một ngày.

Khi biết rằng người mẹ này đang còn một đứa con trai thứ tư là Binh Nhì Ryan vẫn đang chiến đấu ngoài mặt trận, Tướng George C. Marshall quyết định cử một toán quân nhân có nhiệm vụ đặc biệt là vào trận chiến, đi tìm người lính này và đưa anh ta về với một gia đình đã bị mất mát quá nhiều trong chiến tranh. Khu vực tìm kiếm rất nguy hiểm vì trận chiến khốc liệt, và các đơn vị thì liên tục di chuyển, cũng không biết binh II Ryan còn sống hay đã tử trận, vì quân đội Hoa Kỳ không biết chính xác Ryan đang ở đâu.

Đơn vị đặc biệt này gồm có 8 người được cử đi tìm Ryan trong bom đạn, cuối cùng đã mang anh ta về được với gia đình, nhưng toán binh sĩ đặc nhiệm này đã bị mất mát, không còn nguyên vẹn.

Chúng ta bỏ qua việc “Saving Private Ryan” được Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ Mỹ xếp là bộ phim Mỹ vĩ đại thứ 71 trong vòng 100 năm và sự thành công vượt bực tại các phòng vé, cũng như, bộ phim đã được đề cử 11 giải Oscar trong lễ trao giải Oscar lần thứ 71 (1999), mà nói đến nội dung của cuốn phim.

Đi tìm một người lính trong 174,000 người lính đang hành quân chiến đấu trong vùng trời lửa đạn không phải là một công việc dễ dàng, nhưng chỉ vì những cấp chỉ huy quân đội muốn “giải cứu” một người con trai cuối cùng trong một gia đình đã hy sinh quá nhiều, đem về cho gia đình họ. Sinh mạng nào cũng đáng quý, và nỗi khổ đau tuyệt vọng của gia đình nào cũng được đất nước quan tâm. Chuyện này không phải ai cũng làm được và ở chế độ nào cũng có.

Trong hoàn cảnh của miền Nam Việt Nam, ngay trong thời điểm có chiến tranh khốc liệt là lúc Cộng Sản Bắc Việt dốc toàn lực để thôn tính miền Nam, trong “Sắc Lệnh Động Viên mới” (1968,) vẫn có điều khoản ấn định rõ ràng về chuyện hoãn dịch gia cảnh.

Có 3 trường hợp được hoãn dịch về gia cảnh:

1- Con độc nhất trong gia đình.

2- Đương sự có 5 con phải nuôi dưỡng.

3- Gia đình có cha mẹ già từ 60 tuổi trở lên, có 2 con trai, nhưng một người đang tại ngũ, người còn lại được hoãn dịch.

Quốc gia nào cũng quý mạng sống con người và thấu hiểu đến từng hoàn cảnh gia đình của từng công dân.

Nhưng đối với người Cộng Sản thì không! “Cứu cánh biện minh cho phương tiện,” là câu giải thích, miễn sao hoàn thành được mục đích, còn phương tiện không đáng kể!

“Non! Pas du tout!” Đó là câu trả lời lạnh lùng của Võ Nguyên Giáp nói với báo chí quốc tế khi người ta hỏi viên tướng này là ông có hối tiếc gì về chuyện 4 triệu người Việt chết vì chủ nghĩa Cộng Sản hay không?

Nhà báo Nick Turse trên New York Times viết: “Với người Mỹ, mạng sống ở Việt Nam từng quá đỗi rẻ mạt,” và Tướng Westmoreland, cựu tham mưu trưởng Lục Quân Mỹ, cho rằng Tướng Võ Nguyên Giáp đã “không tiếc tính mạng binh lính để đổi lấy chiến thắng.”

Câu nói thường nghe trong chế độ Cộng Sản là “cứu cánh biện minh cho phương tiện,” nên “dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn,” “đánh Mỹ đến cái lai quần,” để thôn tính miền Nam, người ta vẫn làm!”

Có người phê bình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khi ông nói: “Nếu Mỹ viện trợ 1.4 tỷ đô la Sài Gòn sẽ kiểm soát được toàn miền Nam; 1.1 tỷ đô la, Sài Gòn sẽ mất một nửa Quân Khu I về phía Bắc; nếu chỉ còn 900 triệu đô la, sẽ mất toàn bộ Quân Khu I và Quân Khu II.”

Nhưng Lê Duẫn lại nói về sinh mạng con người: “Nếu Trung Quốc nhiệt tâm giúp đỡ thì miền Bắc đỡ hy sinh 2-3 triệu người,” có nghĩa là đàn anh không giúp đỡ thì Bắc Việt sẽ hy sinh 2-3 triệu người đó, sẵn sàng nhuộm đỏ miền Nam, giữ vững tinh thần quốc tế vô sản!

Trong cuộc tiến công miền Nam, khi chiến trường miền Nam hao hụt nhân mạng, Lê Duẫn vét cả 10,000 người gồm cả sinh viên và giảng viên trẻ từ cả 30 trường đại học và cao đẳng Hà Nội, mặc áo trận, qua sông Bến Hải để quyết thắng.

Trong câu chuyện “Saving Private Ryan,” chỉ thị từ Bộ Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ là phải vào trận chiến khốc liệt để tìm cho ra Binh Nhì Ryan, người lính đã có ba người anh hy sinh trong cuộc chiến để mang về cho gia đình anh, một câu chuyện đầy tính nhân bản trong một quân đội của các nước dân chủ, tự do. Đối với ý thức cộng sản, vét tận nhân lực được chừng nào hay chừng đó, cho mục đích cuối cùng, không cần thương tiếc.

Báo chí Việt Nam đã từng ca tụng những “Bà Mẹ Anh Hùng” cống hiến hết cho đảng đến giọt máu cuối cùng.

Đến tháng 12 năm 2008 có gần 50,000 phụ nữ được tặng, hoặc truy tặng danh hiệu này. Một “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng,” được ca tụng là Nguyễn Thị Thứ (1904 – 2010), quê Điện Bàn, Quảng Nam, đã vét hết sinh mạng của gia đình gồm có chồng, chín người con trai, một con rể và hai cháu ngoại dâng hiến cho sự nghiệp “giải phóng miền Nam của đảng.” Bà Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận và bà Nguyễn Thị Rành ở Sài Gòn, mỗi nhà có 8 người con liệt sĩ.

Sinh mạng con người ở trong chế độ nào là đáng quý? (Huy Phương)

Hoạt động vì môi trường bị cho là ‘núp bóng’ để gây rối!

Trung Khang Rfa
Theo Cô Cao Vĩnh Thịnh, nội dung VTV đưa ra là cố tình lồng ghép 2 sự kiện về cây xanh khác nhau tại thủ đô Hà Nội để khiến người dân cả nước tin vào nội dung này, thì họ sẽ nghĩ Green Trees là thành phần gây rối, không chấp nhận được, vì cây xanh có bị chặt hạ đâu nó chỉ dịch chuyển đến nơi khác và vẫn sống tốt.

Nhưng trong thực tế sự kiện chặt hạ cây xanh 6708 là triệt hạ và thay thế để đồng bộ cây xanh thủ đô và chính Cơ quan chức năng khi đó đã thừa nhận họ sai và cho cách chức các cán bộ sai phạm tại Sở Xây Dựng Hà Nội trong năm 2015.

Người Việt-44 năm rồi, vẫn phải bỏ đi và bỏ mạng ở xứ người. P.2 (RFA)

Người Việt-44 năm rồi, vẫn phải bỏ đi và bỏ mạng ở xứ người. P.2 (RFA)

Song Chi.

https://www.rfavietnam.com/node/5764

Bi kịch từ đâu?

Nếu bi kịch 39 người Việt chết ở hạt Essex, nước Anh ngày hôm nay không xảy ra thì sớm muộn cũng xảy ra.

Có những bài báo của nhà nước VN còn lên tiếng rằng “đừng cái gì cũng đổ lỗi cho chính quyền”, hoặc thậm chí, cho rằng xảy ra thảm kịch này là do…chính sách nhập cư khó khăn của nước Anh. 

Các nước phát triển ở châu Âu từ mấy chục năm nay đã khốn khổ với tình trạng người nhập cư nói chung và nhập cư bất hợp pháp nói riêng. Ở Anh có những khu vực, thành phố mà người nhập cư chiếm đa số và dần dần biến khu vực đó, thành phố đó thành “xứ” của họ, ví dụ Bradford hay Birmingham chẳng khác nào những thành phố của người Hồi giáo với bảng hiệu, cửa hàng, quán xá đặc trưng về văn hóa, với hình ảnh phụ nữ Hồi giáo trùm kín từ đầu tới chân, đàn ông Hồi giáo mặc trang phục của họ đi ngoài đường. Ở những nơi như vậy, người nhập cư có thể ăn thức ăn của nước mình, sử dụng các dịch vụ của đồng bào mình và có thể sống cả đời không cần phải nói tiếng Anh, không cần phải hội nhập.

Bao nhiêu vấn đề nảy sinh từ những khác biệt về văn hóa, tôn giáo cho tới vấn đề cung cấp công ăn việc làm, an sinh xã hội, tình trạng tội phạm v.v…

Vấn đề về người nhập cư và làm sao giải quyết cân bằng giữa những lý do nhân đạo và những xung đột, mâu thuẫn khác luôn luôn làm đau đầu chính phủ các nước phát triển nói chung và nước Anh nói riêng. Dù nhân đạo, họ cũng không thể mở toang cửa hay dễ dãi hơn để người nhập cư vào thoải mái, và ngoài Mỹ, thì Anh thì là một trong những điểm đến ưa thích của công dân nhiều quốc gia. Cho nên thật vô lý khi trách chính sách cho nhập cư của họ khó khăn.

Nhà nước VN phải tự hỏi mình rằng đâu là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi, không ngừng, từ sau ngày VN thống nhất cho đến tận bây giờ, hơn 40 năm sau? Những năm đầu khi hàng trăm ngàn người Miền Nam bỏ nước ra đi, nhà cầm quyền còn đổ thừa rằng đó là những con người không có tinh thần yêu nước, những kẻ ham bơ thừa sữa cặn, ham bám đuôi người Mỹ, không chịu được xã hội mới nên bỏ đi.

Nhưng bây giờ sau hàng chục năm, người Việt vẫn bỏ nước ra đi, bằng mọi cách, thuộc mọi tầng lớp khác nhau, từ những người dân nghèo tìm đường đi làm thuê ở xứ người cho tới tầng lớp du học sinh, trí thức học xong rồi tìm đường ở lại, thậm chí cả tầng lớp giàu có, đang thành đạt, những người đang làm việc cho bộ máy nhà nước, đảng viên đảng cộng sản cũng tìm đường cho con cháu họ ra đi và cho chính họ, một “bãi đáp” sung sướng, nhàn hạ sau khi đã về hưu. Như vậy có lý do gì để đổ thừa ngoại trừ một thực tế rành rành là sự thất bại của đảng và nhà nước cộng sản VN trong việc tạo ra một đất nước khiến người ta vui vẻ sống và không nghĩ đến chuyện bỏ nước ra đi?

44 năm cầm quyền duy nhất, đảng và nhà nước cộng sản VN phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của họ trong việc xây dựng VN trở thành một quê hương đáng sống, một môi trường xã hội trong lành và bình yên về mọi nghĩa, một thị trường lao động công bằng với mức thu nhập đủ sống cho người dân. Đó là những yêu cầu tối thiểu!

Đảng và nhà nước cộng sản là một đảng cầm quyền thất bại về mọi mặt, chỉ trừ việc bằng mọi giá giữ được chính quyền và họ cũng chỉ cần có thế, bất chấp hiện trạng và tương lai đất nước, dân tộc. Hệ thống chính trị-xã hội độc đảng độc quyền mang cái vỏ Mác Lênin, cái vỏ XHCN nhưng ruột thì là phong kiến cộng với độc tài cộng với tư bản thời hoang dã, là một hệ thống thất bại, đáng phải vứt vào sọt rác từ lâu.

Dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, VN là một quốc gia thất bại từ kinh tế, y tế, giáo dục, môi trường, văn hóa, đạo đức xã hội, chính sách ngoại giao cho đến chính sách phát triển về con người và hệ quả của nó là việc dòng người vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Bốn mươi năm trước thì một nửa trong số họ vĩnh viễn nằm lại dưới đáy đại dương, hoặc trải qua những bi kịch mất sạch tất cả, bị cướp bóc, hãm hiếp trước khi đến được bến bờ tự do, bốn mươi năm sau là những cái chết khát-chết ngạt, chết cóng trong container xe tải, chết đói chết bịnh hoặc cũng lại bị cướp bóc, hãm hiếp trên những hành trình dài ra đi.

Và bi kịch 39 người chết hôm nay sẽ không dừng lại. Khi nào VN chưa thay đổi về thể chế chính trị xã hội để VN có thể phát triển thành một quốc gia đáng sống hơn.

Có dân tộc nào phải trải qua hết bất hạnh này đến bất hạnh khác như dân tộc tôi, đồng bào tôi?

Cuộc sống mai sau

Cuộc sống mai sau

(Suy niệm Tin mừng Lu-ca (20, 27-38) trích đọc vào Chúa nhật 32 thường niên)

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Niềm tin vào cuộc sống mai sau đã bén rễ sâu vào tâm trí nhân loại từ rất xa xưa.

Khi mai táng người chết, các bộ tộc thời thượng cổ chôn cả những dụng cụ săn bắn chung với người qua đời vì tin rằng người quá cố sẽ tiếp tục sử dụng chúng khi bước qua thế giới khác.

Các vua chúa Trung quốc thời xưa thì cho chôn luôn cả hoàng hậu, phi tần, quân hầu… theo mình để những người này tiếp tục hầu hạ, phục dịch nhà vua trong thế giới bên kia.

Người Bana, Jarai cùng một số các dân tộc khác đang sinh sống ở Tây Nguyên tin rằng khi qua đời, người chết lại bắt đầu một cuộc sống mới, tiếp tục lao động, sản xuất, sinh sống như ở cõi trần. Vì thế, người ta chôn theo người chết nhiều vật dụng từ các loại nông cụ đơn giản như liềm để cắt lúa; rìu và xà gạt để chặt cây, phát rừng làm rẫy; xà bách để làm cỏ… đến các thứ chén bát, xoong, nồi, vàng bạc… để khi về thế giới bên kia, người chết có của mà dùng.

Tại Việt Nam, mỗi năm vào chiều ngày 30 tết, nhiều gia đình có nghi lễ đón rước ông bà cha mẹ đã qua đời về ăn tết với con cháu, trình báo lên ông bà tổ tiên những sinh hoạt quan trọng trong năm, rồi có lễ đưa tiễn ông bà vào chiều mồng 3 tết.

Những hình thức tín ngưỡng này biểu lộ niềm tin vào linh hồn, vào sự sống đời sau.

Tuy nhiên, thời xưa cũng như hiện nay, vẫn còn nhiều người không chấp nhận sự sống đời sau, trong số đó, có những người thuộc phái Xa-đốc thời Chúa Giê-su, được thuật lại trong Tin mừng thánh Lu-ca trích đọc hôm nay.

Chúa Giê-su dạy có sự sống đời sau

Khi những người thuộc phái Xa-đốc đến chất vấn Chúa Giê-su về cuộc sống đời sau, Chúa Giê-su khẳng định là có. Ngài dạy rằng có “những người được xét là đáng được hưởng phúc đời sau thì không còn chết nữa. Họ giống như các thiên thần” (Lc 20, 36).

Đặc biệt là qua dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giê-su cũng tỏ cho thấy kẻ dữ thì “phải ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng lấy sự sống muôn đời” (Mt 25,46). Như thế, Chúa Giê-su khẳng định không những có cuộc sống đời sau mà còn cho biết cuộc sống đó sẽ kéo dài “muôn đời muôn kiếp.”

Ngoài ra, Chúa Giê-su còn báo cho ta biết có sự sống đời sau khi đoan hứa rằng: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở… Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  … và Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-2).  

Ngoài những lời dạy của mình, Chúa Giê-su còn dùng cả cuộc đời của Ngài để minh chứng cho thấy có cuộc sống đời sau.

Sự kiện Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết chứng tỏ có sự sống đời sau

Dù là Thiên Chúa quyền năng, Chúa Giê-su đã trở nên hoàn toàn là người như chúng ta, đã sống kiếp phàm trần như chúng ta, đã chết như chúng ta và qua ngày thứ ba, Ngài đã từ trong cõi chết sống lại và lên trời vinh hiển. Điều nầy chứng tỏ loài người có sự sống đời sau.

 Công trình cứu chuộc của Chúa Giê-su chứng tỏ có sự sống đời sau

Nếu không có cuộc sống đời sau, không có thiên đàng hoả ngục, con người chết rồi là hết, và sau khi chết, ai cũng chỉ còn là tro bụi như ai… thì Chúa Giê-su chịu khổ nạn cách đau đớn và chịu chết tức tưởi, ô nhục trên thập giá để làm gì? Cái chết đau thương của Chúa Giê-su trên thập giá chẳng mang lại lợi ích gì cho bất cứ ai. Cuộc khổ nạn đó hoàn toàn vô ích. Chẳng lẽ Ngôi Hai Thiên Chúa lại chịu khổ nạn và chịu chết cách vô ích sao?

Chính vì muốn cứu loài người khỏi phải án phạt đời đời trong hỏa ngục và để cho họ được tiến vào thiên đàng hưởng phúc đời sau nên Chúa Giê-su đã không ngại trao hiến thân mình chịu chết đau thương như thế. Điều nầy chứng tỏ cuộc sống mai sau hoàn toàn có thực.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho niềm tin vào cuộc sống đời sau trở thành một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chúng con sống tốt lành thánh thiện để mai đây được hưởng phúc đời đời.

Xin cho niềm hy vọng nầy cũng thúc đẩy chúng con hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ nhiều hơn trong tháng 11 nầy để cầu cho ông bà cha mẹ và các tín hữu đã ra đi trước chúng con được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu.

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin Mừng Luca 20, 27-38

27 Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại.28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết.30 Người thứ hai,31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào.32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết.33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ? “

 34 Đức Giê-su đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại.37 

 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp.38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Người Hà Tĩnh

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Người Hà Tĩnh

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Sáu, 11/01/2019 – 03:07 — tuongnangtien

From: RFA

Sao các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước không về Hà Tĩnh mà nghe dân chửi?

Luật sư Trần Đình Triển

Thể theo lời yêu thượng dẫn, hôm 23 tháng 2 năm 2019, T.T. và nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà Nước đã tụ tập về Nghệ An. Trong buổi họp mặt này, ông Nguyễn Xuân Phúc đã lên diễn đàn đọc đôi câu khiến cử tọa (toàn mặc veston và đeo cravate) đều thấy nức lòng:

Cầm vàng có thể vàng rơi

Lấy con trai Nghệ Tĩnh cả đời ấm no

Nghe xong tôi nhớ ngay ông Võ Kim Cự, Bí Thư Tỉnh Ủy Hà Tĩnh, người đã cấp phép và cho công ty Formosa nhận nhiều ưu đãi “kịch trần” tại địa phương này – theo như tin loan của báo Đất Việt: “Được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% (doanh nghiệp trong nước là 22%), miễn thuế thu nhập trong bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo; được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; miễn thuế tài nguyên…”

Tổng cộng là hơn mười ngàn tỷ đồng tiền hoàn thuế. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phỏng tính: “Hơn 10.000 tỷ đồng nếu tính vào thời giá cuối năm 2014, đầu năm 2015 thì nó tương đương với 500 triệu USD.”

Chỉ cần 1 % tiền lại quả thôi cũng đủ cho cả gia đình bên vợ của ông Bí Thư Tỉnh Ủy sống nhiều đời ấm no, chứ không chỉ một. Cùng thế hệ với ông Võ Kim Cự, Nghệ Tĩnh còn  có nhiều nhân vật cũng “xuất sắc” không kém, hoặc hơn. Theo thông tin trang Nghệ Tĩnh TV, đọc được vào hôm 24 tháng 10 năm 2016, các thành viên chính phủ nhiệm kỳ mới đều là con em Hà Tĩnh:

  • Thống Đốc Ngân Hàng Lê Minh Hưng quê tại huyện Hương Sơn.
  • Bộ Trưởng Tài Nguyên & Môi Trường Trần Hồng Hà người Can Lộc.
  • Bộ Trưởng Kế Hoạch Đầu Tư Nguyễn Chí Dũng huyện Lộc Hà.
  • Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến sinh ra ở huyện Cẩm Xuyên.

Ông Trần Hồng Hà cùng bà Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn làm cho dư luận, trong lẫn ngoài nước, sôi sục đều đều. Hai ông Lê Minh Hưng và Nguyễn Chí Dũng cũng thế, cũng thường xuyên được thiên hạ nhắc đến với rất nhiều lời lẽ không lấy gì làm nhã nhặn.

Trang Nghệ Tĩnh TV cũng cho biết thêm: “Không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người.”

Giới tinh hoa của Hà Tĩnh, rõ ràng, hơi đông. Số người dân lưu lạc của tỉnh này cũng thế, cũng đông hơn rất nhiều nơi khác. Ở ngoại ô Vọng Các, trong khu Yung Chalearn, có một cái quán (không biết tên gì) mà cả ba cô giúp việc đều là người Hà Tĩnh nên tôi gọi là “Quán Ba O.” Chúng tôi hay đến đây vì gần chỗ trọ, vì giá cả vừa phải, và vì được “cố vấn” về những món nhậu (ngon rẻ) cùng với thái độ thân thiện của những o đồng hương rất hiền ngoan và vô cùng chân chất.

Cứ nhìn thấy Ba O Hà Tĩnh, cùng nụ cười rất tươi tuy hơi bẽn lẽn là tôi lại nhớ đến bốn câu thơ của Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Quán mở cửa từ 11 giờ sáng đến tận khuya. Nhiều đêm không làm việc được, tà tà ra quán uống vài chai, chúng tôi vẫn thấy “Ba O Hà Tĩnh” đang tất bật với những công việc chả nhẹ nhàng gì: lau dọn, rửa chén, chạy bàn …  Hỏi thăm mới biết là dù làm việc đủ bẩy ngày một tuần, mỗi ngày trên 12 tiếng, hàng tháng cả ba chỉ được trả số tiền vô cùng khiêm tốn (200 Mỹ Kim) chỉ bằng nửa số lương tối thiểu – theo qui định hiện thời của Bộ Lao Động Thái.

Điều an ủi là chủ quán cho ở trọ không phải trả tiền nhà, và chuyện ăn uống tại chỗ – tất nhiên – cũng hoàn toàn miễn phí.  Nhờ vậy, tiền công của cả ba o đều gửi hết về quê để nuôi mấy đứa em và bố mẹ già. Ở Hà Tĩnh, theo lời của họ: “Biết làm chi cho ra tiền được!”

Ảnh: RFA

Trên con đường lưu lạc, không ít kẻ đã bỏ thân nơi đất lạ xứ người. Hai nạn nhân mới nhất có tên là Phạm Thị Trà My và Nguyễn Đình Lượng, đều là người cùng quê (Can Lộc) với Bộ Trưởng Trần Hồng Hà. “Thi thể của họ tìm được trong chiếc container có 31 đàn ông và 8 phụ nữ được phát hiện chết ngạt và chết cóng trong xe tải ở Essex, cách thủ đô London 30km về phía đông vào thứ tư tuần này” – theo thông tin của blogger Nguyễn Hữu Vinh, đọc được trên RFA, vào hôm 10/25/19.

Một cư dân Hà Tĩnh khác, hiện cũng đang sống đời lưu lạc – blogger Paul Trần Minh Nhật – cho biết thêm:

“Tôi đã từng đi qua thị trấn Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh. Tôi từng vào một số khu vực của tỉnh Hà Tĩnh sau đợt thảm họa Formosa. Tôi có thể hiểu lý do vì sao họ phải ra đi. Đa phần phải đi để kiếm kế mưu sinh, để tiếp tục cuộc sống. Họ phải đi với một cái giá rất đắt cả về kinh tế và cả việc bất chấp tính mạng. Vì không đi thì cả cuộc đời họ sẽ phải chìm trong đau khổ của nghèo nàn. Ai sẽ cứu họ đây? Cả vùng đất sỏi đá Miền Trung xưa nay ‘chó ăn đá, gà ăn sỏi’. Đã nghèo lại còn mắc eo với thảm họa môi trường cá chết do Formosa gây ra. Nhưng chúng – bọn quan chức đã làm gì để người dân bớt khổ? không, chúng chẳng làm gì cả. Không công ăn việc làm, không tiền, không giáo dục – không tương lai… Họ phải đi!”

Dường như có tỉ lệ thuận giữa con số tinh hoa đông đảo (Bộ Trưởng, Tư Lệnh Ngành, Ủy Viên Trung Ương Đảng) của xứ Hà Tĩnh với đám dân tha phương cầu thực từ địa phương này. Thảo nào mà dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận với hạn từ “tinh hoa” khi chuyển ngữ:

Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng. Ví dụ, người nước ngoài khi nói về giới viết lách ở VN có thể sẽ coi Đoàn Hương, Hữu Thỉnh, Hồng Thanh Quang, Tạ Bích Loan …là nhóm elite trong văn giới, hay Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng là nhóm elite trong chính trị…, nhưng nếu mình dịch lại thì mình chỉ viết “thuộc giới ăn trên ngồi trốc” mà thôi.

Dịch thuật như thế e hơi thiếu phần “thanh lịch” nhưng thực khó mà gọi đám người hiện đang cầm quyền ở Việt Nam (nói chung) và những vị Ủy Viên Trung Ương Đảng của Hà Tĩnh (nói riêng) bằng một hạn từ tử tế nào khác được.

TNT 25/10/19