Tự thuật kinh hoàng của một bác sĩ trẻ – Tinh Hoa TV
Phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về vụ mất tích của một Giám mục Công giáo Trung Quốc

Phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về vụ mất tích của một Giám mục Công giáo Trung Quốc
Số phận của một Đức Giám mục Công giáo bị cầm tù lâu năm ở Trung Quốc là trọng tâm của một phiên điều trần quốc hội vào thứ Năm vừa qua, trong bối cảnh mối lo ngại ngày càng tăng rằng ngài có thể đã bị chết trong nhà tù của chính quyền Cộng sản.
“Chủ tịch Tập Cận Bình: Đức Cha Su đang ở đâu, và ông đã làm gì với ngài?”- Dân biểu Chris Smith (R-N.J.), Đồng Chủ tịch của Ủy ban, đã nêu câu hỏi trong bài phát biểu khai mạc tại phiên điều trần ngày 30 tháng 7 của Ủy ban Nhân quyền lưỡng đảng Tom Lantos.
“Ông đã bí mật làm gì với con người phi thường này của Thiên Chúa? Và tại sao một chế độ độc tài mạnh mẽ lại sợ những người đàn ông và những người phụ nữ ôn hòa đầy đức tin và đức hạnh?”
Đức Giám mục James Su Zhimin của Giáo phận Bảo Định, ở Trung Quốc, tỉnh Hà Bắc, đã bị chính quyền Trung Quốc bắt giữ vào năm 1997. Ngài được gia đình nhìn thấy lần cuối tại một bệnh viện vào năm 2003 khi ngài đang bị chính quyền giam giữ.
Theo cháu trai của Đức Cha Su, các quan chức Trung Quốc đã yêu cầu Vatican bổ nhiệm một giám mục mới cho Bảo Định, UCA News đưa tin vào ngày 22 tháng 7. Ứng cử viên ưa thích của họ là Đức Cha Phanxicô An Shuxi, một thành viên của Hiệp hội Yêu nước Công giáo Trung Quốc.
Các tin tức về các yêu cầu đó đã gây ra lo ngại rằng ĐGM Su đã chết trong nhà tù của chính phủ, mặc dù chưa có báo cáo chính thức về cái chết của ngài.
Hôm thứ Năm, Smith và những người ủng hộ tự do tôn giáo khác đã thu hút sự chú ý đến hoàn cảnh ĐGM Su.
Nury Turkel, một ủy viên mới của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và là người ủng hộ quyền của người Duy Ngô Nhĩ, nói rằng ủy ban này “rất đau buồn trước những báo cáo gần đây rằng Đức Cha Su có thể đã chết trong thời gian bị giam cầm bất công.”
Tin tức xuất hiện trong thời kỳ “khủng bố tồi tệ nhất của các nhóm tôn giáo ở Trung Quốc trong nhiều thập kỷ,” Turkel nói.
Smith kể ông đã gặp ĐGM Su như thế nào trong chuyến thăm Trung Quốc năm 1994, rằng đó là một vị Giám mục “phi thường, dịu dàng, đầy sức mạnh, lòng can đảm, và sự bình an vượt qua tất cả sự hiểu biết.” ĐứcGiám mục Su đã cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình trong một Thánh lễ mà ngài dâng, Smith nói.
Đức Giám mục đã bị chính quyền bắt giữ trước khi phái đoàn Smith rời Trung Quốc, Smith kể. Sau đó ngài được thả ra, và chỉ bị bắt trở lại vào năm 1997 sau khi từ chối gia nhập Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc do nhà nước kiểm soát. Cho đến khi một thỏa thuận tạm thời được ký giữa Vatican và Trung Quốc vào năm 2018, các giám mục của hiệp hội này bị coi là đã phá vỡ sự hiệp thông với Roma.
Kể từ đó, Đức Giám mục Su chỉ được các thành viên gia đình nhìn thấy một lần tại một bệnh viện năm 2003 khi ngài vẫn còn bị chính quyền giam giữ.
Tổng cộng, Đức Giám mục đã bị giam giữ khoảng 40 năm, Smith nói, vì ngài đã phải chịu đựng sự đày đoạtrong các trại lao động cưỡng bức trước khi bị bắt năm 1997. Đức Giám mục Su đã bị đánh đập, bị bỏ đói và bị tra tấn trong các trại cải tạo và trại tù, nhưng ngài vẫn cầu xin lòng thương xót cho những kẻ bắt bớ mình, Smith nói, thêm rằng “lòng tin của ngài vào Chúa Giêsu Kitô làm tôi vô cùng kinh ngạc.”
Thỏa thuận Vatican-Trung Quốc 2018, chấp nhận một biện pháp cho phép chính phủ cộng sản can thiệp một phần vào các cuộc bổ nhiệm Giám mục ở Trung Quốc, dự kiến sẽ hết hạn vào tháng Chín. Các cuộc đàm phán để gia hạn thỏa thuận đó có thể xác định việc đề cử người kế vị Đức Cha Su, và ảnh hưởng đến cáchđối xử hiện tại đối với những người Công giáo ở Trung Quốc.
Theo báo cáo, phát hành ngày 28 tháng 7, một nhóm do nhà nước Trung Quốc tài trợ đã thực hiện các cuộc tấn công mạng nhắm vào Vatican và các tổ chức Công giáo khác, để đạt được lợi thế trong các cuộc đàm phán và giám sát các liên lạc của Toà Thánh với Giáo phận Hồng Kông.
“Chúng tôi đề nghị Vatican xác định số phận [của Đức Giám mục Su] là ưu tiên trong bất kỳ cuộc đàm phán nào đang diễn ra với chính phủ Trung Quốc, và từ chối công nhận bất kỳ giám mục thay thế nào cho thành phố Bảo Định ở tỉnh Hồ Bắc,” ông Tur Turkel nói về các cuộc đàm phán giữa Vatican và Trung Quốc về việc gia hạn thỏa thuận.
Nếu Đức Giám mục Su đã chết, thì “việc lựa chọn người thay thế có thể xảy ra theo các điều khoản của thỏa thuận này,” Tiến sĩ Tom Farr nói về thỏa thuận hiện tại. Farr là chủ tịch của Viện Tự do Tôn giáo.
Trong khi thỏa thuận này nhằm mang lại sự hợp nhất của Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc với Giáo hội hầm trú ở Trung Quốc trung thành với Roma, các Kitô hữu vẫn tiếp tục bị quấy rối và đàn áp, và ít nhất 50 giáo phận ở Trung Quốc đại lục không có giám mục do các cuộc bổ nhiệm mới bị ngăn chặn.
“Tình hình của những người Công giáo hầm trú ở Trung Quốc sau thoả thuận là một trong những vấn đề lớn gây căng thẳng,” Farr nói.
“Tôi nghĩ rằng họ đang bị áp lực trong một cảm giác khác thường,” Farr nói, trong đó họ phải chịu sức ép của chính phủ buộc tham gia Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc đồng thời “họ cảm thấy bị Toà Thánh bỏ rơi.”
Hiện có từ 800.000 đến 1,8 triệu người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương được ước tính đã bị giam giữ trong một hệ thống gồm hơn 1.300 trại giam. Các báo cáo xuất hiện từ Tân Cương đều nêu các chi tiết về việc nhồi sọchống tôn giáo, việc tra tấn, việc triệt sản bắt buộc và các hành vi lạm dụng khác đối với những người bị giam giữ trong các trại đó.
Nhiều người Duy Ngô Nhỉ đã bị buộc phải làm việc trong các nhà máy hoặc nông trại bên trong và bên ngoài các trại giam, hoặc đã bị chính quyền chuyển đến các nhà máy khác trên khắp Trung Quốc. Công dân Tân Cương bên ngoài các trại phải chịu một hệ thống giám sát hàng loạt.
Giáo hội Công giáo cần phải lên tiếng mạnh mẽ hơn về tình hình ở Tân Cương, Farr nói.
“Đức Giáo hoàng đã lên tiếng về vấn đề này, nhưng tôi cảm thấy rằng vì mong muốn không đụng chạm chính quyền Trung Quốc, một số người trong hệ thống phẩm trật Công giáo đang kìm hãm sức mạnh của việc lên tiếng này. Đây chỉ là một cách hành xử phi Công giáo” – ông nói.
“Lập trường Công giáo nói rằng mỗi người phải có tự do tôn giáo, đó là lập trường rất sâu sắc về thần học.”
Chế độ của ông Tập Cận Bình “đã hiểu và sợ sức mạnh của tôn giáo,” ông Farr nói.
Công giáo, ông nói, “đặt ra một khó khăn đặc biệt” đối với ĐCSTQ vì “học thuyết riêng biệt” và “thẩm quyền giáo huấn” của Giám mục hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.
Nina Shea, giám đốc Trung tâm Tự do Tôn giáo tại Viện Hudson, nói rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc coi Kitô giáo là một “thành công” nguy hiểm vì có rất nhiều tín đồ trên toàn thế giới, và Giáo hội hầm trú ở Trung Quốc là “tổ chức chỉ ủng hộ quốc gia với một hệ tư tưởng và một hệ thống niềm tin tách biệt với Đảng Cộng sản.”
Do đó, Shea nói, “Đảng Cộng sản Trung Quốc không khoan dung với sự tồn tại của các nhà thờ hầm trú tách biệt với hệ thống đảng của họ.”
Hoàng Tiến (theo CNA)
CHUYỆN TRAI GÁI

Phạm Minh Luân to Những câu chuyện thú vị
CHUYỆN TRAI GÁI
Tg: Võ Tòng Đánh Mèo
Tôi có 3 đứa con, nhưng buồn thay, toàn là con gái! Còn cái nhà hàng xóm – cách nhà tôi mỗi cái dậu mồng tơi – cũng có 3 đứa, mà lại toàn con trai. Thật mỉa mai!
Biết tôi không có con trai, tôi buồn là vậy, thế mà cái lão hàng xóm vô tâm thi thoảng lại trêu ngươi, cho 3 thằng con lão xếp hàng đái vào dậu mồng tơi, chĩa thẳng chim sang nhà tôi. Chúng đái vào dậu mồng tơi mà như đang đái vào lòng tôi vậy: xót xa vô cùng! Hình ảnh cái “dậu mồng tơi xanh rờn” đã trở nên quá đỗi quen thuộc trong thơ, trong nhạc, nhưng cái dậu mồng tơi giữa nhà tôi và nhà hàng xóm đó thì là “dậu mồng tơi đen sì” do bị tưới quá nhiều đạm, phốt pho, kali và khoáng chất đậm đặc.
Có con trai đúng là sướng thật! Những ngày lễ tết, bố con trở thành bạn nhậu, nâng chén cà kê – chứ con gái, chúng nó cắm đầu hùng hục ăn, vừa ăn vừa lèo bèo:
“Bố uống ít thôi! Ăn cơm, ăn thịt đi!”. Có con trai cũng rất tiện: đi tắm quên quần sịp, gọi con trai nó mang cho, rồi mở toang cửa nhà tắm, tồng ngồng, hiên ngang đón lấy – chứ con gái thì phải nép sát vào tường, cửa hé tin hin, thò vài đầu ngón tay ra ngoài, rụt rè nhón lấy. Có con trai cũng yên tâm: trộm cướp vào nhà, mấy bố con nhảy ra đánh hội đồng – chứ con gái, vừa một mình mình kháng cự, vừa lo nếu mình gục, con gái mình sẽ bị chúng nó hiếp dâm…
Nói vậy thôi, chứ tôi và con gái cũng có một thứ có thể dùng chung, ấy là cái dao cạo râu. Hôm trước, tìm cái dao cạo râu mãi không thấy đâu, tôi cáu, quát um lên, thì đứa con gái lớn chạy từ trong buồng ra, cầm cái dao cạo trên tay, bảo: “Con trả bố đây!”. Tôi nhìn chiếc dao cạo vẫn còn vương mấy sợi lông đen sì, quăn tít thì nhăn mặt hỏi: “Mày vừa cạo cái gì đấy?”. “Dạ! Con cạo lông nách thôi mà!”. “Đúng là lông nách chứ?”. “Dạ đúng! Con thề!”. Là bố con, chẳng lẽ nó thề mình lại không tin, nhưng quả thực, tôi chưa bao giờ cạo râu mà thấy lòng hoang mang như thế…
Nhà toàn đàn bà con gái, nên cái dây phơi, dài từ đầu đến cuối sân, lúc nào cũng lủng lẳng toàn xì-líp với coóc-sê, hồng đỏ xanh vàng, đủ cả! Nhiều khi vội đi, không để ý, bị xì-líp nó đập vào mặt, coóc-sê nó quấn quanh đầu. Rồi những khi rầu rầu, bên ấm trà tầu, nhìn cái mớ xì-líp coóc-sê ấy phất phơ theo gió hiu hiu, hệt như những chiếc lá bàng già nua lay lắt trên những cành khô gầy guộc khẳng khiu trong buổi chiều đông giá rét… Buồn chẳng để đâu cho hết…
Chiều nay, tôi qua bên nhà lão hàng xóm chơi, tiện thể xin đoạn dây thép, về gia cố lại cái dây phơi (chắc treo nhiều xì-líp quá nên nó chuẩn bị đứt đến nơi). Vào nhà, tôi thấy lão hàng xóm một mình nằm rầu rĩ trên giường, mặt quay vào tường, rên hừ hừ, nghe rất đáng thương! Tôi hỏi sao thế, lão bảo bị cảm cúm mấy hôm nay, vợ lại vắng nhà, chả ai mua thuốc, nấu cháo cho ăn, nên mệt lả…
– Ông ốm mà vợ ông còn đi đâu? – Tôi hỏi bằng giọng đầy bức xúc.
– Vợ lên Hà Nội, chuộc xe cho thằng cả!
– Nó lại cắm à? Mới tuần trước thấy vợ ông lên chuộc rồi mà?
– Tuần trước là nó cắm để bắt trận Ngoại hạng Anh, tuần này, nó cắm để bắt trận C1!
– Thế bao giờ vợ ông về?
– Vợ tôi định về hôm nay, nhưng nghĩ đã là thứ 5 rồi, hai ba hôm nữa lại là cuối tuần, lại có giải Ngoại hạng Anh, nên ở lại luôn, đỡ mất công đi đi về về!
Tôi thở dài, nhìn quanh, rồi hỏi thế thằng con thứ hai nhà lão đâu, thì lão ngán ngẩm lắc đầu, bảo rằng thằng hai vừa về cạy tủ, vơ hết tiền của lão mang đi đá phò. Lão tiếc tiền lao tới, ôm chặt nó lại, nào ngờ, nó hất tay lão ra, túm lấy cổ áo lão, rồi giơ nắm đấm lên dọa. Lão điên tiết quá, quát to: “A! Thằng này láo! Mày định đánh cả bố mày hả? Đây! Bố đứng im đây! Mày có giỏi thì đánh đi!”. Kể đến đó, lão dừng lại, nhăn nhó véo một miếng bông gòn, chấm chấm lên cái môi còn đương rướm máu, sưng vều, tím bầm như dái chó…
– Thế thằng út nhà ông đâu?
– Nó đi cùng thằng hai rồi!
– Thằng út mới tí tuổi đầu, sao đã chơi được phò mà đi cùng?
– Nó đi theo xem thôi!
Đúng lúc này, có tiếng xe máy rú ga inh ỏi ngoài ngõ. Tôi hốt hoảng ngó cổ ra, thì thấy phải đến chín mười gã cởi trần, xăm trổ, ngồi trên bốn năm cái xe máy hùng hổ phóng vào: đứa vác dao, người cầm gậy, kẻ khiêng quan tài… Chúng vứt xe giữa sân, quẳng cái quan tài ngay trước cửa kêu cái “rầm”, rồi quát tháo ầm ầm:
– Thằng con trai mày vay tiền của tao, giờ nó trốn biệt rồi! Mày giấu nó ở đâu, đưa ra đây mau, không tao chém chết cả nhà!
Tôi hoảng quá, mặt mũi tái nhợt, tay chân rụng rời. Thế nhưng lão hàng xóm thì chả có biểu hiện gì cả. Lão bình thản đi ra, đứng trước mặt bọn chúng, chắp tay trước ngực, rồi quỳ thụp xuống cạnh cái quan tài, giọng bi ai:
– Trăm sự nhờ các anh! Em cũng đang muốn tìm thằng con em để chém chết bà nó đi đây, mà tìm hoài không thấy! Giờ có các anh tìm và chém nó giúp em thì tốt quá rồi! Em xin đa tạ! Chém nó xong em cũng sẽ tự tử luôn!
Đang lo không có tiền mua quan tài thì các anh lại mang đến cho! Đội ơn các anh quá!
Nói rồi, lão hàng xóm nhảy luôn vào quan tài, nằm duỗi dài. Mấy thằng cởi trần xăm trổ ngơ ngác nhìn nhau, rồi chúng lao tới chỗ quan tài, ra sức lôi lão hàng xóm ra. Nhưng lão hàng xóm chơi lầy, cứ bám chặt, nằm lì ở đó.
Thấy thế, thằng cầm đầu của lũ xăm trổ mới tiến tới, chắp tay trước ngực, rồi quỳ thụp xuống cạnh cái quan tài, giọng bi ai:
– Em xin anh! Anh làm ơn ra ngoài giúp để bọn em còn vác quan tài đi nhà khác, kẻo tối không xong việc thì về đại ca bọn em chém chết ạ!
Khi ấy, lão hàng xóm mới chịu lồm cồm bò ra. Mấy thằng xăm trổ vừa nãy hung hăng là thế, giờ ngoan ngoãn, cum cúp như mèo, lầm lũi bỏ đi. Ấy vậy mà lũ đó vừa đi được một lúc thì đã lại nghe tiếng xe máy rú ga ngoài ngõ, tôi lại hốt hoảng quay ra: may quá, không phải bọn chúng, mà là hai thằng con trai lão hàng xóm vừa đi đá phò về. Tuy vậy, vẻ mặt hai đứa nó cũng hung hăng không kém lũ xăm trổ vừa rồi. Chúng vứt cái xe đổ cái “rầm” ngoài sân, hùng hổ chạy vào nhà. Thật kỳ lạ, lúc này, tôi lại rất bình thản, còn lão hàng xóm thì đâm ra cuống cuồng, hoảng loạn. Tôi hỏi sao vậy, lão bảo:
“Bọn xăm trổ chỉ dọa thôi! Còn hai thằng này, chúng nó làm thật đấy!”.
Quả đúng vậy! Lão hàng xóm vừa nói dứt lời thì hai thằng con lão đã xông tới, đè nghiến lão xuống giường, thằng ghì chân, thằng ấn cổ…
– Ông già! Biết điều thì nôn tiền ra!
– Mày vừa cạy tủ lấy hết rồi! Ở đâu nữa mà nôn?
– Ông tưởng tôi ngu à? Trong tủ đó chỉ là vài đồng lẻ thôi! Tôi biết ông còn tiền! Mau nôn ra!
Lão hàng xóm bị ấn cổ thì hình như khó thở, mặt lão tím bầm. Rồi bất ngờ lão vùng lên, hất ngửa hai thằng con ra, cắm đầu chạy thẳng. Hai thằng con lão sau tích tắc ngỡ ngàng thì cũng lập tức chồm dậy, tiện tay vơ luôn cái gậy, hùng hục đuổi theo…
Còn lại mỗi mình, tôi chán quá, lững thững đi về. Vừa tới nhà, tôi đã nghe tiếng ai đó thều thào gọi tôi vọng ra từ gian buồng. Tôi lò dò bước vào: thì ra là lão hàng xóm, lão đã may mắn cắt đuôi được hai thằng con, trốn vào trong đó, nằm bẹp dí chỗ góc buồng, như một con chó…
Tôi vội vàng bế lão lên giường. Mấy ngày ốm mệt, không ăn uống gì, bị đấm sưng mồm, lại vừa vẫy vùng, chạy thục mạng, nên có lẽ sức lão đã kiệt. Đứa con gái lớn nhà tôi, thấy quần áo lão bẩn, hôi hám quá, thì lột trần lão ra, lấy đồ của tôi cho lão mặc, rồi đem mớ quần áo bẩn của lão ra giếng giặt; đứa con gái thứ hai chạy đi mua dầu thoa cho lão; đứa út xuống bếp bắc nồi, nấu vội cho lão bát cháo cầm hơi…
Đón bát cháo từ tay con bé út, lão run rẩy đưa lên miệng, húp soàn soạt một hơi hết sạch. Từ khóe mắt lão chảy ra hai hàng lệ long lanh. Tôi hỏi: “Sao thế? Cháo cay quá à?, thì lão lắc đầu, bảo: “Không, cháo ngon! Chưa bao giờ được ăn bát cháo nào ngon như thế!”.
Tôi nghe vậy thì mỉm cười, thong thả bước ra sân, gió nhè nhẹ, nắng lung linh, khiến những chiếc xì-líp, coóc-sê trên dây phơi như ánh lên, phấp phới, dập dình theo gió rung rinh…
Chưa bao giờ thấy mớ xì-líp, coóc-sê nào đáng yêu như thế!
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=294036988545002&id=100038161083648
THÁNH ANPHONGSÔ, CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
THÁNH ANPHONGSÔ, CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH
Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT
Thánh Anphong Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế. Tiến Sĩ Hội Thánh. Bổn mạng các nhà luân lý Công giáo. Bổn mạng các cha giải tội.
Anphong Maria de Liguori sinh năm 1696 trong một gia đình quý tộc và giàu có ở Napoli. Cha ngài, Don Giuseppe là sĩ quan Hải quân Hoàng gia đầy nghị lực, ý chí và trách nhiệm. Mẹ ngài là bà Anna Catarina Cavalieri danh giá và thùy mị. Gia đình được tám người con, Anphong là con cả.
Với trí thông minh đặc biệt, lại được giáo dục trong một môi trường thuận lợi để phát triển mọi khả năng trong mọi lãnh vực triết học, toán học, khoa học, văn chương và nghệ thuật. Vì vậy, khi chỉ mới 16 tuổi, Anphong đã xuất sắc đạt được cả hai bằng tiến sĩ ưu hạng về Giáo luật và luật dân sự.
Cả kinh thành Napoli ngưỡng mộ vị luật sư trẻ trung tài hoa với kỳ tích, trong vòng tám năm, từ năm 1715 đến 1723 ngài đã thắng tất cả các vụ kiện.
Con đường công danh trải thảm mượt mà dưới chân vị luật sư trẻ đầy tài năng, dẫn ngài đi tới hết vinh quang này tới vinh quang khác. Nhưng Thiên Chúa đã có một kế hoạch khác cho ngài. Với những ân sủng Thiên Chúa ban, cộng với tinh thần đạo đức sốt mến và lòng yêu thương người nghèo, nhất là những người nghèo bị bỏ rơi hơn cả, Anphong đã mau chóng nhận ra thánh ý Chúa định cho cuộc đời mình, và ngài đã cương quyết thi hành.
Năm 1723 trong một vụ kiện lịch sử, Anphong, với lương tâm trung thực và thanh liêm, nghĩ tưởng công lý nằm trong lẽ phải, nhưng ngài bàng hoàng khi thấy đồng tiền bẻ cong công lý, quyền lực giày đạp luật pháp dưới chân. “Hỡi thế gian, ta biết ngươi rồi… Vĩnh biệt pháp đình” là câu nói cuối cùng của vị luật sư trẻ khi nhìn ra được bộ mặt gian xảo của thế gian.
Cắt hết mọi mối tương quan, chìm đắm trong cô tịch để làm lại cuộc đời, nhưng vẫn duy trì nếp sống đạo đức và viếng thăm bịnh nhân. Ngày kia, một câu nói xoáy vào tâm hồn: “Hãy để thế gian lại đó và hiến mình cho Ta,” Anphong tỉnh ngộ chạy đến nhà thờ Đức Maria Chuộc Kẻ Làm Tôi, rút thanh gươm quý tộc đặt dưới chân Đức Maria và thưa: “Vĩnh biệt thế gian và của cải phù vân. Lạy Chúa, đời con nay thuộc về Chúa. Chức tước và của cải gia đình, con xin dâng làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa và cho Mẹ Maria.”
Dù người cha phản đối kịch liệt và làm mọi cách lôi kéo Anphong về lại thế gian, nhưng ngài vẫn quyết tâm trở thành tôi tớ của Đức Kitô. Được thụ phong linh mục vào năm 1726 tại Tổng giáo phận Napoli, lúc ấy còn nhập nhằng lem luốc với hàng giáo sĩ xa hoa và các vị thánh, những tu sĩ dốt nát, sân si bên cạnh những vị dấn thân cho việc thăng tiến con người, cho những giá trị Kitô giáo, những cha giải tội phóng khoáng bên cạnh những linh mục nghiêm khắc, phản ánh đàng sau đó là sự đối chọi của hai nền luân lý khắt khe của phái Jansenisme, và phóng khoáng của phái Laxisme.
Cha Anphong gia nhập Hội Tông Đồ Thừa Sai của Giáo Phận để rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý cho những người nghèo khổ, bần cùng, đa phần bị nhiễm các thói hư tật xấu, bị cả Giáo hội lẫn xã hội bỏ rơi ở Napoli. Ngài nhiệt thành xây dựng đời sống đức tin cho họ, khích lệ họ cải thiện lối sống, và nhẫn nại dạy họ cầu nguyện.
Chính sự gần gũi với đoàn chiên không người chăn dắt, Giáo hội qua cha Anphong đã đến vùng ngoại vi của việc chăm sóc mục vụ, làm sáng lên vẻ đẹp vốn có của Giáo hội, phải lem luốc trên đường phố với người nghèo chứ không ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Sáng kiến mục vụ và sự dấn thân của Cha Aphongsô đã đạt kết quả rất đáng khích lệ.
Trong những khu “ổ chuột” nơi đầy rẫy “những bọn cặn bã” của thành phố, hình thành những nhóm người đêm đêm qui tụ nhau trong các tư gia để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, hình thành nên “những nguyện đường về đêm.” Dưới sự hướng dẫn của ngài và những thiện nguyện viên, việc giáo dục đức tin, luân lý và sự tương thân tương ái vừa cải hóa tâm hồn con người, vừa giúp cải tạo môi trường xã hội, vừa đẩy lùi những tệ nạn xã hội.
Hành trình của vị mục tử đi tìm những con chiên lạc còn khám phá ra những vùng đất như thể “Đức Kitô chưa bao giờ đặt chân đến” trong vương quốc Napôli, khiến tâm hồn ngài rúng động trước những đám đông nghèo khó bị bỏ rơi, gồm những nông dân và những mục đồng còn chưa biết sống người cho ra người, nói gì đến việc sống đời Kitô hữu. Năm 1732, sau bao khó khăn phải vượt qua, nhưng với xác tín mãnh liệt và được Thánh Thần soi sáng thúc đẩy, cha Anphong lập Dòng Chúa Cứu Chuộc Rất Thánh.
Các tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của Cha Anphongsô, trở thành những vị thừa sai của Chúa Cứu Thế với con tim tràn ngập niềm vui, mạnh mẽ trong đức tin, phấn khởi trong đức cậy, sốt sắng bởi lòng mến, bừng cháy lòng nhiệt thành, trong sự khiêm hạ của tâm hồn và bền chí cầu nguyện; bỏ mình và luôn sẵn sàng đảm nhận những công việc khó khăn, tham dự vào mầu nhiệm của Đức Kitô và công bố mầu nhiệm ấy bằng đời sống và lối nói giản dị theo tinh thần Phúc Âm, hầu đem lại ơn Cứu Chuộc chứa chan cho con người (x.HP 20). Nhân đức và lòng nhiệt thành tông đồ của cha Anphong lan tỏa khắp nơi.
Năm 1762 Cha được bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Thánh Agata dei Goti. Đến năm 1775, vì già cả, bệnh tật, ngài đã từ nhiệm. Năm 1787, ngài được Chúa gọi về trong sự tiếc thương của mọi người: “Chúng ta đã mất một vị thánh.” Năm 1839, Anphongsô được tuyên phong hiển thánh và năm 1871, Tòa Thánh tuyên dương ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh vì đã đóng góp hữu hiệu cho nền Thần học Luân lý, và 1950 Đức Thánh Cha Piô XII công bố ngài là “Quan Thầy của tất cả các cha giải tội và của các nhà Thần học Luân lý.”
Thời thánh Anphong, phái Jansenisme chủ trương khắt khe đến nỗi, thay vì rao giảng sự xót thương của Chúa để kêu gọi lòng tín thác, họ lại trình bày khuôn mặt của một vị Thiên Chúa công minh lạnh lùng và hay trừng phạt, khiến người ta không dám xưng tội, vì sợ sẽ phạm tội lại. Cha Anphong, với lương tâm người mục tử, đã viết một tác phẩm mang tựa đề “Thần học Luân lý”, mang tính quân bình và có sức thuyết phục giữa các đòi hỏi của lề luật Thiên Chúa, được ghi khắc trong con tim con người, được Đức Kitô mạc khải cách trọn vẹn và được Giáo Hội giải thích một cách có thẩm quyền, với các dạng thức của lương tâm và sự tự do của con người; chính trong việc gắn bó với chân lý và sự thiện mà người ta có thể đạt được sự trưởng thành và kiện toàn chính mình.
Công trình của thánh Anphong để lại cho Giáo hội một nền tảng vững vàng về Thần học luân lý vẫn còn hữu ích cho đến nay. Ngài thường khuyên các mục tử hãy trung thành với giáo huấn luân lý Công Giáo với thái độ bác ái, cảm thông, dịu dàng để các hối nhân cảm thấy cha giải tội là người đồng hành, nâng đỡ và khích lệ trong đời sống đức tin.
Thánh Anphong luôn nhắc rằng, các linh mục phải phản ánh dung mạo của lòng Chúa xót thương, là Đấng luôn sẵn sàng tha thứ và kiên trì kêu gọi kẻ tội lỗi hoán cải và canh tân đời sống. Bên cạnh các tác phẩm thần học, Thánh Anphong còn viết rất nhiều sách đạo đức thiêng liêng khác, với văn phong bình dân giản dị, nhằm đào tạo đức tin và lòng sùng mộ cho dân chúng. Đáng kể là các tác phẩm đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như, “Le Massime eterne” (Các châm ngôn vĩnh cửu), “Le glorie di Maria” (Vinh Quang Đức Maria), “La practica d’amore Gesù Cristo” (Thực hành lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô). Đây là tác phẩm sau cùng vừa tổng hợp những suy tư, vừa nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cầu nguyện, vì nhờ đó, người ta mở lòng cho Ân Sủng, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày và đạt đến sự thánh hóa.
Thánh Anphong còn là tông đồ về cầu nguyện, Ngài viết: “Thiên Chúa không từ chối ơn thánh từ những lời cầu nguyện; với ơn thánh đó người ta được trợ giúp để vượt thắng mọi dục vọng và những cơn cám dỗ. Tôi nói và tôi sẽ còn lặp lại mãi, bao lâu tôi còn sống, rằng tất cả ơn cứu độ của chúng ta là ở nơi việc cầu nguyện.” Từ đó có phương châm: “Ai cầu nguyện, sẽ được cứu rỗi.”
Trong số các hình thức cầu nguyện, nổi bật là viếng Thánh Thể. Ngài viết: “Chắc chắn trong tất cả các việc đạo đức thì đứng đầu, sau các Bí Tích, là việc thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là điều Chúa ưa thích và là điều sinh ích lợi cho chúng ta nhất… Ôi, dịu ngọt biết bao khi hiện diện trước bàn thờ với đức tin… và dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể các nhu cầu của mình, như một người bạn làm với một người bạn với tất cả sự tín cẩn” Mầu nhiệm Nhập Thể và Thương Khó của Đức Giêsu cuốn hút Thánh Anphong trong việc suy niệm và giảng thuyết, vì chính ở điểm này, Đấng Cứu Thế trở nên quà tặng cho nhân loại, và “Ơn Cứu Chuộc nơi Người chứa chan.” Đó chính là Linh đạo của Thánh Anphong, tập trung vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Người.
Từ Tình yêu Chúa và công ơn Cứu Chuộc của Người, với lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Aphongsô đã giải thích vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ, với tất cả mọi danh hiệu và tước vị ngày nay người ta có thể thấy trong Kinh cầu Đức Bà. Ngài còn quả quyết, những ai có lòng sùng kính đối với Mẹ Maria sẽ không bị hư mất, vì Mẹ là chốn nương ẩn cuối cùng, là niềm ủi an trong phút lâm chung.
Đối với Giáo hội nói chung và với Dòng Chúa Cứu Thế nói riêng, Thánh Anphong luôn là một tấm gương sáng về lòng nhiệt thành tông đồ, loan báo Tin Mừng cho mọi người, nhất là những người nghèo khó bị bỏ rơi, chuyên chăm cầu nguyện, sốt sáng cử hành các Bí Tích và một lòng sùng mộ Đức Maria. Không một ai ở ngoài Ơn Cứu Chuộc của Chúa, vì Chúa luôn từ ái một niềm, vì Ơn Cứu Chuôc nơi Người chứa chan (Tv 129,7).
Lm. Giuse Ngô Văn Kha, DCCT
From: Langthangchieutim
Đại sứ Sam Brownback: ‘Các cơ quan chính phủ Mỹ sẽ đồng loạt hành động vì tự do tôn giáo Việt Nam’

1114. Đại sứ Sam Brownback: ‘Các cơ quan chính phủ Mỹ sẽ đồng loạt hành động vì tự do tôn giáo Việt Nam’
01/08/2020 VOA Tiếng Việt Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ Sam Brownback nói với VOA rằng một số cơ quan chính phủ Hoa Kỳ sẽ đồng loạt đưa ra kế hoạch hành động nhằm đáp trả các vi …
PHÉP MÀU CỦA VN




PHÉP MÀU CỦA VN
• Cuối tháng 6, báo chí VN rầm rộ đưa tin về tình trạng khốn cùng và tuyệt vọng của
219 công nhân Việt tại Guinea Xích Đạo, trong đó có đến 129 người đã bị nhiễm covid 19. Tất cả đều không nhận được sự hỗ trợ y tế của nước sở tại và đang khẩn thiết kêu cứu chính phủ VN giúp họ thoát khỏi tình cảnh tuyệt vọng.
• Ngày 9/7/2020, các công ty VN tại Guinea Xích Đạo đang sử dụng số công nhân này cũng gởi bado cáo về tình cảnh của 219 công nhân và đề nghị chính phủ hỗ trợ khẩn cấp, đưa họ về nước để điều trị.
• Phải 20 ngày sau đó, lúc 15h10 ngày 29/7/2020, “chuyến bay đặc biệt” của Việt Nam Airline chở 129 bệnh nhân và 90 công nhân hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.
• Với thời gian nhiễm bệnh kéo dài trên dưới một tháng mà không nhận được sự điều trị gì đáng kể, ai cũng mường tượng ra cái cảnh một đoàn người tiều tụy, kiệt quệ được dìu đi, được khiêng xuống trên những cáng cứu thương, máy thở, bình truyền, dây nhợ…và cả đoàn xe cứu thương hụ còi inh ỏi, ánh đèn xanh đỏ nhấp nháy chạy sau đoàn xe cảnh sát mở đường để cấp cứu đồng bào đang dần kiệt sức.
• Nhưng không!
Không xe cứu thương, không cáng không dây nhợ lòng thòng, không tiếng còi hụ, không đèn nhấp nháy nào cả.
Thay vào đó, dân Việt được chứng kiến một hình ảnh thật hoành tráng, một đoàn người khoẻ mạnh, hào hứng vừa sải bước vừa phất cờ với nụ cười tươi như hoa như thể họ vừa chiến thắng ở một đấu trường quốc tế trở về và đang ca khúc khải hoàn!
Một đoàn người thẳng hàng với ảnh, với cờ, với khẩu hiệu trên tay tung tăng sải bước.
• Và cho nay, bệnh tình của họ đã ra răng thì vẫn chưa có tờ báo mô nhắc tới.
Đặc biệt hơn, 129 bệnh nhân Covid-19 ấy không hề được nêu tên trong danh sách cập nhật bệnh nhân nhiễm Covid 19 của VN, mặc dù cái danh sách ấy từ trước đến nay vẫn cập nhật những ca dương tính từ nước nước ngoài về/vào VN, bất kể là người Việt hay ngoại quốc.
• Buồn hơn, dư luận cũng im re, chẳng ai để ý chi đến cái sự vô lý…thường kiệt nớ cả.
Hơi lạ…🤔
– Ảnh 1, 2: Những người lao động Việt Nam đang mỏi mòn chờ đợi ở Guinea Xích Đạo.
– Ảnh 3, 4: Cảnh tượng hoành tráng ở sân bay Nội Bài.
Từ bài viết của Fb Minh Cận.
Thái độ trịch thượng của Bắc Kinh hủy hoại quan hệ Trung Quốc-Thụy Điển
Thái độ trịch thượng của Bắc Kinh hủy hoại quan hệ Trung Quốc-Thụy Điển
Thái độ bắt nạt của Bắc Kinh đã hủy hoại mối quan hệ của Trung Quốc đối với Vương quốc Thụy Điển
Mĩ đã từng “xâm lược” nước nào chưa? & Tàu rợ đã từng là “bạn tốt” với ai chưa?
Mĩ đã từng “xâm lược” nước nào chưa? Có đấy! Nhưng chưa từng chiếm đoạt 1 tấc đất của nước nào, ngược lại họ đã làm cho Nhật, Hàn và rất nhiều nước khác giàu mạnh lên… Và điều trớ trêu hơn nữa là nay cả Nhật, Hàn, Eu, Đức… còn phải bỏ tiền ra để xin họ “xâm lược” thêm, riêng Đức thì đang khóc ròng vì Mĩ đang đòi rút 12 ngàn quân (xâm lược) ấy về nước…
Vậy Tàu rợ đã từng là “bạn tốt” với ai chưa? Có đấy! Xưa, chúng là “bạn tốt” với Khmer đỏ và kết quả là nửa số dân CPC “gởi tình yêu vào đất” vì nạn diệt chủng của Khmer đỏ làm theo ý tưởng của TQ; và là “bạn tốt” với Mĩ và rồi sau đó nền kinh tế Mĩ đã phải điêu đứng vì nạn ăn cắp bản quyền trí tuệ, thuế má… Nay thì đang gồng mình vì Chinavid… Còn với riêng ĐCSVN thì không những là “bạn tốt” mà hơn nữa là tới “4 tốt & 16 chữ vàng”! Nhưng rồi thì sao hàng chục ngàn km2 lãnh thổ mà cha ông dân VN tốn bao đời xương máu mới có được nay đã được “đảng vĩ đại” của ta quỳ gối dâng cho chúng, và còn 2 quần đảo cùng biển đông nay cũng sắp thuộc hoàn toàn về chúng.
Ấy vậy nhưng đảng ta luôn tuyên truyền cho dân chúng ta, giáo dục cho bao thế hệ dân ta, con em ta “lòng căm thù” đế quốc Mĩ và “TQ là bạn tốt”… Như lời của 1 tên vong nô từng là BT BQPVN Phùng quang Thanh từng “trăn trở” với TWĐ Việt gian rằng “tôi thấy người dân VN rất ghét TQ, thật là nguy hiên cho quan hệ 2 đảng ta” (tôi nói đại ý, ko là nguyên văn)… Thực sự thì đảng ta và “ý chí và nguyện vọng” của đảng ta có phải là “hợp với lòng dân” hay không thì tôi không rõ… Nhưng chỉ thấy rằng “ý chí” của đảng ta là không ngừng cướp đất của dân ta làm lợi cho bọn theo Tàu hoặc cho giặc Tàu, giặc Tàu sang giết hại dân ta thì lại cung phụng và cõng chúng về nước, nhưng dân ta lỡ có “xúc phạm” đến dân Tàu ngay trên đất nước ta thì… khó thoát tội tru di…
Và 1 điều dễ thấy là khi có 1 thằng Tàu “to” nào đó sang “thăm” VN thì đảng bắt các trường học ở HN cho học sinh nghỉ học ra đường giang nắng cầm cờ hô khẩu hiệu đón rước, bên cạnh là lũ dlv và chó săn chầu chực… để sủa và cắn xé những người dân ra phản đối (nếu thoát ra được khỏi vòng kềm tỏa) lôi họ lên xe vô trại… Nhưng ngược lại với tinh thần “căm thù đế quốc Mĩ” của đảng thì mỗi lần có các vị TT Mĩ hay quan chức cao cấp của Mĩ sang thăm VN thì khi ấy đối với dân VN khắp cả 3 miền đều coi đó như là ngày hội lớn… Và hân hoan ra đường chào đón mặc cho lũ “chó săn khéo rúc” cắn xé hành hạ…
Vậy nên đừng nói “Ý đảng hợp lòng dân” nữa nhé!
Con yêu, phần nào là quan trọng nhất trên cơ thể hả con?

Lúc tôi còn nhỏ, mẹ tôi đã ra một câu đố: “Con yêu, phần nào là quan trọng nhất trên cơ thể hả con?”
Khi đó, tôi đã nói với mẹ rằng, âm thanh là quan trọng đối với con người nên tai là bộ phận quan trọng nhất.
Mẹ lắc đầu: “Không phải đâu con. Có rất nhiều người trên thế giới này không nghe được đâu, con yêu ạ. Con tiếp tục suy nghĩ về câu đố đó đi nhé, sau này mẹ sẽ hỏi lại con”.
Vài năm sau, tôi đã nói với mẹ rằng hình ảnh là quan trọng nhất, vì thế đôi mắt là bộ phận mà mẹ muốn đố tôi.
Mẹ lại nhìn tôi âu yếm nói: “Con đã học được nhiều điều rồi đấy, nhưng câu trả lời của con chưa đúng bởi vì vẫn còn nhiều người trên thế gian này chẳng nhìn thấy gì”.
Đã bao lần tôi muốn mẹ nói ra đáp án, và vì thế tôi toàn đoán lung tung. Mẹ chỉ trả lời: “Không đúng. Nhưng con đang tiến bộ rất nhanh, con yêu của mẹ”.
Đến năm bà nội yêu quý của tôi qua đời. Mọi người đều khóc vì thương nhớ bà. Một mình tôi đã vừa đạp xe vừa khóc trên suốt chặng đường 26 km từ thị xã về quê trong đêm mưa rào. Tôi đạp xe thật nhanh về bệnh viện huyện để mong được gặp bà lần cuối. Nhưng tôi đến nơi thì đã muộn mất rồi.
Tôi thấy bố gục đầu vào vai mẹ tôi và khóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc như tôi.
Lúc liệm bà xong, mẹ đến cạnh tôi thì thầm: “Con đã tìm ra câu trả lời chưa?”
Tôi như bị sốc khi thấy mẹ đem chuyện đó ra hỏi tôi lúc này. Tôi chỉ nghĩ đó là một trò chơi giữa hai mẹ con thôi.
Nhìn vẻ sững sờ trên khuôn mặt tôi, mẹ liền bảo cho tôi đáp án: “Con trai ạ, phần quan trọng nhất trên cơ thể con chính là bờ vai”.
Tôi hỏi lại: “Có phải vì nó đỡ cái đầu con không hả mẹ?”
Mẹ lắc đầu: “Không phải thế, bởi vì đó là nơi người thân của con có thể dựa vào khi họ khóc. Mỗi người đều cần có một bờ vai để nương tựa trong cuộc sống. Mẹ chỉ mong con có nhiều bạn bè và nhận được nhiều tình thương để mỗi khi con khóc lại có một bờ vai cho con có thể ngả đầu vào”.
Từ lúc đó, tôi hiểu rằng phần quan trọng nhất của con người không phải là “phần ích kỷ”, mà là phần biết cảm thông với nỗi đau của người khác…
(St)
Em đăng đúng định hướng XHCN để đỡ mất công xoá Comment của bò đỏ
Trần Bang
TTO 1-8-2020: …Bệnh nhân 499 qua đời là bà 😭.B.T, 68 tuổi, mắc bạch cầu cấp dòng tủy kháng trị; đái tháo đường type 2; tăng huyết áp.
Bệnh nhân điều trị ung thư máu (leucemia) tại Khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, ra viện ngày 23-7.
Sau đó bà ho, sốt nên tái khám tại Bệnh viện Ung bướu. Do có dịch tễ nghi ngờ nên bệnh viện đã chuyển bà đến khu cách ly, lấy mẫu xét nghiệm, ngày 30-7 cho kết quả dương tính.
Bệnh nhân có biến chứng suy tủy, suy hô hấp, suy tuần hoàn.
Đến 19h ngày 31-7, bà suy hô hấp nặng hơn. Các bác sĩ đã đặt nội khí quản, cho thở máy, hội chẩn trực tiếp với chuyên gia của Bộ Y tế đang có mặt tại Đà Nẵng.
Đến 22h30, hội chẩn và điều trị cho kết quả thất bại, bệnh nhân vẫn thở máy, vận mạch liều cao.
Đến 04h55 sáng 1-8, bệnh nhân ngừng tuần hoàn, hô hấp và được xác nhận tử vong vì suy hô hấp.
Theo giáo sư Nguyễn Gia Bình – Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu, thành viên Tiểu ban điều trị, Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống COVID-19, bệnh nhân tử vong do ung thư đường máu ác tính không đáp ứng hóa chất giai đoạn cuối, viêm phổi nặng và COVID-19.
——-
Đọc bài này thì thấy rõ hiệu quả việc ”coi thường con cúm Cộng Tàu- COVID-19 “.
Vì dường như người chết vì nhiều bệnh nặng khác chứ đâu phải cúm Tàu -COVID-19 ?
Cũng như báo chí quốc doanh viết về tàu ngư dân VN bị Trung Cộng đâm húc, giết ngư dân VN… thì báo chỉ viết “ngư dân VN bị tàu lạ” đâm húc…
Viết để dân Việt Nam Coi thường COVID-19 và không biết kẻ thù có âm mưu xâm lược nô dịch Việt Nam, để dân VN mù mờ, u mê, chủ quan, mất cảnh giác sẽ có lợi cho ai?
THUỐC LÁ NGỪA VIRUS ?
Từ Thức
Báo chí và mạng xã hội VN bắt đầu loan truyền một tin sốt dẻo, sự thực đã có trên media ngoại quốc nhiều tháng trước: thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ nhiễm Covid
Theo thông lệ, người Việt đọc báo, hay nghe tin đồn, chỉ đọc hay nghe một góc, lựa những gì hơp ý mình. Tin này chắc chắn đã khiến nhiều người hút thuốc hăng hơn nữa, và những người chưa hút đi tìm thánh dược.
Tập đoàn thuốc lá, trước đây đã phát thuốc lá trước cửa các trường học, sẽ khai thác tin này, và nhiều tờ báo bất lương sẵn sàng đánh thuê, khi biết ngân khoản quảng cáo khổng lồ của kỹ nghệ thuốc lá.
Sự thực như thế nào ?
Chuyện những người hút thuốc ít bị nhiễm Covid hơn những người khác đã được xác nhận qua những nghiên cứu Tàu, đăng tải trên những tờ báo y khoa uy tín nhất, như ‘’The Lancet’’, ‘’The New England Journal of Medicine’’.
Tại Pháp, thống kê cho hay chỉ có 8,5% người hút thuốc trong số những người bị diễm dịch, trong khi 25,4% dân số hút thuốc.
Giả thuyết hiện nay là chất nicotine trong thuốc lá và coronavirus bám cùng một récepteur, gọi là récepteur nicotique trên tế bào não. Chất nicotine đã chiếm chỗ trước, virus không có đất hành nghề.
Tóm lại, đó không phải là một fake news, nhưng có phải là một lý do hút thuốc hay không ?
Chắc chắn là không. Bởi vì:
-Nếu coronavirus đã gây gần 700.000 tử vong trên thế giới, thuốc lá giết 8 triệu MỖI NĂM, 21.000 mỗi ngày, 4 giây một người chết
-Quốc gia càng nghèo, càng chậm tiến, người hút thuốc càng đông, 20 tới 30% tại các xứ phát triển, 40 tới 70% tại các nước chậm tiến. VN nằm trong số 15 nước hút thuốc nhiều nhất trên thế giới
-Riêng tại Pháp, mỗi năm 80.000 người chết. Số người chết ở VN có thể gấp 3 hay 4, vì dân số đông hơn (97 triệu/66 triệu), hệ thống y tế tồi tệ, dân trí thấp, nhà nước không có một chính sách phòng ngừa, điều trị. Tại Pháp, ngừa thuốc lá là một quốc sách, phí tổn điều trị và phòng ngừa đều miễn phí
-Người ta chưa biết phải hút thuốc bao lâu, bao nhiêu điếu mỗi ngày để góp phần ngăn chặn virus, nhưng trước khi giết người, thuốc lá hành hạ nạn nhân bằng đủ thứ bệnh: ung thư phổi, ruột, cuống họng, lá lách, tăng huyết áp, nhịp tim, làm xơ cứng động mạch, tàn phá óc não làm mất trí nhớ, gây trầm cảm.
-Thuốc lá làm giảm tuổi thọ 13 năm nơi đàn ông, 14 năm nơi đàn bà
-Thuốc lá không chỉ hại cho người hút, nhưng tai hại không kém cho những người chung quanh
-Thuốc lá không ngăn chặn virus, chỉ làm số người bị nhiễm ít hơn. Người hút thuốc nếu lạc quan, không áp dụng những biện pháp phòng ngừa, sẽ có cơ hội gặp virus nhiều hơn.
-Coronavirus sẽ có lúc hết, nhưng hút thuốc sẽ mang vạ suốt đời
Tóm lại, dùng thuốc lá để phòng ngừa virus cũng như lấy búa đập muỗi trên má.

SẮT VỤN TRÊN ĐẦU
Lê Vi
Thương bà con Long Xuyên, hàng ngày đi qua cổng chào 6,8 tỷ đồng cứ hồi hộp.
Thiết kế cổng Long Xuyên đã sửa chữa chỉ sau vài ngày khánh thành.
Giờ thương bà con Bạc Liêu, có cái cổng chào thiết kế cũng na ná Long Xuyên, đã tả tơi chờ sập.
Quan điểm cá nhân, tôi thấy mấy cái cổng này xấu lắm.
Fb Trương Châu Hữu Danh






