Tinh thần “chiến đấu” của người dân Hong Kong

Thưa Bà Con,
Xin trích đoạn bài viết của tác giả Phẩm Thái về tinh thần “chiến đấu” của người dân Hong Kong từ GIÀ đến TRẺ. Còn người “minh” ở trong nước và hải ngoại như thế nào?
“Trong các cuộc biểu tình, dân chúng đặc khu đã cho thấy tình yêu tha thiết với Hong Kong, cho tự do của Hong Kong, khi người già nằng nặc đòi đứng trên tiền tuyến, để bảo vệ người trẻ khỏi lực lượng cảnh sát, và nếu phải chết dưới làn đạn, họ muốn hy sinh cho thế hệ trẻ được sống; giới sinh viên trở thành các “y tá” tự phát, chùi rửa mắt cho những người bị xịt hơi cay.
Suốt một năm biểu tình, hơn 8000 người bị bắt và truy tố, họ là cả xã hội Hong Kong, từ giáo sư đại học, cho tới bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, tiếp viên hàng không, bà nội trợ, công nhân, sinh viên, bô lão, và vô số các em học sinh 10-17 tuổi. Trong tù, nhiều người đã bị tra tấn dã man, bị tấn công tình dục bởi mật vụ Trung Quốc.
Đây là cuộc chiến cuối cùng của nhân dân Hong Kong, một cuộc chiến có lẽ họ khó giành phần thắng. Các lựa chọn trợ giúp của phương Tây thì hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Vũ Hán khiến nhiều nước phát triển bị lệ thuộc vào hàng hoá xuất cảng từ TQ.”
Cựu cán bộ giáo dục: ‘Không sửa điểm thi sẽ khó tồn tại’ – VnExpress

VNEXPRESS.NET
Cựu cán bộ giáo dục: ‘Không sửa điểm thi sẽ khó tồn tại’ – VnExpress
Bị cáo Nguyễn Thị Hồng Nga trong lời nói sau cùng cho rằng nếu không cùng các đồng nghiệp sửa điểm thi THPT quốc gia 2018, bà sẽ “không tồn tại được”.
CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V. HUY
QUÁ HAY!
🌿Hắn tên là V. Huy, thật ra tên đầy đủ của hắn là Nguyễn Phúc Vĩnh Huy, vốn là con cháu giòng họ vua chúa triều Nguyễn.
Bố hắn là giáo sư tiến sĩ, từng chữa bệnh cho ông Hồ.
Ông nội hắn là Thượng thư bộ Lại trong triều vua gì đó của nhà Nguyễn.
Mẹ hắn cũng là giáo sư nhưng hình như bên ngành Luật, tốt nghiệp từ bên Tây, nghe lời ông Hồ vì nước tham gia đánh giặc.
Lí lịch của hắn quá ư là đẹp, vừa quí tộc vừa cộng sản, không chê vào đâu được.
Hắn tốt nghiệp Tiến sĩ ngành ngoại giao ở Liên Xô, cũng nghe nói là bằng đỏ đàng hoàng, và chắc chắn là bằng thật.
💥Thế mà hắn lại xổ toẹt cái lí lịch đó, đái lên cái truyền thống đẹp như mơ đó. Hắn không bao giờ chịu thổ lộ cái tên trong khai sinh cho bất kì ai, và luôn luôn tự xưng tên tôi là V. Huy, cắt đứt mọi liên hệ với cái gia đình danh giá.
Cũng chẳng biết tại sao. Và mọi người cũng không rảnh thì giờ để điều tra chuyện đó.
🌿Tôi gặp hắn lần đầu trong quán cà phê. Quen qua quen lại mà thành thân gần tám năm nay.
Hắn là một thằng có cá tính. Mà lại là cá tính quái dị. Tôi cũng vốn là một người quái đản – theo mọi người chung quanh bảo thế – nên khi gặp hắn là thành thân ngay, đi đâu cũng có nhau. Ngưu tìm ngưu, mã tìm mã mà.😊
🌿Hắn có khuôn mặt của John Lennon: ngây thơ mà tinh quái. Cũng nét mặt gầy, mũi thẳng, tóc xoăn để dài đến bờ vai, chỉ khác là tóc màu đen.
Hắn cũng đeo kính cận gọng tròn, nặng độ, dày như đít chai. Lúc nào hắn cũng kè kè cái ba lô nặng trĩu chứa tùm lum nào sách, nào khăn, nào đủ thứ như một túi rác. Nhưng hắn bảo hắn chứa cả càn khôn trong đó.🥰
🌿Hắn chỉ có độc một bộ đồ, chiếc áo jean bạc màu, áo jacket màu cứt ngựa có nhiều túi và cũng nhiều fermature. Chiếc quần jean rách ở đầu gối và sờn ở hai mông đít. Đôi giày lính Mỹ cao cổ loang lổ và ám bụi đường. Hắn không bao giờ giặt áo quần, cứ mặc cho đến tả tơi lại đi tìm bộ khác cũng y như thế. Công nhận hắn cũng giỏi săn lùng vì suốt tám năm quen hắn, tôi có cảm tưởng hình như hắn chẳng bao giờ thay kiểu quần áo.
🌿Hắn là một thằng thông minh, rất thông minh. Và cũng uyên bác, rất uyên bác.
Tôi là người rất ngạo mạn, ít khen ai và cũng ít nể ai, luôn khinh khi những thằng tiến sĩ dỏm nhiều như quân Nguyên chạy đầy đường.
Nhưng gặp hắn, quen hắn, biết hắn thì tôi phải khen ngợi hắn thật lòng. Hắn nói tiếng Anh như dân xuất thân từ Oxford , đúng giọng và ngữ điệu. Hắn vi vu tiếng Pháp giọng Paris và hơn thế nữa là dùng ngôn ngữ từ Sorbonne ra. Hắn nói tiếng Ý như mưa rào và tiếng Nga thì thôi rồi, nghe không khác gì Putin. Hắn cũng giỏi tiếng Hán, viết thư pháp như múa, đặc biệt là chữ thảo, đọc toàn sách cổ văn, đọc tiếng Đức ầm ầm như bão tố
. Ngoài ra hắn còn giỏi tiếng Bồ Đào Nha, đọc kinh Phật bằng tiếng Pali và nói thông thuộc tiếng Khmer. Hay nhất là dù hắn có mười mấy năm ở nước ngoài, có bằng Tiến sĩ ở Nga nhưng lại nói tiếng Việt rất chuẩn, tròn vành rõ chữ và dùng từ thì không chê vào đâu được.
Nói tóm lại, xét về mặt ngôn ngữ, hắn là thằng trùm thiên hạ.
🌿Không biết chính xác hắn ở đâu. Lúc thì bảo ở quận tư, có khi lại ở quận tám.
Tóm lại hắn là thằng giang hồ. Một thằng trí thức nhất trong những thằng trí thức đúng nghĩa của Việt Nam đang là kẻ không nhà.
Hắn là thằng ma – cà – bông. Cứ khoảng chín giờ sáng là có mặt hắn ở quán cà phê, kêu li đen và ngồi rít thuốc liên tục.
Bất cứ vấn đề gì hắn cũng có thể nói được, và nói rất sâu. Gặp những từ ngữ cần chính danh, hắn có thể lấy giải nhĩa từ nguyên chữ Hán và có khi từ chữ gốc của tiếng La tinh. Hắn có thể nói từ chuyện văn chương kim cổ cho đến những phát minh từ xưa đến nay của loài người. Hắn giảng về Socrate, Platon cho đến các triết gia cận đại. Hắn nói về Mác thì ai cũng ngóng cổ lên mà nghe bởi vì toàn những vần đề mà những ngài tuyên huấn cộng sản không bao giờ biết đến và phân tích nổi. Khi hắn phân tích cách mạng Trung Hoa, cách mạng Việt Nam, rồi tương lai của toàn thế giới thì mọi người há mỏ nghe không ngậm lại được, mặt ai cũng nghệch ra như ngỗng ỉa. Trong mọi cuộc bàn luận, hắn trở thành trung tâm. Khi chưa có mặt hắn ở khu vực này, tôi được mọi người phong cho là bách khoa toàn thư, chuyện gì cũng biết. Nhưng từ khi có hắn, tôi như đèn dầu le lói mà hắn thì sáng như đèn pha. Ngay như chuyện chó mèo, chim cò, rắn rít, thú hoang hắn cũng rành như ông giáo sư Võ Qúy. Chuyện gì hắn cũng biết, mà biết rõ ngọn ngành rành mạch mới siêu chứ. Khi hắn đã nói thì chẳng còn ai có thể cãi lại hắn được. Với cái đầu của hắn, nếu được làm lãnh đạo hắn có thể là người lãnh đạo giỏi hay ít nhất đất nước sẽ nở mày nở mặt khi hắn tiếp xúc với năm châu bốn bể.
Nhưng hắn lại là thằng lang thang, sống bằng những bài dịch tin nước ngoài cho mấy tờ báo lá cải. Trong khi mấy thằng ngu thì chức cao quyền trọng, ghế cao chót vót. Đời là vậy đấy! C’est la vie!!😥😡
🌿Theo những tin tức vỉa hè thì hồi mới về nước thì hắn cũng đi làm ở Bộ Ngoại giao. Là nhân viên của một cục, một vụ gì đấy.
Nhưng vì hắn quá giỏi lại quá ngông, không chịu nghe theo những chỉ thị ngu xuẩn của lãnh đạo nên cuối cùng bị đẩy xuống làm anh chạy văn thư.
Vì cảm thấy nhục, hắn cũng kiện tụng tùm lum mà chẳng đi đến đâu nên bỏ sở mà làm kẻ lang thang.
Tôi nghĩ tánh khí ngang tàng không khuất phục chính là nguyên nhân bi kịch chối từ gia đình của hắn.
🌿Cách đây mấy năm, tôi có người bạn Pháp, một chuyên gia sưu tầm cổ vật Đông phương sang Việt Nam mua được một chậu sứ Trung Hoa rất cổ, hình như là đời đầu Minh. Chậu sứ vẽ cảnh mục đồng chăn trâu men xanh rất đẹp. Nét vẽ uyển chuyển và tinh tế của một nghệ nhân bậc thầy. Ông bạn tôi mấy lần mang về Pháp đều bị chận lại vì hải quan không cho mang cổ vật ra khỏi nước. Chuyện đến tai hắn, hắn bảo sẽ mang đi được với điều kiện bạn tôi mua vé khứ hồi cho hắn kèm theo 1500 Euro cho hắn tiêu mấy ngày ở bên đó.
Bạn tôi ok ngay. Và hắn mang đi được thật mà chẳng cần xin xỏ, khai báo gì cả. Dịp đó hắn đi hết mấy nước châu Âu; gần hai tháng sau hắn mới về. Hỏi hắn làm sao, hắn bảo có khó đéo gì đâu, vào đến phi trường tớ đến ngay quầy bán hoa lan của Đà Lạt, mua một giỏ hoa lan có cả chậu, vào ngay phòng vệ sinh, bỏ chậu ra, lấy chậu sứ thay vào.
Thế là ung dung xách giò lan bước lên máy bay chẳng thằng nào, con nào hỏi một tiếng. Ai cũng bảo hắn giỏi. Hỏi hắn ở bên đó hai tháng lấy gì mà ăn, hắn bảo hắn làm hướng dẫn viên du lịch.
Đến thành phố nào cứ thấy mấy thằng du khách ngơ ngác thì hắn sấn tới làm quen sau đó hướng dẫn người ta đi tham quan. Hỏi hắn chưa bao giờ đi qua đó, biết đếch gì mà hướng dẫn.
Hắn gào lên xin lỗi mọi người à, trước khi đi tôi đã học thuộc mấy cuốn sách hướng dẫn du lịch của hơn mười nước Châu Âu rồi. Nghe sợ chưa?
🌿Có lần tôi với hắn đi nghe một tay giáo sư người Mỹ nói chuyện văn chương, trong giờ giải lao, hắn bước đến nói chuyện với tay giáo sư đó.
Chẳng biết nó nói những gì mà khi trở lại sân khấu để tiếp tục câu chuyện, tay giáo sư người Mỹ mời hắn lên ngồi chung và giới thiệu hắn với cử tọa bằng những lời rất trân trọng.
Lần đó hắn bị công an văn hóa mời lên mấy lần để nói rõ mối quan hệ giữa hắn và tay người Mỹ. Hắn chỉ bảo là hắn không đồng tình một số ý của diễn giả và người giáo sư nể hắn. Thế thôi. Bắt nó làm tường trình, nó bảo chẳng có đéo gì mà phải tường với trình, không tin thì cứ đi hỏi tay giáo sư người Mỹ chứ tại sao lại hỏi hắn. Cuối cùng huề, chẳng có chuyện gì mà ầm ĩ.
🌿Hắn chưa bao giờ kể cho tôi nghe về mối quan hệ của hắn với phụ nữ.
Thế mà có một lần, có một người đàn bà đẹp đến tìm hắn ở quán cà phê. Tôi ngỡ ngàng khi gặp người phụ nữ này, bởi vì cô ấy quá đẹp. Một sắc đẹp đài các, duyên dáng và rất trí thức. Một khuôn mặt mà thi ca và hội họa suốt đời ca tụng.
Bữa đó không có mặt hắn ở quán và tôi tiếp chuyện với người đàn bà đẹp đó. Nàng tên là Bạch Huệ – hoa huệ trắng- cái tên nghe có vẻ hơi cải lương, nhưng cô gái đó nói chuyện rất thông minh và rất có trình độ. Nàng đi tìm hắn đã lâu rồi, và rồi không biết ai đó đã hướng dẫn nàng đến đây.
Cô gái kể sơ cho tôi nghe về mối quan hệ giữa hắn và nàng. Yêu nhau từ ngày còn ở bên Nga, nàng là con gái rượu của đại sứ Việt Nam ở đó. Một mối tình đẹp và môn đăng hộ đối. Hai người về Việt Nam và dự định khi ổn định cuộc sống sẽ làm lễ cưới.
Nhưng rồi hắn chửi lãnh đạo, mất việc, bị bố nàng nói nặng nhẹ đụng chạm tự ái sao đó, hắn chửi ông bố vợ tương lai một trận ra trò và bảo các ngài chỉ là một lũ ngu rồi bỏ đi không dấu vết. Nàng đau khổ đi tìm. Vô vọng. Mò kim đáy bể.
Cuối cùng nghe theo lời bố lấy chồng. Chồng nàng bây giờ là thứ trưởng một bộ rất quan trọng.
Tôi bảo thế thì bây giờ cô còn tìm hắn làm gì, khi đã trở thành hai tầng lớp khác nhau, vị trí xã hội cũng đã không còn như xưa nữa. Cô ấy bảo là tìm để xem hắn sống ra sao, tìm lại hình ảnh mối tình xưa đã không còn nữa và quan trọng nhất là cô ấy vẫn còn yêu hắn.
🌿Khi tôi kể lại cho hắn nghe cuộc gặp gỡ, hắn không nói gì chỉ lẩm bẩm chửi thề, chửi thề là thói quen của hắn, nên tôi không biết hắn đang chửi cái gì. Chửi số phận hay chửi mối tình của hắn. Sau đó hắn lầm lì mấy ngày rồi vắng mặt gần mười mấy hôm, cũng chẳng biết hắn đi đâu…..
🌿Hắn xuất hiện trở lại chốn giang hồ với một cọc tiền khá lớn, hắn bảo hắn vừa lãnh tiền công viết luận án tiến sĩ cho một đồng chí lãnh đạo thành phố.
Hắn nói đây là đồng tiền tanh hôi, đồng tiền đã làm lụn bại đất nước, nhưng nếu hắn không nhận làm thì thằng khác cũng làm, xã hội bây giờ thiếu gì thằng trí thức sẵn sàng làm thuê.
Hắn gom mấy đứa trẻ bán báo, đánh giày, bán vé số lại. Thuê một chiếc xe mười lăm chỗ ngồi, chở hết mấy đứa trẻ vào thành phố, mua sắm áo quần, đồ chơi, sách vở. Lại còn cho mỗi đứa mấy trăm ngàn. Cả đám trẻ sung sướng. Còn hắn thì hả hê. Chưa bao giờ thấy khuôn mặt của hắn sướng đến như vậy. Mấy bà bán dạo quanh quán cà phê bảo hắn điên, hắn cười sảng khoái, gật gù: điên, điên, đúng là điên.
🌿Tối hôm đó hắn đi vào bar Mưa Rừng, vừa bước vào cửa, mấy gã bảo vệ nhìn bộ dạng của hắn, định ngăn không cho vào.
Hắn rút ra mấy tờ bạc giúi vào tay chúng. Hai gã bảo vệ nghiêng mình, mở cửa. Hắn vào bàn, ngoắc một em phục vụ ăn mặc nóng bỏng lại, kêu cho ly sữa tươi.
Em cave nhìn hắn định cười khi dễ thì hắn đã rút hai tờ năm trăm nhét vào tay cô gái và bảo, em mua giúp anh ly sữa tươi.
Dĩ nhiên là cô gái thực hiện ngay. Ai dại gì từ chối bán ly sữa tươi giá một triệu bạc bao giờ
. Hắn uống một hơi hết ly sữa. Lại ngoắc em gái lần nữa và rút thêm một xấp tiền, bảo: vú em nhỏ quá, anh cho em chục triệu đi bơm vú to lên mà làm cho đời thêm tươi.
Cô gái há hốc mồm không kịp nói gì thì hắn đã lẳng lặng rời ghế, đi về. Chuyện này được kể lại với nhiều tình tiết ly kỳ hơn, kéo dài mấy tháng trong giới cave, sau này trở thành giai thoại, báo chí cũng có đăng.
Mọi người kháo nhau hắn là tỷ phú đóng vai kẻ nghèo vì chán cảnh giàu sang nhung lụa. Bữa đó hắn đi bộ về, vừa đi vừa khóc, chẳng ai hiểu tại sao?
🌿Hắn lại mất hút. Cả tháng rồi tôi không gặp hắn. Cho đến hôm qua, lúc trưa, tôi nhận được điện thoại của công an hỏi tôi có phải là người thân của hắn không? Tôi ừ. Đồng chí công an bảo phát hiện hắn đã chết đêm hôm qua, trong tay có mảnh giấy ghi tên và số điện thoại của tôi
.🔥 Tôi chạy ngay đến đồn, họ chở tôi đến một căn nhà nhiều phòng ở một chung cư tại quận tư.
Hắn nằm đó, khuôn mặt thanh thản và bình yên, trên môi phảng phất nụ cười. Chung quanh giường và tràn ngập căn phòng là những cành huệ trắng. Màu trắng của huệ, màu trắng của chiếc drap giường và bộ đồ trắng lần đầu tiên tôi thấy hắn mặc làm cho căn phòng tinh khiết lạ lùng và cũng tang tóc vô cùng.
Trên đầu giường có một bức tranh sơn dầu nhỏ vẽ chân dung một cô gái cũng mặt chiếc váy trắng. Khuôn mặt trong hình rất quen. Đó là chân dung của Bạch Huệ. Thì ra hắn tự tử bằng hoa huệ. Hắn đã chất đầy căn phòng hoa huệ trắng, đóng kín cửa và hắn từ từ chết trong hương thơm ngào ngạt của loài hoa huệ trắng.
Trong tờ giấy hắm nắm trong tay lúc ra đi, ngoài tên và số điện thoại của tôi, hắn còn ghi thêm hai dòng nữa.
Dòng đầu hắn cho biết là hắn tự kết liễu đời mình, không liên lụy đến ai. Dòng sau hắn ghi là hắn không còn cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt nên nhờ tôi hỏa tang thân xác hắn và rải tro xuống sông để cho hắn được trôi ra biển lớn. Tôi đưa tay chào như chiến sĩ, như một lời chia tay.
🌿Ba hôm sau, tôi nhận được mail của hắn. Nhìn thấy tên hắn là tên người gởi, tôi lạnh dọc sống lưng. Sao hắn chết ba hôm rồi, than xác hắn đã thành tro bụi rải xuống sông rồi. Sao lại còn có thư của hắn gởi.
🔥Hắn viết:
“Gởi anh.
Đã đến lúc tôi cảm thấy mình thừa thãi trong cuộc đời này. Tôi không còn lí do để tồn tại nữa. Phải biết đúng lúc để rút lui là người khôn ngoan. Tôi đã làm tròn phận sự và tôi phải ra đi. Biết đâu ở thế giới khác sẽ vui hơn trần gian điên dại này? Xem như không có V. Huy ở cuộc đời này, quá khứ cũng như tương lai.
Anh ở lại hãy sống vui.
V. Huy
Tái bút: Tôi nhờ anh đến địa chỉ…lấy một số vật dụng của tôi và đốt tất cả giúp tôi. Đốt hết và đừng giữ lại gì. Cám ơn anh.
Anh đừng sợ hãi khi nhận được thư này. Tôi gởi thư theo chế độ hẹn. Tôi hẹn ba ngày sau khi tôi ra đi, máy mới gởi thư đi”.
🌿Tôi đến địa chỉ hắn đã ghi, người ta giao cho tôi một thùng to, vất vả lắm tôi mới chở được về nhà. Những gì trong đó làm tôi kinh ngạc đến sững sờ.
🔥18 cuốn nhật ký hắn ghi từ lúc bảy tuổi cho đến trước ngày hắn chết một tuần lễ với nhiều suy nghĩ gây sửng sốt.
🔥72 bản dịch những cuốn tiểu thuyết của nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới.
🔥4 bản dịch sang tiếng Đức cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Thơ các thiền sư đời Lý và cuốn Đoạn trường vô thanh.
🔥3 tập phê bình và nhận định những sai lầm của chủ nghĩa Mác viết bằng tiếng Anh.
🔥2 cuốn nói về sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thế kỉ 21 viết bằng tiếng Pháp.
🔥43 cuốn phân tích và phê bình về các tác giả Việt Nam từ thơ ca đến tiểu thuyết.
🔥12 cuốn viết về các danh nhân văn hóa Trung Quốc và sự ảnh hưởng của họ.
🔥5 cuốn dịch thơ Đường sang tiếng Việt.
🔥3 cuốn chép tay kinh Phật bằng tiếng Pali.
🔥1 cuốn dịch nhạc Trịnh Công Sơn sang tiếng Tây Ban Nha.
🔥8 tập thơ hắn viết từ hồi 15 tuổi cho đến năm ngoái, tức là cả năm nay hắn không còn làm thơ.
🔥1 cuốn luận án tiến sĩ của hắn với tiêu đề: “Tìm hiểu chính sách ngoai giao của nhà nước Việt Nam từ đời Lý đến 1945”..với nhiều lời phê khen ngợi.
🔥Và nhiều bằng cấp giấy khen của nhiều trường học, tổ chức trong và ngoài nước. Nhiều bài báo của hắn viết trên nhiều tạp chíchuyên ngành của nhiều tổ chức khoa học tiếng tăm trên thế giới.
🌿Một gia tài đồ sộ chứng tỏ sự uyên thâm cùng sức làm việc khủng khiếp của hắn.
Tôi mất gần cả năm nay mà vẫn chưa đọc hết những gì hắn đã viết, và tôi sẽ tiếp tục đọc để hiểu hắn hơn, để càng thêm cảm phục hắn.
💔 Một thiên tài đã sinh nhầm nơi chốn. Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ..
🌿Tôi không đốt như ý nguyện của hắn. Tôi đóng một tủ sách khá đẹp, đem tất cả tác phẩm hắn đã viết sắp xếp thứ tự. Ngoài mặt tủ, tôi đi thuê khắc dòng chữ: “CÓ MỘT NGƯỜI TÊN V. HUY“
VPA st
From: Tham Nguyen & KimBang Nguyen
CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947
Kính chuyển quí Thân hữu đọc (hoặc lưu trữ & nghiên cứu) : Một tài liệu lịch sử đặc biệt, mới tìm ra: Đó là Bức thư của Cụ Trần Trọng Kim viết năm 1947, gửi Cụ Hoàng Xuân Hãn. Trong thư có nhận định về Việt Minh vào thời gian tổng nổi dậy (gọi là Cách mạng Tháng 8/1947) TQB
~~~ ~~
Tài liệu lich sử đặc biệt:
CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947
Thủ bút của Cụ Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947
ảnh chụp nguyên bản:
Lời ngỏ của ông Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm),
người phát hiện ra tài liệu lịch sử trên đây
—–o0o—–
Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt (tức 4 trang). (đánh máy lại theo nguyên bản – các số thứ tự và phần ghi chú do ông Nguyễn Đức Toàn viết) – Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471
Ông Hãn2
Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]
Trần Trọng Kim [tr4]
Phần Chú thích :
- 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
- Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
- Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
- Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
- Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng TạiLạiThế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
- Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
- D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
- Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
- hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
- ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
- Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
- Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
- Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
- Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
- Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
- Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
- Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
- ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
- Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
- Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
- “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
- Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
- Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
- Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
- Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chươnglà tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.
_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
- Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
- Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
- Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
- La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
Nguồn: Blog Yêu Hán Nôm
From: markq. Trinh & My Tran
TỞM LỢM Truyền thông bẩn !

Truyền thông bẩn !
Chính bọn báo đĩ mới dàn dựng và vu oan cho dân lành. Sau bài báo “Mẹ Hồ Duy Hải yêu con mù quáng”, thì bây giờ nhiều bài báo lồng lộn tấn công mẹ con cháu bé lớp 1 bị đứng ngoài nắng 40°C.Đièu này càng làm cho người dân càng tởm lợm hơn với trình độ và nhân cách của một số báo nô.
Chẳng có cha mẹ nào điên rồ đến mức là dàn dựng để vu oan cho nhà trường. Thực tế cha mẹ học sinh chạy trường, chạy lớp, nịnh và đút tiền cho giáo viên còn chẳng xong huống hồ lại đi gây chuyện.
Theo các tin tức đang tràn ngập trên báo chí hiện nay thì vụ việc là do mẹ cháu bé dàn dựng, chứ không phải do lỗi của cô giáo và nhà trường ( bằng chứng là có cả cái clip dàn dựng của mẹ cháu bé được quay bằng camera giám sát phía đối diện với cổng trường).
Nhưng chắc có lẽ là quá ngu hay nghiệp vụ quá non kém, mà những kẻ vẽ ra cái kịch bản này không biết rằng hình ảnh lúc đầu mẹ cháu bé đăng lên thì cổng trường đã đóng và không có ai qua lại, còn cái clip được cho là mẹ cháu bé dàn dựng thì cổng trường mở toang và người ra vào tấp nập.
Vậy chắc chắn trong vụ việc này đã có dàn dựng. Nhưng câu hỏi đặt ra là AI DÀN DỰNG? Mẹ của cháu bé hay nhà trường và cô giáo?
Nghe nói chồng của cô giáo là sĩ quan cấp cao trong quân đội.
https://m.docbao.vn/…/lo-dien-clip-dan-dung-chau-be-lop-1-d…
Stt của Nguyen Minh và Nguyễn Phúc Khang.
Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.
Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.
Từ xưa tới nay, chuyện rắn hổ mang mò vào chuồng gia súc, gia cầm của nhà dân là chuyện không hề hiếm. Tuy nhiên, việc một con gà đứng ra tấn công lại loài rắn ma mãnh để bảo vệ đàn con của mình thì không phải ai cũng được chứng kiến.
Trong clip, một con rắn hổ mang đã mò vào chuồng gà của một nhà dân để săn mồi. Phát hiện thấy đàn gà con, con rắn hổ mang từ từ tiến đến. Ngay lập tức gà mẹ đã xua đàn con của mình và những con vịt con vào một góc, sau đó nó lao về phía con rắn rồi đe dọa.

Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình.
Cuộc chiến tưởng chừng như không cân sức này diễn ra vô cùng kịch tính và thú vị. Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình. Thậm chí, nó bành mang rồi tấn công gà mẹ.
Gà mẹ cũng không chịu thua khi liên tục đập cánh, đá chân để xua đuổi con rắn ra xa đàn con của mình.
Kết thúc cuộc chiến, con rắn đành lặng lẽ bò đi chỗ khác, trong khi đó không một con gà nào bị thương, thậm chí gà mẹ cũng không hề bị nọc độc của con rắn hổ mang làm hại. Đây thực sự là một cuộc chiến không cân sức nhưng lại tạo được kết quả vô cùng bất ngờ.
Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?
- Đông Vy
- Thứ Hai, 25/05/2020 • 19.2k Lượt Xem
- Không biết từ lúc nào, có lẽ chỉ vài năm trở lại đây thôi, những người tôi gặp luôn nói về Sài Gòn trong những cuộc trò chuyện. Dù bên bàn cà phê, trong quán ăn hay ở nhà riêng, thậm chí, trong thư điện tử và trên mạng xã hội, tôi cũng có cảm tưởng như mình chẳng thể nào thoát được chủ đề đó. Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn xưa. Có người bàn về lịch sử, có người tìm ký ức thành phố trong kiến trúc cũ, có người lục lọi sách vở.
Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?
Rất nhiều lần, tôi tự hỏi cớ sao lại như vậy?
Một buổi tối nọ, chúng tôi ghé thăm căn hộ một người bạn bên quận 7, rồi cà kê uống rượu tới khuya với mấy người quen của anh. Những câu chuyện của chúng tôi, dù thay đổi từ chủ đề kinh tế, y khoa, âm nhạc hay con cái, vẫn nhiều lần quay trở lại với Sài Gòn.
Đột nhiên, giữa câu chuyện đó, người phụ nữ xinh đẹp trong nhóm – người từng được vinh danh về nhan sắc nhưng thậm chí còn nhận được nhiều sự tôn trọng hơn bởi sự hiểu biết của mình – bỗng thổ lộ lý do khiến cô rời xứ sở. Cái thành phố ở hợp chủng quốc mà cô đang sống đó, không phải là nơi hoàn toàn tốt đẹp, như rất nhiều thành phố khác trên thế giới này, nó vẫn đang đối mặt với vô số vấn đề rắc rối và mâu thuẫn nọ kia. “Nhưng anh chị biết không” – cô nhìn chúng tôi với đôi mắt mở to, trong và buồn – “dù thế nào đi nữa, ở đó, tôi thấy có hy vọng.”
Chúng tôi nâng ly để chia sẻ sự đồng tình với cô, rằng: “Người ta có thể chết vì rất nhiều thứ, nhưng có ít nhất một thứ khiến người ta muốn sống. Hy vọng.”
Nghe cô nói, tôi chợt nghĩ về cái chủ đề mà gần đây tôi dường như không thể thoát khỏi: Sài Gòn. Có lẽ nào, người ta cũng đang nói về Sài Gòn như một cách tìm kiếm hy vọng. Chúng ta nói gì khi nói về Sài Gòn? Chúng ta nói về hy vọng.
Rất nhiều người Sài Gòn tôi gặp mang tâm trạng của chàng du khách trong thơ Nguyễn Bính, “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Thật lạ lùng, vì không chỉ người già mới hoài nhớ quá khứ, mà người trẻ cũng vội vã tìm về hôm qua. Khi nói đến hy vọng chúng ta thường nghĩ đến tương lai, nhưng bây giờ ở Sài Gòn, có vẻ mọi người hy vọng nhiều hơn khi nghĩ về quá khứ.
Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…
Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?
Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.
Những người già ở Sài Gòn kể rằng thành phố này từng có một thời, khi mà Sài Gòn không-chỉ-là-đất-làm-ăn, khi mà người Sài Gòn không cố trở thành ông chủ hay thương gia hết thảy. Có một thời, ở xứ này người nào làm việc nấy, chuyên tâm với chức trách và luân lý nghề nghiệp của mình một cách hãnh diện. Nhờ đó, giá trị được tạo ra một cách quân bình ở mọi lãnh vực và phương diện khác nhau chứ không chỉ thể hiện trên hàng hoá. Thương gia thì buôn bán. Giáo sư thì dạy học. Nghệ sỹ trình diễn. Triết gia suy tưởng. Chính khách lo kinh bang tế thế. Quân nhân bảo vệ đất nước. Các đảng phái giám sát lẫn nhau. Thầy thuốc thì chữa bệnh. Thợ may làm ra quần áo đẹp. Cha mẹ nuôi dạy con. Trẻ nhỏ thì vô lo và nghịch ngợm. Mục đích của việc dành dụm không nhất định là để được xếp vào hạng thượng lưu, mua thêm đất tậu thêm nhà hay phô trương thanh thế, mà để được hưởng thụ đời sống tinh thần ở mức cao hơn, và giúp người. Xã hội có người giàu và người nghèo. Nhưng người giàu không quá khinh mạn, người nghèo dù khốn khổ vẫn có thể giữ lòng tự trọng, cũng như hy vọng. Giữa những lo lắng phập phồng bên lề chiến tranh và nhiệt thành bối rối của thời dân chủ sơ khai, giữa những chật vật về miếng cơm manh áo, là sự hiện hữu có thực của hy vọng.
Hy vọng chăm chỉ làm lụng thì có thể dư dật. Hy vọng học hành giỏi giang sẽ có ngày thành danh. Hy vọng tuân thủ luật pháp thì sẽ được nhà nước bảo vệ. Hy vọng nghệ thuật và tri thức được tôn vinh. Hy vọng lẽ phải và sự thật là điểm tựa cũng như cứu cánh của mọi cuộc tranh luận. Hy vọng người chính trực sẽ được bênh vực. Hy vọng tài năng được coi trọng hơn tiếng tăm. Hy vọng danh dự và liêm sỉ được coi trọng hơn tiền tài và quyền lực. Hy vọng Sài Gòn mãi là đất lành, nơi mà người lương thiện có thể an tâm dâng tặng giá trị của riêng mình cho đời sống.
Những hy vọng đẹp đẽ đó, chúng ta còn giữ được không?
Cũng như cái tâm thế thong dong của người Sài Gòn, không ít giá trị từng là điểm tựa của đời sống xã hội ở đô thị này đang tan biến dần đi trong sự xâm lấn mạnh mẽ của những đặc trưng văn hóa khác và cả những thứ phản giá trị tựa như đám nấm độc đang trồi lên khắp chốn, bởi thời thế hay số phận. Hiện thực đó khiến tôi lắm lúc có cảm giác vô phương cứu vãn. Nhưng những người Sài Gòn, tôi biết, họ vẫn âm thầm giữ hy vọng. Họ buồn bã và giữ hy vọng. Họ phẫn nộ và giữ hy vọng. Họ làm việc và giữ hy vọng.
Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…
Còn tôi, tôi hy vọng gì? Ngày qua ngày, Sài Gòn vẫn tiếp tục lướt trên những làn sóng văn hoá xô đến dồn dập, tiếp tục gồng mình chống chọi trước những cơn lốc đổi thay khó cưỡng, và đô thị này vẫn đang lớn nhanh hơn bao giờ hết, cao hơn, rộng hơn. Tôi chỉ mong nó đừng phát triển như một tòa cao ốc, mỗi tầng là một chốn tách biệt, mà tầng nào cũng tràn ngập thương gia.
Sài Gòn, xin hãy lớn lên như một cái cây, có lá, có hoa, dù vươn cao đến đâu, tỏa rộng chừng nào vẫn có thể cảm nhận được dòng nhựa sống từ đất đai và gốc rễ – những giá trị đã từng là niềm hãnh diện của mỗi cư dân trong quá khứ. Sài Gòn – xin hãy là một đô thị nuôi dưỡng được nguồn hy vọng cho cả xứ sở này.
Và Sài Gòn – như một cái cây. Lại cây!
Trích lược
Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.
Đặng Nguyễn Đông Vy
Theo Facebook Sài Gòn – Chuyện đời của phố
Xem thêm các tác phẩm khác của vợ chồng nhà báo Phạm Công Luận – Đặng Nguyễn Đông Vy tại đây.
Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN
Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn…
MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!

MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!
Đài RFI cho hay (trích) : Cắt đứt với truyền thống của nền kinh tế kế hoạch hóa từ nhiều năm qua, chế độ cộng sản Trung Quốc giờ đây từ bỏ việc ấn định mục tiêu tăng trưởng cho năm 2020…
Trong bài diễn văn hết sức ngắn – chỉ có 55 phút – lần đầu tiên từ 30 năm qua, ông thủ tướng không đưa mục tiêu tăng trưởng cụ thể cho năm 2020. Tăng trưởng quý I giảm đến 6,8%, điều chưa từng thấy kể từ khi Trung Quốc cho công bố GDP từng quý vào đầu thập niên 90.
Từ nhiều tuần qua, các nhà kinh tế và chính khách tranh luận về việc liệu Trung Quốc có ấn định mục tiêu tăng trưởng năm 2020, hay một mục tiêu chung cho cả năm 2021 nhằm giấu bớt thất bại trong năm nay, hoặc ngược lại không đưa ra mục tiêu nào cả. Hôm nay Lý Khắc Cường cho biết đó là do sự bất định về diễn tiến của dịch bệnh và trạng huống kinh tế thế giới.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tăng trưởng của Trung Quốc trong năm nay có thể chỉ đạt 1,2%, so với con số chính thức của năm 2019 là 6,1%.(hết trích) http://www.rfi.fr/…/20200524-trung-quoc-tang-truong-kinh-te…
Trung Cộng đeo đuổi nền kinh tế phi thị trường kể từ 1949 đến nay hơn 70 năm. Họ mù quáng tin rằng với đầu óc “trùm thiên hạ” cùng văn hóa hơn 5.000 năm, hoàn toàn có thể điều khiển cả thế giới.
Chết là chỗ đó! Tại sao? Vì phản khoa học, phản tiến bộ và chống nhân loại.
Bởi nền kinh tế phi thị trường luôn phản ánh Ý THỨC HỆ( độc đoán, độc quyền sinh ra => độc tài) trong khi kinh tế thị trường KHÔNG PHẢI LÀ NHƯ VẬY.
Chính đầu óc đó đã tàn phá Trung Cộng nhiều năm qua. Dù kinh tế của họ có lúc thăng trầm nhưng kinh tế phi thị trường luôn bị méo mó trước thực tế sống động và thay đổi liên tục.
Kinh tế phi thị trường luôn có 1 trung tâm điểm (bộ chính trị già nua, chậm chạp, suy nghĩ viển vông…) làm cho toàn bộ nền kinh tế nặng nề, cồng kềnh, vô cùng khó khăn xoay trở trước những biến động của thị trường.
Khi Trung Cộng không còn quan tâm đến những con số hào nhoáng nghĩa là họ đã nhận ra sai lầm (không còn cứu vãn nổi) từ những con số tầm bậy tầm bạ, vốn chỉ nhằm vỗ về cho những giấc mơ hão huyền. Chính những giấc mơ đó đã đẩy họ vào tình thế hiện nay => Bị thế giới xa lánh – tẩy chay – cô lập.
Ngày tàn của Trung Cộng đang được đếm lùi tính bằng không quá… 5 năm!
Mời đọc lại: Có kinh tế thị trường là có tất cả – https://www.rfa.org/…/ReadersOp…/mar-eco-05032019145709.html
Ông trùm truyền thông Hồng Kông Jimmy Lai : Tôi đã sẵn sàng hy sinh cho Tự Do của Hồng Kông

25.05.2020
Cách đây vài giờ, ông trùm truyền thông Hồng Kông Jimmy Lai đã đăng dòng Twitter bằng tiếng anh :
“Bất cứ ai đang tìm cách di cư đến Đài Loan xin hãy ghi nhớ trong tâm trí rằng, máu và nước mắt đã được hy sinh để xây dựng nền dân chủ và tự do của Đài Loan. Đó là hoàn cảnh tương tự mà chúng ta đang phải đối mặt tại #HongKong bây giờ. Đã đến lúc phải hy sinh. Chúng ta đã chuẩn bị hy sinh máu và nước mắt cho tự do trong tương lai của chúng ta chưa ? Tôi đã sẵn sàng !”
I ❤️ Hồng Kông !
“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình
“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”
Vâng, đó là câu nói của nhà văn, nhà báo Phạm Thành khi được mọi người hỏi việc nhà cầm quyền sẽ có bắt ông hay không? Nhiều người phì cười vì câu nói này, nhẹ nhàng hơn thì lắc đầu, im lặng. Tất nhiên, nếu hiểu nghĩa đen, tức là bắt Phạm Thành ngày 21/5, ngày 22 chế độ sụp đổ thì quả là nực cười. Nhưng nếu hiểu ngày hôm sau là một tương lai gần, rất gần thì sao? Đó chưa chắc là điều đáng buồn cười, vì Phạm Thành đã từng có những quả quyết mà rất nhiều người phản đối, cuối cùng đã thành sự thật. Ít nhất chúng ta được chứng kiến hai sự việc mà Phạm Thành đi ngược lại dư luận, trong lúc cao trào, nhưng cuối cùng đã đúng. Việc đầu tiên về MC Phan Anh trong việc kêu gọi giúp đỡ đồng bào lũ lụt miền Trung năm 2016. Khi đó, mọi người tung hô Phan Anh, Phạm Thành đã cảnh báo về việc người dẫn chương trình này nhiều khả năng là chim mồi và sẽ gây ra Scandal thì quả nhiên sau đó vụ việc Phan Anh đã là cú sốc cho rất nhiều người. Nhưng việc thư hai mới là độc đáo.
Chúng ta biết việc ông Nguyễn Phú Trọng đã có chương trình và kế hoạch thăm Hoa Kỳ vào tháng 10/2019 từ cuối năm 2018. Khi đó, những dấu hiệu lạc quan về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ xuất phát từ cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều giữa tổng thống D.Trump và chủ tịch Kim Jong Un được tổ chức tại Việt Nam và những chỉ dấu cho thấy việc xích lại gần nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Một số động thái của Việt Nam khi đó cho thấy có thể có sự xoay trục, tức là Việt Nam tìm kiếm đồng minh từ Hoa Kỳ, như vậy có nghĩa là xa rời Trung Quốc, thoát Trung. Không ít người hi vọng vào điều này, và có lẽ đó là mong mỏi chung của người dân Việt Nam không chỉ lúc đó mà cả hiện nay. Tuy nhiên, nhà báo Phạm Thành đã khẳng định chắc nịch, ông Trọng không thể đi Mỹ và không bao giờ đi Mỹ được! Rất nhiều người dã ngạc nhiên.
Tháng 4/2019, ông Nguyễn Phú Trọng vào Kiên Giang và bị đột quỵ. Việc ông Trọng mắc bệnh đột ngột đã là một sự giật mình về dự đoán của nhà báo Phạm Thành. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều hay nhất.
Ngay sau một thời gian được chữa trị tích cực, ông Nguyễn Phú Trọng đã hồi phục. Tuy sức khỏe suy giảm, nhưng đã xuất hiện trong các cuộc họp bàn quan trọng của đảng và nhà nước chỉ sau đó mấy tháng. Việc đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng lại được hâm nóng trở lại. Cùng với đó là những hi vọng lại được nhen nhóm. Nhưng Phạm Thành lại một lần nữa bác bỏ thẳng cánh việc này. Là người chơi khá thân với nhà báo Phạm Thành, nên tôi đã chứng kiến trong một cuộc gặp, hầu như những người ở đó đều có ý kiến việc ông Trọng đi Mỹ là khả thi, sẽ diễn ra thì Phạm Thành vẫn khăng khăng ông Trọng không thể đi Mỹ! Không ít những vụ cá cược đã xảy ra Phạm Thành một mình một vế.
Cuối cùng như tất cả đều biết, ông Nguyễn Phú Trọng đã không đi Mỹ! Phạm Thành đã đúng! Có thể mọi người cho rằng nhà báo Phạm Thành chỉ đoán mò và may mắn đúng. Nếu như vậy thì sẽ không có gì đáng nói và sẽ không có bài báo này. Anh Phạm Thành giải thích như sau. Ông Trọng muốn đi Mỹ thì bắt buộc phải đồng ý làm đồng minh của Mỹ trước khi đặt chân tới Mỹ. Đối với các đời tổng thống trước, và không phải D.Trump, thì việc ỡm ờ đu dây của Việt Nam có thể được chấp nhận, ông Trọng có thể đi Mỹ thoải mái. Kết quả ra sao không quan trọng lắm đối với một chuyến đi. Nhưng với ông D.Trump thì khác, không bao giờ có chuyện tiếp nguyên thủ quốc gia mà chưa có kết quả rõ ràng. Và như vậy, việc ông Trọng đã không quyết đoán trong việc làm đồng minh với Mỹ thì không thể có chuyện đặt chân tới Mỹ một lần nữa!!!
Qua việc nhận định và dự đoán này, chúng ta thấy sự sắc xảo và chính xác của nhà báo Phạm Thành đối với ông Nguyễn Phú Trọng, đối với tổng thống D.Trump và mối quan hệ Việt – Mỹ. Việc nhìn thấu tâm can tổng bí thư, chủ tịch nước cũng như xuất bản cuốn sách Thế Thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo cũng chính là giọt nước tràn ly dẫn tới việc nhà báo Phạm Thành bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 21/5 vừa qua.
Trở lại với tiêu đề bài báo, với tuyên bố của anh Phạm Thành về việc mình bị bắt chưa chắc đã là một tuyên bố ngông cuồng. Vẫn còn dự đoán của anh Trần Huỳnh Duy Thức về mốc 2020, đó là năm tận của chu kỳ 2010 Vong và 2020 Tận theo cách tính số gian Lục Thất và số gian Thập Phân về chế độ cộng sản Việt Nam (trong bài viết: Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam). Trên thực tế, sự suy giảm của nền kinh tế do đại dịch Covid-19, những đấu đá trước thềm đại hội XIII của đảng cộng sản, cộng với sự phức tạp nảy sinh do thế giới truy cứu trách nhiệm của Trung Quốc về đại dịch sẽ là một thách thức thực sự đối với sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam. Cuối cùng, như lời anh Phạm Thành nói, Anh là hồn thiêng sông núi, động vào Anh là động vào hồn thiêng sông núi, sẽ phải trả giá bằng chính sự tồn tại của chế độ này. Chúng ta hãy cùng chờ xem./.
Hà Nội, ngày 25/5/2020
N.V.B
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2729231453853478&id=100002999510575
Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo
httpv://www.youtube.com/watch?v=7v_XtbSzJe0
TAPS ACROSS AMERICA The National Moment of Remembrance Memorial Day Taps 2020
Nội chiến nước Mỹ và bài học hành xử văn minh của các nhà lãnh đạo
Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. Cuộc nội chiến Nam – Bắc Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 12/4/1861. Bốn năm sau, ngày 9/4/1865, tướng Lee của miền Nam đầu hàng tướng Grant của miền Bắc, đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng, nhưng đáng chú ý hơn cả là hành xử của lãnh đạo hai miền, để lại bài học hòa hợp dân tộc cho cả quốc gia.
Tháng 4 là mốc thời gian đáng lưu ý của lịch sử Hoa Kỳ. (Ảnh qua Tri Thức Mở)
![]()
Ảnh minh họa: Andy Van


Cách đây 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ,
Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: Phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant, nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.
Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Hoa Kỳ
Nội chiến xảy ra trong hai nhiệm kỳ của Tổng Thống Lincoln từ năm 1861 đến 1865 với hai vị tướng chỉ huy sau cùng là Tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc và Tướng Robert E. Lee của miền Nam. Tuy miền Nam với các tiểu bang ly khai bầu ra một Tổng Thống Jefferson Davis nhưng nhân vật anh hùng miền Nam chính là Tướng Lee. Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point.
Tháng 4/1861 khởi chiến Nam Bắc, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân đội miền Bắc nhưng ông không nhận và xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành. Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất thủ, ông đã quyết định đầu hàng.
Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ “Cuốn Theo Chiều Gió” mà chúng ta đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu. Ngay cho đến bây giờ, tác phẩm này vẫn còn là tài liệu được đem dạy ở trường học với sự say mê và hãnh diện của nhiều thế hệ Hoa Kỳ.
Bài học bắt đầu từ việc đầu hàng
Nói về câu chuyện đầu hàng. Sau chiến tranh, nước Mỹ sưu tầm và dựng lên khắp miền Ðông hàng trăm viện bảo tàng. Mỗi tiểu bang ít nhất là một viện bảo tàng. Mỗi trận đánh trên chiến trường xưa cũ với các di tích đều có một viện bảo tàng. Bằng hội họa, nhiếp ảnh, dữ kiện, thêm vào âm thanh ánh sáng, người ta dựng lại lịch sử các cuộc thương thuyết, các cuộc điều binh và các trận chiến ác liệt.
Quân đội hai bên Nam Bắc, quân phục màu xanh, quân phục màu xám, các tướng lãnh, sĩ quan, binh sĩ và dân chúng. Những cái chết đau thương và anh hùng của cả hai bên, những mối tình bất hủ, tràn đầy hình ảnh em hậu phương, còn anh nơi tiền tuyến. Không phải hàng trăm mà có đến hàng nghìn tác phẩm điện ảnh về chiến tranh Nam Bắc. Cả những phim vĩ đại mới ra đời trong vài năm gần đây vẫn còn hình ảnh của cuộc nội chiến ngày xưa. Nhưng có điều lạ là người ta không ca ngợi người chiến thắng là những anh hùng thần thánh để miệt thị người chiến bại miền Nam như những kẻ phản quốc, mà chính những người miền Nam lại ngẩng cao đầu.
Sự thật là vậy, trong hàng trăm bảo tàng viện về Civil War của Hoa Kỳ, thì viện bảo tàng Appomattox Court House ở Virginia là nơi nổi tiếng nhất, vì dựng lên ngay tại một ngôi nhà mà Tướng Lee đã đến ký văn bản đầu hàng năm 1865. Tại đây, câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam lại được viết ra, thậm chí hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.
Lịch sử ghi lại, sáng ngày 9/4/1865, thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui. Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng, ông nói: “Nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần”. Vị danh tướng của Hoa Kỳ trải qua bao nhiêu chiến thắng, nhưng sau cùng vì quân số và tiếp vận bị giới hạn nên đành bất lực chấp nhận thua cuộc. Với lá thư riêng, ông gửi cho Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.
Tướng Grant nhận được thư hết sức vui mừng và nhắn lại, đề nghị tướng Lee có thể chọn địa điểm thương thuyết mà ông muốn. Cuối cùng, căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn (ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House). Đồng thời, vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam bại trận.
Tranh vẽ lại theo bức ảnh chụp thời đó- Tướng Grant (áo sậm) bắt tay tướng Lee (áo xanh nhạt). (Ảnh qua Tri Thức Mở)
Trưa ngày lịch sử 9/4/1865, hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico (cả hai vị tư lệnh đã biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ). Họ đã nhắc lại một thời bên nhau trong quá khứ, câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:
Những binh lính miền Nam sẽ không bị coi là quân đội phản quốc (treason)
Những binh lính miền Nam sẽ không bị đi tù (imprisonment)
Chính phủ không được đụng tới hoặc làm họ phiền hà nếu họ chấp hành tốt luật lệ nơi cư ngụ.
Kỵ binh được quyền mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình họ cày cấy vào mùa xuân.
Binh lính được quyền giữ lại khí giới cá nhân để giúp họ bảo vệ gia đình (nên nhớ là trong hiến pháp Mỹ, mọi người dân được quyền mang khí giới để tự vệ).
Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta”. Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng, ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích binh lính miền Nam.
Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng Lee đồng ý, nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Không phải ngựa của chính phủ cấp như lính miền Bắc. Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản, nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà mà xây dựng lại nông trại.
Hành xử văn minh của những người quân tử
Ngày 12/4/1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí… Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta”.
Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm … Một sự im lặng đến nghẹt thở. Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.
Khi tướng Lee ra về thì tướng Grant và mọi tướng lãnh khác đều đứng nghiêm trang chào. Một điều đáng nói nữa là sau khi chiến thắng, các binh sĩ miền Bắc muốn “ăn mừng chiến thắng”, tướng Grant đã ra lệnh cho mọi người không được ăn mừng (no celebration), ông nói: “Họ bây giờ đã là người dân của mình”. Chính nhờ lời nhắc nhở ấy mà 20 vạn binh miền Nam đã được an lành trở về với gia đình trong sự tôn trọng của những người chiến thắng.
Còn Robert E. Lee, dù đầu hàng nhưng vẫn “ngẩng cao đầu” và không một ai ở phía thắng trận khi nhắc tới ông không tràn đầy thán phục và sự ngưỡng mộ về nhân cách lớn lao trong thất bại của Lee. Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên cùng dồn vào cho cuộc chiến đã gây ra sự phân hóa khắc nghiệt trong bao năm qua, giờ đây cần phải được dùng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù”. Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại.
Tướng Ulysses Simpson Grant
Tướng Robert Edward Lee.
Bài học nghĩa trang và mộ phần của các tử sĩ phe chiến bại tại Hoa Kỳ.
Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng nghìn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận và trên đó luôn luôn có lá cờ gạch chéo đã một thời tung hoành trên chiến trường.
Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.
Nghĩa trang bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay tại nghĩa trang quốc gia của phe miền Bắc ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn có một khu chôn cất tử sĩ miền Nam với tượng đài gọi là Confederate Memorial. Nơi đó thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.
Vết thương nào rồi cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt, họ chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng. Trong chiến tranh và hậu chiến luôn luôn cần có các nhà lãnh đạo, các tướng lãnh quân tử. Và nhà lãnh đạo phải biết xưng tụng các bậc anh hùng trong hàng ngũ kẻ thù, biết nâng người xuống ngựa và biết tôn trọng các tử sĩ của hàng ngũ đối nghịch, chớ không phải phá tan nghĩa trang và đào mồ cuốc mã của người ta như những kẻ tiểu nhân bỉ ổi ở những nước lạc hậu.
Việt Anh (t/h)






