Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương Dòng MTG Vinh || Official MV Thánh Ca
VÌ SAO VIỆT NAM TỤT HẬU SO VỚI NHẬT BẢN?
Bài viết cách đây gần một thế kỷ.
Ngày nay VN đã vượt xa Nhật Bản, chính vì cách mạng đã gột rửa đầu óc bằng cấp. Trí thức VN ngày nay đều là các nhà nhiên cứu, chuyện viên, trên mọi phương diện.

Phan Ngoc Minh is with Le Thai Phong.
Mời các bạn tham khảo bài viết của cụ Phan Khôi viết năm 1937
Nhiều người An Nam hay nói: Nhật Bản là một nước đồng văn với nước ta, họ cũng theo đạo Khổng mạnh, họ cũng là một nước phụ dung văn hóa của nước Tàu như nước mình, thế mà họ duy tân tự cường được đến như thế, còn nước mình ra thế này, đáng lấy làm tức.
Người nào nói như thế là chưa biết rõ nước Nhật Bản. Phải, họ thuở xưa cũng theo đạo Khổng Mạnh, cũng làm một nước phụ dung văn hóa của Tàu như ta thật, nhưng có sự khác nhau lắm trong cái giống nhau ấy.
Người Nhật theo đạo Khổng Mạnh nhưng không theo cái học khoa cử, không bắt chước làm những kinh nghĩ, thi, phú là thứ văn chương vô dụng. Sĩ phu họ không bị những cái bả vinh hoa của cử nhân, tiến sĩ làm mê muội đi. Đầu óc họ thưở nào đến giờ vẫn trong sạch, cho nên khi thấy có Tây học thì họ nhận biết là đáng theo mà theo ngay.
Lại thêm, người Nhật theo văn hóa Tàu mà những cái dở, những sự mê tín của người Tàu, họ không chịu theo. Tức như người Nhật không tin địa lý, quỷ thần, đốt vàng mã. Nhờ đó trong tư tưởng họ không vướng víu những cái tối tăm dơ bẩn để mất thời gian gột sạch đi rồi mới hấp thu cái hay cái tốt được.
Người Việt Nam ta từ triều Trần, triều Lê về sau chỉ biết tôn chuộng cái học khoa cử, là cái học phù hoa vô dụng, làm cho sĩ phu trở nên đui điếc. Đã vậy lại còn mắc nhiều sự mê tín của Tàu đưa qua cho, như là tin phong thủy, bói toán… cùng vô số thứ dị đoan. Hồi triều Tự Đức, nước Nhật đã hăm hở theo Âu Hóa rồi, nhưng người mình thì trong óc còn chất chứa bao cái sự dơ bẩn tối tăm nên cứ thủ cựu mãi mà không làm như họ được.
Nước ta vì thâm nhiễm cái di độc của văn hóa Trung Hoa, khoa cử và dị đoan mê tín nên sự nhận biết về thế giới văn minh phải chậm hơn Nhật 50 năm. Từ ngày bỏ khoa cử thì dân ta có khai thông lên một chút, nhưng bao nhiêu sự hủ bại vẫn còn choán trong tâm trí thành thử không tiến bộ cho nhanh chóng đước.
Bây giờ, lấy việc nước Nhật làm gương ta nên cải cách tinh thần, trên cõi đất ấy còn lắm phen phá hoại và kiến thiết rồi mới toan làm được việc gì.
Theo Phan Khôi, báo Sông Hương, Huế số 32, ngày 27 tháng 3 năm 1937.
Cầu Cho Cha Mẹ 2 – Mỹ Tâm
Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !
Lời Tạ Ơn Cho Một Khuôn Mặt Mới !
http://vietmania.blogspot.com/2015/12/loi-ta-on-cho-mot-khuon-mat-moi-phung.html
- Phùng Annie Kim
David Rodebaugh, tay đua xe máy và Patrick Hardison, người lính cứu hỏa trước khi lâm nạn.
Patrick Hardison hay mọi người thường gọi anh là Pat đang ngán ngẩm vì công việc làm ăn có mòi ế ẩm. Cửa hàng bán vỏ xe hơi trên đường Main của anh không hiểu sao dạo này vắng khách. Nó nằm trong một khu thương mại thuộc thành phố Senatobia. Senatobia gốc là tiếng của người da đỏ “Senatohoba”, dịch sang tiếng Mỹ có nghĩa là “White Sycamore” là thành phố nhỏ thuộc quận Tate về phía Tây Nam tiểu bang Mississippi.
Thành phố Senatobia đang chìm trong cái nắng gắt và cái nóng bức của buổi trưa hè oi ả. Cây cối đứng lặng. Không một ngọn gió. Đường phố và bãi đậu xe thưa thớt bóng người. Người dân sống trong thành phố này đang trốn cái nóng và cái nắng ở trong nhà hay trong những nơi có máy điều hòa không khí. Nhiệt độ mùa này có khi lên đến một trăm mười độ F.. Bỗng tiếng điện thoại reo vang. Pat phóng vội lên xe. Có một đám cháy không xa lắm.
Khi còn học trung học Pat thích ngành cứu hỏa. Nghề buôn bán vỏ xe hơi là nghề tay mặt và là nguồn sinh kế chính của gia đình anh gồm một vợ và năm con từ nhiều năm nay. Anh là một lính cứu hỏa đã nghỉ việc nhưng vì yêu nghề, anh sẵn sàng tự nguyện phục vụ khi Sở Cứu Hỏa cần.Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc trong số hai mươi người trong thành phố tình nguyện làm công việc nguy hiểm và đầy bất trắc này.Anh được thông báo có một căn nhà trong khu “townhouse” đang cháy và anh lúc nào cũng sẵn sàng tham gia việc chữa cháy mà không có một chút thù lao nào.
Khi đội cứu hỏa đến nơi thì ngọn lửa đã bốc cao đến trần nhà phía sau nhà bếp. Người chồng chạy thoát ra ngoài và la lớn rằng bà vợ ông ta còn bị kẹt trong đó. Pat và ba đồng nghiệp đội mũ an toàn, mang mặt nạ chống khói và bộ quần áo bảo hộ đặc biệt của lính cứu hỏa. Từ cửa trước, họ tiến từng bước vào trong, vừa gọi vừa nhìn chung quanh tìm người đàn bà. Bất ngờ trần nhà sụp xuống chỗ Pat đang đứng. Cả một khối lửa chụp vào mặt Pat, bắt vào chất nhựa của chiếc mặt nạ làm chiếc mặt nạ bốc cháy, tan chảy ra cùng lúc với khuôn mặt anh. Trong lúc nguy biến, anh vẫn còn tỉnh táo tìm cách tháo bỏ mặt nạ ra, nín thở và nhắm mắt lại. Hành động này giúp ngăn khói không xông vào cổ và phổi đồng thời bảo vệ được đôi mắt. Tháo bỏ chiếc mặt nạ cũng là lúc sự đau đớn từ khuôn mặt cháy đen, nóng rát và biến dạng lan đến toàn thân làm anh mờ mắt, lảo đảo. Anh quỵ xuống trong tay của những người bạn đồng nghiệp. Họ kéo anh ra khỏi ngôi nhà trong tình trạng sức khỏe thật là tồi tệ.
Đó là ngày năm tháng chín năm hai ngàn lẻ một, “ngày định mệnh”của người lính cứu hỏa hai mươi bảy tuổi vì khuôn mặt của anh từ nay không còn là khuôn mặt của một con người bình thường.
Khuôn mặt Patrick bị tàn phá.
Pat được đưa vào bệnh viện chữa trị suốt sáu mươi ba ngày với nhiều cuộc giải phẫu. Anh đã mất hai tai và môi, cái mũi chỉ còn là miếng xương và mô mí mắt không còn khiến anh không thể nhìn rõ được. Nếu để lâu, anh có thể bị mù. Anh không dám nhìn mình trong gương. Một khuôn mặt đáng sợ, khuôn mặt của loài ma quái đã làm cho ba đứa con nhỏ của anh Alison, Dalton và Averi khóc thét lên khi nhìn thấy bố từ bệnh viện trở về.
Anh tâm sự làm sao trách được các con khi anh nhìn anh trong gương, anh cũng sợ…chính mình. Cái đầu trọc lóc, hai bên trơn tuột không có lỗ tai, đôi mắt nhỏ như hai cái lỗ, không có mí mắt trên, hấp háy và ti hí như mắt của loài kỳ nhông, cái miệng phẳng lì, méo mó, không có môi, cái mũi trơ xương nhọn hoắt. Kinh khủng nhất là những lớp da biến dạng, nhăn nhúm, chảy xệ xếp lớp trên mặt làm mặt anh thật đáng sợ.
Anh kể anh đã tìm cách đùa giỡn với chúng, kể chuyện về những con gấu anh đã đánh nhau với gấu nhưng chúng vẫn bỏ chạy, la hét và khóc ầm ỹ. Những giọt nước mắt của các con, của vợ anh cũng chính là những giọt nước mắt rơi từ hai cái lỗ nhỏ bất hạnh ấy để rồi có những lúc quá đau khổ anh đã muốn “Thà chết đi cho rồi”!. “Sống như thế không phải là đời sống”.
Trong vòng bảy năm sau đó, Pat đã trải qua liên tục bảy mươi ba ca phẫu thuật lớn nhỏ. Các bác sĩ đã dùng mô thịt và da đùi để tái tạo lại khuôn mặt gồm miệng, mũi và mí mắt nhưng cũng không thể làm cho khuôn mặt Pat trở nên bình thường. Một người bạn thân đau lòng trước sự đau đớn hành hạ thể xác Pat, sự mặc cảm trước đám đông và từ chối không muốn gặp ai, cuộc hôn nhân kéo dài được mười năm đến nay đã kết thúc, tâm lý bị các con ghê sợ và tránh xa, lại thêm chứng nghiện thuốc giảm đau và công việc kinh doanh bị trở ngại đã khiến cho người bạn này viết thư cho tiến sĩ Eduardo Rodriguez, người y sĩ tài năng đã thực hiện ca phẫu thuật cấy ghép mặt thành công năm hai ngàn lẻ hai tại Đại học Trung tâm Y Tế Maryland. Pat cầu xin sự giúp đỡ của ông, một cơ hội để đưa anh trở về đời sống bình thường. Nhận được thư, tiến sĩ Rodriguez hứa sẽ cố gắng hỗ trợ trường hợp của Pat và đưa anh vào danh sách chờ đợi vào tháng tám năm hai ngàn lẻ bốn.
Và Bác sĩ gốc Cuba Eduardo Rodriguez, người đạt kỳ tích.
Mười năm chờ đợi ca mổ, mười bốn năm sống trong đau khổ và gần như tuyệt vọng vì nổi bất hạnh, người khác có thể đã bỏ cuộc nhưng đối với Pat, anh đã có những đức tính cần thiết như can đảm, kiên nhẫn, sự tận tụy, trách nhiệm, niềm tin và hy vọng. Bác sĩ Rodriguez đã nhận xét Pat là một bệnh nhân được tuyển chọn hoàn hảo, một “ perfect candidate” thích hợp để thực hiện ca mổ phức tạp này.
Con đường thực hiện ca mổ này đòi hỏi Pat phải trải qua nhiều cuộc thí nghiệm, bảo đảm Pat sẵn sàng về tâm lý và thể chất nhưng vấn đề quan trọng nhất là phải tìm người hiến tặng các bộ phận thích hợp với cơ thể của Pat. Một người gốc Á châu, một phụ nữ, đợi đến người thứ ba là David Rodebaugh sống ở Brooklyn New York mới đúng là người mà bác sĩ hài lòng.
David hai mươi sáu tuổi, làm nghề thợ máy, một tay đua xe gắn máy đã từng thắng nhiều giải thưởng, có máu giang hồ, có cùng loại máu, loại tóc, màu da, cấu trúc xương, cân nặng phù hợp với cơ thể của Pat. David lái xe gắn máy tránh một người phụ nữ trên đường làm anh ta ngã xuống. David không đội mũ bảo hiểm nên đầu đập mạnh trên đường. Bác sỹ đã mổ David hai lần nhưng David bị hôn mê, rơi vào đời sống thực vật. Gia đình đã đồng ý rút ống thở để David ra đi. Theo ý nguyện của David để lại, anh hiến tặng toàn bộ cơ thể cho chương trình “Live-On NY” hay còn gọi là “The New York Organ Donor” trong đó có khuôn mặt của David dành cho Pat.
Tiến sĩ Eduardo Rodriguez khoa trưởng trung tâm y khoa Langone của trường đại học New York bắt đầu ca mổ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng ngày mười bốn tháng tám với một đội ngũ bác sĩ giỏi và y tá chuyên nghiệp gồm một trăm người.
Bốn mươi tám tiếng đồng hồ trước khi mổ, khuôn mặt David phẳng và dẹp, hai bên lỗ tai có xiên lỗ và có một cái sẹo hình móc câu ở sọ trong ca mổ trước đây. Lát nữa đây, khuôn mặt này sẽ được bàn tay khéo léo của bác sĩ Rodriguez tách ra khỏi hộp sọ và nổi lềnh bềnh trong một thau có dung dịch lạnh pha chất dùng để bảo quản cho cho sự tuần hoàn máu (hemodynamic preserving solution). Nó không còn là của David. Nó cũng chưa thuộc về Pat.
Khi các bác sĩ khám nghiệm và tuyên bố rằng bộ não đã chết, bác sĩ Rodriguez lạng da đầu của David từ phía sau đến hai bên mang tai rồi vòng qua mũi. Thủ thuật tinh xảo và tài năng của vị bác sĩ người xứ Cuba này là làm thế nào cắt các mô “tissue” mà vẫn giữ được các sợi thần kinh, các bắp thịt, hai động mạch cổ đưa máu từ tim đến các bộ phận như đầu, óc, mặt, cổ (carotid arteries) và hai tĩnh mạch cổ đưa máu từ đầu về tim. (internal jugular veins).
Trong khi tiến hành phẫu thuật, một sự trục trặc bất ngờ xảy ra đó là tĩnh mạch cổ của David lớn hơn của Pat làm Pat bị chảy máu nhiều. Bác sĩ Rodriguez phải làm một thủ thuật đưa tĩnh mạch vào một cái lỗ được khoét thật nhỏ trên cạnh động mạch của Pat để cho máu chảy vào tĩnh mạch này làm cho máu ngưng chảy.
Hai phòng mổ cạnh sát nhau. Pat nằm trong phòng mổ phía bên kia trong tình trạng mê sâu. Anh không biết rằng khuôn mặt mới của David đang trên đường di chuyển. Bác sĩ Rodriguez đeo bao tay, ông chậm rãi nhúng sâu vào dung dịch có máu đỏ, lấy khuôn mặt ra khỏi cái chậu, vẫy nhẹ cho máu nhỏ xuống hết rồi ông nghiêng mặt nhìn lên ống kính chụp hình. Khi giơ cao trước máy chụp hình, khuôn mặt hình như phồng to hơn. Nó không còn là khuôn mặt của David nữa. Cái trán hẹp hơn. Hai gò má phình to hơn. Hai cái môi xệ xuống như đang mỉm cười. Bác sĩ Rodriguez và các bác sĩ phụ tá đều biết công việc mình phải làm. Họ nâng khuôn mặt của David đặt lên trên khuôn mặt của Pat. Họ cắt bỏ các vết sẹo, nối lại các mạch máu và giây thần kinh, sắp xếp lại các xương mặt, phục hồi hai mí mắt, điều chỉnh lại hai môi, sau đó “drapping” phủ lớp da trên mặt Pat như người ta trải chiếc khăn trải giường.
Khuôn mặt mới.
Hai mươi sáu tiếng đồng hồ làm việc căng thẳng. Từ khi chuẩn bị trước khi mổ, tiến hành làm phẫu thuật, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sau ca mổ, số tiền chi phí lên tới con số từ tám trăm năm chục ngàn đến một triệu đồng. Số tiền này được trường đại học tài trợ. Đây là ca mổ tốn tiền nhất từ trước đến nay. Đó cũng là ca mổ phức tạp mất nhiều thời gian và có số bác sĩ và y tá tham gia đông nhất.
Trở lại ngành y khoa chỉnh hình, các ca mổ lớn cấy ghép mặt thành công và nổi tiếng trên thế giới trong vòng hơn mười năm nay đếm trên đầu ngón tay như năm hai ngàn lẻ một, bà Connie Culp, bốn mươi sáu tuổi bị chồng bắn. Năm hai ngàn lẻ năm, bà Isabelle Denoire ba mươi tám tuổi, người Pháp bị chó cắn. Năm hai ngàn mười, Oscar Wells ba mươi mốt tuổi bất ngờ lỡ tay tự bắn vào mặt. Năm hai ngàn mười một, Dallas Wiens, hai mươi tuổi làm nghề xây dựng bị phỏng vì điện giật… Đánh giá về sự thành công ca mổ của Pat, bác sĩ khoa trưởng trường đại học y khoa Robert Grossman nói: “ Đây là cái mốc chính và cũng là sự đóng góp quan trọng và to lớn về sự tiến bộ trong lãnh vực khoa học và ngành y khoa”.
Điều lo ngại nhất của giới y sĩ trong việc tiến hành phẫu thuật thay hoặc ghép các bộ phận đó là cơ thể chống lại sự tiếp xúc với các tế bào lạ.Trong vòng ba tháng theo dõi, bệnh nhân phải dùng một loại thuốc đặc trị chống lại sự đào thải các bộ phận cấy, ghép trong cơ thể.Theo thống kê, cứ ba trong năm trường hợp thay hay cấy, ghép, bệnh nhân chết vì các bộ phận mới không thích hợp này.
Da là bộ phận lớn và bảo vệ cơ thể. Nó là người lính đầu tiên và mạnh nhất chống lại bệnh tật và các vi trùng xâm nhập. Vì thế sau sáu tháng theo dõi và uống thuốc cho đến suốt đời, cơ thể Pat càng ngày phục hồi khá hơn. Pat có thể ăn được thức ăn bình thường mặc dù nói chưa rõ. Các vết sưng đỏ ở mặt xẹp và tan dần. Pat có thể đội mũ lưỡi trai, đeo kính râm, đeo tai giả đi mua sắm trong cửa hàng Macys mà không bị ai dòm ngó hay để ý về sự khác lạ trên khuôn mặt mới. Một khuôn mặt bình thường như những khuôn mặt của những người chung quanh được xã hội chấp nhận.
Sau đây là những lời tâm sự của Pat trong ngày lễ Thankgivings.
Sau ca mổ ngày mười bốn tháng tám năm hai ngàn mười bốn thành công, mỗi buổi sáng thức dậy, tôi tập một thói quen đó là đứng trước gương, tôi nhìn tôi trong gương với tất cả sự nhận biết từng cử chỉ và hành động mình đang làm. Tôi lấy tay xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má bầu bĩnh và toàn khuôn mặt tròn trịa với tất cả sự trân trọng. Cảm giác trơn láng, nhẵn nhụi, mịn màng của màu da trắng làm tôi liên tưởng đến một người, hơn cả một người bạn, một ân nhân, người cứu rỗi đời tôi: David Rodebaugh. Anh đã cho tôi làn da này.
Mỗi khi tôi xoa nhẹ và chậm rãi trên đôi má dọc theo hai bên thái dương, dưới cằm rồi vòng lên trên môi, hai tay tôi có cảm giác nham nhám, thô tháp, tôi biết rằng đó là những tế bào của những sợi râu quai nón và râu mép đang hoạt động. Chúng đang nhú dần từng ngày dưới làn da như những đóa hoa từ từ hé nụ. Chúng sẽ mọc dài ra rất nhanh, có sợi dài sợi ngắn và màu nâu đen. Đó là những sợi râu mạnh khỏe, đầy sức sống của David đang sống dậy trong làn da này và trên khuôn mặt tôi. Tôi không có râu quai nón. Đó là những sợi râu của người đã hiến tặng: David Rodebaugh.
Mỗi khi tôi nhìn đôi mắt tôi trong gương với hai lằn mí rất rõ làm cho đôi mắt càng ngày càng mở to ra sau khi hết sưng. Trên đôi mắt là cặp lông mày mọc khá dầy và có màu nâu đen cùng với màu của những sợi râu, tôi có cảm tưởng đôi mắt David đang nhìn và cười với tôi như muốn nói rằng sao chúng ta trông giống nhau thế hả anh bạn Pat?
Tôi thường ôm những đứa con tôi và hôn chúng trước giờ đi ngủ. Đôi môi của tôi màu hồng, hình giống như chiếc thuyền, có một nhân trung rất sâu ở chính giữa, môi trên mỏng hơn môi dưới. Khi môi tôi chạm trên đôi má mịn màng của những đứa trẻ, tôi có cảm giác đôi môi ấy mềm, láng, ngọt ngào của tình yêu thương. Khi David còn sống, tôi nghĩ rằng đôi môi yêu thương ấy đã từng hôn lên những đôi môi của nhiều người con gái trong cuộc đời của David, chàng thanh niên đẹp trai và lãng tử đã cho tôi một đôi môi đẹp và gợi cảm hơn cả đôi môi của tôi trước kia.
Tôi với David bây giờ là một. Chúng tôi có trong nhau. David không còn sống nhưng mẹ anh người phụ nữ tốt bụng đã đồng ý ký tên hiến tặng khuôn mặt David cho tôi. Khi đến thăm và nhìn khuôn mặt tôi, bà tưởng đã nhìn thấy con trai bà. Bà cảm động ôm tôi khóc òa và nói với tôi rằng: “Phép lạ của David sẽ sống mãi” (The miracle of David will live on).
Đúng như thế. Khuôn mặt của tôi là một “phép lạ” mà đứa con bất hạnh của bà đã ban cho một người đã chịu nỗi bất hạnh suốt mười bốn năm qua. Hạnh phúc của tôi bây giờ là sự bất hạnh vĩnh viễn của bà. Tôi không biết dùng lời lẽ nào để chia sẻ sự đau khổ của bà mẹ mất con cũng như tôi cũng không biết diễn tả thế nào về niềm hạnh phúc của người được xã hội chấp nhận là một con người. Sau tai nạn, trải qua nhiều sự đau đớn về thể xác và tâm lý, giữa sống và chết, hạnh phúc và đau khổ, được và mất… đối với tôi bây giờ cũng chỉ là những ảo ảnh của cuộc đời.
Người thứ ba tôi muốn nhắc đến với tất cả lòng biết ơn cùng với lòng kính mến, nể phục về tài năng và đạo đức của người y sĩ trong ngành y khoa đó là bác sĩ Eduardo Rotriguez. Khuôn mặt hiến tặng của David nếu không có đôi bàn tay khéo léo, tấm lòng nhân hậu, sự nhiệt tình và bộ óc siêu đẳng của ông trong nghề nghiệp chuyên môn, tôi sẽ tiếp tục sống trong cõi địa ngục trần gian đến cuối đời. Từ sự tuyệt vọng vì chờ đợi ca ghép mặt suốt mười năm quá lâu, ông đã an ủi tôi “Dont let you down”. Từ sự bi quan, ông cho tôi phân nửa sự lạc quan và sự thật “ It could give you a normal face or could kill you”.
Từ sự đau đớn về thể xác, ông cho tôi niềm tin rằng sẽ có những viên thuốc mới sẽ làm cho tôi vượt qua cơn nghiện. Ông theo dõi sát cơ thể tôi từ khi có đủ những điều kiện tiến hành ca mổ, khi tôi nằm trên bàn mổ cho đến sáu tháng sau ca mổ với ánh mắt lúc nào đăm chiêu và nghĩ ngợi sau mỗi lần khám bệnh hàng ngày.
Thế rồi một hôm, ông mời tôi cùng đi mua sắm với ông trong khu Macys. Tôi rất ngạc nhiên vì lời đề nghị này. Tôi và ông đi lang thang một lúc lâu, trong lòng nghĩ rằng ông đang cần tìm mua những chiếc áo sơ mi mới. Ông quan sát mọi người qua lại. Không ai quay lại nhìn hay quan tâm gì đến tôi cả. Ông nói ông muốn chứng kiến tận mắt hình ảnh xã hội đời thường chấp nhận tôi như thế nào. Khi nghe ông nói đến câu này, tôi đã bật khóc.
Trên đường về, ông khen tôi “You are special”. Tôi nói chính ông mới là người xứng đáng “You are special”?
Vài ngày sau tôi được ông trực tiếp đến tận giường bắt tay, ôm tôi và báo cho tôi biết tôi sẽ được xuất viện sau sáu tháng chữa trị. Nụ cười của ông lúc ấy thật rạng rỡ. Bệnh viện đã chụp rất nhiều tấm hình tôi trong ca mổ để theo dõi và làm tài liệu nhưng bức hình đẹp nhất sau mười bốn năm chạy trốn hình ảnh mình trên ống kính đó là tôi được chụp với ông trong buổi lễ chia tay và với những người đã từng gắn bó với tôi trong bệnh viện. Ông đã tạo nên một kỳ tích trong lịch sử y khoa ngành cấy ghép mặt ở xứ Mỹ và mãi mãi là thần tượng của tôi.
Ngoài ra, tôi muốn gửi những lời cám ơn đến đội ngũ các bác sĩ phụ tá bác sĩ Rodriguez và những người y tá mặc quần áo, đội mũ xanh làm việc âm thầm bên cạnh bác sĩ Rodriguez. Đó cũng là những chiếc áo trắng đi lại vội vã trên hành lang hay cắm cúi làm việc trong các phòng hành chánh, các phòng thí nghiệm, những người lao công, gác cổng, các sinh viên tập sự vô danh và rất nhiều người trong bệnh viện biết đến bệnh nhân Pat. Họ đã chăm sóc công việc vệ sinh, miếng ăn thức uống, chia sẻ từng viên thuốc, từng mũi kim chích trong những tiếng rên la vì đau đớn của tôi. Làm sao tôi kể cho hết còn biết bao nhiêu con người đóng góp cho quỹ học bổng của sinh viên trường đại học “the University Grant” đài thọ cho ca mổ này.
Cuối cùng tôi muốn cám ơn đến mái gia đình nhỏ của tôi. Các con tôi Cullen, đứa lớn đã vào đại học. Cullen và Brandon ngày đó chỉ đứng xa mà nhìn bố với ánh mặt sợ hãi. Còn ba đứa kia Dalton, Averi và Alison chắc đã quên hình ảnh chúng khóc thét lên và bỏ chạy khi thấy khuôn mặt của bố. Bây giờ chúng đã ôm tôi và cho tôi những nụ hôn nồng ấm như ôm hôn mẹ của chúng.
Cuối cùng, tôi muốn cám ơn Chrissi, người vợ cũ của tôi. Chrissi đã mệt mỏi vì phải chia sẻ bệnh tật của tôi rất nhiều trong mười năm qua nhưng sự chịu đựng của người phụ nữ có giới hạn. Cô ấy còn trẻ và cần có một sự thay đổi. Mặc dù hạnh phúc chỉ kéo dài có mười năm nhưng cô ấy vẫn còn trách nhiệm với các con của tôi. Với tôi, thế là đủ lắm rồi. Dù sao, cô ấy với tôi vẫn còn là tình bạn. Năm đứa con tôi vẫn là chiếc cầu nối giữa bố mẹ chúng.
Khuôn mặt mới. Cuộc đời mới. Niềm tin và hy vọng mới. Ngày lễ Thankgivings năm nay tôi muốn gửi một thông điệp đến mọi người thân yêu của tôi rằng trong những lúc tối tăm nhất của cuộc đời vẫn còn một tia sáng lấp lóe ở cuối đường hầm. Hãy bám víu lấy chút ánh sáng mong manh ấy và kiên nhẫn chờ đợi. Ánh sáng ấy sẽ có lúc lan tỏa và bừng sáng khi mình vượt qua được khúc quanh cuối đường. Tôi đang choáng ngợp đón nhận những tia sáng lấp lánh ấy. Đó là niềm vui đã trở lại trong trái tim tôi.
Ý tưởng này tôi học từ bác sĩ Eduardo Rogriguez, người ơn suốt đời và cũng là người đã cho tôi khuôn mặt mới.
Phùng Annie Kim
DANH DỰ và PHẨM CÁCH DÂN TỘC
Tích Lê Văn
Năm 1905, cụ Phan Bội Châu cùng một số đồng chí của Cụ ( Cụ Tăng Bạt Hổ và cụ Đặng Tử Kính ) tìm đường sang Nhật Bản để cầu viện, cứu quốc. Đến ga tàu hỏa Tokyo, các cụ muốn tìm đến nơi ở của một người quen là Ân Thừa Hiến để tạm tá túc. Cụ Phan gọi một người phu kéo xe đến, nhưng ông ta không biết chữ, vội đi tìm một người khác biết chữ tới gặp nhóm khách Việt Nam. Cứ theo địa chỉ cụ Phan viết ra, người kéo xe đưa cả đoàn tới nơi, nhưng Ân Thừa Hiến không còn ở đó nữa.
Đang lúc cụ Phan bối rối vô cùng thì người phu xe Nhật Bản bảo cả nhóm chờ rồi tự mình đi tìm địa chỉ ông Ân Thừa Hiến. Suốt từ 2 giờ chiều, đến 5 giờ chiều thì ông ta quay lại, hớn hở báo tin rằng đã tìm thấy địa chỉ, rồi kéo xe đưa Phan Bội Châu và những người khác đến nơi. Rồi ông ấy hỏi xin hai hào rưỡi (0,25 Yên) tiền kéo xe.
Cảm phục, biết ơn và cũng muốn đền đáp công sức của người phu xe, Phan Bội Châu cảm tạ và xin trả ông ấy 1 đồng. Người phu xe kiên quyết từ chối. Và để an lòng nhóm cụ Phan, ông ấy nói:
“Chiếu theo quy luật Nội vụ sảnh đã định, thì từ ga Đông Kinh đến nhà này giá xe chỉ có ngần ấy. Và lại ý ta nghĩ các người là người ngoại quốc, yêu mến nước Nhật Bản mà đến, vậy nên ta hoan nghênh các người, chứ không phải hoan nghênh tiền đâu. Bây giờ các người cho tiền quá lệ, thì là khinh bạc người Nhật Bản rồi đó.”
Sau này Phan Bội Châu nhớ lại, cụ viết:
“Chúng tôi nghe lời ấy, từ tạ anh ta xong, mà tự nghĩ càng thêm tủi. Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta, xem với người phu Nhật Bản chẳng đáng chết thẹn lắm hay sao!”
(Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 6, Nxb Thuận Hóa, 2000, tr. 153-154.)
ĐÓ LÀ CHUYỆN CỦA GẦN 115 NĂM VỀ TRƯỚC.
Còn hôm nay, ở nước ta, giữa thế kỷ 21 này, một gã lái xe xích lô tên Phạm Văn Dũng (48 tuổi) ở Tp. Hồ Chí Minh đã thừa cơ lừa đảo, thu của một cụ già người Nhật Bản tên là Oki Toshiyuki (83 tuổi) 500.000 đồng cho 1 cuốc xe khoảng 5 phút. Dã man hơn, khi cụ già ngoại quốc trả tiền, hắn còn chộp ví, cướp đoạt thêm của cụ 2.400.000 đồng nữa.
Thật là khốn nạn, đê tiện hết chỗ nói.
Nhưng chuyện đó, dù có tệ, cũng chưa thấm vào đâu so với chuyện ở Hà Nội.
Cả nhóm chuyên gia Nhật Bản lội xuống dòng sông Tô Lịch, bất chấp nắng mưa, ô nhiễm dầm mình để thí nghiệm, tìm cách ứng dụng công nghệ cao để làm sạch dòng sông thiêng giữa lòng Thủ đô.
Thế mà nhân danh “đúng quy trình”, người ta xả nước vào sông giữa lúc thí nghiệm chưa xong. Khi bị chất vấn còn cãi nhem nhẻm, rằng “đúng quy trình”, “bất khả kháng” vv…
Nếu có lương tâm, trách nhiệm, sao trước khi xả nước, họ không thảo luận kĩ với nhóm chuyên gia Nhật?
Sao họ không tìm giải pháp khác???
Nói như cụ Phan hơn 114 năm trước: Thật đáng chết thẹn lắm!
Cụ Phan ơi! Hơn 100 năm trước, cụ đã mượn lời người khác để mắng mỏ dân tộc mình: “dã man quen thói ngu hèn”.
Cụ mắng thế là mong cho người mình thấy hổ thẹn mà sửa mình để lớn lên, sao cho xứng với nhân quần thế giới. Nhưng đã hơn 100 năm qua rồi, dân tộc mình vẫn thế.
….
Hổ thẹn lắm cụ Phan Bội Châu ơi!
Kính gửi tới ông Oki Toshiyuki : toàn dân Việt Nam chúng tôi thành thật xin lỗi ông.
——-
nguồn fb Phạm Tứ Kỳ

KHƠI LẠI VẾT THƯƠNG




Nguồn: Fb Bong Lau
KHƠI LẠI VẾT THƯƠNG
Đêm nay người biểu tình “Black Lives Matter” kéo đổ pho tượng của Tướng Albert Pike rồi tưới xăng đốt pho tượng đã đứng trên bệ đá hơn 100 năm qua.
Đây là pho tượng của vị Tướng quân đội Liên Minh miền Nam duy nhứt ở thủ đô Washington. Cảnh sát chỉ đứng quan sát và không có phản ứng. Hình như họ được lịnh không can thiệp.
Có lẽ người biểu tình không biết nhiều về Albert Pike. Hễ những ai có liên hệ tới quân đội Liên Minh Confederate là đạp đổ.
Albert Pike là nhà thơ và nhà văn nổi tiếng. Ông còn là nhà báo và sau trở thành luật sư. Sinh trưởng ở miền Bắc, thành phố Boston, Massachusetts nhưng ông bỏ đi giang hồ về miền viễn Tây Hoa Kỳ sống bằng nghề săn bắn và buôn bán. Nhờ lưu lạc ở miền Tây Nam Hoa Kỳ ông có liên hệ mật thiết với các bộ lạc da đỏ.
Trong cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ, Albert Pike chỉ huy một đơn vị kỵ binh lập được nhiều chiến công và được vinh thăng cấp bực đại úy.
Sau chiến tranh Albert Pike dọn về miền Nam ở thành phố New Orleans hành nghề luật sư binh vực quyền lợi cho các bộ lạc da đỏ chống lại chính quyền Liên Bang (Union).
Trước cuộc nội chiến năm 1861, Albert Pike quan niệm rằng nếu chính quyền Liên Bang không đối xử bình đẳng với miền Nam mà coi họ là công dân hạng nhì thì miền Nam sẽ đứng ngoài Liên Bang Hoa Kỳ.
Chiến tranh bùng nổ, Albert Pike được thăng chức thiếu tướng. Trong đạo quân của ông có những đơn vị kỵ binh da đỏ do ông huấn luyện.
Về sau Albert Pike bất đồng ý kiến với cấp chỉ huy và ông viết thơ lên cấp cao hơn tố cáo cấp chỉ huy của mình. Ngược lại Albert Pike bị vu khống biển thủ tiền của quân đội Liên Minh và để binh sỹ da đỏ của mình cắt da đầu tù binh Liên Bang.
Ông bỏ trốn. Về sau bị bắt và bị xử tội bất tuân thượng lịnh và tội phản quốc. Albert Pike xin từ chức và được trả tự do. Ông qua đời ở Washington năm 1891 thọ 81 tuổi.
Tiểu sử của Thiếu Tướng Albert Pike không thấy nói ông đối xử xấu với nô lệ da đen. Không những vậy ông có một quá trình binh vực quyền lợi cho người thiểu số da đỏ. Ông còn hứa hẹn nếu miền Nam chiến thắng người da đỏ sẽ có một quốc gia riêng biệt.
Những phần tử cực đoan của phong trào Black Lives Matter đã đạp đổ tượng của ông chỉ vì ông là Tướng của quân đội miền Nam. Họ không muốn biết ông đã bị quân đội này kết án phản quốc.
Những kẻ cực đoan ngu tối này còn trùm quốc kỳ Mỹ lên đầu tượng của Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên là George Washington ở Portland – Oregon tẩm xăng đốt rồi kéo đổ tượng đài một vị anh hùng lập quốc. Chỉ vì ông từng là một đại điền chủ có nuôi nô lệ da đen trong nhà.
Sau cuộc nội chiến những người lãnh đạo Hoa Kỳ thời ấy đã biết xây dựng tinh thần đoàn kết hòa hợp hòa giải nên không đả phá các biểu tượng của quân đội miền Nam.
Giờ đây phong trào đập phá các biểu tượng của quân đội miền Nam nói riêng và lịch sử Hoa Kỳ nói chung đã xé rách lại vết thương nội chiến trong quá khứ.
Các lãnh đạo của đảng Dân Chủ vẫn im lìm không lên án các hành động quá khích cực đoan như vậy mà có người còn cổ súy nữa. Họ cho rằng phải đạp đổ quá khứ để xây dựng sự bình đẳng cho người da màu.
Họ đã sai lầm vì đạp đổ các tượng đài sẽ không mang lại sự bình đẳng. Sự bình đẳng phải được xây dựng bằng cung cách sống của mỗi công dân.
Sự tàn phá ấy chỉ đào thêm hố sâu chia rẽ vì những người Mỹ da trắng ở miền Nam sẽ cảm thấy bị xúc phạm và đe dọa. Rồi những người cực đoan da trắng sẽ phản công. Những hình tượng của danh nhân da đen, nhà thờ, trường học và chính người da đen sẽ trở thành mục tiêu của sự trả thù.
Những chính khách Mỹ ngây thơ hoặc cố tình thúc đẩy một cuộc cách mạng văn hóa xóa bỏ lịch sử quốc gia. Hãy đến Việt Nam học tập kinh nghiệm “hòa hợp hòa giải” của nhà nước Việt Cộng. Đến để biết các tượng đài nghĩa trang của quân đội miền Nam đã bị đập phá không được tôn trọng, và kết quả sau hơn 40 năm “thống nhứt” sự phân biệt kỳ thị Nam Bắc vẫn ngùn ngụt trong lòng người.
TUYẾN ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA ĐỘC ĐÁO Ở ĐÀ LẠT VÀ CÁI SỰ “LUÔN SÁNG SUỐT” CỦA NHỮNG NGƯỜI CS.





TUYẾN ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA ĐỘC ĐÁO Ở ĐÀ LẠT VÀ CÁI SỰ “LUÔN SÁNG SUỐT” CỦA NHỮNG NGƯỜI CS.
Tối hôm qua 17/06/2020, trên kênh VTV1 chuyên mục VTV travel phát sóng chương trình giới thiệu du lịch Đà Lạt, có nhắc đến tuyến đường sắt nổi tiếng ở đây. Nhắc, nhưng không dám nói hết, nói rõ cho tỏ tường số phận buồn của tuyến đường sắt độc đáo đó sau năm 1975.
Trước năm 1975, ở Việt Nam có một tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt – Tháp Chàm huyền thoại do người Pháp xây dựng từ thời Pháp thuộc, là một trong hai tuyến đường sắt răng cưa leo núi của thế giới: Một của Việt Nam và một của Thụy Sĩ.
Sau năm 1975, chính quyền đã cho tháo dỡ các thanh ray và tà vẹt của tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này để sử dụng vào việc sửa chữa tuyến đường sắt Bắc-Nam, mặc cho các chuyên viên kỹ thuật hỏa xa ra sức can ngăn bởi chúng được chế tạo đặc biệt (có lỗ đặt ốc vít để gắn các thanh thép răng cưa), nếu tháo đi thì sau này sẽ không thể tìm đâu ra để lắp lại.
Chưa dừng lại đó, họ còn tháo dỡ các cây cầu để lấy sắt, chỉ còn những mố cầu trơ trụi. Còn các đầu tàu hơi nước cổ chuyên dụng dùng để leo đèo trên đường sắt răng cưa ư? Họ cũng đem bán cho một doanh nghiệp của Thụy Sĩ với giá sắt vụn, chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại.
Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).
Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại vô minh sau năm 1975.
(Bài và hình của fb Lê Quang Huy).
Úc thông báo bị tin tặc có chỉ đạo của một Nhà nước tấn công
Úc thông báo bị tin tặc có chỉ đạo của một Nhà nước tấn công
Tình hình nghiêm trọng đến mức thủ tướng Scott Morrison đã cho triệu tập cuộc họp báo khẩn để thông tin đến toàn dân về mối « nguy hiểm đặc biệt ». Ông Morrison khẳng định một chiến dịch tin tặc rộng…
Nghị viện EU thông qua nghị quyết kêu gọi kiện Trung Quốc về luật an ninh Hồng Kông – Trí Thức VN
Nghị viện EU thông qua nghị quyết kêu gọi kiện Trung Quốc về luật an ninh Hồng Kông – Trí Thức VN
Nghị viện EU hôm 19/6 đã thông qua nghị quyết không ràng buộc khuyến nghị EU và các quốc gia thành viên kiện Trung Quốc về luật an ninh Hồng Kông.
Hồi ký của Hà Nguyên Phổ
Hồi ký của Hà Nguyên Phổ
Tặng Văn Quang, Ngự Thuyết,Lại Đình Cẩn, Nguyễn Vũ Trường-Sơn…
Xin gửi đến các anh Phan, Nguyển Mạnh Trinh, những người mà tôi chưa hề quen biết…
Xin chân thành cám ơn các anh Nguyển Thượng Vũ, Nguyễn Gia Tường đã cung cấp rất nhiều tài liệu và dữ kiện cho bài viết này.
Tôi sinh ra ở Huế, “người miền giữa,” vì lêu lổng ham chơi nên bị “lưu đày” vào nội trú ở trường trung-học Yersin, Đà lạt từ năm 12 đến năm 18 tuổi.Tôi chỉ được sống ở Saigon vỏn vẹn 8 năm khi theo học “trường thuốc” ở đây(sinh-viên Y khoa chỉ cần bảy năm là tốt nghiệp thành đốc- tờ rồi, nhưng vì tôi muốn học cho kỹ nên mới phải tốn đến tám năm). Tám năm trôi qua nhanh, thấm thoắt như thoi đưa. Và cùng với tôi, Saigon trãi qua bao nhiêu biến động, từ những vụ biểu tình xuống đường của sinh viên-học sinh,những lần đảo chánh thành công hay thất bại, những vụ tự thiêu,những đêm giới nghiêm thiết quân luật. Saigon bị bóp mũi, bịt miệng, chỉ ú ớ tiêng xe tuần của cảnh sát và quân đội,chỉ nghe trong không gian uất nghẹn ấy tiêng đại bác vọng về từ ngoại ô, đại bác đêm đêm dội về thành phố…
Chiến tranh thì càng ngày càng khốc liệt, vây quanh chúng tôi đến ngẹt thở.Vậy mà Saigon vẫn “phây phây”, vẫn “vô tư”, vẫn mini jupe trên đường Tự do, vẫn “lá đỗ để đưa đường cho người tình Trưng Vương”, vẫn “cây dài bóng mát con đường Duy Tân”, vẫn chợt mưa chợt nắng bất thường như tâm tình người con gái Saigon, vẫn chen chúc ồn ào chợ Vườn chuối, vẫn tâp nập “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” quanh bồn binh chợ Bến Thành, vẫn cyclo đạp tà tà, vẫn cyclo máy khói bay mù mịt phụ họa với tiếng máy ồn ào, vẫn xe ba bánh đi vào tận trung tâm thành phố,vẫn những bà mệnh phụ, những cô tiểu thư con nhà giàu bận áo bà ba , quần lảnh Mya, bước xuống từ những xe hơi Peugeot 404, DS 19 bóng loáng có “chauffeur” đàng hoàng, sà vào một gánh bò bía,một xe khô bò, hay uống một ly nứơc mía Viễn đông, ”vô tư và hồn nhiên”…
Còn bao nhiêu nét đặc trưng, đặc thù, đăc biệt của Saigon, kể sao cho hết, nói sao cho vừa. Cứ mỗi lần tôi về thăm lại Saigon, hình như tôi nhận thấy và cảm thấy Saigon lại mất đi một mảnh hồn, thay đổi một phần cơ-thể. Tôi hoang mang lo sợ một ngày nào đó, khi tôi về, tôi sẽ nghẹn ngào hát thầm: ”Saigon ơi, tôi đã mất Người trong cuộc đời, Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời”, và Saigon không còn là Saigon ngày tháng cũ của tôi. Tôi sẽ đứng giữa Saigon mà cảm thấy xa lạ, cô đơn và hụt hẵng, như đang đứng giữa lòng Paris, London, New York, hay San Francisco, và xót xa nghĩ rằng “một nửa hồn tôi bỗng dại khờ,” dại khờ vì những mất mác, thay đổi đó. Trong niềm suy tư đó, tôi phải vội vã ghi lại tất cã những gì tôi nhớ về Saigon ngày tháng cũ, như một lời tạ tội với Saigon,như một níu kéo quá khứ cho tôi, cho ban bè tôi, để hoài niệm, để hồi tưởng, để thương nhớ. Nhà văn Văn Quang, cũng có cùng một tâm sự như tôi, khi viết “Saigon, 25 năm nhìn lại,” nhưng với một cái “nhìn” và cái “cảm nhận” của một người đang “được” sống giữa lòng Saigon, của một người “lưu lạc” trong chính đất nước của mình, viết chuyện hiện tại mà nghe vương vất những chập chờn của quá khứ (chữ nghĩa của Nguyễn Mạnh Trinh).
Xin được trích một đoạn trong bài Lẫm cẫm Saigon thiên hạ sự, của Văn Quang, số 233,ngày 5 tháng 11 năm 2007:
“…trên những con đường Hồ xuân Hương, Tú Xương, Mạc đỉnh Chi mà “hồi xưa” chúng tôi gọi là “phố tây,” vắng ngắt chỉ còn hai hàng cây lim dim ngủ, bỗng cảm khái lạ lùng. Nhớ nhung ở đâu tràn về mà chẳng thể xác định được mình nhớ cái gì. Nhớ “Saigòn muôn năm cũ,” nhớ lung tung, nhớ ban bè, nhớ người tình,khung cảnh bác xích lô cô đơn trong bóng đêm, cô gái ăn sương đứng dưới bóng đêm, thằng bé đánh giày ngủ trong mái hiên…Tất cả đều thắm thiết từ trong đáy lòng nhưng lại nhạt nhòa lẫn lộn. Không gian và thời gian này là “Saigòn của chúng tôi.” Nó chỉ là thật sự của chúng tôi vào khoảnh khắc bất chợt đêm đó và nó chỉ sống lại trong những giây phút hiếm hoi như thế này. Ai còn, ai mất, ai ở đâu, lãng đãng rất xa, rất lưu lạc, mà lại rất gần. Dường như anh em còn ở quanh đây, hồn họ vẫn còn ở đây. Tôi cố đánh lừa cảm giác mình, nhưng không thoát được tiếng thở dài. Đấy là tâm tình của một người Saigon hôm nay “lẩm cẩm” nhớ về Saigòn xưa,nhớ cả tình, cả cảnh, nhớ tất cả, chẳng thiếu thứ gì…”
Những con đường xưa.
Saigon có trên mười đại lộ, trên trăm con đường lớn,trên ngàn con đường nhỏ, và cả vạn con hẻm và ngỏ ngách của những khu Bàn cờ, Phú nhuận, những xóm Trương Minh Giảng,Tân định…Nghe “Xóm đêm” của Phạm đình Chương : ”Qua phên vênh có bao mái đầu,hắt hiu vàng ánh điện khâu “ mà nảo nùng hình dung những khu phố chật chội,nghèo nàn đó. Địa chỉ nhà của em mà có đến 3 hay 4 cái “sur”-phụ đề Việt ngữ là “trên” (sau gần nửa thế kỹ,tôi nhớ hình như là 192 sur 74 sur 2B,khu chợ Vườn chuối) thì anh “biết mô mà tìm,thì mần răng mà anh đến nhà của em để ra mắt Ba Mạ được.”
Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, tôi chỉ có thể nhớ về và nhắc lại một vài con đường mà tôi có nhiều kỷ niệm, những dấu ấn của một thời niên thiếu. Tôi biết rằng những con đường không được nêu tên trong bài này sẽ ghét tôi,sẽ giận tôi,và biết đâu sẽ tìm cách “trả thù vặt” khi tôi trở lại Saigon.
Đường Catinat.
Đường Catinat, hay đường Tự do (từ năm 1954), và bây giờ tên là Đồng Khởi (từ năm 1975). Sự thay tên đổi họ này đã đươc dân gian đặt câu vè: Đồng khởi ra đời mất Tự do. Catinat là một con đường rất ngắn nối một đầu từ bờ sông Thủ Thiêm Saigon, khách sạn Majestic đến cuối đường là nhà thờ lớn Saigon tức Vương Cung Thánh Đường và khu Bưu điện. Sau lưng nhà thờ, bên kia đường Thống Nhất là đường Duy Tân.Đối với tôi, Catinat của Saigon tuy ngắn hơn nhưng đẹp hơn Champ Elysees của Paris, tuy nhỏ hơn nhưng xinh hơn Ramblas của Barcelona,tuy không náo nhiệt nhưng có tình hơn Nanjing của Thượng hải…
Bây giờ, tôi xin mời các bạn cùng tôi đi “tham quan” con đường Catinat, bắt đầu từ phía nhà thờ. Đi đươc trên 100 mét,bên phía tay mặt,ở góc đường Lê thánh Tôn, là quán café La Pagode, nơi hò hẹn của giới văn nghệ sĩ. Ở đó,ngày ngày ta bắt gặp nhừng Mai Thảo, Thanh Nam, Nguyễn đình Toàn, TháiTthủy, những Hoài Bắc, Cung Tiến…Một nhân vật đặc biệt cần đươc nhắc đến là thi sĩ Đinh Hùng của ”Đường vào tình sử.” Theo anh Văn Quang thì trong những năm 55-67, thi sĩ Đinh Hùng hàng ngày thường có mặt tại La Pagode để gặp bạn bè “trong làng” và tại nhà hàng Givral (cách đó chừng 50 mét) để “hẹn hò” với các độc giả, thính giả, nhất là “nữ độc giả và nữ sinh” hâm mộ yêu mến thơ của ông. Ở đó (La Pagode), chỉ cần gọi một ly cà phê là ta có thể ngồi từ sáng đến chiều mà không ai thèm để ý và làm phiền đến mình (nếu ta không có việc gì làm ngoài chuyện ngồi tán phét và ngắm nhìn thiên hạ dạo phố). Quán La Pagode đăc biệt không có cửa, không có kính, không có màn, nên nếu ngồi ở những bàn gần đường, hay ở những bàn còn kê dài dài ở ngoài hè phố, ta có thể thoáng cảm nhận phất phơ tà áo đi ngang qua, hay thoáng ngửi mùi nưóc hoa sang trọng Chanel Number 5 từ những cô gái con nhà giàu hay mùi nước hoa quyến rủ Tabou từ những em cave. Tuy đươc gọi là nhà hàng, nhưng hình như La Pagode không có món ăn nào, hoăc “thực khách” chỉ là những “ẩm khách,” chỉ biết order một ly cà phê hay một chai bia 33, bia Larue con cọp, rồi thơ thới hân hoan mà nhìn đời, mà ngắm người (theo “thổ ngữ “ người Huế là “ nghễ” đàn bà con gái).
Bên kia đường,nhìn chênh chếch về phía trái là một công viên, không thấy bóng dáng những “homeless” hay những cặp tình nhân ôm nhau mùi mẫn, không có “lá đổ, không chờ mong em chin đỏ trái sầu.” Cũng ở bên kia đường,hơi xa về phía tay phải là Café Terrasse của Hotel Continental, nơi đó là chỗ đóng đô của mấy ông tây bà đầm, và của giới truyền thông ký giã ngoại quốc trú ngụ tại hotel Continental. Sáng sáng, họ ngồi đó để ăn “petit dejeuner,” đọc báo, viết bài, săn lùng tin tức .
Rời La Pagode, ta gặp nhà sách Xuân Thu,tức Albert Portail. Có hai cửa vào,một từ dường Tự do, một từ hông passage Eden. Đây là một nhà sách không lớn nhất Saigon, nhưng có đầy đủ sách báo,từ báo Le Figaro, Equipe đến Paris Match, Le Monde, Cinemonde, Ciné Revue, từ Time, Newsweek, Reader’s Digest đến Washington Post,,Times of London, Daily telegraph; từ những sách về văn học nghệ thuật, đền những cuốn sách truyện trinh thám mới ra lò. Sinh viên đói rách như chúng tôi tha hồ đên dấy mà đoc “cọp,” đọc “ké”, nhân viên bán hàng biết tình cảnh “kinh tế tài chánh” của chúng tôi nên cũng “tha tào,” để chúng tôi “cứ vô tư” mà trau dồi kiến thức.
Bên hông nhà sách Xuân Thu là passage Eden, có hình chử Y, ăn thông từ dường Tự do sang đường Lê Lợi và đường Nguyển Huệ. Trong đó chiếm một diên tích lớn là rạp cine’ Eden của gia đính họ Huỳnh Phú.
Tiếp đó là nhà hang Givral, nằm ở góc đừơng Lê lợi. Nhà hàng có cửa kính, có máy lạnh,và cũng có cà phê, sữa tươi, bánh ngọt, pâté chaud, oeuf sur plat đàng hoàng. Givral là quán café đựơc giới trẻ “con nhà giàu,” “tây con và đầm non” như dân học sinh Marie Curie, Chasseloup Laubat ưa thích. Và nhất là giới nhà báo, tình báo điệp viên (tôi chĩ đoán mò thôi vì làm sao mà nhận diện được họ) vì địa điểm quan sát rất thuận lợi.Từ Givral, ta có thể nhìn trước mặt là Hạ viện (nhà Hát lớn ngày xưa), phía đương Lê lợi là một công viên nhỏ, ở đó thường xảy ra những vụ xuống đường của sinh viên, và những cuộc họp báo “đột xuất” của những chính khách đối lập…Hai “nhân vật” nổi tiếng thường trực ở Givral là ông một ông tướng, có tài, có đức, nhưng “cứng đầu” nên không được trọng dụng, rồi bất mản, coi trời bằng vung, say sưa chửi thề suốt ngày- hay suốt đời. Ông tướng này đặt bản doanh tại hai nhà hàng Givral (phụ) và Brodard (chính), chỉ cách nhau chừng 50 mét. Và một ông nhà báo-tình báo có tên Phạm xuân Ẩn, trước làm cho hảng Reuters và từ năm 1965, làm cho tờ báo Time. Ông đeo lon đại tá “ngầm” trước 75 và thiếu tướng sau 75. Bỏ qua một bên chính trị, chính kiến, giới tuyến, quốc gia-cộng sãn, con người Phạm Xuân Ẩn là một con người bôc trưc, có lòng và có tình với bạn bè, hết mình với đồng nghiệp, không hại “anh em khác giới tuyến” vào những ngày cuối tháng tư,1975, có lẽ vì lòng nhân hậu (cha mẹ sanh ra) và sự tôn trọng tự do cá nhân(hấp thụ từ Mỹ). Ông Ẩn đã qua đời vào tháng 9,2006 sau 31 năm ngồi chơi xơi nước.
Từ trong quán Givral, ta tha hồ ngắm nhìn những mini jupe, những áo Montagu kiểu mới nhất từ Paris, những” tà áo lụa Hà đông em đi mà chợt mát.” Và những anh thợ chụp hình dạo,thường hành nghề trước Nhà Hát Lớn, sau khi “dụ dỗ” được một du khách rồi mới cười ruồi xin “chụp lại một pô nữa cho chắc ăn” vì “pô” trước chỉ là chụp vờ.
Nhà hát lớn Saigon, hay nhà Quốc hội, là một kiến trúc nguy nga, đồ sộ, được xây lên từ thời pháp- thuộc, có một hê thống âm thanh không thua kém những rạp hát trứ danh ở Paris hay London, nằm giữa hai khách sạn lớn nhất Saigon thời xưa là Continental và Caravelle. Một bên Caravelle là trụ sỡ của hảng Air France, ở đó những cô nhân viên nói tiếng tây hay hơn đầm. Trong khuôn viên của Hotel Caravelle, có phòng trà ca nhạc Caravelle, do ca sĩ Jo Marcel bao sân thời gian đầu. Kế đó là tiệm bán máy hình và chụp ảnh Long Biên, có công tữ Dz. Long Biên hào hoa phong nhã.
Qua khỏi đường Lê lợi, đi dăm ba bước là ta gặp nhà hàng Brodard. Brodard cũng tương tợ như Givral, nhưng có vẻ kín đáo hơn, và thức ăn có thể ngon hơn, và ít ồn ào xô bồ hơn Givral.Brodard có hai tầng, ngồi ở tầng trên thì tha hồ mà “gỡ gạc,” tha hồ bàn chuyên “áp phe” và chuyện chính trị. Trước khi đến Brodard là rạp cinéma Catinat, nơi đóng dô của mấy anh tây “pê đê,” rạp vừa nhỏ, vừa hôi,v ừa bẩn.
Bên kia đường, xế về phía tay phải, môt góc là tiêm Alimentation generale Thái thạch, bán đủ loai thưc phẩm của Pháp như beurre Bretel, pâté foie d’Alsace, rượu chát Bordeaux, fromage Camembert,Roquefort…Đối diện với Thái thạch, bên kia góc đường là dancing La Croix du Sud-sau này là vũ trường Tự do của ông chủ tên Cường, có ban nhạc Phi-luật tân do nhac trưởng tên Taning, người Phi luật tân, có những ca sĩ như Lệ Thu, Bích Chiêu, Bạch Yến… và nhất là có những em cave nổi tiếng một thời như Tâm Điệu, Tuyết Điệu, Cúc, Mỹ, Thơm, Dung 45,Thanh Thúy “tàu” (nổi tiếng nhờ một sắc đẹp sang trọng diễm kiều, lại có cái tên trùng hợp với một ca sĩ thời đó). Dancing này có một thời phãi đổi thành phòng trà ca nhạc Tự do, vì thời đó “nhẩy đầm là phạm thuần phong mỹ tục.”
Gần đó là tiệm may nổi tiếng Aux Ciseaux d’or-sau này là nhà may Tân Tân. Và hình như ở gần đâu đó là tiêm cà rem bánh ngọt Aux Delices của cụ Đốc T… Kế bên là tiệm La Mode, bán đồ gốm, đồ cổ của bà cụ Phán N., trong gia đình có cậu “ấm” tên L., tự L. Ph, hào hoa phong nhã, lè phè đúng tác phong của một người con nhà giàu, học không giỏi, không đẹp trai nhưng lại có tội “đông bạc”, và chịu chơi hết mình.
Tiếp tục đi về phía bờ sông, sát một bên hotel Majestic, những năm đầu thập niên 70 mọc lên một tiêm rất đặc biệt: đó là tiệm Pole Nord , tiệm chỉ có hai bàn đánh “tilt”-máy chơi bi điện-của một anh tây rất “vắng” tiếng tây là anh Francois, mê mắm tôm hơn mê fromage. Để chờ đến phiên của mình thì có thể nhâm nha ly nước “Orangeade au Rhum” rất “parisien.” Dân đến tiêm “tilt” này là dân ăn chơi thời thượng, sang trọng đúng mốt, đi giày Santiago đóng ở tiệm Gia (dành cho sinh viên học sinh “vắng tiền”), hay giày kiểu Bally của tiệm Trinh (dành cho dân “đông bạc”) cả hai tiệm đều ở tận bên Khánh hội; măc áo quần của nhà may Văn Quân hay Tân Tân,hay Ích Tân; hớt tóc ở tiệm Đàm đường Hiền Vương (tay thợ tên Đàm dân Bắc kỳ chính hiệu, chỉ hớt tóc bằng kéo, vừa hớt vừa đấu láo về đủ mọi đề tài, từ chính trị, thể thao, văn học nghệ thuật…).
Và cuối đường Catinat là khách sạn Majestic, không sang trọng bằng Continental và Caravelle, nhưng được lợi thế nằm gần bờ sông Saigon nên có gió mát và phong cảnh hửu tình. Bên cạnh khách sạn là phòng trà ca nhạc Maxim’s do Nhạc sĩ Hoàng thi Thơ và vũ sư Trịnh Toàn điều khiển, đêm đêm có vũ dân tộc và vũ trống. Nơi đây là chổ hò hẹn của dân làm áp phe, và những ông chủ già hay những ông quan lớn đi du hí với đào nhí.
Bên kia dường Bạch đằng là bờ sông Saigon, ở đây không còn cái “không khí, bộ mặt” của Catinat nữa. Tôi không nhớ gì ở đây ngoài hình ảnh những cặp tình nhân muốn tránh cái “nóng nung người của Saigon” ra đây để tình tự và hóng gió mát từ sông Saigon; và những người bán hang rong, bán đủ thứ từ mía ghim, hột vịt lộn dến bắp nướng…Hằng đêm, vô tình ngắm nhìn những hình ảnh quen thuộc này là bức tượng đức Thánh Trần Hưng Đạo. Xa xa về phía tay mặt là nhà hàng nổi Mỹ cảnh, có “gió mát” và có “sóng nước,“ đi vào thì nặng mà đi ra thì nhẹ, “túi tiền nhẹ tênh”. Và cách đó chừng 100 mét là nhà hàng Tây “Pointe des blagueurs,” mà ông Vương Hồng Sển dịch là “mủi đất của những tay nói phét,” trước là cột cờ thủ phủ, sau đổi thành một nhà hàng “tây,” mấy anh tây bà đầm, mấy anh “marine marchande” thường đến đó để “boire un coup” và lẽ dĩ nhiên là để “blaguer” -đấu láo tán dóc-. Tôi nhớ một hôm,bàn bên cạnh chúng tôi có ba bốn anh tây, có lẽ là dân “tàu buôn-marine marchande,” sau khi “dô” dăm bảy ly Cognac, Hennessy, cũng đã gần “ngoắc cần câu” rồi, một anh bỗng lè nhè phát ngôn:”Je sens un mal de mer” -tao cảm thấy say song biển- cứ như là đang lênh đênh trên biển cả. Say rượu mà nói là say sóng, tán phét như vậy là số một rồi.
Con đường Catinat có rất nhiều tiệm vàng và hột xoàn, nhưng nổi tiếng và sang trong nhất là tiêm hột xoàn Đức Âm, có mặt ở Saigon từ năm 1954, sau khi di cư từ phố Tràng Thi ở Hà nội vào. Có nhiều tiệm vải, những tiệm tơ lụa Tô châu có nhiều mặt hàng nhập cảng từ Tô châu bên Tàu và lụa tơ tằm từ miền Bắc. Và ta cũng không quên tiệm bán tranh sơn mài Thành Lễ, với những sản phẩm sơn mài và đồ gốm rất có giá trị về mỹ thuật và thủ công nghệ, tuy hơi đắt tiền nhưng lại được du khách ưa chuộng. Và sau 1965, mọc lên rất nhiều quán bar quán rựou. Và từ đó, đêm đêm không còn vắng vẽ như trong bài hát của Trần văn Trach: ”Đêm đêm một mình lang thang trên đường Catinat.”
Hà Nguyên Phố
tức Hà Xuân Du QYHD-Khóa 10
Diễn Đàn Sinh Viên Quân Y
© 2010
From: TRUONG LE
ANH GIÁO DỤC ĐƯỢC GÌ?!…
8 SÀI GÒN
Ôi đùa à? Cả đợt dịch dài, việc anh làm gây ấn tượng nhất là đá quả bóng trách nhiệm, hết chỉ đạo các sở giáo dục địa phương tự đánh giá tình hình, lại chờ Thủ tướng quyết việc cho học sinh nghỉ học hay không.
Đến khi tự ra quyết định anh lại quyết định sai – chỉ đạo cho học sinh đến trường đúng lúc dịch bùng lên trên khắp thế giới, Việt Nam xuất hiện chuyến bay bão tố, chở N17, T21, quan chức Bộ hoa ban và nhập khẩu virus Vũ Hán.
Cuối cùng Thủ tướng lại phải chỉ đạo.
Vậy mà giờ, anh ấy lại định chia sẻ với thế giới về kinh nghiệm dạy học cơ đấy. Thật ngạo nghễ!
Người làm giáo dục, trước tiên phải có tự trọng. Nếu không có tự trọng, anh giáo dục được gì cho thế hệ mai sau, ngoài sự trơ tráo, dốt nát và ham hố danh vọng hão? Xã hội nào mà tồn tại những người làm giáo dục như thế thì tương lai chỉ có thể xuống bùn.
BẠCH HOÀN







