Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Luật sư đề nghị Công an giải thích vì sao 4 bút lục bị “mất tích” mà trước đó ông không được tiếp cận – Bão Lửa

 

TAMBAO.NET

The New York Times và The Washington Post – Cả hai đều nhận hàng triệu đô la từ Bắc Kinh.

Image may contain: text
No photo description available.

Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.

The New York Times và The Washington Post – Cả hai đều nhận hàng triệu đô la từ Bắc Kinh.

Bắc Kinh đã hủ hóa hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: The New York Times và The Washington Post.

Những tờ báo chính thống, trung thực và đáng đọc: The Washington Times, The Epoch Times và các nguồn truyền thông khác không bị Bắc Kinh hủ hóa.

*

Hôm 29/1/2020, Trong buổi thuyết trình trên đồi Capitol (Quốc Hội – Hoa Kỳ), Dr. John Lenczowski cho biết:

Các hoạt động gây ảnh hưởng và tuyên truyền của Trung Cộng.

(Trích):

“… Trung Cộng có các hoạt động tuyên truyền lớn đang diễn ra trên khắp thế giới…

” Họ có khoảng 3,000 đài truyền hình, 2,500 đài phát thanh. Họ kiểm soát hàng ngàn tờ báo, ít nhất sáu tờ báo tiếng Anh. Họ đang phát sóng bên trong đất nước này, từ trong biên giới của chúng ta và từ Mexico . Họ đang lũng đoạn phương tiện truyền thông của chúng ta.

” Chúng ta đều biết về các kỹ thuật truyền thông để báo cáo từ các nước toàn trị. Đó là trường hợp ở Liên Xô , ở Tàu cũng vậy, các nhà báo của chúng ta không viết về những gì tôi gọi là bốn điều cấm kỵ.

” Bốn điều cấm kỵ là gì ?

1- Đừng viết về quân đội Trung Cộng ;
2- Đừng viết về gián điệp của họ ;
3- Đừng viết về các biện pháp thi hành, tuyên truyền và hoạt động lén lút của họ ; và
4- Đừng viết về vi phạm nhân quyền của họ.

” Nếu bạn tự kiểm duyệt tất cả những điều đó, nếu bạn không làm gì quá xúc phạm đối với các quan chức ở Bắc Kinh thì họ có thể để bạn báo cáo những điều tầm thường hơn nhiều.

” Xin nói thêm là các học giả Mỹ cũng tự kiểm duyệt, bởi vì nếu họ viết về bất kỳ điều gì trong bốn điều cấm kỵ quá mức xúc phạm tới Bắc Kinh, thì họ sẽ không được cấp thị thực vào Trung Cộng. Vì vậy, cả nhà báo và các học giả đều bị chi phối bởi hạn chế thị thực và các hạn chế tiếp cận khác.

” Hiển nhiên các phóng viên sẽ phải tự kiểm duyệt, nếu họ không muốn văn phòng ở Bắc Kinh của họ bị đóng cửa. Nhưng những người giỏi nhất sau đó sẽ về Mỹ và có lẽ viết một cuốn sách với sự thật mà họ không thể báo cáo trên các trang nhất của tờ New York Times và The Washington Post.

The New York Times và The Washington Post.

” Nói về hai tờ báo đó, hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: Cả hai đều lấy hàng triệu đô la từ Bộ Tuyên truyền Bắc Kinh để đăng tải phụ trương định kỳ China Watch, tài liệu tuyên truyền cố hữu của Cộng sản. China Watch ảnh hưởng mọi người đến mức nào? Tôi không dám nói chính xác. Tôi nghĩ rằng nó phải ảnh hưởng một phần nào.

” Điều nó thực sự làm là nó khai thác sức mạnh của phương tiện truyền thông để bỏ qua, và cơ bản là nó mua chuộc giới truyền thông để tuân thủ bốn điều cấm kị.

” Các phương tiện truyền thông lớn khác, chẳng hạn như các mạng truyền hình, cũng làm theo New York Times và The Washington Post.

” Nếu quý vị muốn tìm hiểu bất cứ điều gì về một số vấn đề trong số bốn chủ đề cấm kỵ này, quý vị phải đọc The Washington Times, The Epoch Times và các nguồn truyền thông khác không bị Bắc Kinh hủ hóa.”.

Tiến sĩ John Lenczowski

Hình 1&2: Bắc Kinh đã hủ hóa hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: The New York Times và The Washington Post.

========

Mời các bạn cùng đọc toàn văn buổi thuyết trình của Tiến sĩ John Lenczowski

CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ ĐỂ ĐÁP ỨNG MỐI ĐE DỌA NGÀY CÀNG TĂNG CỦA TRUNG CỘNG.

*** U.S. STRATEGY FOR THE GROWING CHINA THREAT.

Wed, January 29, 2020
Dr. John Lenczowski
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1194569527549080&id=100009881313541

CHUYỆN MAY RỦI…

CHUYỆN MAY RỦI…

Trong cuộc sống có những may rủi, họa phúc khó lường. Đời tôi có những cái may mắn bất ngờ mà cho đến nay, tôi không thể nào quên được.

Nhớ mùa hè năm 1969, trong một lần tôi chở người bạn đến Thị xã Tân An trên đường Phan Đình Phùng để sao y giấy tờ. Tôi sơ ý đánh rơi cái bóp đựng giấy tờ tùy thân gồm: căn cước, giấy lược giải cá nhân và giấy hoản dịch vì lý do học vấn.

Sau năm 1968, lệnh tổng động viên ban hành. Nếu không có lý do hoãn dịch thì lứa tuổi của tôi phải trình diện nhập ngũ. Tôi hoang mang và lo sợ vô cùng. Tôi chạy tìm khắp nơi mà không kiếm được cái bóp. Lúc này, những góc đường thường có quân cảnh và cảnh sát chốt chặn để kiểm tra giấy tờ.

Tôi làm tờ cớ mất giấy tờ tùy thân và không biết làm cách nào để xin lại bản chánh. Mấy ngày liền, tôi ở suốt trong nhà. Đến tối chủ nhật, có cuộc hành quân cảnh sát kiểm tra tờ khai gia đình. Một chú cảnh sát kiểm tra tờ khai gia đình, khi thấy tuổi của tôi phải trình diện nhập ngũ đã hỏi về giấy hoãn dịch. Tôi trình bày đã bị mất và chờ xin cấp lại. Chú yêu cầu tôi về bốt để xác minh.

Trong lúc chuẩn bị về bốt thì có chú cảnh sát khác bước vào. Khi nghe tên tôi và giấy tờ tùy thân bị mất. Chú bảo: cách đây vài ngày, chú trực ở phòng thì có người nhặt được cái bóp của tôi và đưa cho chú. Bóp không có tiền, chỉ có giấy tờ tùy thân. Thật vô cùng may mắn và tôi đã vỡ òa niềm vui. Tôi không phải về bót và sáng mai được hẹn lên nhận lại giấy tờ.

Lần may mắn thứ 2 cũng thật hy hữu.

Năm 1970, tôi đi học bằng xe Honda SS 66 và dựng phía sau khu văn phòng của trường Nông Lâm Súc Cần Thơ. Tôi khóa xe bằng cái ổ khóa vòng. Thời này, nhà trường không có bãi giữ xe cho học sinh, nên học sinh tự bảo quản xe của mình. Đến buổi chiều tan học thì phát hiện chiếc xe bị lấy cắp. Chiếc khóa vòng bị cắt ra và vứt lại. Giai đoạn này, phong trào ăn cắp xe Honda nở rộ và việc tìm kiếm thì vô vọng. Tôi làm tờ cớ và gởi ở phòng cảnh sát tư pháp trong tâm trạng không có chút hi vọng gì. Chủ yếu để tránh trách nhiệm khi xe được sử dụng trong cướp giật hay khủng bố.

Hai tháng sau, cảnh sát tư pháp gởi giấy mời tôi lên và thông báo xe tôi đã được tìm thấy và tạm giữ ở Long Xuyên. Tôi mang giấy tờ xe đi Long Xuyên, đến cuộc cảnh sát thì được biết: Trước đó nửa tháng, có người thanh niên chạy chiếc xe của tôi va chạm trong giao thông.

Anh ta đã để lại xe vì quên giấy tờ xe ở nhà nhưng sau đó thì anh ta biến mất. Cảnh sát nghi là xe bị lấy cắp đã lập biên bản và gởi xe vào kho tang vật của Tòa Án. Cảnh sát cũng thông báo cho các Tỉnh trong cả nước.

Được sự hướng dẫn của cuộc cảnh sát. Tôi tìm qua Tòa Án Long Xuyên. Đến phòng Lục Sự. Vì là buổi chiều, gần hết giờ làm việc. Chú nhân viên phòng Lục sự hẹn tiếp tôi vào sáng ngày mai. Tôi trình bày với chú là tôi ở Cần Thơ và đang đi học nên nhờ chú tìm giúp hồ sơ. Sau nửa giờ tìm kiếm, với khuôn mặt lấm tấm mồ hôi, chú đã tìm được hồ sơ mà cuộc cảnh sát chuyển qua.

Nhìn sự tận tụy của chú mà tôi xúc động vô cùng. Chú hẹn tôi 1 tuần sau trở lại. Đúng hẹn, tôi trở lại và nhận chiếc xe của mình. Chiếc xe nguyên vẹn, chỉ bị lấy mất nắp bình xăng. Tôi đem xe ra ngoài tu bổ lại và thong dong chạy về Cần Thơ.

Bây giờ, ngồi ngẫm lại: sao nền hành chánh ngày xưa gọn nhẹ mà hiệu quả. Không như, hôm nay, đi đâu cũng nghe than: Hành là Chính.

ĐỖ TRÍ

Image may contain: 1 person, motorcycle and outdoor

CHẾT VÌ MONG MUỐN CÔNG BẰNG…

Image may contain: text
Image may contain: one or more people and text

8 SÀI GÒN

CHẾT VÌ MONG MUỐN CÔNG BẰNG…

Vì sao một nền tư pháp minh bạch, công bằng, rõ ràng lại quan trọng đến thế? Chiều nay, một người đàn ông ở Bình Phước đã bị kết án 3 năm tù vì bị quy lỗi trong một vụ tai nạn giao thông năm 2017.

Vụ tai nạn đã khiến bạn anh-người anh chở sau xe mất. Sau khi tòa phúc thẩm tuyên án, anh đã post lên Facebook cá nhân anh về việc muốn cái chết của mình thức tỉnh nền tư pháp Bình Phước. Sau đó, anh đi đến tòa án, lên tầng 2, nhảy xuống. Anh chọn cái chết thay vì việc chấp nhận 3 năm tù giam.

Sự minh bạch, công bằng của nền tư pháp sẽ không chỉ giúp không có án oan mà còn cứu người ta khỏi những cái chết từ bên trong như thế. Những cái chết ẩn nấp, cựa quậy, được nuôi dưỡng bằng sự tuyệt vọng về việc không tìm thấy sự công bằng, chân lý, không thể chấp nhận được sự phi lý của sự việc.

Mong muốn công bằng, mong muốn được hiểu đúng, mong muốn được lắng nghe luôn là điều cần có ở mỗi con người.

Chấp nhận 3 năm tù trong một bản án không thuyết phục được mình – sống mãi với sự oan khuất không cách giãi bày, và cái chết, điều nào dễ hơn?

Đa phần, có lẽ, như tôi, sẽ chọn sống. Như một con người, tôi thương tiếc quãng đời bị đánh mất của anh, như một con người, tôi cảm phục sự lựa chọn của anh.

THUAN VUONG TRAN

***

KÊU OAN VÀ NHẢY LẦU TỰ SÁT…

Sáng nay, Toà án tỉnh Bình Phước tuyên y án sơ thẩm kết tội một người đàn ông.

Mặc dù Luật sư của anh đã động viên và tính soạn đơn kiến nghị lên cấp cao hơn, nhưng có lẽ vì niềm tin nhỏ nhoi vào nền tư pháp đã cạn kiệt, nên trong một buổi chiều buồn thảm, anh đã đến chính trụ sở của Toà án tỉnh, nơi vừa kết thúc phiên toà để gieo mình từ trên cao xuống.

Tự chấm dứt cuộc đời mình và mang theo nỗi tuyệt vọng ngay dưới bóng của thần công lý..

Tôi không thể biết, nên không thể nói được bản án của anh là đúng hay sai. Nhưng tôi tin vào lời nói cuối cùng của anh đã nhắn lại cuộc đời này.

Mức án cho anh ấy chỉ có 3 năm tù, và tôi tin rằng số năm tù đó không phải là nguyên nhân, mà chính sự cạn kiệt niềm tin và sự thất vọng quá lớn đã đẩy anh đến quyết định đau lòng đó.

Xin cho một người vừa nằm xuống, thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang.

Mong ai đó thức tỉnh…

LS NGUYỄN HÀ LUÂN

***

NẾU MỘT CÁI CHẾT CỦA TÔI LÀM THỨC TỈNH NỀN TƯ PHÁP TỈNH BÌNH PHƯỚC THÌ CŨNG ĐÁNG LẮM CHỚ!

Đây là status cuối cùng của anh Lương Hữu Phước, sau đó anh đến trụ sở tòa án Bình Phước và nhảy lầu tử vong.

Bị tòa sơ thẩm kết án 3 năm cho án tai nạn giao thông, anh Lương Hữu Phước kháng cáo kêu oan lên tòa tỉnh Bình Phước.

Hôm nay 29/5 Tòa tỉnh xử phiên phúc thẩm, bác kháng cáo, y án sơ thẩm3 năm, nhưng chưa thi hành án ngay.

Luật sư Dương Vĩnh Tuyến chia sẻ: Sáng nay, ngày 29/5/ 2020, sau khi nghe Hội đồng xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên án, tôi cùng anh về văn phòng của tôi. Anh em đang tính soạn đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm bản án và thứ 2 đi nộp. Sau đó, anh về nhà.

Chiều nay, tôi đến tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài để chụp hồ sơ vụ án 39,5 mét vuông đất một mạng người xảy ra ở khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài mấy năm về trước, nay tòa thụ lý lại do Tái thẩm hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm.

Vừa ra khỏi tòa, điện thoại reo và nhận hung tin: Chiều nay, anh Lương Hữu Phước đã đến trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước và nhảy lầu…

Người thân của anh vừa báo cho tôi: Anh đã chết. Tôi vô Facebook của anh thì thấy anh đăng dòng trạng thái …!

Ai di đà!

HOÀNG LINH

***

CÁI CHẾT CỦA NIỀM TIN…

Đây là một cái chết có thật: bị cáo chỉ bị tuyên án với mức 3 năm tù giam. Và ông đã nhảy từ trên tầng cao xuống mặt đất để kết thúc cuộc đời mình.

Nhưng vấn đề là họ không còn niềm tin vào “công lý” vừa được dành cho ông, và vì thế, ông đã lựa chọn cái chết ngay tại chính toà án, nơi mà đã tuyên án cho ông, với lời nhắn: cái chết này có làm cho toà án ở đây thức tỉnh lương tâm của mình không.

Có cái chết, đơn giản, chỉ để chứng minh rằng, bản án mà họ phải nhận là hoàn toàn phi lý. Vì thế, nó là một nỗi oan ức có tính nhục nhã mà không thể chịu đựng.

Sống với oan ức, chỉ 3 năm, nghe về mặt thời gian thì có lẽ nó có thể là một định lượng không quá lớn so với án tử hình hay chung thân. Nhưng ở đây là lựa chọn giữa sống với danh dự và tự do chính đáng của con người có lương tâm. Chứ không thể chịu nhục để sống với sự tù đày mà họ nhận thấy là sự oan nghiệt vô lối.

Sinh mạng của một con người đã bị quyết định bởi bản án chỉ 3 năm tù giam. Nhưng đó là sức nặng của sự bất công, chứ không còn là mức hình phạt của tội danh nữa.

Những ngôi trường nào cũng dạy về công lý và toà án nào cũng trang hoàng cho mình những chiếc áo thụng đẹp đẽ. Nhưng trước giá công lý, chẳng ai có đủ sự trong sạch trong tâm hồn để nói về “lẽ công bình”.

Xin được chia buồn với ông và gia đình. Cái chết của ông, có thể chưa chắc đã thức tỉnh được những thẩm phán mà ông muốn nhắn nhủ, nhưng nó đã thức tỉnh những con người đang dửng dưng sống qua ngày ngoài xã hội.

Luật sư LÊ VĂN LUÂN

Hội Từ Thiện Arpan

Hội Từ Thiện Arpan

– Chào anh Nguyễn Bình. Nhận email của anh, tôi ngạc nhiên lắm. Có thật là anh đã đến một vùng đất mà nơi đó không hề có dấu tích của các phương tiện tối thiểu của cuộc sống, mà theo như anh viết, anh đã sống những chuỗi ngày thật bình yên nơi ấy? – Mình hiện là nha sĩ tại Orange County. Năm nay là lần đầu tiên mình tham gia làm công tác thiện nguyện với hội Arpan. Mấy năm trước thì mình thường đi với SAPVN. Nhờ vậy mà mình có dịp đi qua nhiều nước lắm, thấy và học được nhiều điều hay, cũng như tích lũy cho mình rất nhiều kinh nghiệm sống…
– Anh có thể nói sơ về hội Arpan?
– Arpan Global Charity là một tổ chức y tế từ thiện quốc tế được thành lập năm 2005. Theo tiếng Ấn Độ thì Arpan có nghĩa là “cho tặng”. Đây là một tổ chức thiện nguyện gồm các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá cùng các thiện nguyện viên. Hằng năm Arpan đều được các nước kém hay đang phát triển mời đến để giúp đỡ các ca chẩn đoán và khám bệnh, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn tại nước ấy. Mọi thành viên, như mình chẳng hạn, phải tự túc vé máy bay. Nước “mời” mình đến chỉ lo về vấn đề ăn ở. 
– Nếu ai muốn tham gia cộng tác với Hội Arpan thì liên lạc ở đâu?
– Bạn có thể vào website:http://www.arpanglobal.org/. Các chuyến đi sắp tới của hội sẽ là chuyến đi Lagos tại nước Nigeria vào tháng 10-2012 hay đi Ecuador vào năm tới 2013.
– Thế trong email anh có nói về vùng đất nào đó với cái tên lạ lắm. Anh Bình có thể nói rõ hơn được không?
– À, mình vừa đi Ấn Độ về. Chuyến đi của mình dài 2 tuần. Tuần đầu mình đi theo hội Arpan đến thành phố Deesa thuộc miền Đông Ấn Độ. Năm nay thì hội đến đây theo lời mời của bệnh viện Mahadma Gandhi Lincoln Memorial. Tuần lễ thứ nhì thì mình tự mua vé bay qua Calcutta, một thành phố rất nhỏ ở miền Tây Ấn Độ.
– Anh Bình kể cho mọi người về hai tuần “du lịch” kỳ thú này được không anh?

Tình nguyện viên làm gì?

– Tuần lễ đầu tiên tụi mình chia xẻ kinh nghiệm với các nha sĩ Ấn Độ, trả lời các câu hỏi nếu có, và giúp khám, chẩn đoán những trường hợp phức tạp. Các bác sĩ trong đoàn thì thực hiện các ca mổ xương cho các trẻ em bị ung thư xương. Các dược sĩ thì hướng dẫn cách tổ chức một hiệu thuốc như thế nào để phân phát thuốc mau lẹ và hiệu quả nhất. Sau đó cả đoàn đi thăm cô nhi viện các trẻ em bị bệnh AIDS, thăm nơi nuôi dưỡng trẻ em tàn tật, bại liệt và đến thăm các trung tâm chăm sóc người già bị bỏ rơi cùng các trẻ mồ côi.

 – Thế anh có nhận xét gì về những người chuyên môn (bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá) tại Deesa?

– Họ rất giỏi. Không phải mình cứ nghĩ rằng Ấn Độ là nước nghèo mà thành phần “professional” của họ có trình độ thấp đâu. Họ luôn luôn trau dồi học hỏi thêm qua internet nên trình độ họ khá lắm. Chỉ có điều là họ còn thiếu dụng cụ và tỉ lệ thành phần này, so với số lượng dân, còn quá ít.
– Thành phố Deesa thì sao?
– Deesa là một thành phố nhỏ ở miền Đông Ấn Độ. Cứ tưởng tượng như một thị xã ở miền Tây Việt Nam mình vậy. Nhưng họ được trang bị một số dụng cụ khá đầy đủ hơn Việt Nam. Năm 2009, mình có về Việt Nam khám, chẩn đoán và điều trị cho đồng bào miền Tây ở mấy trạm xá nhà quê. Mình còn nhớ, mới chạng vạng 4 giờ chiều là không còn thấy gì cả, vì trời tối, mà không điện nước, cả lửa cũng không, thử hỏi làm sao tiệt trùng dụng cụ? Nên đành đi về vậy. Còn ở Deesa thì khá hơn, có các phương tiện đó.
– Ngoài đường phố thì thế nào?
– Đường nào cũng có 2 lối (lane) cho xe chạy. Thành phố có một bệnh viện lớn với một bác sĩ gia đình thường trực. Mỗi tuần thì có vài bác sĩ chuyên môn từ các thành phố lớn về đây khám và chữa trị các trường hợp đặc biệt.
– Thế còn tuần lễ thứ hai tại Calculta?

Giấc mơ của Mẹ…

– Đúng ra thì mình chỉ tháp tùng theo hội Arpan có một tuần mà thôi. Nhưng chuyện là thế này, ông anh mình bị bệnh. Mình nghe nói nhiều về thành phố Calcutta – nơi có ngôi mộ Mẹ Teresa, nên mới mua vé bay qua đó, mục đích là đến viếng mộ Mẹ và cầu nguyện cho anh. Thật sự mà nói, tuần lễ thứ hai đã để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng mình. Nhắc đến Ấn Độ thì phải nói tới hai ngôi mộ lớn. Thứ nhất là ngôi mộ Taj Mahal để tưởng niệm một bà hoàng hậu rất được đức vua sủng ái từ ngàn năm trước của đất nước này. Đây được xếp loại là một trong các kỳ quan của thế giới. Thứ hai là mộ của Mẹ Teresa ở thành phố Calcutta thuộc miền Tây Ấn Độ. Mình theo đạo Công giáo, và có được nghe câu chuyện về giấc mơ của Mẹ. Có một đêm Mẹ Teresa nằm mơ. Mẹ thấy Đức Chúa Trời hiện đến và giao cho Mẹ một trọng trách là tìm đến và giúp đỡ những kẻ nghèo nhất trong những người cùng khổ (The poorest of the poor). Thức dậy Mẹ đã suy nghĩ rất nhiều và sau cùng đã chọn thành phố Calcutta vì nơi đây là miền đất của những người nghèo khổ nhất, bất hạnh nhất và bị bỏ rơi nhất tại Ấn Độ. Mẹ Teresa đã sáng lập ra hội từ thiện Missionary Sisters of Charity. Ban đầu thì hội chỉ gồm các nữ tu, nhưng sau này thì đã có thêm sự đóng góp của các thiện nguyện viên trên toàn thế giới. Mình đến đây ban đầu chỉ có ý định cầu nguyện cho người anh, nhưng ngay hôm đầu tiên mình lại quyết định tham gia công tác thiện nguyện một tuần – thử xem sao. Thật buồn cười, khi mới đến, mình tự giới thiệu ngay, ra vẻ oai vệ lắm: “Tôi tên Bình Nguyễn. Nha sĩ, tôi đến từ Mỹ”. Mình cứ tưởng các nữ tu và mọi người sẽ xuýt xoa khi nghe mình đến từ Mỹ, lại là nha sĩ nữa chứ. Ai dè. Không một ai quan tâm điều đó. Họ nhỏ nhẹ hỏi rằng mình dự định sẽ ở đây bao lâu, để họ tiện phân công việc… 

– Tại sao thời gian lưu lại là cần thiết khi sắp xếp công việc hở anh?
– Mình được giải thích như thế này. Có những bé gái nhỏ bị hiếp dâm chẳng hạn, chắc chắn là tâm hồn các bé bị hoảng loạn và lo sợ cùng cực. Cho nên những người giúp chăm sóc cho bé phải là người nữ, và phải ở đó từ một tháng trở lên, chứ cứ vài ba ngày mà lại thay đổi người thì ảnh hưởng đến tâm thần các cháu bé lắm. Có tiếp xúc một thời gian đủ dài với cùng một bệnh nhân thì mới tạo được sự ổn định thần kinh và giúp gây tình thân trong lòng các em, như thế việc điều trị mới dễ có kết quả.
– Thế anh Bình ở một tuần thì công việc của anh là gì?
– Mỗi sáng thức dậy thì ai ai cũng được phát một lát bánh mì, một trái chuối nhỏ và một ly nước. Rồi ai nấy đều được giao công việc giặt đồ. “Đồ” ở đây bao gồm quần áo dơ, tã dính cứt của các người bệnh. Khi đó mình bị “shock” lắm, vì không ngờ nha sĩ ở Mỹ qua mà lại bị giao đi giặt tã cứt. Nhưng sau đó mình hiểu ra rằng với các nữ tu thì trước mặt Thượng Đế, mọi người đều bình đẳng như nhau.

Những người cùng khổ…

Người nghèo nơi đây nhiều lắm, đa số là các trẻ cô nhi, tật nguyền, bại liệt, mắc bệnh Down, nói chung là thành phần bị gia đình, xã hội ruồng rẫy, bỏ rơi và các “sơ” (soeurs – theo tiếng Pháp) lượm về chăm sóc. Bên đây người ta gọi thành phần này là “untouchable”, có nghĩa là “không ma nào thèm đụng tới nữa”, là thành phần “vứt đi”, tức là họ đã hoàn toàn sống bên lề rìa của xã hội. Mình còn nhớ ngày đầu tiên “bị” phải giặt đồ, lại không hề có máy giặt, mà phải giặt hoàn toàn bằng tay, mình gớm quá, kinh hãi quá đi. Mình xắn ống quần lên, giậm hai bàn chân lên đống đồ dơ bẩn trong thau, mà miệng thì cứ ợ lên ợ xuống vì… nhợn. Mới vừa giậm mấy cái thôi thì nước trong thau đã đen thùi lùi như… nước cống. Mình hãi quá, nhảy ra khỏi thau, lật đật đổ nước ra, múc nước mới vô, giậm giậm vài cái nữa thì hỡi ôi… lại đen ngòm và hôi rình. Chính vào giây phút đó, mình muốn khóc. Thượng Đế ơi, tại sao có những miền đất mà con người ta nghèo đến vậy và cơ cực đến vậy? Nơi đây, các sơ ai cũng chỉ có hai bộ đồ luân phiên để mặc, một đôi dép, vậy thôi. Không nhà, không tiền, không điện thoại, không cell, không computer, không laptop, không son phấn, không cả cái bàn, cái ghế để ngồi. Họ giống nhau ở một điểm duy nhất là “không có gì để lo, để nắm, để giữ, hay để sợ mất”. Các nữ tu cũng như mình vậy, họ cũng phải giặt mấy thau tả dính đầy cứt đái, nhưng họ khác mình, vì họ làm điều “dơ bẩn” đó từ năm này qua năm khác, mà họ không ợ lên ợ xuống, họ không giậm bằng chân mà thản nhiên ngồi xuống dịu dàng dùng hai bàn tay vò giặt. Mỗi sáng ai cũng đều làm công việc đó trong vòng 2 tiếng đồng hồ. 

Mất khả năng tự lo…

Sau đó mình được phân công đút các em ăn sáng. Hàng ngàn trẻ tật nguyền bại liệt được các thiện nguyện viện dìu hay bế ra một chỗ trống rất rộng, giúp các em ngồi trên dãy ghế gỗ thật dài và mớm thức ăn cho các em. Riêng khu vực mình làm thì có hơn 40 em, gái trai đều có, mù, câm điếc, tàn tật, nói chung những gì bất hạnh nhất mà chúng ta có thể nghĩ ra thì nơi đây mình đều thấy tận mắt. Hầu hết các em đều không còn tự lo cho mình được. Công việc nghe qua thì đơn giản, nhưng thật ra lại không dễ chút nào. Có khi cần hơn một tiếng đồng hồ để đút cho các em ăn xong một bát cháo nhỏ xíu. Nơi đây nghèo lắm, đồ ăn của các em không gì ngoài khoai và rau nấu nát nhừ ra như cháo. Nhiều em trông thật tội, đầu cổ cứ ngoẹo sang một bên, có em bại liệt cả cột sống, cả người nhũn hết ra, và không còn điều khiển nổi một cơ phận nào trên cơ thể. Một tay mình vịn nâng đầu em lên, tay kia thì mình vừa nhấp nhấp đụng vào cằm, vào miệng, thậm chí có khi đụng nhẹ vào lưỡi để khích thích các em nuốt. Nhiều trẻ không còn khả năng nuốt, mình phải vừa đút, vừa xoa cổ lên xuống, rồi vuốt ngực cho thức ăn dễ trôi xuống, và cuối cùng xoa bụng để giúp tiêu hóa. Có lần, một em bé ọe ra trên tay mình, nhão nhoẹt. Nhưng lúc ấy mình không cảm thấy ghê nữa, mà trong thâm tâm, mình lại cám ơn Thượng Đế là mình còn biết nuốt, biết nhai, biết ăn và còn cái hạnh phúc cảm nhận được thế nào là món ăn ngon hay dở.

Tâm tư thay đổi…

Ngày một, ngày hai trôi qua, mình bắt đầu nhận ra nhiều điều thay đổi trong tâm mình. Mỗi sáng, mình đứng nhìn dòng người dài ngoằn đang xếp hàng để được phân chia công tác. Có một hôm mình tò mò đứng đếm, trên 200 người mỗi ngày. Họ từ khắp nơi đổ về đây để làm từ thiện. Mình hỏi thăm, thì có người đến từ Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Chile, Brazil, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật, vân vân… và họ thuộc đủ mọi tôn giáo khác nhau. Ai ai cũng đều tự móc tiền túi ra để mua vé đến nơi này làm việc thiện. Mình đã tự hỏi rằng: “Tại sao? Công việc của các nữ tu trong Hội của Mẹ Teresa có gì mà hấp dẫn đến vậy? Hội chưa hề bao giờ quảng cáo, kêu gọi đóng góp, xin tiền… hay gì gì cả. Thế mà mọi người vẫn biết đến và tìm về”. 

Mỗi Thứ tư đều có ngày “hướng nghiệp” (orientation day). Thành phố Calcutta có 7 cơ sở, nói cho oai chứ thật ra là 7 căn nhà được phân loại ra theo thành phần cần giúp đỡ: những bệnh nhân sắp chết, những người mắc bệnh AIDS, những trẻ em không có khả năng tự lo, những trẻ tật nguyền nhưng còn biết chút chút, vân vân…

Bí quyết sống vui?

Tối về mình không ngủ được, cứ tự hỏi tại sao trên đời có nhiều người bất hạnh đến thế và lại có nhiều người hy sinh đến vậy? Động lực nào đã giúp các sơ luôn luôn mỉm cười mỗi ngày và vui sống? Tò mò lắm, nên mình đã sống và làm theo y hệt công việc của một nữ tu hằng ngày. Bảy ngày trôi qua đã giúp mình tìm ra đáp số. Có những đến 3 phần tạo nên câu trả lời đầy đủ nhất:

1. Nguyện cầu trong cuộc sống:

Mỗi sáng sớm, các sơ đều tập trung tại nhà chính để đọc kinh và cầu nguyện. Các thiện nguyện viên đều vậy. Họ đến, không phân biệt tôn giáo, im lặng, ngồi bệt dưới đất và cùng nhau cầu nguyện. Họ cầu nguyện hết sức chân thành và liên tục trong 2 tiếng đồng hồ. Mỗi chiều sau khi xong công việc, các sơ lại họp nhau nơi đây và tiếp tục cầu nguyện trong một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi mới đi ngủ. Mình đã tham dự những buổi cầu nguyện như vậy, và lần nào mình cũng đều xúc động. Mình biết là ở trên cao, Mẹ Teresa luôn mỉm cười khi các con của Mẹ đã và đang tiếp tục làm tròn nhiệm vụ Mẹ giao. Và mình hiểu ra rằng nhờ có sự che chở ban phước lành của Ơn Trên, các sơ mới làm được những điều vĩ đại ấy.

  1. Sự đơn giản:

 Bạn cứ thử hình dung ra một buổi hội họp với hơn 200 người trong vòng 2 tiếng đồng hồ mà không hề có một tiếng phone reo? Con người ở đây sống với sự đơn giản tuyệt đối. Không cell phone, không máy fax, không wifi, không computer, không laptop, không internet, cũng không cần texting hay iPod. Họ không có cả cái ghế để ngồi. Ghế của họ là sàn đất, không xi măng, không gỗ, không thảm. Bởi thế suy nghĩ của họ đơn giản hơn chúng ta nhiều lắm. Không tính toán, không lo toan, không ích kỷ, không ganh tỵ hẹp hòi, không thù hằn đố kỵ. Và vì vậy đầu óc họ cũng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm. Không sợ mất nhà, mất tiền, mất job, không sợ tai tiếng thị phi, không sợ cả cái chết dù ngày mai có đến.

  1. Niềm vui tự có:

Lúc mới tới đây mình gớm công việc giặt đồ quá đi. Đã có lúc muốn bỏ về. Nhưng khi tiếp xúc với các em, mình mới nhận ra là mình hạnh phúc hơn nhiều người lắm. Mình không phải nghèo (the poor), còn họ lại là những người nghèo khổ nhất (the poorest). Họ không ăn được, không tự đái ỉa được, không tự lo được, thì còn gì là cuộc sống. Vậy mà đã có em bé nhìn mình cười. Nụ cười vô tư và dễ thương làm sao. Mình cười, nhưng tim mình thắt lại, và lòng mình chùng hẳn đi. Liệu em có hiểu biết gì không, có cảm nhận được gì không khi tặng mình nụ cười vô tư ấy? Có một buổi chiều khi làm xong hết việc, sắp đi về ngủ thì tình cờ mình trông thấy một bông hoa nở bên một khe lạch. Mình chạy lại xem ngay, và mừng rỡ đứng ngắm thật lâu bông hoa lạ kia. Hạnh phúc và niềm vui tự đâu cứ tràn về. Mình happy quá, vì mình còn đôi mắt để nhìn, để ngắm, còn đôi chân để chạy lại xem, còn hai tai để nghe tiếng nước chảy tí tách. Và mình chợt hiểu ra rằng niềm vui không phải là những trò game trên máy tính, không phải là những bữa ăn buffet anh ách cả bụng, cũng không phải là những text message cứ trao đổi nhau mỗi ngày xoành xoạch. Đừng tính toán cho cái tôi của mình nhiều quá. Khi không tìm thì niềm vui sẽ tự đến. Bảy ngày đã mang đến cho mình biết bao là niềm vui nho nhỏ…

Vui cứ đến mỗi ngày nho nhỏ
Như từng nụ hoa đỏ mọc bên hồ
Vui cứ đến tự bao giờ chẳng rõ
Như suối nguồn trăm ngách chảy trăm nơi…


Không xin – Không từ chối…

Mình xin kể một kỷ niệm gây “shock” nữa đây. Hôm cuối cùng sắp sửa về, vì quá xúc động trước những điều tai nghe mắt thấy, mình và người bạn tìm đến gặp một nữ tu, nói lời từ biệt rồi ngỏ ý muốn đóng góp chút tiền cho hội. Sơ chỉ tay về phía mộ Mẹ Teresa và bảo tụi mình đến bỏ tiền vào thùng đó (nơi mộ Mẹ có một thùng nhỏ bằng gỗ, không hề khóa, để mọi người tùy hỉ đóng góp). Mình nói to: “Con giúp một ngàn đô!” (mà trong lòng đinh ninh rằng sơ tưởng mình tặng món tiền nhỏ nên mới bảo bỏ vào cái thùng ấy, chứ cả ngàn đô thì… lỡ ai rinh thùng đó đi luôn thì sao?). Sơ gật đầu và vẫn chỉ tay về hướng ấy. Mình lập lại lần nữa to hơn: “One thousand dollars!”. Sơ gật đầu, mỉm cười cúi chào rồi… tiếp tục rảo bước. Mình ngạc nhiên cùng cực, không lẽ nơi đây không ai tham và ăn cắp? Sau đó trên chuyến bay về lại Mỹ, mình có dịp trò chuyện với một thiện nguyện viên người Nga. Cô cho biết cô đã đến Calcutta đây là lần thứ ba. Khi mình kể lại món quà “một ngàn đô”, cô cười và giải thích: “Hội Missionary Sisters of Charity do Mẹ Teresa sáng lập có một câu phương châm, đó là: Không xin. Không từ chối (Ask for nothing. Refuse nothing). Nghĩa là: Chúng tôi không quảng cáo, không kêu gọi đóng góp. Nhưng nếu bạn có lòng, thì chúng tôi nhận tất cả những gì bạn tặng: tiền bạc, thời gian, công sức, một lời cầu nguyện, hay ngay cả một nụ cười”. Giờ nhớ lại, mình vẫn còn thấy ngượng cho danh tự xưng “nha sĩ từ Mỹ” mà mình tự khoe với mọi người, cũng như về món quà “to tát một ngàn đô” mà mình “sợ mất giùm cho các nữ tu”.
Có dịp trò chuyện với các thiện nguyện viên đến từ khắp nơi, mình đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một cô bé đến từ Trung Quốc, chừng hơn hai mươi tuổi, nói rằng cô đến đây là lần thứ hai. Mình tò mò hỏi lại: “Cô sống tại một nước cộng sản chưa đủ khổ hay sao mà còn tìm đến đây giúp đỡ?”. Cô cười: “Có đến nơi này, tôi mới biết là không nơi đâu nghèo khó và cùng cực như ở Calcutta và cũng không nơi đâu có thể tìm thấy những con người hơn cả vĩ đại như các nữ tu nơi này”.

Việt Nam- Ấn Độ: Giống và
khác?

– Câu chuyện quá hay. Nếu như so sánh giữa Việt Nam và Ấn Độ, thì anh Bình có thấy điểm gì giống và khác nhau không?
– Nhiều lắm. Cho phép mình nói về điều hay lẫn điều chưa hay nhé. Mình đã về Việt Nam, rồi lại qua Ấn Độ, nên mình chỉ có sự so sánh rất cá nhân như thế này. Tại Ấn Độ, giới chuyên môn như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ rất thiếu, vì dân số đông quá, nhưng phải nói rằng họ rất giỏi vì họ ham tìm tòi, học hỏi trên mạng, tham dự các khóa huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn từ các nước tiên tiến như Mỹ, Canada… hằng năm đều qua Ấn. Việt Nam mình thì thành phần professional tràn đầy, nhưng phẩm chất thì chưa được như Ấn. Ở xứ sở này, dường như không có nạn ăn cắp, móc túi, cò mồi, hay ép giá. Người Ấn Độ có vẻ hiền lành hơn, không thừa nước đục thả câu mà bắt nạt du khách. Mình đã về miền Tây Việt Nam, rồi nay đi thăm miền Tây lẫn miền Đông Ấn Độ, nói thật, đi ngoài đường tại thành phố Deesa hay Calcutta cho mình cái cảm giác bình an hơn ở Việt Nam nhiều lắm, mặc dầu mình rành tiếng Việt, trong khi không biết một chữ tiếng Ấn và người dân Ấn thì hầu như chỉ có một thiểu số rất ít biết bập bẹ tiếng Anh. Xứ Ấn rất nóng, nhưng mình không thấy ai ở trần hay mặc quần đùi ra đường, trong khi ở Việt Nam thì… (cười) đầy ra đấy. Phụ nữ tuy không che mặt như ở các nước Hồi giáo nhưng ăn mặc rất cổ điển và hết sức kín đáo.
Còn điều chưa hay, bạn cứ tưởng tượng xem các đường phố Việt Nam bây giờ chen chúc và kẹt xe như thế nào, thì ở Ấn Độ, mình hãy nhân lên gấp 10 lần như vậy. Người đâu mà đông khủng khiếp. Nếu ai có than phiền rằng dân Việt Nam chạy ẩu, bất chấp luật giao thông, đậu xe bừa bãi bất kể nơi nào, thì dân Ấn tệ gấp 10 lần hơn thế. Ai cằn nhằn rằng sao bây giờ ở Việt Nam rác rến đầy đường thì xin thưa, Ấn Độ dơ gấp 10 lần hơn vậy. 
Còn hai điểm nổi bật nhất mà ai đến Ấn Độ dù không cần để ý cũng nhận ra ngay. Thứ nhất phải nhắc tới Bò. Bò đâu mà đầy đường đầy sá. Quay tới quay lui bốn hướng nơi đâu cũng thấy bò. Chúng đi nhan nhản khắp nơi, và xe cộ, người đi đường phải tránh chúng. Nghe nói bò là loài thú được người dân Ấn tôn thờ.

Thứ hai phải nhắc tới Người. Dường như bên này “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”, nên không bao giờ nhìn thấy một người nam đi sát một người nữ, dù là vợ chồng hay cha con, thì nói chi đến chuyện nắm tay hay hôn hít. Ngược lại ở Việt Nam thì đầy những cảnh các cô nắm tay dung dăng dung dẻ, hay các cậu bá vai, ôm eo cười giỡn, Chính mắt mình thấy hai người đàn ông nằm sát rạt trên một chiếc xe lam, đắp chung cái mền và họ ngủ khò sung sướng. Có lẽ đó là do phong tục tập quán khác nhau ở hai nước.
 

Còn về vật giá thì trung bình một người dân lao động đi làm cả ngày quần quật cũng chưa kiếm nổi 5 Mỹ kim, trong khi một nhà trọ cho các du khách thì giá khoảng 15 Mỹ kim một ngày? Một Mỹ kim bằng 53 rupee.

Hạnh phúc xả ly…

– Thế chuyến đi Ấn Độ vừa qua đã giúp anh Bình điều gì?
– Hai tuần ở hai thành phố nhỏ nơi miền Tây và miền Đông Ấn Độ đã tặng cho mình một kinh nghiệm sống tuyệt vời. Lúc rời Mỹ, tôi cứ tưởng mình tới đó để “dạy cho người ta, ban phước cho người ra, bố thí cho người ta”. Hai tuần trôi qua,mình mới nhận ra là mình may mắn đã “học được rất nhiều từ người ta, được người ta ban phước và được người ta bố thí”. Các nữ tu và những con người cùng khổ nhất trong những người nghèo khổ đã tặng cho mình một món quà vô giá: giúp mình hiểu thế nào là Hạnh Phúc Xả Ly.Con người ta thường cho rằng hạnh phúc là “Có”: có tài sản, có quyền lực, có danh vọng, có địa vị… Khi chưa có thì muốn có, và làm đủ mọi cách để mà có. Khi có rồi thì sợ mất hay lại muốn đòi có cái khác cao hơn, mắc hơn, xịn hơn. Nếu không có thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở.

Hạnh phúc: Có và Không!

Nhưng với các nữ tu nơi đây thì “không có” là một hạnh phúc. Họ nghèo hơn chúng ta nhiều lắm, vì tài sản của họ chỉ là hai bộ đồ và hai bàn tay trắng. Nhưng họ giàu hơn chúng ta biết bao, bởi họ thật sự có trái tim và tấm lòng.Và những người bất hạnh cũng vậy. Với họ, sống được thêm một ngày đã là một niềm vui. Có những em bé mồ côi khi mình tắm cho, em ôm lấy mình bi bô câu gì đó, rồi em cười hạnh phúc. Có những ông cụ gầy giơ xương khi được phát trái chuối thì bẻ ngay một mẫu cho vào miệng móm mém nhai một cách ngon lành. Có những bà cụ già bị bỏ rơi, khi mình kéo tấm chăn lên ngực thì bà nhắm mắt ngủ ngay một giấc thật ngon. Ở quốc gia này, chẳng thấy ai cần đến thuốc an thần hay thuốc trị trầm cảm. Phải chăng sự đơn giản đã giúp tâm hồn người dân nơi đây thanh thản hơn chúng ta?

Đi hai tuần trở về, mình nghiệm ra một điều rằng: Trong cuộc sống, có những thứ “Cho đi” là “Đón nhận”. Phải chăng hạnh phúc khi “Không” chính là “Có”? Nắm giữ cho nhiều rồi khi nhắm mắt thì Có cũng thành Không…

Quà tặng cuộc sống…

– Cuối cùng thì anh Bình còn điều gì muốn chia sẻ?
– Về lại Mỹ, mình có suy nghĩ khác đi. Mình sắp xếp lại thời khóa biểu cho công việc, gia đình và cho chính bản thân. Dành thêm thời gian quan tâm đến người khác, và tự cho phép mình có những giây phút thảnh thơi – một mình, với thiên nhiên, hay… chẳng làm gì cả. Mình tập bỏ bớt các sự ham muốn, sự bám víu vật chất bên ngoài. Bớt ngồi chít chát meo, bớt đổi iPad, iPhone mỗi lúc ra mặt hàng mới. Mình cũng bớt cưng chiều các con quá đáng như xưa, dành thời gian dạy dỗ các con về giá trị thật của hạnh phúc và con người. Mình kể về hai chuyến đi này chỉ mong mọi người hiểu rằng: Ở một nơi thật xa -những góc rất khuất của cuộc đời, vẫn có những con người – tuy bất hạnh nhưng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm, tuy tay trắng nhưng lại giàu có hơn chúng ta biết bao.Nếu có thể, hãy tự thưởng cho mình hay cho con cháu một vé đi Ấn Độ, thay vì tự mua một chiếc xe mới, hay tặng cho con một cái laptop đắt tiền. Chỉ một tuần thôi, chắc chắn sẽ thay đổi hoàn toàn cái nhìn của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc trong đời. Chắc chắn đây là món quà mà mình sẽ tặng cho các con khi chúng 18 tuổi.

From: Nghia Truong

AI ĐÃ KHAI SINH RA NGÀNH NAILS CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ?

AI ĐÃ KHAI SINH RA NGÀNH NAILS CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ?

            Nước Mỹ là một đất nước tự do, đất nước mà trong nó đã chứa đựng những giống dân của các quốc gia với đủ mọi ngành, nghề khác nhau. Và mỗi ngành, nghề đều mang một đặc trưng cho một quốc gia đó. Ví dụ như : Người Hàn Quốc đa phần thì mở tiệm tạp hoá , Người Tàu thì mở nhà hàng, người Ý thì chuyên về xây dựng, Ấn Độ, Trung Đông thì cây xăng. Khơme  bán bánh donut.  Còn Việt Nam thì…Nails.

          Theo một số người đã nhận định rằng: Thượng Đế hết sức thương và công bằng khi đã giúp cho người Việt Nam trên đất Mỹ  có một ngành, nghề phù hợp với sức vóc của người Việt. Thật vậy, thử tưởng tượng nếu không có nghề làm móng tay , tất cả chị, em phụ nữ Việt Nam trên toàn nước Mỹ đều phải đến làm việc tại các hãng,xưởng . Cuộc sống của họ  chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều so với nghề làm  nails hiện tại.

             May mắn thay, khi người Việt của chúng ta ngay từ buổi đầu di cư đến nước Mỹ đã tìm được  một nghề thật thích hợp. Ngày nay, cũng chính nhờ vào nó, nhiều gia đình đã trở nên khá giả. Tiền bạc rủng rỉnh. Nhu cầu vật chất đầy đủ. Người thân của họ ở Việt Nam cũng được hưởng lây, thông qua số tiền mà họ đã kiếm được bằng vào cái nghề nails. Thế nhưng để có được một cái nghề “ hái “ ra tiền tương đối dể dàng như thế này, ngay từ buổi đầu ai đã vất vả, ngược xuôi để khai sinh ra nó thì mấy ai đã biết…!

                                 HÌNH THÀNH

               Sau biến cố tháng 4 năm 1975. Từng đoàn người di tản rời  khỏi Việt Nam đã đến Mỹ theo sự chấp nhận của Chính Phủ thời bấy giờ. Những đoàn người đầu tiên đặt chân đến một đất nước đầy xa lạ này. Ngôn ngữ khác biệt,môi trường sống khắc nghiệt, chưa được thích nghi. Biết phải làm gì để sống giữa một xã hội công nghệ đầy tân tiến ? Đó luôn luôn là một nổi lo lớn nhất của mấy chục ngàn người Việt đến Mỹ lúc bấy giờ. Và, hoà trong nổi lo đó  có một người đàn bà bản xứ cũng đang ngày đêm trăn trở, băn khoăn không kém. Cái trăn trở, băn khoăn của Bà hoàn toàn xuất phát từ trái tim nhân hậu và đầy lòng thương yêu người. Đứng trong một góc khuất của cuộc đời. Bà nhìn những người phụ nữ Việt Nam với vóc dáng mảnh mai nhỏ nhắn kia, liệu có sức khỏe để làm các công việc nặng nề trong các hãng, xưởng suốt 8 tiếng đồng hồ ? Chưa kể phải cạnh tranh về thể lực với nhiều giống dân da màu khác ? Trong thâm tâm Bà, Bà muốn  giúp những người phụ nữ này có một công việc thật nhẹ nhàng hơn, thật thích hợp hơn so với tầm vóc của họ. Một công việc có cuộc sống sung túc và ổn định cho họ. Thế rồi. Sau những tháng ngày tìm tòi và suy nghĩ cuối cùng bà đi đến quyết định. Sẽ cho những người Việt tự chọn nghề của mình, bằng cách- bà sẽ tạo điều kiện cho họ. 

           Một ngày của tháng 8 năm 1975. Bà cùng nữ tài tử Kiều Chính làm phiên dịch đến thăm làng Hy vọng ( Hope Village ) ở Thành phố Sacramento. Thủ đô của bang California. Nơi đây, đang là nơi tập trung người Việt đông nhất trên nước Mỹ lúc bấy giờ. Khi đến bà mang theo những người dạy nghề cho hai nghề chính mà bà nghĩ ra và tin chắc rằng, họ sẽ lựa chọn. Đó là : Nghề đánh máy và nghề thợ may.  Thế nhưng, khi đến nơi mọi diễn biến thật là ngoài dự kiến của bà. Tất cả những người phụ nữ trong trại đều lắc đầu từ chối những nghề mà bà đã mang theo. Họ chỉ chú ý và trầm trồ ngưỡng mộ bởi bà đang mang theo bộ móng trên những ngón tay-quá đẹp ! Bộ móng tay dài, dài, cong,cong với màu sơn nhuần nhuyễn khiến cho những người phụ nữ này cứ mê mẩn dán mắt không rời khỏi đôi tay của Bà. Và… Thế đó. Ngành NAILS đã được hình thành ngay trong đơn giản và tự nhiên đến như vậy. 

             Thời ấy, nghề làm móng tay không được tràn lan như bây giờ. Những tiệm làm nails có rất ít. Các tiệm này luôn luôn là của người Mỹ da trắng. Đa số khách hàng của họ thuộc giới giàu sang hoặc là người mẫu, diễn viên điện ảnh.  Nhận thấy những người Việt có vẻ thích thú với công việc này. Và để chìu theo sở thích của họ. Cuối cùng Bà đã nhận bảo trợ cho 20 người phụ nữ Việt đầu tiên, đem họ về nhà và mướn người truyền dạy kỹ nghệ làm móng tay . Hằng tuần Bà cho máy bay riêng về Los Angeles đón bà Dusty là chủ một tiệm Nails danh tiếng mà khách hàng của tiệm này đều là những đại gia , người mẫu, tài tử điện ảnh nổi tiếng thời bấy giờ về nhà Bà để dạy nghề cho họ. 

               Sau khi khoá học kết thúc. Bà gởi 20 người phụ nữ đầu tiên này về trường Citrus Heights beauty College tại Sacramento để thi lấy bằng. Thế nhưng có bằng NAILS là một chuyện và để làm việc thì là một chuyện khác. Bởi vì, vào thời bây giờ như đã nói trên. Tất cả những tiệm Nails trên nước Mỹ được mở ra, hoàn toàn phục vụ cho tầng lớp giàu sang, quý tộc hoặc có tiếng tăm trong xã hội. Còn bình thường thì đa số dân chúng không đủ tiền để thuê mướn người làm nails như đại trà hiện nay. Do đó chẳng tiệm nào muốn nhận một người Việt Nam mà vốn liếng tiếng Mỹ còn kém cỏi và tay nghề còn non nớt cả. Lại một lần nữa bà đã vận dụng sự uy tín và nổi tiếng của mình để giúp cho 20 học viên này có được việc làm trong những tiệm Nails sang trọng thời bấy giờ. 

              Tóm lại, để nuôi ăn, ở cho 20 con người rồi dùng máy bay riêng thuê mướn người dạy nghề kể cả lo việc làm cho họ khi ra trường. Đây là điều không phải ai làm cũng được ! Phải là những người thật sự giàu có về Tâm lẫn Tiền như bà thì mới có thể thực hiện được.

             Thế nhưng, người đàn bà này là ai ? Xin thưa- Bà chính là Tippi Hedren- nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng, xinh đẹp của thập niên 1960 ( hình dưới đây )Bà cũng là người đã sáng lập ra hội thiện nguyện “ Food for the Hungry “ nổi tiếng nhân đạo trên nước Mỹ. Và cũng chính Bà là người đã có công khai sinh ra ngành nails cho cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ nói riêng và các cộng đồng người Việt ở các nước khác nói chung.

            Từ 20 người đầu tiên của kỹ nghệ làm móng tay này. Đến nay, con số đã được nhân rộng trên toàn nước Mỹ. Theo thống kê người ta ước tính hiện nay có trên 100.000 tiệm Nails được rải đều trên khắp các tiểu bang. Chỉ tính riêng năm 2018. Hệ thống ngành Nails trên toàn nước Mỹ của người Việt đã đạt doanh thu trên 10 tỷ dollars. Đó chỉ là con số trên giấy tờ còn về mặt “ chìm “ thì con số còn….” bao la “ hơn nhiều ! Ngày nay, đã có những Tướng Lĩnh, Khoa Học Gia, Bác Sỹ, Kỹ Sư, các nhà Tham Mưu, Nghiên Cứu của thế hệ thứ hai hoặc thứ ba được trưởng thành và thành danh đều nhờ vào những đồng tiền kiếm được từ nghề nails của bậc sinh thành ra họ. Cạnh bên, trong xã hội hiện nay đã có không ít những gia đình có cuộc sống rất ổn định nếu không muốn nói đến giàu có nhờ vào chính nghề này.

             Truyền thống Việt Nam : uống nước nhớ nguồn !Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ! Thông qua bài viết này như một lời tri ân đến Thầy dạy NAILS- Ms Dusty và 20 học viên đã có công khai sáng đầu tiên cho ngành NAILS của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Và, trên hết, cũng thông qua bài viết này xin gởi đến lời cảm ơn đầy kính trọng nhất đến với Ms Tippi Hedren – Người đã có công khai sinh ra ngành NAILS cho toàn thể cộng đồng người Việt tại nước Mỹ nói riêng và tất cả các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới nói chung.

From:TU-PHUNG

 Thêm một người Mỹ gốc Việt thành đạt. Luật sư- Thẩm Phán Tony Phạm

 Thêm một người Mỹ gốc Việt thành đạt. Luật sư– Thẩm Phán Tony Phạm

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump vừa bổ nhiệm Luật sư – Thẩm phán gốc Việt Tony Phạm vào chức Cố vấn Trưởng Pháp lý của Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) tại thủ đô Washington, lãnh đạo hơn 1,100 công tố viên và hàng năm nhân viên thực thi pháp lý liên quan đến việc trục xuất các di dân bất hợp pháp trên khắp lãnh thổ Hoa Kỳ.

Văn phòng Cố vấn Trưởng Pháp lý (Office of the Principal Legal Advisor – OPLA) do Thẩm phán Tony Phạm lãnh đạo là cơ quan pháp lý lớn nhất tại Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ (DHS), và đây cũng là cơ quan đại diện duy nhất của DHS trong các phiên tòa xét xử trục xuất người nhập cư, bao gồm các trường hợp khủng bố và vi phạm nhân quyền.

Ông Tony Phạm có nhiệm vụ cố vấn pháp lý cho hơn 1,500 các nhân viên của OPLA giúp thực thi luật nhập cư và luật hải quan của Hoa Kỳ, quản lý ngân sách hàng năm đến 290 triệu đôla. Ngoài trụ sở chính tại thủ đô Washington, OPLA còn có 25 Văn phòng Công tố viên trưởng tại hơn 60 khu vực trên khắp đất nước Hoa Kỳ.

Trả lời phỏng vấn với VOA nhân dịp Hoa Kỳ vinh danh Người Mỹ gốc Á trong tháng 5, Luật sư Tony Phạm viết: “Tôi rất vinh hạnh là người Mỹ gốc Á đầu tiên và duy nhất đảm nhận chức Cố vấn Trưởng Pháp lý cho ICE. Tôi cũng là người gốc Việt đầu tiên được bổ nhiệm vào trị trí này.”

45 năm về trước, vào ngày 19/04/1975, khi mới hai tuổi, ông cùng gia đình đã rời Việt Nam chỉ hai tuần trước khi Sài Gòn sụp đổ.

“45 năm sau, đứa trẻ tị nạn sợ hãi đó đã trở thành Cố vấn Trưởng Pháp lý cho ICE trực thuộc DHS. Sự hy sinh của thế hệ trước làm cho quyết tâm cống hiến cộng đồng của tôi càng thêm mạnh mẽ,” Luật sư Tony Phạm chia sẻ.

Là con trai của cựu trung tá Công Binh Việt Nam Cộng hòa, ông Tony Phạm luôn tri ân những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam. Ông viết trên Facebook dịp kỷ niệm 45 năm ngày Sài gòn thất thủ: “Tôi nghĩ về 58.000 quân nhân đã bị giết ở Việt Nam. Tôi nghĩ về hơn 1.200 người đang mất tích trong chiến tranh. Tôi nghĩ về hàng ngàn gia đình đã bị đẩy lên những chiếc thuyền chạy trốn khỏi Việt Nam, rồi lênh đênh trên Biển Đông.”

Cố vấn Trưởng Pháp lý ICE Tony Phạm chia sẻ với VOA: “Khi cộng đồng của chúng tôi bắt đầu hành trình mới ở Mỹ, cha mẹ chúng tôi phải vật lộn để học một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới và bắt đầu lại từ đầu. Các cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của chúng tôi đã chiến đấu dũng cảm để bảo vệ đất nước của chúng tôi trong chiến bại. Nhiều người đã trả giá đắt bằng cả sinh mạng của họ.”

Ông nói thêm: “Lịch sử của người gốc Việt ở Mỹ và cuộc đấu tranh của cộng đồng của chúng tôi luôn là điều thôi thúc tôi cam kết phục vụ công cộng trọn đời.”

“Khi chúng tôi là những người tỵ nạn đến quốc gia này để tìm kiếm niềm hy vọng và cơ hội, tôi đã thọ ơn nước Mỹ. Tôi thọ ơn vì được hưởng các quyền tự do và cơ hội mà tôi phải đáp trả. Để làm điều này, tôi cam kết với cộng đồng của mình là quyết tâm trở thành một công dân chăm chỉ và truyền lại kinh nghiệm và cơ hội của mình để phục vụ những người xung quanh,” ông Tony Phạm viết trên trang ICE.

“Điều này có nghĩa là tôi có nghĩa vụ thể hiện sự tôn trọng đối với thế hệ trước, người đã vạch ra con đường này cho tôi và tôi muốn tiếp tục tạo cơ hội như thế cho các sinh viên trẻ gốc Việt trong thế hệ kế tiếp,” ông Tony Phạm nói.

Để vươn đến thành công, ngoài việc đánh giá cao về giá trị gia đình, tinh thần vượt khó, Luật sư Tony Phạm còn nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục. Ông chia sẻ: “Giáo dục là phương tiện giúp chúng ta thoát nghèo. Giáo dục tạo nên sự cân bằng tuyệt vời, trang bị cho chúng ta các công cụ nghề nghiệp. Tôi được dạy rằng một khi tôi có được tri thức thì không ai có thể lấy mất tri thức của tôi.”

Ông Tony Phạm có gần 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp lý, từng là một công tố viên và giám sát một nhà tù tại tiểu bang Virginia.

Khanh Cong Huynh

kchuynh

 From:TU-PHUNG

https://www.facebook.com/VOATiengViet/videos/275096823873473/?t=22

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump vừa bổ nhiệm Luật sư – Thẩm phán gốc Việt Tony Phạm vào chức Cố vấn Trưởng Pháp lý của Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) tại thủ đô Washington, lãnh đạo hơn 1,100 công tố viên và hàng trăm nhân viên thực thi pháp lý liên quan đến việc trục xuất các di dân bất hợp pháp trên khắp lãnh thổ Hoa Kỳ. Xem thêm: voatiengviet.com/a/nguoi-goc-viet-tro-thanh-co…/5437659.html