Bóng hồng sát thủ: Chuyện chưa kể về giang hồ Sài Gòn trước 1975.

Bóng hồng sát thủ

Chuyện chưa kể về giang hồ Sài Gòn trước 1975.

Trong giới giang hồ Sài Gòn thập niên 60 – 70 xuất hiện một “bóng hồng sát thủ”, đó là Lệ Hải – “người tình một năm” của ông trùm Đại “Cathay”.

Diện mạo giang hồ thời Pháp thuộc

Thời Pháp thuộc, giang hồ miền Nam phần lớn là những tá điền “dốt đặc cán mai”, một chữ bẻ đôi không biết, chịu không nổi ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào, ác bá bèn bỏ xứ đi làm trộm cướp, y như nhân vật thầy giáo Hai Thành trong vở cải lương Đời cô Lựu.

Giang hồ người Hoa vùng Chợ Lớn đội lốt đoàn lân.
Những nông dân tay lấm, chân bùn này trôi dạt lên Sài Gòn – Chợ Lớn sống lang thang ven kênh rạch, bến xe thổ mộ, nhà ga… Ban ngày, họ nai lưng làm cu-li. Tối đến, họ cởi áo bôi mặt nhọ nồi, lận mã tấu trong cạp quần hành nghề “đạo tặc”.

Lãnh địa giới giang hồ hùng cứ vào những năm 20 – 30 thế kỷ trước là Chợ Lớn, Lăng Ông – Bà Chiểu, Xóm Thuốc (Gò Vấp), bến phà Thủ Thiêm, cầu Sắt (Đa Kao) và bến xe Lục tỉnh. Nét đặc biệt của giang hồ đầu thế kỷ 20 so với du đãng bây giờ chính là bản lĩnh. Tay anh chị nào cũng võ nghệ đầy mình, không giỏi quyền cước thì đừng hòng trụ vững ở cái thế giới “lắm người, nhiều ma” này.

Khi có chuyện phải “đối thoại” với nhau bằng dao búa, họ không bao giờ ỷ lại vào lực lượng hùng hậu để “đánh hội đồng” theo kiểu “ruồi bu cùi bắp” như đám choai choai bây giờ mà sẵn sàng chơi “bặc-co” tay đôi “một chọi một”. Có thể kể đến cuộc đụng độ của Bảy Viễn với Mười Trí, quyền sư Mai Thái Hòa so tài với gã giang hồ Tư Ngang tại “hãng phân” Khánh Hội (Q.4), “thầy ngải” Nguyễn Nhiều bẻ lọi tay trùm du đãng khu lò heo Gia Định – Phillip – ở cầu Sơn (Thị Nghè)…

Giang hồ xưa tuy nghèo chữ nghĩa nhưng giàu chữ “tín”, cư xử với nhau rất “nghĩa khí”, bởi thế mới sinh ra từ “điệu nghệ” do từ “đạo nghĩa” đọc trại ra. Thời kỳ này, giang hồ Sài Gòn ít nhiều chịu ảnh hưởng từ nhân vật trong các pho truyện “Tàu” được bán khắp các bến xe do nhà in Tín Đức Thư Xã ấn hành.

Giang hồ khu Cầu Muối (Sài Gòn) thập niên 1950.
Thực tế cho thấy, không ít tay du đãng sừng sỏ từng lấy biệt danh là Võ Tòng, La Thành, Đơn Hùng Tín, Tiểu Lý Quảng, Triệu Tử Long, Đông Phương Sóc… như là một thứ “danh thiếp”nhằm khẳng định tên tuổi trong chốn giang hồ.

Những cuộc “long tranh, hổ đấu”

Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng trong võ lâm giang hồ vẫn tồn tại 2 câu chuyện thuộc vào hàng “điển tích”. Câu chuyện thứ nhất xảy ra vào năm 1936, trùm du đãng Bảy Viễn bị đày ra đảo Côn Lôn vì can tội cướp tiệm vàng. Tại đây, hắn bị biệt giam tại phòng 5 và đã đụng độ tên cọp rằn ác ôn người Miên tên Khăm Chay – một tướng cướp trên núi Tà Lơn. Tên này võ nghệ cao cường, có luyện “gồng Trà Kha”, được chúa đảo Bouvier đỡ đầu với chính sách dùng tù Miên trị tù Việt.

Trong cuộc so tài, Bảy Viễn đã tung một cú đá xỉa bằng năm đầu ngón chân (Kim Tiêu cước) nhanh và hiểm trúng vào nhân trung (yếu huyệt) Khăm Chay khiến hắn bể sóng mũi, giập môi, gãy răng, máu tuôn xối xả, tràn cả vào mồm. Khăm Chay lảo đảo vài bước rồi đổ gục xuống nền buồng giam. Từ đó, cọp rằn Khăm Chay lặn mất tăm. Phục ở chỗ, gã không hề dựa hơi chúa đảo người Pháp phái lính mã tà tra tấn địch nhân hay kéo bọn tù đàn em dùng số đông trả thù Bảy Viễn. Kể ra đó cũng là nghĩa khí của đấng trượng phu!

Hình tượng giang hồ Bình Xuyên – Bảy Viễn – trong phim Dưới cờ đại nghĩa.

Câu chuyện thứ 2 là khi thủ lĩnh Bình Xuyên – Ba Dương – đề nghị Sáu Cường ủy lạo gạo, tiền nuôi binh đánh Tây. Gã anh chị có chân to như “chân voi” (hai bàn chân Sáu Cường chiều dài hơn 3 tấc) đã dõng dạc tuyên bố: “Nếu Ba Dương chịu nổi một cước của Sáu Cường này thì muốn bao nhiêu gạo cũng được”. Ba Dương chấp nhận. Trận thư hùng diễn ra tại bến xe An Đông.

Khi Ba Dương đến, đám thuộc hạ của Sáu Cường đồng loạt cười ồ bởi ngoại hình tay thủ lĩnh lực lượng quân đội Bình Xuyên quá “mỏng cơm”. Nhưng sau khi Sáu Cường xuất chiêu mới biết là mình đã lầm.

Để khắc chế cú đá nặng ngàn cân của đối phương, thân hình Ba Dương luồn lách uyển chuyển như con rắn, dùng “xà tấn” lòn thấp người tránh né đồng thời dùng “hạc quyền” khẽ chạm vào hạ bộ của “thần cước” Sáu Cường. Liên tục 3 cú đá mạnh và nhanh như điện mà Sáu Cường tung ra, đối thủ đều né tránh tài tình. Cùng lúc, Ba Dương 3 lần dùng tuyệt kỹ võ hạc “mổ” nhẹ vào “của quý” Sáu Cường, dụng ý chỉ nhằm cảnh cáo.

Biết mình đã lỡ đụng nhằm cao thủ, trùm giang hồ bến xe An Đông lập tức dừng đòn, nghiêng người cúi đầu đưa hai tay cung kính bái phục Ba Dương như một hiệp khách bại trận và tất nhiên giao kèo trước đó được hai tay anh chị thực thi chóng vánh. Không hề có chuyện Sáu Cường giở trò chơi dơ “lật kèo” ỷ nhiều đánh ít, mặc dù Ba Dương đến bến xe An Đông “phó hội” đơn thân độc mã, tay không tấc sắt.

“Cao bồi” xuất hiện

Sau 1/11/1963 giang hồ theo kiểu “108 anh hùng Lương Sơn Bạc” coi như xóa sổ. Cho đến những năm đầu 60, khi trào lưu “Làn Sóng Mới” (Le Nouvel Vague) từ phương Tây đổ bộ lên “Hòn ngọc Viễn Đông”, một số tay anh chị bắt đầu xuất hiện trở lại và chia nhau hùng cứ những khu vực manh mún ở Sài Gòn.

Cụm từ “hippy choai choai” do báo chí Sài Gòn đặt, ám chỉ lớp người trẻ ăn mặc theo kiểu cao bồi miền viễn Tây Texas (Hoa Kỳ) cưỡi ngựa chăn bò với quần jean, áo sơmi ca rô sọc to xanh đỏ, giày ống cao gót, tóc dài phủ gáy, phóng xe máy Sachs như điên trên đường phố, miệng phì phèo thuốc lá Salem. Ban ngày, các “cao bồi” này “ngồi đồng” ở các quán cà phê nhạc ngoại quốc trên đại lộ Lê Lợi, Nguyễn Huệ.

Tướng cướp Điền Khắc Kim

Điềm Khắc Kim và 2 con.

Bàn thờ Điềm Khắc Kim tại nhà, ảnh trên là ba của Kim, ông Kha Lon Riêm. Ảnh: CTV

Tối đến, họ “đóng đô” ở các phòng trà, vũ trường giá “bèo” như Anh Vũ, Bồng Lai, Melody, Lai Yun (Lệ Uyển), Arc En Ciel (khu Tổng Đốc Phương), ngã tư Bảy Hiền, hồ bơi Chi Lăng, Victoria (Phú Nhuận)…, sẵn sàng gây sự và đánh lộn, đập phá, đâm chém chỉ để nhằm khẳng định mình là “cao bồi” chính hiệu!

Tướng cướp Bạch Hải Đường.

Bạch Hải Đường được xếp ngang hàng về danh tiếng với Điền Khắc Kim, Đại “Cathay”, những tay anh chị lừng lẫy Sài Gòn trước 1975.
Võ sư Huỳnh Tiền, người anh em bị chối bỏ của huyền thoại Boxing Việt Kid Demdsey

Võ sư Huỳnh Tiền, người anh em bị chối bỏ của huyền thoại Boxing Việt Kid Demdsey

Võ sư Huỳnh Tiền
Sau cuộc chính biến lật đổ “Ông Ngô Đình Diệm” vào đầu thập niên 60, trật tự đô thị Sài Gòn trở nên hỗn độn, khó kiểm soát. Nhân cơ hội này, nhiều thành phần “cao bồi” manh nha xuất hiện, “vỗ ngực xưng tên”. Nổi trội trong giới giang hồ là những “đại ca” tên tuổi như Cà Na ở khu Tân Định (sau theo võ sư Huỳnh Tiền đấu võ đài 8 trận toàn thắng với biệt danh Huỳnh Sơn), Bích “Pasteur”, Búp “Moderne”, Bình “thẹo”, Lộc “đen” (vua nhảy bebop), Hân “Faucauld”, Sáu “già”, Nhã “xóm chùa. image4.png

Quận 1 – vùng đất màu mỡ trù phú – do “tứ đại thiên vương” Lê Đại, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế chia nhau cai quản. Đám lâu la đông hàng trăm tên gồm A “chó”, Hải “sún”, Lâm “khùng” (tức Lâm “chín ngón” sau này), Lương “chột”, Hùng “đầu bò”, Việt “Parker”, Đực “đen”. image5.png

Khu vực quận 3 có Minh “nhảy dù”, Cẩm “Mambo”, Lâm “thợ điện” (nhà ở đường Nguyễn Thiện Thuật bán đồ điện gia dụng), Hùng “mặt mụn” (thủ phạm đâm chết Lâm “thợ điện” ở bệnh viện Từ Dũ bằng con dao cắt bánh mì sau một vụ cãi nhau vớ vẩn vì chiếc xe đạp Martin). Xuôi về quận 5 hướng chợ Nancy rồi Đại Thế Giới (chợ Soái Kình Lâm – “đèn năm ngọn”) là lãnh địa của những trùm giang hồ người Hoa như Tín Mã Nàm (Nàm Chẩy), Sú Hùng, Hổi Phoòng Kiên, Trần Cửu Can, Ngô Tài…

Trong giới giang hồ Sài Gòn thập niên 60 – 70 xuất hiện một “bóng hồng sát thủ”, đó là Lệ Hải – “người tình một năm” của ông trùm Đại “Cathay”. Lệ Hải xuất thân con nhà giàu có, gia giáo, trâm anh thế phiệt, cựu nữ sinh trường Marie Curie, thi đỗ tú tài I. Năm 17 tuổi, Lệ Hải đã thi lấy bằng lái ô tô, hằng đêm lướt đến các vũ trường trên chiếc Toyota Corolla màu đỏ cánh sen bóng lộn. Là một giai nhân giàu có lại “biết chữ”, Lệ Hải không thèm cặp bồ với những tay giang hồ thô kệch võ biền mà chấp nhận làm người tình của bác sĩ Nghiệp – một thầy thuốc có ngoại hình trí thức kèm máu du đãng nổi tiếng Sài Gòn bởi luôn có mặt bên cạnh Đại “Cathay” ở các phòng trà, động hút. Sau khi đã “hoa chán, nguyệt chê” Lệ Hải, gã bác sĩ bèn “sang tay” người tình cho Đại “Cathay” trong một đêm sinh nhật thác loạn tổ chức ở phòng trà Lido trên đại lộ Trần Hưng Đạo, Q.5.

“Gái giang hồ” hội ngộ “trai tứ chiếng”, vóc dáng “du đãng mang nét mặt thư sinh” của Đại “Cathay” nhanh chóng thu hút “nữ quái” đa tình. Từ sau đêm đó, Lệ Hải bỏ nhà đi “sống bụi đời” cùng Đại “Cathay” như vợ chồng. Thế nhưng, cuộc tình “sét đánh” cũng nhanh chóng vỡ tan sau một năm chăn gối mặn nồng. Lệ Hải bỏ người tình, cặp bồ với nhiều nhân vật giàu có thế lực, vừa thỏa mãn tình lại dễ moi tiền.

Với gương mặt ưa nhìn, nét đẹp thanh tú, cao ráo, trắng trẻo, lại có học thức, Lệ Hải dễ dàng dùng “mỹ nhân kế” mồi chài những ông chủ salon lắm tiền nhiều của, các dân biểu “tai to mặt lớn” hay sĩ quan tướng lĩnh Sài Gòn “vui vẻ qua đêm”. Chẳng bao lâu, Lệ Hải đã lột xác thành một nữ chúa trong giới giang hồ sau khi nhờ Đạt “ba thau” xăm trổ hình bông hồng đỏ dưới rốn và con rắn phùng mang nơi ngực trái.

Qua sự giới thiệu của “nhà văn chém mướn” Nguyễn Đình Thiều, nhà văn Nhã Ca đã hội ngộ Lệ Hải tại vũ trường Ritz và được “yêu nữ” đồng ý cho chắp bút về cuộc đời du đãng của mình. Tiểu thuyết Cô hippy lạc loài ấn hành đã gây xôn xao dư luận. Những gia đình khá giả có con gái đang độ tuổi trưởng thành đọc xong tiểu thuyết của Nhã Ca đều lo ngay ngáy, ăn ngủ không yên.

Ăn theo cuốn tiểu thuyết này, năm 1973, Lidac Film giao cho đạo diễn Lê Dân thực hiện bộ phim màu 35mm màn ảnh rộng với tựa Hoa mới nở qua sự diễn xuất của Bạch Liên, Vũ Thái Bình, Mỹ Hòa, Cát Phượng, La Thoại Tân, bà Bảy Ngọc, bà Năm Sa Đéc, Đinh Xuân Hòa… Bộ phim đã dự Liên hoan thanh niên thế giới lần 8 tổ chức tại Canada năm 1974.

Nhà thơ trẻ Văn Mạc Thảo sau một đêm “tâm sự” cùng Lệ Hải đã cảm hứng sáng tác một bài thơ, trong đó có hai câu “Ta gọi tên em là yêu nữ/ Là loài yêu mị, gái hồ ly”. Bài thơ sau đó được Ngọc Chánh (trưởng ban nhạc Shotguns) phổ nhạc với tiếng hát nam danh ca Elvis Phương: “Loài yêu nữ mang tên em…” được giới “hippy choai choai” Sài Gòn thuộc nằm lòng. Nữ văn sĩ Lệ Hằng cũng gặp Lệ Hải tìm cảm hứng sáng tác Kinh tình yêu và Bản tango cuối cùng – 2 quyển tiểu thuyết “hit” nhất trên văn đàn miền Nam năm 1973.

Tháng 4.1975 Lệ Hải vội vã cùng chồng hờ – một ông chủ salon ô tô người Hoa giàu sụ – mua tàu vượt biển di tản qua Úc rồi sau đó định cư tại Anh. Khi gã chồng Hoa kiều bất ngờ đột tử sau một đêm ân ái, Lệ Hải sống lặng lẽ, cô độc trong tòa biệt thự xa hoa, lộng lẫy, không con cái cũng chẳng có người thân, từng ngày buồn bã gặm nhắm về những tháng ngày dữ dội của thế giới du đãng Sài Gòn trong sương mù London rét buốt.

DODUYNGOC.VIETNAM
http://www.musicboxvietnam.com
http://doduyngoc.jimdo.com
http://my.opera.com/ mydoduyngoc/blog/

Trong các tiểu thuyết viết về thế giới du đãng của nhà văn Duyên Anh – Vũ Mộng Long xuất bản trước 1975, chỉ có 4 nhân vật là những nguyên mẫu có thật ngoài đời gồm Lê Văn Đại (tức Đại “Cathay”), Trần Thị Diễm Châu, Chương “còm” và Dũng “Đa Kao” còn những Hoàng “guitar”, Quyên “Tân Định”, Bồn “lừa”, Hưng “mập”, Danh “ná”, Vọng “ghẻ”, thằng Khoa, thằng Côn, thằng Vũ, con Thúy… là do nhà văn phịa ra bên bàn đèn thuốc phiện. Tương tự, nhân vật “Loan mắt nhung” trong tiểu thuyết cùng tên cũng do nhà văn Nguyễn Thụy Long hư cấu.

Image may contain: 2 people, people standing and sunglasses
No photo description available.
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 3 people
Image may contain: 1 person, indoor
+7

PHÁC HỌA CHÂN DUNG MỘT VỊ THÁNH – ĐHY JOHN HENRY NEWMAN

PHÁC HỌA CHÂN DUNG MỘT VỊ THÁNH – ĐHY JOHN HENRY NEWMAN

 Ngày 1 tháng 7 năm 2019, Tòa thánh Vatican loan báo Chân phước John Henry Newman và 4 vị khác sẽ được tuyên phong hiển thánh vào ngày 13 tháng 10 năm 2019.  Chân phước Newman được đánh giá là một trong những bậc thầy vĩ đại của Hội Thánh, vì thế sẽ thật hữu ích khi nhìn lại cuộc đời và giáo huấn của ngài để đón nhận những bài học cần thiết cho đời sống và sứ vụ của Hội Thánh ngày nay.

Một cuộc đời kiếm tìm chân lý

Đức hồng y John Henry Newman sinh tại Luân Đôn, Anh Quốc, ngày 21 tháng 2 năm 1801.  Ngài được dạy dỗ trong truyền thống Anh giáo và từ nhỏ đã có thiên hướng tôn giáo, cụ thể là siêng đọc Kinh Thánh.  Kinh Thánh giúp ngài sống đạo đức, nhưng mối quan tâm tri thức lại khiến ngài đặt những câu hỏi nền tảng và muốn tìm kiếm câu trả lời rõ ràng, chính xác.  Vì thế khi mới 14 tuổi, ngài đã bị cám dỗ bỏ đạo: “Tôi muốn sống tốt nhưng không cần theo đạo; tôi không hiểu Thiên Chúa yêu thương có nghĩa gì.”

Chính trong giai đoạn đó, Chúa gõ cửa lòng Newman.  Trong những ngày nghỉ lễ năm 1816, Newman đọc cuốn Force of Truth (Sức mạnh của chân lý) của Thomas Scott, và tác phẩm đó đã gây ấn tượng rất sâu đến nỗi ngài coi đó như “cuộc hoán cải đầu tiên,” và là một trong những ơn ban lớn nhất trong đời.  Newman bắt đầu nhận thức cách sâu sắc sự hiện hữu và hiện diện của Thiên Chúa cũng như của thế giới vô hình.  Ngài cũng rút từ tác phẩm của Thomas Scott hai câu ghi dấu ấn suốt đời ngài: “Tìm kiếm sự thánh thiện hơn là bình an,” và “Bằng chứng duy nhất của sự sống là sự tăng trưởng.”

Sau cuộc hoán cải đầu tiên này, Newman đặt Thiên Chúa trên hết mọi sự và hết lòng bước theo Chân lý như ngài diễn tả trong tác phẩm Apologia pro vita sua: “Khi tôi 15 tuổi (mùa Thu năm 1816), một sự thay đổi lớn lao về tư tưởng diễn ra trong tôi.  Tôi đặt mình dưới sự hướng dẫn của Kinh Tin kính và tâm trí đón nhận đạo lý đức tin, đó là những điều nhờ lòng Chúa thương xót, sẽ không bao giờ lu mờ hoặc bị xóa nhòa.”  Newman bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của những tín điều trong Kitô giáo: sự Nhập thể của Con Thiên Chúa, công trình cứu độ của Đức Kitô, ân huệ Thánh Thần ngự xuống trong linh hồn người chịu Phép Rửa, đức tin không đơn thuần là một lý thuyết nhưng cần được diễn tả trong chương trình sống.

Sau khi hoàn tất chương trình học tại Trinity College, Oxford, Newman trở thành mục sư Anh giáo và sau này phụ trách nhà thờ Saint Mary, nhà thờ của đại học Oxford.  Trong thời gian này, ngài quan tâm nghiên cứu các Giáo phụ, đồng thời cảm thấy quan ngại trước tình trạng thiêng liêng của Giáo hội Anh giáo trước sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do (liberalism) tại Oxford cũng như trên khắp nước Anh.  Để chống lại xu hướng này, Newman cùng với một vài người bạn lập nên Phong trào Oxford (Oxford Movement) năm 1833.  Phong trào này phê phán việc Anh Quốc không còn thực hành đức tin, và kêu gọi phải trở về với Kitô giáo nguyên thủy thông qua cuộc cải cách đích thực về mọi mặt: tín lý, thiêng liêng, phụng vụ.  Với mục đích này, phong trào thực hiện những ấn phẩm nhỏ, dễ phổ biến, cố gắng gây tác động trên hàng giáo sĩ cũng như các tín hữu đơn thành, đang bị giằng co giữa hai thái cực là chủ nghĩa duy cảm và chủ nghĩa duy lý.

Newman nhận ra rằng cuộc tranh luận chống lại chủ nghĩa tự do về mặt tôn giáo cần có một nền tảng giáo thuyết vững chắc, và ngài xác tín ngài đã tìm được nền tảng đó nơi những văn bản của các Giáo phụ mà ngài coi là các sứ giả và tiến sĩ đích thực của đức tin Kitô.  Từ đó, Newman khai triển lý thuyết được gọi là Via media (con đường trung dung).  Newman cũng tìm cách chứng minh rằng Anh giáo là người thừa kế hợp pháp của Kitô giáo nguyên thủy và là Giáo hội đích thực trong Đức Kitô, vì nơi Anh giáo không có những sai lầm về giáo thuyết như Tin Lành, cũng không có những lạm dụng mà ngài cho là đang có trong Công giáo Rôma.

Thế nhưng khi nghiên cứu lịch sử Giáo hội ở thế kỷ IV, Newman khám phá một điều quan trọng là Kitô giáo trong thời đại ngài đang sống lại phản ánh 3 nhóm tôn giáo ở thế kỷ IV, có thể so sánh như sau: Tin Lành giống như phái Ariô; Công giáo Rôma giống như các tín hữu Rôma; Anh giáo giống như người theo thuyết Ariô nửa vời (semi-Arianism).  Khám phá đó bắt đầu gợi lên những nghi ngờ về Anh giáo.  Không lâu sau đó, Newman đọc một bài viết trong đó tác giả so sánh Anh giáo với những người theo thuyết Donatism ở châu Phi thời thánh Ausgustinô.  Và ngài sẽ không bao giờ quên câu nói của thánh Augustinô: “Hội Thánh phổ quát, trong phán quyết của mình, là sự bảo đảm cho Chân lý” (Securus judicat orbis terrarum).  Newman nhận ra rằng những xung đột về giáo thuyết thời Hội Thánh sơ khởi được giải quyết không chỉ dựa vào nguyên tắc về tính cổ xưa (antiquity) nhưng còn là tính Công giáo (catholicity), nghĩa là ý kiến của Hội Thánh xét như một toàn thể chính là lời tuyên bố bất khả ngộ.

Trung thành với nguyên tắc phải tôn trọng Chân lý, Newman quyết định lui về Littlemore, một làng nhỏ gần Oxford, dành thời giờ cho việc cầu nguyện và nghiên cứu.  Ngài bắt đầu liên kết những đường dây suy tưởng xuất hiện trong những năm qua.  Câu hỏi đặt ra là nếu Hội Thánh Công giáo Rôma thực sự là tông truyền thì làm sao có thể lý giải những giáo thuyết bên Công giáo xem ra không phải là di sản được để lại từ Kitô giáo nguyên thủy?

Từ đó hình thành những suy nghĩ dẫn đến nguyên lý về sự phát triển chính thực mà Newman khai triển để giải thích những giáo huấn mới trong đời sống Hội Thánh: những tín điều sau này là sự phát triển chính thực mặc khải nguyên thủy.  Newman trình bày lập luận này trong bài An Essay on the Development of Christian Doctrine (Sự phát triển giáo thuyết Kitô), trong đó ngài phi bác quan điểm cho rằng chân lý hoặc sai lầm trong các vấn đề tôn giáo chỉ là những ý kiến khác nhau, và ơn cứu độ không lệ thuộc vào lời tuyên xưng đức tin đúng đắn.  Newman khẳng định: “Chân lý và giả dối được đặt trước mắt chúng ta để thử lòng chúng ta; chọn lựa của chúng ta là chọn lựa đáng sợ vì được cứu độ hay bị chối bỏ tùy thuộc vào đó; trước mọi sự, phải bám chặt vào đức tin Công giáo.”

Gia nhập Hội Thánh Công giáo

Khi Newman nghiên cứu về sự phát triển giáo thuyết Kitô, ngài nhận ra rằng Hội Thánh Rôma là Hội Thánh của các Giáo phụ, Hội Thánh đích thực của Đức Kitô.  Vì thế ngày 9 tháng 10 năm 1845, ngài tuyên xưng đức tin Công giáo, được Chân phước Dominic Barberi, người Ý, dòng Passionist, đón nhận vào Hội Thánh Công giáo.

Quyết định của Newman gia nhập Hội Thánh Công giáo đã gây chấn động lớn trong Giáo hội Anh giáo.  Có người cảm phục trước quyết định can đảm của ngài nhưng không ít người coi đó như sự phản bội, và Newman phải chịu nhiều đau khổ vì quyết định này.  Dư luận vẫn còn bám theo ngài trong nhiều năm sau đến độ có lúc báo chí tung tin Newman cảm thấy lạc lõng trong Hội Thánh Công giáo, nên sẽ trở lại Giáo hội Anh giáo.  Thế nhưng Newman rất vững tâm như ngài viết cho một người quen: “Kể từ khi được đón nhận vào Hội Thánh Công giáo, tôi không có lúc nào bị lung lay trong niềm tin vào Hội Thánh.  Tôi tin chắc, và sẽ mãi chắc chắn rằng Đức Giáo hoàng là trung tâm của sự hiệp nhất và là Đấng Đại diện Chúa Kitô; tôi mãi mãi tin vào Kinh Tin kính Hội Thánh tuyên xưng, mọi tín điều trong đó; tôi hoàn toàn thỏa mãn với việc thờ phượng, kỷ luật, giáo huấn của Hội Thánh; và dù rất khó khăn, tôi vẫn mong mỏi nhiều người bạn của tôi theo Tin Lành cũng sẽ được chia sẻ niềm hạnh phúc của tôi.”

Sau khi trở thành linh mục Công giáo, Newman lập chi nhánh Dòng Thánh Philip Neri ở Birmingham[1].  Trong nhiều hoạt động thần học và mục vụ, ngài chú trọng nhiều nhất đến việc đào tạo trí thức và thiêng liêng cho các tín hữu Công giáo, các anh em trong dòng và các tân tòng.  Ngài xác tín rằng trong thời đại hiện nay với những thay đổi rất nhanh về văn hóa và xã hội, cần phải có một đức tin có khả năng bày tỏ những lý do của niềm hi vọng Kitô giáo.  Vì thế ngài làm việc không ngơi nghỉ để huấn luyện những giáo dân có học thức, sống trong thế giới, làm việc trong ánh sáng đức tin và có khả năng bảo vệ đức tin của mình.

Cha John Henry Newman được Đức Giáo hoàng Lêô XIII nâng lên hàng Hồng y ngày 15 tháng 5 năm 1879, nhưng ngài xin là không chịu chức Giám mục và vẫn ở lại Birmingham.  Trong dịp này, ngài có bài phát biểu nổi tiếng, được coi như những lời tiên tri về thời đại chúng ta ngày nay:

“Chủ nghĩa tự do về tôn giáo là học thuyết chủ trương không có chân lý tích cực trong tôn giáo, niềm tin nào cũng tốt như nhau, và đây là chủ trương đang chiếm ưu thế từng ngày.  Chủ trương này không chấp nhận bất cứ tôn giáo nào là chân lý, vì mọi tôn giáo chỉ là chuyện ý kiến riêng.  Tôn giáo mặc khải không phải là chân lý nhưng chỉ là tình cảm và cảm nhận; không phải sự kiện khách quan; đó là quyền của mỗi người nói ra điều mình thích.  Đạo đức không nhất thiết phải xây nền trên đức tin. Người ta có thể đi nhà thờ Tin Lành hay Công giáo, có thể thấy ích lợi của cả hai nhưng không thuộc bên nào cả.  Người ta có thể làm bạn với nhau về tư tưởng và tình cảm thiêng liêng mà không có chung niềm tin và cũng không cần phải có.  Bởi lẽ tôn giáo là chuyện cá nhân, đặc thù, riêng tư nên không cần phải biết đến trong những tương giao con người.  Nếu một người cứ mỗi ngày lại theo một đạo thì mắc mớ gì đến bạn?  Thật không thích hợp nếu nghĩ về tôn giáo của một người như nghĩ đến nguồn lợi tức hoặc việc điều hành gia đình của họ.  Tôn giáo không liên quan gì đến mối dây xã hội cả.”

Những gì Đức hồng y Newman nói về chủ nghĩa tự do, ngày nay có thể gọi là chủ nghĩa tương đối và chúng ta không thể quên cụm từ nổi tiếng của Đức Bênêđictô XVI về “sự chuyên chế của chủ nghĩa tương đối!”  Lối nghĩ và lối sống mà Đức hồng y Newman cảnh giác xem ra ngày càng phổ biến và thắng thế, với những hậu quả tai hại rất lớn cho đời sống đức tin, nhất là chiều kích văn hóa và xã hội của đức tin.  Đức hồng y Newman nhắc nhở mọi Kitô hữu, mục tử cũng như giáo dân, rằng Chân lý là kho tàng quý giá mà chúng ta đón nhận bằng đức tin, chân lý ấy phải được loan báo cách trung thực và bảo vệ bằng mọi giá.

Ngày 11 tháng 8 năm 1890, Đức hồng y Newman qua đời tại nhà dòng ở Edgbaston.  Vào thời điểm đó, tờ Times of London (Thời báo Luân Đôn) viết: “Dù Rôma có tuyên thánh cho Hồng y Newman hay không, ngài cũng sẽ được tuyên thánh trong suy nghĩ của những người đạo đức thuộc nhiều niềm tin ở nước Anh.”

Sự nhìn nhận của Rôma

Trong dịp Đức Lêô XIII nâng cha John Henry Newman lên hàng Hồng y, Tòa Thánh Vatican đã gửi đến Hồng y Newman sứ điệp ngày 15 tháng 3 năm 1879: “Đức Thánh Cha trân trọng cách sâu sắc tài năng và học thức nổi trội của hiền huynh, lòng đạo đức và sự nhiệt thành của hiền huynh trong việc phục vụ Tác vụ thánh, sự tận tụy và sự gắn bó hiếu thảo của hiền huynh với Tòa Thánh, và sự phục vụ đáng kể của hiền huynh trong nhiều năm đối với tôn giáo, (ngài) quyết định dành cho hiền huynh bằng chứng công khai và cao quý về sự trân trọng và thiện ý của ngài.”

Trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày Newman được nâng lên hàng hồng y, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã gửi thư cho Đức cha George Patrick Dwyer, Tổng giám mục Birmingham, trong đó ngài viết: “Tư tưởng triết học và thần học cũng như linh đạo của Đức hồng y Newman bám rễ sâu và được phong phú hóa nhờ Kinh Thánh và giáo huấn của các Giáo phụ, (tư tưởng đó) vẫn còn nguyên giá trị và tính độc đáo của nó….  Tôi hi vọng rằng dung mạo và giáo huấn của vị hồng y vĩ đại này sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho việc thi hành sứ mệnh của Hội Thánh trong thế giới ngày càng hiệu quả hơn, và giúp canh tân đời sống thiêng liêng của các thành viên trong Hội Thánh cũng như thúc đẩy việc phục hồi sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu.”

Ngày 19 tháng 9 năm 2010, Đức Bênêđictô XVI nâng Đức hồng y Newman lên hàng Chân phước.  Trong giờ canh thức trước ngày tuyên phong, tại công viên Cofton Park, Luân Đôn, Đức Bênêđictô XVI đã nêu cao tấm gương của Newman: “Newman dạy chúng ta rằng nếu chúng ta đã đón nhận chân lý của Đức Kitô và trao phó đời sống cho Người, thì không thể có sự tách biệt giữa điều chúng ta tin và cách chúng ta sống.  Mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của chúng ta phải quy hướng về vinh quang Thiên Chúa và mở rộng Vương quốc của Người.  Newman đã hiểu được điều này và đã là nhà vô địch đáng kính trong sứ vụ tiên tri của người Kitô hữu.  Ngài thấy rõ ràng rằng chúng ta không đón nhận chân lý như một hành động thuần tri thức cho bằng (đón nhận) trong một tiến trình năng động thiêng liêng, và chân lý ấy thấm vào tận tâm khảm chúng ta.  Chân lý được thông truyền không chỉ bằng giáo huấn, dù là điều quan trọng, nhưng còn bằng chứng tá của những cuộc đời đã sống chân lý ấy trong sự toàn vẹn, trung tín và thánh thiện; những ai sống trong và nhờ chân lý sẽ tự nhiên nhận ra những gì là giả dối, và vì giả dối nên cũng là thù nghịch của cái đẹp, cái thiện vốn song hành với vẻ huy hoàng của cái thật, Veritatis splendor.

Kết luận

Trong một bài thuyết trình về Đức hồng y Newman nhân kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của ngài (1990), Đức hồng y Joseph Ratzinger (Đức Bênêđictô XVI sau này) đã nói: “Đối với tôi, đặc điểm của vị Tiến sĩ Hội Thánh là ngài không chỉ dạy chúng ta bằng tư tưởng và lời nói nhưng còn bằng đời sống của ngài, vì nơi ngài, tư tưởng và đời sống đan quyện vào nhau.  Nếu thế, Newman cũng đứng trong hàng ngũ những bậc thầy vĩ đại của Hội Thánh, vì ngài vừa chạm đến con tim chúng ta vừa soi sáng suy nghĩ của chúng ta.”

Nhận xét này vừa đáng quý vừa mang tính tiên tri.  Đáng quý vì chỉ cho chúng ta thấy dung mạo thực sự của Newman: không chỉ là nhà thần học với những suy tư sâu sắc nhưng còn là một vị thánh.  Và mang tính tiên tri vì nhiều người trong Hội Thánh Công giáo ngày nay đang nghĩ đến một ngày Thánh John Henry Newman sẽ được tuyên phong là Tiến sĩ Hội Thánh, vị tiến sĩ không chỉ dạy chúng ta thứ thần học bàn giấy nhưng còn giúp chúng ta sống nền thần học bàn quỳ vốn là điều hết sức cần thiết trong thời đại tục hóa ngày nay.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Nguồn: https://www.vaticannews.va

[1] Dòng Thánh Philip Neri (The Congregation of the Oratory of St Philip Neri) là Hội dòng giáo hoàng về đời sống tông đồ, quy tụ các linh mục và sư huynh sống chung trong một cộng đoàn, không có lời khấn công khai nhưng chỉ liên kết với nhau bằng mối dây đức ái. Thánh Philip Neri lập dòng này ở Rôma năm 1575. John Henry Newman, sau khi thành linh mục Công giáo, đã cùng với một vài linh mục lập chi nhánh ở Birmingham, cuối cùng dời về Edgbaston.

Tài liệu tham khảo

Herman Geissier, On the 125th Anniversary of John Henry Newman’s Becoming a Cardinal, L’Osservatore Romano, 11/18 August 2004.

Fabio Attard SDB, Blessed John Henry Newman, Theology and Holiness, www.newmanfriendsinternational.org/en/blessed-john-henry-cardinal-newman.

Benedict XVI, Prayer Vigil on the Eve of the Beatification of Cardinal John Henry Newman, www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/speeches/2010/september/documents.

John Paul II, Letter to H.E. Msgr. George Patrick Dwyer, Archbishop of Birmingham, for the first centenary of the elevation to the cardinalate of John Henry Newmanwww.vatican.va/content/john-paul-ii/en/letters/1979/documents.

From: Langthangchieutim

Hattie May Wiatt

Hattie May Wiatt .

Tại tiểu bang Pennsylvania nước Mỹ, vào một ngày chủ nhật năm 1880, một cô gái nhỏ với dáng vẻ thất vọng đứng gần cửa ra vào của nhà thờ, nơi cô bị đẩy ra vì trong đó đã quá đông, cô không thể tham dự lớp học chủ nhật của nhà thờ.

Một vị mục sư đi ngang qua nhìn thấy cô bé, ông đặt cô bé lên vai mình rồi len lỏi vào trong, rất khó khăn để tìm được một chỗ ngồi trong góc tối cho cô bé.

Chủ nhật tuần sau, ông lại thấy cô bé đứng ngoài. Nom cô bé có vẻ mệt.

“Đợi đến lúc gom đủ kinh phí, ta nhất định sẽ xây dựng một lớp học chủ nhật to hơn nữa”, vị mục sư an ủi cô bé.

Mục sư không biết rằng cô bé đang mắc bệnh nặng và một thời gian sau cô bé qua đời.

Sau khi cô bé mất, gia đình nhà cô bé đã đưa cho vị mục sư một chiếc ví tiền nhỏ vừa sờn rách vừa cũ nát, bên trong có 57 đồng xu.

Gia đình nhà cô bé đã nói với mục sư rằng đó là số tiền cô bé tiết kiệm trong 2 năm trời. Cô bé muốn gửi số tiền này để xây dựng một nhà thờ to hơn chút nữa để có thêm nhiều trẻ em được đến học vào ngày chủ nhật.

Vị mục sư lặng lẽ lau nước mắt, ông tiếc là đã không kịp xây nhà thờ như lời hứa với cô bé. Ông mang chiếc ví rách với 57 xu lên bục giảng Kinh, ông kể lại câu chuyện về cô bé. Tất cả mọi người lặng đi vì xúc động.

Nhà thờ đã quyết định huy động quyên góp tiền từ 57 đồng xu, rất nhanh đã có thể huy động được 250 USD. Một vài năm sau đó, 57 đồng xu của cô bé, đã huy động được đến 30.000 USD…

Họ dùng số tiền ấy mua một mảnh đất để xây dựng nhà thờ lớn hơn, nhưng thật không ngờ rằng tiền đất đã lên tới 30.000 USD và không còn đủ tiền xây dựng nữa. Lúc này, vị mục sư nghĩ đến tâm nguyện của cô bé. Ông không thể để vấn đề này khiến cho việc xây dựng nhà thờ bị trì hoãn, do đó ông quyết định đi tìm chủ đất để trình bày rõ lý do.

Chủ đất trước đây chưa từng đến nhà thờ, nhưng khi nghe xong câu chuyện về ước nguyện chân thành và thánh khiết của cô bé, trong tâm ông vô cùng cảm động. Ông ấy đã bán mảnh đất với giá 25.000 USD, đồng thời chấp nhận số tiền 57 xu làm tiền đặt cọc, tuy nhiên sau đó chủ đất đã tặng lại 57 xu cho nhà thờ.

Qua một thời gian, vào một buổi tối khi vị mục sư trở về nhà, ông phát hiện trong nhà có rất nhiều người. Mọi người vừa tự nguyện vừa kêu gọi người khác và họ đã quyên góp được thêm 10.000 USD.

Ngày nay, nếu đến thăm thành phố Philadelphia, bạn đựng quên dừng chân tại Nhà thờ Temple Baptist – nơi có thể chứa tới 3.300 người. Và cũng đừng quên ghé thăm Đại học Temple, bệnh viện Good Samaritan và trường học ngày chủ nhật. Bạn sẽ thấy ước mơ đẹp đẽ và cao cả của cô bé đã được mọi người biến thành hiện thực như thế nào.

Thú vị hơn nữa, nếu thăm một trong các phòng ở tòa nhà trường học ngày chủ nhật này, bạn sẽ nhìn thấy bức ảnh dễ thương của cô bé nhỏ đã hiến tặng 57 xu cho nhà thờ – Hattie May Wiatt

Sẽ không ai nghĩ rằng 57 xu có thể tạo nên những điều kỳ diệu. Nhưng khi điều kỳ diệu xuất hiện, người ta đã hoàn toàn tin rằng 57 xu ấy đã làm thay đổi cuộc sống và thế giới sống của rất nhiều người. Cô bé đã dùng tấm lòng lương thiện trong sáng và thánh khiết của mình để tích lũy số tiền ấy với hi vọng mang lại thêm nhiều cơ hội cho những người khác. Và thực sự, thiện tâm đã đánh thức thiện tâm, lòng tốt tự bản thân nó đã có sức lan tỏa âm thầm mà mãnh liệt.

Lương thiện không chỉ là cá tính của một người, tố chất của một người, nó là nguồn năng lượng sống tích cực giúp con người không ngừng suy nghĩ về người khác, suy nghĩ cho người khác. Lương thiện như ánh trăng trên bầu trời cao rộng, soi sáng và khiến vạn vật trở nên huyền diệu, lấp lánh. Lương thiện là ngọn nguồn cho mọi việc tốt trên đời, là cách giải quyết cao nhất cho mọi ân oán, thù hận, là phương thức hữu hiệu nhất cho mọi tổn thương và nỗi đau.

Nếu mỗi hành động của con người đều xuất phát từ thiện tâm, mỗi lời nói của con người đều là thiện ý, mỗi suy nghĩ của con người đều là thiện niệm, thì cuộc sống này sẽ chính là một mảnh vườn với những hoa trái ngọt lành và thơm mát nhất. Cuộc sống có lương thiện thì đời người mới có thể thường xuyên ngập tràn niềm vui, hạnh phúc mới có thể lâu dài, tâm hồn vì thế mới không ngừng thăng hoa và viên mãn.

(st)

Image may contain: 1 person, closeup, text that says 'Hattie May Wiatt'

Nam sinh nhặt rác vào Đại học Luật Harvard

Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: 2 people, people standing

Anthony Tuan Nguyen to Món Ngon Người Việt Houston

Nam sinh nhặt rác vào Đại học Luật Harvard

Từng bị tất cả đại học từ chối, phải đi thu gom rác kiếm sống, Rehan Staton, 24 tuổi, được nhận vào chương trình luật danh tiếng của Đại học Harvard.

Từ nhỏ, Rehan có cuộc sống hạnh phúc cùng bố mẹ và anh trai tại thành phố Bowie, bang Maryland. Ngoài việc theo học tại một trường tư danh tiếng, Rehan được gia đình đầu tư thuê gia sư học tại nhà.Năm Rehan 8 tuổi, mọi thứ thay đổi khi mẹ em rời khỏi Mỹ và bố em mất việc, phải làm thêm đến 3h sáng để chi trả cuộc sống. Gia đình Rehan khó khăn đến mức thức ăn khan hiếm và việc bật lò sưởi vào mùa đông là điều xa xỉ. “Em phải mặc áo rất dày để ngủ khi trời trở lạnh. Em luôn đói và giận dữ. Cuộc sống khó khăn khiến em học kém dần”, Rehan nói.Từ một học sinh giỏi, em dần trở thành một trong những người điểm kém nhất lớp. Em không thể tập trung khi học và thường buồn ngủ vì ở lớp ấm hơn ở nhà rất nhiều. Khi vào lớp 7, một giáo viên nói với Rehan rằng cần được hỗ trợ đặc biệt, khiến em “vô cùng ghét trường học”.Sau việc này, bố đã đến cộng đồng địa phương để tìm gia sư cho Rehan. Một kỹ sư hàng không vũ trụ ở gần đó đã tình nguyện giúp đỡ Rehan học mà không lấy tiền công. “Em trở lại thành học sinh giỏi vào cuối năm học. Chú gia sư như một người họ hàng, người cha đỡ đầu đã cho em đồ ăn và nơi ở. Sau khi chú không thể giúp được nữa, điểm số của em lại dần kém đi”, Rehan kể lại.Vào cấp ba, nam sinh tập luyện chăm chỉ để trở thành vận động viên đấm bốc chuyên nghiệp. Em đã thắng nhiều giải võ thuật quy mô trường. Xung quanh Rehan, mọi người không hỏi về việc học nữa, thay vào đó họ quan tâm đến việc em tập luyện như nào để tham gia giải đấu sắp tới.

Bi kịch xảy ra vào năm cuối trung học khi Rehan gặp chấn thương dây chằng rất nặng ở cả hai khớp vai trước giải đấu khiến em không thể nhấc tay lên quá vai. Khi gặp chấn thương, Rehan vẫn có thể tiếp tục thi đấu về sau. Tuy nhiên, do không có bảo hiểm y tế, việc vật lý trị liệu là một điều không thể với Rehan và em không thể hồi phục chấn thương hoàn toàn.

Với việc không thể tiếp tục sự nghiệp chuyên nghiệp, Rehan phải chuyển sang học đại học và bị từ chối bởi tất cả trường. Em dần hồi phục chấn thương và bắt đầu công việc nhặt rác cho công ty địa phương ở trong một cộng đồng với rất nhiều người từng vi phạm pháp luật và bị tống giam.

Mọi người hỏi Rehan, tại sao em làm công việc này. “Em quá thông minh”, “Em quá trẻ để ở đây”, “Hãy đi học đại học và hãy chỉ quay lại đây nếu mọi chuyện không ổn”, nhiều người nói với Rehan. Đấy là lần đầu tiên một người không phải từ gia đình, ngoại trừ gia sư năm lớp 7, cổ vũ Rehan theo đuổi sự nghiệp học hành.

Những đồng nghiệp và quản lý ở công ty vệ sinh đã kết nối Rehan với một giáo sư ở Đại học Bowie State, trường đã từ chối em vài tháng trước đó. Giáo sư đã ấn tượng khi trò chuyện với Rehan và đã thuyết phục nhà trường nhận em vào học.

Việc Rehan học đại học khiến anh trai của em, Reggie, tự nguyện bỏ học. Cả hai anh em đều hiểu rằng, một trong hai người phải đi làm toàn thời gian để giúp bố kiếm tiền, nếu không họ sẽ mất nhà. “Anh Reggie biết rằng em sẽ mắc kẹt ở đây nếu không nắm lấy cơ hội này và đi học, đặc biệt với điểm số thấp của em hồi cấp 3”, Rehan nói.

Sau khi đạt điểm tuyệt đối, Rehan chuyển đến Đại học Maryland, nơi em đã đạt được vô số thành tựu trong trường: từ chủ tịch hội lịch sử cho đến người phát biểu trong lễ tốt nghiệp (thường là học sinh có thành tích tốt nhất khóa). Và kể cả khi đi học, em vẫn tiếp tục công việc nhặt rác vào sáng sớm và giữa các tiết học.

Sau khi tốt nghiệp, sức khỏe của Rehan tiếp tục suy giảm nhưng em đã tìm được công việc ở trong một công ty tư vấn chính trị ở Washington, Mỹ. Em đã chuẩn bị thi LSAT, kỳ thi chuẩn hóa cho các trường luật.

Tháng 3 năm nay, ở tuổi 24, Rehan được nhận vào tất cả chương trình luật danh tiếng của các đại học gồm USC, Columbia, Pennsylvania và Harvard.
“Em không thể tin được và cảm thấy sự hy sinh của bố và anh trai không hề lãng phí”, Rehan chia sẻ.

Mùa thu năm nay, Rehan sẽ nhập học Đại học Luật Harvard. Chia sẻ với những người đang gặp khó khăn, Rehan nói: “Hãy yêu bản thân đủ nhiều để hiểu mình muốn gì trong cuộc sống. Bạn sẽ luôn tìm ra cơ hội trong khó khăn và bạn cần theo đuổi cơ hội ấy”.

Phan Nghĩa (Theo Good Morning America )

Đại hội XIII, dự báo “đẫm máu” ở cung đình? | Tiếng Dân

Nguyễn Đình Ngọc and Anh Tran shared a link.
Đại hội XIII, dự báo “đẫm máu” ở cung đình? Bởi AdminTD – 12/07/2020 Lê Văn Đoành 12-7-2020 Trước thềm đại hội XIII của Đảng, một bầu không khí ngột ngạt lan khắp cả nước. Từ cuối năm 2019 đền tháng 6/2020, hàng loạt cây bút t…..

Đại hội XIII, dự báo “đẫm máu” ở cung đình? Bởi AdminTD – 12/07/2020 Lê Văn Đoành 12-7-2020 Trước thềm đại hội XIII của Đảng, một bầu không khí ngột ngạt lan khắp cả nước. Từ cuối năm 2019 đền tháng 6/2020, hàng loạt cây bút t…..
Nguyễn Đình Ngọc
Trích từ báo Tiếng Dân:

…Sau khi Ngô Xuân Lịch, Hoàng Trung Hải và Tòng Thị Phóng có đơn xin rút, hiện tại cuộc đua chỉ còn Nguyễn Phú Trọng và “Nhóm 5” gồm: Trần Quốc Vượng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thị Kim Ngân, Trương Hoà Bình, Nguyễn Thiện Nhân.

Mặc dù được “động viên”, nhưng bà Ngân và ông Nhân kiên quyết không chịu rút. Lý do bà đưa ra, đã hai lần tổng Trọng giới thiệu ông Vượng, đều không đạt quá bán trong Bộ Chính trị ủng hộ. Trong khi đó, phiếu tại Bộ Chính trị và kết quả giới thiệu tại Hội nghị Trung ương 12, bà luôn dẫn đầu.

Nguyễn Thiện Nhân cũng thế, viện lý do, cần cân bằng quyền lực hai miền Nam, Bắc. Số phiếu giới thiệu ông tại Hội nghị 12 cũng khá áp đảo. Anh em tâm tư rằng, ông được Đảng cử đi đào tạo tại Viện Đại học Oregon, theo chương trình học bổng Fulbright, đào tạo dài hạn tại Viện Đại học Havard, lúc Đảng cần nên ông không thể… bỏ cuộc chơi.

Tương tự như vậy, Nguyễn Xuân Phúc thì “uy tín đang cao”, luôn nằm trong Top 3, nhờ chống dịch Covid-19. Trương Hoà Bình thì được “các nguyên lão ủng hộ” hết mình v.v… Mỗi người đang có một lợi thế riêng, không ai chịu ai, cuộc quyết đấu đang bước sang giai đoạn “một mất một còn”.

Bộ Chính trị từ đại hội XII gồm 19 vị. Đinh La Thăng bị phế bỏ, Trần Đại Quang chết, Đinh Thế Huynh bị “bệnh lạ” nằm liệt giường… cho nên chỉ còn 16.

Hoàng Trung Hải bị quản thúc, khả năng bị truy tố bắt giam trước khai mạc đại hội XIII là rất lớn. Hoàng Trung Hải được xem là con “át” chủ bài trong 12 đại án tham nhũng thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng.

Dính nặng nhất ở đại án “Cải tạo và mở rộng sản xuất Công ty Gang thép Thái Nguyên – giai đoạn 2” (TISCO 2) mà tổng-chủ Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo xử lý triệt để. Vì vậy, Hoàng Trung Hải đã bị truất quyền bỏ phiếu. Số phiếu hợp lệ trong Bộ Chính trị hiện nay chỉ còn 15.

Đến thời điểm này, Bộ Chính trị đang tập trung thảo luận, bàn cãi, mặc cả ba phương án:

– Phương án 1: Trọng ở lại, “nhóm 5” đều phải về “làm người tử tế”.

– Phương án 2: Trọng từ giã chính trường. Trong “nhóm 5” chỉ có Vượng ở lại, số còn lại phải về.

– Phương án 3: Trong “nhóm 5”, ba người ở lại, hai người về.

Tình hình đang căng như dây đàn. Tuyên giáo hăm doạ báo chí quốc doanh không được “ủng hộ người này, đánh người kia”. Công an sử dụng “bàn tay thép” đàn áp và bắt bớ giới tranh đấu và báo lề trái. Các phe núp dưới danh nghĩa chống “tham nhũng”, “xác minh tố cáo”, chống “con lươn, con trạch”, chống “bọn cơ hội, tham vọng quyền lực”… để thanh trừng lẫn nhau.

Con số 13 là số “tử”, đại hội XIII được dự báo, các cao thủ võ lâm sẽ dùng đến tuyệt chiêu để tiêu diệt đối phương ngay trong những hiệp đấu đầu tiên…

Bi kịch trong bi kịch: Tài xế lao xe xuống hồ tự sát cùng 20 hành khách, người Trung Quốc chết lặng

  https://www.facebook.com/daikynguyentinmoi/videos/595269647854818/?t=25

56,947 Views

Đại Kỷ Nguyên – Tin Mới

Bi kịch trong bi kịch: Tài xế lao xe xuống hồ tự sát cùng 20 hành khách, người Trung Quốc chết lặng

Một vụ tai nạn xe buýt mới đây đã cướp đi sinh sinh mạng của 21 người tại Quý Châu (Trung Quốc). Trong đó, người lái xe đã cố tình đâm vào hồ chứa nước Hồng Sơn nhằm kéo theo những người khác chết chung. Tuy nhiên, những điều mà người đàn ông này phải chịu đựng lại khiến người Trung Quốc không khỏi đau thương!?

TĨNH THỨC

TĨNH THỨC

  1. Tỉnh thức: Vật chất dư thừa

Trong những xã hội tiên tiến, tỉnh thức không phải là một điều dễ làm, bởi vì vật chất dư thừa bao quanh khiến mình khó phân biệt đâu là thần tài, đâu là thần chết.

Chuyện kể rằng có hai tên tướng cướp một hôm đi ngang qua cánh rừng, bất ngờ cả hai cùng bắt gặp một người đàn ông tuổi trung niên đang hốt hoảng bỏ chạy, tay chỉ vào trong rừng, miệng hét to,

– Thần chết! Thần chết!.

Thấy chuyện lạ, hai tên tướng cướp chặn người đàn ông lại, kề dao vào cổ, vặn hỏi,

– Thần chết ở đâu mà nhà ngươi vừa chạy vừa hét ầm ĩ lên như vậy? Mát hả? Hay là té giếng sâu mười tám thước?

Lạ thay, mặc dù bị dao sắc chạm ngay cần cổ, người đàn ông vẫn không tỏ vẻ sợ hãi, nhưng tiếp tục chỉ tay vào rừng, tiếp tục hét to,

– Thần chết! Thần chết!

Thấy người đàn ông có thái độ lạ kỳ, hai tên tướng cướp liền để mặc người đàn ông một mình, rồi cả hai đi sâu vào bià rừng về hướng tay chỉ của người đàn ông. Thật bất ngờ, mới lần mò vào bià rừng được khoảng ném một cục đá, hai tên tướng cướp khám phá ra một cái hang bên trong chất cao đầy vàng bạc và kim cương. Thấy kho tàng bất ngờ xuất hiện trước mặt, hai tên tướng cướp mắt sáng ra. Rồi không ai nói ai, cả hai tên cướp thay phiên nhau đào vàng bạc, hốt kim cương cho vào những bao bố, chuẩn bị mang về thành phố. Cả hai vừa đào vàng, vừa hốt bạc, tâm hồn lâng lâng nghĩ tới ngày mai, một ngày mai tươi sáng với một kho tàng trời tặng ban cho thật bất ngờ. Sau một hồi loay hoay với kho vàng, cả hai tên cướp cùng đói bụng. Một tên mới đề nghị,

– Thôi, để tao vào thành phố. Mi cứ ở đây, đào tiếp, đợi tao mua bánh mì mang về tụi mình ăn trưa nhé.

Đang đói bụng, nghe bạn nói vậy, tên kia gật đầu đồng ý liền. Trên đường đi mua bánh mì ăn trưa, tên cướp thứ nhất bất ngờ động lòng tham, hắn nghĩ, ‘Thôi kệ, bây giờ mình ghé vào tiệm thuốc Bắc mua thuốc chuột nhét vào ổ bánh mì kẹp thịt. Như vậy cả nguyên một kho tàng sẽ thuộc hẳn về mình’. Nhưng cũng không ai ngờ, trong hang núi, tên cướp thứ hai cũng động lòng tham y như tên cướp thứ nhất. Cho nên, hắn bậm môi đứng nép ngay cửa hang, tay giơ cao thanh đao đợi chờ. Bởi không tỉnh thức, không nghi ngờ, tên cướp thứ nhất không chuẩn bị. Cho nên vừa mới ló đầu vào, đầu hắn rụng xuống, rơi lăn nghe kêu lông lốc trên nền đất khô. Giết chết bạn xong, tên cướp thứ hai tỉnh bơ ngồi xuống, lấy bánh mì có ướp thuốc chuột ra ăn. Nhưng bánh mì vừa kịp trôi qua cổ họng, hắn trợn mắt lên, rồi giãy đành đạch té chết nằm sõng soài bên cạnh xác đồng nghiệp còn chưa kịp lạnh. Thế là thần tài rớt mặt nạ xuống, hiện nguyên hình thần chết.

Tỉnh thức? Khó đấy!

II. Tỉnh thức: Giật gấu vá vai

Đối với những cuộc giật gấu vá vai, tỉnh thức cũng không phải là một điều dễ thực hiện, bởi vì đời sống vật chất thiếu thốn khiến người ta cũng dễ dàng bị mập mờ lẫn lộn giữa hạnh phúc bây giờ và bất hạnh tương lai.

Chuyện kể rằng tại một thôn làng có một cặp vợ chồng son. Cả hai rất hạnh phúc, nhưng chỉ tội nghèo. Bởi thế chồng phải ngày ngày vào rừng đốn củi kiếm tiền. Vợ ở nhà xúc cá bắt tép mang ra chợ bán. Cả hai quần quật làm việc đầu tắt mặt tối, thế mà vẫn không thoát cảnh cơm trưa trộn sắn, cơm chiều trộn khoai. Nhưng mặc cho phận nghèo tiếp tục theo đuổi, hai vợ chồng rất thương yêu nhau. Tối trong khi chồng đang ngồi xếp đống củi chuẩn bị mang ra chợ bán vào sáng sớm ngày hôm sau, vợ ngồi bên cạnh ướp muối từng chú cá xúc được trong ngày. Lâu lâu hai vợ chồng nhìn nhau, cười tủm tỉm thương yêu mặn nồng.

Bất ngờ, vào một ngày kia, trong khi đang vớt tép, vợ khám phá ra trong rổ lóng lánh một cục đá. Ánh sáng của hòn đá sáng lấp lánh che tối ánh bạc mặt trời nhiệt đới và cả những chú cá rô đồng lớn bằng bàn tay đang dãy dụa trong rổ. Mang hòn đá lớn bằng trái trứng chim câu về nhà, vợ nhờ người mang đi bán. Thế là bắt đầu kể từ đó đời sống của hai vợ chông thay đổi, chồng thôi phận tiều phu, vợ thôi kiếp xúc tép. Cả hai trở nên giàu có với nhà cao cửa rộng, người ăn kẻ ở tấp nập. Và cũng bắt đầu từ đó, người chồng một thời tiều phu bắt đầu đổi tính. Anh không còn tối tối quây quần xum họp với vợ trong túp lều tranh nữa, nhưng ngày đêm la cà nơi quán rượu nhà chứa… Và cũng bắt đầu từ đó, người vợ một thời xúc tép đổi hình. Chị ăn mặc sang trọng phấn son rỡ ràng, thường xuyên xuất hiện nơi sòng bạc casino… Có người còn nói chị trở nên gái gọi hạng sang… Thực hư chẳng ai biết. 

Tỉnh thức? Khó đấy! 

III. Tỉnh thức: Chốn thiền môn

Trong đời sống thiền môn, không tỉnh thức cõi thiền sẽ nhập nhằng hóa ra cõi trần.

Chuyện kể rằng, có nhà tu sĩ thuộc phái hành khất bình bát có lần dừng bước ngồi ăn xin dưới gốc đa đầu làng. Người trong thôn đi ngang qua, họ nhận ra gia tài duy nhất người tu sĩ sở hữu là hai cánh áo tăng và cái bình bát làm bằng gỗ. Tuy nghèo, nhưng nhà tu sĩ rất là hạnh phúc. Khuôn mặt của chàng không bao giờ thiếu vắng nụ cười. Ngày ngày ngồi dưới gốc đa, chàng lần chuỗi tâm kinh bình bát, “Xin cho con sống trọn một đời tu hành, chọn Trời làm mền, lấy đất làm giường, lấy hạnh phúc tha nhân là hạnh phúc của chính con”.

Dân làng đi ngang qua, có người dâng cúng trái chuối sứ, có người dâng tặng hành khất sĩ cái bánh cam. Trẻ em rắn mặt có tên nhặt đá ném người xuất gia. Có người không hiểu đạo lý diệt ngã của môn phái hành khất, cho nên đi ngang qua mở miệng mắng,

– Ơ hay chửa! Thanh niên trai tráng mặt mũi thông minh sáng láng như thế kia, tay chân vạm vỡ ra dáng người có ăn học như thế, mà lại lười biếng, không chịu đi làm! Rõ là nằm dưới gốc sung!

Ai cho chi, tăng sĩ trẻ tuổi cúi đầu, tay đưa lên trước ngực theo kiểu khất sĩ, miệng nói lời cám ơn.

Bị đá ném thẳng vào người, dù là to hay nhỏ, tăng sĩ vẫn yên lặng, thân mình không di chuyển, vầng trán cao không gợn một nét nhăn, nụ cười tăng sĩ vẫn nở trên môi, nhưng đầu cúi xuống tránh những hòn đá hiểm ác ném thẳng vào mặt.

Trước những lời la mắng, cự trách, người tu sĩ cúi xuống, tay chắp theo thế tâm kinh bình bát, mắt nhìn xuống nền đất, ánh mắt khoan thai tựa như Đức Phật ngự trên tòa sen.

Người trong làng, có mấy lần ghé tận gốc đa mời tăng sĩ về nhà dùng bữa cơm chay dưa muối. Nhưng tu sĩ bình bát nhã nhặn cúi đầu miệng nói lời cám ơn.

Ngày ngày trôi qua người tăng sĩ ngồi dưới gốc đa đã trở thành một phần đời sống của thôn làng. Sáng sáng lũ lượt kéo nhau đi ngang qua đầu làng chuẩn bị cho một ngày mới, người trong thôn nhận ra nhà tu sĩ vẫn ngồi thiền dưới gốc cây đa, ánh mắt hiền từ, nụ cười khoan dung.

Nhưng bất ngờ, vào một ngày kia người trong thôn nhận ra hai bộ quần áo tăng của người tu sĩ bị chuột nhắt gặm cắn nham nhở. Ái ngại cho tình cảnh đơn chiếc của tăng sĩ, có người quay về nhà mua tặng tăng sĩ hai bộ áo tăng mới. Nhưng tu sĩ lắc đầu, chỉ xin mượn kim chỉ khâu vá lại những chỗ rách.

Nhận ra những chú chuột nhắt là nguyên nhân chính tạo ra tình trạng cơ hàn lại thêm cơ hàn của tăng sĩ, có người chạy về nhà kiếm chú mèo mang lại tặng. Người này thông minh lanh lợi, ông không biếu tặng tăng sĩ một con mèo béo mập khỏe mạnh, mà là một chú mèo gầy đói ốm yếu nhưng hay bắt chuột. Dưới gốc cây đa, tăng sĩ nhìn chú mèo, thoạt tiên, chàng từ chối, viện lẽ ông thuộc về giới hành khất bình bát, không có quyền sở hữu bất cứ điều chi ngoài hai bộ y phục tăng sĩ và bình bát. Nhưng người chủ nhân của chú mèo ốm đói nói,

– Bạch thầy! Thầy nói đúng lắm. Nhưng con chỉ gởi tạm thầy chú mèo ốm đói nhờ phúc của thầy chăm nom dăm bữa nửa tháng mà thôi. Sau đó, con sẽ quay lại, xin lại chú mèo.

Nhận ra chú mèo gầy gò, ốm đói, bệnh hoạn, miệng kêu meo meo đói sữa, lòng từ tâm của tăng sĩ bình bát nổi lên, thế là chàng miễn cưỡng gật đầu.

Từ ngày có sự xuất hiện của chú mèo, chuột nhắt không còn dám lai vãng dưới gốc đa để cắn xé quần áo của tăng sĩ nữa. Nhưng cũng bởi có sự xuất hiện của mèo mướp hay chuột, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt tìm kiếm lương thực cho chú mèo. Nhận ra điều đó, có người trong thôn sáng chiều ghé vào dâng cúng thiền môn hai chén sữa cho chú mèo. Thế là xong xuôi một mối lo!

Ngày một ngày hai tiếp tục trôi qua, người biếu sữa cho chú mèo có chuyện phải rời bỏ thôn làng đi lên kinh đô làm ăn trong vòng một thời gian dài. Thôi thì cũng là nhất cử lưỡng tiện, ông liền quyết định mang con bò sữa lại gửi thiền sư gốc đa nhờ trông nom. Như thế chú mèo cũng có sữa, mà tăng sĩ cũng có thêm miếng sữa tươi uống hằng ngày. Nhìn chú bò, tăng sĩ không nói chi, miệng tiếp tục lời tâm kinh bình bát.

Bây giờ đã có nguyên một chú bò sữa quẩn quanh bên gốc đa, tăng sĩ bắt đầu phải đảo mắt nhìn quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô. Bởi thế tăng sĩ không còn ngày ngày ngồi thiền dưới gốc đa nữa, nhưng sáng sớm chiều tối, chàng phải bỏ những buổi công phu tâm kinh bình bát đi quanh quẩn tìm kiếm cỏ khô cho chú bò sữa.

Nhận ra tình trạng lúng túng của tăng sĩ, dân làng hội họp lại, và họ quyết định gửi tới gốc đa một người phụ nữ nhà nghèo cùng đinh khố rách, không công ăn việc làm để trông coi chú bò sữa cho nhà thiền sư. Thôi, thế cũng coi như là làm việc bác ái, một công hai việc, vừa là làm phúc cho cô gái, vừa là tiếp tục giúp nhà tăng sĩ không phải mất thì giờ công phu tu hành đi làm công việc dẫn bò ăn cỏ. Người trong thôn làng nhận ra đây là lần đầu tiên, khi nhận ra cô gái chăn bò sữa đang đứng trước mặt, vầng trán tu sĩ cao rộng thoáng gợn lên một đường hằn. Nhưng chàng không nói chi, tay chỉ ra phía sau. Thôn làng hiểu ý, người ta liền cất lên một ngôi nhà tranh nho nhỏ cho cô gái chăn bò sữa ở phía xa xa.

Ngày tháng trôi qua, đời sống của người trong thôn làng và người tăng sĩ gốc đa quay trở lại những nhịp điệu bình thường. Người trong thôn không còn phải lo cho tu sĩ nữa, bởi có người một phụ nữ đã được thôn làng cắt cử đặc trách công việc chăm sóc cho tăng sĩ. Tăng sĩ tiếp tục chăm chú vào những lời tâm kinh bình bát, bởi chàng không còn phải xao lãng và chia trí bởi những đường áo rách, bởi những chén sữa sáng chiều cho chú mèo, bởi những bó cỏ khô cho chú bò. Tất cả những điều đó, cô gái dưới túp lều tranh ở phía xa xa đã làm hộ chàng.

Tháng năm trôi qua, vào một buổi sáng, người trong thôn làng giật mình khám phá ra tăng sĩ không còn ngồi dưới gốc cây đa nữa.

– Ủa, tăng sĩ đi đâu rồi?

– Chắc là ông ấy lại cất bước lên đường viễn du với lời kinh bình bát của ông ấy rồi.

Trong khi người ta đang bàn tán về tăng sĩ bình bát, có người chỉ vào túp lều tranh,

– Trời ơi! Tưởng ổng đi đâu. Nhìn kìa!

Mọi người quay về hướng tay chỉ, ai cũng nhận ra tăng sĩ bình bát vừa từ trong túp lều tranh mở cửa đi ra. Chàng không còn mặc áo tăng sĩ nữa, nhưng trên người là một bộ áo bà ba màu nâu, cổ chàng quấn khăn rằn ri. Người đàn ông có một thời sống đời tăng sĩ bình bát mỉm cười, giơ tay chào mọi người trong thôn. Sau đó, chàng chậm rãi đi lại phía con bò, mở dây cột, rồi chậm rãi dẫn chú bò sữa đi ra ngoài cánh đồng.

Tỉnh thức? Khó đấy!

S.T.

From: TRUONG LE

BÀI HỌC VỀ TRUYỀN THÔNG…

BÀI HỌC VỀ TRUYỀN THÔNG…

Sau khi ngành y tế và truyền thông Việt Nam tỏ ra hả hê về việc đã chữa khỏi căn bệnh Covid 19 cho viên phi công người Anh Stephen Cameron từng thập tử nhất sinh, thì nhiều biểu hiện dồn dập đã khiến dư luận… ngỡ ngàng.

Cơ quan truyền thông chính thống của nhà nước là VOV2.VOV.VN đăng tin với một hàng tít không bình thường “Bệnh nhân người Anh rối loạn tâm lý hay một kiểu “chảnh”?

Trang tin của VOV ghi “Trong quá trình điều trị, bệnh nhân người Anh nhiều khi thiếu hợp tác với các bác sĩ. Anh cũng không muốn xuất hiện tại lễ xuất viện, nơi các bệnh nhân thường chính thức nói lời cảm ơn các bác sĩ đã cứu sống họ. Có thể anh chỉ nhận hoa chúc mừng của bệnh viện rồi ra thẳng sân bay để về nước”.

Nay thì không chỉ “có thể” nữa, anh ta đã lặng lẽ trở về nước thật rồi!

Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Thì đây, báo nhà nước cũng tường thuật rõ ràng: “Ngoài VOV, nhiều cơ quan truyền thông khác đã đề nghị phỏng vấn Stephen Cameron, bằng hình thức trực tiếp hoặc email hay hình thức nào đó phù hợp, nhưng thông qua bệnh viện, anh cho biết không đồng ý chia sẻ bất cứ điều gì với báo chí Việt Nam …”, và đây nữa:

“Không chỉ từ chối sự quan tâm của xã hội và các cơ quan báo chí Việt Nam, BN91 cũng thiếu hợp tác với ngay cả chính Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi anh đang được điều trị. Bệnh viện cho biết, để cập nhật tình hình bệnh nhân này với công chúng, bệnh viện đã chụp và cung cấp một bức hình (có che mặt) bệnh nhân cùng thông tin về quá trình điều trị cho báo chí, nhưng BN91 đã bày tỏ sự không hài lòng về điều này. Thậm chí sau khi biết ekip bác sĩ có trao đổi với các phóng viên về tình hình điều trị Stephen Cameron đã phản ứng bằng cách nhịn ăn và không phối hợp luyện tập”.

Và đây nữa:

“đến sát ngày được trở về Anh, bệnh nhân 91 đã từ chối cả việc xuất hiện trong lễ xuất viện (dự kiến diễn ra ngày 11/7) để chính thức nói lời cảm ơn, hành động mà các bệnh nhân khác thường làm khi được công bố ra viện…. có ý kiến cho rằng, anh đang sử dụng quyền riêng tư đối với các thông tin cá nhân của mình, anh có quyền cung cấp hay bán câu chuyện rất đặc biệt của mình cho cơ quan truyền thông nào đó theo cách anh muốn, hoặc giữ cho riêng mình, và điều đó là bình thường từ góc nhìn của người Anh..” (hết trích)

Xem tới đây, các bạn nghĩ sao? Có ngạc nhiên về thái độ cư xử của bệnh nhân người Anh và cho đó là thái độ vô ơn không? Trong trường hợp này, ai cũng có quyền suy diễn theo nhận thức, cảm nghĩ của riêng mình.

Về phần cá nhân mình, tôi không ngạc nhiên về hành động của Cameron và cũng không nghĩ rằng anh ta cố ý thể hiện thái độ hoàn toàn vô ơn đối với những người đã cứu sống mình.

Những gì diễn ra trong thời gian qua cho người cả nước nhìn thấy cả một chiến dịch truyền thông nhằm mượn hình ảnh chữa trị bệnh nhân BN91 để khoe khoang thành tích của chính quyền và ngành y tế Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Muốn quảng bá thành tích thì phải thường xuyên tiếp cận với đối tượng và những toan tính này đã nhanh chóng khiến cho đối tượng có cảm giác mình là một loại “con tin”, một phương tiện truyền thông để người khác lợi dụng.

Quá trình điều trị một bệnh nhân là một quá trình cần được giữ kín, về mặt y học, cũng như về quyền được tôn trọng bí mật cá nhân của người bệnh. Bệnh viện chữa trị cho anh bằng cách “chụp và cung cấp một bức hình (có che mặt) bệnh nhân cùng thông tin về quá trình điều trị cho báo chí” thì việc bệnh nhân đã phản ứng lại là điều không có gì quá đáng.

Điều đó cho thấy bất cứ hành động tốt đẹp nào cũng có thể mang đến những tác dụng ngược lại.

Đó là chưa kể sự chữa trị đầy quyết tâm của chính quyền và ngành y tế VN dành cho một cá nhân người nước ngoài đã làm chạnh lòng hàng triệu bệnh nhân người Việt đang sống dở chết dở trong những phòng bệnh chật ních con người, những thân nhân của họ có khi phải dùng cả gầm giường để làm chỗ ngủ qua đêm.

Ngoài ra, còn hàng chục ngàn công nhân VN bị mất việc, sống đói khát, cù bơ cù bất ở nước ngoài, chưa biết đến bao giờ được trở về quê hương, mà vẫn chưa thấy chính phủ có một quyết sách nào rõ ràng.

Dù gì thì bệnh nhân số 91 cũng sắp – hay đã – gặp lại người thân ở quê nhà. Thái độ của anh có thể bị xem là vô ơn, song suy nghĩ xa hơn, đó là thái độ sòng phẳng, nếu như anh ta lập luận thế này về các cơ quan chức nặng đã cứu sống anh “các ông đã chữa trị cho tôi, và đã dùng hình ảnh của tôi để quảng bá cho các ông nhiều rồi, thế là huề nhé! Từ nay hình ảnh của tôi là của tôi, tôi độc quyền sử dụng nó, chứ không phải ai khác!”.

Đó là bài học về truyền thông cho những ai thích khoe mình một cách quá đáng, bằng cách sử dụng hình ảnh, danh nghĩa của người khác, dù với một chiêu bài, một mục tiêu cao đẹp nào. Bài học này không hề nhỏ, đối với những ai mang bệnh thành tích trầm kha!

LÊ NGUYỄN
12.7.2020

No photo description available.
Image may contain: one or more people

NGÀY TÀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG CỘNG ĐANG ĐẾN RẤT GẦN

Image may contain: 2 people
Image may contain: one or more people and closeup

Vu Tran is with Ngoc Luc.

NGÀY TÀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG CỘNG ĐANG ĐẾN RẤT GẦN

Tin bất lợi cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc:

– đến nay đã có trên 80 quốc gia trên thế giới đang ra sức ngăn cấm hoặc hạng chế người Trung Quốc nhập cảnh.

– các nước này cũng tẩy chay hàng hoá made in China hay các sản phẩm có bắt nguồn hay xuất xứ từ Trung Cộng. “Tẩy chay hàng hoá Trung Quốc là điều đầu tiên được đưa ra, hãy đánh họ về kinh tế trước. Chiến tranh và dùng vũ lực là biện pháp cuối cùng”. Bộ trưởng Ấn Độ, ông Vitjay Kumar Singh tuyên bố.

– Chiến dịch bài Tàu, cô lập Trung Cộng đang đến lúc cao điểm trên toàn thế giới

– ngoại trưởng Mỹ, Michael Richard Pompeo vừa chỉ điểm đích danh ba viên chức cao cấp Trung Cộng và gia đình thân cận cấm nhập cảnh vào Mỹ.

– Chiến dịch trục xuất công dân của nhau bắt đầu. Mỹ chấp thuận hai chuyến bay của Air China để đưa công dân Trung Quốc về nước. Các chuyến bay từ Houston đến Thiên Tân vào Chủ nhật và Washington đến Thâm Quyến hôm thứ Năm đã bật đèn xanh, các cơ quan ngoại giao Trung Quốc tại Mỹ cho biết.

– Theo tờ nhật báo New York Times, chính phủ Mỹ chuẩn bị trục xuất từ 3.000 đến 5.000 sinh viên Trung Quốc tình nghi là hoạt động gián điệp trên đất Mỹ và hạn chế visa cho các sinh viên du học ở Mỹ.

– Các quan chức hay đã từng là Đảng viên của Trung Quốc sẽ bị trục xuất.

– Mỹ sẽ rút hết các 4000 công ty từ Trung Quốc và 1400 công ty từ Hồng Kông về nước. Apple công bố chuyển dây chuyền sản xuất iPhone sang Ấn Độ.

– Bãi bỏ các ưu đãi về thương mại, du lịch, hải quan và dẫn độ đối với Hồng Kông.

– Đồng minh nối gót Mỹ: Nhật Bản đã rút khỏi TQ, công ty Olympus, Ricoh, Omron, Mitsubishi Electric, Komatstu, Toshiba đã chuyển dây chuyền sản xuất sang các nước khác. Sumitomo, Kobe Steel nhà sản xuất Thép lớn của Nhật họ đang chuyển phụ tùng máy đào thủy lực sang Thái Lan và Hoa Kỳ. Adidas, Nike và các xưởng gia công cho giầy thể thao cũng rời khỏi Trung Quốc.

– Có hơn 20.000 công ty Nước ngoài đầu tư tại Trung Quốc, tạo ra 45 triệu công ăn việc làm cho người dân TQ, bây giờ rút lui khỏi Trung Quốc.

– Hơn 728 triệu người dân TQ đang sống với mức thu nhập 2-5 USD/ ngày theo trung tâm nghiên cứu PEW.

– Nợ công của chính phủ TQ đã lên đến quá 255,7% GDP của nước này (theo Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS). Tuy nhiên con số GDP năm 2018 là 13.285 tỷ USD đơn giản là bị thổi phồng số liệu trong khi tổng nợ thực tế là khoảng 34.000 tỷ USD => ước tính nợ công thực tế của Trung Quốc đã vượt quá 400% GDP.

– Chưa đầy 24 giờ sau khi Washington chính thức tăng thuế với 200 tỉ USD hàng Tàu, Tổng thống Mỹ Donald Trump lại ra lệnh tăng thuế tiếp với tất cả số hàng còn lại trị giá hơn 300 tỉ USD.

– Tổng Thống Donald Trump vừa tuyên bố chấm dứt mọi quan hệ và đóng góp tài chính đối với Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vì tổ chức nay bị Trung Cộng thao túng và đã không có cải thiện đáng kể trong chiến dịch ngăn chận sự bùng phát toàn cầu của dịch viêm phổi Vũ Hán.

– nhiều thiên tai, dịch bịnh, lũ lụt, động đất, đập Tam Hiệp xả lũ nguy cơ vỡ đập nhận chìm dân Trung Quốc vô tội

– và nhiều tiếng kêu lạ bi hồn đã xuất hiện gần đây tại Trung Quốc, nó là điềm báo hiệu:

“ĐẢNG ĐỘC TÀI CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TẤT DIỆT VONG”.

Vu Tran
(Sydney 11/07/2020)