ĐAM MÊ CỦA THÁNH AUGUSTINO

ĐAM MÊ CỦA THÁNH AUGUSTINO

  EYMARD An Mai Đỗ O. Cist.

  1. Wide đã khẳng định: “Mỗi vị Thánh có một quá khứ, mỗi tội nhân có một tương lai.”  Câu nói này được áp dụng triệt để cho cuộc đời của Thánh Augustino, một con người sống với nhiều nỗi đam mê.Có những đam mê đã kéo theo một đời sống lệch lạc và truỵ lạc, cũng có những đam mê giúp ngài sống thật và sống thánh.  Tất cả được bộc bạch trong cuốn Tự Thuật, một trước tác của ngài.

Lược qua tác phẩm, chúng ta ghi nhận hai điểm nổi bật nơi đam mê của thánh nhân: danh vọng và sắc dục.  Thông thường, chỉ có những đau khổ hay mất mát lớn lao cách nào đó mới khiến con người giảm trừ hay chấm dứt đam mê quá đà hoặc bất chính; thánh nhân cũng không phải trường hợp ngoại lệ.  Nhưng với ơn Chúa, ngài đã “lột xác” trải qua một cuộc biến đổi ngoạn mục mà đó cũng là một phần thao thức ngài muốn trình bày trong tác phẩm Tự thú này.

Trước tiên, chúng ta bàn đến đam mê danh vọng nơi ngài.  Đam mê này được chính thánh Augustino nhìn nhận, thích trổi vượt hơn người khác, vì vậy vinh dự của ngài là làm đẹp lòng người khác[i] .  Thật ra, nếu ngài có trí khôn và tài giỏi thì việc trổi vượt hơn người hay được người khác khen ngợi, đó là điều chính đáng.  Nhưng ngài đã lừa dối giáo sư, giấu giếm cha mẹ vì ham chơi, say mê những vở kịch nhảm nhí, điên cuồng; bắt chước các trình diễn đó rồi sinh ra kiêu hãnh, tìm tiếng khen…  Chúng ta nghe chính ngài tự thú: “Về các loại cám dỗ khác, còn có một cách nào đó dò xét được mình, còn về loại này (đam mê danh vọng), thì hầu như không có cách nào cả”[ii].  Nói như thế, ngài tỏ ra bất lực nhưng kỳ thực với ơn Chúa, ngài nỗ lực rất nhiều.  Ngài ý thức đam mê này quá quy về bản thân nên ngài hướng ra tha nhân, ngài viết: “Con thấy rõ là các tiếng khen của người ta đã làm cho con chăm chú đến lợi ích của con”[iii] .  Điều này được chứng thực qua việc ngài dùng tài hùng biện để thuyết phục người khác tìm đến chân lý.

Quả thật, với vinh dự sinh viên thủ khoa môn này, ngài nhanh chóng trở thành nhà hùng biện.  Đam mê này đã khiến ngài tìm đến Cicéron là tác giả cuốn Hortensius.  Chính tác phẩm này làm thay đổi nguyện vọng và ước muốn của thánh nhân, muốn quay về sự khôn ngoan bất tử.  Bắt đầu ngài tìm đọc Kinh Thánh nhưng cảm giác vô vị.  Có thể nói, đây chỉ là một cảm xúc nhất thời vụt tắt.  Nhưng dù sao, ngài cũng biểu hiện một cảm thức đam mê đi tìm Chân, Thiện, Mỹ.

Đam mê chân lý là một điều đáng ước ao nhưng chân lý là một thực tại không dễ thủ đắc vì lý trí đã ra tối tăm vì “vết thương tội lỗi.”  Một khi lý trí sai lầm, chân lý ấy biến thành một loại nguỵ biện.  Do đam mê hiếu tri đi tìm chân lý, thánh Augustino vương phải bè rối mà ngài ví như người có cặp mắt mù tối vướng phải cạm bẫy giăng trên đường.  Bè rối ấy âm mưu đẩy khoa học lên đến đỉnh điểm để loại tôn giáo khỏi đời sống con người.  Sự thể càng thêm trầm trọng khi một Giám Mục tên là Faustus cũng theo bè rối này.  Với tài hùng biện và lối nói dí dỏm đã làm say mê thánh nhân khiến ngài càng xác tín về những “chân lý” sai lầm; dầu là những gì thánh nhân tiếp xúc chỉ là nguỵ biện.  Nhưng điều tệ hại là một khi nhổ hết cỏ mọc hoang, mảnh đất tâm hồn trở nên trống rỗng vì không có một giáo lý lành mạnh khác trồng vào cho đến khi ngài gặp được Giám mục Ambrôsiô, từ những bài giảng hùng hồn và không kém phần hùng biện của Đức Cha này, ngài đã nhận ra được chân lý mình phải tin nhận.

Nhưng cuộc trở về của ngài không phải một sớm một chiều.  Chúng ta nghe ngài tâm sự: “Sự xấu kinh niên có sức mạnh trên con hơn là sự lành mới mẻ đối với con.  Cái giây phút mà con sẽ được thay đổi càng gần tới, thì làm cho con càng sợ hãi; nó không làm cho con lùi bước, cũng chẳng đổi chiều, nhưng là lưỡng lự.  Đây là một cuộc chiến giằng co nội tâm nhưng “giờ Chúa đã đến.”  Ngài tỏ ý muốn bằng chính dấu chỉ bên ngoài.  Ngài viết: “Việc dạy học quá vất vả đã làm cho phổi con yếu đi, con khó thở và sự đau ngực chứng tỏ có vết thương” [iv].  Nỗi đau này đồng nghĩa với việc từ bỏ nỗi đam mê hùng biện là mối cản trở lớn khiến ngài không thể hợp nhất với Giáo Hội.  Thêm một dấu lạ khác nữa, “Chúa hành hạ con với cái bệnh đau răng nguy kịch đến nỗi làm cho con không nói được nữa.  Trong lòng con nảy ra ý nghĩ là kêu gọi các bạn có mặt tại nhà, cầu xin Chúa cho con…  Nhưng chúng con vừa quỳ gối để khẩn khoản cầu xin thì cơn đau biến mất… Và tự đáy lòng, con cảm thấy một sự khuyến cáo của Chúa và vui vẻ trong đức tin”[v].

Từ những lời tự thuật trên, chúng ta có thể xác tín rằng đức tin là hồng ân Chúa ban và “giờ Chúa đến” thì không ai có thể ngăn cản được!  Vì ý muốn của Chúa là ý muốn quyền năng, nghĩa là muốn gì thì được vậy!

Hành trình đi đến đức tin của thánh nhân còn nếm trải một nỗi đam mê chết người là đam mê sắc dục.  Có thể nói, nó chi phối toàn bộ cuộc sống của ngài.  Augustino đã tự thú: “Con không biết phân biệt sự sáng sủa của tình yêu và sự tối tăm của nhục dục.  Cả hai tình yêu đều bốc cháy lẫn lộn trong con, lôi kéo tuổi xuân khờ dại của con qua những ghềnh dốc đam mê và dìm con xuống vực thẳm các nết xấu…  Sự dâm đãng đã làm con dao động và xiêu té, phung phí và tiêu tan sức lực” [vi] Ngài và các bạn của ngài ganh đua nhau không phải tập tành nhân đức hay nghiên cứu tri thức mà lại so kè xem ai làm chuyện xấu xa đồi bại hơn.  Có lúc, vì muốn hơn chúng bạn, ngài phải nói dối, ngài tâm sự: “Con sợ bị khinh thị vì vô tội, bị coi hèn hạ hơn vì trong sạch”[vii].

Ngài mô tả đam mê nhục dục: “Chúng xuất hiện lờ mờ trước mặt khi con tỉnh thức, nhưng trong giấc ngủ, chúng gợi lên không những cảm giác thú vui, mà còn sự ưng thuận và như có cả hành động nữa”[viii].  Ở đây, có sự can dự của tiềm thức; những hình ảnh đập vào mắt, chúng ám ảnh toàn diện con người nên dịp tội và ưng thuận là khoảng cách mong manh.  Đến nỗi, khi nghĩ về những điều này, ngài thốt lên: “Trước thánh nhan Chúa, con là một bí mật cho con và đó chính là sự yếu đuối của con” [ix].  Quả thật, đam mê nào cũng đi kèm với khoái lạc, mà đam mê nhục dục chi phối toàn bộ sinh hoạt con người nên khi muốn từ bỏ ngay đối tượng đam mê, khoái lạc lại khuấy động, cảm xúc trào dâng, giác quan dễ tìm lại cảm giác cũ.  Với những nguy hiểm rình chờ, ngài chỉ còn cách kêu cầu Chúa: “Con đã nói cho Chúa nhân lành biết hiện trạng yếu đuối của con: con vui mừng mà run sợ về những ơn Chúa đã ban, con khóc lóc về những  thiếu sót trong con, con hy vọng Chúa sẽ hoàn tất nơi con lòng thương xót của Chúa, cho tới sự bình an trọn vẹn, mà mọi quan năng bề trong bề ngoài của con được hưởng nơi Chúa”[x].

Chúng ta vừa lược qua những đam mê của thánh Augustino, xem ra rất con người xác thịt nhưng nhờ ơn Chúa, ngài đã chuyển hướng biến nó thành phương tiện mang ơn cứu độ.  Chắc hẳn, đây sẽ là sứ điệp về niềm hy vọng cho mỗi chúng ta, rằng: chúng ta vẫn sống hoài nỗi đam mê mà không làm nguôi ngoai khát vọng nên thánh.  Một hành trình đến đức tin, một hành trình dài nên thánh đòi buộc ngài phải xét mình luôn, ngài tâm sự: “Con thường xuyên kiểm điểm về cái yếu đuối tội lỗi của con dưới những hình thức đam mê”[xi].  Và xác tín như thánh Phao lô: chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh.

Phải chăng chính khi ngài trải qua những đêm tối lầm lạc, đam mê nhiều phen mà Giáo hội đã có một hướng nhìn đúng đắn và cởi mở từ học thuyết đam mê của ngài?

 EYMARD An Mai Đỗ O. Cist.

[i] X. Thánh Augustino, Tự Thuật, QI, XIX, 30.

[ii] Sđd, QX, XXXVII, 60.

[iii] Sđd, Q X, XXXVII, 62.

[iv] Sđd, Q IX, II, 4.

[v] Sđd, Q IX, IV, 12.

[vi] Sđd, Q II, II.

[vii] Sđd, Q II, III,7.

[viii] Sđd, Q X, XXX, 4.

[ix] Sđd, Q X, XXXIV, 50.

[x] Sđd, Q X, XXX, 42.

[xi] Sđd, Q X, XLI, 66.

 From: Langthangchieutim

Augustine.jpeg

Mẹ là… ‘ký sinh trùng!’

Mẹ là… ‘ký sinh trùng!’

Huy Phương

Tôi mồ côi cha từ năm lên sáu. Mẹ ôm con về bên ngoại, chịu lại cảnh nghèo khổ như trước lúc mẹ lấy chồng. Từ đấy một giọt sữa, búng cơm, đôi guốc, manh áo, cuốn tập đến trường, tất cà đều do sức lực của mẹ tôi, từ những giọt mồ hôi, qua những ngày nắng mưa ngoài đường phố, và cả những đêm mẹ ôm tôi, mà tôi thường nghe những giọt nước mắt nóng chảy xuống trán mình.

Hàng rong trên phố ở Việt Nam. (Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)

Mẹ không được học hành, không có chữ nghĩa, nên lớn lên việc mưu sinh chỉ trong cậy vào đôi tay, hai bàn chân chạy và đôi quang gánh trên vai, buôn bán hàng rong quanh năm, để tối về có bát cơm, miếng bánh cho con. Đây là một cái nghề đang bị lên án, cái nghề không có sản xuất, không làm nên của cải vật chất cho xã hội. Năm ấy người ta quyết tâm làm sạch đường phố, người buôn thúng bán bưng được vận động bỏ thành phố đi về nơi hoang dã để làm giàu hay làm đẹp mặt, đủ chỉ tiêu cho tổ quốc. Tuần nào, phường khóm cũng có những buổi xuất quân với những đoàn xe lếch thếch chất đầy giường tủ, chăn chiếu, bu gà, xe đạp ra đi.

Hồi đó, phong trào Hợp Tác Xã nông nghiệp phát triển khắp nước, coi như kế sách hay quốc sách đưa đất nước đến chỗ giàu mạnh, được nể nang được gọi là … cường quốc! Nhà nào có con trâu, đám ruộng thì được xếp xã viên cấp cao, vô sản chính chuyên thì đem thân thế trâu cày. Đã vậy việc phân bố nhân sự, như thói quen lâu nay của xã hội này, mà một thằng làm, ba thằng chỉ huy, với các danh vị đã được quy định, ngồi mát ăn bát vàng. Chủ nhiệm Hợp Tác Xã ở nhà ngói đỏ, đi xe gắn máy, các ban bệ ngồi không uống trà, tán gẫu, nhưng đến kỳ chấm công đã ngốn hết điểm của xã viên. Tôi thương mẹ tôi vất vả, cuối mùa, phần gạo mang về không đủ ăn.

Nhìn thằng con da bọc xương, quen với sắn khoai, suốt năm chưa hề có một miếng cơm cá vào mồm, mẹ tôi trăn trở là “làm một cuộc cách mạng” quyết vượt qua quốc sách mang con trở lại thành phố. Móc nối được với một bà chị họ có thân nhân được phước báu, ra được nước ngoài lại có “gia dình cách mạng,” bảo bọc cho mẹ con tôi về thành phố, chỉ cần mỗi tối có một xó xỉnh để ngủ qua đêm. Thương mẹ tôi vất vả, bà cô đem mẹ tôi về cho coi sóc một bãi giữ xe của gia đình bà. Mẹ tôi cảm thấy vui, vì tuy giầm mưa giải nắng, luôn lo chuyện kiểm soát vì sợ mất xe, nhưng được cái hai mẹ con có chỗ dung thân và không còn ôm bụng đói.

Nhưng phụ trách quán xuyến một bãi giữ xe có dễ không?

Mẹ tôi than phiền khi một công việc có mùi tiền, là có ruồi nhặng. Trước hết là Phường, Khóm, đồn công an Phường, có khi ở Quận còn chiếu cố xuống Phường kiếm ăn. Rồi dân phòng, an ninh, thằng bá vơ nào mặc quân phục cũng có quyền ghé qua bãi xe chìa tay xin đểu, ngắt xé một tí. Thằng nào cũng có lý do như xe hư cần sửa, sắp về Bắc thăm nhà. Việc chung cần yểm trợ như đại hội đảng cấp Quận, Liên hoan kết nạp vào Đảng hay mừng “anh Ba” lên chức. Trong xã hội hiện nay bọn này đầy nhan nhản, ung dung, phè phỡn mà không hề có chút mặc cảm ăn xin, ăn mày!

Thấy công việc ngày ngày càng khó khăn, mà mẹ tôi là thân đàn bà yếu đuối, đôi khi không có bản lãnh để đối đầu với bọn ma quỷ dương gian, bà cô tôi dự định sang bãi giữ xe cho một ông cán bộ về hưu, và đề nghị mẹ tôi mở một quá ăn nhỏ bên lề đường gọi là cho có “độc lập, tự do…” từng trải với sinh hoạt đường phố thời nhiễu nhương này, kinh nghiệm lâu nay cho biết trong khu phố bọn ruồi, kiến lúc nào cũng có mặt, không dễ gì mà có “độc lập, tự do.”

Kinh nghiệm của những quán ăn trong thành phố, trước hết mở ra là để vỗ béo cho viên chức quan lại. Tô phở đặc biệt, ly cà phê sữa hay sô đa hột gà, bao thuốc lá đầu lọc ghi sổ hay là thay vào một cái cười giả lả chào… huề. Ông thuế vụ ngày này quyền hạn cũng không thua gì công an, thỉnh thoảng cả bọn ghé qua, coi như của nhà mà bọn chúng có quyền hạn được thụ hưởng. Đây là “tập đoàn’ không làm mà có ăn, không đổ mồ hôi mà có bia bọt.

Liệu không xong với bãi giữ xe, mẹ tôi thưa với bà cô xin cho được tá túc là quý, còn việc mưu sinh kiếm ăn, xin để tự lo liệu. Mẹ tôi quyết tâm chọn “độc lập, tự do bằng cách làm chủ nhân một gánh cháo huyết, thong dong trên đường phố. Bà nói đây là một nghề “nhẹ gánh,” vì không máy ai mặc quân phục và vây quang gánh cháo của bà để húp sùm sụp, hay nỡ lòng nào ngửa tay xin tiền của bà. “Con mẹ bán cháo huyết” là vai vế mạt hạng trong xã hội này rồi. Thế mà mẹ tôi vui, bà cho biết cũng có lúc ngồi chưa nóng đã bị đuổi chạy sút dép.

Vậy mà mấy hôm nay, bọn đài, báo nhà nước gán cho nghề nghiệp và phẩm giá của mẹ tôi là loại… ký sinh trùng.

Tôi xin phản đối kịch liệt cái thái độ miệt thị, chà đạp phẩm cách của mẹ tôi cũng như hàng trăm nghìn người buôn bán bưng, đã sống lương thiện, có nhân cách bằng công lao tự thân, không bốc lột, sống bám, hút máu ai! Lớn lên, tôi thấy mẹ tôi là người lương thiện, chưa hề nhận sự lợi nhuận nào mà không do công sức của mình, chưa hề sống bám vào sức lực của người khác. Bà kiếm miếng ăn chật vật, từ những giọt mồ hôi của mình, từ đôi chân trần mải miết trên đường.

Ký sinh trùng là một sinh vật sống trong hoặc trên vật thể khác. Nó sử dụng nhựa cây, máu mủ, da thịt của sinh vật khác để sinh tồn, có khi lấn lướt và giết chết vật thể mà nó đang phải nương tựa. Đó chính là loại tầm gửi, cây leo. Là loại trùng nó chỉ gây nguy hại, là cây, nó chẳng cho hoa cho trái cho đời…

Cứ mở mắt mà nhìn rõ xã hội này, đứa nào không động chân, động tay, ngồi mát ăn bát vàng mà xây biệt phủ, sắm xe đẹp, có hầu non, con năm ba đứa du học, cái mặt phinh phính đầy mỡ, cái bụng phệ vì bia thì chính chúng là loại ký sinh trùng, trăm thằng không sai một đứa. Trong xã hội độc tài, đảng trị này, chúng đầy nhan nhản, ra ngõ là gặp, nhắm mắt túm áo cũng được vài ba thằng. Tính từ năm 2011, đã có 3.6 triệu nhân vật loại này.

Mẹ tôi chỉ là một tầng lớp thấp kém nhưng luôn giữ lòng lương thiện, là một người trong hằng trăm nghìn người buôn thúng bán bưng, sống nhờ giới bình dân và đường phố, nhưng giới này không ăn hại, sống bám vào ai. Họ không có quyền lực gì để nhũng lạm ngân sách của nhà nước, lấy từ tiền thuế của dân như các tổ chức ăn hại của đảng, như tổ chức đảng cộng sản ăn bám của dân… Họ không có thẻ đảng để tham ô, không có thế lực được bao che để bòn rút đục khoét ngân sách quốc gia, họ không có vũ khí hay quyền lực trong tay để cướp đất cướp nhà.

Mẹ ơi! Nhất định mẹ không phải là loại ký sinh trùng! Trong đất nước này, bây giờ vàng thau lẫn lộn, đứa gian manh mang danh đạo đức, phường trộm cướp đọc diễn văn yêu nước thương nòi, kẻ lương hảo bị đạp xuống bùn đen. Đời mẹ chưa lợi dụng một ai, chưa hút máu mủ ai, được ai cõng trên lưng, hưởng thụ thành quả của người khác làm ra.

Trên đời này, không thiếu gì bọn sán lãi, đích thị là loại ký sinh trùng, toàn là thứ tầm gửi, ăn đậu ở nhờ trên lưng tổ quốc, bòn rút của công, nhưng ca tụng nhau như những anh hùng đầy kỳ tích.

Mẹ ơi! Tháng Bảy lại về, nhân mùa Vu Lan báo hiếu, lẽ ra hình ảnh mẹ được nằm trên những trang báo trang trọng với những lời tán dương, công lao mẹ, thì con lại phải dùng một đề tài khá xúc phạm đến mẹ, ngoài ý muốn của con. Phải chăng chúng ta đã sinh lầm nơi, lầm thời, trong một cái ao bùn, để xót xa thấy thân mẹ bị lấm lem, danh dự mẹ bị chà đạp!

[kn]

Image may contain: 1 person, food and outdoor

Phạm Nhật Vũ và một ĐBQH bị phát hiện mua quốc tịch Síp với 2.5 triệu USD

  Phạm Nhật Vũ và một ĐBQH bị phát hiện mua quốc tịch Síp với 2.5 triệu USD

Một điều tra mới được công bố hôm 24-8 của hãng tin Al Jazeera cho biết có một đại biểu Quốc hội Việt Nam, và một doanh nhân đang chịu án tù vì tội hối lộ ở Việt Nam đã được nhập quốc tịch Cộng hoà Síp, nước cung cấp các “hộ chiếu vàng” cho nhiều cá nhân là các quan chức chính phủ bị nghi ngờ có dính líu đến tham nhũng.

Theo điều tra của Al Jazeera, hai người nổi tiếng của Việt Nam đang có trong tay “hộ chiếu vàng” trị giá 2.5 triệu USD của Síp bao gồm: đại biểu Quốc hội Phạm Phú Quốc – Tổng giám đốc công ty Tân Thuận IPC, thuộc đoàn đại biểu quốc hội TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2016 – 2021; và ông Phạm Nhật Vũ – cựu Chủ tịch công ty Cổ phần Nghe nhìn toàn cầu – AVG, người đang thụ án tù 3 năm vì tội đưa hối lộ.

Hồ sơ nhập quốc tịch Síp của ông Quốc được chấp thuận vào tháng 12-2018, vợ của ông Quốc cũng đã được nhập quốc tịch Síp.

Hồ Sơ nhập quốc tịch của em trai tỷ phú Phạm Nhật Vượng được chấp thuận vào tháng 5 năm 2019, khoảng 6 tháng trước khi ông Vũ bị kết án tù vì tội đưa hối lộ trong vụ án Mobifon mua AVG dính đến 2 Bộ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông. Vợ của ông Vũ cũng đã được nhập quốc tịch Síp.

Theo luật của Việt Nam, đại biểu quốc hội chỉ được mang một quốc tịch Việt Nam. Hồi năm 2016, một đại biểu quốc hội Việt Nam là bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, một doanh nhân, đã bị mất tư cách đại biểu quốc hội vì mang quốc tịch Malta.

Theo Al Jazeera, trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2019, chính phủ Síp đã cấp “hộ chiếu vàng” cho hàng chục quan chức cấp cao nước ngoài vào gia đình họ. Việc cấp hộ chiếu này nằm trong chương trình khuyến khích người nước ngoài đầu tư vào Síp. Mỗi hộ chiếu như vậy được cho biết tốn khoảng 2,5 triệu đô la.

 Image may contain: 2 people

GÉOPHAGIE, ĂN ĐẤT

GÉOPHAGIE, ĂN ĐẤT

Y khoa có nhiều từ ngữ nói về bệnh ăn rất lạ.

Từ ngữ phổ thông nhất đề cập tới hiện tượng quen thuộc nhất: ‘’onychophagie’’ (ăn móng tay).

Những cái ăn khác, hiếm hơn, hay bệnh hoạn hơn:

-anthropophagie: ăn thịt người

-coprophagie: ăn đồ phóng uế

-entomophagie : ăn côn trùng

-xylophagie: ăn gỗ

-autophagie: các tế bào tự ăn mình

-nécrophagie : ăn thịt người chết

Y khoa Tây Phương chưa nghĩ tới bệnh ăn đất của các tướng tá, cán bộ VN, nên chưa có từ ngữ cho hiện tượng này. Có lẽ đã đến lúc nghiên cứu về bệnh này, càng ngày càng phổ thông.

Sư thực, y khoa đã có chữ GÉOPHAGIE (ăn đất), nhưng nghĩa hơi khác.

Géophagie nói về chim chóc, sinh vật, hay cả người thuộc nhiều bộ lạc, có thói quen ăn đất, bụi trên rau cỏ, rễ cây, để trái cây bớt vị chua, chát và để lót ruột, tránh đau dạ dầy.

Y khoa cần chính xác. Không thể dùng chữ ‘’géophagie’’ để nói về những thằnng ăn hàng ngàn, hàng triệu thước đất, làm thịt cả một khu rừng, đớp cả một dẫy núi, nuốt 3/4 phi trường

(tuthuc-paris-blog.com)

Image may contain: 6 people, text

-Cô làm gì ở đây ? Cô đang có dấu hiệu phạm tội !

Một cô gái đang loay hoay như tìm kiếm cái gì đánh mất…thì bất chợt bị một anh công an tóm lại và kêu lên :

-Cô làm gì ở đây ? Cô đang có dấu hiệu phạm tội !

Cô gái cố giãy dụa hòng thoát khỏi bàn tay của người kia đang cố nắm chặt tay mình. Cô kêu lên :

-Tôi là cô giáo, tôi đang tìm kiếm cái bóp giấy tờ tôi đánh rơi, sao anh lại vu cho tôi là tội phạm ? Nếu anh không tin thì cứ khám cái túi xách của tôi xem có đồ gì là vũ khí của tội phạm không !

Anh công an liền khám xét túi xách của cô gái….và chỉ thấy bút, mực, thước kẻ, vài cuốn sách…nhưng anh ta vẫn một mực gán cho cô là “có dấu hiệu của kẻ vi phạm pháp luật” ! Vì mang theo vật nhọn và vật cứng !!! và chẳng cho cô gái giải thích, anh ta cứ dắt cô gái về đồn. Tức quá, cô gái liền la lên ầm ỹ….bớ người ta cứu tôi…cứu tôi ! Hiếp dâm…hiếp dâm…vài người nghe thấy chạy đến…anh công an liền nói với người ta rằng : – Cô gái này vu oan cho tôi, vì tôi chẳng đụng đến áo quần cô ấy thì lấy gì mà hiếp !

Cô gái liền nói với mọi người đứng đó :

-Anh ta nói dối, anh ta luôn mang trong mình công cụ của kẻ hiếp dâm, và anh ta đang có dấu hiệu của kẻ hiếp dâm !

Anh công an nói :

-Tôi chưa làm gì cô thì cô chưa thể buộc tội tôi là kẻ hiếp dâm

Cô gái liền trả lời :

-Anh nói đúng. Vậy thì những vật nhọn hay vật cứng tôi mang theo (chỉ là những cây bút và cây thước)…sao anh lại cho tôi là kẻ có dấu hiệu phạm tội !

………

Câu chuyện này tôi đọc đã lâu ở đâu đó trên mạng… viết lên đây để thấy rằng “không thể áp đặt cho ai đó là tội phạm, nếu họ chưa thực hiện hành động vi phạm pháp luật”

– Nhân sự việc cô giáo Nguyễn Thị Minh Nguyệt (Nguyễn Nguyệt) nhận được giấy mời của CAH Thống Nhất với nội dung: “Làm rõ các hoạt động có dấu hiệu vi phạm pháp luật”

.
No photo description available.

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TIÊU DIỆT MỘT DÂN TỘC?

LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TIÊU DIỆT MỘT DÂN TỘC ?

Từ Thức

Muốn tiêu diệt một dân tộc, bom đạn, đàn áp không đủ. Dù tối tân tới đâu, bom đạn không thể giết hết hàng trăm triệu người.

Dưới đây là 13 biện pháp hữu hiệu nhất để bức tử một dân tộc, với điều kiện phải thực hiện cùng một lúc, đúng quy trình , có đủ ngân quỹ, nhân sự và quyết tâm sắt đá để thực hiện:

  1. Reo rắc ung thư, bịnh hiểm nghèo bằng cách cho tự do nhập cảng hàng hóa, lương thực độc hại
  2. Gây đói rách, để nông dân, thương gia không có cách gì cạnh tranh để sống còn hơn là dùng hóa chất độc hại tràn ngập thị trường
  3. Bộ Y tế, các nhà thương được tự do sản xuất, lưu hành, xử dụng thuốc giả, thuốc gây ung thư, bệnh truyền nhiễm.
  4. Khuyến khích rượu chè, ma túy, ăn chơi trụy lạc, một mặt để lấy thuế, mặt khác để tiêu diệt trí não, nghị lực, sức đề kháng của dân, đặc biệt lớp trẻ.
  5. Khuyến khích những trò chơi dâm đãng, lố bịch, bỉ ổi, để tiêu diệt những ý niệm về nhân phẩm còn sót lại.
  6. Nhập cảng chủ nghĩa quái dị đã bị cả thế giới ghê tởm. Tẩy não, nhồi sọ để tiêu diệt khả năng phán đoán. Bỏ tù, bức tử, nhục mạ, cô lập những người còn khả năng suy nghĩ, phản kháng.
  7. Buôn bán bằng giả để triệt hạ uy tín của trí thức, biến dân tộc thành một con rắn không đầu , cá mè một lứa, không người đáng tin, đáng trọng, đáng kính. Trả lương rẻ mạt giáo chức, biến nguời truyền bá kiến thức thành cùng đinh, giáo dục một trò chơi nhảm nhí.
  8. Cho ngoại nhân tự do nhập cảnh, cư trú như chỗ không người. Khuyến khích dùng ngoại tệ để thực tập đời sống nô lệ.
  9. Chặt cây, phá rừng, xả lũ. Tiêu diệt mầm sống , để dân suốt đời chỉ lo chống đỡ thiên tai, không còn đầu óc, sức lực nghĩ đến chuyện đất nước.
  10. Xuất cảng lao động, trục xuất những cá nhân có đầu óc ra khỏi nước, để tiêu diệt tiềm năng dân tộc.
  11. Bán đổ bán tháo tài nguyên quốc gia. Tàn phá môi trường, để nông dân, ngư dân tha phương cầu thực, bỏ đất, bỏ biển cho ngoại bang.
  12. San bằng di sản văn hoá, viết lại lịch sử để biến dân tộc thành một tập đoàn ô hợp, không quá khứ, khônng tương lai, như một đám cô hồn, kéo nhau đi trong đêm tối, không biết mình từ đâu tới, sẽ đi về đâu.
  13. Tiêu diệt ngôn ngữ , sợi dây liên lạc giữa các công dân, tâm hồn của một dân tộc.

Một dân tộc không còn lãnh thổ, không tài nguyên, không chủ quyền, trí não bại hoại, tinh thần bạc nhược, thân thể bệnh hoạn, mất hết đạo lý, lương tâm, đạp lên nhau để sống, không còn ngôn ngữ, quên quá khứ, không tương lai, không biết mình là ai, không biết đang nhắm mắt theo một đám thảo khấu đi về hướng nào, … một dân tộc như vậy, không cần đánh cũng thắng, khỏi cần giết cũng chết.

Sống cũng như đã chết !!!

( tuthuc-paris-blog.com )

Nguồn:

Từ Thức

https://www.facebook.com/tu.thuc.39/posts/2199167420369324

 
Image may contain: one or more people, ocean, outdoor and water

CON RUỒI

Con ruồi… bài học đắc giá!

 CON RUỒI

Con ruồi nhỏ, nhỏ xíu. Vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình

Rất có thể hai vợ chồng đâm đơn ra tòa ly dị nhau chỉ bởi một con ruồi. Ai mà lường trước được những việc thần kỳ đó!

Tôi ốm. 

Điều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, “đẹp” kinh khủng!

Thế là mọi chuyện bắt đầu.

Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tối đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không thì cứ gọi là thức trắng đêm.

Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống, nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn.

Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:

– Sao vậy anh?

Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:

– Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:

– Chết rồi! Ở đâu vậy cà?

– Còn ở đâu ra nữa! – Tôi nhấm nhẳng – Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à!

Vợ tôi nhăn mặt:

– Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!

– Hừ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết!

Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:

– Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.

Tôi vẫn chưa nguôi giận:

– Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi!

Vợ tôi trố mắt:

– Nó còn trong ly kia mà!

– Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.

– Anh thấy sao anh còn uống?

– Ai mà thấy!

– Không thấy sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:

– Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tính bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:

– Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Để em…

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:

– Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:

– Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?

– Chứ không phải sao?

– Không phải!

À, lại còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:

– Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?

– Thì có làm phải có sai sót chứ? Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em!

– Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả?

Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…

Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:

– Em đâu có nói vậy!

– Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!

Vợ tôi nhún vai:

– Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy! Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy cửa ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:

– Nhưng đó là những chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy triệu cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?

– Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi đá gà bị mất xe? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị giật mất điện thoại?

Cứ như thế, như có ma xui quỉ khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm tầng tầng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt tv đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya v.v…, chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.

Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật không thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:

– Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa! Tôi ngán đến tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:

– Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:

– Được rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ!

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoàng trên giấy với tốc độ 100km/giờ.

Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.

Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được!

Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.

– Cô định làm gì đấy?

– Đem đổ đi chứ làm gì!

– Không được! Để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ!

Đặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hì hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẫu lá trà.

From: TU-PHUNG

MỘT BÀI VĂN LỚP 3 GÂY SỐC!

MỘT BÀI VĂN LỚP 3 GÂY SỐC!

Đề bài: Hãy viết một đoạn văn ngắn miêu tả về công việc của bố mẹ em.

***

Sẽ có ba câu hỏi:

– Bạn nhận xét gì về giáo viên này?

– Bạn nhận định như thế nào về cha mẹ của đứa bé?

– Bạn nghĩ gì về đứa bé?

***

Nguyên văn bài miêu tả như sau:

“Công việc của mẹ em là làm nội trợ. Hàng ngày khi kim ngắn chỉ vào số 6, kim dài chỉ số 3 là cả nhà phải giữ im lặng cho mẹ làm việc. Có lần em và em trai em đùa nghịch rõ to đã bị mẹ tát cho mỗi đứa một cái và bảo “chúng mày im đi không, nhầm hết bảng phách của tao bây giờ”. Trong lúc làm việc mẹ em rất tập trung, thỉnh thoảng lại nói “một nhân bảy mươi bạch thủ, tổng chia hết cho 3, lô rơi”.

Mẹ bảo phải học toán thật giỏi mới làm được. Hôm em xem trên vô tuyến có chú chim bồ câu đưa thư, em lại nhớ đến mẹ cứ hay quát bố “chuyển giấy cho nhà Dung Phượng chưa, có mỗi việc đấy mà quên suốt thế, nó nổ cho một cái thì bán nhà ra đê mà ở”.

Sợ bố hay quên lại phải bán nhà ra đê nên em đã nảy ra một suy nghĩ bảo với mẹ “mẹ ơi mẹ nuôi chim bồ câu đi, mẹ buộc giấy vào chân chim bồ câu để nó chuyển giấy đến nhà bác Phượng đi, nó nổ một cái thì không phải bán nhà, con sợ ra đê lắm”.

Mẹ định giơ tay tát em đã chạy kịp “nó mà bay đến đồn công an thì chết tao à”. Mẹ bảo có ai hỏi thì phải bảo là “tao làm nội trợ”. Còn công việc của bố em là đi đánh bài và nấu cơm cho cả nhà”.

HÌNH ẢNH MỘT VỊ SƯ GIÀ

HÌNH ẢNH MỘT VỊ SƯ GIÀ

THƯỢNG TỌA THÍCH QUẢNG LONG (THÍCH THANH LONG)

Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng. Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quảng Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh… và Thích Thiện… Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản. Thích Minh … đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện … thì thường được gọi là Ôn TĐ. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Quảng Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.
Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu. Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.

Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:
“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:
“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thế thôi!”.
Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:
“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.

Vũ Ánh Oakland, CA

From: Helen Huong Nguyen

KINH TẾ VÉ SỐ LÀ MŨI NHỌN?

KINH TẾ VÉ SỐ LÀ MŨI NHỌN?

Bạn có tin không khi nộp ngân sách của ngành Vé số lớn hơn hẳn ngành Hàng không và suýt soát ngành Dầu khí.

***

Hơi sốc khi đọc những thông tin dưới đây nhưng đời nhìn vậy nhiều khi đâu phải vậy, hoành tráng cho lắm chứ thua xa những việc không thể ngờ:

Năm 2019, cả ngành hàng không nhìn sang trọng như thế nhưng chỉ nộp ngân sách được khoảng 20.000 tỷ còn tổng thu từ vé số mà chủ yếu do người bán dạo một nắng hai sương góp vào lên tới 29.000 tỷ, gấp gần 1.5 lần!

Còn năm nay, QH phê duyệt thu từ xổ số lên tới 31.700 tỷ so với 34.000 tỷ của dầu thô. Rất trớ trêu, bán vé số gần bằng nguồn thu loại 1 quốc gia-dầu thô!

Quả là rất bất ngờ khi nghề được cho là thấp kém trong xã hội lại đóng góp cho quốc khố kinh khủng như thế, hơn rất nhiều ngành nghề “sang chảnh khác”!

So sánh nào cũng khập khiễng nhưng đã đến lúc phải công nhận bán vé số là 1 nghề hay nền kinh tế vé số đương nhiên là ngành mũi nhọn, hơn hẳn nhiều “đầu tàu” hay “nắm đấm” khác!

Cứ nhìn vào việc hàng loạt tỉnh thành ở ĐBSCL có nguồn thu từ xổ số cao chót vót như Bạc Liêu năm rồi là 4.465 tỷ so với thu ngân sách chỉ gần 3.200 tỷ đủ để thấy kinh tế vé số quan trọng như thế nào ở nhiều tỉnh, thành.

Không chỉ đóng vào ngân sách lượng tiền khổng lồ như thế mà ngành “mũi nhọn” này còn giải quyết hàng trăm ngàn việc làm cho những người mà khó ngành nào làm được vì đại đa số là người già, con trẻ, khuyết tật, nghèo khó, không có trình độ, chẳng nhiều vốn liếng…

TP HCM có 18.000 người bán vé số dạo, Long An hơn 8.000 người, Sóc Trăng khoảng 6.500, Bến Tre hơn 5.000… Một con số không thẻ cứ nhắm mắt làm ngơ để họ ngoài lề mãi được.

Tôi không cho rằng đó là con số đáng tự hào và cần khuyến khích hay phát triển vì thu càng nhiều từ vé số càng thấy những bất ổn trong xã hội cả về kinh tế lẫn tinh thần.

Tuy nhiên không thể chối bỏ ngành kinh tế “mũi nhọn” và lực lượng lao động hùng hậu nhưng luôn yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội này.

Họ cần và phải có những chế độ như ngành nghề khác về BHXH, BHYT hay trợ cấp nào đó chứ không thể mặc kệ như bây giờ. Để đến khi bệnh tật, ốm đau hoặc không còn hành nghề được nữa họ đàng hoàng hưởng tương xứng với những gì đóng góp chứ không phải cứ có chuyện lại trông chờ vào lòng hảo tâm của xã hội.

Họ cũng cần được xã hội ghi nhận và tôn trọng hơn.

Tôi nghĩ dù muộn còn hơn không, Nhà nước nên công nhận nghề mà hàng trăm ngàn người nghèo đang bấu víu vào vì “Cũng may là có nghề bán vé số này trên đời, chứ cậu thử nghĩ nếu không đi bán vé số, cái thân già bệnh tật này làm được gì để kiếm tiền?”

Số liệu lấy từ Tuổi trẻ cuối tuần số 32 ra ngày 23/8/2020.

P/s: Đó là tôi chưa kể niềm vui cùng hy vọng của hàng triệu người chơi lô đề phía Bắc và mua vé số chờ đến 16g30 để biết tương lai ra sao ở phía Nam.

Nhà báo HÀ PHAN

 

Vừa cướp chén cơm, vừa đá văng chén cháo, vừa miệt thị người ta, thì chỉ có thể là Cộng Sản! 

Vừa cướp chén cơm, vừa đá văng chén cháo, vừa miệt thị người ta, thì chỉ có thể là Cộng Sản! 

 Tác giả Đỗ Ngà

NguồnViet BF  

Một người bán hàng rong trên đường phố ở Việt Nam. (Hình: Maxim Marmur/AFP via Getty Images)

Trong một phóng sự sáng ngày 17 Tháng Tám, 2020, VTV (Đài Truyền Hình Việt Nam) đã gọi người bán hàng rong nghèo khó (ở Sài Gòn) là “ký sinh trùng,” một cách dùng từ đầy miệt thị đối với tầng lớp nghèo khổ của đất nước. Sau khi mạng xã hội phản ứng dữ dội thì xướng ngôn viên Anh Quang của đài này đã lên facebook xin lỗi với tư cách cá nhân.

Tuy VTV mang mác là “đài truyền hình quốc gia,” nhưng thực chất nó là đài truyền hình của đảng. Mọi bản tin trước khi lên sóng đều phải qua tay ban kiểm duyệt, vậy mà từ “ký sinh trùng” vẫn lọt qua và được lên sóng. Chỉ cần một ý nào của người soạn bài mà ban kiểm duyệt không đồng ý thì sẽ bị chặn lại ngay. Vậy nên, từ “ký sinh trùng” được lên sóng cho thấy một điều rằng, quan niệm của những người đang làm trong VTV là thống nhất, tất cả bọn họ đều xem người bán hàng rong là một thứ “ký sinh trùng” ăn bám.

Đây không phải là một “tai nạn” như lời xin lỗi mang tính chiếu lệ của tay xướng ngôn viên kia, mà nó là một tư tưởng mang tính hệ thống trong đảng Cộng Sản hiện nay. Tuy đảng Cộng Sản nhân danh giai cấp cùng khổ, nhưng chính nó lại là kẻ gây nên sự khốn cùng cho giai cấp cùng khổ chứ không ai khác.

Cộng Sản vì dân nghèo thì tại sao từ năm này qua năm khác họ cứ xua công an và đám dân phòng ưng khuyển đi đạp đổ cướp phá chén cơm những người bán hàng rong khắp mọi nơi trên đất nước này? Nếu họ vì dân nghèo thì họ đã không làm vậy. Vậy nên, câu miệt thị hôm nay trên VTV không phải là một tai nạn, mà là một câu nói ra tư tưởng vốn có của những người Cộng Sản.

Chính đảng Cộng Sản đã làm nghèo đất nước bằng cách như thế đấy! Và vì làm nghèo đất nước nên mới đẩy nhân dân phải bươn chải mưu sinh như vậy. Vậy thì nói cho cùng, Việt Nam xuất hiện một lượng người bán hàng rong đông đảo như hiện nay do chính Đảng Cộng Sản gây ra chứ không ai khác. Thực ra…

– Nếu không có Cộng Sản, thì đất nước này đã không mất tiền vì bọn quan tham bốc hốt.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước cũng đã không mất tiền cho những tượng đài ngàn tỷ, cổng chào trăm tỷ.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước đâu mất tiền cho vô số dự án thua lỗ hàng tỷ đô la.

– Nếu không có Cộng Sản thì đất nước đâu mất tiền cho những trình vô dụng như đường sắt Cát Linh-Hà Đông,…

Trên thế giới, có nước nào tham nhũng cao mà dân được hưởng phúc lợi đâu ? Những nước như Úc, Canada, New Zealand,… đều là những nước có chính quyền trong sạch. Cứ như vậy, mức độ tham nhũng càng tăng thì nước càng nghèo, phúc lợi càng giảm. Như vậy rõ ràng là chính tham nhũng đã cướp mất phúc lợi của dân, đút đầy túi tham và đẩy họ vào thế phải tự bơi kiếm sống. Đã cướp nhà người ta, đẩy người ta đi bán hàng rong rồi miệt thị người ta là “ký sinh trùng,” thì còn gì khốn nạn bằng?!

Biên tập viên Anh Quang của VTV trong bản tin lúc 7 giờ sáng 17 Tháng Tám, đã gọi người bán hàng rong ở Sài Gòn là “ký sinh trùng.” (Hình: Facebook)

Thực ra buôn bán là hình thức mua đi bán lại để kiếm lời. Dù cho đó là công ty thương mại tỷ đô hay một người bán hàng rong có vốn chừng 50 đô, thì họ đều giống nhau về bản chất và chỉ khác nhau ở quy mô mà thôi. Vậy thì cớ sao gọi những người bán hàng rong là “ký sinh trùng”? Vậy EVN cũng mua đi bán lại, Petrolimex cũng mua đi bán lại, tại sao không gọi những ông đó là “ký sinh trùng” mà lại dùng từ này với những người dân nghèo?

Tại Thái Lan, chính quyền nơi đây không bao giờ cho cảnh sát đi cướp phá, đạp đổ chén cơm người bán hàng rong như Cộng Sản đang làm ở Việt Nam. Nhà nước đã không lo cho họ được đã là một lỗi lớn, cớ sao đạp đổ chén cơm của họ?! Vừa cướp mất chén cơm người nghèo, vừa tàn ác, đạp đổ tô cháo loãng trên tay của họ, vừa miệt thị họ là “ký sinh trùng” ăn bám thì có thể nói, chỉ có Cộng Sản mới làm được. Phải vừa tham lam tột cùng, vừa vô trách nhiệm đến tột cùng, vừa khốn nạn đến tột cùng mới có thể làm được như vậy.

Đất nước Cộng Sản cai trị, những kẻ ăn cướp thì được vinh danh là anh hùng, những người làm ăn chân chính thì bị xem là “ký sinh trùng” ăn bám. Thời mạt pháp! Khốn khổ cho đất nước, khốn khổ cho dân tộc.

VĂN TẾ THẬP LOẠI QUAN THAM

VĂN TẾ THẬP LOẠI QUAN THAM

(Kẻ hậu sinh cung kính lạy cụ Đồ Chiểu)

Hỡi ơi! Thuế nặng phí dày, lòng dân bải hoải.

Trăm năm công đánh giặc, chưa chắc mà nay ở ngôi cao,

Mấy đời móc túi dân, thân tuy béo tiếng tham như chó

Nhớ quân bay xưa:

Con cái nhà ai,

Ăn no dửng mỡ.

Quen thân nhung lụa, đâu biết lòng dân,

Chỉ biết chọi nhau, tranh giành quyền lực.

Việc hát, việc hò, việc lừa, việc cướp… thân vốn quen rồi,

Học ăn, học nói, học đức, học nghề… mắt đâu thèm ngó.

Nghiệp ăn hại kết tinh từ kiếp trước, cha quan to thì con tất quan to,

Mùi tham lam đã ngấm tận cao lâu, thích hối lộ như mèo hoang thích chuột.

Đứng thấy đường xe đông như nước, muốn lập trạm thu;

Ngồi xem ngân sách cạn như chùi, muốn nâng giá điện.

Một mối lợi danh ngồn ngộn, há sợ ai cướp mất của ai,

Hai tầng quyền lực ngút trời, đâu dung lũ dân đen khốn khó.

Nào sợ ai đòi, ai bắt? phen này xin thỏa sức tung hoành,

Chẳng thèm biết ngượng, biết ghê, chuyến này quyết ra tay vơ vét.

Khá ngon thay:

Vốn chẳng phải quan to, quan nhỏ, khối thằng theo đóm được ăn tàn,

Chẳng qua là con bạc, con buôn, quan hệ tốt thiếu gì dự án.

Mười tám môn hối lộ, nào biệt phủ, nào nhà…

Chín chục triệu dân đen, cứ tha hồ móc túi.

Ngoài cật đã có tờ quyết định, nào đợi dân kịp trở tay,

Trong xe chồng một đống hồ sơ, đâu cần đến lương tri, công lý.

Cửa quan đã đẻ ra cơ chế, liền sinh ra nhóm nọ nhóm kia,

Nhân danh người nhà tướng, nhà quan, chả cần vốn cũng tay không bắt giặc.

Chi nhọc thương thảo với giá này, giá nọ, lấn vườn, cướp ruộng, coi giặc cũng như dân,

Nào sợ thằng Vươn bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, dễ dàng như tập trận.

Kẻ dùi cui, người roi điện, làm cho dân lành, con nít hồn kinh,

Bọn hè trước, lũ ngõ sau, thương thay lão già gãy cẳng.

Tấm gương đạo đức đâu rồi?

Ai biết tính người vội bỏ.

Một kiếp quan trường rằng chữ lợi, ai hay quả báo nhãn tiền,

Trăm năm địa ngục ấy chữ nguy, nào đợi nhân nào quả nấy.

Núi sông mờ mịt, mà cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Thiên hạ thái bình, để già trẻ hai hàng lệ nhỏ.

Bên ngoài giặc cướp, Hán gian đầy rẫy, mặc biển khơi đã chết còn dày đặc âm binh,

Bên trong quan tham, giữ ghế hành dân, mà hiệu lực nhất nhất theo kim tiền chỉ đạo.

Nhưng nghĩ rằng:

Tấc đất ngọn rau ơn xương máu, tài bồi cho cả nước nhà ta,

Bát cơm manh áo sống ở đời, tối mắt mấy đời cha con nó.

Vì ai khiến dân đen khốn khổ, thuế phí chồng nhau,

Vì ai xui vườn ruộng tan tành, động mồ động mả?

Sống làm quan tham lam vô đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn,

Chết làm ma ở chốn cửu tuyền, ngửi phân lợn, uống nước đồng, nghe càng thêm hổ.

Thà chưa thác mà đặng lòng sám hối, ăn năn may tổ phụ còn vinh;

Hơn sống dai mà chịu chữ cẩu quan, ở với nhân dân cũng ngượng.

Thôi đi thôi!

Đường quan lộ, năm năm ư một khóa, có tham lam cũng lưu lại chút tình,

Nẻo công danh, một kiếp đặng một lần, cẩn thận kẻo sa phải vòng lao lý.

Đau đớn bấy! người tình ngồi tiếc của, buổi vàng son sung sướng đâu rồi,

Não nùng thay! vợ mướp chạy nuôi chồng, con xế cũ đậu ngoài song sắt.

Ôi!

Một khóa quan tham;

Nghìn năm nhục nhã.

Giặc cướp vẫn giăng đầy đâu đó, ai làm cho bốn phía mây đen,

Ông cha ta còn gửi cốt nơi đây, ai cứu đặng mấy phường con đỏ.

Sống mà cả nước non đều hận, oan gia đầy, muôn vạn kiếp còn theo,

Thác đừng trông đền miếu để thờ, tiếng gian trải muôn đời ai cũng chửi.

Sống tạo nghiệp, thác thì trả nghiệp, âm hồn theo ám cháu con, muôn kiếp không ngóc đầu lên được,

Sống thờ giặc, thác phải thờ ma, lời Phật dạy đã rành rành, một chữ “đọa” đủ mà cảnh tỉnh.

Hỡi ơi!

Nước mắt dân lành lau chẳng ráo, thương vì hai chữ dân oan,

Cây hương liệt sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu bội nghĩa.

Hạ xuống mà hưởng!

(FB Phạm Lưu Vũ )

———

*Ảnh trên mạng, copy chống trôi bài