Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

+2

Mai Thanh Truyet Envirovn

Thưa Bà Con,

Có một số bạn yêu cầu gửi lại bài viết về Cụ Trần Văn Hương dưới đây:

Nhớ về một Nhơn sĩ Miền Nam

Cố Tổng Thống Trần Văn Hương

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm… Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27 tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm Cụ, tôi xin chia xẻ vài suy nghĩ về Cụ.

Khi “Cách mạng tháng Tám 1945” nổ ra, Cụ tham gia chánh quyền Việt Minh với tư cách nhơn sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chánh quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.

Xét về sự nghiệp chánh trị, Cụ Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chánh thủ đô Việt Nam Cộng Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt:

  • Lần đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết, do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;
  • Lần thứ hai, sau khi chánh quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Ðô Trưởng Sài Gòn.

Và hai lần được mời làm Thủ tướng và một lần Phó Tổng Thống:

  • Lần đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chánh trị vô cùng căng thẳng.
  • Lần thứ hai vào năm 1968, trước tình hình chánh trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).

Lần chấp chánh thứ ba của Cụ là Phó Thổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (1971 -1975).

Trong bối cảnh chánh trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chánh trị đại chúng với danh nghĩa là một nhơn sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là “chẳng làm được gì”, Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo “ý dân”, qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.

Với tôi, Cụ là mẫu người có phong cách của một nhơn sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần, ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều “vô thường”, qua câu thơ bất hủ để đời ghi trong tập thơ “Lao trung lãnh vận” khiến ai đọc lên cũng cảm phục “ông già” trong cảnh tù đày.

Ðó là: “Ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn”. (một số bạn bè nói bản chánh của câu trên là “ngồi rù”…). Những người yêu thơ lãng mạn có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của tác giả.

Tính can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành trách vụ. Còn nhớ, trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, Cụ đã bất chấp thế lực của quân đội Mỹ, và sự hiểm nguy của bản thân, mở cuộc họp báo quốc tế, tố cáo thái độ bội ước và bỏ rơi chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa của quân đội Mỹ, khiến Chánh phủ Mỹ lúc đó phải lập tức ra lịnh cho các đơn vị Mỹ hành quân phải tiếp tục kế hoạch, và xin lỗi về việc này. Dịp này Cụ đã hãnh diện nhận lãnh tước vị ‘Hạ sĩ danh dự’ của binh chủng Nhảy Dù, ghi đậm lời tri ơn sâu xa của binh chủng này dành cho Cụ.

Trong tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyền là cố gắng xây dựng Ðại học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn nầy.

Một biến cố sau cùng của con đường “hoạn lộ” của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân thân cận với chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:”Là một quân nhân, vào những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Saigon đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp.

Ông đã nhận lấy chức vụ đứng đầu một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chánh quyền miền Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô Saigon. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chánh quyền miền Nam bằng sự thay thế một chánh quyền do cộng sản kiểm soát.

Trong thời gian bảy ngày sau khi bàn giao với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng Cụ Trần Văn Hương phải chấp nhận việc bàn giao cho tướng Dương Văn Mình theo diễn tiến như sau:

  • Ngày 21-4-75 tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Cụ Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.
  • Ngày 26-4-75 đại sứ Martin yết kiến và thông báo cho Cụ Hương về áp lực cộng sản Bắc Việt và khả năng của cộng quân tấn công vào Saigon.
  • Ngày 27-4-75 quốc hội VNCH họp và biểu quyết việc trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh.
  • Ngày 28-4-75 vào lúc 5:00 chiều, Cụ Trần Văn Hương trao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh theo quyết định của quốc hội.

Trong bài diễn văn, Tổng thống Trần Văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26-4-75, chúng ta thấy rõ ràng Cụ Trần Văn Hương không thoát khỏi áp lực quá mạnh, một của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, và môt áp lực về phía cộng sản Bắc Việt mà tướng lưu vong Dương Văn Minh được xắp xếp như là một con cờ chính trị để làm nhiệm vụ xóa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng ta hãy nhớ lại những gì Cụ Hương đã phát biểu có tính cách lịch sử trong bài diễn văn tại quốc hội dưới sự hiện diện của đầy đủ dân biểu và thượng nghị sĩ. Cụ Hương đã cho biết rằng Cụ “chỉ muốn chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh trong vai trò thủ tướng, nhưng tướng Dương Văn Minh vẫn khăng khăng đòi Cụ Hương phải trao quyền để cho tướng Dương Văn Minh nói chuyện với phía bên kia”.

Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

1 – Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT “trăm tuổi già””.

Tổng Thống Trần Văn Hương mĩm cười trả lời:

– “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi”.

Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main” (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)

2 – Vào năm 1978, khi Việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi” đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản: “…hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.”

3 – Sau cùng, trong hoàn cảnh cơ cực của thời đất nước bị đô hộ bởi Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, các Ðại sứ của các nước Pháp, Úc cho người đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với Cộng sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bịnh, nhưng cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông cùm Cộng sản.

Xin nghiêng mình trước tiết tháo của một nhơn sĩ miền Nam Việt Nam!

Khi Cụ qua đời, đám tang được tổ chức tại nhà do chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp trước kia trong hẽm 210 đường Phan Thanh Giản, bên cạnh trường Marie Curie.

Có một sự kiện thú vị cũng cần nên kể ra nơi đây là anh con trai trưởng của Cụ là Trần Văn Dõi đi ra phường để xin phép mua một cái hòm quốc doanh, nhưng người tài xế trung thành của Cụ chận ngang, và anh nầy chạy vào Chợ Lớn mua một cổ quan tài gỗ với giá 10.000 Ðồng (tiền Việt cộng bấy giờ). Anh Tàu nghe nói là mua cho Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nên bớt xuống còn 5.000 Đồng mà thôi.

Một trong những ước nguyền của Cụ là khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

Hôm nay, nhân ngày giỗ Cụ Trần Văn Hương, cúi xin dâng nén hương lòng tưởng niệm một người con Việt chân chánh miền Nam với niềm tin chắc chắn rằng Tuổi trẻ miền Nam sẽ tiếp nối bước đường Cụ đi và chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc dành lại quê hương từ tay bạo quyền Cộng sản.

Thành kính xin Cụ phò hộ cho Tuổi Trẻ Việt Nam trong công cuộc dành lại Quê Hương.

Mai Thanh Truyết

Người con Việt miền Nam

Tết Đinh Dậu – 2017

Phụ chú:

Thơ cố Tổng Thống Trần Văn Hương:

“Thân quèn xin gởi cùng sông núi

Xương mục chờ tiêu với cỏ cây”

“Xét thời trời còn lắm nỗi gian nguy

Ngẫm lại thêm buồn cho hậu thế;

Phù vận nước được vài phân ổn định,

May ra bớt thẹn với tiền nhơn”

Và câu dịch của Ngài càng thấm thía cho thân phận lưu vong khi nghe mưa về nơi đấtkhách: Cố hương qui mộng tam canh vũ – Lữ xá hoài ngâm tứ bích trùng

Ba canh mưa phủ mơ vườn cũ

Bốn vách trùng ngâm tủi xứ người!

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

VÌ ĐÂU NÊN NỖI ?

Sau thời gian dài ngụp lặn trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp. Hoàn toàn sống dựa vào viện trợ của Liên xô.

Khi Liên xô sụp đổ, Việt Nam bị bao vây cấm vận về kinh tế. Trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc…

Tình thế bí bách buộc phải tìm cách để duy trì chế độ. Người cộng sản đã gạt qua mọi thể diện, chọn kẻ thù làm cứu cánh. Họ chạy lại với chính kẻ thù vừa gây ra cái chết trực tiếp cho hàng trăm ngàn đồng bào chiến sĩ ở biên giới phía bắc. Trước đó họ gián tiếp gây ra cuộc chiến giữa VN và Campuchia, hao người tốn của.

Hiệp ước Thành đô ra đời chính thức đặt ĐCSVN dưới sự bảo trợ của ĐCS TQ.

Từ lúc này VN đi theo mô hình kinh tế Trung quốc. Từ đây bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường có đuôi.

Chính trong thời gian này những người cộng sản đã dần biến chất. Họ đua nhau làm giàu bằng chính sách. Bằng quyền lực quản lý.

Mọi tài nguyên đều được đem ra làm ép phe để được lợi ích tối đa cho cá nhân. Bất kỳ dự án nào cũng mang lại lợi ích béo bở cho người được giao quản lý.

Họ đầu tư bất chấp hậu quả cho đất nước miễn là tiền chảy vào đầy túi họ.

Một thế lực tư bản đỏ ra đời bằng cách đi đêm với những bóng ma quyền lực. Họ cùng nhau nhai ngấu nghiến bất kỳ thứ gì miễn là thỏa mản lòng tham của những kẻ từng đói khát.

Đất đai là miếng mồi béo bở nhất, dễ ăn nhất vì nó sở hửu toàn dân đang ở trong tay quyền lực quản lý. Và từ đây tiếng kêu rỉ máu thấu trời của người dân bị cướp đất trở thành phổ biến. Khắp 63 tỉnh thành không ở đâu vắng bóng dân oan.

Những bất công đó đã đẩy người dân thành kẻ bị cai trị bằng dùi cui và họng súng. Họ đẩy những người trước đây từng giúp họ cướp chính quyền vào bần cùng, nếu phản kháng họ bị kết tội phản động, nghe thành phần thù địch để kết tội tống tù.

Họ độc quyền lãnh đạo, điều hành. Người dân mất quyền tự do kể cả quyền yêu nước.

Giờ đây đất nước đang ở trong một cơn áp thấp thường trực. Chỉ chờ điều kiện để thành bão.

Những người nắm quyền lực sau khi đã vun vén đầy USD đã cho con cái người thân tìm thẻ xanh ở các nước tư bản giàu có. Nếu thể chế thay đổi thì họ đã cao chạy, xa bay để lại một đất nước hoang tàn, một núi nợ cho dân đen gánh vác.

Ngày ấy không còn xa !

Cái mà ai cũng biết khi đã được Giang Trạch Dân huỵch toẹt ra rằng : Hai đảng có chung vận mệnh.

Nếu đúng thế thì dân tộc này buộc phải chờ cái vận mệnh của đảng cộng sản Trung Hoa còn bao xa.? .. Vì thế không lạ khi người Việt háo hức với cuộc chiến mà Trump phát động. Chỉ mong sao kinh tế Trung quốc sụp đổ mau chóng. Mong sao người Hong Kong thắng lợi đạt được tự do, độc lập. Chắc chắn họ sẽ thắng và là ngòi nổ xé Trung Hoa ra nhiều mảnh. Sẽ có một sự chia tách như thời Xô viết.

Nếu không thì người Việt phải tự gánh vác vận mệnh của tổ quốc mình.

Liên Trà

Image may contain: plant, flower, night, nature and outdoor
Liên Trà

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

  
Image may contain: text that says 'CHINA'S DEBT TRAP हिंदी में DEBT DEBT L DEBT এা্'

MỐI NGUY TỪ NHỮNG KHOẢN VAY TÀU CỘNG

Chuyện đầu gấu cho vay nặng lãi và đòi hỏi kỳ hạn hoàn trả ngắn để ép con nợ đến đường cùng phải giao nhà giao sổ là chuyện thường thấy ở xã hội Việt Nam. Không ai muốn cho những kẻ không có khả năng trả nợ vay một khoản tiền lớn ngoại trừ bọn cho vay nặng lãi. Vì sao? Vì chỉ khi cho kẻ không có khả năng xoay trở vay thì mới đưa con nợ vào bẫy, và từ đó chiếm đoạt tài sản.Thủ đoạn như vậy người ta gọi là bẫy nợ.

Người tử tế thì cho vay với lãi suất hợp lý còn loại lưu manh thì chuyên cho vay cắt cổ. Tuy nhiên, để được vay các khoản vay tử tế, người chủ xét đối tượng vay rất kỹ, uy tín của người đi vay phải cao thì mới đảm bảo khả năng trả nợ. Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Còn với loại lưu manh thì ngược lại, người đi vay có uy tín càng thấp nólại càng muốn cho vay miễn sao người đó phải có gì đó để nó chiếm đoạt, ví dụ như nhà cửa, ruộng vườn hay vợ đẹp chẳng hạn.

Trên thế giới cũng vậy, trong những nước cho vay thì cũng có quốc gia tử tế và quốc gia lưu manh. Tử tế thì cho vay để giúp đất nước người ta phát triển, còn lưu manh thì cho vay để tính đường gài bẫy. Đại diện cho thế lực lưu manh trên thế giới là Tàu Cộng.

Trên thế giới hiện nay có 3 tổ chức độc lập chuyên xếp hạng mức tím nhiệm tín dụng của từng quốc gia, đó là nhóm The Big Three gồm: Standard & Poor’s (S&P), Moody’s, và Fitch. Quốc gia nào được xếp ở mức tín nhiệm cao thì càng dễ được vay thương mại. Các nước độc tài, nghèo đói, có chỉ số tham nhũng cao thì thường bị xếp mức tín nhiệm thấp nên khó tìm được khoản vay lớn với lãi suất thấp và điều kiện rằng buộc thoáng. Những quốc gia có mức tín nhiệm thấp thường không có lựa chọn, và thế là họ tìm đến anh lưu manh Tàu Cộng.

Nếu muốn trả được tiền vay thì phải biết đầu tư vào công trình hữu ích và có khả năng sinh lời. Chỉ khi làm được như vậy thì khoản vay ấy nó sẽ giúp đất nước vừa phát triển vừa thoát nợ. Những nước được xếp hạng mức tín nhiệm tín dụng cao là những nước biết cách sử dụng đồng tiền, nên cho họ vay sẽ đảm bảo dễ thu hồi vốn. Những nước bị xếp vào mức tín nhiệm thấp là những nước có tỷ lệ rút rỉa vốn vay rất cao. Hầu hết dự án họ đầu tư hoặc bị tham nhũng xà xẻo hoặc lãng phí không hiệu quả kinh tế. Công trình đường sắt Cát Linh-hà Đông là một dạng dự án như thế, nó chỉ xảy ra ở những nước có mức tín nhiệm tín dụng thấp mà thôi. Với những loại công trình như vậy tràn lan, thì làm sao những nước tử tế dám cho Việt Nam vay những khoản tiền lớn được?

Nếu nói khả năng trả nợ của một người tùy thuộc vào túi tiền người đó, thì khả năng trả nợ nước ngoài của một quốc gia nó phụ thuộc vào nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia đó. Khi dự trữ ngoại tệ mà thấp hơn số nợ đáo hạn trong 1 năm thì xem như quốc gia đó có nguy cơ vỡ nợ. Hiện nay Lào đang rơi vào hoàn cảnh như vậy. Dữ trữ ngoại tệ của Lào dưới 1 tỷ USD không đủ trả nợ. Hiện nay Bộ Tài Chính lào đang đàm phán với chủ nợ lớn nhất của họ là Trung Cộng, và chắc chắn Tàu Cộng sẽ không bỏ lỡ cơ hội này ép Lào chấp nhận những yêu sách đầy toan tính của họ. Trước Lào thì Sri Lanka cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự và đã bị Tàu ép giao cảng nước sâu Hambantota cho Tàu sử dụng trong 99 năm. Trong bối cảnh Mỹ – Ấn đối đầu quân thì cảng Hambantota là một lợi thế nếu Trung Cộng sử dụng cảng này như một quân cảng.

Với chiến lược bẫy bẫy nợ, Trung Cộng đã từng bước tiến vào những quốc gia con nợ và cũng từng bước đưa bàn tay lông lá ra điều khiển các quốc gia này. Ở Biển Đông thì Tàu Cộng đã ngang ngược kiểm soát, còn ở phía Tây thì lào và Cam đang đứng trước nguy cơ dính bẫy nợ. Khi 2 quốc gia này dính bẫy, thì có thể nói ở phía Tây, Tàu Cộng phà hơi thở vào mặt hà Nội, điều đó cũng có nghĩa là sợi dây ràng buộc giữa Hà Nội và Bắc Kinh sẽ bị siết chặt hơn.

Theo báo Vietnamnet bản Tiếng Anh thì năm 2020 này, chính quyền CS cần 16 tỷ đô để trả nợ. Trong đó trả nợ nước ngoài chỉ 2,63 tỷ đô la. Như báo chí CS thông báo thì dữ trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước đến nay đã lên đến 84 tỷ đô la, vượt rất xa khả năng thanh toán các khoản nợ. Thế nhưng có một điều khó hiểu là, nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì sao lại phải bung tiền Hồ mua đô vượt quá ngưỡng quy định để rồi bị Mỹ quy xem xét dán mác “thao túng tiền tệ”? Vậy nên con số dự trữ ngoại tệ đến 84 tỷ đô đấy cũng là con số không đáng tin.

Đã nhiều năm nay, chính quyền CS Việt Nam luôn đi vay nợ mới để trả nợ cũ. Khoản tiền vay bao giờ cũng vượt khoản nợ phải trả để còn bù vào bội chi ngân sách. Cứ như vậy thì nợ công ngày một phình ra và kéo theo đó là khoản nợ phải trả hằng năm cũng tăng dần, trong đó có phần nợ nước ngoài. Nếu dự trữ ngoại tệ dồi dào thì chính phủ cũng không nhất thiết phải đi vay quá nhiều vậy?! Vậy thì đây lại thêm một bằng chứng nữa là con số 84 tỷ đo la dự trữ ngoại tệ cũng không đáng tin. Dự trữ ngoại tệ thật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn là ẩn số. Dự trữ ngoại tệ càng thấp thì nguy cơ dính bẫy nợ của Trung Cộng càng cao.

Câu hỏi đặt ra là, nguồn vay từ Trung Cộng đã được ĐCS Việt Nam làm gì? Thực tế cho thấy, những đồng tiền vay đó phần lớn biến thành những đống sắt vụn hoặc khối bê tông vô dụng giữa lòng đô thị, hoặc những công trình gây ô nhiễm môi trường và kém hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, một phần rất lớn trong gói vay đó chảy vào túi quan chức. Rõ ràng những khoản vay này vỗ béo quan tham, bỏ lại cho xã hội những đống rác, để lại cho đất nước nguy cơ dính bẫy Trung Cộng. Nhẫn tâm với đất nước như vậy, chỉ có CS mới làm được.

Đỗ Ngà

Tham khảo:

https://vietnamnet.vn/en/business/vietnam-s-government-to-pay-us-16-billion-in-debts-in-2020-580231.html

https://www.thesaigontimes.vn/307808/lao-can-ke-nguy-co-vo-no-cong.html

https://dantri.com.vn/the-gioi/sri-lanka-nhuong-cang-chien-luoc-cho-trung-quoc-trong-99-nam-20170730091856256.htm

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50135030

https://vietnamfinance.vn/chinh-phu-da-vay-tra-no-the-nao-trong-nam-2018-20180504224223797.htm

https://infonet.vietnamnet.vn/thoi-su/ke-hoach-vay-tra-no-cua-chinh-phu-nam-2017-66536.html

https://vietnambiz.vn/du-tru-ngoai-hoi-viet-nam-dat-ki-luc-84-ti-usd-tam-dem-lon-de-on-dinh-ty-gia-2020041111130925.htm

 Chuyện bà già mang dép Lào

 Chuyện bà già mang dép Lào. 

 Khoảng năm 1981, 1982 đời sống giáo viên cực kỳ khó khăn. Tôi quyết định đi xe đạp thồ để có tiền mua sữa cho con. Chiếc xe đạp để đi dạy hàng ngày được bổ sung thêm cái giỏ phía trước và cái yên nệm mút phía sau bạc –ba- ga cho khách ngồi … êm đít!

Mỗi sáng cứ 5 giờ là ra đứng ở đầu hẻm trước nhà để chờ khách. Khi trời bắt đầu sáng thì bỏ con hẻm nơi khá gần trường đang dạy, rất dễ gặp học trò, chạy xuống đường Lý Tự Trọng hoặc Trần Cao Vân cách nhà độ 3 km đứng đón khách. Có khách hay không thì 10 giờ 30 phải quay về nấu cơm ăn để chiều …lên lớp.

Một buổi sáng đang bon bon trên đường Trần Cao Vân trước chợ Lầu Đèn, chạy về nhà chuẩn bị đi dạy thì có một bà cụ dáng rất nhà quê đón xe. Vừa mừng vừa lo. Mừng vì được một cuốc xe có thêm tiền. Lo vì sợ khách đi xa không về ăn cơm kịp để 12h30 vào dạy tiết 1. Tôi phanh xe và hỏi:

– Cụ đi mô.
Bà cụ nói
 – Đây xuống bến xe Vĩnh Trung mi lấy mấy?
 Thấy bà già nhà quê tôi chợt nhớ mẹ. Tuyến đường lại trùng với lộ trình về nhà của mình nên tôi nói:
 – Đúng giá là 1 đồng rưỡi. Còn chừ cụ cho mấy cũng được, cụ không có tiền thì con chở giúp cụ một đoạn, con đang trên đường về.
 Bà cụ cười dơ hàm răng chỉ còn toàn … lợi và nói:
 – Thằng ni đi thồ mà nói nghe vui hỉ!
 Nói xong bà cụ cúi xuống cầm đôi dép lào đã mòn lín. Hai cái gót đã thủng hai lỗ lớn bằng đồng bạc cào lưng. Cụ bỏ đôi dép vào giỏ xe của tôi và nói:
– Xuống bến xe mi nhớ nhắc tau lấy đôi dép ni chớ không phải mi đợi tau quên rồi lấy luôn nghe chưa!
 Tôi cười và bảo:
– Cụ yên tâm. Con không mang dép bằng tay nên không lấy đôi dép ni mô!
 Lên xe chuyện qua chuyện lại mới biết bà cụ ở Thanh Quýt ra thăm, mang cho con trai đang làm công nhân ở cảng một ang gạo vì nghe nói gạo mua tiêu chuẩn ăn không đủ, bữa nào cũng chỉ lưng bụng mà đi làm. Còn bà thì biết tôi là thầy giáo cấp 3 đi xe thồ thêm ngoài giờ để mua sữa cho con. Nghe hoàn cảnh của nhau, cả hai bà cháu đều im lặng. Một chặp tôi nghe bà ngồi sau chép miệng rồi nói:
 – Răng ai cũng khổ hết trơn ri hè!
 Đến bến xe Vĩnh Trung, tôi quay lại dặn:
 – Cụ ngồi im, đừng lo, để con tìm xe Vĩnh Điện cho cụ đi. Bến xe đông sợ cụ tìm không ra.
 Tìm được xe đi Vĩnh Điện, tôi phanh xe đạp và nói với cụ:
 – Cụ nhớ lấy đôi dép. Con chở hộ cụ một đoạn thôi không lấy tiền.
 Bà trả lời:
 – Thằng ni nói nghe được. Tau không trả tiền xe nhưng chờ tau một xí (tí).
 Vừa nói cụ vừa lật lớp áo ngoài rồi mở cây ghim túi áo trong và lấy ra 3 đồng, đưa cho tôi.
 Tôi giẫy nẩy:
 – Con nói rồi. Con chở dùm không lấy tiền xe.
 Cụ bảo:
 – Biết rồi. Tau cũng không trả tiền xe. Tau cũng không cho mi. Mi có chưn có tay, có sức dài vai rộng mi làm mi ăn. Tiền ni tau gởi mi đem về mua sữa cho cháu tau. Mi không lấy tau la làng là mi móc túi của tau. Răng. Nhận đi con, cho bà vui.
 Nói xong cụ nhét tiền vào túi áo của tôi rồi cắp nách đôi dép lào đã mòn gót leo lên xe.
 Lần đó tôi đứng khóc một mình giữa bến xe Vĩnh Trung đông đúc cho đến khi chuyến xe đò rời bến… chạy khuất!
 

* * *
 Bà ơi. Bà đang ở cõi nào?
 Nay con có thể viết những quyển sách nhận nhuận bút hàng chục triệu đồng. Đứa cháu nhỏ thời đó nay đã là tiến sĩ làm giảng viên của một trường đại học danh tiếng. Nhưng có lẽ, cho đến lúc chia tay cuộc đời này con vẫn còn nợ bà … một hộp sữa!

 Sài Gòn, 26/5/2017
 LÊ THÍ

From: BS HANH VAN PHUNG

Socrates: Còn nếu như con lấy phải một người vợ dữ dằn thì con sẽ giống ta, trở thành một triết gia”

Nhà triết học vĩ đại Socrates có rất nhiều học trò.

Ngày kia, có một người học trò đến hỏi Socrates: “Thưa thầy, con chuẩn bị kết hôn, thầy có lời nào chúc phúc cho con không?”.

Socrates nói: “Con chuẩn bị kết hôn, ta chúc mừng con. Nếu như lấy được người vợ hiền từ thì con có thể sống những tháng ngày vui vẻ hạnh phúc. Còn nếu như con lấy phải một người vợ dữ dằn thì con sẽ giống ta, trở thành một triết gia”.

Lại có hôm, một học trò khác đến hỏi Socrates: “Thưa thầy, con sắp ly hôn, thầy có lời khuyên nào cho con không?”.

Socrates nói: “Nếu như cuộc sống trước đây của con rất hạnh phúc, vậy con đã giữ được những ký ức tốt đẹp, ta chúc mừng con. Còn nếu như cuộc sống hôn nhân trước đây của con không hạnh phúc, ta cũng chúc mừng con, bởi từ bây giờ con đã được tự do”.

*****

Có chàng trai nghe nói trên lưng chừng núi Himalaya có một vị hiền triết đức cao vọng trọng, trí huệ siêu phàm. Chàng trai muốn thỉnh giáo vị hiền triết nên quyết tâm trèo đèo vượt suối, trải qua trăm ngàn gian khó, cuối cùng cũng đến được lưng chừng núi Himalaya, nơi ở của vị hiền triết trong truyền thuyết.

Quả nhiên nơi sống của bậc hiền triết khác hẳn người thường, xung quanh là rừng núi bao bọc, mây xanh bao phủ, yên tĩnh an lành. Chàng trai nhẹ nhàng đến gõ cửa, không ngờ người mở cửa bước ra không phải là vị hiền triết mà là một bà lão với vẻ mặt dử dằn.

Chàng trai lễ phép hỏi: “Xin hỏi lão bà bà, ngài hiền triết có nhà không?”.

Lão bà bà nghe chàng trai nhắc đến vị hiền triết lại càng tỏ vẻ tức giận : “Ở đây không có vị hiền triết nào hết, mà chỉ có lão già vừa khùng khùng điên điên vừa ngu ngốc, cậu tìm ông ấy làm gì?”.

Nghe bà lão nói vậy, chàng trai vô cùng kinh ngạc, tại sao một vị hiền triết danh tiếng lẫy lừng khắp bốn bể năm châu mà trong mắt lão bà bà lại thành ra điên khùng ngốc nghếch là sao? Chàng trai không nhẫn được sự tò mò của mình mà hỏi: “Xin hỏi, lão bà đây có quan hệ thế nào với ngài hiền triết vậy? Sao lại gọi ngài hiền triết đáng kính là điên khùng ngốc nghếch?”.

Lão bà bà giương mắt nhìn chàng trai với vẻ mặt đầy oán giận nói: “Thật bất hạnh, ta chính là vợ của lão già ngu ngốc đần độn và điên khùng đó. Cái lão già đó cả ngày nói những lời mơ hồ khó hiểu, nói những lời chẳng chút mảy may liên quan đến cuộc sống, cái gì là linh hồn, cái gì là bản ngã, cái gì là hiện sinh, cái gì là duy vật, cái gì là duy tâm, cái gì là khai ngộ…. Có lúc lão ngồi bất động một mạch mấy ngày liền, vậy không phải là điên khùng đần độn là gì?”.

Lão bà bà càng nói càng hăng, càng nói càng giận: “Còn nữa, còn nữa, lão quỷ đó đã không biết cấy trồng lại không biết đốn củi. Trong nhà gạo hết cũng chẳng buồn quan tâm. Lão ấy không ở trong rừng đi bộ thì là lặng lẽ ngắm sao trời. Còn nếu không ngắm hoa dại bên đường thì lại chơi đùa với muông thú, nói chuyện với chúng. Đây chẳng phải đúng là những hành động ngu ngốc hay sao?”.

Lão bà bà không ngừng nói lời phỉ báng khiến chàng trai càng nghe càng thấy hồ đồ, không biết đây có đúng là nơi vị hiền triết ở không, hay đó chỉ là những tin đồn nhảm? Có nên gặp mặt vị hiền triết nữa không? Nhưng sau cùng nghĩ đến những gian nan khổ cực mà mình phải bỏ ra để đến được đây, bất luận là thật hay giả vẫn cứ phải gặp một lần cho tỏ rõ thực hư.

“Vậy xin hỏi lão bà bà, ngài hiền triết đang ở đâu vậy?”, chàng trai cất tiếng hỏi.

Lão bà bà đáp: “Tôi sai ông ấy vào rừng lấy ít củi về đây, đi cả ngày rồi chưa thấy tăm hơi đâu hết. Có lần đi một mạch mấy ngày trời mới chịu về, thật là đồ vô dụng!”.

Chàng trai quyết định thử vận may của mình, bèn chào bà lão rồi tiến về phía khu rừng để đi tìm vị hiền triết. Đi chẳng bao lâu cậu thấy một ông lão tóc bạc vừa đi vừa ca hát. Theo sau ông là hai con thú, một bên là chú hổ, một bên là chú tinh tinh to lớn. 

Khuôn mặt lão tiền bối hồng tươi tràn đầy sinh khí, cả người ông toát lên sự ấm áp, an lạc, thần thái tự đã thoát khỏi bụi trần.

Chàng trai vui mừng tiến lại gần chắp tay nói: “Lão tiền bối đây có phải đại hiền triết hay không?”.

Lão tiền bối cười lớn, nụ cười của ông trông thánh thiện, thuần khiết. Ông đáp: “Cậu không phải nghi ngờ gì cả, những gì cậu nhìn thấy đều là chân thật. Vợ ta, hổ và tinh tinh mà cậu thấy đều là thật cả đó.”

Chàng trai nghe vậy nói: “Thưa lão tiền bối, tiểu bối thật không hiểu. Nhìn lão tiền bối đây luôn toát ra sự thông minh trí tuệ, như là một hiền triết, như là một Thánh nhân. Cớ sao vợ ngài lại cho rằng ngài là kẻ điên khùng đần độn?”.

Ông lão đáp: “Việc này cũng không có gì lấy làm khó hiểu. Đối với người chỉ đam mê tiền bạc vật chất, thì những người xem trọng linh tính, xem trọng tâm hồn hơn vật chất đều là điên dại cả. Đối với người luôn tiêu tốn thời gian vào những việc hữu hình trong cuộc sống tạm bợ thế gian, thì người dành thời gian trân quý cho thế giới tâm linh, tìm về bản ngã chính mình trong nội tâm thì đều là kẻ ngốc. Lý lẽ đơn giản là vậy”.

Chàng trai lại hỏi: “Tiền bối đây có thể cảm hoá được muông thú hung dữ này, vậy tại sao lại không thể cảm hoá được vợ mình?”.

Ông lão cười nói: “Chàng trai trẻ, cậu sai rồi, chỉ có một người vợ như vậy mới là hoàn cảnh tu luyện tốt nhất. Tu luyện cảnh giới cao thâm bao nhiêu, chỉ có bản thân người trải qua nghịch cảnh mới thấu hiểu”.

Chàng trai nghe xong chợt hiểu ra mọi điều, lập tức quỳ xuống bái lạy lão tiền bối mong được làm đệ tử.

Theo Soundofhope

Minh Vũ biên dịch

From: TU-PHUNG

Mỹ: Các bang chuẩn bị phân phối vaccine COVID-19 sớm nhất vào cuối tháng 10

  Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) vừa yêu cầu các quan chức y tế công cộng tại các bang chuẩn bị phân phối một loại vaccine tiềm năng phòng ngừa virus corona cho nhóm người có nguy cơ cao vào cuối tháng 10, theo tài liệu do cơ quan này công bố hôm 2/9.

Hãng tin Reuters nói rằng thời điểm phân phối vaccine trở nên quan trọng về mặt chính trị giữa bối cảnh Tổng thống Donald Trump đang nỗ lực tái tranh cử sẽ được chung quyết vào đầu tháng 11 sắp tới, sau khi ông đã cam kết hàng tỷ đô la để phát triển vaccine phòng ngừa COVID-19, đại dịch đã giết chết hơn 180.000 người Mỹ.

Hãng thông tấn Anh dẫn lời một phát ngôn viên của CDC giải thích: “Theo mục tiêu kế hoạch ban đầu, CDC đưa ra cho các bang những giả định kế hoạch nhất định khi làm việc trên các kế hoạch cụ thể về việc phân phối vaccine ở tiểu bang, trong đó có cả việc có thể sẽ có một số lượng vaccine hạn chế vào tháng 10 và tháng 11”.

Tờ New York Times trước đó đưa tin rằng CDC đã liên hệ với các giới chức ở tất cả 50 bang và 5 thành phố lớn để cung cấp thông tin về kế hoạch.

Hôm thứ Tư, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm hàng đầu của Mỹ, TS. Anthony Fauci, nói với MSNBC rằng dựa trên tỷ lệ bệnh nhân đăng ký thử nghiệm vaccine COVID-19 hiện nay, có thể có đủ dữ liệu lâm sàng để biết rằng một trong các loại vaccine có an toàn và hiệu quả hay không vào tháng 11 hoặc tháng 12 .

Theo tài liệu mà New York Times đưa lên mạng cho thấy CDC đang chuẩn bị để đưa ra một hoặc hai loại vaccine COVID-19 với số lượng hạn chế vào cuối tháng 10.

Cơ quan này cho biết sẽ cung cấp vaccine miễn phí trước cho các nhóm có nguy cơ cao, bao gồm nhân viên y tế, nhân viên an ninh quốc gia, nhân viên và những người trong viện dưỡng lão.

Hiện các hãng điều chế thuốc Moderna, AstraZeneca và Pfizer đang dẫn đầu cuộc đua phát triển một loại vaccine COVID-19 an toàn và hiệu quả.

Mỹ: Các bang chuẩn bị phân phối vaccine COVID-19 sớm nhất vào cuối tháng 10
VOATIENGVIET.COM
CDC vừa yêu cầu các bang chuẩn bị phân phối một loại vaccine tiềm năng phòng ngừa virus corona cho nhóm người có nguy cơ cao vào cuối tháng 10 

Đại sứ quán Hoa Kỳ tiếp tục theo dõi sát vụ án Đồng Tâm

Đại sứ quán Hoa Kỳ tiếp tục theo dõi sát vụ án Đồng Tâm

RFA
2020-09-03

Hình minh hoạ. Đường vào Đồng Tâm bị chặn sau vụ người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 cán bộ làm con tin hồi tháng 4/2017

Hình minh hoạ. Đường vào Đồng Tâm bị chặn sau vụ người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 cán bộ làm con tin hồi tháng 4/2017

 Reuters

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội theo dõi sát diễn biến vụ Đồng Tâm và sẽ tiếp tục theo dõi vụ việc khi đi qua hệ thống tòa án Việt Nam.

Phát ngôn nhân Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội trả lời như vừa nêu khi được RFA yêu cầu bình luận về vụ án Đồng Tâm sắp được đưa ra xét xử.

Ngoài việc theo dõi sát sao mọi diễn biến, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội còn thúc giục chính phủ Việt Nam bảo đảm mọi hoạt động và tiến trình giải quyết tranh chấp quyền lợi về tài sản phải minh bạch và công bằng; tuân thủ đúng văn bản và tinh thần luật pháp trong đó có Bộ Luật Hình Sự và Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự; đồng thời nhất quán với các qui định về nhân quyền trong Hiến pháp Việt Nam và những nghĩa vụ cùng cam kết quốc tế mà Hạ Nội đã ký kết.

Theo dự kiến Tòa án Thành phố Hà Nội vào ngày 7 tháng 9 tới đây sẽ đưa 29 người dân Đồng Tâm ra xét xử với cáo buộc ‘giết người’ và ‘chống người thi hành công vụ’.

Những người này bị bắt kể từ khi xảy ra vụ lực lượng chức năng gồm mấy ngàn nhân sự tấn công vào làng Đồng Tâm vào rạng sáng ngày 9 tháng 1 vừa qua. Một người được cho là lãnh đạo tinh thần của người dân trong việc phản đối biện pháp thu hồi đất nông nghiệp giao cho doanh nghiệp quân đội làm kinh tế, cụ Lê Đình Kình, bị thiệt mạng trong vụ tấn công.

Ngoài ra cơ quan chức năng Việt Nam thông báo có 3 công an bị thiêu cháy trong đợt tấn công. Ba người này được đảng và chính phủ vinh danh là liệt sĩ; trong khi đó truyền thông Nhà nước Việt nam gọi những người dân phản đối thu hồi đất là ‘thành phần phản động, chống đối’.

25 trong số 29 người đang ở trại tạm giam bị cáo buộc tội giết người và 4 người còn lại với tội ‘chống người thi hành công vụ’.

Chiêu thổi giá thiết bị y tế, lừa đảo bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai.

Image may contain: text

Chiêu thổi giá thiết bị y tế, lừa đảo bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trong hàng loạt thiết bị y tế liên kết tại Bệnh viện Bạch Mai, có thiết bị chỉ 7,6 tỉ đồng nhưng đã bị các đối tượng kê khống thành 40 tỉ đồng và lấy làm căn cứ thu tiền bệnh nhân để khấu hao.

Với việc thổi khống giá trị máy lên gấp 4 lần giá trị thực, Công ty BMS và Bệnh viện Bạch Mai đã thu của bệnh nhân số tiền cao gấp nhiều lần số tiền họ phải trả. Trong đó, một ca phẫu thuật theo thiết bị này chỉ khoảng 4 triệu đồng nhưng đã bị đội lên thành 23 triệu đồng. Ước tính mỗi tháng có khoảng 20 trường hợp bệnh nhân sử dụng thiết bị này, tính từ khi lắp đặt robot Rosa tại Bạch Mai đến nay đã có hàng trăm bệnh nhân bị móc túi với số tiền không nhỏ.

– Hoàng Nguyên Vũ

 SỬA LỖI CHO NHAU

 SỬA LỖI CHO NHAU

  Lm Giuse Tạ Duy Tuyền  

Con người luôn có lầm lỗi.  Ai nên khôn mà không dại một lần.  Và chắc chắn là không chỉ một lần mà rất nhiều lần trong cuộc đời.  Phạm lỗi cũng không dừng lại ở lứa tuổi nào mà ở bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể phạm lỗi.  Có điều là chẳng mấy ai trong chúng ta dám nhận mình có lỗi.  Chẳng mấy ai dám thú nhận về những lầm lỗi của bản thân.

Đó là điều mà chúng ta cần phải được người khác sửa lỗi.  Nếu không được người khác sửa sai thì mình sẽ không bao giờ đứng lên làm lại cuộc đời.  Một đứa bé để có thể nói đúng, nói không sai chính tả cần được cha mẹ sửa giọng nhiều lần mới có thể nói không bị ngọng.  Về nhân bản con người cũng phải được người khác dạy bảo, sửa lỗi thì mới hoàn thiện chính mình.

Như vậy, sửa lỗi là bổn phận của cha mẹ, của thầy cô, của bạn bè và nhận được sự chỉ dạy là của từng người chúng ta.  Nếu chúng ta không sửa lỗi cho anh em là chúng ta đang có lỗi với chính mình vì chúng ta chưa sống tròn bổn phận của mình với tha nhân.  Đôi khi còn bị người mà mình đã không dậy dỗ oán trách lại chúng ta.

Có một đứa trẻ từ nhỏ đã thích ăn trộm.  Một hôm, nó đi học về, trong cặp có thêm một chiếc bảng học sinh.  Mẹ nó hỏi:

– Sao con lại có tới hai chiếc bảng?

Đứa con đáp:

– Một cái là của bạn cùng lớp với con.  Con đã lén lấy cho vào cặp đấy.

Bà mẹ vui mừng nói:

– Con của mẹ thật thông minh.  Hai cái bảng chắc chắn là tốt hơn một cái rồi.

Ít lâu sau, đứa con lại mang về một cái áo da, trị giá 50 quan tiền.  Đứa con đưa chiếc áo da cho mẹ, mẹ nó khen:

– Con trai của mẹ thật là giỏi, biết hiếu thảo với mẹ.  Ra mẹ thơm một cái nào.

Đứa con trai ngày một lớn lên, càng ngày càng lấy trộm những thứ có giá trị hơn.  Hôm nay ăn trộm bò, ngày mai ăn trộm ngựa, ngày hôm sau trộm vàng bạc châu báu.  Bà mẹ luôn luôn khen ngợi con, trong nhà thiếu thứ gì, liền bảo với con trai để nó đi trộm về.

Có một lần, đứa con ăn trộm đồ bị người ta bắt quả tang, giải lên quan phủ.  Vì hắn trộm quá nhiều thứ nên bị phạt tội chết.  Tên trộm bị trói hai tay ra sau lưng, giải ra pháp trường.  Mẹ hắn đi theo sau, khóc lóc thảm thiết.  Tại pháp trường, tên trộm xin quan cho hắn được nói với mẹ vài lời.  Khi bà mẹ bước tới gần, hắn liền cắn mạnh vào tai mẹ.  Mẹ hắn đau quá kêu toáng lên, lớn tiếng mắng con:

– Mày thật là đồ bất hiếu, tự mình phạm tội chết còn chưa đủ hay sao mà còn muốn làm mẹ thành tàn tật à?

Đứa con giận dữ nói với mẹ hắn:

– Lần đầu tiên tôi ăn trộm cái bảng về, nếu bà đánh tôi một trận và dạy bảo tôi thì tôi không đến nỗi như ngày hôm nay và đã không bị xử tội chết.

Hóa ra không dạy dỗ người khác có khi dẫn đến “gậy ông đập lưng ông.”  Dạy người khác sửa sai là giúp mình được sống bình an hạnh phúc.  Không dạy người khác sửa sai là mình đang “nuôi ong trong tay áo,” hậu quả sẽ là mình bị ong chích đầu tiên.  Thế nên, khi làm điều sai trái, dù là cái sai rất nhỏ, thì cũng phải kịp thời sửa chữa.  Nếu không, cứ để nó lớn dần lên thành cái sai nghiêm trọng thì có thể khiến mình phải hối hận cả đời.

Hôm nay Chúa nhắc chúng ta phải sửa lỗi cho nhau.  Sửa lỗi không phải chỉ trích.  Chỉ trích là công kích nhau, là rêu rao lỗi lầm của nhau.  Chỉ trích thường thiếu bác ái, thiếu tinh thần xây dựng cho nhau.  Sửa lỗi đòi hỏi sự tế nhị, kín đáo, thông cảm với yếu đuối lỗi lầm của nhau.  Sửa lỗi là một bổn phận, là bác ái mà chúng ta phải thực thi cho tha nhân.  Sửa lỗi trái ngược với bỏ mặc, và thiếu trách nhiệm với tha nhân.  Trong tinh thần bác ái và yêu thương chúng ta phải có bổn phận sửa lỗi cho nhau.  Cha mẹ sửa lỗi cho con cái.  Vợ chồng sửa lỗi cho nhau.  Thầy cô sửa lỗi cho học trò.  Bạn bè sửa lỗi cho nhau.  Tất cả phải có bổn phận giúp nhau thăng tiến.  Không bỏ mặc nhau nhưng luôn dìu nhau tiến bước.

Sửa lỗi cho nhau không chỉ với tội lớn mà ngay cả tội nhỏ cũng cần được nhắc nhở, được giúp cải thiện.  Bởi vì “nhỏ ăn trộm dây cột bò, lớn sẽ ăn trộm cả con bò.”  Vì phạm tội sẽ thành thói quen.  Phạm tội một lần thì sợ hãi, nhưng nhiều lần thì lương tâm đã chai lì, đánh mất sự sợ hãi lo âu.

Chúa Giê-su dạy ta cách sửa lỗi tiệm tiến với tình yêu thật tế nhị.  Sửa lỗi cách kín đáo bằng lời chân tình góp ý thẳng ngay với nhau.  Nếu thất bại cần thêm lời của nhân chứng để người được sửa lỗi càng nhận biết lỗi lầm của mình hơn.  Nếu vẫn thất bại thì cần đến cộng đoàn để nhờ sức mạnh của cộng đoàn giúp kẻ có lỗi ăn năn sửa đổi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết can đảm sửa lại những lỗi lầm.  Biết bỏ đi tính tự ái, cố chấp để lắng nghe lời góp ý chân thành của tha nhân.  Xin đừng vì cố chấp mà trở thành kẻ ngang bướng làm hại đến cộng đoàn.  Amen. 

  Lm Giuse Tạ Duy Tuyền  

From: Langthangchieutim

CÔNG HAY TỘI?

 +Bài viết của tác giả Trần Gia Phụng về nhân vật Hồ Chí Minh.

CÔNG HAY TỘI?

Trần Gia Phụng

Khi tìm hiểu công hay tội của một nhân vật lịch sử, người ta thường xét hoạt động hay công việc của người đó đóng góp như thế nào cho đất nước, dân tộc. Vậy thử áp dụng nguyên tắc nầy để đánh giá Hồ Chí Minh là người có công hay có tội trước lịch sử Việt Nam?

1.- DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

Hồ Chí Minh (HCM) là đảng viên đảng Cộng Sản Pháp năm 1920, đến Moscow và vào học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East) năm 1923. Cuối năm 1924, Liên Xô gởi HCM qua hoạt động ở Quảng Châu (Trung Hoa). Năm 1930, vâng lệnh Liên Xô, HCM thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tại Hồng Kông. Sau vài tháng, do lệnh của Liên Xô, đảng CSVN đểi tên thành đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1945, HCM cùng đảng CS cướp chính quyền và thành lập nhà nước CS đầu tiên ở Á Châu.

Khi mới du nhập vào Việt Nam, chủ nghĩa CS được tuyên truyền là chủ nghĩa “TAM VÔ”, gồm có “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Khi nói đến “tam vô” thì có vẻ mơ hồ. Có lẽ cần nhìn vào hoạt động của đảng CS thì sẽ rõ ràng hơn tính năng của chủ nghĩa “tam vô” của CS.

Do chủ trương vô gia đình, trong Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Bắc Việt Nam đảng CS khuyến khích con tố cha, vợ chồng tố nhau, anh chị em tố nhau. Riêng cuộc CCRĐ giai doạn 5 vào 1955-1956, CS giết hại hơn 170,000 người. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975, Hà Nội, Nxb. Khoa Học Xã Hội, tr. 85), do đấu tố kiểu “vô gia đình”.

Chính HCM cũng hành xử một cách “vô gia đình”. Trong di chúc trước khi chết, HCM viết : “…tôi để sẵn mấy lời nầy, phòng khi tôi đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin…” (Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, có xem lại và bổ sung, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 171.) Sau khi chết, Hồ Chí Minh chỉ muốn đi gặp mấy ông tổ CS người Đức, người Nga, mà không nghĩ đến tổ tiên, cha mẹ, anh chị của mình bởi vỉ người CS “tam vô”.

Tổ quốc Việt Nam đã trải hơn hai ngàn năm thăng trầm, qua bao lần bị ngoại bang xâm lược, mà vẫn tồn tại, nên không thể có chuyện người Việt vô tổ quốc để tiến lên thế giới đại đồng. Chỉ có tên CS Tố Hữu mới ca tụng Trung Cộng theo kiểu “vô tổ quốc”: “Bên ni biên giới là mình,/ Bên kia biên giới cũng tình anh em.” (Tố Hữu, “Đường sang nước bạn”.) (Nguồn: Thơ Tố Hữu, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2003.)

Người Việt tin tưởng vào sự hiện hữu của linh hồn ngưới quá cố, từ thời lập quốc đã có tục thờ cúng ông bà. Người Việt cho đến thế kỷ 20 theo bốn tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Thiên Chú giáo, nên không chấp nhận vô thần. Các tôn giáo đều có nhiều tín đồ. Nhằm tranh giành quần chúng của các tôn giáo, nên CS chủ trương vô tôn giáo, tấn công, tàn phá chùa, nhà thờ, di tích lịch sử và giết hại, bắt giam, ngược đãi tu sĩ, tín đồ tôn giáo.

Như thế, chủ nghĩa CS do HCM du nhâp vào Việt Nam hoàn toàn đối nghịch với văn hóa dân tộc. Chẳng những thế, chủ nghĩa CS cũng đi ngược lại với các nền văn hóa trên thế giới, nên Quốc hội của Hội đồng Âu Châu (Parliamentary Assembly of Council of Europe) trong phiên họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg (Pháp) đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị CS đã vi phạm nhân quyền tập thể. Điều 2 của nghị quyết 1481 viết: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể.”

2.- CẦU VIỆN TRUNG CỘNG

Người Việt vốn có tinh thần độc lập tự chủ, chống ngoại xâm. Từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, người Việt liên tục nổi lên chống Pháp, mà không cầu viện ngoại bang. Trong khi đó, HCM và đảng CSVN cầu viện Trung Cộng để chống Pháp. Người Pháp sinh sống ở miền ôn đới, không hợp phong thổ Việt, không ở lại Việt Nam vĩnh viễn, trước sau gì người Pháp cũng ra đi. Sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới dần dần giải thực một cách ôn hòa, chứ không dẫm máu, đau thương như Việt Nam.

Trái lại, Trung Cộng rất hiếu chiến, chủ trương trường kỳ xâm lăng, và bành trướng lâu dài. Khi HCM cầu viện Trung Cộng năm 1950, Trung Cộng giúp đỡ một cách hào phóng CSVN, không phải vô vị lợi mà theo lời Lưu Thiếu Kỳ thì Trung Cộng sẽ đòi lại sau khi CSVN thành công. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Noth Carolina Press, 2000, tr. 19.) Như thế có nghĩa là không có việc Trung Cộng cho không, biếu không; không có việc Trung Cộng viện trợ không hoàn lại, mà Trung Cộng giương bẫy nợ và đưa HCM cùng CSVN vào tròng của Trung Cộng ngay từ thời chiến tranh 1946-1954. Đó là chưa kể Trung Cộng ngầm xúi CSVN đánh nhau với Pháp để Trung Cộng hưởng lợi.

Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng để chống Pháp để rồi CS quốc tế, Liên Xô và Trung Cộng thế chỗ của Pháp khống chế Việt Nam, thi như người xưa đã nói: “đuổi cọp cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.” (Cổ văn: “Ninh thụ vô công chi danh, bất khả đồ hữu công nhi tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang, dĩ di họa ư hậu thế”. Tạm dịch nghĩa: “Thà không có công danh, không thể mưu đồ lập công mà đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.”) Còn Phan Châu Trinh thì đã viết một cách đơn giản cho HCM: ““quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX: Nxb. Chuông Rè, 2000, tt. 39-40.)

3.- GIẢI PHÓNG DÂN TỘC?

Đảng Cộng Sản, những tác giả CS và những người thiên cộng thường ca tụng HCM là kẻ đã có công “gỉải phóng dân tộc”. Theo nghĩa tầm nguyên, “giải” là mở ra, “phóng” là thả ra, buông ra, không ràng buộc. Như thế, giải phóng là đưa một đối tượng từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến trình trạng được thoát ly, tự do, tức từ chỗ xấu đến chỗ tốt hơn. Ngang đây, có hai vấn đề cần đặt ra: 1) HCM và đảng CS giải phóng ai? 2) Đối tượng mà HCM và đảng CS nói rằng được CS giải phóng có thật sự được thoát gông cùm nô lệ hay ngược lại là bị đưa vào tròng nô lệ mới?

Khi cướp được chính quyền và ra mắt chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-1945, HCM đưa ra các lời thề quyết liệt chống Pháp nếu Pháp trở lại Việt Nam, nhưng khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ, tiến ra Trung Kỳ, rồi đe dọa Bắc Kỳ, thì HCM sợ bị Pháp lật đổ, nên bỏ qua lời thề ng ày 2-9, ký với Pháp hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, thừa nhận việc Pháp đem quân vào Việt Nam. Để chắc chắn hơn, HCM qua Pháp ký Tam ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, để cho Pháp tái lập các hoạt động của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Như thế có nghĩa là HCM không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp để duy trì quyền lực.

Quân Pháp đến Hà Nội càng ngày càng đông, đòi kiểm soát an ninh Hà Nội. Nếu để cho Pháp kiểm soát an ninh Hà Nội, thì sinh mạng HCM và lãnh đạo đảng CS nằm trong tay Pháp, nên HCM triệu tập hội nghị trung ương đảng CS tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp. (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504) để có lý do chính đáng trốn khỏi Hà Nội.

Cướp được chính quyền thì đảng CS chủ trương độc tôn quyền lực. Khi Pháp trở lại Việt Nam thì CS thỏa hiệp với Pháp để giữ vững quyền lực, không chống Pháp. Khi bị Pháp áp lực nặng nề và có thể bị Pháp tiêu diệt, đảng CS mới quyết định tuyên chiến với Pháp và chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc, vì sự sống còn của HCM và đảng CS, chứ không phải để giải phóng dân tộc.

Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở sông Bến Hải, ngang vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam (BVN) theo chế độ CS. Nam Việt Nam (NVN) theo chế độ Cộng Hòa. Trước khi ký hiệp định Genève, tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ ngày 3 đến 5-7-1954, Châu Ân Lai đã khuyên HCM chôn giấu võ khí và lưu cán bộ, quân đội ở lại NVN để tiếp tục cuộc chiến. Hồ Chí Minh liền thi hành kế hoạch nầy, nghĩa là HCM và CSVN chủ ý sẽ tiếp tục tấn công NVN, còn việc HCM va BVN đưa ra hai khầu hiệu “Giải phóng miền Nam” và “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là hai chiệu bài để my dân và phỉnh gạt dư luận thế giới mà thôi.

Năm 1954 và năm 1975, thành công xong, Hồ Chí Minh và CS đã áp đặt miền BVN (1954) và sau đó NVN (1975) dưới chế độ CS, độc tài đảng trị, toàn trị, theo chính sách kinh tế chỉ huy, làm cho dân chúng Việt Nam càng ngày càng cùng khổ. Do đó, không thể nói HCM và đảng CS đã giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, mà phải nói là HCM và đảng CS đã nô lệ hóa đất nước trong gông cùm cộng sản.

4.- CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC?

Để có lý do gây chiến, xâm lăng Nam Việt Nam sau năm 1954, HCM và CSVN cầu viện các nước CS để thực hiện chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô chiếm các nước Đông Âu, Trung Cộng chiếm Tân Cương, Tây Tạng. Ngược lại, tuy chiến thắng Đức, Nhật Bản, Nam Hàn, nhưng Hoa Kỳ không chiếm các nước nầy, mà trao trả độc lập và giúp các nước nầy phục hưng kinh tế nhanh chóng, tiến bộ vượt bậc, nghĩa là Hoa Kỳ chủ trương giúp các nước khác trên thế giới cùng phát triển với Hoa Kỳ. Chính bản thân diện tích nước Hoa Kỳ quá rộng, dân số chưa đủ để canh tác cho hết đất của Hoa Kỳ. Hàng năm, Hoa Kỳ còn cho nhiều người ngoại quốc nhập cư, thì Hoa Kỳ cần gì phải xâm lăng nước khác như Trung Cộng bị nạn nhân mãn mãn tính.

Hồ Chí Minh và các lãnh tụ đảng Lao Động dư biết những điều trên đầy, nhưng vì vâng lệnh Châu Ân Lai tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954, nên HCM đưa ra chủ trương “chống Mỹ cứu nước” ngay trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam vì chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, giúp đỡ Nam Việt Nam tái thiết sau năm 1954, , nhằm chống lại sự bành trướng của CS chứHoa Kỳ không có tham vọng đất đai. Nhờ thế, Nam Việt Nam phồn thịnh nhanh chóng hơn các nước Đông Nam Á. Khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược, bắt tay với Trung Cộng, Hoa Kỳ nhanh chóng rút hết quân về nước.

Còn HCM cầu viện Trung Cộng, rước 320,000 quân Tàu vào trấn giữ miền bắc sông Hồng, thì ngày nay Việt Nam phải gánh nỗi khổ Trung Cộng, mất đất (Hoàng Sa, Nam Quan), mất biển (10,000 Km2 Vịnh Bắc Việt), và Biển Đông bị Trung Cộng đe dọa triền miên. Đó là kết quả kế hoạch “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422ct. Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN (1991 đến 2000), tiết lộ lời của Lê Duẩn trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.

KẾT LUẬN: HỒ CHÍ MINH = TỘI ĐỒ DÂN TỘC

Qua những hoạt động trên đây, thì HCM là một đảng viện CS Pháp, vâng lệnh Liên Xô và Trung Cộng, thành lập đảng CS Việt Nam, phá hoại nền văn hóa dân tộc, bành trướng chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á, và chủ động gây ra hai cuộc chiến liên tiếp từ 1946 dến 1975. Theo thống kê của tạp chí Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013, trong 24 năm cầm quyền (1945-1969), HCM đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người dân Việt.

Như thế, cân nhắc những hoạt động và việc làm cu thể của Hồ Chí Minh, thì Hồ Chí Minh chỉ có công với cộng sản quốc tế, với Liên Xô, với Trung Cộng. Ngược lại Hồ Chí Minh là kẻ có tội với đất nước Việt Nam, và Hồ Chí Minh là TỘI ĐỒ số 1 của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, gây nhiều tội ác nhứt trong lịch sử Việt Nam. Không chối cãi vào đâu được.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 01-09-2020)

Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”….

  Trí thức Miền Nam và Sinh viên học sinh Sài Gòn đã bị CS lợi dụng như thế nào!?:

http://ydan.org/showthread.php?t=22844http://ydan.org/showthread.php?t=22844

Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức: Un choix malheureux – Một chọn lựa bất hạnh:

http://dcvonline.net/2015/08/11/duong-van-ba-ho-ngoc-nhuan-ngo-cong-duc-mot-chon-lua-bat-hanh-ket/

Thân phận dư thừa của một người trí thức thiên tả, thành phần thứ ba:

https://hon-viet.co.uk/NguyenVanLuc_ThanPhanDuThuaCuaNguoiTriThucThienTaThanhPhanThuBa2.htm

Ăn cơm Quốc Gia Thờ ma Cộng Sản – Ăn cơm Quốc Gia Thờ ma Cộng Sản:

http://ydan.org/showthread.php?t=20701http://ydan.org/showthread.php?t=20701

Việt cộng nằm vùng trong văn phòng Tổng tham mưu Trưởng và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH:

https://hon-viet.co.uk/TrucGiang_VietcongNamVungTrongVanPhongTongThamMuuTruongVaPhuDacUy….htm

From: Thanhlam Le, Date: Sun, Aug 30, 2020 at 12:15 PM.

Subject: Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”….

Nguyễn Văn Binh là dân biểu nằm vùng (Việt Cộng) đại diện cho báo Đại Dân Tộc của nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba tổ chức “ký giả đi ăn mày”…Không biết có Chu Tử (Chu Văn Bình) và con rể Đằng Giao không? Sau ngày 30-4-1975 cả dân tộc Việt Nam bị đi ăn mày vì bọn ký giả tranh đấu đòi đi ăn mày thành công…Riêng Dương Văn Ba bị dính vụ ăn hối lộ vì vụ làm “kiểm lâm” gì đó, không biết oan hay ưng (bị VC gài độ?) Riêng Ngô Công Đức thân cộng nên bị đuổi ra Bắc với VC, khi về Miền Nam (sau 30-4-1975), Ngô Công Đức im re (chắc lúc đó đã biết Cộng Sản là gì, không phải thiên đàng xã hội chủ nghĩa!!!), còn Hồ Ngọc Nhuận thì không biết ra sao, chắc cũng được Ngô Công Đức cho biết VC là gì, nên im luôn… Ngày đó, tôi có tìm đến Báo Đại Dân Tộc xem mặt Hồ Ngọc Nhuận, đến dòm mặt, chẳng nói gì, đi luôn, trong lòng nghĩ sao mi ngu si quá vậy?.. Nguyễn Văn Binh thì bị LM Nguyễn Hữu Lễ tố cáo là Công Giáo VC… Còn các ký giả đi ăn mày ngày đó gồm có ai… không biết bao người vượt biên được, bao người được ăn mày dưới chế độ cộng sản?

On Friday, August 28, 2020, 01:41:14 PM PDT, Patrick Willay wrote:

Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 418 (Đời Nay ra ngày 28.8.2020)

Ký giả ăn mày

Ngày nay, trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại không mấy người còn nhớ câu chuyện “ký giả ăn mày”, hay ký giả đi ăn mày, trừ những người từng sống ở Sài-Gòn vào những năm đầu thập niên 1970.

Khoảng năm 1972, chính quyền VNCH đã cho áp dụng luật báo chí mới, Sắc Luật 007, với quy định số tiền ký quỹ khá lớn làm cho báo không có tiền ký quỹ đành phải tự đóng cửa. Cũng theo luật này, tờ báo nào bị tịch thu lần thứ hai do có bài vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Luật này nhằm kiểm soát sinh hoạt báo chí tại miền Nam chặt chẽ hơn và ngăn ngừa sư xâm nhập của VC vào làng báo, đặc biệt là tại Sài-Gòn. Vài tờ báo đã bị đóng cửa, chủ báo bị phạt, bị tịch thu tiền ký quỹ, một số ngừoi làm báo còn bị truy tố ra tòa, và bị kết án tù. Trước tình hình đó, giới báo chí tại Sài-Gòn đã tập hop lại để tìm biện pháp đối phó, cùng hành động nhằm chống lại việc thi hành Luật 007.

Ngày 8 tháng 9 năm 1974, một cuộc họp đã được hội chủ báo tổ chức, với ba đoàn thể ký giả tham dự, đã bầu ra Ủy ban Đấu tranh đòi Tự do Báo chí do ông Nguyễn Văn Binh, dân biểu đối lập, đại diện báo Đại Dân Tộc làm chủ tịch.

Hình thức đấu tranh “ký giả xuống đường đi ăn mày” được hội nghị biểu quyết chấp thuận. Ban tổ chức quyết định chọn ngày 10 tháng 10 năm 1974 làm ngày xuống đường biểu tình. Nón lá, bị, gậy (các vật dụng của ăn mày) được chuẩn bị sẵn. Các khẩu hiệu làm sẵn đeo trên ngực, kẻ trên nón lá dòng chữ “10.10.1974, ngày ký giả đi ăn mày”. Trong khi chính thức thông báo trước cho chính quyền biết cuộc đi ăn mày để phản đối Luật 007, ban tổ chức cũng còn bố trí lực lượng kín theo vòng trong, vòng ngoài, sẵn sàng đối phó với sự đàn áp của an ninh chìm nổi.

Suốt trong ngày 9.10.1974, nhiều thành phần trong giới báo chí, quần chúng cảm tình với báo chí, nghị sĩ, dân biểu… đã đến Câu lạc bộ Báo chí (số 15 Lê Lợi) để bày tỏ cảm tình, và tiếp tế thức ăn, đồ uống, kể cả thuốc lá. Tháng 10 năm 1974 cũng là lúc Bộ Chính Trị đảng CSVN tại Hà-Nội nhóm họp do Lê Duẩn chủ tọa để lên kế hoạch cho cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975, dồn toàn lực “giải phóng” miền Nam, sau khi Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm hầu hết viện trợ quân sự cho VNCH từ 1.7.1974.

Trên các mặt trận khắp miền Nam cũng đang diễn ra những trận đánh ác liệt, từ Hồng Ngự đến Cửa Việt, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Bình Long…

Sáu tháng sau, VNCH bị xóa tên vào ngày 30.4.1975, làng báo bất khuất của Sài-Gòn cũng nằm xuống theo cái chết của Tự Do tại miền Nam Việt Nam. Báo chí không còn. Ký giả thất nghiệp nằm nhà, muốn đi…ăn mày cũng chẳng ai cho, dù là… vài điếu thuốc lá, được “Giải phóng” thương tình, cho đi “học tập” trong các trại tù mà có người gọi là “Đại Học Máu”, vừa được lao động, vừa được ăn những cao lương mỹ vị như thằn lằn, ếch nhái và rau cỏ trong rừng. “Đại học máu” thường là từ 5 năm tới 10 năm mới tốt nghiệp. Có người không bao giờ ra, vì lỡ ăn phải rau lá hay cóc nhái độc địa, hay chết vì bạo bệnh, vì tai nạn, hay bị đánh đập, hành hạ dã man…

Những khổ đau nhục nhã trong bao nhiêu năm “học tập” đã được những người may mắn … tốt nghiệp, được trả tự do, và được sang Mỹ sang Tây viết ra, thuật lại trên hàng chục cuốn hồi ký, hàng trăm, hàng ngàn bài báo.

Nói cho đúng, những thảm họa, khổ đau mà giới báo chí Sài-Gòn phải trải qua chỉ là một phần của những thảm họa khổ đau to lớn hơn mà dân tộc Việt Nam đã và đang chịu đựng từ ngày 30,4,1975 cho đến nay. Và, có một số người đã chê trách việc “đi ăn mày” của ký giả Sài-Gòn năm 1974 cùng với những rối loạn khác ở hậu phương đã góp phần làm cho miền Nam VN suy yếu và đi đến sụp đổ trước cuộc tổng tấn công của CSBV.

Buộc tội như thế kể cũng không…oan cho giới ký giả Sài-Gòn, nhưng có thể Quân lực VNCH chiến đấu can trường, vẫn bảo vệ dược miền Nam Tự Do, nếu (chữ nếu chết người), tại “hậu phương lớn” Hoa Kỳ đừng có bọn nhân danh “phản chiến” nhưng lại hoan hô hcm và cổ võ cho cuộc xâm lăng của CSBV, và, nếu (lai nếu), đừng có bọn ký giả thân cộng đâm vào sau lưng Quân đội Mỹ đang chiến đấu tại VN, hoan hô bọn phản chiến, và gây áp lực trên chính trường Mỹ đưa đến việc Mỹ rút quân, bỏ rơi đồng minh và cúp việc trợ.

Ngày nay, không còn ai tranh cãi về sự thật lịch sử: “Mỹ đã không thua CSBV trên chiến trường Việt Nam, nhưng đã phải tháo chạy vì bị truyền thông báo chí Mỹ đâm sau lưng”.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, một nhà khoa học chính trị tại Mỹ đã nhiều năm nghiên về lịch sử mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trong một bài được phổ biến vào ngày 12.7.2020 đã viết như sau:

Theo TT Nixon cho biết, những lãnh tụ then chốt của phong trào phản chiến là những người thuộc phe Tân Tả Phái (New Left). Họ là nhửng trí thức trong các viện đai học, truyền thông báo chí, các nghị sĩ và dân biểu tại Quốc Hội, những lãnh tụ chính trị, những quân nhân hay giới sinh viên đại học, các tài tử Hollywood, hoặc các danh ca, cũng như các quan tòa và giới luật sư. Những người này chủ trương tổ chức các cuộc biểu tình bạo động (violent protester) để gây sự hỗn loạn tơi bời trên nước Mỹ. Họ thù ghét nước Mỹ, và mục đích của họ là làm thế nào cho Hoa kỳ thảm bại nhục nhã tại VN. Họ không hề che giấu sự tôn sùng cộng sản. Họ công khai phất cờ Việt Cộng trong các cuộc biểu tình, và hô to: hồ…hồ…hồ chí minh, sẽ chiến thắng. Ngoài ra mục đích của họ là phá cho tan tành hệ thống xã hội dân chủ của Mỹ. Họ phải sử dụng bạo lực và bạo động để đạt mục tiêu ấy.

Các sinh viên biểu tình đã bắn vào cảnh sát và những nhân viên cứu hỏa, bắt làm con tin các viên chức đang điều hành viện đại học, phá hoại các cao ốc, mang súng shotgun, đốt các cao ốc, đập vỡ các cửa sổ, vứt rác vào mặt các viên chức chính quyền, và đặt bom trong các phòng học. Từ niên khóa 1969 đến 1970 đã có tới 1800 cuộc biểu tình. Số biểu tình bị giam giữ là 7500 người, 247 người chuyên đi phóng hỏa đốt nhà, 462 người bị thương, nạn nhân 2/3 là cảnh sát, trong đó có 8 người chết. Bạo động không chỉ giới hạn tại các viện đại học, mà lan tràn khắp quốc gia. Từ tháng 1.1969 đến 1970, đã có 40.000 vụ bom nổ, hoặc dùng bom để đe dọa. những tổn thất về tài sản lên tới 21 triệu, cả trăm người đã bị thương, và có 43 người bị chết. Đám biểu tình gọi Hoa Kỳ là “quốc gia con heo” (pig nation), và họ muốn Hoa Kỳ chấm dứt Chiến tranh VN.

Từ 1969, Nixon và chính quyền của ông phải đối diện với bao nguy hiểm khi các nghị sĩ và dân biểu Tân Tả Phái thuộc đảng Dân Chủ làm luật để buộc TT Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Các nghị sĩ và dân biểu chống chiến tranh đưa ra nghị quyết buộc Nixon phải rút quân để đổi lấy các tù binh Mỹ.

Giới truyền thông báo chí Hoa Kỳ, tuyệt đại đa số theo Tân Tả Phái nên tìm mọi cách để đổ dầu vào lửa từ Việt Nam đến Washington. Họ rất bất lương, xuyên tạc và bóp méo tất cả sự thật mọi nguồn tin tức từ Việt Nam. Họ tấn công tàn nhẫn và tàn bạo chính quyền VNCH và Hoa Kỳ.

TT Nixon tuyên bố: Tôi rất cảm phục và yêu mến những người dân miền Nam VN. Miền Nam là một quốc gia can đảm phi thường (courageous nation). Họ đã phải gánh chịu bao đau khổ chồng chất trước kẻ thù quá sức độc ác và tàn bạo, kể cả đối với đàn bà và trẻ em, cũng là những mục tiêu tàn sát của CSBV.

Trong năm 1969, khi đắc cử tổng thống, Nixon muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng không phải bằng cách đầu hàng để cho Cộng sản áp đặt lên miền Nam VN một chế độ độc tài vô luân lên đầu người dân Đông Dương. Nixon muốn chấm dứt chiến tranh trong danh dự. Theo TT Nixon, Hoa Kỳ đã tham gia vào Chiến tranh VN để bảo vệ Miền Nam VN không rơi vào vòng nộ lệ của Công sản.

… Vào cuối 1960 và đầu 1970, tầng lớp trí thức Mỹ đứng lên chống lại mạnh mẽ cái họ gọi là khuynh hướng tư bản Hoa Kỳ. Họ cho Hoa Kỳ là quốc gia “Fát-xít” như Hitler, và là kẻ thù của thế giới. Họ phát động phong trào chống Mỹ trong Chiến tranh VN, và công khai hỗ trợ mạnh mẽ Cộng sản VN và Cộng sản Hoa Luc.

Trong mấy thập niên qua, những lãnh tụ phong trào phản chiến chống Chiến tranh VN như Bill Clinton, Hillary Clinton hay John Kerry, Joe Biden… trở thành lãnh tụ và tổng thống nước Mỹ, vì họ là những anh hùng chống chiến tranh VN. Sự thật lịch sử cho thấy những chính sách sai lầm của phe Dân Chủ Tả Phái từ 1960 tới 2016 đã đưa nước Mỹ càng ngày càng đi xuống trên mọi phương diện chỉ vì không hiểu gì về nước Tàu nên đã nỗ lực không ngừng để giúp cho một nước Tàu nghèo đói và lạc hậu vào 1960, trở thành cường quốc kinh tế. Về quân sự và chính trị thì khuynh đảo cả vùng Á Châu TBD và cả thế giới sau khi Hoa Kỳ tháo chạy và bỏ rơi tiền đồn hiểm yếu Việt Nam.” (ngưng trích)

Hiện tình chính trường nước Mỹ trong mấy năm gần đây cũng đang cho thấy có những dấu hiệu tương tự như những năm cuối của cuộc Chiến tranh VN, với sự xuất hiện nổi cộm của những thành phần tả phái cực đoan được sự cổ võ nhiệt tình của truyền thông phe đảng song song với các vụ bạo động, rối loạn kéo dài trên đường phố đang trên đà gia tăng trước ngày tổng tuyển cử 3.11.2020.

Qua Đại hội đảng Dân Chủ kéo dài năm ngày vừa chấm dứt, những khuôn mặt đã nhẵn trong cái “đầm lầy ở Washington”, với quá khứ đầy tì vết, đã nối đuôi nhau xuất hiện trước ánh đèn sân khấu không bao giờ biết hổ thẹn, để tự khoe tài, khoe giỏi và nói những điều hay đẹp nhưng trống rỗng, có khi chính mình cũng không tin. Tệ hơn nữa, có những kẻ bất cố liêm sỉ, bất cần sự thật, đã bịa đặt, dựng đứng điều gian để vu cáo, đả kích nặng nề thâm độc người kế nhiệm mình trong chức vụ tổng thống. Chắc không nói tên, người đọc cũng biết kẻ ấy là ai. Ông ta đã uốn lưỡi ca tụng Joe Biden, cựu phó của mình, lên tận mây xanh, dù khi Joe ghi danh ứng cử, ông ta đã công khi can ngăn: “Joe đâu có cần phải ra.” Vì sao? Vì ông ta thừa biết Joe mà ra thì chỉ mệt thân già mà chẳng nên cơm cháo gì!

Cựu TT Omaba vừa dứt lời tức thì được các “đại ký giả” của các hệ thống truyền hình phe tả xúm vào xun xoe tâng bốc, nào đúng là một tổng thống vĩ đại, nào một chính khách siêu hạng quốc tế, một nhà trí thức uyên thâm, vân vân và vân vân…

Ngày hôm sau, ông Trump chỉ đáp lễ nhẹ Obama một câu: “Nếu Obama tài giỏi như ông ta nói thì tôi đã không cần ra ứng cử và không đang làm tổng thống.”

Bỉnh bút Charles Hurt của Nhật báo The Washington Times thì viết: “Vợ chồng Obama nhắc cử tri Mỹ lý do vì sao họ đã bỏ phiếu bầu cho Donald Trump” (Obamas remind American voters why they elected Donald Trump). Và, ông ta giúp trí nhớ cho Obama:

“Trong tám năm, ông Obama đã phục vụ cho bạn như là một giáo sư kênh kiệu và một ông vua đức độ, khiêu vũ với các minh tinh âm nhạc và mê hoặc thế giới với những bài diễn văn hoa mỹ tạ tội cho quyền lực của nước Mỹ và ngay cả sự hiện hữu.

Và rồi bạn đã bầu cho một tên ngốc.

Về Tổng thống Trump, ông Obama nói: “Bây giờ đã gần hết bốn năm, ông ta không chứng tỏ sự quan tâm tới công việc, không quan tâm tới việc tìm một lãnh vực chung, không quan tâm tới việc dùng quyền lực đáng sợ của chức vụ để giúp đỡ bất cứ ai ngoài chính ông ta và bạn bè ông ta, không quan tâm tới việc xem chức vụ tổng thống như bất cứ cái gì khác hơn là thêm một sự thật để chứng tỏ ông ta có thể dùng để được sự chú ‎ý ông ta cầu xin.”

Những lời lẽ trên đây đã phát ra từ mồm của cùng một kẻ mà guồng máy hành chánh của hắn đã tung ra một điệp vụ ở cấp cao nhất của chính quyền liên bang để dò thám nhắm vào những đối thủ chính trị của ông Obama để hủy bỏ một cuộc bầu cử tự do và công bằng.

Những lời lẽ trên đây đã phát ra từ mồm kẻ đã tổ chức những tiệc tùng xa hoa tại Tòa Bạch Ốc với những ông hoàng bà chúa của Hollywood và đã biến chức vụ tổng thống của ông ta thành những hợp đồng với Netflix và những nhà xuất bản sách khác để có những thỏa thuận ngọt ngào lên tới 100 triệu đô-la.

Nói bất cứ điều gì anh muốn về ông Trump, nhưng ông ta đã vào Tòa Bạch Ốc khi là một kẻ rất giàu. Ông Obama chưa bao giờ kiếm được bạc triệu cho đến khi ông ta rời Tòa Bạch Ốc. (ngưng trích)

Charles Hurt là một trong số ít nhà báo chân chính và đã can đảm vạch trần những sự thật mà cái gọi là “truyền thông dòng chính” cố bưng bít. Về phía truyền hình, hầu như chỉ có Fox News là loan tin trung thực và bình luận vô tư, khách quan. Trong thời gian qua, những “cây nói” như Tucker Carlson, Sean Hannity, Laura Ingraham…đã liên tiếp tố cáo đám MSM (mainstream media) truyền thông dòng chính Mỷ là thiên lệch, che đậy và bóp méo sự thật, bình luận một chiều. Những đài CNN, MSNBC, ABC…đã bị nêu đích danh cùng với những đoạn phim tài liệu cho thấy các “bình luận gia” của các đài này xúm nhau tâng bốc những “thần tượng” xã nghĩa trong mơ của họ, những chính trị gia chuyên nghiệp yêu nước thương dân bằng mồm, những kẻ mà Tổng thống Reagan lúc sinh thời đã so sánh với những cô nàng đưa người cửa trước rước người cửa sau trong giới thanh lâu.

Chính những “chính trị gia thanh lâu” và những “ký giả ăn mày” này đã giết chết Tự Do tại Việt Nam 45 năm trước và đang mưu toan mở cửa nước Mỹ để rước Tàu cộng vào.

“Ký giả ăn mày” đây không phải là kỷ giả Sài-Gòn đi ăn mày vào năm 1974, nhưng là đồng nghĩa với “trí thức ăn mày” như trong bài của ông Nguyễn Văn Thông viết cách đây không lâu.

Ký Thiệt.